Sidebar

Thứ Tư
24.04.2024

Chúa Nhật V Mùa Chay

  1. Mở Cánh Cửa Lòng
  2. Niềm Tin Vào Sự Sống Ðời Ðời
  3. Sự Sống Đời Đời
  4. Sự Sống Vĩnh Cữu
  5. Chết Để Được Sống
  6. Niềm Tin Sự Sống
  7. Sống Ý Nghĩa Để Được Sống
  8. Rơi Lệ
  9. Chuyển Rời, Đến Gặp Và Tin Thì Được Sống
  10. Ta Là Sự Sống Lại Và Là Sự Sống
  11. Niềm Tin Bừng Sáng
  12. Đức Giêsu Là Nguồn Sống
  13. Ta Là Sự Sống Lại
  14. Sự Sống Mới
  15. Ngài Là Sự Sống
  16. Mở Cửa Mộ
  17. Sự Sống Lại
  18. Thiên Chúa, Nguốn Sống Và Sáng
  19. Tôi Tin Xác Loài Người Sẽ Sống Lại
  20. Đức Giêsu, Sự Sống Muôn Đời
  21. Sống Và Chết
  22. Chúa Giêsu Đấng Ban Sự Sống
  23. Chết
  24. Ham Bất Tử
  25. Chết Để Được Sống
  26. Một Niềm Tin
  27. Cuộc Sống Bất Tử
  28. Sự Sống

MỞ CÁNH CỬA LÒNG
Ga 11, 1- 45

Anh chị em thân mến.
Có lần tôi đến nhà một người quen, sau những câu chào hỏi xã giao, tôi được mời vào nhà. Chủ nhà hết sức lịch sự, mời khách ngồi rồi lo tìm xem có gì để đãi khách. Chủ nhà mở cánh cửa tủ lạnh ra, tôi nhìn thấy có rất nhiều thứ trong đó: thức uống, thức ăn, những thứ dùng ngay được, cũng có những thứ chỉ để dự trữ dùng cho việc nấu nướng. Chủ nhà mang cho tôi trái cây và nước. Tôi vui mừng cám ơn và dùng với gia chủ. Tôi chợt có chút suy nghĩ: nếu cánh cửa tủ lạnh không mở ra, thì tất cả những thứ hết sức cần thiết trong đó, kể cả những thứ mà tôi dùng với chủ nhà, cũng trở nên vô ích. Nhưng vì cánh cửa được mở, và những gì trong đó được đem ra xử dụng đúng với chức năng của nó, nên tạo được sự khoan khoái cho nhiều người.

Ngôi mộ đã chôn vùi Lazarô trong đó, tảng đá lấp cửa đã được đóng kín. Con người của Lazarô trở nên vô ích, vì ông đã bị đóng kín. Nhưng Chúa Giêsu không để cho người bạn thân của Ngài phải chịu cảnh như thế, Ngài không để cho bạn thân của mình trở nên vô ích. Ngài làm một việc mà với khả năng con người không thể hiểu nỗi: một người đã bị chôn vùi bốn ngày mà giờ đây Ngài lại bảo mở cửa cho bước ra. Việc làm của Ngài đem lại sự ngạc nhiên cho những người thời bấy giờ. Họ muốn chôn vùi đi những gì là vô ích, những gì họ cho là hôi thối. Còn Chúa Giêsu thì bảo hãy lăn tảng đá ra, Ngài kêu con người từ cõi chết sống lại, Ngài còn bảo hãy cởi những dây băng trói buộc ra. Một sự ngạc nhiên thật sự cho mọi người, Lazarô không còn bị đóng kín trong mồ, anh ta đã sống lại. Anh ta không còn nằm yên bất động, vì anh ta nghe lời mời gọi và bước ra khỏi mồ. Anh ta giờ đây đã hoạt động bình thường vì anh ta đã được tháo cởi tất cả những gì đã trói buộc anh, giờ đây anh là một người hữu dụng như bao nhiêu người khác.

Lazarô sống lại vì cửa mồ được mở ra, anh ta đi lại và hoạt động được vì những gì trói buộc anh đã dược tháo cởi. Nếu mọi người không giúp đỡ cho anh, không thực hiện lời Chúa Giêsu chỉ bảo, nếu mọi người chỉ biết ngồi nhìn một Lazarô đã hết phương cứu chữa, thì làm sao có một phép lạ, làm sao có được một sự sống hồi sinh.

Chúa Giêsu cũng lập lại lời ngày xưa, với những người hôm nay: " Hãy lăn tảng đá ra, hãy cỏi trói cho anh ta " .

Chúa Giêsu nói với từng người trong chúng ta như thế. Nhưng chúng ta chưa chứng kiến được phép lạ, chúng ta cũng không nhìn thấy được sự sống mới nào, vì chúng ta không lắng nghe lời Chúa, nên ngồi yên bất động. Chúng ta ngồi yên bất động trong định kiến của mình, bất động vì bị sự lười biếng trói buộc, bất động vì sự tự hào của sự hiểu biết và những phán đoán khắc khe. Hay chúng ta tự bào chữa cho mình rằng: mình đang giữ đạo tốt, đọc kinh dự lễ hằng ngày, thỉnh thoảng cũng bố thí giúp người nghèo. Với bấy nhiêu việc làm đó, chúng ta cho là mình đã nghe lời Chúa rồi sao? Còn cái nhìn của mình về người khác thì sao? Chúng ta cho họ một phán đoán thật nghiêm khắc: họ hết phương cứu chữa, họ đã hôi thối rồi. Những lúc đó nếu chúng ta biết lắng nghe lời Chúa: " Hãy lăn tảng đá ra " , lăn tảng đá đậy kín tâm hồn của mình ra, để tâm hồn được mở rộng, thì phép lạ trong cuộc sống sẽ được thưc hiện ngay. Mở rộng cánh cửa tâm hồn cũng như mở cánh cửa tủ lạnh ra thì những gì cần thiết phục vụ cho con người mới đem ra được. Còn nếu cánh cửa cứ đóng kín thì mọi vật trở nên vô ích.

Nếu chúng ta biết đứng lên và bước đi đến với những người chung quanh để giúp đở họ khi họ cần đến, đó là chúng ta tự cởi những dây băng trói buộc mình. Tự cởi bỏ đi những hiềm khích nhỏ nhen, ích kỷ để biết cho đi những nụ cười thông cảm, những lời nói yêu thương, những sự giúp đỡ chân thành. Khi đó cũng là lúc chúng ta lăn được tảng đá đậy kín tâm hồn của mình ra, mà đem những gì tốt đẹp tiếp đãi mọi người. Nếu làm được như thế, phép lạ được thực hiện ngay, chúng ta nhìn thấy được một sự sống mới hình thành nơi bản thân mình và nơi người khác. Chúng ta vui mừng vì thấy người khác được hạnh phúc, được an ủi, được hy vọng nhờ sự cởi mở của mình. Khi đó chính chúng ta đã được sống lại nhờ biết nghe theo lời kêu mời của Chúa.

Chúng ta cùng nhau cầu xin Chúa cho chúng ta biết lắng nghe lời Chúa, biết mở rộng tâm hồn, để đón nhận sự sống mới, sự sống vĩnh cửu từ nơi Chúa.

NIỀM TIN VÀO SỰ SỐNG ÐỜI ÐỜI
Ga 11, 1- 45

Một trong những bản năng mà Thiên Chúa đã ban cho các sinh vật trên trái đất này là bản năng sinh tồn. Con người cũng là sinh vật nên ai cũng muốn sống và sợ chết. Cho dù sự sống có như ngàn cân treo sợi tóc thì người ta cũng quyết bảo vệ cho đến cùng. Người ta sẵn sàng bán vườn đất hay làm tất cả những gì có thể để bảo vệ sự sống của mình hay của người thân. Dầu vậy, đến một lúc nào đó người ta cũng đành bó tay trước thần chết. Như thế, phải chăng cái chết là ngõ cụt của đời một con người sao? Hôm nay, Chúa Giêsu mạc khải cho biết chúng ta sẽ được sống đời đời nếu như chúng ta thật sự tin vào Người.

Khi hay tin Lazarô người thân thuộc với mình đã chết 4 ngày, Chúa Giêsu đã trở lại Giuđêa và ghé gia đình của anh. Sau vài lời trao đổi với Matta, Chúa Giêsu đã mạc khải: "Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết" (Ga 11, 25 - 26). Ở đây, Chúa Giêsu muốn nói đến cái chết của sự sống tạm bợ và sự sống đời đời. Cái chết hiện tại của Lazarô chỉ là cái chết của sự sống tạm bợ. Còn ai thật sự tin vào Người thì dù có chết về sự sống tạm bợ thì cũng sẽ được sống đời đời.

Do hậu quả của tội nguyên tổ nên mọi người chúng ta đều phải chết. Tuy nhiên, cái chết này chỉ là sự biến đổi từ sự sống tạm bợ sang sự sống đời đời. Hơn nữa, là người Công giáo chúng ta tin xác loài người phải chết này sẽ sống lại vào ngày tận thế. Ðến lúc đó chúng ta sẽ biết ai sẽ được sự sống đời đời hay phải chết đời đời.

Những ai khi còn sống ở đời này biết thật sự tin vào Chúa Giêsu thì chắc chắn đến lúc ấy sẽ không còn phải sợ gì nữa. Tuần trước, chúng ta đã cùng suy niệm Chúa Giêsu đem đến cho chúng ta ánh sáng đức tin. Ðể rồi qua ánh sáng đức tin ấy, chúng ta có được cái nhìn đức tin. Từ cái nhìn đức tin chúng ta sẽ đi đến những hành động theo đức tin. Quả vậy, Thánh Giacôbê đã nói: "Ðức tin không hành động là đức tin chết" (Gc 2, 17)

Tin vào Chúa Giêsu là mỗi ngày chúng ta từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo Người (Mt 16, 24)

Tin vào Chúa Giêsu là mỗi ngày chúng ta thi hành thánh ý Chúa Cha để trở nên thân nhân của Người. (Mt 12, 50)

Tin vào Chúa Giêsu là chúng ta yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực và yêu anh chị em như chính mình (Mc 12, 33)

Như vậy, tin vào Chúa Giêsu là chúng ta hãy sống như Người đã sống. Càng sống giống Chúa Giêsu bao nhiêu là chúng ta sẽ đáng được sự sống đời đời bấy nhiêu.

SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI
Ga 11, 1- 45

Anh chị em thân mến,
Chúa Giêsu nói với bà Matta: "Ta là Sự Sống lại và là Sự Sống. Ai tin Ta, dù có chết cũng sẽ được sống." Qua câu nói này, chính Chúa Giêsu muốn cho mọi người thấy người là Đấng Cứu Thế, là Con Thiên Chúa, là chính Thiên Chúa, Đấng ban sự sống và sự sống lại cho tất cả những ai tin nơi Người. Chúng ta thấy chưa từng có vị sáng lập đạo nào tự xưng mình là Sự Sống lại và là Sự Sống. Thực tế, người công giáo không hề đề cao Chúa Giêsu, hay vì kính trọng mà tâng bốc Thầy mình. Phép lạ cho Ladarô sống lại, chính là để chứng tỏ cho mọi người thấy Chúa Giêsu chính là Đấng Thiên sai và cũng là Thiên Chúa nữa...Đây chính là điều mà Hội thánh muốn chúng ta suy niệm trong ngày Chúa nhật 5 Mùa Chay này.

a/. Trước hết xin tìm hiểu một vài câu:

* Phép lạ cho Ladarô sống lại xảy ra lối tháng 3 năm 30, gần cuối đời Chúa Giêsu. Chúa đã giảng dạy tại Giêrusalem từ tháng 10 đến tháng 12 năm 29, nhưng tình hình căng thẳng quá, nên Chúa phải sang làm việc ở miền Pêrê, bên kia sông Giodan. Lúc đó, Chúa được tin Ladarô từ trần.

* Gia đình của Ladarô, quê ở Bêtania, cách Giêrusalem hơn 3 km. Ladarô có hai người chị là Matta và Maria. Đây là một gia đình rất thân quen với Chúa. Mỗi khi lên Giêrusalem, Chúa hay đến trú ngụ tại gia đình này.

* Ta là Sự Sống lại và là Sự Sống: Chúa Giêsu là Thiên Chúa, Người là nguyên nhân của việc sống lại và cả của sự sống của muôn loài trên trái đất, trong đó có thân xác của chính Chúa nữa.

b/. Con người trên đời này rất tò mò về chuyện tương lai, nhất là chuyện người chết rồi sống lại; vì thế có một số truyền thuyết nơi một số bộ lạc, nhất là bộ lạc thiểu số. Bộ lạc Vaudou, miền Trung châu Mỹ, có truyền thuyết Zombie: đó là người chết sống lại, đi ra khỏi mồ, bị một phù thủy quản chế, phải làm theo ý ông ta. Ở Trung Hoa cũng có truyền thuyết Cương Thi, cũng tương tợ như Zombie: một phù thủy hay đạo sĩ có tài sẽ điều khiển các thây ma ra khỏi mồ để làm việc cho mình.Vài bộ tộc da đen ở Châu Phi, cũng có truyền thuyết, con người trước khi chết, được cho uống vào một loại lá cây tương tợ như ngãi, họ sẽ không chết hẳn, nhưng sẽ tồn tại một thời gian, sau đó sẽ sống lại như người trần...

Những truyền thuyết nói trên cho đến hôm nay, cũng chỉ là truyền thuyết vì không có tính khoa học, cũng không phải là một thực tại và nhiều khi mang tính hoang đường nhiều hơn. Bài Tin mừng hôm nay trình bày câu chuyện Ladarô đã chết 4 ngày, lại được sống lại. Ladarô một con người có thực, lịch sử, vì đau bệnh đã chết 4 ngày. Cái chết của ông không phải là một cái chết giả tạo, mà là một sự thật được nhiều người làm chứng. Vậy mà sau 4 ngày, Ladarô đã chết, được Chúa Giêsu cho sống lại. Dĩ nhiên sau này Ladarô cũng sẽ chết lần nữa. Chúa Giêsu là Thiên Chúa, nên Người chính là nguyên lý của sự sống và sự sống lại. Muốn cho Ladarô sống lại, Chúa không nhờ bất cứ ai hay nhờ quyền năng nào. Chính Chúa Giêsu dùng quyền năng của chính mình mà làm cho Ladarô sống lại; Chúa không mượn tay hay cậy nhờ quyền năng của người khác như thày phù, thày pháp...Thiên Chúa chính là chủ của sự sống, thử hỏi Người muốn điều gì lại không được?

c/. Gợi ý sống và chia sẻ: Chúa Giêsu là Sự Sống lại và là Sự Sống, vì chính Chúa đã chết sau 3 ngày, đã tự mình sống lại, ta có tin không?

Trên trần gian hay chết này, chúng ta tìm đâu ra sức sống để mà sống? Có phải ta đi tìm trong tiền bạc, lạc thú, rượu chè và những lý thuyết đưa tới sự chết, thực ra chúng ta tìm cái gì? Tìm Chúa hay tìm những thứ đó?

SỰ SỐNG VĨNH CỮU
Ga 11, 1- 45

CÁI CHẾT LÀ NỖI ĐAU TỘT CÙNG CỦA CON NGƯỜI. Cái chết đưa con người xa rời với những gì trước đây mình gắn bó. Của cải, người thân, ước mơ, hy vọng tất cả đều qua đi trong nháy mắt. Những gì còn lại chỉ là nắm mộ sâu với những tiếc nuối của người thân. Đứng trước cái chết con người mới thấy rõ sự sống đáng quý là dường nào. Cuộc sống nơi trần gian có giới hạn, mang tính tạm thời nhưng ai ai cũng bám víu, cố giữ không muốn xa rời.

Sự sống tạm thời thật quý, sự sống vĩnh cửu còn đáng quý hơn biết chừng nào. Chúa Giêsu đã tự nói về mình " Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Ta thì dù đã chết cũng sẽ được sống " (Ga11,25). Lời Chúa Giêsu mang đến niềm vui cho những ai đang đau buồn trước cái chết, đem đến niềm vọng cho những ai vừa thất vọng trước sự ra đi của một người.

Sự chết là nỗi đau của con người.

Con người ai cũng phải chết. Người lành cũng chết, người dữ cũng chết. Người tội lỗi cũng chết. Người thánh thiện đạo đức cũng không loại trừ. Người được Chúa Giêsu yêu như Lazaro cũng phải chết hay ngay chính bản thân Chúa Giêsu, Ngài phải đi qua cái chết mới đến vinh quang phục sinh. Cái chết cho ta hiểu rằng mọi vật đều hư vô. Cuộc sống đời này không là hạnh phúc vĩnh cửu. Mọi vật mọi loài đều hữu hạn trong thời gian và không gian. Chỉ nơi Thiên Chúa mới có sự sống thật, mới có hạnh phúc thật. Thiên Chúa là địa chỉ cần thiết mà con người cần phải tìm về. Bởi lẽ nơi Ngài sự chết sẽ không còn hiện diện. Nỗi khổ đau buồn sẽ được Ngài xoa dịu. Tất cả những tang thương sẽ được Thiên Chúa mặc cho những giá trị mang lại ơn cứu rỗi ngàn đời.

a.Chết trong tinh thần.

Cái chết tự nhiên khiến ai nấy cũng đau buồn. Nhưng cái chết tinh thần làm cho con người cần phải suy nghĩ nhiều hơn.

Chết vì không được ai quan tâm.

Có những người vẫn còn hiện diện trước mắt mọi người nhưng thật ra họ đã chết. Đó là những người sống mà không có tình thương, không có hy vọng, bị người đời bạc đãi phản bội.

Có những người già phải sống cô đơn, sống nghèo khổ giữa những đứa con đầy đủ tiện nghi mà không quan tâm gì đến mình. Họ đang sống nhưng thật ra họ đã chết.

Có những người đang vật lộn với cơn bệnh tật, thế mà chẳng ai kình viếng, chẳng ai thăm nom, con cái cũng chẳng màn, thỉnh thoảng về thì cho ít tiền để cơm cháo. Quả thật, họ đang sống nhưng thật ra họ đã chết từ lâu rồi.

Có những em nhỏ bụi đời lang thang ngoài phố chợ không biết đâu là nhà, không biết cha mẹ mình là ai, không được học hành, không một tương lai, không một hy vọng cho ngày mai. Những em đó đang sống nhưng thật ra đã chết rồi.

b. Chết vì còn sống trong tội lỗi.

Cái chết tinh thần không dừng lại ở sự lạnh lẽo, bội bạc của con người. Khi con người phạm tội chính là lúc họ đang ở trong sự chết, vì đã căt đứt mối dây hiệp thông sự sống với Thiên Chúa. Họ chết đuối không bởi do người khác nhấn chìm nhưng vì họ không có cố gắng vươn lên. Họ dường như buông xuôi, đành chấp nhận hiện trạng xấu xa của mình. Họ cho rằng tội lỗi là không thể nào diệt được và đức hạnh thì không bao giờ đạt tới được. Họ không cố đi lên nên đành phải thụt lùi. Sống trong tội khác nào sống mà như đã chết.

Một thái độ khác không muốn sám hối ăn năn. Lần đầu phạm tội ta thấp lo sợ. Lần thứ hai vấp phạm cảm thấy lo lo. Lần thứ ba đã thấy ít lo sợ hơn trước. Và rồi nhiều lần sau kế lỗi phạm ta chẳng còn đắn đo suy nghĩ gì nữa. Dần dần sẽ hình thành nơi ta một sự chai lì trong tội. Ta chẳng cần để ý mình có phạm tội hay không, không còn chiến đấu nữa, phạm tội mà không muốn ăn năn nữa. Đó là ngày mà tâm hồn ta đã chết.

Chúa Giêsu là sự sống lại

Trong một thế giới mà sự chết luôn đe doạ thì vai trò sự sống Chúa Giêsu càng được tỏ hiện. Cô Matta thưa cùng Chúa Giêsu " Thưa Thầy nếu có thầy ở đây, em con đã không chết " (Ga11,21). Đây là một câu nói đầy nữ tính của Matta. Lời cô nửa trách móc vì không cầm lòng được trước cái chết của em, nửa tin tưởng vào Thiên Chúa. Cô như trách CG rằng : Lúc con báo tin sao Thầy không đến ngay, bây giờ mọi sự đã rồi, em con đã chết rồi thầy đến chi nữa! Nhưng khi thốt ra lời ấy, cô Matta nói tiếp những lời biểu lộ niềm tin vững mạnh. Cô nói bằng một hy vọng trong tuyệt vọng " Nhưng con biết bất cứ điều gì Thầy xin cùng Thiên Chúa, Người cũng sẽ ban cho Thầy " (Ga11,22). Chúa Giêsu không phụ lòng mong mỏi và niềm tin tưởng của Matta. Ngài đã cho Lazaro sống lại khi thân xác đã nặng mùi. Phép lạ của Ngài là lời minh chứng Ngài chính là sự sống thật.

" Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Ta thì dù có chết cũng sẽ được sống " . Khi nói câu này chắc chắn Chúa không nghĩ về sự sống thể xác. Bởi vì một người tin Chúa không thể chết, điều này không đúng sự thật. Do đó, Chúa Giêsu ngầm nói đến sự chết do tội lỗi, do sự nhẫn tâm của con người gây ra. Cho dù người ta có thể trở thành vô tri vô giác như một kẻ đã chết trước sự đau khổ của người khác; Cho dù người ta có thể dấn thân vào việc làm bất lương chẳng còn biết vinh nhục là gì; Cho dù một người đã lâm vào tình trạng tuyệt vọng trong đời sống tâm linh; Chúa Giêsu vân có thể khiến những người ấy sống lại.

CHẾT ĐỂ ĐƯỢC SỐNG
Ga 11, 1- 45

Cái chết luôn là nỗi ám ảnh và nỗi sợ khủng khiếp nhất của nhân loại. Ai đã từng trải nghiệm khi chia ly vĩnh viễn với người thân mới biết được nỗi đau và sự mất mát mà cái chết mang đến. Tin Mừng hôm nay cho thấy cảnh đau thương, tang tóc do cái chết mang đến cho Lazarô và gia đình anh, cũng như nỗi đau thương ấy hiện rõ trên khuôn mặt Chúa Giêsu trước sự ra đi của người bạn thân yêu làng Bêthania. Nhưng rồi cũng trong sự đau thương tang tóc ấy loé lên niềm hy vọng xoa dịu cảnh sầu thương trước sự hiện diện của Chúa Giêsu.

Thánh Gioan thật tinh tế khi lột tả sự đau thương của gia đình Bêthania qua những trang Tin Mừng sống động, cũng như cho thấy sự đối kháng với nỗi tang thương ấy là niềm hy vọng mãnh liệt, một niềm vui khôn tả khi tử thần không còn quyền thống trị trước sự có mặt của Con Thiên Chúa.

Chuyện xảy ra tại thôn làng Bêthania, nơi Chúa Giêsu thường lui tới giảng dạy và nghỉ ngơi. Gia đình ấy có ba thành viên: Macta, Maria và Lazarô. Cuộc sống thường ngày cứ trôi qua êm đềm và hạnh phúc. Nhưng cái chết xuất hiện phá tan tất cả. Những dự tính, những hạnh phúc mong manh nhỏ bé ấy tưởng chừng như không ai có thể lấy được giờ đây bị tử thần cướp mất, cắt đứt và làm tiêu tan hết mọi hy vọng, mọi mơ ước tầm thường mà con người đã dày công vun đắp. Một bầu khí tang thương nặng trĩu đang bao trùm gia đình ba chị em Macta trước cái chết của Lazarô.

Chính Chúa Giêsu cũng không cầm được nước mắt trước cảnh đau thương này. Tuy nhiên Ngài muốn cho thấy vẫn con một sức mạnh vượt xa nọc độc của thần chết. Sức mạnh ấy chính là Thiên Chúa. Nếu như thần chết làm tiêu tan mọi hy vọng, gieo nỗi tang thương trên khắp cả hoàn cầu bằng cái chết chia biệt người với người, với những mơ ước xây đắp nơi trần gian... thì Thiên Chúa dùng chính cái chết ấy để đưa con người vào cuộc sống vĩnh cửu.

Những thứ mà tử thần gây ra cho nhân loại chỉ là sự mất mát tạm thời. Nhưng Thiên Chúa dùng cái mất mát tạm thời đó để ban cho nhân loại những điều bất diệt. Như vậy cái chết giờ đây không còn là thứ sợ hãi mà chính là mối lợi. Đây chính là sự khôn ngoan của Thiên Chúa: từ sự phản bội của con người trước tình yêu Thiên Chúa mà nhân loại phải chịu hậu quả nặng nề là cái chết, thì giờ đây cũng chính từ cái cái Thiên Chúa dẫn con người đến sự sống đời đời cách dồi dào hơn trước...

Nhưng không phải cái chết nào cũng trở thành mối lợi để chúng ta bước vào cuộc sống vĩnh cửu. Nếu chúng ta chết trong tội lỗi và trong những tham vọng tầm thường của mình thì cái chết ấy sẽ dẫn ta đến cái chết thứ hai là cái chết mãi mãi. Chỉ có những cái chết cho tội, chết cho những ham muốn thấp hèn của bản năn . . . trong niềm tin tưởng phó thác và hy vọng vào Thiên Chúa mới dẫn ta bước vào cuộc sống vĩnh cửu.

Sống trong thời đại văn minh, nhưng con người vẫn còn bị bao phủ bởi sự tối tăm của thần chết. Ánh sáng của Chúa Kitô đã đến để xoá tan bóng đêm của sự chết. Nhưng nếu chúng ta vẫn còn sống theo bản năng, sống trong sự ích kỷ, muốn chiếm đoạt, muốn thống trị, không tiếp tay để đẩy lùi chiến tranh thù hận . . . thì chúng ta vẫn đang tiếp tay để cho thần chết thống lĩnh. Khi đó, chúng ta đang tự đóng khung mình không để ánh sáng sự sống của Chúa Kitô lan toả.

Nếu chúng ta muốn chiến thắng tử thần, muốn cuộc sống này không con bị tử thần phá hoại, chúng ta phải biết tin tưởng vào Chúa Kitô và đặt mọi hy vọng vào Thiên Chúa như hai chị em Macta và Maria trong Tin Mừng hôm nay: "Nếu có Thầy ở đây em con sẽ không chết."

Tin tưởng vào Chúa Kitô là tin rằng cái chết là một phần của sự sống. Chúng ta sinh ra là để chết và chết để được sống dồi dào. Chính nhờ cái chết mà chúng ta hiểu được giá trị của sự sống. Chúng ta phải chết cho tính ích kỷ, tự kiêu và chết cho tội... Mỗi lần chết như thế là mỗi lần chúng ta cùng nhau vượt qua sân khấu cuộc đời. Mỗi ngày có một cái gì chết đi thì cũng có một cái gì được sinh ra. Chúng ta chỉ chết trong phút chốc với những thất bại, với sự ngược đãi chống đối, với buồn đau, thất vọng và ngay cả cái chết của thân xác như Lazarô... vì nỗi đau mà những cái chết này mang lại trong giây lát rồi sẽ qua để hứa hẹn một tương lai tươi đẹp. Nhưng chúng ta sẽ chết mãi mãi khi tự cô lập, khi chua cay gắt gỏng với anh em, khi con tim ta trở nên chai đá không còn nhạy cảm trước nỗi đau của người khác . . . Chính Chúa Kitô cũng đã trải qua những cái chết này khi treo mình trên thánh giá. Vậy nếu chúng ta cùng chết với Đức Kitô như thế thì chắc chắn chúng ta cũng sẽ được cùng sống với Ngài.

Lạy Chúa, nếu ngày mai con chết chắc chắn con sẽ vô cùng lúng túng vì cả đời con chưa làm được một điều gì cho Chúa cũng như cho anh em. Thế giới này còn bao khiếm khuyết dở dang, còn bao điều nằm ngoài vòng ta của Chúa. Xin cho chúng con mỗi ngày dám chết đi chính mình để biết cộng tác với Chúa để xây dựng một thế giới yêu thương, công bằng, vui tươi và hạnh phúc... Xin nuôi dưỡng nơi chúng con một niềm tin vững vàng và niềm hy vọng nồng cháy, để tất cả những gì chúng con làm đều nhằm chuẩn bị cho ngày Chúa đến. Amen.

NIỀM TIN SỰ SỐNG
Ga 11, 1- 45

Biến cố sập nhịp cầu Cần Thơ 26. 09. 2007 là biến cố gây kinh hoàng và ám ảnh của các gia đình và người thân của gần 100 sinh mạng phải mất đi vĩnh viễn mà không một lời từ biệt. Những người thân chỉ còn biết kêu gào đau khổ trong tuyệt vọng. Lúc đó hình ảnh nhịp cầu với những thanh sắt to nằm tua tủa trong những khối bê tông nặng hàng ngàn kilôgram. Nó như một nấm mồ khổng lồ chôn tập thể những người thân mình mà không biết cầu cứu cùng ai. dẫu rằng trong cuộc sống ai cũng biết sinh - lão - bệnh - tử là điều không thể tránh khỏi nhưng khi mất người thân thì ai cũng phải đau buồn. Maria và những người Do Thái cũng đau buồn khóc lóc trước cái chết của Lazarô.

Trước nỗi đau khổ đó, Đức Giêsu cũng có một thái độ đầy tình người: "các ngươi đặt ông ấy ở đâu?" . Và Người bật khóc, do đo người Do Thái mới nói: "kia xem ! Ông ta thương anh Lazarô biết mấy!" . Nhiều lối giải thích cho rằng Đức Giêsu thương Lazarô nên đã khóc. Lối cắt nghĩa này không hoàn toàn sai. Nhưng có một điều hơi khúc mắc là tại sao Ngài biết chắc mình sắp cho Lazarô sống lại mà con khóc thương? Điều đó hơi có phần vô lý. Ngoài ra, Thánh sử còn diễn tả tâm tình Đức Giêsu qua việc "Đức Giêsu thổn thức trong lòng và xao xuyến. Người ta luôn thắc mắc về ý nghĩa các tâm tình đó. Có kẻ xem đây là cơn giận của Chúa Giêsu đối với cái chết mà tác giả của nó là Satan. Số khác lại coi đây là cơn giận của Ngài vì sự cứng lòng tin của những người Do Thái. Điều đó có thể hợp lý hơn, vì cái chết và cứng lòng tin đều quy về Satan như nguyên nhân tác thành. Quả thật, Đức Giêsu không phải cho thân xác Lazarô sống lại để kéo dài thêm tuổi thọ ở trần gian. Nhưng muốn cho con người thấy được Thiên Chúa sẽ ban cho những người tin vào Người sự sống ở trần gian. Như trong bài Tin Mừng Đức Giêsu đã khẳng định: "Phục sinh và sự sống chính là Ta, ai tin vào Ta thì dẫu chết cũng sẽ sống và mọi kẻ sống mà tin vào Ta, sẽ không phải chết bao giờ. Ngươi có tin thề không?"

Trong câu chuyện Gioan tường thuật ta cứ ngỡ Lazarolà nhân vật chính, nhưng đi sâu vào bài Tin Mừng, ông chỉ là chất xúc tác đặc biệt làm rõ lên tính cách của các nhân vật khác. Dĩ nhiên tất cả các nhân vật đó đều phải tuỳ thuộc vào Đức Kitô. Người đã từng bước dẫn các nhân vật trong câu chuyện từng bước đến ánh sáng Phục Sinh, Ánh Sáng của sự sống lại. Hầu như lúc đó tất cả còn đang trong nỗi sợ hãi và suy nghĩ của người đời, nào là Mátta, nào là Maria và vô số những người Do Thái đang đến chia buồn với họ. Nhân cơ hội này, Đức Giêsu đã đưa họ đến với niềm tin Phúc Sinh.

Mặc dầu Đức Giêsu rất thương Lazarô, nhưng Ngài lại quan tâm đến việc quan trọng hơn, đó là đức tin của những người đang có mặt. Và để khẳng định mục đích và ý nghĩa của việc sắp làm, người đã ngước mắt lên mà nói: "ngõ hầu họ tin rằng Cha đã sai Con". Nói thế, Người lớn tiếng gọi Lazarô và ông ra khỏi mồ.

Chắc chúng ta cũng không lấy làm bỡ ngỡ, khi Giáo hội chọn Chúa Nhật V Mùa Chay để công bố Tin Mừng Đức Giêsu cho Lazarô Phục Sinh, là dịp để chúng ta đón nhận đại lễ Phục Sinh sắp đến. Quyền năng Thiên Chúa sẽ chiến thắng tử thần. Trong khi Lazarô chết đã 4 ngày được Đức Giêsu cho sống lại, chứng tỏ cho mọi người thấy quyền năng của Thiên Chúa trên sự chết. Sự chiến thắng mà chúng ta sẽ được thấy rõ hơn trong chính sự Phục Sinh của Người. Ngày đó, tử thần hoàn toàn bị đánh bại và niềm hy vọng vào một cuộc sống mới, cuộc sống trường cửu sẽ được ban tặng cho chúng ta.

Khi mà con người đã đủ niềm tin vào sự Phục Sinh, thì cái chết như là một sự biến đổi. chính Đức Giêsu đã mở cánh cửa niềm tin cho mọi người, Ngài đã đập tan đêm tối buồn phiền, u mê bằng cách đập tan cửa mồ ngăn cách để đưa con người đến một chân trời hy vọng tràn đầy niềm vui. Người có toàn quyền ban cho ta cuộc sống mới đó. Cuộc sống mà Người đã làm cho người bạn mình là Lazarô. Do đó, Người cũng ban cho chúng niềm hy vọng vào cuộc sống bất diệt trong đó chỉ có tình yêu ngự trị không còn bóng dáng của tội lỗi và sự chết. Như Đức cố Hồng y Px. Nguyễn Văn Thuận đã nói trong đường hy vọng: "Đối với Kitô hữu không có người chết. Tất cả các kẻ chết của chúng ta vẫn đang sống. Họ là chi thể của Chúa Kitô như chúng ta, chúng tôi thông hiệp với nhau trong đức tin".

Lạy Chúa! Xin cho con biết hướng về cuộc sống mai sau chính là cuộc sống mà thiên Chúa đã dành sẵn cho mỗi người chúng con. Amen

SỐNG Ý NGHĨA ĐỂ ĐƯỢC SỐNG
Ga 11, 1- 45

Đầu tháng 11.2007, báo chí Tp.HCM đã tốn nhiều giấy mực viết về cái chết của "đoá hoa hướng dương" Lê Thanh Thuý, một cô gái trẻ luôn ấp ủ trong lòng ước mơ cao đẹp. Mọi người gọi cô là "đoá hoa hướng dương" không chỉ vì cô yêu thích hoa hướng dương, mà còn vì cô đã nỗ lực vươn lên dù biết quảng đời còn lại của mình chỉ trải qua từng ngày, từng giờ. Mặc cho căn bệnh ung thư quái ác đang hoành hành và huỷ dần sự sống, cô vẫn vui sống với những chương trình hành động đậm tính nhân văn: lo lắng, chăm sóc cho các bệnh nhi đồng cảnh ngộ. Những dự tính còn trải dài phía trước, nhưng cuộc đời Thuý đã phải dừng lại. Nhiều trái tim rung động, nhiều giọt nước mắt rơi xuống tiễn đưa một đoá hoa luôn hướng về ánh sáng mặt trời.

Hôm nay, chúng ta cũng nghe thấy những giọt lệ khóc thương người thân yêu từ bài Tin Mừng. Matta, Maria và bà con láng giềng khóc thương trước cái chết của Lazarô. Anh chết đi khi tuổi đời còn quá trẻ. Người ta yêu quý sự sống, "tham sinh huý tử", nên cảm thấy hụt hẫng, đớn đau trước cái chết của một người thân yêu.

Đức Giêsu cũng bồi hồi thổn thức trước nỗi đau của nhân loại. Ngài đến với hai chị em Matta - Maria trong lúc họ đang đau khổ nhất để chia sẻ nỗi đau với họ. Ngài, trong bản tính nhân loại, cũng không cầm được dòng lệ khi người bạn chết đi. Thế nhưng, vượt qua những đau thương hiện tại, Ngài đã loan báo cho gia đình cô Matta và cho cả nhân loại một niềm hy vọng. Đó là sự sống vĩnh cửu có từ nơi Ngài: "Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta dù có chết cũng sẽ được sống" (Gn 11,25). Sự sống lại của Lazarô chính là dấu chỉ để mọi người nhận biết Đức Giêsu là Đấng ban sự sống và sự sống lại cho những ai tin vào Ngài.

Con người yêu quý sự sống, nhưng cũng cảm thấy sự sống sao mong manh quá. Từ cổ chí kim, người ta luôn tìm kiếm đủ mọi phương dược để được bất tử, hay ít là kéo dài tuổi thọ con người. Nhưng quy luật muôn đời không thay đổi: Ai ai rồi cũng phải chết.

Cái chết tạo nên một thử thách cho đời sống đức tin của chúng ta. Có những người chỉ nhìn thấy sự chết tước đoạt của con người tất cả, nên ra sức sống buông thả, bởi chết là hết. Họ sống theo triết lý Lamã xưa: "Hãy ăn uống no say, vì ngày mai bạn có thể chết". Nhưng cũng có người sống theo quan niệm khác. Họ tin còn có sự sống vĩnh cửu. Họ sống một cuộc sống tích cực, đầy ý nghĩa để chuẩn bị cho cuộc sống đời sau và cái chết không là nỗi sợ hãi đối với họ.

Là Kitô hữu, chúng ta tin có sự sống lại. Và sự sống đời đời ấy không bắt đầu khi chúng ta chết đi mà bắt đầu ngay ở đời nầy. Nó được dệt bằng những nỗ lực trong từng công việc hằng ngày của chúng ta. Do đó, trong tất cả mọi việc, dù lớn hay bé, chúng ta hãy làm trong viễn cảnh vĩnh cửu; để nhờ những hy sinh bé nhỏ ngay từ bây giờ, chúng ta sẽ được hạnh phúc khi bước qua cái chết.

Nhìn những công việc tốt đẹp của Lê Thanh Thuý, người ta nhận ra nơi cô một tâm hồn quảng đại luôn hướng về sự thiện như đoá hoa hướng dương hướng vế ánh sáng mặt trời. Ước gì mỗi người chúng ta cũng sống thế nào để mọi người nhận thấy chúng ta luôn hướng về Ánh Dương là Đức Kitô, nguồn sống của tất cả mọi người chúng ta.

RƠI LỆ
Ga 11, 1- 45

Người ta khóc vì nhiều nguyên do. Vui quá cũng khóc; buồn quá cũng khóc; đau khổ hay mất mát quá lớn cũng làm người ta khóc. Khóc là một cảm xúc tự nhiên của con người.

Chúa Giêsu trong Tin mừng hôm nay Ngài cũng khóc "Chúa Giêsu rơi lệ". Nhưng tại sao Ngài khóc? Có phải vì Chúa nhớ thương một người bạn thân đã ra đi vĩnh viễn không? Chắc không phải thế đâu, vì Ngài biết việc Ngài sắp làm cho Lazarô là cho anh được sống lại. Vậy có phải Ngài khóc vì thấy có nhiều người khóc thương anh ấy không? Chắc cũng không phải thế, vì Chúa Giêsu không bao giờ chạy theo những tình cảm chóng qua của con người. Vậy tại sao Ngài khóc?

Thật ra, trước sự mất mát và đau buồn của tang gia và những người thân, Chúa Giêsu cũng xúc động. Đó cũng là cảm xúc tự nhiên của Con Thiên Chúa làm người. Nhưng nguyên do sâu xa hơn khiến Ngài phải "rơi lệ " và thổn thức là do:

1. Sự cứng lòng tin của người Dothái và niềm tin nửa vời của Mátta và Maria. Trước bao nhiêu việc Ngài làm, bao nhiêu lời Ngài nói mà dân chúng vẫn thờ ơ, nghi ngờ. Thái độ ấy có ngay ở những người thân tín nhất của Ngài. Chúa khóc vì thương cho họ, ví tội nghiệp cho họ. Ngài đã mở mắt cho họ nhưng họ vẫn còn mù tối vì thái độ không cộng tác và những thành kiến cố hủ nơi họ.. Ta cũng hãy nhớ lại , có lần Đức Giêsu cũng dừng chân lại trước của thành Giêrusalem và khóc thương thành: "Giêrusalem, Giêrusalem ! Ngươi giết các ngôn sứ và ném đá những kẻ được sai đến cùng ngươi ! Đã bao lần Ta muốn tập hợp con cái ngươi lại, như gà mẹ tập hợp gà con dưới cánh, mà các ngươi không chịu . Thì này, nhà các ngươi sẽ bị bỏ hoang mặc cho các ngươi" (Mt 23, 37-38). Đó là tấm lòng xót thương bao la của người cha, người mẹ cho con cái mình.

Có người nói rằng: Tại sao Thiên Chúa không hành động theo ý Ngài nếu Ngài thấy điều đó là tốt đẹp cho con người? Câu trả lời là vì Thiên Chúa không muốn biến chúng ta thành những cổ máy Robot. Thiên Chúa đã ban cho con người sự tự do và con người phải chịu trách nhiệm về việc sử dụng tự do của mình. Nếu con người dùng tự do của mình để nghe theo Thiên Chúa, để làm điều thiện theo lời Ngài dạy, thì con người sẽ tìm được hạnh phúc và sẽ mãi mãi sống trong tự do thật sự. Còn ngược lại, con người sẽ phải đau khổ, phải chết và bị trầm luân mãi mãi trong đau khổ.

Lời Chúa vẫn còn đó, vẫn âm vang mỗi ngày bên tai và trong lòng chúng ta. Điều quan trọng là chúng ta có thái độ nào trước lời mời gọi của Chúa mà thôi.

2. Đức Giêsu khóc cũng vì Ngài nghĩ đến cái chết của Ngài sắp xảy đến. Cái chết của Lazarô là dấu hiệu tiên báo về cái chết của chính Đức Giêsu cũng như tiên báo sự chiến thắng tạm thời của Satan. Sự xúc động của Đức Giêsu ở đây cũng giống như tâm tình của Ngài trong cơn hấp hối tại vườn Cây Dầu (Ga 12, 27. 13, 21). Việc Đức Giêsu phục sinh cho Lazarô cho chúng ta thấy quyền năng của Ngài như Ngài đã nói: "Ta là sự sống lại và là sự sống". Hãy vững tin vào Ngài.

Chúng ta cũng hãy nhìn xem về thái độ của Mát-ta và Maria. Họ tuyên xưng và tin rằng Đức Giêsu là sự sống và tin Ngài có quyền làm cho kẻ chết sống lại. Nhưng trong thực tế, họ vẫn nghi ngờ. Chúng ta có thể nói được điều đó là vì khi Đức Giêsu bảo "Hãy đẩy tảng đá" ở cửa mộ của Lazarô ra, thì Mátta thưa với Chúa Giêsu rằng: "Thưa Thầy, đã nặng mùi rối vì đã 4 ngày". Thế đấy, tuyên xưng niềm tin bằng tâm tình và bằng lời nói thì xem ra rất dễ. Nhưng đi vào thực tế, thì chúng ta lại rất hay nghi ngờ. Chúng ta cũng hãy xét lại mình xem, tâm tình của chúng ta khi tuyên xưng niềm tin vào Chúa có giống như Mát-ta không?

CHUYỂN RỜI, ĐẾN GẶP VÀ TIN THÌ ĐƯỢC SỐNG
Ga 11, 1- 45

Jos. Vinc. Ngọc Biển

Chúng ta đang sống trong tinh thần Mùa Chay. Mùa Chay nhắc nhớ chúng ta ăn chay, hãm mình và làm việc bác ái. Thiết nghĩ, làm những việc đó để làm gì nếu không phải hy vọng được tha thứ tội lỗi, và mong đạt được sự sống đời đời sau cái chết!

Vì thế, bài Tin Mừng hôm nay hé mở cho chúng ta chân trời hy vọng ấy khi trình thuật phép lạ Đức Giêsu cho anh Ladarô chết sống lại!

Qua phép lạ cho Ladarô hồi sinh sau khi chết, Đức Giêsu mặc khải cho chúng ta thấy Ngài chính là nội dung của niềm hy vọng phục sinh; đồng thời cũng mời gọi chúng ta hãy tin tưởng và phó thác nơi Ngài, thì cũng sẽ được sống. Vì thế, chính Ngài đã nói: "Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống" (Ga 11, 25). Các bài đọc sẽ lần lượt giúp cho chúng ta hiểu thêm về ý nghĩa bài Tin Mừng hôm nay.

1.      Ý nghĩa Lời Chúa

Trước tiên là bài đọc I  (Ed 37, 12-14), trình thuật việc dân Israel sống trong cảnh cơ cực bần cùng tại Babylon trong thân phận lưu đầy. Khi sống trong cảnh tối tăm như thế, họ không biết gì đến tương lai. Đối với họ, tương lại hoàn toàn mù mịt: không đền thờ, không tư tế, không hy vọng, ở tản lạc giữa các dân ngoại... họ chẳng khác gì như một đống xương khô nơi nấm mồ trong thung lũng thẳm sâu (x. Ed 37, 114). Tuy nhiên,Thiên Chúa vẫn không bỏ rơi họ, nên đã sai tiên tri Êdêkiel đến để nâng đỡ, an ủi và loan báo cho họ một tương lai sáng sủa hơn, tốt đẹp hơn và tràn đầy hạnh phúc khi dân Israel được hồi hương nếu họ trung thành và sẵn sàng nghe theo huấn lệnh của Thiên Chúa. Được hồi hương, thoát khỏi cảnh nô lệ bên Babilon thì chẳng khác gì được trỗi dạy từ những nấm mồ là hình bóng của sự chết tróc (x. Ed 37, 12-14).

Tiếp theo, bài đọc II (Rm 8, 8-11), thánh Phaolô đã lay động tâm hồn tín hữu Rôma bằng việc đưa ra những hình ảnh gợi cảm nhằm biểu đạt một niềm hy vọng cho tương lai. Vì vậy, ngài đã ví những người sống trong cảnh buông thả, dung dưỡng xác thịt, không sống theo Thần Khí thì chẳng khác gì một người đang bị nấm mồ thần chết vô hình do tội lỗi vây hãm. Tuy nhiên, thánh nhân cũng củng cố niềm tin và mời gọi hãy gắn bó với Đức Giêsu nhờ Thánh Thần của Ngài, để trong ta có Chúa và trong Chúa có ta, thì cho dù chúng ta có chết, Ngài cũng sẽ cho chúng ta sống lại.

Cuối cùng, bài Tin Mừng đem lại cho chúng ta tràn đầy hy vọng khi trình thuật việc Đức Giêsu cho anh Ladarô là bạn thân tín của Ngài đã chết 4 ngày được sống lại. Sự hồi sinh Ladarô, một mặt nhờ niềm tin của Martha, mặt khác để tôn vinh Thiên Chúa Cha, và cũng để củng cố niềm tin nơi các môn đệ cũng như những người hiện diện, đồng thời cũng tiên báo một cuộc sống mới sau cái chết của những người tin vào Đức Giêsu. Thật vậy, Đức Giêsu khẳng định Ngài là Thiên Chúa, nên ai tin vào Ngài thì sẽ được sự sống đời đời làm gia nghiệp. 

2.      Đức Giêsu là sự sống 

Nếu Chúa Nhật 4 Mùa Chay, câu chuyện Tin Mừng mời gọi chúng ta chiêm ngưỡng Đức Giêsu chính là sự sáng thế gian qua trình thật việc Đức Giêsu làm phép lạ cho người mù được sáng mắt, thì Chúa Nhật này, như một sự tiệm tiến để dẫn đến một mặc khải quan trọng hơn, mặc khải về Đức Giêsu chính là sự sống.

Trình thuật được khởi đi từ việc Đức Giêsu quyết định đi lên Giêrusalem. Đi lên Giêrusalem vào thời điểm này thì đồng nghĩa với việc đón nhận cái chết. Nhưng vì vâng lời Chúa Cha và yêu thương con người, nên Ngài đã sẵn sàng. 

Vì vậy, khi nghe thấy có người đưa tin về Ladarô bạn của Ngài đau mệt, Đức Giêsu đã không đi ngay, mà phải đợi đến khi Ladarô chết và được an táng tới 4 ngày trong mồ, Ngài và các môn đệ mới tới.

Khi đến Bêtania, Ngài thổn thức vì thấy nỗi đau khổ của hai chị em Martha và Maria mất em, của những người hàng xóm thương khóc bạn thân. Thấy Đức Giêsu, Martha đã chạy lại và nói: "Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết" (Ga 11, 21). Lời nói này có thể là một lời trách nhẹ và cũng là một lời tuyên xưng niềm tin mãnh liệt vào Đức Giêsu. Thật thế, ngay sau câu nói đó, Martha tiếp: "Nhưng bây giờ con biết: bất cứ điều gì Thầy xin cùng Thiên Chúa, Người cũng sẽ ban cho Thầy" (Ga 11, 22).

Đức Giêsu đã không để cho Martha thất vọng và những người Dothái phải chờ đợi, vì thế Ngài đã trấn an ngay: "Em chị sẽ sống lại!". Tuy nhiên, Martha hiểu về việc thân xác của Ladarô sẽ được phục sinh trong ngày sau hết: "Con biết em con sẽ sống lại, khi kẻ chết sống lại trong ngày sau hết" (Ga 11, 24). Đức Giêsu đã khẳng định rằng Ngài có toàn quyền trên sự chết khi nói: "Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống" (Ga 11, 25). Nhưng vì quá đỗi hồi hộp và luýnh quýnh, niềm tin lại một lần nữa bị thử thách đối với Martha, vì thế bà thưa: "Thưa Thầy, nặng mùi rồi, vì em con ở trong mồ đã được bốn ngày". Nhưng Đức Giêsu đã đòi Martha  phải đặt trọn niền tin vào Thiên Chúa: "Nào Thầy đã chẳng nói với chị rằng nếu chị tin, chị sẽ được thấy vinh quang của Thiên Chúa sao?" (Ga 11, 39). Và như một sự minh định, Ngài đã truyền lệnh cho lăn phiến đá lấp cửa mồ ra, và lớn tiếng truyền lệnh cho Ladarô ra khỏi mồ. Ngay lập tực, Ladarô tiến ra và thần chết đã bị đẩy lui cho sự sống hồi sinh.

Theo qua niệm của người Dothái, thì câu nói của Martha "...đã 4 ngày rồi" hàm ý nói rằng khi một người đã chết được 4 ngày thì linh hồn chỉ lởn vởn chứ không nhập được vào thân xác nữa..., nên việc hồi sinh kẻ chết quả là một chuyện khó khăn. Tuy nhiên, sự chậm trễ của Đức Giêsu; việc xác chết đã 4 ngày... chuyện đó đâu có gì khó đối với Đấng là nguồn sự sống!

Qua lệnh truyền và hình ảnh các mảnh vải quấn thân xác của Ladarô được tháo cởi, có ý muốn nói lên sự chết không còn có quyền chi đới với Đức Giêsu nữa, và khi con người được giải thoát khỏi nấm mồ sự chết thì cũng là lúc con người được tự do đích thực và cái chết không thể chế ngự được gì trước Thiên Chúa qua Đức Giêsu.

Như vậy, việc Đức Giêsu cố tình chậm trễ như thế là để nhằm cho người ta thấy rằng, Ngài làm chủ trên sự sống và sự chết của con người. Khi Đức Giêsu đã chiến thắng thần chết trên Ladarô thì cũng là lúc giờ Thiên Chúa Cha được tôn vinh nơi Ngài.

  1. Sống sứ điệp Lời Chúa

Toàn bộ bài Tin Mừng hôm nay mặc khải cho chúng ta thấy Đức Giêsu chính là sự sống. Tuy nhiên, muốn đạt được sự sống ấy, thì chúng ta phải tin nơi Đức Giêsu là sự sống. Ngài sẽ làm cho thân xác hư nát, phải chết của chúng ta trở thành thân xác sáng láng vinh hiển của Ngài. Mặt khác phải ra khỏi chính mình, ra khỏi cái tôi tự kiêu để đến với Đức Giêsu. Nếu chúng ta không đến với Ngài, chúng ta sẽ không có nguồn sự sống từ nơi Ngài. Thật vậy, cành không thể có sự sống nếu không gắn liền với thân cây. Cành chỉ có sự sống và từ sự sống ấy mới sinh ra nhiều hoa trái dồi dào được.

Sự gắn bó với Đức Giêsu được kể như là điều kiện cần để được sống đời đời.

Dưới ngòi bút của một nhà thần học siêu nghiệm, thánh Gioan muốn nhấn mạnh đến sự "chuyển rời" hiện tại để hướng đến một bước tiến mới.

Trước tiên là sự "chuyển rời" của người đưa tin cho Đức Giêsu về việc Ladarô đang bệnh nặng; rồi Đức Giêsu và các môn để "chuyển rời" từ bên kia sông Giođan để đến Bêtania; Martha đã "chuyển rời" từ trong nhà để ra đón Ngài; Đức Giêsu, các môn đệ, hai người chị của người chết và những người Dothái đã "chuyển rời" từ nhà của người chết để đến nơi đã an táng; và cuối cùng là Ladarô "chuyển rời" để ra khỏi mồ.

Hình ảnh này cho chúng ta thấy rằng, đời sống của con người chúng ta cần phải "chuyển rời" để thay đổi nếp sống cũ, con đường cũ, nói chung là con người và hành vi tội lỗi của chúng ta, để thay vào đó là một cuộc đời mới, cuộc đời thánh thiện, công chính; một cuộc đời và một sự sống có Chúa. Khi có Chúa, chúng ta đạt được sự sung mãn trong tình yêu của Chúa.

Thật vậy, Nếu chúng ta sống dung túng và hào phóng trong tội. Không gắn bó với Chúa.  Chúng ta cũng sẽ chết. Tuy nhiên, nếu chúng ta thay đổi nếp sống cũ là ích kỷ, tham lam, hà tiện, kiêu ngạo... và tin tưởng vào Đức Giêsu, thì chúng ta cũng sẽ được sống đời đời: "Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống" (Ga 11, 25). 

Khi tin như thế, cả con người và hành vi của chúng ta hướng về Chúa, về Nước Trời và như một sự "chuyển rời" để từ ích kỷ đến lòng bao dung. Từ thất vọng đến niềm hy vọng. Từ miền u tối đến miền ánh sáng. Từ sự chết đến nguồn sự sống. Như vậy, nhờ có sự "chuyển rời" mà sự chết nơi chúng ta là những người tin, không trở nên bi đát, ngõ cụt. Nhưng chỉ là một cuộc chuyển mình hầu vượt qua cái chết để tiến đến vinh quang mà thôi. Thật vậy, thánh Phaolô đã nói: "Quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giêsu từ trời đến cứu chúng ta. Người có quyền năng khắc phục muôn loài, và sẽ dùng quyền năng ấy mà biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người" (Pl 3,20-21).

Lạy Chúa Giêsu, xưa Chúa đã làm phép lạ cho Ladarô chết 4 ngày sống lại, nhằm củng cố niềm tin của những người đương thời với Chúa, và cũng mặc khải cho mỗi người chúng con biết rằng chính Chúa là sự sống lại và là sự sống. Xin cho mỗi người chúng con ý thức được điều đó để thêm tin, thêm mến, thêm cậy trông vào Chúa hầu được sự sống đời đời. Amen.

TA LÀ SỰ SỐNG LẠI VÀ LÀ SỰ SỐNG
Ga 11, 1- 45

1. LỜI CHÚA: "Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết cũng sẽ được sống" (Ga 11,25).

2. CÂU CHUYỆN: SỐNG LẠI THẬT VỀ PHẦN LINH HỒN:

SI-TA ĐE-LI vốn là một kẻ chuyên quậy phá kẻ khác. Anh đã nhiều lần vào tù ra khám vì tội phá phách cướp giựt. Trong phiên tòa lần thứ năm, quan tòa đã phải tuyên bố như sau: "Có phạt anh thêm nữa cũng vô ích ! Nhưng chúng tôi vẫn phải cách ly anh. Chúng tôi đã làm hết cách. Quả thật chúng tôi đã hoàn toàn thất vọng về anh". Vào tù lần này, ĐE-LI lại ngựa quen đường cũ: có những hành vi vô kỷ luật và đàn áp bạn tù yếu thế hơn mình, nên anh đã bị biệt giam trong hai tuần lễ. Nhưng một phép lạ đã xảy ra: Khi đang phải nằm thu mình trong một căn hầm chật hẹp tăm tối, nằm trên nền đá ẩm mốc hôi hám, ĐE-LI đã có dịp suy nghĩ và nhớ lại những lỗi lầm đã phạm. Vốn là con một trong gia đình giàu có, được cha mẹ cho đi học, nhưng anh lại lười biếng và ăn cắp tiền của cha mẹ rồi sau đó bỏ nhà đi hoang. Từng được nhà trường đánh giá là một học sinh thông minh giàu sáng kiến và chỉ có thói xấu ham vui. Vậy tại sao anh lại không sử dụng những tài năng đó để làm việc tốt hữu ích cho tha nhân, mà lại bỏ nhà ra đi và phải mang thêm tội đàn áp bóc lột kẻ khác ? Rồi sau đó anh bắt đầu có những giấc mơ đẹp về Đức Giê-su, mà anh đã từng biết khi theo học khóa giáo lý vỡ lòng. Dường như anh thấy Đức Giê-su đang âu yếm nhìn anh và mời anh đi theo Người. Rồi hình ảnh những người từng bị anh gây thương tích lần lượt hiện ra trong tâm trí anh. Tự nhiên anh cảm thấy một tình cảm dào dạt với họ. Chính tình thương ấy đã tắm mát và chữa lành những vết thương trong tâm hồn sơ cứng của anh. Cảm nghiệm ấy đã dần dần biến đổi anh nên một người mới đầy tràn tình yêu của Đức Giê-su. Sau hai tuần lễ, ĐE-LI được ra khỏi ngục biệt giam và trở lại phòng giam thường phạm. Anh không còn thái độ bắt nạt bạn tù, trái lại còn sẵn sàng bênh vực những kẻ thân yếu thế cô. Anh xin cha tuyên úy nhà giam theo học lớp Thánh Kinh hằng tuần. Anh trở thành người học trò chăm chỉ và xuất sắc nhất trong đám bạn tù. Mấy năm sau, khi được mãn hạn tù, anh đã trở thành chủ tịch hội "Cải cách chế độ lao tù". Khi nói về anh, cha tuyên úy nhà lao đã nói: "Si-ta Đe-li là một phép lạ sống động mới xảy ra: Không những anh là một tội nhân được ơn sám hối, mà còn thực sự trở nên một tạo thành mới, một tín hữu tốt lành thánh thiện và là môn đệ đích thực của Chúa Giê-su".

3. SUY NIỆM:

1) "Đức Giê-su là sự sống lại và là sự sống":

La-da-rô và hai người chị Mác-ta, Ma-ri-a là bạn thân của Đức Giê-su tai làng Bê-ta-ni-a.  Nhà của họ là nơi Đức Giê-su và các môn đệ của Người ở trọ mỗi lần các ngài đi lên Giê-ru-sa-lem.  Với tình bạn thâm giao ấy, khi La-da-rô bị bệnh nặng, Mác-ta đã vội sai người nhà đi báo tin cho Đức Giê-su biết.  Nhưng Đức Giê-su lại cố ý trì hoãn không đến ngay vì Người muốn dùng sự kiện này để chứng minh Người "là sự sống lại và là sự sống", nên đã nói với các môn đệ: "La-da-rô đã chết. Thầy mừng cho anh em, vì Thầy đã không có mặt ở đó, để anh em tin" (Ga 11,14-15).

2) Về đức tin của hai chị em Mác-ta và Ma-ri-a: 

Qua Tin Mừng hôm nay, chúng ta thấy về hai cách biểu lộ đức tin như sau:

- Về đức tin tuyên xưng ngoài môi miệng của Mác-ta: Vừa được tin Đức Giê-su đến, cô Mác-ta liền ra đón Người. Cô nói với Đức Giê-su: "Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết. Nhưng bây giờ con biết: "Bất cứ điều gì Thầy xin cùng Thiên Chúa, Người cũng sẽ ban cho Thầy". Đức Giê-su nói: "Em chị sẽ sống lại !" Cô Mác-ta thưa: "Con biết em con sẽ sống lại, khi kẻ chết sống lại trong ngày sau hết". Đức Giê-su liền phán: "Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết. Chị có tin thế không ?" Cô Mác-ta đáp: "Thưa Thầy, có. Con vẫn tin Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian (Ga 11,20-27). Tuy nhiên đức tin thể hiện bằng lời nói của Mác-ta vần chưa phải đức tin vững mạnh: Khi đến trước mộ của La-da-rô, Đức Giê-su nói: "Đem phiến đá này đi". Cô Mác-ta là chị người chết liền nói: "Thưa Thầy, nặng mùi rồi, vì em con ở trong mồ đã được bốn ngày". Đức Giê-su bảo: "Nào Thầy đã chẳng nói với chị rằng nếu chị tin, chị sẽ được thấy vinh quang của Thiên Chúa sao ?" (Ga 11,39-40).

- Về đức tin cậy trông tín thác vào Đức Giê-su của Ma-ri-a: Cô Ma-ri-a thì tin mạnh mẽ vào Đức Giê-su thể hiện qua như sau: Nghe tin Thầy đến, cô Ma-ri-a "vội đứng lên và đến với Đức Giê-su". Vừa thấy Người, cô liền phủ phục dưới chân và nói: "Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết" (Ga 11,29.32). Đức tin của Ma-ri-a thể hiện qua thái độ cậy trông vào quyền năng và tình thương của Thầy nên không nói nhiều mà chủ yếu là thái độ yên lặng, hoàn toàn tin tưởng phó thác để Thầy toàn quyền định liệu. Chính nhờ biết ngồi bên chân Chúa mà nghe lời Người đã giúp Ma-ri-a đạt tới đức tin cậy trông tín thác vào Chúa Giê-su (x. Lc 10,38-40).

3) Sống đức tin cụ thể hôm nay:

- Hãy trở thành ngôn sứ của sự sống, tình thương và niềm vui: Trong sứ điệp ngày Giới Trẻ Thế Giới năm 1996, Đức Gio-an Phao-lô II đã khuyên các bạn trẻ như sau: "Hãy trở nên những ngôn sứ của sự sống và tình thương, những ngôn sứ của niềm vui. Hiện nay tuy nhân loại ngày càng văn minh hơn. Nhưng vẫn có nhiều bóng tối của sự chết như: chiến tranh, đói kém, phá thai, tự tử, si-đa, ám sát, đặt mìn, tai nạn giao thông... Những cái chết về thể xác phản ảnh một cái chết nguy hiểm hơn. Đó là cái chết của Tình Yêu trong lòng con người ! Cái chết ấy sẽ thắng thế khi con người sống buông thả, chán chường và khép kín trong sự ích kỷ. Nhưng chúng ta có Đức Giê-su là "Sự Sống Lại và là Sự Sống". Một khi chúng ta liên kết mật thiết với Người, chúng ta cũng có thể thông truyền sự sống, tình thương và niềm vui cho thế giới, giống như Đức Giê-su xưa đã trả lại sự sống cho La-da-rô và lau khô giọt lệ cho hai chị em Mác-ta và Ma-ri-a... Ki-tô hữu phải sẵn sàng lao tới bất cứ nơi đâu có những anh em cần được giúp đỡ, những nơi có những giọt nước mắt cần được lau khô, những nơi có những lời cầu cứu đang mong chờ được đáp ứng".

- Đức tin thực sự phải thể hiện qua hành động cậy trông yêu mến: Thánh Gia-cô-bê đã đề cao đức tin tín thác và hành động chia sẻ như sau: "Thưa anh em, ai bảo rằng mình có đức tin mà không hành động theo đức tin, thì nào có ích lợi gì? Đức tin có thể cứu người ấy được không? Giả như có người anh em hay chị em không có áo che thân và không đủ của ăn hằng ngày, mà có ai trong anh em lại nói với họ: "Hãy đi bình an, mặc cho ấm và ăn cho no, nhưng lại không cho họ những thứ thân xác họ đang cần, thì nào có ích lợi gì?  Cũng vậy, đức tin không có hành động thì quả là đức tin chết" (Gc 2,14-17).

4. THẢO LUẬN: Chúng ta cần phải làm gì để trở thành Ngôn Sứ của Sự Sống, sẵn sàng chia sẻ sự sống của Chúa cho đồng bào Việt Nam, cho những người bệnh tật đau khổ đang sống chung quanh chúng ta ?

5. NGUYỆN CẦU:

- LẠY CHÚA GIÊ-SU. Hôm nay chúng con chưa chết nên không xin Chúa cho sống lại về phần xác, nhưng chúng con xin Chúa ban cho chúng con sống lại thật về phần linh hồn: để không những chiến thắng kẻ thù cuối cùng là sự chết, mà còn tiêu diệt những nguyên nhân dẫn tới cái chết như tham lam tiền bạc, ham mê rượu chè, chích hút và những đam mê bất chính khác... Xin cho chúng con thắng vượt sự thất vọng, buồn chán, sống không lý tưởng...

- LẠY CHÚA. Xin giúp chúng con biết tôn trọng sự sống nơi bản thân và gia đình con. Xin cho chúng con biết bảo vệ môi trường sống, và luôn sống kết hiệp với Chúa Thánh Thể là Nguồn Sống Mới. Xin cho chúng con biết siêng năng đón nhận Lời Chúa và Thánh Thể mỗi ngày để chúng con luôn có sự sống của Chúa nơi chúng con, và ngày sau chúng con cũng được sống mãi trong cuộc sống vĩnh hằng.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON

LM ĐAN VINH -  HHTM

NIỀM TIN BỪNG SÁNG
Ga 11, 1- 45
Br Philip-Minh Khả, CMC

Trong ký ức chúng ta có lẽ không quên biến cố khủng bố ngày 11 tháng 9 tại Trung Tâm Mậu Dịch quốc tế tại New York năm vừa rồi. Hai tòa nhà cao 102 tầng đã sụp đổ sau hơn một tiếng đồng hồ bốc cháy bởi hai chiếc máy bay dân sự do đám khủng bố điều khiển đâm vào, mang theo vận mạng một lúc mấy ngàn người trong các tòa nhà đó. Cả nước Mỹ bàng hoàng và đau đớn trong biến cố này. Đứng trước biến cố này, trong sự bàng hoàng, thương tiếc, đau khổ và tuyệt vọng, niềm tin vào sự hiện diện và tình yêu của Thiên Chúa nơi nhiều người bị lung lay. Nhiều người đã phải thốt lên rằng Thiên Chúa đâu rồi? Tại sao Chúa không ngăn ngừa khỏi xảy ra sự dữ này?

Câu hỏi tương tự ở trên cũng được thấy trong Tin mừng Gioan hôm nay. Martha và Maria trong cơn đau khổ mất em là Lazarô, gặp Chúa Giêsu, hai chị em vừa khóc, vừa trách Chúa rằng Chúa ơi, Chúa ở đâu khi em con đang bệnh; nếu Chúa ở đây thì em con đâu có chết. Đây có lẽ là tâm lý chung của con người khi gặp sự đau khổ. Trong đêm tối mịt mù của khổ đau, niềm tin nơi Thiên Chúa của chúng ta bị lung lay. Chúng ta cảm thấy hoài nghi sự hiện diện và tình yêu Thiên Chúa cho chúng ta.

Tin mừng Gioan hôm nay cho chúng ta thấy trong Martha và Maria đang đau khổ, Chúa Giêsu đến bên cạnh họ. Thánh Gioan trình bày ở đây một Thiên Chúa không xa vời ở nơi đâu, nhưng rất gần gũi với con người. Chúa Giêsu mang đến cho họ niềm an ủi. Chúa Giêsu thông cảm nỗi đau khổ của họ. Trong tâm tình xót thương, Người mủi lòng và khóc thương. Và chính niềm tin vào Thiên Chúa nơi Martha và Maria bừng sáng lên khi họ cảm nhận Chúa Giêsu ở bên họ và đặt niềm tin tưởng, phó thác vào Người.

Với niềm tin vào Thiên Chúa, chúng ta tin rằng trên vạn nẻo đường của cuộc sống mỗi người, bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu trong mọi biến cố vui buồn của cuộc sống, Thiên Chúa luôn có mặt để hướng dẫn và nâng đỡ chúng ta. Trong an vui hạnh phúc, trong thất bại khổ đau, trong hân hoan hay đau buồn, trong mạnh khỏe hay bệnh tật, Thiên Chúa luôn bên cạnh ta để mời gọi ta tin tưởng vào tình yêu của Ngài. Thật ra không phải con người đi tìm kiếm Thiên Chúa cho bằng chính Ngài luôn theo đuổi, kiếm tìm và ở bên cạnh con người như trường hợp của chị em Martha, Maria và Lazarô. Chúa Giêsu hằng luôn để ý tới họ và trong cơn đau khổ nhất khi Lazarô chết, Chúa Giêsu đã tìm đến bên cạnh họ để an ủi.

Trong cuộc sống vật lộn với công ăn việc làm để tìm miếng cơm manh áo, với biết bao buồn vui xảy ra đến trong cuộc đời, với những cái chết vì bệnh ung thư hoặc bị tai nạn xe hơi hay vì một lý do không may nào xảy đến, chúng ta luôn luôn được mời gọi để nhìn lên trên các biến cố ấy trong tương quan với đời sống vĩnh cửu, với niềm tin tôn giáo. Đây là cách duy nhất để chúng ta nhận thức được ý nghĩa và giá trị đích thực của cuộc sống.

Biến cố khủng bố ngày 11 tháng 9 tại Trung Tâm Mậu Dịch quốc tế là một sự dữ, là đêm tối đức tin cho nhiều người. Tuy nhiên, qua biến cố này, niềm tin được bừng sáng nơi nhiều người. Nhiều người nhận xét rằng, người ta cầu nguyện với Thiên Chúa nhiều hơn. Nhiều người xưa nay có thái độ bàng quan tới mọi người, nay tỏ thái độ yêu thương, chia sẻ. Niềm tin bừng sáng! Trong câu chuyện Lazarô sống lại, Martha và Maria trong đau khổ đã nhận được tình Chúa Giêsu và đặt niềm tin tưởng, phó thác vào Ngài. Niềm tin bừng sáng! Còn mỗi người chúng ta, cái nhìn, thái độ và niềm tin chúng ta thế nào đối với Thiên Chúa trong các biến cố xảy ra trong đời chúng ta?

ĐỨC GIÊSU LÀ NGUỒN SỐNG
Ga 11, 1- 45
Lm Augustine, S.J

Một lần kia đến thăm một trại nuôi dưỡng người già tàn tật và những người nghèo vô gia cư ở T. B, tôi có dịp hớt tóc cho một trại viên gần 40 tuổi. Khi biết tôi là sinh viên thường đi ngang qua khu vực gia đình anh hiện đang sống, anh liền kể cho tôi nghe về hoàn cảnh tuyệt vọng đáng thương của anh.

Lạy Chúa, tâm hồn này bị nhận xuống bùn đen,
theo Lời Ngài, xin cho con được sống (Tv 118,25)


Được sinh ra trong một gia đình gia giáo theo đạo Thiên Chúa, anh là con đầu lòng nên từ nhỏ đã được bố rất nghiêm khắc nhưng hết mực yêu thương cho đi học ở chủng viện. Ông hy vọng ngày nào đó, anh sẽ là niềm vinh dự cho gia đình. Nhưng trong lần về nhà nhân kỳ nghỉ hè lớp 10, anh đã theo bạn bè cùng xóm quậy phá. Việc ấy gây tai tiếng đến nỗi bố anh vì thất vọng và vì danh dự đối với bà con lối xóm, nên đã chửi mắng, đánh đập rồi đuổi anh đi. Thế là vì tự ái và thiếu suy nghĩ nên T. đã bỏ nhà ra đi, bất kể tới hậu quả ra sao. Từ đó đến nay đã hơn 20 năm, T. đã trải qua biết bao thăng trầm. Anh tự mưu sinh với đủ thứ việc, như bốc vác, phụ hồ, làm rẫy, làm ruộng... T. cũng làm quen với nhiều thói xấu trên đời mà một thanh niên không gia đình dễ dàng buông thả.

Hơn 20 năm bỏ nhà ra đi, cũng có những giây phút T. cảm thấy lòng anh trống vắng hướng về mái ấm gia đình và nhớ người bố ngày một già yếu. Đã có những lần anh quyết tâm dẹp bỏ tự ái để trở về, nhưng lần nào cũng gặp thất bại vì anh không được bố chấp nhận. Cụ thể lần chót cách đây chừng 6 năm, anh đã xin bố tha thứ và cho phép ở lại gia đình nhưng anh hoàn toàn tuyệt vọng vì ao ước của anh không được đáp ứng, cho nên anh đã thở dài và nói: "Bây giờ chỉ biết chôn cuộc đời trong cái trại phức tạp này!"

Được gợi nhớ về dụ ngôn "Người cha nhân hậu", anh T. đã phản ứng: "Ước gì bố mình cũng được như người cha đó! Nhưng bây giờ thì hết còn hy vọng nữa!".

Tôi lại mò mẫm nói với T. về chữ "Hiếu": Cho dầu bố anh là người thế nào đi nữa thì cũng là người đã sinh thành và dưỡng nuôi anh để anh có ngày nay. Cho nên anh phải kiên trì nhắm tới việc hòa giải với bố và với gia đình thay vì thất vọng trong niềm oán trách gia đình. Xem ra T. được đánh động, cố nén cảm xúc. Với đôi mắt đỏ hoe, anh nói: "Mình nghĩ mình là con trai lớn, mấy đứa em lập gia đình hết rồi, để ông già lớn tuổi mà không ai chăm sóc, mình áy náy lắm chứ. Nhưng ông khó lắm, người Bắc mà!"

Rõ ràng tình cảm T. dành cho gia đình còn đó, không phải không có sức mạnh. Tôi liền đoan chắc với T.: "Cũng như anh, bố anh không thể nào quên anh được vì anh đã từng là người con được ông yêu thương và kỳ vọng. Rồi sẽ có lúc chính ông sẽ hối hận và cần sự có mặt của anh, đó là lúc ông sẽ tha thứ cho anh. T. liền nói: "Mình không cần bố cho phép ở lại nhà, mà chỉ cần ông tha thứ và cho phép đôi ba tháng về thăm ông một lần là mãn nguyện rồi."

Sau vài giây trầm tư, đột nhiên T. ngước nhìn tôi, khiến tôi phải dừng tay kéo. Trong mắt anh, tôi thấy anh đang hy vọng. Và quả thật, anh nói cho tôi nghe về điều đó khi nhờ tôi làm người trung gian, thỉnh thoảng ghé nhà nói chuyện với bố anh, để ông tin rằng hiện nay anh thật sự hối hận về lầm lỗi trước kia, cũng như thực sự anh thương nhớ ông và muốn được thăm nom mà không cần phải ở lại gia đình. Anh còn nói: "Bây giờ không có gì gởi cho ông hết, nhưng bắt đầu từ hôm nay, mình sẽ gom góp quà do các phái đoàn đến viếng thăm trại cho, để làm quà thăm nhờ anh chuyển giùm."

Con kể lể đường đời, Chúa đáp lại (Tv 118,26)

Tôi nhận ra sự sống mới nơi T. Lòng anh tràn đầy hy vọng thay vì thất vọng. Không chỉ một mình anh, cả gia đình đều nghiệm thấy một biến chuyển giây chuyền.

Trước tiên là ba đứa em trai và ba em dâu tới thăm T. ở trại. Anh khoe với tôi: "Mình chỉ biết là rất hạnh phúc vì có lại được tình cảm của gia đình."

Sau đó vài tuần, cũng dịp tới thăm trại, tôi được anh khoe rằng bố anh đã tới thăm anh. Ông cụ khóc quá sức. Cả hai bố con cùng an ủi nhau trong nước mắt, đó là lúc anh nghiệm thấy tình cha con nồng nàn mãnh liệt từng bị tắc nghẽn suốt 20 năm qua.

Nhưng tình cảm mà T. cảm thấy mãnh liệt hơn cả là khi người em trai lên chở anh về thăm gia đình. Cả nhà làm một bữa tiệc nhỏ quây quần bên nhau. Bố và các em đều an ủi và khuyến khích anh cố giắng ở lại trong trại một thời gian. Gia đình sẽ thu xếp, kiếm được việc làm, sẽ đón anh về nhà luôn. Vì dù sao, anh cũng vẫn là con, là người anh cùng chung máu mủ, thì làm sao bỏ nhau được!

Đường chân lý, này con đã chọn (Tv 118,30)

Điều lạ lùng là hôm đó, trước khi từ giã gia đình để trở về trại, chính anh T. đứng ra khuyên bố cùng mẹ kế của anh hiện đang sống ly thân trong cùng một căn nhà mà ngăn đôi, chỉ vì xích mích giữa con chung, con riêng, nên anh xin các ngài nên bỏ qua tất cả để làm hoà, vì tuổi đã già, nên lo phần tinh thần là hơn cả. Anh cho rằng xích mích xảy ra chỉ vì mấy đứa em còn nhỏ, chưa suy nghĩ chín chắn, khiến có lời ra tiếng vào làm mất lòng. Phần anh vẫn coi mẹ kế như mẹ ruột của mình. Anh xin mẹ tha thứ cho anh và cho những đứa em đã gân nên bất hoà trong gia đình nay cần được hàn gắn, đó là ước mong của anh trước khi ra đi. Bố và các em dặn anh: "Cần điều gì cứ nhắn về nhà!" Còn mẹ kế đã cho anh 50,000đ, một chai dầu xanh, và vừa khóc vừa khuyên anh tu tỉnh "nhất là nhớ đọc kinh cầu nguyện mỗi ngày!"

Câu chuyện vừa kể liên quan tới phép lạ Đức Giêsu cho ông Ladarô sống lại như thế nào?

Ladarô là em của hai chị em Mácta và Maria. Cả ba được Đức Giêsu thương mến. Gia đình họ ở làng Bêtania, cách Giêrusalem chừng 2 dặm. Khi Ladarô đau nặng, hai chị em nhắn tin cho Đức Giêsu hay, nhưng Đức Giêsu đã không vội vàng lên đường. Khi tới Bêtania, Đức Giêsu được đặt trước cảnh than khóc của hai chị em và những người thân, vì Ladarô đã chết và đã được chôn trong mộ bốn ngày rồi. Đó là lúc Đức Giêsu tuyên bố bản thân Người chính là sự sống lại và là sự sống (c.25). Rồi Đức Giêsu đi đến mộ và gọi Ladarô bước ra khỏi đó, với các băng vải còn cuốn đầy mình.

Câu chuyện được kể cũng nói tới một chàng thanh niên được Đức Giêsu thương mến nhờ chàng sinh viên tới hớt tóc cho anh. Sinh viên này đã vận dụng lời Chúa Giêsu trong dụ ngôn Người cha nhân hậu (Lc 15,11-32) và chữ hiếu (giới răn thứ tư) để thức tỉnh lương tâm của trại viên T. Lạ lùng thay, trại viên T. nhờ đó được hoà giải với bố và gia đình anh. Cách nào đó, anh như Ladarô đã chết được Chúa cho sống lại.

TA LÀ SỰ SỐNG LẠI
Ga 11, 1- 45
Sr. Cecilia

Cuộc khủng bố thật tang thương xảy ra ở Nước Mỹ mới đây, là một tiếng chuông cảnh tỉnh cho tất cả chúng ta về cuộc sống. Qua sự kiện này, chúng ta cảm nhận được rằng cái chết là một thực tại vẫn xảy ra hằng ngày chung quanh chúng ta, là một định mệnh luôn gắn chặt với thân phận con người. Cái chết mang đến sự chia ly, đau buồn và thương tiếc. Hơn nữa, nó như một nhát dao cắt đứt tất cả mọi dự tính về cuộc sống của con người. Thật đau lòng khi đứng trước cái chết đột ngột của những người thân yêu, bạn bè. Đối với người công giáo, đó là một huyền nhiệm mà con người không giải thích được. Đứng trước huyền nhiệm này con người hoàn toàn bất lực và vô vọng, nhưng với Ánh Sáng Niềm Tin vào Thiên Chúa, con người sẽ được sống lại trong ánh sáng sự sống mới của Thiên Chúa. Những gì xem ra vô nghĩa lại có ý nghĩa và giá trị vĩnh cửu.

Tin Mừng hôm nay cho chúng ta tiếp cận mầu nhiệm Phục Sinh của Đức Kitô, qua việc Ladarô được Chúa cho sống lại. Macta và Maria đã trải qua kinh nghiệm đức tin trước cái chết của em mình. Hai Chị Em Macta và Maria rất đau buồn và tuyệt vọng. Cả hai đều thương khóc và tiếc rằng Chúa Giêsu không có mặt lúc đó. Còn gì để hy vọng nữa. Có chăng cũng chỉ là niềm tin tưởng vào một sự sống mai hậu, bởi vì Ladarô đã chết được bốn ngày rồi và không còn có thể cứu vãn được nữa, cửa mồ đã lấp lại. Thật không còn một chút hy vọng nào cả. Đồng cảm trước nỗi đau của Hai Chị Em, Đức Giêsu đã bất chấp mọi khó khăn, nguy hiểm đến tính mạng vẫn trở lại Giuđêa để an ủi Macta và Maria. Ngài cũng thổn thức và rơi lệ khi trên đường đến mộ. Và, để tôn vinh Chúa Cha, khi đứng trước mộ của Ladarô, Đức Giêsu đã ngước mắt cầu nguyện và cất tiếng cảm tạ Chúa Cha đã nhậm lời Ngài. Ladarô được sống lại, thật vui mừng và sung sướng khi Ngài phục hồi niềm hy vọng cho Macta và Maria đang trong nỗi đớn đau đầy tuyệt vọng.

Chúng ta đang sống trong một thế giới văn minh, với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, con người đã phát minh ra được nhiều điều mới lạ. Nhưng, có một điều mà con người không thể và không bao giờ làm ra được, đó là sự sống. Sự sống là một tặng phẩm mà Thiên Chúa ban cho con người, để phục vụ theo chương trình của Ngài. Do đó, không một ai, dù ở cấp bậc nào trong xã hội có quyền hủy bỏ sự sống con người. Gần đây, trên ti vi báo chí có nói tới những trường hợp mẹ giết con, ai trong chúng ta khi nghe qua đều có cùng một tâm trạng thật thương tâm đau xót, nhưng còn biết bao những trường hợp thương tâm khác nữa như vấn đề phá thai và cho phép làm chết êm dịu đang là vấn đề thật nhức nhối đau lòng. Họ cũng là con người đang cần đến chút tình thương, lòng thương hại, tiếng nói bênh vực và lòng quảng đại của con người, vì tất cả đều không thể tự bào chữa cho chính mình.

Thế giới văn minh nhưng lại có nhiều bóng tối sự chết. Chết niềm tin, chết của tình người, chết của lòng tin tưởng lẫn nhau, chết của sự hy sinh phục vụ và chết của lòng quảng đại... Mỗi người chúng ta có cảm thương và dám mang chứng từ sự sống của Thiên Chúa vào trong thế giới đang cần tình thương này không? Hay chúng ta cũng chỉ là những người bàng quang, sống chết mặc bay. Thế giới này đang cần đến những tấm lòng quảng đại, những chứng tá đích thực của Thiên Chúa hơn bao giờ hết. Hãy bắt chước và làm như Chúa Giêsu, mang sự sống, tình yêu, niềm vui, để làm sống lại những niềm tin, sự chán chường, hận thù, tính ích kỷ và tình yêu đã chết ở trong lòng con người. Chúa Giêsu đã nói: " Ta là sự sống lại và là sự sống". Chúa không muốn chúng ta phải chết nhưng Ngài muốn chúng ta được sống và sống một cách sung mãn, nên Ngài đã cho Ladarô được sống lại, trả lại niềm vui và hạnh phúc cho Macta và Maria. Ước gì mỗi người chúng ta biết can đảm chết đi những cái mà chúng ta chết mãi, chết mà chẳng làm sống lại được, đó là tội lỗi, hận thù, ích kỷ, đam mê, để đón lấy sự sống mới trong tình thương của Thiên Chúa.

SỰ SỐNG MỚI
Ga 11, 1- 45
Lm Trần Bình Trọng, USA

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay khơi dạy trong ta cái cảm giác hy vọng ngay trong Mùa Chay khi ta suy niệm về sự thương khó và tử nạn của Chúa. Ta biết điều đó phải đến như vậy vì đời sống và sứ vụ của Chúa không thể nào chỉ được kết thúc trong cảnh tử nạn mà thôi. Trung tâm điểm của Mùa Chay không phải là Thứ Sáu Chịu Nạn mà là Chúa Nhật Phục Sinh khi ta đón mừng cái tiêu điểm của sứ điệp Kitô giáo: Chúa đã sống lại như Lời Người đã phán hứa. Tuy nhiên trong lễ nghi phụng vụ Giáo Hội nhắc nhở cho ta trong Mùa Chay về cuộc khổ hình và tử nạn của Chúa Kitô hầu giúp ta tìm ra ý nghĩa cho đời sống. Vì thế ta có thể có cái nhìn lệch lạc, nghĩa là chỉ nhìn đến những đau khổ của Chúa, mà quên đi cuộc phục sinh khải hoàn của Người. Do đó ta cần nhận thức rằng những mầu nhiệm trong đời sống và sứ vụ của Chúa, không phải chỉ kết thúc ở cuộc tử nạn mà thôi. Trong lễ nghi phụng vụ, ta cần nhắc nhở cho mình về cuộc phục sinh của Chúa. Ta cần ghi nhớ lại mỗi biến cố trong cuộc đời cứu chuộc: khổ giá, tử nạn và phục sinh của Chúa là một phần của toàn bộ chương trình cứu chuộc.

Cái chết của Lazarô và việc ông được cho sống lại trong Phúc âm hôm nay tiên báo cái chết và phục sinh của Chúa. Mặc dầu có những điểm tương đồng giữa hai cái chết và hai cuộc phục sinh, ta vẫn thấy có một sự khác biệt lớn. Cái phẩm chất của sự sống mới được phục sinh nơi Lazarô không thể nào được so sánh với cuộc phục sinh nơi Chúa Kitô, vì chính Người là sự sống lại và là sự sống.

Việc Lazarô bước ra khỏi mồ chưa phải là lúc có thể chia sẻ cuộc sống sung mãn với Chúa. Cuộc sống sung mãn dành cho người Kitô giáo là cái chìa khóa giúp ta hiểu cuộc đối thoại giữa hai chị em Marta và Maria trong Phúc Âm hôm nay về cuộc sống vĩnh cửu. Do đó Lazarô phải chết đi một lần nữa mới có thể tiến tới cuộc sống vĩnh cửu và sung mãn. Cái cuộc sống mới vĩnh cửu mà Chúa nói với Marta và Maria là cuộc sống siêu việt và sung mãn không bị ảnh hưởng bởi tử thần. Cuộc phục sinh của Chúa phải hướng dẫn tư tưởng hằng ngày của ta trong lời cầu nguyện dâng lên Thiên Chúa là Đấng từ ngày này qua ngày khác thấm nhuần đời sống ta bằng sức sống mới. Cuộc phục sinh của Chúa phải đánh dấu cái việc khởi đầu cho cuộc biến đổi của tất cả những ai coi cuộc sống đời này là khó khăn, vất vả, nặng nhọc. Cuộc sống phục sinh không phải là cái gì ta có thể nhìn lại vì ta chưa có kinh nghiệm đạt tới, nhưng là cái gì ta đang nhìn tới với niềm hi vọng. Chính niềm hy vọng đó mà ngay cả với những ngày xuống tinh thần sẽ đem lại niềm vui và ý nghĩa cho đời sống.

Con người ta sinh ra để mà chết. Nhưng con người cũng sinh ra với cái ước muốn gọi là hy vọng. Đối với người tín hữu, Chúa Kitô là hy vọng của ta. Đưa cái tư tưởng hi vọng vào lúc gặp khó khăn thử thách không phải chỉ dành riêng cho người Kitô giáo mà thôi. Như ta học biết trong bài Thánh Kinh Cựu Ước hôm nay, Tiên Tri Ê-dê-ki-en cũng đã nhắc nhở cho người Do Thái trong cuộc lưu đầy là họ sẽ được sinh tồn như là một dân tộc và một quốc gia mặc dầu với những khó khăn thử thách họ phải đương đầu. Lời Tiên Tri Ê-dê-ki-ên cho họ niềm hi vọng là họ sẽ được phục hồi sau cuộc lưu đầy, nghĩa là họ sẽ được giải phóng và cứu thoát. Tin vào điều đó có nghĩa là có hi vọng. Và cái hi vọng đó không phải chỉ hạn chế ở đời này mà thôi. Đó là điều mà Thánh Phaolô nhắc nhở người tín hữu: Còn anh em, anh em không thể sống cho xác thịt, nhưng la sống theo thần trí (Rm 8,9). Sống theo thần trí có nghĩa là mở rộng tâm hồn mong mỏi đến một đời sống sung mãn và vĩnh cửu của Chúa Kitô. Và cái đời sống vĩnh cửu sung mãn này có tính cách vượt qua thời gian và không gian. Cái niềm hi vọng vào cuộc sống sung mãn vĩnh cửu sẽ tạo cho người tín hữu cái niềm vui và ý nghĩa cho cuộc sống, mặc dầu phải trải qua những ngày đen tối. Niềm hi vọng hay cậy trông là một nhân đức đối thần. Cũng như đức tin và đức ái, đức cậy trông phải thấm nhập vào tất cả đời sống của người tín hữu. Đức cậy trông phải được thể hiện trong cuộc sống hàng ngày. Mặc dù với những bệnh tật, đau khổ, thất vọng, chán chường, người tín hữu có đức cậy trông vẫn giữ vững niềm cậy trông vào Chúa. Người tín hữu được kêu gọi sống trong cậy trông bất chấp những thăng trầm của cuộc sống. Với niềm cậy trông, người tín hữu đi tìm Chúa và phụng sự Chúa với hi vọng rằng Chúa sẽ không bỏ rơi họ. Đức cậy trông theo Thánh Phaolô đưa dẫn ta đến đời sống trường sinh.

NGÀI LÀ SỰ SỐNG
Ga 11, 1- 45
P. Damiano Đinh Ngọc Thiệu

Các bài đọc hôm nay đều nói đến sự chết và sự sống như để dọn lòng chúng ta bước vào mầu nhiệm trung tâm của đạo Chúa: mầu nhiệm Thương Khó và Phục Sinh của Đức Ki-tô.

Với bài đọc 1, ngôn sứ Ê-dê-ki-en cho chúng ta hình ảnh một nghĩa trang đầy xương khô và trơ trọi ám chỉ dân Chúa ( nhà Ít-ra-en ) trong tình trạng lưu đày ở Ba-bi-lon. Trong thị kiến, ông thấy những xương đó ráp lại với nhau thành những bộ xương: thêm gân, thêm thịt, phủ da rồi Thần Khí Chúa thổi sinh khí vào. Lập tức, các tử thi được hồi sinh, chỗi dậy thành một đạo quân lớn tiến về đất hứa.

Trong thơ gửi tín hữu Rô-ma, thánh Phao-lô đã dạy: "Chính Thần Khí Chúa ngự trong anh em,. ..sẽ làm cho thân xác anh em được sự sống mới."

Còn trong bài Tin Mừng Thánh Gio-an hôm nay, Đức Giê-su cho ông La-da-rô sống lại. Điều đó khiến cho Mác-ta, Ma-ri-a và số đông dân chúng chứng kiến hết sức vui mừng và niềm tin của họ dược củng cố thêm.

1. Đức Giê-su đã giải phóng chúng ta khỏi ách tử thần như thế nào ?

"Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, Người đã nhập thể trong lòng Trinh Nữ Ma-ri-a và đã Làm Người". Lời kinh trên đã giới thiệu cho chúng ta bước khởi đầu kế đồ cứu rỗi của Thiên Chúa được thực hiện nơi Đức Giê-su, Ngôi Hai Thiên Chúa. Ngài đến trần gian để giải phóng chúng ta khỏi khổ đau, khỏi sự chết, hậu quả của tội nguyên tổ và ban cho chúng ta phúc trường sinh, phúc làm con Thiên Chúa. Ngài đã giải phóng chúng ta bằng cách nào ?

Ngài đã giải phóng chúng ta bằng trọn cuộc đời của Ngài nơi dương thế:

  • Bằng đời sống khó nghèo, khiêm nhường: Ngài chấp nhận cảnh đời thấp hèn nhất trong xã hội: sinh ra nơi hang đá máng cỏ, ba mươi năm ở Na-da-rét, trong xóm lao động, sống bằng nghề thợ mộc, một nghề rất tầm thường trong xã hội Do-thái lúc bấy giờ.
  • Bằng lời nói: Ba năm cuối đời, Ngài đã đi giảng dạy khắp miền đât Do-thái, loan báo Tin Mừng cho mọi người như lời ngôn sứ I-sai-a đã báo trước: "Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho người nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa" ( Lc 4, 18 - 19 ).
  • Bằng hành động: Với trái tim nhân hậu, Ngài đã xoa dịu những tâm hồn khổ đau, cứu giúp kẻ đói nghèo, chữa lành những ai bệnh tật... và trong bài Tin Mừng hôm nay, Ngài đã đến nhà Mác-ta và Ma-ri-a vào lúc La-da-rô, em trai hai bà mới mất, "Đức Giê-su đã thổn thức trong lòng và xao xuyến. Người hỏi: "Các ngươi đã để xác anh ấy ở đâu ?" Họ trả lời: "Thưa Thầy, mời Thầy đến mà xem." Đức Giê-su liền khóc. Tới mộ, Ngài đã kêu người ta đem phiến đá đi và sau khi cầu nguyện, Ngài đã truyền cho La-da-rô ra khỏi mồ: Người chết liền ra, chân tay còn đang cuốn vải và mặt còn phủ khăn.
  • Bằng chính bản thân: Đức Giê-su đã tự hiến mình chịu chết trên thâp giá đền thay tội lỗi nhân loại và đã sống lại. Đây là tột đỉnh của kế đồ cứu rỗi, là dấu ấn tình thương bao la của Thiên Chúa: "Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình" ( Ga 15, 13 ). Ngài đã chiến thắng sự chết và khải hoàn trong vinh quang. Từ đây, cây thập tự, dấu hiệu của sự chết, trở nên mối giao hoà đất trời và là chìa khoá mở cho chúng ta bước vào cuộc sống vĩnh cửu.

2. Những bài học:

Các bài đọc hôm nay cho chúng ta những nét chính trong kế đồ cứu rỗi của Thiên Chúa: Kế đồ này do Đức Chúa Cha khởi xướng, Đức Chúa Con thực hiện và Đức Chúa Thánh Thần ứng dụng cho nhân loại. Cánh riêng bài Tin Mừng Thánh Gio-an cho chúng ta những kinh nghiệm quí báu về Đức Tin: Như Mác-ta và Ma-ri-a đã mời Đức Giê-su đến chữa cho em mình, chúng ta cũng cần chạy đến với Chúa mỗi khi gặp những hoàn cảnh khó khăn trong cuộc sống, quyết không tìm đến với những hình thức bói toán mê tín dị đoan. Theo suy nghĩ thường tình, người ta dễ gán cho những ai gặp tai họa hoặc những bệnh tật hiểm nghèo là do chính lỗi của những người đó: "ác giả ác báo" hay "bị Chúa phạt" ( theo lối nói của người Công giáo ).

Trong câu chuyện Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su cho chúng ta một cái nhìn mới đúng đắn hơn về cơn bệnh và cái chết của La-da-rô: "Bệnh này không đến nỗi phải chết, nhưng là dịp để bày tỏ vinh quang Thiên Chúa." Gặp Mác-ta trong tình trạng La-da-rô đã chết và được chôn cất xong xuôi, Đức Giê-su đã phải cố giải thích để bà có thể nhận ra rằng: không cần phải đợi đến ngày sau hết La-da-rô mới sống lại, nhưng là ngay bây giờ nếu bà tin vào Ngài, vì chính NGÀI LÀ SỰ SỐNG LẠI và LÀ SỰ SỐNG.

Lạy Cha từ ái, chúng con tạ ơn Cha đã ban cho chúng con Ngôi Hai Con Một yêu dấu của Cha làm giá cứu chuộc đền bù tội lỗi chúng con. Chúng con cũng tạ ơn Cha đã ban cho chúng con Chúa Thánh Thần, Đấng hằng hoạt động để thánh hoá giúp chúng con trở nên những người con tốt lành của Cha.

Xin Cha cho chúng con, khi tham dự vào mầu nhiệm Thương Khó và Phục Sinh của Con Cha, có một lòng sám hối chân thành, sẵn sàng cùng chết với Đức Ki-Tô để cùng được sống lại với Ngài trong vinh quang của Cha. Amen
.

MỞ CỬA MỘ
Ga 11, 1- 45
Gm Giuse Ngô Quang Kiệt

Tai hoạ ngày 11 tháng 9 trên đất Mỹ đã trở thành một nỗi ám ảnh đối với mọi người. Trong phút chốc, hai toà tháp chọc trời đổ sập xuống, trở thành ngôi mộ khổng lồ chôn vùi mấy ngàn sinh mạng. Ngôi mộ gieo tang thương. Ngôi mộ gieo kinh hoàng. Ngôi mộ làm rung chuyển thế giới.

Ngôi mộ không chỉ hiện hữu từ khi toà tháp đôi đổ xuống. Trước đó ngôi mộ đã hiện diện trong trái tim của những người khủng bố. Sau đó ngôi mộ vẫn phủ màn u ám trên cuộc sống thân nhân bạn bè.

Như thế, ngôi mộ không chỉ xây bằng gạch đá. Nó được xây bằng những lực lượng chết chóc như sự hận thù, sự áp bức, sự độc ác... Ngôi mộ không chỉ chôn vùi sự sống. Nó chôn vùi cả niềm tin, cả niềm hi vọng.

Nhưng hôm nay, Đức Giê-su đã dõng dạc mở cửa mộ và truyền cho người chết chỗi dậy bước ra. Việc Đức Giê-su mở cửa mộ cho La-da-rô mở ra những chân trời mới cho đời sống con người.

Khi mở cửa mộ, Người đã mở cánh cửa sự sống. Thông thường, ngôi mộ là vương quốc của tử thần. Cửa mộ là cửa mở vào thế giới chết chóc. Ai đã vào đó chẳng còn hi vọng thoát ra. Nhưng hôm nay, Đức Giê-su đã mở cửa mộ để La-da-rô không phải bước vào sự chết nhưng bước vào sự sống. Khi mở cửa mộ, Người phá tan sào huyệt Thần Chết. Khi tháo những dải băng liệm cuốn quanh thân thể La-da-rô, Người giải phóng ông khỏi dây trói ràng buộc của tử thần.

Khi mở cửa mộ, Người đã mở cánh cửa niềm tin. Trước đó, niềm tin của Mác-ta chỉ là một niềm tin mơ hồ, chung chung của đa số người Do thái thời ấy. Nhưng sau khi thấy La-da-rô sống lại, niềm tin của bà trở nên cụ thể, sống động và vững vàng. Trước đó, nhiều người Do thái chưa tin vào Đức Giê-su. Nhưng sau khi được chứng kiến La-da-rô từ cõi chết sống lại, họ không thể nào không tin. Tảng đá lấp cửa mồ tung ra cũng làm bật tung tảng đá nghi ngờ che lấp trái tim, đưa họ tới tin nhận Chúa là Thiên chúa.

Khi mở cửa mộ, Người mở ra cánh cửa niềm vui. Chết chóc gieo tang tóc u buồn. Ngôi mộ bao giờ cũng gợi lên nỗi buồn. Buồn li biệt. Buồn mất mát. Buồn thất bại. Cái buồn vốn hay lây. Nước mắt người thân dễ làm cay mắt ta. Nên Đức Giê-su không ngăn được dòng lệ. Nhưng khi La-da-rô bước ra, cả một trời vui. Đám tang bỗng biến thành đám hội. Lời chia buồn đổi thành lời chúc mừng. Thiên chúa đã biến tang tóc thành niềm vui. Niềm vui ấy trọn vẹn.

Khi mở cửa mộ, Đức Giê-su mở cánh cửa hi vọng. Thiên chúa đến biến đổi số phận con người. Con người không còn bị giam hãm trong thân phận hay chết, nhưng được thênh thang tự do trong cõi sống. Con người không sinh ra để chết đi nhưng để sống, sống mãi, vì Chúa là "Sự Sống", "ai tin sẽ sống đời đời". Con người không sinh ra để tàn lụi, nhưng để triển nở đến vô biên.

Trong mỗi người chúng ta có nhiều nấm mộ. Chúng ta bị giam hãm trong những nấm mộ tội lỗi, gian tham, ích kỷ, bất công, đam mê, ghen ghét hận thù, nghèo đói, thất học...Có những nấm mộ kiên cố, tự sức mình không thể phá nổi. Ta hãy xin Chúa đến mở những cửa mộ, lăn những tảng đá đè nặng đời ta, để ta được sự sống dồi dào của Chúa nuôi dưỡng. Đồng thời, ta cũng phải tiếp tay với Chúa, phá đi những nấm mộ vây bọc anh chị em chúng ta, để mọi người được sống và sống dồi dào như lòng Chúa mong ước, như định mệnh Chúa dành cho ta, những người con cái Chúa.

SỰ SỐNG LẠI
Ga 11, 1- 45
Lm Phêrô Phạm Ngọc Lê

Phụng vụ hôm nay đều nói về sự sống và sự sống lại, nhờ đức tin và nhờ Chúa Thánh Thần, như một chuẩn bị cho mầu nhiệm phục sinh.

Trong thị kiến đầy ấn tượng của ngôn sứ Êdêkien, ông đã nghe tiếng phán với ông: "Ta sẽ đặt Thần Khí ta vào trong các ngươi, và các ngươi sẽ được hồi sinh."

"Lại nữa, nếu Thần Khí ngự trong anh em, Thần Khí của Đấng đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thần Khí của Người đang ngự trong anh em, mà làm cho thân xác của anh em được sự sống mới", Thánh Phaolô đã nói như thế trong thư gởi tín hữu Rôma.

Và trong bài tin mừng theo thánh Gioan, Đức Giêsu nói với Matta: "Chính Thầy là sự sống lại," để bảo đảm với bà rằng Lagiarô, em bà, sẽ được cho sống lại.

Sứ Điệp Niềm Tin

Thiên Chúa của do Thái giáo và của Kitô giáo là Thiên Chúa của sự sống. Ngài là Chúa của sự sống. Ngài là Chúa của kẻ sống và kẻ chết. Như lời thánh Irênê nói, vinh quang của Thiên Chúa chính là con người sống trong sự viên mãn.

Để thực hiện việc này, Chúa dùng mọi phương cách cùng với lòng nhẫn nại và trung tín, như được phản ánh trong suốt dòng lịch sử của mối tương quan giữa Thiên Chúa và dân Ítraen. Một giai đoạn tương ứng với cuộc lưu đày Babylon, giữa cuộc tàn phá Đền Thờ và Thành Giêrusalem. Bị lưu đày ở Babylon, cùng với dân chúng, niềm hy vọng vào tương lai đi dần đến chỗ héo tàn. Tình trạng đó được biểu tượng bằng hình ảnh những bộ xương khô đét.

Qua ngôn sứ Êdêkien, Thiên Chúa mạc khải cho dân biết rằng Ngài sẽ vực họ dậy tự vực thẳm, sẽ ban cho họ sự sống mới và mang họ về miền đất sự sống, Đất Hứa. Biểu tượng trong thị kiến của Êdêkien trở thành sự thật nơi trường hợp của Lagiarô. Ông là một người bằng xương bằng thịt, là em của Matta và Maria quê làng Bêtania. Ông đã ngã bệnh và chết.

Khi Đức Giêsu đến Bêtania, ông đã được chôn trong mồ bốn ngày rồi, một khoảng thời gian đủ theo não trạng người do thái, để chứng tỏ rằng ông đã chết thật. Nhưng Đức Giêsu là sự sống, và đồng thời Ngài thương Lagiarô như bạn thân. Đức Giêsu làm được gì bây giờ? Ngài ra mồ và kêu lớn: "Anh Lagiarô! Hãy ra khỏi mồ!" Và Lagiarô đã sống trở lại. Dĩ nhiên, về phần Lagiarô, ông đã phải nhờ đến một thựctại siêu việt: cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu Kitô, sẽ được cử hành trong hai tuần nữa, và sự sống mới mà Đức Kitô mang lại cho con người một cách viên mãn, cả về mặt thể lý và tâm linh nhờ tác động của Thánh Thần.

Ý niệm về sự sống lại và sự sống cũng đi theo một tiến trình như trên: trước tiên có biểu tượng của sự giải thoát và sự thông hiệp vào cuộc sống hạnh phúc vui sướng trên trần đời do Chúa ban cho "các tổ phụ". Kế đến là giai đoạn lịch sử đi từ sự chết đến sự sống, nhưng là một cuộc sống có kết thúc bằng nấm mồ. Giai đoạn này mặc lấy một hình thái thực sự viên mãn và mới mẽ nơi Đức Kitô, Đấng đã chết, vượt qua cái chết để sống mãi mãi. Sau cùng, nơi trần đời này, người kitô hữu thông phần vào sự sống của Đức Kitô phục sinh, nhờ ân sủng trong Chúa Thánh

Thần, và cũng sẽ chia sẻ sự vĩnh cữu với Chúa. Đó là lý do tại sao cái chết của người kitô hữu là cuộc biến đổi cách sống, gây ấn tượng cho ta vì ta chưa biết rõ, tuy nhiên ta biết chắc rằng đó là cuộc "sống cho Chúa".

Gợi Ý Mục Vụ

Trong Mùa Chay, những chủ đề chính của phụng vụ thường là sám hối, cầu nguyện, tỉnh thức, ăn chay... Phụng vụ hôm nay có sự thay đổi, để giúp ta suy nghĩ trước về mầu nhiệm Đức Kitô sống lại và được tràn niềm vui. Đây là niềm vui của người biết cởi bỏ con người cũ của mình và mặc lấy con người mới, trong bầu khí yêu thương và sự thật, biết trao ban cho các anh chị em mình.

Chúa Nhật hôm nay như là một cao điểm trong cuộc hành trình, Đức Giêsu dạy ta: Thiên Chúa là sự sống. Thực tại quan trọng nhất của kitô giáo chính là sự sống mà Thiên Chúa thông ban cho ta như Ngài đã ban cho dân Ítraen và cho Lagiarô xưa. Cùng với sự sống ta tràn đầy niềm vui vì có sự sống của Chúa trong ta, tình thương và lòng thương xót của Ngài dành cho ta. Nhờ Thánh Thần ở trong ta mà ta được như thế; là kitô hữu, ta cần ý thức rằng chính Thánh Thần ban sự sống, ngày qua ngày phù trợ và nâng đỡ ta.

Giáo dân trong giáo xứ bạn ý thức ra sao về sự hiện diện hữu hiệu của Thánh Thần trong đời sống của mỗi tín hữu và trong lòng Hội thánh? Có lẽ nơi vài cộng đoàn người ta tìm thấy một đời sống kitô buồn chán và ảo tưởng như trong xứ đạo, trong giáo phận, giữa các bạn trẻ, trong các đoàn thể giáo xứ, hoặc trong các phong trào của giáo hội. Có lúc chỉ thấy những vấn nạn, những căng thẳng, lỗi lầm, những yếu kém con người, những giới hạn, những thiếu sót về mặt đạo lý cũng như luân lý...trong những sinh hoạt xứ đạo.

Hôm nay Đức Kitô nói với tất cả chúng ta: "Thầy là sự sống lại."

Hãy lưu tâm đến sự sống, đến tất cả những gì tốt đẹp, đến những hoa trái mà niềm tin kitô giáo mang lại cho nhiều người.

Hãy lưu tâm đến sự "sống lại", đến sự biến đổi mà Đức Kitô thực hiện nơi một số người bạn quen biết.

Hãy lưu tâm đến tất cả những ai cầu nguyện, những người sống đạo lý kitô một cách lạc quan, những kẻ đang sống với bộ mặt của những người được trở lại cuộc sống, dù còn giữa muôn vàn đau khổ.

Cùng hoạt động và chiến đấu chung với các anh chị em khác trong niềm tin, để sự sống kitô triển nở nơi giáo xứ của bạn và những vùng xung quanh. Biết bao điều thiện hảo có thể được thực hiện, khi ta có cái nhìn trong sáng và dễ mến, một lời khuyến khích, khi ta sống mẫu gương cầu nguyện, lạc quan, và tình yêu đối với Chúa cũng như đối với người thân cận!

THIÊN CHÚA, NGUỐN SỐNG VÀ SÁNG
Ga 11, 1- 45
Lm Bùi Quang Tuấn, CSsR

"Điều đã thành sự nơi Ngài là sự Sống, và sự Sống là sự Sáng cho nhân loại" (Gn 1:3). Những lời dẫn nhập trên đây trong Tin Mừng theo thánh Gioan được minh họa đầy đủ hơn qua trình thuật "Chúa chữa người mù" và "Phục sinh Lazarô". Rõ ràng, vị thánh sử muốn khẳng định: Đức Giêsu chính là Sự Sống và Sự Sáng cho muôn dân.

Trong bài Phúc âm tuần trước, khi được các môn đệ hỏi "Tội ai đã gây ra tình cảnh bất hạnh cho người mù mắt thuở mới sinh," Đức Giêsu trả lời: "Không phải tội ai cả, nhưng để nơi con người ấy công việc Thiên Chúa được rạng vinh." Trong bài Phúc âm tuần này, khi có người báo cáo về tình hình nguy tử của Lazarô, Chúa Giêsu lại xác quyết: "Bệnh này không đến nỗi chết, nhưng để làm sáng danh Thiên Chúa, và do đó Con Thiên Chúa sẽ được tôn vinh."

Dưới đôi mắt loài người, bệnh hoạn, tật nguyền, đau thương, chết chóc là những mầm móng gieo rắc thống khổ, bất an và bất hạnh. Nhưng đối với Đức Giêsu, tất cả có thể trở thành phương thế ca ngợi quyền năng của tình yêu Thiên Chúa.

Như thế, một cái nhìn mới đã được trao ban cho nhân loại: thay vì kêu ca, nguyền rủa và khước từ khổ đau, con người có thể chấp nhận và sử dụng nó như phương tiện tiến tới vinh quang ngày mai.

Chúa Giêsu không đề cao đau khổ như cứu cánh của con người, nhưng Ngài lại dùng đau khổ để bày tỏ tình yêu là cội nguồn của ơn cứu độ. Bao năm trời rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu không ngừng ra tay giải thoát người ta khỏi những áp chế của bệnh tật, u sầu và chết chóc phần xác, nhưng chính Ngài lại đón nhận nỗi tang thương khủng khiếp nhất của kiếp người là cái chết ô nhục để mang lại cho thế giới sự sống thần linh phong phú.

Chúa Giêsu vừa "yếu đuối" để chia sẻ và cảm thông tận cùng nỗi khổ đau của con người, nhưng lại vừa "mạnh mẽ" để nâng đỡ và cứu độ cả thể xác lẫn linh hồn nhân thế. Thánh Gioan đã làm rõ nét chân dung của Chúa Giêsu với hai bản tính Thiên Chúa và con người, "mạnh mẽ" và "yếu đuối", trong phép lạ "Phục sinh Lazarô."

Kinh thánh kể: Đức Giêsu thương mến ba chị em Matha, Maria và Lazarô cách đặc biệt nên thường ghé nhà họ mỗi lần có dịp qua làng Bêtania. Thế nên khi Lazarô ốm nặng, Matha vội cho người cấp báo với Đức Giêsu, hy vọng rằng Ngài sẽ đến chữa ngay cho em mình. Tuy nhiên, Đức Giêsu biết rõ những gì sẽ xảy ra, nên Ngài tiếp tục lưu lại nơi đang ở là quận Pêrê thuộc mạn đông của giòng sông Giođan thêm hai ngày nữa, sau đó mới lên đường đi Bêtania. Như thế, người đưa tin đi hết một ngày đường, thêm hai ngày Chúa ở Pêrê, và một ngày đường Ngài đi về Bêtania, tổng cộng là 4 ngày, bằng số ngày Lazarô qua đời.

Tại Palestine, vì thời tiết nóng nực làm cho xác chết mau mục rữa và hôi thối, nên người ta thường đem chôn ngay trong ngày người chết vừa qua đời, sau đó mới tiến hành một tuần than khóc. Thế nên, Kinh thánh ghi nhận: "Có nhiều người bạn bè thân thích vẫn còn lưu lại với chị em Matha khi Chúa Giêsu đến."

Rồi khi thấy tang gia cùng bao bạn bè thân thích than khóc về sự ra đi của Lazarô, Chúa Giêsu đã thổn thức xúc động (Gn 11,33). Thế rồi, đang lúc đi ra mộ thì Ngài khóc (Gn 11,35).

Tại sao biết trước những gì sẽ xảy đến cho Lazarô và những gì mình sẽ làm để tôn vinh Thiên Chúa mà Đức Giêsu lại thổn thức? Phải chăng thánh sử Gioan muốn xác quyết Chúa Giêsu là một con người đích thực: biết thương, biết cam, biết chia sẻ thân phận và niềm đớn đau mất mát của con người? Phải chăng Ngài đang đi sâu vào cõi âm u của sự chết, để rồi từ đó đưa con người tiến ra với sự sống.

Ngoài việc bày tỏ nhân tính, Chúa Giêsu còn mạc khải thiên tính: "Ta là sự sống lại và là sự sống." Xưa nay, không người nào dám tuyên bố như thế, bởi vì có ai lại không bị thần chết khuất phục. Chỉ có Thiên Chúa mới là chủ tể của sự sống và sự chết. Không ai có thể tự mình bước vào cõi chết và sau đó lấy lại sự sống. Chỉ có Đức Giêsu mới làm được việc ấy.

Ngài hô lớn tiếng: "Lazarô! Hãy ra đây!". Người chết đi ra, chân tay và mặt còn quấn các mảnh vải và khăn liệm. Đáng ngạc nhiên là việc người chết lại có thể nghe được tiếng hô của Đức Giêsu để sống lại! Như thế lời tiên báo của Ngài trước dân Do thái đã bắt đầu thành sự: "Quả thật, quả thật, Ta bảo các người: giờ đã đến - và là ngay bây giờ - các kẻ chết sẽ nghe tiếng Con Thiên Chúa, và ai nghe thì sẽ sống" (Gn 5,25)

Từ trong thâm cung của cõi chết, Lazarô đã nghe tiếng Con Thiên Chúa để rồi bước ra cõi sống. Điều đó hàm ngậm một chân lý: khi con người lắng nghe tiếng Chúa và thi hành, sự sống sẽ phát sinh. Đây là sự sống thần linh, không mục nát, không thối rữa mà Chúa Giêsu mang đến cho nhân loại. Như thế, dù thân xác có bị tan biến theo thời gian, sự sống Thiên Chúa tặng ban sẽ giúp con người tồn tại muôn đời.

Vậy thì hôm nay Chúa muốn nói gì với tôi, và tôi phải làm gì để có được sự sống thần linh đó?

Chúa nói "Hãy cởi khăn liệm cho anh ấy." Như thế, Chúa muốn tôi ra tay tháo gỡ những mãnh khăn đang bó buộc tha nhân, đem lại cho họ nhân phẩm và sự sống đích thực của con người. Ngài muốn tôi thắp lên một ngọn lửa yêu thương, dù rất bé nhỏ, để góp phần soi sáng cuộc đời.

Chúa bảo dân chúng cởi khăn cho Lazarô, và Ngài cũng mời gọi tôi hãy cởi bỏ những đắng cay, buồn phiền, thất vọng, u mê cho kẻ khác.

Làm như thế là tôi đang sống trọn vẹn ý nghĩa của mùa Chay thánh, đồng thời đón nhận dồi dào ánh sáng Phục sinh của Đức Giêsu, Đấng Cứu độ con người.

TÔI TIN XÁC LOÀI NGƯỜI SẼ SỐNG LẠI
Ga 11, 1- 45

Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb
Trên đường rao giảng Tin mừng, Chúa Giêsu không ít lần thực hiện phép lạ hầu đem đến cho con người sự bình an đích thực và cũng là dịp để họ nhận ra Người chính là Con Thiên Chúa, Đấng phải đến. Tuy nhiên, Tin mừng Gioan chỉ ghi lại bảy phép lạ tiêu biểu mà thôi và, phép lạ cho Ladarô sống lại là phép lại cuối cùng để nói lên quyền năng của Người.

Bêtania, ngôi làng nằm bên sườn núi Ôliu, chỉ cách Giêrusalem gần 3 cây số về phía đông, ngày hôm nay chứng kiến phép lạ siêu phàm Chúa Giêsu thực hiện cho gia đình của Mácta và Maria: Ladarô, người em thân yêu của họ sống lại khi đã chết trong mồ bốn ngày! Việc kẻ chết sống lại do quyền năng của Thiên Chúa được Kinh thánh ghi lại không hiếm. Chúng ta có thể thấy một lần Ngôn sứ Êlia làm cho con trai của bà goá ở Xarépta sống lại; một lần Ngôn sứ Êlisa cho cậu quý tử của bà Sunêm sống; và một lần thánh Phêrô khi còn ở Lốt và Giaphô đã khiến cho bà Linh Dương (Tabitha) ở Giaphô sống lại (x. 1V 17, 17-24; 2V 4, 18-37; Cv 9, 36-43). Tin mừng ghi lại ba lần Chúa Giêsu cho kẻ chết sống lại. Một lần cho con gái ông Giaia, một lần cho con trai bà goá thành Nain và lần này cho Ladarô. (x. Mc 5, 21-43; Lc 7, 11-17).

Rõ ràng giáo lý về sự sống lại đã có từ lâu nhưng phải đợi đến trường hợp của Ladarô, Chúa Giêsu mới tỏ hiện giáo lý ấy cách đầy đủ và sẽ hoàn thiện nó cách toàn hảo khi Người chỗi dậy từ cõi chết. Giáo lý đó Chúa Giêsu muốn gửi đến cho chúng ta mà hôm nay Mácta, chị Ladarô là đại diện.

Ai cũng biết tình cảm của Chúa Giêsu dành cho gia đình của Ladarô rất thân thiết. Thế nhưng khi nghe tin Ladarô bị bệnh, Chúa Giêsu không đi ngay, Người vẫn ở lại Épraim đến hai ngày. Điều này thật tai hại. Vì như chúng ta biết khi Chúa Giêsu đến Bêtania thì Ladarô đã chết và được chôn cất đến 4 ngày! Ngay Mácta vốn rất yêu quý Chúa Giêsu nhưng khi ra đón Chúa, câu nói của cô có gì đó chứa đựng sự trách móc, giận hờn : "Nếu có Thầy ở đây thì em con đã không chết". Trách móc cũng phải thôi nhưng đó lại chính là khởi điểm cho một giáo huấn về sự sống lại mà Chúa Giêsu muốn dành cho chị cũng như cho mỗi người chúng ta.

Tin mừng Gioan luôn làm nổi bật mối tương quan giữa niềm tin và phép lạ. Phép lạ đưa đến niềm tin và ngược lại. Trong trường hợp Ladarô, chính niềm tin, lời tuyên tín của Mácta đưa đến phép lạ. Đây là điểm giáo lý rất quan trọng. Phép lạ đưa đến niềm tin không cần bàn cãi nhiều. Bởi chính Chúa Giêsu đã dùng nhiều phép lạ như những bằng chứng hữu hình cho thấy chính Người là Đấng Mêsia mà Cựu ước đã loan báo và để dân chúng thấy và tin theo Người. Tuy nhiên, đây chỉ là lối tiếp cận niềm tin ở mức độ thấp mà thôi, nghĩa là thấy mới tin. Chúa Giêsu muốn chúng ta tiếp cận niềm tin ở mức độ cao hơn như Người đã quả quyết với thánh Tôma ngay sau khi phục sinh : "Phúc thay những ai không thấy mà tin" (Ga 20, 29b). Trước khi cho Ladarô sống lại, điều Chúa Giêsu muốn Mácta là phải TIN. Chính Mácta đã tuyên tín niềm tin đó với tình yêu và lòng mến chân thành : "Thưa Thầy, con vẫn tin Thầy là Đức Kytô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian". Hiệu quả của niềm tin chính là việc Ladarô, em chị được sống lại. Đây chính là niềm tin trưởng thành. Niềm tin không cần đến phép lạ. Niềm tin ấy dẫn dắt Giáo hội suốt hơn hai ngàn năm qua và sẽ mãi tiếp tục cho đến thời viên mãn.

"Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại". Lời tuyên xưng ấy chính là niềm tin của chúng ta, niềm tin của Giáo hội lữ hành. Chúng ta có thể nói rằng : Nếu không có sự sống đời sau, nếu xác loài người không sống lại, thì niềm tin của chúng ta quả là điên khùng. Biến cố Ladarô sống lại và không lâu sau đó, chính Chúa Giêsu cũng chỗi dậy từ cõi chết là dấu chứng hùng hồn, không thể phai mờ cho niềm tin của chúng ta. Lạy Chúa, chúng con loan truyền Chúa đã chịu chết và tuyên xưng việc Chúa sống lại cho đến khi Chúa lại đến.

ĐỨC GIÊSU, SỰ SỐNG MUÔN ĐỜI
Ga 11, 1- 45
Lm Trần Thanh Sơn

Khởi đầu mùa Chay, phụng vụ đã mời gọi từng người chúng ta theo bước Đức Giêsu vào sa mạc để học nơi Ngài cách thức chiến thắng cơn cám dỗ (CN I). Đó là một hành trình bỏ mình để chọn Thánh Ý của Thiên Chúa, một hành trình thập giá (CN II). Tuy nhiên đi trọn con đường thập giá này trong cuộc sống mỗi ngày không phải là chuyện dễ dàng. Nó đòi hỏi mỗi người chúng ta một đức tin thật mãnh liệt vào Đức Giêsu, Con Thiên Chúa. Đức tin này không chỉ là một lời tuyên xưng nơi môi miệng, lệ thuộc vào đền thờ, nhưng là một đức tin được xây dựng trên mối tương quan riêng tư của từng người chúng ta với Thiên Chúa trong "Tinh thần và Chân lý", như lời Đức Giêsu nói với chị phụ nữ thành Samaria, mà chúng ta đã cùng nhau suy niệm trong Chúa Nhật III mùa Chay.

Gắn bó với Đức Giêsu, mỗi người chúng ta sẽ không phải đi trong tối tăm, và cũng không sợ phải lầm đường lạc lối, bởi lẽ chúng ta sẽ được ánh sáng của Ngài soi đường chỉ lối (CN IV). Và tuyệt vời hơn nữa, khi thuật lại câu chuyện Đức Giêsu làm cho Lazarô sống lại hôm nay, phụng vụ cho chúng ta thấy ánh sáng của Đức Giêsu không chỉ soi đường dẫn lối cho mỗi người chúng ta trong cuộc sống hiện tại, nhưng ánh sáng đó sẽ tiếp tục dẫn đưa chúng ta đến sự sống muôn đời.

1. Mầu nhiệm sự dữ:

Theo cái nhìn công bằng tự nhiên, chúng ta thường gắn liền đau khổ, hình phạt với các lầm lỗi. Có tội là có hình phạt, và sự chết chính là hình phạt nặng nề nhất của tội. Chính vì thế, đau khổ, sự chết luôn là một điều đáng sợ, và là một vấn nạn cho con người từ xưa đến nay. Đặc biệt là khi phải đối diện với sự chết, nhất là cái chết của một người thân yêu trong gia đình, thì nét bi thương này lại khơi lên trong lòng chúng ta một nỗi đau khôn nguôi, và vấn nạn về các vấn đề sự dữ lại trở nên như một thử thách to lớn cho đời sống đức tin của mỗi người chúng ta.

Tuy nhiên, với Đức Giêsu, đau khổ, sự chết không chỉ là hậu quả của tội, nó còn là cơ hội để làm vinh danh Thiên Chúa. Trong bài Tin mừng, khi nghe tin Lazarô đau nặng, Đức Giêsu đã nói: "Bệnh này không đến nỗi chết, nhưng để làm sáng danh Thiên Chúa và do đó, Con Thiên Chúa được vinh hiển". Vâng, Đức Giêsu đã không đến ngay khi hay tin Lazarô đau nặng khiến ông phải chết. Trước mắt mọi người, cái chết của Lazarô đã khiến cho hai người chị là Matta và Maria phải đau lòng, than khóc, nhưng đồng thời, nó cũng là cơ hội để thanh luyện và làm cho đức tin của hai chị em Matta và Maria ngày càng trở nên tinh tuyền và vững chắc hơn. Nó đã dẫn đưa đức tin của Matta từ chỗ coi Đức Giêsu như một người cầu bầu quyền thế trước mặt Thiên Chúa, khi chị thưa với Đức Giêsu: "Thưa Thầy, nếu Thầy có mặt ở đây thì em con không chết. Truy nhiên, ngay cả bây giờ, con biết Thầy xin gì cùng Thiên Chúa, Thiên Chúa cũng sẽ ban cho Thầy", đến chỗ tuyên xưng: "Con tin Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống đã đến trong thế gian". Và rồi khi Đức Giêsu cho Lazarô đã chết bốn ngày được sống lại, thì không chỉ Matta và Maria tin vào Ngài, nhưng "một số người Do thái đến thăm Maria, khi được chứng kiến những việc Chúa Giêsu làm, cũng đã tin vào Người".Thiên Chúa đã dùng tất cả mọi sự để thanh luyện đức tin của chúng ta, và làm cho Danh Ngài được tỏ lộ. Ngay cả cái chết, biểu trưng cho quyền lực tối cao của sự dữ, cũng là cơ hội để Thiên Chúa biểu lộ vinh quang của Ngài. Giờ đây, Đức Giêsu đã trở nên niềm hy vọng cho tất cả những ai đang bước đi trong đau khổ, thử thách. Hơn nữa, với việc làm cho Lazarô sống lại, Đức Giêsu thực sự chứng tỏ, Ngài chính là nguồn của sự sống muôn đời.

2. Đức Giêsu, sự sống muôn đời:

Trong thế giới này, không có điều gì xảy ra ngoài vòng tay yêu thương của Thiên Chúa (x. Rm 8, 28). Chính trong niềm tin tưởng và cậy trông vào lòng nhân từ hay thương xót của Thiên Chúa, ngôn sứ Êdêkien đã loan báo cho dân lưu đày niềm hy vọng sẽ được hồi hương, được phục hồi lại sự sống, trở thành những con người tự do: "Hỡi dân Ta, nầy Ta sẽ mở cửa mồ các ngươi, Ta sẽ kéo các ngươi ra khỏi mồ và dẫn dắt các ngươi vào đất Israel... Ta sẽ làm cho các ngươi an cư trên đất các ngươi".

Không chỉ là giải thoát con người khỏi thân phận nô lệ về mặt thân xác, nhờ Đức Giêsu, con người được giải thoát khỏi ách nô lệ của tội lỗi, nguyên nhân của mọi đau khổ và cái chết. Trở lại với bài Tin mừng, chúng ta thấy trước nỗi đau khổ, bi thương tột cùng của Matta khi phải từ giã người em thân yêu, Đức Giêsu đã nói với chị: "Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta, dầu có chết cũng sẽ được sống. Vậy kẻ nào sống mà tin Ta, sẽ không chết bao giờ". Vâng, Đức Giêsu chính là niềm hy vọng và là Đấng duy nhất có khả năng đem lại sự sống vĩnh cửu cho những ai tin vào Ngài. Thánh Phaolô còn khẳng định: "Nếu Đức Kitô ở trong anh em, cho dù thân xác đã chết vì tội, nhưng tinh thần vẫn sống vì đức công chính". Thánh nhân xác tín, nếu có Đức Giêsu ở cùng, thì cho dù hiện tại có đau khổ, thử thách, gian truân, chúng ta vẫn không tuyệt vọng, cùng đường, vì "Nếu Thánh Thần của Đấng đã làm cho Đức Giêsu Kitô từ cõi chết sống lại ở trong anh em, thì Đấng đã làm cho Đức Giêsu Kitô từ cõi chết sống lại cũng cho xác phàm hay chết của anh em được sống, nhờ Thánh Thần Người ngự trong anh em"

3. Lời mời gọi gắn bó với Đức Giêsu:

"Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta, dầu có chết cũng sẽ được sống. Và kẻ nào sống mà tin Ta, sẽ không chết bao giờ.", đó là lời hứa của Đức Giêsu, một lời hứa đem lại niềm hy vọng cho biết bao người qua muôn thế hệ. Các tông đồ thấy dấu lạ nước hoá thành rượu ở Cana thì đã tin vào Đức Giêsu. Những người Do thái khi thấy Đức Giêsu mở mắt người mù từ thuở mới sinh và hôm nay họ lại chứng kiến việc Đức Giêsu làm cho Lazarô sống lại, thì cũng đã tin vào Người. Và chính nhờ tin vào Đức Giêsu, biết bao nhiêu người đã có đủ can đảm, để vượt qua mọi thử thách, đau khổ trong cuộc sống hàng ngày. Còn tôi và quý OBACE hôm nay thì sao? Mỗi ngày chúng ta cũng đang chứng kiến biết bao nhiêu là dấu lạ Thiên Chúa đang thực hiện quanh ta, thế nhưng chúng ta có tin không?

Một mầm cây mới mọc, một nụ hoa hé nở, một em bé chào đời, một tia nắng sáng, một giọt sương mai lung linh trên lá, và ngay cả một trận cuồng phong, một cơn động đất, sóng thần... tất cả đều là dấu chỉ Thiên Chúa gởi đến để nhắc bảo và nói cho chúng ta biết về tình yêu và quyền năng của Ngài. Thế nhưng, chúng ta có nhận ra tiếng nói của Thiên Chúa và có dám đặt trọn con người và cuộc sống của chúng ta trong tay Ngài không?

Lắng nghe lời Chúa hôm nay, chớ gì ngay từ giờ phút này, mỗi người chúng ta xác tín hơn vào tình yêu và sự quan phòng của Thiên Chúa. Chúng ta hãy quyết tâm gắn bó với Chúa nhiều hơn qua việc siêng năng và sốt sắng tham dự Thánh lễ và hiệp lễ, để nhờ có Đức Giêsu trong mình, mỗi người chúng ta cũng sẽ nhận được sự sống muôn đời, như lời Ngài đã hứa. Amen.

SỐNG VÀ CHẾT
Ga 11, 1- 45
Lm. Giacôbê Phạm văn Phượng, OP.

Sống và chết là hai việc hoàn toàn mâu thuẫn, chống đối nhau. Tâm lý con người ai cũng muốn sống và không muốn chết : ham sống sợ chết là tâm lý tự nhiên của con người. Lòng ham sống thúc đẩy con người phải bám vào nhiều thứ, nhất là của cải, tiền bạc, chẳng hạn như ông nhà giàu trong Tin Mừng : thâu hoạch lúa thóc đầy tràn, ông phải xây thêm nhà kho, tự cho đời sống mình như thế thật là bảo đảm, tha hồ ăn chơi sung sướng. Nhưng Chúa bảo ông : thật là hạng khờ dại, vì đêm nay ông chết, của cải có bảo đảm được mạng sống ông không ? Ông còn nắm giữ được của cải không ? và quả thực ông đã vỡ mộng khi đối diện với cái chết. Mỗi ngày trên thế giới có khoảng 30 ngàn người chết, bao nhiêu người bị Chúa cho là "hạng khờ dại", vì lúc chết, tay buông xuông, người ta không còn có thể bám vào một vật gì cả : "Vua Ngô ba mươi sáu tấn vàng, chết xuống âm phủ chẳng mang được gì". "Trăm năm nào có gì đâu, chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì". "Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy, cảnh phù du trông thấy cũng nực cười".

Nếu nghèo là không có, hoặc có rồi mà mất đi, như không có tiền bạc là nghèo vật chất, mồ côi cha mẹ là nghèo tình thương, dốt nát là nghèo về trí thức, bệnh tật là nghèo về sức khỏe, thì cái chết đưa người ta đến cái nghèo cùng cực. Người khoẻ mạnh hay còn trẻ chưa cảm thấy rõ điều này. Nhưng chúng ta cũng biết cái chết nói lên sự bất lực của y khoa, của mọi thứ khả năng tự vệ trên cõi đời này : quyền hành nhất trần gian cũng chết, giàu có nhất nhân loại cũng chết, sung sướng tất cả đời cũng chết. Mọi người đều bó tay trước cái chết.

Trước định luật nghiêm khắc ấy, con người lo âu, bồn chồn, và người ta cố níu kéo sự sống lâu chừng nào hay chừng ấy, dẫu vẫn biết là bất lực. Bởi thế mới có những quảng cáo về thuốc "trường sinh" hay "bất tử". Có một câu chuyện như sau : Thời chiến quốc, có một người đem dâng vua nước Sở một vị thuốc "bất tử". Người ấy mang vị thuốc này vào hoàng cung, viên quan canh cửa quát hỏi : "Vị thuốc này có ăn được không ?". Người ấy đáp : "Dạ, ăn được", tức thì viên quan giật lấy vị thuốc và ăn. Truyện đến tai vua, vua truyền bắt viên quan đó đem giết. Viên quan xin vào gặp vua và kêu van rằng : "Tâu hoàng thượng, hạ thần đã hỏi người đem dâng thuốc, người ấy nói : ăn được, nên hạ thần mới dám ăn, thế là hạ thần vô tội mà lỗi ở người dâng thuốc, hơn nữa, người đem thuốc nói là thuốc bất tử, ăn vào thì không chết nữa, thế mà hạ thần mới ăn, đã sắp phải chết. Vậy là thuốc tử chứ sao gọi là bất tử được ? Hoàng thượng giết hạ thần thực là bắt tội một người vô tội, trong khi thiên hạ dối gạt hoàng thượng mà hoàng thượng vẫn tin". Nhà vua nghe nói có lý nên tha tội chết cho viên quan ấy.

Hiện nay các nhà bác học đang cố tìm ra một thứ thuốc làm cho con người khỏi chết. Được chăng ? Chúng ta cứ hy vọng. Đó là vấn đề còn trong giả thuyết, nhưng theo Kinh Thánh thì không thể nào có được, vì Chúa đã phán với ông bà nguyên tổ : "ngươi sẽ trở về bụi đất". Từ đó, chết là một định luật Chúa ra cho loài người, loài người không thể phá nổi định luật này. Nói khác đi, con người đã mắc phải một chứng bệnh nan y không thể nào chữa khỏi, đó là bệnh chết. Cái án chết áp dụng cho hết mọi người : hữu sinh hữu tử : có sinh có chết là một điều tất yếu.

Nhưng qua cái chết và sự sống lại của Ngài, Chúa Giêsu đã loan báo cho con người một tin mừng : cái chết không còn là một ngõ cụt hay tận cùng nữa mà là cửa ngõ dẫn vào một cuộc sống mới, một cuộc sống trong Đức Kitô và cùng với Đức Kitô trong cõi vĩnh hằng. Vì thế, thánh Tê-rê-xa Hài Đồng Giêsu đã nói : "Nếu một mai bạn thấy tôi nằm chết, bạn đừng buồn, vì chính Cha chung của chúng ta là Thiên Chúa đã đến đón tôi đi, đơn giản vậy thôi". Hoặc như thánh Phaolô đã nói : "Đối với tôi, sống là Đức Kitô và chết là một mối lợi". Làm thế nào để được như thế ? Chúng ta hãy sống theo câu nói của một bà mẹ kia đã khuyên bảo đứa con trai sắp bước vào đời : "Con ơi, ngày con mở mắt chào đời, mọi người đều tươi cười, còn con thì khóc. Con hãy sống thế nào đề ngày cuối đời, một mình con tươi cười, mà mọi người lại tràn lệ".

CHÚA GIÊSU ĐẤNG BAN SỰ SỐNG
Ga 11, 1- 45
Sr Mai An Linh, OP
Chúa Giêsu mạc khải Ngài là Đấng ban sự sống, đó là ý tưởng xuyên suốt phụng vụ Lời Chúa Chúa Nhật V Mùa Chay năm A này. Thật vậy, ngay từ bài đọc I trích từ sách tiên tri Ez.37,12-14, tác giả lên tiếng " Ta mở cửa mồ các ngươi và kéo các ngươi ra khỏi mồ, Ta sẽ cho các ngươi thần trí của Ta và các ngươi được sống". Qua bài đọc II, thư của Thánh Phaolô tông đồ gửi cho Giáo đòan Roma, Ngài cũng nói : "Thánh Thần của Đấng làm cho Đức Giêsu Kitô từ cõi chết sống lại ở trong anh em"(c. 11). Và nhất là bài Tin Mừng theo Thánh Gioan 11, 1-45 Chúa Giêsu xác quyết : " Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta dầu có chết cũng sẽ được sống ".

Vâng, Chúa Giêsu chính là sự sống, là Đấng ban sự sống cho những ai tin vào Ngài, điều này được chứng minh qua phép lạ làm cho Lazarô sống lại. Đây là trình thuật dài nhất trong Tin Mừng Gioan và phép lạ chỉ xẩy ra ở lúc cuối, còn phần đầu là chuẩn bị. Cả trình thuật là một thảm kịch được dàn dựng từng hồi, càng lúc càng căng thẳng, cho đến khi được kết cục trong hành vi cuối cùng : Chúa Giêsu mạc khải Ngài là Đấng ban sự sống và đòi con người phải đáp trả bằng niềm tin.

Trong thảm kịch này nhân vật chính không phải là Lazarô mà là Chúa Giêsu, vai trò của Lazarô chỉ là để đưa các nhân vật khác trình diện Chúa Giêsu, như các môn đệ, Matta, Maria và các người Do Thái. Tất cả những người này đều mời gọi đến đức tin.

Trước tiên Matta và Maria nhắn tin cho Chúa Giêsu : " người Thầy yêu đau liệt "(c.3), họ không nói sắp chết, cũng không giục phải đến mau vì hai chị em biết rõ Đức Giêsu yêu Lazarô lắm, và chỉ cần nói như thế Đức Giêsu đã biết tình trạng của họ và đã biết cách làm thế nào rồi. Nghĩa là hai chị em đã tin Đức Giêsu là tiên tri, không cần phải nói rõ, Người biết cách hơn họ biết. Ngài biết điều gì cần cần hơn, tốt hơn cho họ...Họ chỉ có niềm tin và tín nhiệm vào Chúa Giêsu.

Và Chúa Giêsu bảo " bệnh này không đến nỗi chết...Lazarô bạn chúng ta đang ngủ"(c.4a.11b). Chúa Giêsu nói thế không phải là Người không biết Lazarô chết, nhưng Chúa Giêsu muốn nói rằng : những ai chết trong niềm tin vào Đức Kitô thì chỉ là đang ngủ, những ai đang ngủ trong Đức Giêsu, Thiên Chúa sẽ đem họ họ đi làm một với Ngài (x.IThess.4,14), vì Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết, của đầu mùa của những ai đang ngủ(ICor.15,20).

Sau đó Chúa Giêsu muốn cho các môn đệ thấy vinh quang Thiên Chúa và giúp cho các ông thêm lòng tin vào Người nên, khi nghe tin Lazarô đau nặng Ngài còn lưu lại hai ngày và sự việc là Lazarô chết : Họ phải chứng kiến việc Lazarô thực sự đã chết - có mùi rồi - 4 ngày - là cần thiết. Có lẽ chính vì Lazarô là người yêu của Người, gia đình Bêtania là gia đình Người thương mến mà Người đã để cho họ được tham dự vào sứ mạng của Người. Người không đến ngay vì nếu Người đến Người không chịu đựng được việc để bạn Người chết và việc gia đình Matta và Maria phải đau khổ. Chứng cớ là Người đã thổn thức nhiều lần. Rõ ràng Đức Giêsu vừa rất Thiên Chúa vừa rất con người.

Khi đến Bêtania Chúa Giêsu đã mạc khải cho Matta biết chính Ngài là sự sống lại và là sự sống(x. câu 25), các môn đệ cũng nghe điều này. Dĩ nhiên là Chúa Giêsu có ý nói sống lại về phần linh hồn chứ không phải thể xác như Lazarô. Chúa Giêsu sẽ dùng sự việc phục sinh cho Lazarô để nói đến việc Ngài phục sinh phần hồn cho những ai tin vào Ngài. Matta đã mạnh dạn tuyên xưng : " vâng thưa Thầy con tin"(c.27), chính niềm tin mạnh mẽ này nên Ngài đã làm cho Lazarô chết đã bốn ngày sống lại.

Tuy nhiên để các môn đệ và những người Do Thái tin vào Ngài nên Ngài đã lớn tiếng " nhưng vì dân chúng đứng quanh đây, nên con đã nói để họ tin là Cha đã sai con"(c.42), đã rõ Chúa Giêsu làm cho Lazarô sống lại phần xác là để mọi người tin vào Ngài, Ngài hô lớn tiếng : " Lazarô hãy ra ngòai"(c.43). Mọi người đều vui mừng, và kinh ngạc mở mắt to ra nhìn mà không thốt lên lời.

Sứ điệp Tin Mừng :

Qua bài Tin Mừng hôm nay cho chúng ta thấy :
Chúa Giêsu không dửng dưng với tạo vật mà Ngài đã tạo dựng, nên Ngài cũng xúc động, khóc cùng với nước mắt con người. Người không xa lạ với chúng ta mà rất gần gũi, vì cũng là người như chúng ta.

Chúa Giêsu cũng muốn cho con người cộng tác vào những việc lạ lùng mà người làm, nên mời gọi người ta "cất hòn đá đi " " hãy cởi ra cho ông ấy". Vì thế, Thiên Chúa không ngừng mời gọi con người khám phá vũ trụ.

Cầu nguyện đừng dài lời, chỉ cần nói ít như Matta đã cầu nguyện " kẻ Thầy yêu đau liệt".Chúa Giêsu phục sinh Lazarô, chính bởi vì Ngài là Lời tạo dựng của Thiên Chúa. Ấy thế mà Ngài sắp phải chết. Đấng vốn là chủ của sự sống, mà nay lại phải mang ách tử thần. Chúa Giêsu muốn thế vì Ngài muốn chiến thắng sự chết bằng cái chết, và Ngài không muốn cứu lấy chính bản thân Ngài mà thôi, nhưng còn cứu tất cả chúng ta nữa.

Lạy Chúa, tảng đá kiêu căng, tự ái đã ngăn cản ơn Chúa hành động nơi chúng con, khép kín tâm hồn chúng con trước những hồng ân diệu vợi của Chúa, và chặn bước chúng con đến với tha nhân. Xin cho chúng con biết giúp đỡ nhau cất bỏ những dịp tội, để Chúa cải biến chúng con thành những tạo vật mới của tình thương và lòng nhân hậu.

CHẾT
Ga 11, 1- 45
Lm Vũ Xuân Hạnh

Là người như bao nhiêu người, Chúa Giêsu cũng xót thương, cũng rung động trước nỗi mất mát của người thân, của bạn hữu. Và Chúa đã thật sự xót thương, thật sự rung động trước cái chết của chàng trai Lazarô, bạn của Chúa. Thế nhưng điều mà Tin Mừng muốn nói không dừng lại ở việc Chúa xúc động. Vượt trên cái chết rất đỗi bình thường của Lazarô, là sự khẳng định quá sức phi thường của Chúa Giêsu: "Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin Ta, dù có chết cũng sẽ được sống. Và kẻ nào sống mà tin Ta, sẽ không chết bao giờ".

Nhưng lời khẳng định của Chúa có xác đáng không, khi mà thực tế, chết là đau xót, là chia cắt? Chứng kiến cái chết của người thân nhiều khi làm lòng ta se thắt lại. Ta muốn làm một cái gì đó để cứu giúp họ nhưng hoàn toàn bó tay. Thử hỏi lời Chúa Giêsu: "Ai tin Ta, dù có chết cũng sẽ được sống. Và kẻ nào sống mà tin Ta, sẽ không chết bao giờ" có là lời chân thật? Nếu đó là lời xác đáng, thì sự sống mà Chúa Giêsu nói là sự sống nào mà lại "không chết bao giờ"?

Trong một một bài viết mang tên Cõi đi về, mở đầu cho những lời ngậm ngùi tiếc xót một Chủng sinh đã an giấc, linh mục Giuse Nguyễn Hữu An không giấu nổi niềm đau của mình: "Mọi đám tang đều gieo vào lòng tôi một nỗi buồn tê tái". Nhất là nhìn cảnh Thầy - "một thanh niên đang tuổi xuân ra đi mà mẹ già mắt mờ, lưng còng, tóc bạc đưa tiễn", thì "chỉ có đau thương, chỉ có buồn sầu và tiếng khóc, chỉ có nghẹn ngào và nước mắt" là đúng lắm. Chết là một mất mát. Lứa tuổi cao niên, chết vẫn thấy đời người dang dở, lứa tuổi xuân thì còn dang dở biết bao nhiêu!

Cái chết của Lazarô, người bạn của Chúa Giêsu, người được gọi là "người Thầy yêu", không chỉ làm cho hai chị của mình và những người quen biết khóc thương, mà còn làm cho Chúa Giêsu, dù biết rằng sẽ cho anh sống lại, cũng đã "thổn thức và xúc động". Điều đó càng làm nổi bật cái bi, cái khổ của nỗi chết.

Nếu chỉ suy nghĩ như thế thôi, lời của Chúa Giêsu: "Ai tin Ta...", đúng là không xác đáng.

Nhưng không đúng! Lời ấy phải được suy niệm bằng đức tin, vì là lời của ĐỨC TIN. Chúa không hề bảo rằng: "Ai suy nghĩ về Ta...", mà lại nói rằng: "Ai tin Ta...". Vì thế đọc Lời Chúa, bạn và tôi đừng dừng lại ở chỗ chỉ suy nghĩ mà hãy tiến xa hơn đến chỗ suy niệm. Vì điều quan trọng không nằm ở chỗ biết suy nghĩ, nhưng quan trọng là suy nghĩ trong đức tin. Chỉ trong đức tin, lời của Chúa Giêsu không những là lời xác đáng mà còn là lời ban niềm hy vọng. Một niềm hy vọng mãnh liệt vào sự sống phía sau cái chết, một sự sống "không chết bao giờ".

Không ai sinh ra là để sống ở trần gian đời đời cả, nhưng sinh ra để rồi chết. Nếu không có đức tin, không mảy may biết một chút gì đến sự sống đời sau, thì rõ ràng, cuộc đời là bi đát. Vì sao lại bi đát? Là vì cuộc sống trần gian giống như một chuyến đi. Ở cuối hành trình của cuộc đời mỗi người không phải danh vọng, địa vị, hưởng thụ, giàu sang, tiền rừng, bạc bể..., mà là cái chết. Chấm dứt tất cả. Giết chết tất cả. Bị cướp mất tất cả.

Trong cái chết, có lẽ con người ta cô đơn nhất. Dẫu có hai người sát cạnh nhau cùng chết, cũng khó có thể nói rằng: chết cùng, chết với. Mỗi người là một cái chết, rất tư riêng, không bao giờ hòa trộn, không bao giờ lẫn lộn. Trong cái chết, con người ta trở thành nghèo nhất: bỏ lại tất cả, chỉ có hai bàn tay trắng. Điều còn lại chỉ là một cái xác không hồn. Nhưng cái xác không hồn này rồi cũng phải bị vùi dập, hay thiêu đốt lập tức, vì nó sẽ thối rữa đến đến tan nát, đến mất mát, đến không còn gì. Rõ ràng bi đát, rất bi đát...

Nhưng người Kitô hữu có đức tin. Họ xác tín mạnh mẽ vào Đấng là Thiên Chúa đã làm người chia sẻ đến cùng kiếp sống con người của họ. Người đã chết thật, nhưng đã đi bước trước để dạy họ bài học của sự sống đàng sau cái chết: đó là chính Chúa đã sống lại thật. Sự sống đàng sau cái chết mới là sống thật, sống vĩnh cửu. Một sự sống không có sự chết. Đấng Phục Sinh ấy, hôm nay, trong Tin Mừng, đã nói một cách tường tận, thẳng thắn với Martha, cũng là nói với bạn và tôi: "Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin Ta, dù có chết cũng sẽ được sống. Và kẻ nào sống mà tin Ta sẽ không chết bao giờ".

Tin vào Đấng tự mình phục sinh và hứa ban ơn phục sinh cho những ai tin, người Kitô hữu cảm nhận bình an trong cuộc sống. Đức tin giúp họ hiểu rằng, cái chết chỉ là một sự biến đổi để trở về cùng Thiên Chúa. Nhờ đức tin, chúng ta nhận ra ý nghĩa của cuộc đời. Những cố gắng xây dựng cuộc đời sẽ cho ta hạnh phúc tương lai. Nếu hiểu như thế, cuộc đời không bi đát, nhưng đáng yêu.

Bạn và tôi có quyền hy vọng điều mà Chúa đã hứa: "Ai tin Ta sẽ không chết đời đời"!!

Đức tin là chìa khóa mở cửa cho niềm hy vọng của chúng ta.

HAM BẤT TỬ
Ga 11, 1- 45
Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Khuynh hướng của con người ở đời là ham sống sợ chết. Ai cũng ước mong làm sao có thế kéo dài sự sống càng dài càng tốt. Nhưng từ cổ chí kim, từ Đông chí Tây nào có ai chế tạo ra được lọai thuốc nào gọi được là trường sinh. Đây chỉ là những giấc mơ trong huyền thọai mà thôi. Con người chỉ có thể nhận ra một thực tế là sự chết không trừ một ai cả...

CÓ MỘT SỰ SỐNG BẤT TỬ ĐỜI SAU : Đọc lại Tin Mừng chúng ta như thấy có một cái gì thật gần gũi con người, thật gắn bó với ước mơ của con người như người phụ nữ Samaria đã xin Chúa Giêsu cho bà thứ nước không bao giờ khát nữa và bà cũng không phải tới giếng để múc nước hằng ngày. Vị thuốc bất tử con người mong tìm kiếm chúng ta có thể nhận ra ngay trong bài Tin mừng hôm nay:" Chính Thầy là sự sốn lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy sẽ khôn bao giờ phải chết"( Ga 11, 25-26 ). Đây là một thực tế, một chân lý, một niềm tin và thật ra ít người nhận ra sự thật này. Tại sao tin vào Chúa Giêsu Kitô sẽ có sự sống đời đời. Tại sao tin vào Đức Giêsu Kitô là đảm bảo cho sự sống đời đời. Ở đây, có lẽ có người cho rằng vì Lagiarô thân thiết với Chúa Giêsu, nên Chúa cho anh ta được sống lại ! Không, phép lạ xẩy ra vì lòng tin sâu xa của Maria và Matta vào Đức Giêsu là " Sự sống và sự sống lại " ( Ga 25 ). Phép lạ Chúa Giêsu làm cho Lagiarô chết chôn bốn ngày trong mồ được sống lại, chính là niềm tin chuẩn bị cho một phép lạ cả thể, phép lạ lớn lao mà Chúa Giêsu sẽ thực hiện nơi chính thân xác Ngài. Chúa Giêsu như lời đã tiên báo trước sẽ chết theo ý Thiên Chúa Cha, người ta sẽ chôn Ngài nơi huyệt đá và sau ba ngày Ngài sẽ sống lại vinh quang khải hoàn. Đạo công giáo là đạo tình thường và tuần thánh giúp chúng ta hiểu rõ thế nào là tình thương của Chúa, thế nào là việc Chúa làm để cứu độ gian trần. Vâng, Chúa Giêsu chết và sống lại để đưa con người từ cõi chết trở về cõi sống, cõi sống trường sinh, vĩnh hằng, đưa con người từ nơi tạm bợ đến nơi trường sinh bất tử. Đó là đức tin của đạo công giáo, của những người theo Chúa.

PHẢI QUA SỰ CHẾT MỚI TỚI VINH QUANG: Thánh Phaolô đã viết :" Nếu Đức Kitô đã không trỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của mình"( 1 Co 15, 17 ). Niềm tin đòi buộc con người phải sống tự hiến như Chúa. Chúa đã nói:" Không có tình yêu nào cao vời bằng tình yêu của người hiến mạng sống vì người mình yêu"( Ga 15, 13 ). Đó là tình yêu của một con người tự hiến, một con người dám bỏ tất cả mọi sự để cứu lấy người khác. Tình yêu tự hiến là tình yêu vô vị lợi, tình yêu xả kỷ, tình yêu hy sinh cho người mình yêu. Người Kitô hữu tin vào sự chết và sự sống lại, chính là tin vào một con người đã tự hiến, đã hy sinh cho người mình yêu. Tin vào sự chết và sự sống lại, chính là sống như con người đã tự hiến và hoàn toàn xả kỷ vì người mình yêu. Tin vào Đức Giêsu Kitô sống lại chính là cùng với ngài gánh tội lỗi cho người khác để đi vào cõi phục sinh với Ngài. Người phục nữ Samaria bên thành giếng Giacóp đã được Chúa cho biết tất cả dĩ vãng, hiện tại của đời bà. Nhưng cuộc đời bà đã thay đổi tất cả khi Chúa mở mắt và ban lòng tin cho bà. Tin Đức Giêsu là sự sống lại, chính là chết đi cho những gì là tạm bợ, những gì là mau qua để chỉ tin vào sự vĩnh củu và bất tử của Đấng là Đường, là Sự Thật và là Sự sống. Không thể có một lọai thuốc trường sinh nào ở trần gian này được vì nếu có những người giầu sang, lắm tiền sẽ sống nhởn nhơ và trường sinh ở trần gian này. Chúa đã yêu thương Lagiarô :" Đức Giêsu liền khóc"( Ga 11, 35 ). Điều này diễn tả con người hoàn toàn người của Chúa Giêsu. Ngài yêu thương con người với tất cả con người của Ngài và khi làm cho Lagiarô sống lại từ cõi chết. Chúa muốn bầy tỏ con người còn đời sau và sự sống vĩnh cửu mới quan trọng. Ham sống vẫn là khuynh hướng của con người, nhưng sống vĩnh cửu mới là điều quí nhất.

Lạy Chúa Giêsu, xin ban lòng tin cho chúng con để chúng con tin vào tình yêu của Chúa và đặt niềm tin vào sự sống vĩnh cửu mai sau. Amen.

CHẾT ĐỂ ĐƯỢC SỐNG
Ga 11, 1- 45
Lm. Đa Minh Đặng Văn Cầu

Người ta thường nói "Đẹp như hoa". Nhưng tại sao hoa lại đẹp thế nhỉ? Có bao giờ bạn đặt câu hỏi như vậy chưa? Theo chủ quan của tôi thì khoa học hay triết học không trả lời được câu hỏi này nên tôi tìm đến Kinh Thánh. Chính Đức Giêsu đã trả lời cho câu hỏi của tôi : "Vậy nếu hoa cỏ ngoài đồng, nay còn mai bị quăng vào lửa, mà Thiên Chúa còn mặc đẹp cho như thế, thì huống hồ là anh em, ôi những kẻ kém tin"(Mt 6,30).

Thế là đã rõ, chính Thiên Chúa đã tạo nên, ban tặng vẻ đẹp và sự kiều diễm cho hoa đến nỗi bậc đế vương sang trọng như Salômôn cũng không sánh bằng. Nhưng tôi lại thắc mắc : Hoa đẹp vậy mà tại sao lại chóng tàn thế ? Tại sao chỉ một cơn gió mạnh cũng làm nó biến đi, chỗ nó mọc không còn vết tích?

Tôi lại tìm được câu trả lời ngay trong đoạn Kinh Thánh vừa được trích : Chúa muốn qua loài hoa để dạy tôi về sự quan phòng của Ngài và muốn tôi hãy phó thác cho tình yêu thương của Cha trên trời. Ngài còn nhắc tôi nhớ lại câu ca dao đồng nội tương đương với Thánh Vịnh 90 nói về sự mỏng giòn chóng qua của kiếp nhân thế:
"Đời người khác thể bông hoa
Sáng ngày hé nở chiều ra đã tàn
"

Tương đương
"Như cỏ đồng trổ mọc ban mai
Nở hoa vươn mạnh sớm ngày
Chiều về ủ rũ tàn phai chẳng còn
... " (Tv. 90, 5-6)

Đúng vậy, kiếp nhân sinh thật vắn vỏi :
Ấy con người khác chi hơi thở,
Vùn vụt tuổi đời tựa bóng câu.


Nhưng chẳng lẽ Chúa gửi cho đời những bông hoa đẹp như vậy mà lại chỉ thông báo những điều tiêu cực và chỉ để:
Ngồi lại bên đời thương dĩ vẵng
Nghe trong lòng câu "hoa sớm nở tối tàn"


Theo tôi Chúa muốn gửi đến cho mọi người thông điệp khác nữa:
Hoa đến báo hiệu mùa Xuân tới,
Mùa hy vọng, mùa sự sống vũ hoàn


Sứ điệp loài hoa không chỉ nhắc cho con người về sự mỏng giòn chóng qua mau hết nhưng còn khơi lên niềm hy vọng : Chết không phải là hết mà là :
Thu qua Đông tới Xuân về
Cúc tàn Sen nở trên quê vĩnh hằng
.

Anh em Phật giáo quan niệm : Nếu sống tốt, sống lành, sống thiện thì khi Thu qua Cúc tàn sẽ được hưởng mùa Xuân Vĩnh Hằng trên tòa sen. Còn nếu sống ngược lại thì sẽ bị hóa thân làm kiếp khác thấp hơn, xấu hơn. Đó chính là niềm tin có sự sống đời sau được diễn tả qua thuyết luân hồi.

Còn người Kytô chúng ta không chỉ nhận ra những dấu chỉ, những mạc khải của Chúa về sự sống sau cái chết qua thiên nhiên, qua khát vọng sống vĩnh cửu của con người, mà còn được chính Thiên Chúa cho biết về điều đó.

Từ rất xa xưa, qua ngôn sứ Ezékiel Chúa đã thông báo cho Dân Ngài và cũng là cho toàn thể nhân loại một tin mừng: "Hỡi dân Ta, các ngươi sẽ biết Ta là Chúa, lúc Ta mở cửa mồ các ngươi, và kéo các ngươi ra khỏi mồ, Ta sẽ cho các ngươi thần trí của Ta, và các ngươi sẽ được sống." (Ed 37, 13)

Lời hứa đó được thực hiện nơi Con của Ngài, và phép lạ "kéo Lazaro ra khỏi mồ" hôm nay là một dấu chỉ, một điều báo trước cho phép lạ vĩ đại nhất, kỳ công lớn lao nhất mà Thiên Chúa, qua Thánh Thần của Ngài, sắp thực hiện nơi Đức Giêsu Kytô, và chính đó là niềm hy vọng lớn lao nhất của chúng ta : "Và nếu thánh Thần của Đấng đã làm cho Đức Giêsu Kytô từ cõi chết sống lại ở trong anh em, thì Đấng đã làm cho Đức Kytô từ cõi chết sống lại cũng cho xác phàm hay chết của anh em được sống, nhờ Thánh Thần của Người ngự trong anh em" (Rm 8, 11)

Như vậy muốn ra khỏi mồ thì phải vào trong mồ đã, tức là phải chết đi cho xác thịt, cho tội lỗi và sống trong Thánh Thần.

Mùa Chay chính là thời gian thuận tiện để chúng ta chết cho tội. Hãy vào trong "ngôi mộ tình thương" của Bí ích Hòa Giải để cảm nghiệm sự khốn cùng của kiếp người và tình thương bao la của Thiên Chúa (Tv 129), để được nghe và đáp lại lời Chúa mời gọi : "Hỡi Lazaro hãy ra khỏi mộ"!

Hãy chết cho xác thịt để hoa trái của Thánh Thần nở rộ giũa cuộc đời :
"Hãy chấp nhận làm cõi lòng tan nát,
như hoa tàn dâng trái ngọt lựng hương"


Chính những trái ngọt lựng hương mang được "làm chín" bởi Thánh Thần và bởi "tấm lòng tan nát dày vò" này sẽ là của lễ mà Thiên Chúa yêu thích nhất và nhất là đươc sống đời đời với Đấng đã tuyên bố: "Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta thì dù có chết cũng sẽ được sống đời đời" (Ga 11, 25). Amen

MỘT NIỀM TIN
Ga 11, 1- 45
Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Sống ở trần gian, con người vẫn cứ mơ tưởng tới một thần dược, một loại thuốc thần thiêng nào đó có thể kéo dài cuộc sống hay đúng hơn giúp con người trường sinh bất tử. Thực ra, ở đời chẳng có loại thuốc nào là thuốc bất tử cả.Chỉ có những con người ham sống sợ chết mới đi tìm loại thuốc bất tử mà thôi. Quả thực, nếu có loại thần dược đem lại sự sống vĩnh cửu thì những người giầu có lắm tiền sẽ có cơ hội sống lâu, sống thọ, nhưng đó chỉ là ước mơ, mơ ước trong huyền thoại, trong những chuyện giả tưởng hoang đường. Tuy nhiên, với đức tin Kitô giáo, chúng ta vẫn tin chắc có một loại thuốc bất tử, nhưng nó thuộc ở đời sau mà con người ngay còn ở trong thế giới này phải hết sức tìm cho bằng được...

Tôi vẫn còn nhớ khi còn là sinh viên triết học, tôi đã có nhiều dịp đi thăm trường mù, trường câm điếc. Tôi vẫn có cảm giác thật xót thương những con người xấu số: không nhìn thấy, không nghe được. Có những lần tới với những anh chị em mù, câm điếc, tôi buồn và xót xa vô hạn, nhưng đó chỉ là cảm giác mau qua của những con người được hạnh phúc thấy, nghe và nói được. Điều đọng lại ở nơi tôi sau nhiều lần thăm viếng, làm việc bác ái và cho đến bây giờ, đó là tâm tình ngưỡng mộ và lòng cảm phục những con người mà tôi cho là xấu đó. Ngưỡng mộ và cảm phục lòng tin của họ đặt nơi Chúa, Người mà họ đã đi theo khi họ được lãnh nhận Bí tích rửa tội.Nhiều lần đi thăm họ và đêm về nằm suy nghĩ, tôi nghiệm ra rằng những con người này có một niềm tin thật đáng trân trọng, họ cam số phận và tin tưởng vào Chúa. Họ cho rằng đời này mau qua và họ sẽ được sáng mắt, được nghe và được nói khi họ trở về với Chúa qua cái chết...Đó là niềm tin kiên vững, một đức tin không ai có thể lay chuyển đúng như Lời của Chúa trong bài Tin Mừng hôm nay: " Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết cũng sẽ được sống. Ai sống mà tin vào Thầy sẽ không bao giờ phải chết " ( Ga 11, 25-26 ). Những anh chị em mù, câm và điếc, tôi đã gặp trong cuộc đời là bằng chứng diễn tả niềm tin Kitô giáo, niềm tin vào Đức Giêsu Kitô. Chính niềm tin này bảo đảm cho họ được sống đời đời. Cái loại thuốc trường sinh mà nghiều người vẫn mong ước đi tìm dù khó khăn biết mấy, dù đắt tiền đến đâu vẫn có người nong nả tìm kiếm để được sống thêm, sống dài, sống lâu ở thế giới này. Nhưng tất cả đều vô ích, y khoa kiếm được bệnh này thì bệnh khác lại xuất hiện...Cả đời, thế hệ này qua thế khác vẫn chỉ là một cuộc tìm kiếm vô vọng...Lagiarô được Chúa Giêsu làm phép lạ cho hồi sinh dù anh ta chết, chôn đã bốn ngày trong mồ. Sở dĩ Chúa cho Lagiarô sống lại không phải vì Ngài thân thiết với Lagiarô và gia đình của anh ta, nhưng chính vì niềm tin của Maria và Mácta vào Chúa Giêsu là sự sống và sự sống lại ( Ga 11, 25 ).

Chúa Giêsu cho con người và cho mọi người hiểu rằng phép lạ cho Lagiarô sống lại chỉ là để chuẩn bị cho một phép lạ vô cùng lớn lao, vô cùng trọng đại: chính Ngài sẽ chết và sẽ sống lại khải hoàn vào sáng ngày thứ nhất trong tuần. Niềm tin cho chúng ta hay Chúa Giêsu chết để đưa chúng ta vào cõi sống và đưa chúng ta từ thế giới tạm bợ này tới quê hương vĩnh cửu trên trời.

Niềm tin Kitô giáo làm nổi bật Bí tích rửa tội bởi vì có qua phép rửa, có Chúa Thánh Thần, chúng ta mới ra khỏi sự tối tăm của tội lỗi. Thánh Phaolô viết cho tín hữu Roma: " Nếu Đức Kitô ở trong anh em thì tuy thân xác vẫn là đồ hay chết vì tội, nhưng Thần Khí là sự sống vì đức công chính. Nếu Thần Khí của Đấng đã cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết cư ngự trong anh em, thì Đấng đã cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết cũng sẽ tác sinh thân xác chết dở của anh em, nhờ bởi Thần Khí của Người cư ngụ trong anh em ".

Mùa Chay đã giới thiệu cho chúng ta về Nước Trường Sinh, Lời mạc khải, Lời Hằng Sống: " Nước Chúa Giêsu ban sẽ trở thành mạch suối...vọt lên cho tới sự sống đời đời ". Nước ấy chữa lành người mù từ thuở mới sinh. Nước ấy sẽ rửa mọi người muốn trở thành con cái Chúa...Chúa Nhật V Mùa Chay, năm A, hôm nay nói lên phép lạ lạ lùng Chúa làm cho Lagiarô sống lại, và đó cũng là lời tiên báo, nhờ phép rửa tội, chúng ta cũng sẽ được phục sinh từ cõi chết tới cõi sống đời đời. Đó là đức tin của người Kitô hữu và là đức tin của Hội Thánh Công Giáo.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con càng ngày càng yêu mến và hiểu sâu xa hơn về Bí tích rửa tội chúng con đã lãnh nhận. Amen.

CUỘC SỐNG BẤT TỬ
Ga 11, 1- 45
Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Thực tế, con người ai cũng muốn kéo dài sự sống. Không ai thích chết, nhưng luôn muốn có một cuộc sống lâu dài, nếu không nói được là bất tử. Tuy nhiên, đây chỉ là giấc mơ của con người. Bởi vì, từ xưa tới nay dù con người có dày công nghiên cứu. Khoa học có tiến bộ vượt bực, y khoa có cao vời, con người vẫn không thể nào kiếm được thuốc trường sinh! Một điều hiển nhiên, đã là con người tất nhiên đều phải chết ! Nhưng chính Chúa Giêsu đã tuyên bố và đã thực hiện :" Tôi là sự sống lại và là sự sống " ( Ga 11, 25 ).

Phép lạ Chúa Giêsu làm cho Lagiarô chết chôn trong mồ đã bốn ngày sống lại đã minh chứng Ngài là Đấng Thiên Sai, Ngài là Đấng có uy quyền tuyệt đối trên sự sống và sự chết của con người, Ngài là Con Thiên Chúa, là chính Thiên Chúa, Đấng ban sự sống và sự sống lại cho tất cả những ai tin vào Ngài. Nếu, chúng ta đọc Tin mừng của Chúa Giêsu, chúng ta nhận thấy có một sợi chỉ đỏ xuyên suốt từ Phúc Âm Nhất Lãm tới Tin mừng của thánh Gioan về Con Người Toàn Năng của Chúa. Chúa Giêsu là Đấng được Thiên Chúa Cha sai đến trần gian để cứu độ con người, Ngài là Con Thiên Chúa và cũng là chính Thiên Chúa. Đọc Tin mừng chúng ta nhận ra một Thiên Chúa nhân từ, gần gũi với mọi người, đặc biệt là những con người khó nghèo, bần cùng, tội lỗi, những con người thấp cổ bé họng, những con người bị xã hội đẩy ra bên lề. Đọc Tin mừng của thánh Gioan, người phụ nữ bên bờ thành giếng Giacop, người phụ nữ mà Chúa Giêsu đã biết hết cuộc đời riêng tư của bà và qua cuộc trao đổi có thể nói được là rất lạ lùng này, bà đã xin Chúa cho bà thứ nước không hề khát, để bà hằng ngày khỏi phải tới để múc ở giếng Giacop. Nước Hằng Sống hay Bánh Trường Sinh sẽ được Chúa giải thích trong Tin Mừng.

Hôm nay, trong đoạn Tin Mừng của thánh Gioan trích đọc Chúa nhật V Mùa chay, năm A, chúng ta nhận ra vị thuốc trường sinh hay nói cách nôm na hơn Vị bác sĩ có thuốc trường sinh là Chúa Giêsu:" Chính Thầy là sự Sống lại và là sự Sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết" ( Ga 11, 25 ). Đúng thật, thuốc trường sinh là ở đây! Vị bác sĩ làm ra thuốc bất tử là ở đây. Tuy nhiên, đã có bao người nhận ra Con Thiên Chúa là Đấng cầm quyền sinh tử! Vâng, chính vì lòng tin sâu xa của Maria và Matta mà phép lạ Chúa Giêsu hồi sinh Lagiarô đã xảy ra. Matta đã thưa với Chúa Giêsu :" Thưa Thầy có.Con vẫn tin Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian " ( Ga 11, 27 ).Tuy nhiên, phép lạ làm cho Lagiarô chết chôn trong mồ bốn ngày được hồi sinh, ám chỉ việc lạ lùng lớn lao hơn nhiều. Đức Kitô sẽ chịu chết, được mai táng trong mồ và sau ba ngày, Ngài sẽ phục sinh . Mùa chay, đặc biệt tuần thánh sẽ giúp người Công giáo hiểu thế nào là tình thương của Chúa, thế nào là sự chết và phục sinh. Chúa đã chiến thắng tử thần và sống lại khải hoàn. Do đó, những ai tin vào Thiên Chúa cũng sẽ được Ngài cho sống lại. Đó là đức tin của tất cả những ai tin vào Thiên Chúa.

Đối với người Công giáo, tin vào sự sống và sự chết là mầu nhiệm cao cả, lớn lao. Ngay sau khi truyền phép, Vị chủ tế đọc :" Đây là Mầu nhiệm đức tin "...Mọi người thưa :" Con tuyên xưng Chúa đã chết đi.Con tuyên xưng Ngài đã sống lại...". Thánh Phaolô cũng đã viết :" Nếu Đức Kitô đã không trỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của mình " ( 1 Co 15, 17 ). Chính lòng tin đã cứu chữa chị. Chị hãy về đi và tin nay đừng phạm tội nữa. Chúa Giêsu đã nói với người phụ nữ ngoại tình như thế. Một lời đầy yêu thương, một lời đầy an ủi. Trong vụ này, biết bao người đã hăm hở để kết án, ném đá người phụ nữ ngoại tình. Nhưng Chúa Giêsu lại có thái độ tha thứ thật yêu thương và đầy an ủi. Đức Kitô đã hy sinh mạng sống cho nhân loại, cho mọi người, cho từng người. Tình yêu của Ngài là tình yêu vô vị lợi, tình yêu tự hiến. Chết mới nói lên tất cả mọi sự. Khi nào Ta bị treo lên, Ta sẽ kéo mọi người lên cùng ta. Chúa đã chết đi và sống lại để cho nhân loại được sống. Đức tin đã làm nên nhiều phép lạ. Người phụ nữ Samaria bên bờ thành giếng Giacop đã được Chúa mở cõi lòng và ban đức tin. Nên, bà đã phấn khởi, hạnh phúc về nhà kể lại cho mọi người biết về một Con Người đã thấu suốt tất cả cuộc đời của bà. Cuộc sống ở trần gian này chỉ là tạm bợ. Người ta sẽ không thể tìm được bất cứ một bác sĩ, một lang y, hay một thứ thuốc trường sinh nào. Chúa Giêsu chính là thuốc trường sinh ban cho con người sự sống đời đời.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa chính là sự sống, là nguồn sống cho con người, cho nhân loại.Chúa đã chiến thắng sự chết, tiêu diệt sự chết và phá tan mọi nguyên nhân gây ra cái chết. Xin ban cho những ai tin vào Chúa luôn tìm được sự sống bởi vì thánh Phaolô đã viết :" Đối với tôi, sống là Đức Kitô và chết là một mối lợi " ( Pl 1, 21 ).

SỰ SỐNG
Ga 11, 1- 45
Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Sự sống là một mầu nhiệm. Tạo hóa trao ban sự sống cho mọi loài: Thực vật, động vật và loài người. Khí thở là nguồn của sự sống. Mọi loài sống đều cần có không khí để hít thở và nuôi dưỡng. Sự sống di động trong toàn thân. Trong thân thể con người, khi hơi thở và máu huyết ngưng đọng, con người sẽ chết. Mỗi người đều có một sự sống riêng biệt. Sự sống nơi mỗi người có thể kéo dài cả trăm năm và cũng có thể tan bay trong khoảnh khắc. Sư sống dài hay ngắn không quan trọng bằng sống cho có ý nghĩa và hữu ích. Thiên Chúa là chủ tể của sự sống. Sự sống tiếp nối sẽ không bị tiêu diệt, chỉ có xác thể sự sống bị chết. Tiên tri Edêkien đã viết: Ta sẽ cho các ngươi thần trí của Ta và các ngươi sẽ được sống, Ta sẽ cho các ngươi an cư trên đất các ngươi, và các ngươi biết rằng: Ta là Chúa, chính Ta đã phán và đã thi hành (Ez 37, 12-14). Thiên Chúa là Chúa và là tác giả của mọi sự sống. Con người không thể sáng tạo sự sống mà chỉ bắt chước và tạo môi trường để sự sống phát triển.

Dựa vào các diễn tiến của sự sống tự nhiên, các nhà khoa học đã tìm hiểu nguyên nhân, cách kết cấu và sự vận hành phát triển của các tế bào để tạo cơ hội phát triển. Khoa học hiện nay có thể giúp kéo dài sự sống nơi con người như lắp ghép tim, gan, thận, xương hay tiếp máu và thay máu. Có nghĩa là khi con người còn có hơi thở sự sống, cho dù sức yếu, các nhà chuyên môn có thể tiếp giúp tăng cường và kéo dài sự sống. Nhưng một khi sự sống đã ngừng, trái tim ngưng đập, ngưng thở, óc chết và các tế bào ngừng hoạt động và sự chết đến, con người đành bó tay. Trong một khoảng thời gian ngắn nào đó, sau khi chết, một số cơ phận trong con người có thể được xử dụng ngay để phẫu thuật ghép. Một số trường hợp, các bác sĩ có thể dùng một số cơ phận của những người mới qua đời để lắp ghép cho các bệnh nhân cần. Người đã chết không thể trở lại với cuộc sống. Họ vĩnh biệt ra đi.

Bài phúc âm hôm nay kể câu chuyện dài nói về sự kiện Chúa Giêsu cho ông Ladarô đã chết và chôn trong mồ bốn ngày được sống lại. Chúa Giêsu tỏ uy quyền trên sự sống. Diễn tiến của câu chuyện có nhiều chi tiết rất tỉ mỉ. Chúa dự phòng sự việc Chúa sẽ thực hiện tại Bethania, Chúa nói: Nhưng Ta mừng cho các con, vì Ta không có mặt ở đó để các con tin. Vậy chúng ta đi đến với anh ấy (Ga 11, 15). Khi nghe tin Ladarô đau bệnh thập tử nhất sinh, Chúa Giêsu còn lưu lại nơi Chúa đang giảng dậy ít ngày nữa. Chúa dùng cơ hội này để tỏ uy quyền Thiên Chúa và mạc khải về sự sống và sự sống lại. Đây là một đề tài đức tin chính yếu và rất quan trọng. Chúa đã mạc khải một cách tiệm tiến dựa vào lòng tin yêu của con người. Chúa Giêsu nói: Em con sẽ sống lại (Ga 11, 23).

Trước khi làm phép lạ vĩ đại này, Chúa Giêsu đã khơi niềm tin: Chúa Giêsu nói: "Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta, dầu có chết cũng sẽ được sống (Ga 11, 25). Dầu có chết cũng sẽ được sống, lời nói như một mệnh lệnh và một sự xác tín trong niềm tin. Chị em Martha và Maria, các tông đồ và những người đi theo Chúa vẫn như còn trong mơ. Sự việc Chúa sắp thực hiện hoàn toàn vượt ngoài sức tưởng tượng của con người. Người chết chôn bốn ngày thì xác đã thối rữa rồi. Sự sống mà Chúa ban lại cho ông Ladarô là sự sống mới trong thân xác đã chết. Nói rồi, Người kêu lớn tiếng: "Ladarô! Hãy ra đây!"(Ga 11, 43). Và kìa, lời quyền năng đã thành hiện thực: Người đã chết đi ra, chân tay còn quấn những mảnh vải, trên mặt còn quấn khăn liệm. Chúa Giêsu bảo:"Hãy cởi ra cho anh ấy đi" (Ga 11, 44).

Ông Ladarô đã sống lại và đi ra khỏi mồ. Ông đã sống thêm được một khoảng thời gian trên dương trần, nhưng ông cũng đã chết theo luật tự nhiên. Chỉ có Thiên Chúa làm chủ sự sống. Muốn bước vào sự sống vĩnh cửu thì mỗi người đều phải bước qua ngưỡng cửa sự chết. Đây là vấn đề hoàn toàn của niềm tin. Chúng ta không thể lý luận và đưa ra chứng cứ cụ thể. Tin rằng con người phải trải qua sự chết mới được vào cõi sống. Thân xác này sẽ trở về cát bụi trong lòng đất và hồn thiêng sẽ tiếp tục sống chờ đợi ngày được sống lại kết hợp cả hồn và xác để hưởng hạnh phúc bất diệt. Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh hạt lúa mì gieo xuống đất: Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác ((Ga 12, 24).

Niềm tin vào Đức Kitô là niềm tin hy vọng tuyệt đối. Từ bao đời, đã có biết bao thế hệ con người đã qua đi. Thân xác bị hủy diệt và trở về tro bụi. Thánh Phaolô tông đồ đã xác tín với chúng ta về Tin mừng cứu độ nơi Chúa Kitô, ngài nói: Nhưng nếu Chúa Giêsu Kitô ở trong anh em, cho dù thân xác đã chết vì tội, nhưng tinh thần vẫn sống vì đức công chính (Rm 8, 10). Con người có linh hồn và thể xác. Sự sống là sự kết hợp giữa hồn và xác. Khi hồn lìa xác, con người sẽ đi về cõi sau. Vì thân xác là tro bụi và sẽ trở về bụi tro. Tinh thần hay linh hồn không bị tiêu diệt vì hồn thiêng liêng. Thánh Phaolô nói tinh thần vẫn sống vì đức công chính.

Chúng ta đặt niềm tin tưởng vào Chúa Kitô là nguồn ban sự sống. Chúa Kitô là hoa qủa đầu mùa của những kẻ yên giấc. Chúa Giêsu đã sống lại từ cõi chết và không còn chết nữa. Sự chết không còn làm chủ được Người nữa. Thánh Phaolô đặt trọn niềm tin vào Chúa Kitô Phục Sinh: Và nếu Thánh Thần của Đấng đã làm cho Đức Giêsu Kitô từ cõi chết sống lại ở trong anh em, thì Đấng đã làm cho Đức Giêsu Kitô từ cõi chết sống lại cũng cho xác phàm hay chết của anh em được sống, nhờ Thánh Thần ngự trong anh em (Rm 8, 12). Đây là niềm tin và niềm hy vọng của chúng ta đang trong cuộc lữ hành dương thế. Chúng ta đã đầu tư và đánh đổi cả cuộc đời để tin tưởng vào sự sống và sự sống lại ngày sau. Chúng ta bước đi trong niềm tin, chứ không bằng thị giác (walk by faith, not by sight). Vì nếu Chúa Kitô không sống lại, thì tất cả niềm tin của chúng ta trở thành trống rỗng và vô nghĩa.

Những đề tài của các Chúa Nhật Mùa Chay, chu kỳ năm A, đã từng bước dẫn chúng ta đi sâu vào niềm tin nội tâm. Lần lượt mỗi tuần một đề tài: Chúa vào hoang địa ăn chay, cầu nguyện và chịu những cơn cám dỗ; Chúa Biến Hình sáng láng; Chúa ban nước hằng sống cho người phụ nữ Samaria và dẫn vào con đường sự thật; Chúa chữa người mù từ bẩm sinh và Chúa cho người đã chết sống lại. Đây là hành trình đức tin, Giáo Hội đã từng bước dẫn dắt chúng ta suy tư sâu lắng vào mầu nhiệm ơn cứu độ mà Thiên Chúa đã sắp sẵn. Trong câu chuyện đối thoại với chị em Martha và Maria: Chúa Giêsu lại nói: "Ta chẳng bảo con rằng: Nếu con tin, thì con sẽ xem thấy vinh quang Thiên Chúa sao?" (Ga 11, 40). Tất cả niềm tin qui vào Chúa Giêsu Kitô. Chúa Giêsu đã đi trước mở cửa ngõ vào cõi trường sinh bất diệt. Chúng ta không thể đi con đường nào khác ngoài bước theo con đường Chúa đã đi. Bước theo Chúa, phải trải qua đau khổ để vào vinh quang.

Mùa chay là mùa tịnh tâm, cầu nguyện và tập luyện các nhân đức: Đức tin, đức cậy và đức mến. Đức mến phủ trùm mọi khía cạnh của cuộc sống. Mỗi một lời nói, cử chỉ và hành động bác ái, chúng ta cần phản ánh tình yêu thương chia sẻ. Con đường dẫn vào Nước Trời được xây trên nền tảng của tình bác ái yêu thương. Tình yêu mạnh hơn sự chết. Chúa Kitô vì yêu thương nhân loại đã hiến mình chịu đau khổ, chịu chết trên thánh giá và đã sống lại vinh quang.

Lạy Chúa, Chúa là sự sống và là sự sống lại. Xin cho chúng con biết sống xứng đáng và sinh ích trong cuộc sống đời tạm này, để sinh hoa kết qủa tốt đẹp đáng hưởng hạnh phúc mai sau.

Nguồn vietcatholic.org

3368    04-04-2014 15:56:17