1. Lời Chủ Chăn
  2. Tự Sắc Porta Fidei
  3. Diễn Giải
  4. Lời Nguyện Chung
  5. Áp Dụng Thực Hành
  6. Học Kinh Thánh
  7. Tìm Hiểu Giáo Luật
  8. Trang Linh Mục
  9. Trang Tu Sĩ
  10. Trang Sống Ơn Gọi
  11. Trang Thiếu Nhi
  12. Trang Giới Trẻ
  13. Trang Gia Đình
  14. Trang Giáo Lý Viên
  15. Trang Qưới Chức
  16. Sống Đẹp
  17. Chuyện Thường Ngày
  18. Hỏi Đáp Mục Vụ
  19. Một Chút Tâm Tình

LỜI CHỦ CHĂN

TÒA TỔNG GIÁM MỤC HÀ NỘI
40 Phố Nhà Chung, Hoàn Kiếm, Hà Nội
Tel: (84.4) 3825; Fax: (84.4) 3928.5073;

Email: ttgmhn@gmail.com

Hà Nội, ngày 18 tháng 8 năm 2013


Kính gửi: Cha Giám Quản
                Giáo phận Vĩnh Long

Kính thưa Cha,

Trong sự ngỡ ngàng dường như không thể tin là thật, khi nhận được Cáo phó của Tòa Giám Mục Vĩnh Long báo tin buồn: Đức Cha TÔMA NGUYỄN VĂN TÂN, Giám mục Giáo Phận Vĩnh Long, đã qua đời tối ngày thứ bảy 17 tháng 8 năm 2013. Đây quả là tin buồn không những cho Giáo Phận Vĩnh Long, mà còn cho Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Xin thay mặt Hội Đồng Giám Mục Việt Nam kính gửi đến Cha Giám Quản, và qua Cha, kính gửi đến toàn thể Giáo phận Vĩnh Long, cùng quý vị trong linh tông và huyết tộc của Đức Cha TÔMA yêu quý, lời phân ưu chân thành.

Đức cha TÔMA đã sống thiên chức Linh mục được gần 44 năm và thi hành sứ vụ của Đấng kế vị các Thánh Tông đồ, phục vụ Giáo Hội tại Giáo phận Vĩnh Long trong chức thánh Giám mục được hơn 13 năm. Luận án Tiến sĩ Thần học của ngài tại Đại học Grêgôriana, Rôma về đề tài: "Hy tế trong Thần học của Eugène Masure" đã ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống tông đồ của ngài, một đời sống tin tưởng và gắn bó với cuộc khổ nạn, hy tế của Chúa Giê su Ki tô trên thập giá; để theo gương mẫu hy tế của Chúa Kitô, cuộc sống của Đức cha Tôma toát ra nét khổ hạnh, hy sinh và nghèo khó. Trung thành với phương châm mục vụ của mình: "Hành trình trong đức ái" (Êphêsô 5, 2), Đức cha TÔMA nỗ lực không ngừng trong việc mời gọi và liên kết mọi thành phần tín hữu cộng tác với nhau để xây dựng Giáo hội, hầu làm cho Giáo phận Vĩnh Long thành một gia đình hiệp nhất, yêu thương huynh đệ, để đến với lương dân, trong ước nguyện trở thành anh em của mọi người.

Cùng với lời phân ưu, cũng xin bày tỏ tâm tình kính trọng và niềm hãnh diện của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam về Đức Cha TÔMA.

Nhờ lời chuyển cầu của Đức Mẹ La Vang, Thánh Cả Giuse, các Thánh Tử Đạo Việt Nam, nguyện xin Chúa Kitô, Linh mục Thượng phẩm, mở rộng vòng tay nhân lành đón tiếp và ân thưởng Đức Cha TÔMA trong Nước Trời.

Thành kính phân ưu.

+ Phêrô Nguyễn Văn Nhơn         
Tổng Giám Mục Hà Nội     
Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam

TỰ SẮC PORTA FIDEI

CHỦ ĐỀ: ĐỨC MARIA, MẪU GƯƠNG ĐỨC TIN

Nhờ lòng tin, Đức Maria đã đón nhận lời Thiên thần, và trong tinh thần vâng phục, Mẹ đã tin vào lời loan báo Mẹ sẽ trở thành Mẹ của Thiên Chúa (Lc 1, 38). Khi đến thăm bà Isave, Mẹ cất bài ca chúc tụng Đấng Tối Cao vì những kỳ công Người thực hiện nơi tất cả những ai đã đặt niềm tin nơi Người (x. Lc 1, 46-55). Mẹ sinh hạ người Con duy nhất trong vui mừng và lo âu, mà giờ đây Mẹ vẫn còn nguyên vẹn đồng trinh (x. Lc 2, 6-7). Tín nhiệm nơi Thánh Giuse, hôn phu của Mẹ, Mẹ mang Chúa Giêsu sang Ai Cập để cứu con khỏi cuộc bách hại của Hêrôđê (x. Mt 2, 13-15). Với đức Tin, Mẹ theo Chúa lúc Người đi rao giảng và ở với Chúa cho đến tận đồi Golgotha (x. Ga 19, 25-27). Với đức Tin, Mẹ Maria đã hưởng nếm những hoa trái của cuộc phục sinh của Chúa Giêsu, và gìn giữ từng kỷ niệm trong lòng (x. Lc 2, 19.51), và Mẹ truyền lại những kỷ niệm ấy cho Nhóm Mười hai tụ họp với Mẹ trong Nhà Tiệc ly để nhận lấy Chúa Thánh Thần  (Porta Fiedei số 13).

DIỄN GIẢI

ĐỨC MARIA, NỮ TRINH DIỄM PHÚC VÌ ĐÃ TIN

Maria, lạy Nữ Trinh diễm phúc
Xin mở lòng thanh tịnh tiếp rước vào
Đón Ngôi Lời, Con Một Đấng Tối Cao

Sai xuống thế cứu loài người đau khổ...

(Các giờ Kinh Phụng vụ. Thánh Thi Chiều Mùa Vọng, phần chung II.)

Khi công bố Tự sắc Porta Fidei khai mở Năm Đức Tin 2012 - 2013, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã nêu Đức Maria như một mẫu gương tuyệt vời của đời sống Đức Tin cho mỗi chúng ta noi theo. Vì thế, Ngài đã tín thác Năm Đức Tin cho Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, được tuyên xưng là "người diễm phúc vì Mẹ đã tin." (ĐGH. Bênêđictô XVI, Tự sắc Porta Fidei "Cánh Cửa Đức Tin", số 15) Để nhờ Mẹ, với Mẹ và trong Mẹ, Giáo Hội sống Năm Đức Tin này một cách hiệu quả và khởi sắc hơn, hầu "khơi dậy nơi mỗi tín hữu khát vọng tuyên xưng Đức Tin trọn vẹn, với xác tín được đổi mới, trong tín thác và hy vọng."  (ĐGH. Bênêđictô XVI, Tự sắc Porta Fidei "Cánh Cửa Đức Tin", số 09)

Với tâm tình đó,  chúng ta cùng nhau chiêm ngắm, suy niệm và học hỏi mẫu gương ngời sáng của Mẹ Maria trong đời sống Đức Tin thường ngày.

Đức Maria, mẫu gương đời sống Đức Tin

Nói về Mẹ Maria, chắc hẳn trước tiên chúng ta phải nói rằng, Mẹ là con người của niềm tin, là mẫu gương của đời sống Đức Tin. Hay nói cách khác, Đức Tin là nhân đức nổi bật nhất trong cuộc đời Mẹ Maria. Trước nhân đức rạng ngời của Mẹ, bà thánh Êlisabét đã lớn tiếng ngợi khen rằng, "Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em." (Lc 1, 45)

Nhờ Đức Tin, Mẹ Maria đã đón nhận lời sứ thần và đã tin vào lời loan báo, Mẹ sẽ trở thành Mẹ Thiên Chúa với niềm vâng phục tuyệt đối (x. Lc 1, 38). Như các thiếu nữ khác, chắc chắn trước khi thưa tiếng "Xin Vâng", Mẹ Maria cũng đã có chương trình riêng cho cuộc đời mình. Thế nhưng, khi nhận lời sứ thần truyền, Mẹ đã đón nhận Thiên Ý một cách mau mắn và trọn vẹn. Với niềm tin tuyệt đối vào Thiên Chúa, Mẹ Maria đã vui lòng chấp nhận ý định của Thiên Chúa, một ý định "táo bạo" làm đảo lộn các dự tính riêng tư của Mẹ. Cô thôn nữ làng Nagiarét giờ đây không còn yên phận trong thế giới bé nhỏ của mình, nhưng đã "trao thân gửi phận" cho Đấng Toàn Năng để Ngài thực hiện công trình vĩ đại, là cứu độ nhân loại. Nhờ Đức Tin, Mẹ Maria đã trở thành công cụ cứu độ của Thiên Chúa. Quả thế, thánh Irênê đã nói: "Nút dây đã bị thắt lại vì E-và bất tuân, nay được gỡ ra nhờ Đức Maria vâng phục. Điều mà bà E-và đã buộc lại vì cứng lòng tin, thì Đức Trinh Nữ Maria đã tháo ra nhờ lòng tin." (Vat. II, Hiến chế tín lý về Giáo Hội "Lumen Getium", số 56.)

Như tổ phụ Ápraham xưa đã từng bước đi trong đêm tối của niềm tin, Mẹ Maria cũng đã dấn bước trong hành trình phiêu lưu của đời sống Đức Tin như thế. Nếu như tổ phụ Ápraham nhờ tin vào lời hứa của Thiên Chúa mà ông được trở thành cha của nhiều dân tộc (x. Rm 4, 18) và nhờ ông,"mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc" (St 12, 3), thì Mẹ Maria cũng vậy, nhờ niềm tin son sắt, Mẹ được Thiên Chúa chúc phúc và nhờ Mẹ, muôn dân được đón nhận Đấng Cứu Thế.

Trong suốt cuộc đời dương thế, Mẹ Maria luôn tin tưởng mãnh liệt vào Thiên Chúa, Mẹ luôn nhìn thấy mọi sự xảy ra trong cuộc đời mình dưới ánh sáng Đức Tin. Và cũng nhờ Đức Tin soi dẫn, Mẹ đã vượt qua tất cả những thử thách, chông gai cuộc đời. Mẹ đã trở nên mẫu mực cho đời sống Đức Tin của Giáo hội (x. Sách giáo lý của Hộ Thánh Công giáo, số 967).  Vì thế, Mẹ Maria được gọi là "Ái nữ của Chúa Cha, cung điện của Chúa Thánh Thần; Mẹ là chi thể trổi vượt và độc đáo nhất của Giáo Hội, như mẫu mực và gương sáng cho Giáo Hội về Đức Tin và đức ái"  (Vat. II, Hiến chế tín lý về Giáo Hội "Lumen Getium", số 53.) Với mẫu gương sáng chói ấy, Mẹ trở thành "Thầy dạy Đức Tin" của Giáo Hội.

Đức Maria, Thầy dạy Đức Tin

Ta không thấy Mẹ Maria đứng trên bục giảng ngày nào để thực thi sứ mạng giảng thuyết. Thế nhưng, bằng chính đời sống dấn thân phụng sự Thiên Chúa, phục vụ tha nhân, và cộng tác đắc lực vào chương trình cứu độ của Thiên Chúa, Mẹ Maria đã tỏ ra là "Thầy dạy Đức Tin" ưu tú nhất của Giáo Hội. Mẹ dạy chúng ta tin vào Chúa, tín thác vào Ngài, đi theo đường lối Chúa và cộng tác với Ngài để đem ơn cứu độ đến cho mọi người.

Bằng chính đời sống rất mực thánh thiện, tinh tuyền của mình, Mẹ Maria trở nên Thầy dạy Đức Tin của Giáo Hội. Mẹ đã xác tín trong niềm tin, Mẹ đã sống trong niềm tin, Mẹ đã thực hiện niềm tin một cách trọn vẹn qua cuộc đời "Xin Vâng." Công đồng Vaticanô II đã muốn cho mọi thành phần trong Giáo Hội chiêm ngưỡng và hoạ lại nơi mình dung mạo thiêng liêng của Mẹ khi viết: "Noi gương Mẹ Chúa mình, nhờ thần lực của Thánh Thần, Giáo hội bảo tồn cho tinh tuyền một Đức Tin toàn vẹn, một đức cậy vững bền và một đức mến chân thành." (Vat. II, Hiến chế tín lý về Giáo Hội "Lumen Getium", số 64.)

Mẹ Maria đã trở nên Thầy dạy Đức Tin khi khiêm tốn đáp lời "Xin Vâng" trong niềm phó thác cậy tin, và hân hoan lên đường chia sẻ niềm vui, niềm hạnh phúc và sự bình an cho gia đình bà chị họ Êligiabét cùng toàn thể nhân loại. Mẹ đã sống Đức Tin kiên vững và đã trao ban hồng ân Đức Tin cho người khác. Mẹ muốn mọi người cùng với Mẹ sống và thực hành Đức Tin trong cuộc sống hằng ngày như Mẹ đã sống và quảng đại trao ban. Đó chính là "Tin những lời Chúa dạy và Hội Thánh truyền, phó thác mọi sự cho tình yêu quan phòng của Chúa, biết quan tâm đến nhu cầu của mọi anh chị em chung quanh mình, nhờ đó họ sẽ nhận biết Chúa. Để chính họ cũng được ơn Đức Tin đem lại sự sống đời đời." (Hội đồng Giám mục Việt Nam, Kinh Năm Đức Tin 2012-2013.)

Là Thầy dạy Đức Tin, Mẹ Maria kêu gọi chúng ta tin vào tình yêu và quyền năng của Thiên Chúa: "Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo" (Ga 2, 5.) Mẹ hướng dẫn con người đến với Chúa, khám phá ra quyền năng của Chúa và tin vào Ngài để được hưởng ơn cứu độ. Vì những lẽ đó, Mẹ Maria xứng đáng là "Thầy dạy Đức Tin" ưu tú nhất của Giáo Hội, của mỗi chúng ta. Là người "học trò", là con cái Mẹ, chúng ta được mời gọi dấn bước theo Mẹ đem Chúa đến cho đời, cùng Mẹ sống Đức Tin giữa đời thường.

Cùng Mẹ, sống Đức Tin giữa đời thường

Chúng ta đang sống trong một thế giới đầy biến động và bất ổn. Các giá trị đạo đức, luân lý đang bị đảo ngược, do sự tác động của những trào lưu hưởng thụ, những chủ nghĩa Vô Thần, Duy Thực Dụng và Duy Khoái Lạc. Con người ngày nay đang có nguy cơ đánh mất niềm tin, loại trừ Thiên Chúa ra khỏi cuộc đời. Trước thực trạng đó, người Kitô hữu chúng ta được mời gọi theo gương Mẹ Maria, cùng với Mẹ Maria thể hiện Đức Tin trong cuộc sống thường ngày, vui sống niềm tin vì nhận ra Chúa luôn hiện diện trong cuộc đời. Đó chính là việc "tái khám phá hành trình Đức Tin để luôn làm nổi bật niềm vui và niềm hưng phấn mới của việc gặp gỡ Đức Kitô." (ĐGH Bênêđictô XVI, Tự sắc Porta Fidei "Cánh Cửa Đức Tin", số 02.)

Sống trong một xã hội đầy biến động này, hơn bao giờ hết, người Kitô hữu chúng ta phải can đảm tuyên xưng Đức Tin của mình bằng đời sống thánh thiện, bác ái, yêu thương, thực thi công bình và khước từ những cám dỗ ngọt ngào của xã hội vô luân. Cùng với Mẹ Maria, chúng ta hân hoan lên đường đem Chúa đến cho đời, thắp sáng niềm tin cho nhân thế đang đắm chìm trong bóng đêm của "nền văn minh sự chết." "Giữa thế hệ đó, anh em phải chiếu sáng như những vì sao trên vòm trời, là làm sáng tỏ Lời ban sự sống." (Pl, 2, 15-16.)

Sống giữa cuộc đời trần thế, chúng ta thường phải đối diện với những thực tại cuộc sống, những gian nan thử thách, những sóng gió trong đời, những thách đố thời đại. Trước những thực tại đó, Đức Tin của chúng ta thường bị lung lay chao đảo, có lúc tưởng chừng như thất vọng, đánh mất niềm tin. Những lúc đó, chúng ta ngước nhìn lên Mẹ, noi gương Mẹ, khẩn cầu Mẹ giúp ta kiên trì trong gian nan thử thách, nhất là biết chấp nhận mọi sự thiệt thòi mất mát khi phải lội ngược dòng đời để trung thành với Đức Tin. Có Mẹ đồng hành nâng đỡ, chắc chắn chúng ta sẽ vững bước trên hành trình Đức Tin.

Trong cuộc đời dương thế, Mẹ Maria đã từng trải qua hành trình Đức Tin với bao thử thách gian nan, người Kitô hữu chúng ta cùng Mẹ, sống Đức Tin giữa đời thường trong niềm tín thác cậy trông. Với thái độ khiêm nhường, lắng nghe và suy niệm, Đức Tin của Mẹ đã đạt đến mức trưởng thành viên mãn khi đứng cận kề Con mình, dưới chân thập giá, (x.Ga 19, 25- 27) hướng tới vinh quang Phục Sinh. Hành trình Đức Tin của Mẹ là con đường mở ra cho từng người Kitô hữu chúng ta. Noi gương Mẹ, mỗi chúng ta được xác tín để "biết mình đã tin vào ai"  (2Tm 1, 12.) Cùng với Mẹ, chúng ta lắng nghe và thực hành Lời Chúa trong từng biến cố cuộc đời, sẵn sàng dấn bước theo Thầy Giêsu trên con đương thập giá với hy vọng thập giá sẽ nở hoa, Đức Tin dẫn ta tới sự sống đời đời.

Tạm kết

Trong cuộc lữ hành trần thế, Mẹ Maria đã tin tưởng vào Chúa một cách tuyệt đối. Niềm tin của Mẹ ngời sáng chiếu soi cuộc đời dương gian. Với Đức Tin kiên vững, Mẹ đã sống cuộc đời "Xin Vâng" cách hoàn trọn. Mẹ xứng đáng với danh hiệu cao quý: "Nữ Trinh Diễm Phúc vì đã tin." Chiêm ngắm mẫu gương đời sống Đức Tin của Mẹ, chúng ta can đảm dấn bước trong hành trình Đức Tin, cùng Mẹ sống và tuyên xưng Đức Tin trong cuộc sống thường ngày. Xin Mẹ luôn đồng hành với Giáo Hội, với mỗi chúng ta trong cuộc lữ hành Đức Tin này.

Pet. Võ Tá Đương, OP
Nguồn: daminhvn.net

LỜI NGUYỆN CHUNG

Kêu mời: Anh chị em thân mến,
Trong biến cố thiên thần truyền tin, khi sinh Đức Giêsu nơi hang đá, lúc chứng kiến Đức Giêsu chịu thương khó, chịu chết trên thập giá,... Đức Maria luôn vững tin Con Người ấy là Thiên Chúa thật. Xin Mẹ dạy chúng con tin như Mẹ. Chúng ta cùng hiệp ý cầu nguyện:

1. Đức Maria nói: "Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời sứ thần truyền". Chúng ta cầu nguyện cho mọi thành phần Hội Thánh, cùng tập sống "xin vâng" theo thánh ý Chúa trong hết mọi sự, như Đức Trinh Nữ Maria đã tin vào Lời Chúa.

2. Bà Isave nói: "Em thật có phúc, vì đã tin Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em". Chúng ta cầu nguyện cho các Kitô-hữu noi theo gương mẫu đức tin của Mẹ Maria, luôn tin tưởng vào Chúa, luôn cậy trông hy vọng vào lời Chúa hứa.

3. Đức Maria nói: "Đời nọ tới đời kia, Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người". Chúng ta cầu nguyện cho các kitô-hữu luôn biết theo lời Đức Mẹ dạy, mà đặt trọn niềm tin vào Chúa, vì Chúa hằng thương xót những ai thờ phượng Người.

4. Đức Maria nói: "Người bảo gì, các con cứ việc làm theo". Chúng ta cầu nguyện cho mọi người trong họ đạo chúng ta, luôn phó thác mọi sự hiện tại, tương lai cho Chúa nhờ lời cầu bào của Mẹ, mà luôn thực hành những gì Con Chúa dạy bảo.

Kết thúc: Lạy Chúa, Chúa ban cho chúng con một người Mẹ làm gương mẫu sống đức tin. Xin cho chúng con biết dõi theo đời sống nhân đức của Mẹ, để đặt trọn niềm tin nơi Chúa, và bền vững cho đến ngày được hưởng phước trên thiên đàng.Chúng con cầu xin .. .Amen.

ÁP DỤNG THỰC HÀNH

MARIA, MẪU GƯƠNG SỐNG ĐỜI TÍN THÁC

Đức Tin là Đặc Ân Chúa ban. Giáo lý cũng dạy chúng ta rằng: "Đức Tin là nhân đức siêu nhiên Chúa phú vào linh hồn chúng ta khi lãnh Bí tích Thánh Tẩy, để chúng ta vững lòng phó thác vào Chúa mà chấp nhận những điều Chúa dạy và nhờ Giáo Hội truyền lại cho chúng ta."

Như thế, Đức Tin là đặc ân Chúa ban nhưng không cho chúng ta. Nhưng muốn cho ơn đó được lớn lên, được phát triển mạnh, bắt buộc chúng ta phải sử dụng, phải thực hành Đức Tin mỗi ngày, và như lời Thánh Giacôbê quả quyết: "Đức Tin không có việc làm là Đức Tin chết" (Jac 2:17). Vậy sống Đức Tin là điều rất quan trọng cho chúng ta.

Đức Maria là  gương mẫu sáng ngời về đức tin và phó thác.

Chắc hẳn nhiều lần chúng ta nghĩ rằng: Đức Tin của Đức Mẹ ít công phúc vì đã thấy rồi mới tin. Đức Mẹ đã ở với Chúa Giêsu mặc xác làm người suốt 33 năm trời. Mẹ đã ẵm bế Chúa, đã nhìn tận mắt, sờ tận tay, ở cùng nhà với Chúa, như thế Mẹ tin thì đâu có lạ gì.

Nhưng chúng ta hãy đi sâu vào cuộc đời dương thế của Đức Mẹ, mà Thánh Kinh và Thánh Truyền đã ghi lại. Trước khi về chung sống với Thánh Giuse, hai người đã thề hứa giữ trọn vẹn Đức Trinh Khiết. Nhưng bất ngờ, Sứ Thần Thiên Chúa đến chào thăm và đưa đề nghị: làm Mẹ Ngôi Hai Thiên Chúa. Thật là mâu thuẫn vô cùng! Đã khấn trọn đời Đồng Trinh với Chúa, bây giờ Chúa lại bắt phải cưu mang sinh đẻ! Nhưng Đức Mẹ vẫn tin vào thánh ý Chúa.

Khi Sứ Thần báo tin: Con Trẻ Mẹ sắp sinh sẽ là Con Thiên Chúa, sẽ cai trị đời đời nhà Giacóp và triều đại của ngài sẽ vô tận... (Lc 1:31-33), nghe thì thật cao sang: Trẻ Giêsu, Con tương lai của Mẹ, rất oai phong, quyền lực... nhưng, suốt cuộc chung sống tại Nagiareth khoảng 30 năm, nghĩa là từ bé tới lúc trưởng thành, bên ngoài Chúa Cứu Thế chẳng có dấu gì là oai phong cả. Trái lại Giêsu giống hệt người trần gian, ngoại trừ tội lỗi. Trẻ Giêsu cũng bú mớm, cũng ăn, cũng nhè, cũng khóc,... giống hệt mọi em trẻ khác.

Trong ba năm truyền đạo, Chúa Kitô mới thi hành sứ mệnh là vị Thiên Sai: Ngài đã rao giảng giáo lý mới và làm các phép lạ để chứng minh lời Ngài giảng. Lúc đó người ta mới nhận ra Ngài là vị Thiên Chúa. Người ta hoan hô, ca tụng, tiếp đón Ngài một cách nồng hậu.

Bất ngờ, người ta lại về hùa với chính quyền đang ghen tức Chúa, đang tìm mọi cách hạ bệ và bắt giết Chúa. Người ta lại la hét ầm ĩ: giết chết hắn đi! giết chết hắn đi!

Nhìn thấy Con yêu quý của mình bị bắt oan, bị hành hạ tàn nhẫn và bị đóng đinh trên cây thập giá, Mẹ Maria thầm lặng theo sát bên con, đau khổ đè nặng cả xác lẫn hồn Mẹ, nhưng Mẹ vẫn sống bằng Đức Tin. Mẹ tin rằng: Mọi việc Chúa để xảy đến với mục đính là cứu chuộc nhân loại.

Mẹ Maria đã không hề giận ghét, nguyền rủa lũ côn đồ đã hành hạ, xử oan nghiệt cho Con Mẹ. Mẹ không hề mở miệng nói một lời để minh oan cho Con, hoặc để hạch xách, la mắng, chửi bới bọn chính quyền lưu manh và lý hình độc ác đã giết Con của Mẹ. Mẹ đã đứng im lặng bên cây thập giá, bằng lòng chịu mọi sự, đón nhận mọi sự, và tín thác mọi sự vào thánh ý khôn ngoan tuyệt vời của Thiên Chúa.

Đức Tín Thác của Mẹ Maria cao sang vĩ đại biết là dường nào! Mẹ Maria là gương mẫu sáng ngời đặc biệt cho muôn thế hệ.

Thánh Gioan thánh giá đã quả quyết: "Tin bằng nào được bằng đó". Các Thánh trong Giáo Hội đã để lại những gương mẫu cho chúng ta: Suốt đời các Ngài chỉ sống bằng Đức Tin. Các Ngài tin mọi việc xảy ra dù lớn hay nhỏ, tốt hay xấu cho chính mình, cho gia đình mình hoặc cho xã hội, đều do thánh ý quan phòng của Thiên Chúa, nên các Ngài đón nhận tất cả như quà yêu Thiên Chúa ban tặng. Các ngài đã theo sát gương tín thác tuyệt vời của Đức Mẹ.

Cha thánh Giuse Cottôlengô lập một cô nhi viện để săn sóc hơn 700 em mồ côi tại nước Ý với hai bàn tay trắng và với một Đức Tin vững mạnh.

Một hôm bà Quản lý báo cho Cha thánh biết: Các em đã hết thức ăn ngay buổi chiều hôm ấy, xin Cha thánh giải quyết giùm.

Cha Thánh Cottôlengô mỉm cười bảo bà Quản lý:

- Xin bà đưa các em lên Nhà Nguyện đọc kinh cầu xin với Chúa.

Các em đã được lệnh lên Nhà Nguyện đọc kinh. Nhưng giờ kinh sắp mãn, mà nhà bếp vẫn trống trơn! Bà Quản lý lo lắng quá, lại đến giục Cha thánh:

- Trình Cha, các em đọc kinh sắp xong, sau giờ kinh làm sao đây?

Cha thánh vẫn mỉm cười, gục đầu xuống bàn trước mẫu ảnh Đức Mẹ ngay ở bàn giấy của Cha, đặt hết tin tưởng vào Đức Mẹ.

Bỗng có chuông điện thoại reo, Cha thánh cầm lên nghe. Đầu giây bên kia có người nói lớn:

- Xin Cha giúp chúng tôi. Đại đội của chúng tôi đi hành quân diệt địch, định trở về đơn vị chiều nay để dùng bữa, nhưng họ báo lại không thể về được. Cha có thể giúp chúng tôi bằng cách thanh toán bữa cơm chiều nay không?

Lẽ dĩ nhiên là Cha thánh đồng ý ngay. Sau đó mười phút, xe quân đội đã chở lương thực đến nhà cơm, đúng lúc các em cô nhi viện đang rời Nhà Nguyện để xuống dùng bữa.

Thiên Chúa không thua lòng tin tưởng mãnh liệt của chúng ta. Vì thế, dù ở vào hoàn cảnh nào trong cuộc sống, dù gặp khó khăn, thử thách, hoặc đau khổ khốn khó tiếp tục xảy đến cho chính mình, hoặc cho gia đình mình, chúng ta hãy đặt hết niềm tin vào Chúa và Đức Mẹ. Đừng bao giờ chán nản, ngã lòng hay thất vọng. Hãy tin cho mạnh và phó thác mọi sự trong thánh ý của Thiên Chúa.

Viết theo Lm An Bình, CMC

HỌC KINH THÁNH

BÀI 32. THƯ THỨ II CỦA THÁNH GIOAN
(II Ga)

1/ Tác giả thư là ai?  Tác giả tự giới thiệu mình là "Niên trưởng" (c.1 ), ở đây Thánh Gioan là niên trưởng (Giám Mục) của giáo đoàn Tiểu Á.

2/ Thư được viết cho ai? Đầu thư đề: "Kính gửi bà được chọn và con cái bà, là những người tôi vốn chân thành yêu mến" (c.1). Bà đây là một danh xưng ám chỉ một giáo đoàn "Con cái bà được chọn, chị em với bà gửi lời chào bà" (c. 13). Ở đây ám chỉ cộng đoàn này gửi lời chào thăm cộng đoàn khác.

3/  Thư được viết nhằm mục đích gì?

Thư viết cốt để kêu gọi cộng đoàn yêu thương lẫn nhau (c. 5).

Yêu thương là sống theo các điều răn của Thiên Chúa (c. 6).

Sau đó là cảnh tỉnh phải đề phòng trước sự tuyên truyền lạc

giáo của những tên phản Kitô (c. 7-11).

Cầu nguyện:  Lạy Chúa, Chúa dựng nên con để con luôn hướng về Chúa, để con yêu mến Chúa là hạnh phúc đời con. Xin cho con biết đáp lại tình yêu của Chúa qua việc biết yêu thương mọi người chung quanh con. Amen.

TÌM HIỂU GIÁO LUẬT

GIÁM QUẢN GIÁO PHẬN
(Đ.419-430)

1.  Trống Toà

Tình trạng trống toà (sede vacante) xảy ra do sự mệnh một của Đức Giám mục giáo phận, thuyên chuyển, từ nhiệm đã được Đức Giáo Hoàng chấp thuận, hay lệnh bãi nhiệm đã được thông báo cho đương sự (đ.416).

2.  Hiệu quả pháp lý

Một khi toà Giám mục trở nên khuyết vị, thì không những là chính Giám mục hết quyền mà cả Tổng đại diện và các Đại diện Giám mục cũng hết chức (x.đ.481). Bên cạnh đó, các Hội đồng sau đây cũng đương nhiên được giải tán: Hội đồng Linh mục (đ.501§2), Hội đồng mục vụ (đ.513§2), Công nghị giáo phận (đ.468§2).

3. Người điều hành Giáo phận trong lúc trống toà

Nếu có Giám mục phó, thì Ngài đương nhiên kế vị Giám mục giáo phận. Vấn đề đơn giản hơn, nếu Toà Thánh bổ nhiệm ngay tân Giám mục giáo phận hay ít là Giám quản tông toà (Administrator apostolicus) thì Vị nầy cai quản. Nếu không thì Giám quản giáo phận (Administrator dioecesanus) sẽ tạm thời giữ việc cai quản. Cho đến lúc Giám quản được bầu, việc cai quản giáo phận được trao cho Đức giám mục phụ tá, nếu có; giả như có nhiều Giám mục phụ tá thì trao cho vị nào thâm niên nhất, xét theo thứ tự được tiến cử. Nếu như không có những vị trên thì việc điều hành giáo phận do Hội đồng tư vấn - người nào thâm niên trong chức linh mục thì làm chủ tịch. Người xử lý lâm thời như vậy có quyền hành giống như Tổng đại diện (đ.426), và có nghĩa vụ thông báo cho Toà Thánh về sự mệnh một của Giám mục, cũng như lo tiến hành việc bầu cử Giám quản giáo phận (đ.419; 422). 

4. Giám quản giáo phận do ai bầu cử?

Theo điều 421 của Bộ Giáo luật, Giám quản giáo phận là một tư tế được Hội đồng tư vấn bầu lên trong thời gian 8 ngày kể từ khi biết tin trống toà.

Nếu vì bất cứ vì lý do gì mà Giám quản giáo phận chưa được bầu lên trong hạn 8 ngày, thì việc chỉ định Giám quản thuộc quyền Tổng Giám mục trong giáo tỉnh (đ.421§2).

5. Ứng cử viên của chức Giám quản (đ.423-425)

- Chỉ có thể bầu một cá nhân;

- Phải là một tư tế, đã đủ 35 tuổi;

- Chưa bao giờ giữ chức Giám quản trong chính giáo phận ấy;

- Trổi vượt về đạo lý và khôn ngoan;

- Không thể kiêm nhiệm chức Quản lý.

6. Tựu chức

- Việc bầu cử không cần phải được phê duyệt (427§2).

- Sau khi đắc cử, Giám quản giáo phận phải thông báo lên toà Thánh về việc sự việc Giám mục qua đời và việc tựu chức của mình (đ. 422).

- Trước khi thi hành chức vụ, Giám quản giáo phận phải tuyên xưng đức tin trước mặt Hội đồng tư vấn (đ.833§4).

7. Chức vụ và quyền của Giám quản giáo phận (đ.426-427)

Quyền hạn của Giám quản giáo phận thì giống như của Giám mục, nghĩa là: Ngài có thường quyền và là Bản quyền sở tại (đ.427).

Nghĩa vụ của Giám quản giáo phận cũng giống như Giám mục Giáo phận (đ.427§1; 429) , nghĩa là:

- Dâng lễ cầu cho giáo dân mỗi ngày Chúa Nhật và những ngày buộc khác trong miền (đ.429; 388§1);

- Buộc phải cư trú trong giáo phận (đ.429).

8. Những hạn chế quyền của Giám quản

Những hạn chế quyền của Giám quản giáo phận được xem như do bản chất của sự việc hoặc do chính Giáo luật (đ.427).

Bản chất sự việc: những quyền cần phải có thánh chức giám mục thì mới thi hành được (phong chức thánh).

Hạn chế do chính Giáo luật:

Một nguyên tắc vàng cho việc cai quản giáo phận lâm thời (tuy có thể kéo dài cả năm) là: "Sede vacante, nihil innovetur": trong khi trống toà thì không được thay đổi gì hết (đ.428§1). Từ đó đưa đến những giới hạn  sau:

- không được đích thân hay nhờ người khác lấy ra, tiêu huỷ, sửa chữa các tài liệu của phủ giáo phận (đ.428§2);

- cấp giấy nhập tịch hay xuất tịch cho giáo sĩ (đ.272);

- bổ nhiệm cha sở (đ.525§2)

- trao phó một họ đạo cho một Dòng tu (đ.520§1);

- triệu tập công nghị giáo phận (đ.462§1);

- thành lập hiệp hội công (đ.312§1,3);

- cấp giấy giới thiệu cho ứng sinh lãnh chức thánh (đ.1018§1,2);

- bãi nhiệm Chưởng ấn, Lục sự nếu không có ý kiến của Ban Tư vấn (đ.485);

-  Đại diện tư pháp: chánh án, phó, thẩm phán (đ.1420).

9. Chấm dứt chức vụ (đ.430)

Vì là người cai quản giáo phận lâm thời, nên chức vụ của Giám quản giáo phận chấm dứt khi Tân Giám mục giáo phận tựu chức. Tuy nhiên, chức vụ cũng có thể mãn bởi những lý do khác nữa: sự mệnh một, từ chức được đệ lên Hội đồng tư vấn (không cần được chấp thuận), sự bãi chức do Toà Thánh. Khi xảy ra như vậy, thì Hội đồng tư vấn bầu Giám quản khác cũng cùng cách thức như đ.419.

TRANG LINH MỤC

ĐỨC MARIA NGƯỜI MẸ CỦA LINH MỤC

Bước vào Tháng Năm dương lịch, Tháng Kính Đức Mẹ, Giáo hội thường nhắc nhở: "Các tín hữu hãy nhớ rằng, lòng tôn sùng chân chính không hệ tại tình cảm chóng qua vô bổ, cũng không hệ tại một sự dễ tin phù phiếm, nhưng phát sinh từ một đức tin chân thật. Đức tin dẫn chúng ta đến chỗ nhìn nhận địa vị cao cả của Mẹ Thiên Chúa, và thúc đẩy chúng ta lấy tình con thảo yêu mến và noi gương các nhân đức của Mẹ chúng ta" (GH. Số 67).

Theo tinh thần hướng dẫn trên, chúng ta thử nhìn lại chỗ đứng của Mẹ Maria trong đời sống và sứ vụ linh mục. Nhờ đó, chúng ta củng cố và tăng cường mối tương quan mật thiết giữa ta với Mẹ.        

I. VAI TRÒ CỦA MẸ MARIA TRONG ĐỜI SỐNG VÀ SỨ VỤ LINH MỤC.      

Địa vị của Đức Maria rất cao cả. Ngài được tôn vinh là Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Đức Giêsu-Kitô, Mẹ Hội Thánh và là Mẹ Linh mục.       

Trong diễn từ kết thúc khóa 3 Công đồng Vatican II, Đức PhaoLô VI đã quả quyết : "Đây là lần đầu tiên... một Công đồng đã trình bày một tổng hợp giáo lý công giáo rộng lớn, liên quan đến địa vị của Đức Maria rất thánh trong mầu nhiệm Chúa Kitô và Giáo Hội" (ngày 21.11.1964).

Còn Đức Gioan-Phaolô II, vị Giáo hòang đã sống gắn bó với khẩu hiệu "Totus Tuus" (mọi sự của con đều là của Mẹ), trong Thư đầu tiên gửi các linh mục trên thế giới, đã bày tỏ : "Anh em thân mến, khởi đầu thừa tác vụ của tôi, tôi phó dâng tất cả anh em cho Mẹ Chúa Kitô, đặc biệt cũng là Mẹ chúng ta : Người Mẹ của linh mục" (ngày 08.4.1979). Lời bày tỏ của Đức Gioan-Phaolô II gợi lên cho chúng ta ba khuôn mặt, ba mối tương quan liên kết chặt chẽ với nhau : Chúa Giêsu - Đức Maria - và Linh mục. Lời bày tỏ đầy tâm tình đó, cũng thôi thúc chúng ta suy nghĩ đến vai trò của Đức Maria trong cuộc đời Chúa Giêsu, và cuộc đời Linh mục.       

1. Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu. 

Tin mừng đã ghi lại rất rõ, địa vị của Đức Maria trong chương trình cứu độ trần gian của Thiên Chúa. Mẹ đã thưa lời "Xin vâng" trước thánh ý Chúa Cha. Mẹ đã hiệp thông với sức mạnh của Chúa Thánh Thần trong biến cố nhập thể của Chúa Giê-su. Mẹ đã hiệp thông với ân sủng của Chúa Thánh Thần, trong biến cố hiện xuống, để xây dựng và phát triển Hội Thánh, là Thân Thể và Hiền Thê của Chúa Kitô.          

Đặc biệt hơn, là Mẹ Đấng cứu thế, Đức Maria đã thể hiện vai trò làm Mẹ cách sâu sắc và ý nghĩa đối vối Chúa Giê-su. Mẹ mang Ngôi Lời trong bụng dạ. Mẹ sinh hạ Người Con Một của Thiên Chúa tại Be-lem. Mẹ thiết thân gần cận với Chúa Giê-su từ tấm bé, lúc lớn khôn, cho tới khi trưởng thành. Mẹ kín đáo theo sát Chúa Giê-su trong những năm Chúa công khai rao giảng Tin mừng. Mẹ âm thầm đồng hành với Chúa trên con đường thương khó và can đảm hiện diện dưới chân thập giá để chứng kiến cơn hấp hối và cái chết của Chúa Giê-su. Chính nhờ sự đồng hiệp thông trong giây phút rất thánh thiêng này, mà Mẹ Maria được tôn vinh là Đấng đồng công cứu chuộc nhân loại.  

Cha Rondet, một nhà thần học hiện đại đã viết : "Đức Maria có đó khi Đấng cứu thế vào trong thế gian. Ngài có mặt khi Chúa hoàn tất hy sinh của Người. Ngài có mặt khi Hội thánh khai sinh. Ngài lại còn đó mỗi khi Chúa cứu thế đến trong các linh hồn, khi sự sống ân sủng tăng gia nơi các linh hồn ấy" (Etude de la théologie mariale, p.8).

2. Đức Maria, Mẹ Linh mục.     

- Với bí tích Truyền chức thánh, mang ấn tích trong mình, người linh mục được tham dự sâu sắc vào ba chức năng của Chúa Kitô: ngôn sứ, tư tế và vương giả, được hành động trong tư cách của Chúa Kitô là Đầu, được gọi là "Alter Christus" (một Kitô khác, một Kitô nữa). Vì thế, người linh mục cũng được vinh dự đón nhận lời di chúc của Chúa kitô trên thập giá trao gửi cho Gioan "Này là Mẹ con" (Ga 19,27) như lời di chúc dành cho chính mình. Quả thực, có thể nói, Gioan người môn đệ Chúa Giêsu yêu quý, là đại diện cho mọi môn đệ Chúa Kitô, đại diện cho các linh mục.

Trên cơ sở đó, Đức Gioan-Phaolô II lý giải : "Quả thực, người môn đệ yêu quý, là một trong Nhóm Mười Hai, tại Nhà tiệc ly đã nhận lệnh truyền "Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy" (Lc 22,19) cũng chính là người đã được Chúa Kitô từ trên thập giá trao phó cho Mẹ Ngài : "Đây là con Mẹ" (Ga 19,26). Qua những lời Chúa cứu thế đang hấp hối thốt ra, người mà trong Ngày thứ năm Tuần thánh đã nhận quyền cử hành bí tích Thánh Thể, cũng là người được trao phó là con của Mẹ Ngài. Vì thế, tất cả chúng ta nhờ bí tích truyền chức linh mục, đã nhận được cùng một quyền năng như Gioan, thì theo một ý nghĩa nào đó, chúng ta cũng là những người đầu tiên nhận Đức Maria làm Mẹ chúng ta. Do đó, tôi mong ước tất cả anh em cùng với tôi, gặp lại nơi Đức Maria người Mẹ của chức linh mục, chức vụ mà chúng ta đã nhận được từ Chúa Kitô" (Thư đdt).         

- Trên thập giá, Chúa Giêsu cũng trao gửi Gioan cho Đức Mẹ: "Đây là con Bà" (Ga 19,26). Và Tin mừng Gioan ghi tiếp: "kể từ giờ đó, người môn đệ rước Đức Maria về nhà mình" (Ga 19,27).        

Gioan, người Tông đồ đã được Chúa gọi (Mt 4,21), người môn đệ được Chúa yêu (Ga 13,23), và có thể nói là vị Tân linh mục vừa được thụ phong tại Nhà tiệc ly, đã thực thi di chúc của Chúa Giêsu. Ông đưa Đức Maria về nhà mình, để Mẹ dạy bảo, ủi an, nâng đỡ và giúp ông kiên trì thực thi sứ vụ trước những thử thách khó khăn. Ông đưa Đức Maria về nhà mình, để ông thay Chúa Giêsu thể hiện bổn phận hiếu thảo : yêu mến, vâng phục, bàn hỏi và bắt chước gương sống của Mẹ, nhờ đó mỗi ngày ông trở nên giống Chúa Giêsu hơn.    

Noi gương Thánh Gioan, người linh mục cũng phải đưa Đức Maria vào cuộc đời mình, để nhờ Mẹ hướng dẫn, chúng ta có thể trở nên "đồng hình đồng dạng" với Chúa Giêsu và tiếp tục công trình cứu độ trần gian của Ngài. 

 II. LINH MỤC SỐNG TÌNH CON THẢO VỚI MẸ MARIA.          

Đức Hồng y Fulton Sheen nói : "Mỗi linh mục có hai người mẹ, một theo xác thịt, một theo tinh thần". Người mẹ tinh thần của linh mục là Đức Maria. Để sống ơn gọi và thi hành sứ vụ của mình cách hữu hiệu, linh mục cần phải liên kết mật thiết với người Mẹ này. Đó là điều mà Sắc lệnh "Chức vụ và đời sống linh mục" nhắc nhở: "Các linh mục phải lấy lòng con thảo thành kính tôn sùng và yêu mến Đức Trinh Nữ Maria , là Mẹ của Linh mục Thượng Phẩm đời đời, là Nữ vương các tông đồ và là Đấng bảo trợ thừa tác vụ linh mục" (số 18). Chỉ Nam của Bộ Giáo sĩ về Thừa tác vụ và sống đời linh mục, năm 1994, cũng cảnh báo "Có thể nói, đời sống thiêng liêng của linh mục sẽ không hoàn hảo, nếu không quan tâm đến lời trao trối của Chúa Kitô chịu đóng đinh trên thập giá, khi Ngài muốn trao ban Mẹ Ngài cho người môn đệ yêu quý, và qua người môn đệ này, cho tất cả các linh mục được mời gọi tiếp tục công trình cứu độ của Ngài" (số 68).

Quả thực, sống tương quan mật thiết với Mẹ Maria trong tình con thảo, không phải là thứ sùng mộ theo tình cảm tự nhiên thông thường, nhưng đây là mối tương quan do Chúa Kitô thiết lập, được thể hiện cách song phương tương tác "trao gửi và lãnh nhận", giữa Đức Maria và người môn đệ Chúa yêu. Vì thế, sống liên kết với Mẹ Maria, là đón nhận ân ban của Chúa Kitô, là tuân phục ý Ngài.          

1. Tình con thảo liên kết Linh mục với Mẹ Maria.     

Là con thảo, Linh mục cần đón nhận Mẹ Maria vào đời sống mình và dành cho Ngài một chỗ đứng xứng đáng để thể hiện tương quan yêu thương: trong tâm tình cảm mến, tin tưởng, cậy trông, phó thác, vâng phục, chiêm ngắm, cầu nguyện, ca tụng và bắt chước các nhân đức của Mẹ để mỗi ngày trở nên giống Mẹ hơn.    

Là con thảo, linh mục cần dâng hiến cho Mẹ toàn diện đời sống mình: vui buồn, sướng khổ, những khó khăn thử thách, thành công cũng như thất bại, những công tác phải chu toàn, những mục tiêu phải đạt tới... Nói chung, cần tận hiến trọn vẹn cho Mẹ với niềm tín thác cậy trông vào Tình Mẫu tử của Ngài.

2. Tình con thảo cũng đòi hỏi Linh mục cần nhìn nhận vai trò giáo dục và hướng dẫn của Mẹ đối với đời sống mình.    

- Tại tiệc cưới Ca-na, Mẹ đã nói với những người giúp việc: "Người bảo gì, các anh cứ làm theo" (Ga 2,5). Những lời đó như muốn nhắn gửi linh mục chúng ta: hãy để cho Mẹ hướng dẫn chúng ta trên bước đường theo Chúa, hãy để cho Mẹ huấn luyện và đào tạo chúng ta trở nên môn đệ đích thực, hãy để cho Mẹ giúp chúng ta thực hành Lời Chúa truyền dạy. Quả thực, hơn ai hết, Mẹ là người rất gần cận và hiểu biết Chúa Giêsu. Vì thế, Mẹ có thể khuôn đúc chúng ta trở thành một "Alter Christus".          

- Là mẹ hiền, nhưng cũng là nhà giáo dục tài ba, Đức Maria có thể huấn luyện tâm hồn linh mục, bảo vệ linh mục trước những nguy hiểm, mệt mỏi, chán nản và với sự quan tâm đầy tình mẫu tử, Mẹ luôn chăm sóc để linh mục ngày càng lớn lên, thêm vững mạnh, đầy khôn ngoan, và hằng được ân nghĩa cùng Thiên Chúa (x.Lc 2,40).          

Ngoài ra, Mẹ sẽ dạy chúng ta biết : hạnh phúc của đức tin đã lãnh nhận, thái độ thanh thản thưa lời "Xin vâng"dù mọi sự chưa sáng sủa, bền vừng trong ơn gọi đã lãnh nhận, tinh thần truyền giáo hăng say khiến chúng ta mau mắn mang Chúa Kitô đến với mọi người, như Mẹ đã thể hiện khi thăm viếng bà Êlisabét, thái độ tạ ơn của bài ca Magnificat, khả năng giữ kín trong tâm hồn những lời nói và sự kiện để suy niệm, thinh lặng cảm nhận trước mầu nhiệm vượt quá sự hiểu biết của con người, can đảm và vui vẻ đón nhận đau khổ cuộc Vượt qua, tình yêu đối với Thân Thể Chúa Kitô là Giáo Hội, 

Quả thực, xác định vai trò làm Mẹ của Đức Maria trong đời sống linh mục, và trung thành sống tình con thảo với Ngài, là một trong những nét đặc trưng quan trọng của Linh đạo Linh mục.

Chúng ta hằng tuyên xưng không ngớt rằng, "Từ xưa tới nay, chưa từng nghe có ai đến kêu cầu Mẹ xin bàu chữa cứu giúp mà Mẹ chẳng nhậm lời". Vì thế, trong tin yêu và phó thác, chúng ta, nhất là các linh mục, càng cần đến sự phù trì của Đức Mẹ hơn ai hết. Các linh mục hãy nài xin Đức Mẹ nhận lấy mình như đã từng nhận lấy và đồng hành với chính Người Con Một của Đức Mẹ xưa.

 Hay như thánh Gioan tông đồ được diễm phúc làm con của Đức Mẹ, anh em linh mục hãy ngã vào chiếc nôi tình yêu của Đức Mẹ, để bất cứ lúc nào, phải đối diện với những hoàng cảnh dù khó khăn cách mấy, dù éo le hay hạnh phúc, anh em linh mục vẫn tìm được nguồn bình an, sự che chở cần thiết để gìn giữ, hơn nữa, để thăng hoa đời linh mục của mình.

Hãy cậy nhờ Đức Mẹ, cậy nhờ tình mẫu tử thiêng liêng cao cả ấy, chúng ta vượt biển trần gian trong bình an bền vững.

 Hãy tin chắc rằng, vì Đức Mẹ luôn luôn chắp tay hướng về Chúa Kitô để đắm chìm trong sự cầu nguyện, sẽ tiếp tục dang rộng vòng tay để trao ban Chúa Kitô cho chúng ta. Nhờ công nghiệp của Đức Mẹ, Chúa Kitô linh mục sẽ làm cho chúng ta, hậu duệ trong chức linh mục của Người, nên hoàn thiện trong ơn gọi của cả đời linh mục mà Người đã trao cho chúng ta.

Trích tài liệu tĩnh tâm linh mục giáo phận Phú Cường - tháng 5.2006

Lm. VŨ XUÂN HẠNH (chuyển đăng)

TRANG TU SĨ

MẸ VẪN LUÔN BÊN CON

Trong bài giảng của Đức Thánh Cha Phanxicô nói về Mẹ Maria ở Đại Hội Giới Trẻ tại Vương Cung Thánh Đường Đức Mẹ Vô Nhiễm làm con nhớ mãi: " Xuất phát từ Mẹ mà chúng ta học biết cách trở nên những môn đệ đích thực". Câu nói ấy của Đức Thánh Cha gợi lại trong con nhiều ký ức về Mẹ, qua bao thăng trầm của đời sống con vẫn luôn có Mẹ dắt dìu  nâng đỡ.

Ngày con 16 tuổi, chẳng có gì là quan trọng đối với một đứa con gái thích chơi hơn học, hay la cà khắp nơi cùng đám bạn với đủ trò quậy phá, thích lang thang theo hai anh đi câu cá, đá banh để tránh nghe má dạy về "công - dung -  ngôn - hạnh",  hay những gì đại loại giống như vậy. Chẳng có buổi tối nào con tỉnh táo nổi để cùng ba má lần trọn chuỗi mân côi.

Cũng vì tính ỷ lại và xem thường mọi thứ nên cuối năm lớp 10 con nhận ngay kết quả: thi lại môn Tiếng Anh và sự trách cứ của Thầy chủ nhiệm. Về nhà còn phải đối diện với sự thất vọng của ba má nữa, sau những ngày ấy con chẳng thể làm gì khác hơn là ngoan ngoãn tham dự giờ kinh cho đàng hoàng...Thời gian cứ trôi và một ngày con đã nghĩ đến việc xin ba má đi tu. Thế rồi con xin đi tu thật.

Ngày ba đưa con vào Dòng, má ôm con thật lâu rồi đặt vào tay con tràng chuỗi thay cho lời dặn dò, con nhét vội vào túi áo cũng chẳng chút ý tứ, thế nhưng suốt chặng đường xa, ngồi trên xe con thấy sợ, đút tay vào túi áo khoác vô tình chạm vào chuỗi hạt con buột miệng thì thầm: "Không biết đời tu sẽ như thế nào, con thấy sợ quá, Mẹ giúp con với", chợt trong con cảm nhận một làn ấm bình yên, con không còn thấy sợ hãi nữa.

Đi tu rồi không còn được tự do như trước, tất cả đều có giờ quy định. Một tháng, hai tháng con hoang mang và chán nản vì tính tình hay thay đổi thất thường của một đứa con gái bướng bỉnh như con liệu có qua nổi "bảy ba hai mốt ngày" chăng? Bao nhiêu lần thao thức cho hướng đi đời mình cộng với nỗi nhớ nhà là bấy nhiêu lần con lại lần chuỗi trong làn nước mắt. thế rồi con nhận ra Mẹ đã lấp đầy những thiếu thốn của con, đem con đến gần Chúa hơn để con an tâm vững bước theo ơn gọi của mình. Ngày con vào nhà tập, mặc chiếc áo dòng cùng với chị em con sốt sắng hát: "Ôi Maria! này con thiết tha tận hiến cho Mẹ...". Con tin Mẹ sẽ luôn giúp con theo Chúa tốt hơn.

Sang năm thứ hai trong năm Kỳ Tập, con nhận công tác tông đồ tại một Họ Đạo, sau khi nhắc lại lời kinh tận hiến trước Mẹ con nhận bài sai lên đường với bao nhiệt huyết. Con dạy các em nhỏ lần chuỗi Mân Côi và tặng các em nhưng xâu chuỗi đầy màu sắc với mong ước giúp các em thêm tin mến Mẹ và yêu Chúa nhiều hơn.

Thế rồi một thử thách lớn xảy đến cho con, con lâm chứng "say nắng" khi đối diện với một anh chàng trong họ đạo đẹp trai, nhiều tài, có vẻ đạo đức và cũng rất quan tâm đến con. Thế là trái tim con lỗi nhịp, con bối rối khi hình bóng người ấy cứ lớn dần trong tâm trí, con cố gắng chạy đến nép áo Mẹ với những câu kinh Kính Mừng xin Mẹ chở che cho con thắng vượt những lôi cuốn vấn vương này. Những lần con nắm chặt tràng chuỗi trong tiếng khóc vì sợ hãi và cảm nhận một cảm giác an bình vì con biết Mẹ vẫn luôn bên con, con đã có thể lấy lại sự quân bình và vững vàng dứt khoát.

Ngày bước lên tuyên khấn con thấy lòng thật nhẹ nhàng thanh thoát, với tràng chuỗi trên tay con tin Mẹ đã yêu thương và vẫn mãi yêu con, nhờ Mẹ con bình an phó thác đời con trong Chúa, mặc cho những hèn yếu mỏng manh của phận hèn đất bụi, con hiểu rằng tất cả sẽ chỉ là làn gió nhẹ nhàng vụt qua rồi sẽ mất, con muốn để Chúa viết vào cuộc đời con những nét chữ Tình Yêu của Ngài qua bàn tay của Mẹ, không phải một chút vấn vương như cơn say choáng của cảm tình mà con người nhân loại trao cho nhau, nhưng là hạnh phúc khi được hiến thân vì tất cả mọi người.

Lạy Mẹ Maria, mẫu gương đức tin cho mọi Kitô hữu, xin cho con biết noi gương Mẹ, biết can đảm bước theo con đường mà Chúa muốn con đi, lắng nghe Lời Chúa và chịu để cho Chúa biến đổi trái tim con miệng lưỡi con, làm cho con biết sống quảng đại quan tâm đến người khác. Xin Mẹ giúp con giữ vững niềm tin tưởng phó thác nơi Chúa, can đảm vượt qua mọi thử thách của cuộc đời.

MTG Cái Nhum

BƯỚC ĐI VỚI MẸ TRONG NIỀM TIN

Vậy là một tuần đã trôi qua, cũng vào tối thứ bảy - ngày thứ bảy định mệnh, ngày đã đi vào lịch sử Giáo phận Vĩnh Long, ngày ảm đạm u buồn nhất cho cả giáo phận vì cái hung tin tưởng chừng như không thể tin được: Đức Cha Tôma, người Cha kính yêu của Giáo phận Vĩnh Long, đã đột ngột qua đời sau một cơn nhồi máu cơ tim chỉ trong vòng không đầy năm phút!  

Bàng hoàng, xúc động, hoang mang, ngậm ngùi, tiếc nhớ,... là tâm tình khác nhau của những người con trước sự ra đi quá bất ngờ của Cha mình.  Đây thật là một biến cố gây "sốc", một sự thật đến ngỡ ngàng cho mọi thành phần trong Giáo phận.  Người đã về với Chúa, với cội nguồn nơi Người đã sinh ra, thân xác Người đã yên nghỉ trong nấm mồ sâu, vậy mà sự ngỡ ngàng vẫn còn in sâu trong lòng của những người con, sự thật về cái chết của Người vẫn như một giấc chiêm bao. Sao mà khó tin quá! Thật là không thể tưởng tượng nổi!  Nhưng... cho dù thế nào thì... Người đã thật sự vĩnh viễn không còn hiện diện trên cõi đời này nữa...!  Đó là sự thật không thể chối cãi.

Không hoang mang sao được khi chỉ trong vòng hơn sáu tháng, giáo phận đã mất đi hai Vị Mục Tử tốt lành, thánh thiện, tài đức.  Sau Đức Cha Giacôbê, Đức Cha Tôma là một người cha âm thầm, khoan dung, độ lượng.  Người là cha nhưng lại có tấm lòng của một người mẹ.  Người luôn quan tâm đến nhu cầu của con cái mình. Một người cha hiền từ và nhẹ nhàng trước lỗi lầm của con cái. Người đã sống đúng với khẩu hiệu: "AMBULATE IN DILECTIONE" - "Hành trình trong Đức Ái" khi thi hành chức vị Chủ chăn, ngay trong hoàn cảnh khó khăn của Giáo phận.  Giờ đây, Giáo Hội đã mất đi một tông đồ trung kiên, nhiệt thành; Tòa Giám Mục Vĩnh Long thật sự trống tòa; Giáo phận Vĩnh Long thật sự vắng bóng Chủ Chăn, những người con trong giáo phận thật sự mất đi một người Cha nhân hậu.  Sao Chúa lại để điều này xảy ra?  Chúa muốn nói gì với chúng ta, những Linh Mục, Tu sĩ và giáo dân của Giáo phận Vĩnh Long, qua biến cố này?  Phải chăng đây là một thử thách của đức tin?

Cùng hành trình với Giáo Hội Mẹ trong năm Đức Tin, Giáo phận Vĩnh Long chúng ta cũng đã mừng kỷ niệm 75 năm thành lập Giáo phận vào  ngày 08. 01. 2013 vừa qua.  Với cuộc thăm viếng của Mẹ Thánh du đến các họ đạo, trong niềm tin, Đức Cha Tôma đã gởi gắm từng họ đạo, gia đình, từng cộng đoàn và mỗi người con của Giáo phận Vĩnh Long trong tay Mẹ Maria - "Mẹ của những người tin".  Qua nhiều biến cố xảy ra trong Giáo Hội hoàn vũ và cách riêng là Giáo phận Vĩnh Long trong năm Đức Tin này, chúng ta càng xác tín hơn lời Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI khi kết thúc Tự sắc Cánh Cửa Đức Tin (Porta Fidei) : "Chúng ta hãy phó thác thời điểm ân sủng này cho Mẹ Thiên Chúa.  Mẹ được tuyên xưng là 'Có phúc vì đã tin' (Lc 1, 45)." 

Thật vậy, Giáo Hội đã rất khôn ngoan khi đặt Năm Đức Tin dưới sự bảo trợ của Mẹ.  Mẹ là thụ tạo duy nhất sống trọn vẹn niềm tin vào Thiên Chúa.  Trong mọi hoàn cảnh, Mẹ đã triệt để đặt mình dưới bàn tay của Đấng mà Mẹ tôn thờ, kính yêu.  Dù trong bóng tối của tâm hồn khi phải nói lời "xin vâng" hay trong đau đớn tột cùng dưới chân thập giá, Mẹ đều tin tưởng, phó thác hoàn toàn cho Thiên Chúa.  Mẹ xứng đáng là mẫu gương sống đức tin.  Mẹ lại là người Mẹ rất mực yêu thương chúng ta, những người con yếu đuối, kém tin.

Vẫn còn đây lòng ngậm ngùi tiếc nhớ, vẫn còn đây những câu kinh âm thầm...  Đức Cha không còn trên cõi đời này nữa là một mất mát to lớn cho Giáo phận, một sự hụt hẫng trong tinh thần những người còn ở lại.  Nhưng với con mắt đức tin, chúng ta nhận ra rằng tất cả đều ở trong chương trình yêu thương của Thiên Chúa  Và như Mẹ Maria, dù chưa biết được Chúa muốn gì qua biến cố này, chúng ta vẫn cứ tin: Chúa đang thực hiện điều tốt nhất cho giáo phận và từng người chúng ta.  Đây là dịp để Chúa tôi luyện đức tin còn non yếu của chúng ta.  Điều quan trọng là mỗi người, mỗi thành phần trong giáo phận, với ơn Chúa Thánh Thần, biết mở lòng ra để đón nhận điều Chúa gởi đến, với niềm xác tín vào tình yêu quan phòng của Chúa.

Chúng ta có Mẹ Maria là nguồn trợ lực, niềm an ủi và sự cậy trông. Mẹ sẽ luôn ở kề bên nâng đỡ và hướng dẫn chúng ta trong hành trình đức tin.  Hãy đến với Mẹ để học nơi Mẹ lòng tín thác, niềm vậy trông và yêu mến.  Hãy để Mẹ dạy chúng ta cách thức thực hành đức tin trong cuộc sống hàng ngày bằng tình yêu thương và tình bác ái.

Lạy Mẹ Maria, mẫu gương đức tin của chúng con, chỉ có Mẹ mới có phương thế sống đức tin đẹp lòng Chúa nhất.  Xin cho chúng con được bước đi cùng Mẹ trên con đường đức tin.  Để trong bất cứ hoàn cảnh nào, chúng con vẫn trung thành với ơn gọi làm con Chúa như Mẹ và như Đức Cha Tôma kính yêu của chúng con.

MTG Cái Mơn

TRANG SỐNG ƠN GỌI

KHỦNG HOẢNG TRONG ĐỜI TU

Ai trong chúng ta khi bắt đầu đời sống tu trì hầu như đều giống nhau, các chàng trai thiếu nữ ít nhiều ngây thơ, ít nhiều ưu điểm, đầy nhiệt huyết, vui vẻ xin gia nhập các Dòng Tu.

Các năm đầu được huấn luyện với kỷ luật và khổ chế trong một khung cảnh lý tưởng.

Sau khi khấn, được làm việc mục vụ họ đạo, hoặc ở các cộng đoàn, tiếp xúc với một thực tại khác với điều mình tưởng tượng trong thời kỳ ở nhà Thử, nhà Tập.

- Một số ít cố gắng tiến tới đời sống trọn lành.

- Một số ít thối lui bỏ cuộc.

- Số đông đi dần đến chỗ "tầm thường" nguội lạnh.

Đời sống tầm thường có những đặc tính là các khủng hoảng: nhưng khủng hoảng rõ ràng đưa các phần tử đến chỗ "thảm bại", những khủng hoảng âm ỉ, khó thấy làm cho những người muốn phục vụ lại không cảm thấy hạnh phúc, và rất nhiều đã đi đến bất mãn.

Sự phản loạn bên trong thì ít thấy. Chính các đương sự cũng chỉ nhận biết tình trạng này khi cơn khủng hoảng đã phát triển mạnh. Vậy khủng hoảng là do đâu ?

Trong những đường hướng chung, các khủng hoảng có những đặc tính như sau:

- Khủng hoảng vâng phục: muốn được tự lập, tự quyết, không chấp nhận tất cả mệnh lệnh cách miễn cưỡng chỉ trích, chống đối quyền bính.

- Khủng hoảng khó nghèo: xao lãng trong việc sử dụng của chung; gắn bó quá đáng với của riêng; những mánh lới che dấu của riêng; cho hay nhận mà không xin phép.

- Khủng hoảng tình cảm: (không phải khủng hoảng khiết tịnh theo nghĩa hẹp) cảm thấy cô độc, có cảm tưởng mơ hồ là mình cần một điều gì đó, có thái độ tiêu cực trước vấn đề phái tính, nghĩa là không tự nhiên, thiếu lành mạnh, như sợ hãi quá đáng hay lưu tâm quá mức.

- Khủng hoảng hành động: hoạt động tự nhiên, nhắm đến thành quả hiệu năng bên ngoài, tìm thành công cá nhân... hay làm việc có vẻ hành chánh, không mấy hứng thú.

- Khủng hoảng tinh thần: kiêu căng, điên loạn, hoang tưởng, nổi loạn có tính cách tâm bệnh.

- Khủng hoảng đời sống cộng đoàn: khó sống với nhau, bất đồng ý kiến.

NGUYÊN NHÂN CỦA CÁC KHỦNG HOẢNG

- Sai lầm ngay lúc đầu khi thẩm định về các yếu tố làm nên ơn gọi, về khả năng thích nghi của đương sự vào đặc tính riêng của Hội Dòng, về sự vững chắc của các nguyên động xác định ơn gọi, về sự tự do nội tại thực sự của việc chọn lựa ơn gọi.

- Phương thế tuyển chọn các ơn gọi không thích hợp: dựa trên sự lôi cuốn của một con người hay của một công việc chớ không dựa trên ý nghĩa sâu xa của đời tu.

- Những sai lầm trong việc huấn luyện cơ bản: luôn kêu gọi quảng đại, hy sinh... thay vì đưa ra những ý hướng chủ lực của đời sống tu trì và lý tưởng kitô.

+ Huấn luyện có tính cách chung chung và chiếu lệ, không theo dõi sát từng cá thể.

+ Quan niệm việc đạo đức theo hướng tình cảm và vụ hình thức.

+ Có xu hướng giải quyết vấn đề cách vội vả và theo đam mê.

+ Không có việc thi hành trách nhiệm cá nhân.

+ Nhắm đến các giá trị trần gian và của cải vật chất.

+ Mất quân bình trong đời sống cá nhân, vệ sinh, sức khoẻ.

+ Dùng những phương dược, những phương thế chữa trị, sửa đổi quá trễ.

- Những sai lầm trong việc lựa chọn bề trên:

+ Vì thâm niên trong Dòng, uy tín trong Dòng, địa vị của gia đình, thân nhân ngoài đời, quen lớn với các bề trên thượng cấp.

+ Có giá trị thực sự nhưng không liên can đến chức vụ: đạo đức phi thường, khả năng quản trị, văn hoá cao.

+ Có trách nhiệm trước đó (có người được sinh ra để làm bề trên suốt đời).

+ Học giỏi, có bằng cấp cao, nhưng không thực tế.

- Những sai lầm trong cách cư xử của bề trên:

+ Quan niệm quyền bính tuyệt đối.

+ Tự hào luôn có sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần.

+ Không tôn trọng ban cố vấn cộng đoàn.

+ Thích cai trị hơn là phục vụ và thi hành đức ái.

+ Không tôn trọng sự khác biệt về tuổi tác của bề dưới.

+ Chỉ lo vấn đề quản trị mà không lưu tâm đến vấn đề huấn luyện và phục vụ các cộng đoàn.

- Thiếu bầu khí tín nhiệm:

+ Không chấp nhận sai lầm khi tin tưởng những kẻ đáng tin.

+ Không thể chấp nhận sự thật, dẫu nó đến từ đâu, cả khi sự thật làm ta phải đau khổ.

+ Thiếu hiểu biết: có khuynh hướng "in trí" bất tín nhiệm vĩnh viễn kẻ nào đã một lần lầm lỡ, từ chối có hệ thống lòng tốt của kẻ khác.

+ Nghi ngờ thiện ý, chỉ thẩm định sự kiện khách quan mà không lưu ý tới các điều kiện và ý hướng của các chủ thể, thiếu tin tưởng không thể đối thoại trực tiếp và cá nhân đến mức độ bệnh hoạn của sự bất khả thông hiệp, coi nhẹ điều bí mật được trao phó.

+ Thiếu những đức tín siêu nhiên mà đức bác ái là nền tảng.

Có thể nói khám phá ơn gọi thì chưa đủ. Nó cần được thâm nhập và hiểu mọi thứ về ơn gọi. Chúng ta nên định hướng ơn gọi từng bước một, hơn là mù quáng bước theo. Sự khủng hoảng là cách bình thường để ta xác thực và xác định lại ơn gọi, làm cho ơn gọi vững vàng hơn và bảo bảo đảm hơn. Với niềm tin và lòng quảng đại chúng ta xác tín khủng hoảng chỉ là phương thế thanh luyện ơn gọi.

TRANG THIẾU NHI

NÉT ĐẸP LÒNG TIN CỦA ĐỨC MARIA

Nói đến người nữ thông thường người ta sẽ nghĩ ngay đến vẻ đẹp. Vì người nữ được gọi là phái đẹp. Có thể nói không người nữ nào muốn mình xấu trong mắt người khác. Vì thế, rất nhiều người nữ đã tốn nhiều công sức và nhiều tiền bạc thậm chí nhịn ăn để làm đẹp cho mình. Dầu vậy, những cố gắng đó của nhiều người nữ cũng có ngày tàn phai theo năm tháng. Tác giả sách Giảng viên đã kinh nghiệm về những sự xảy ra trong cuộc đời này nên đã viết ra: "Ở dưới bầu trời này, mọi sự đều có lúc, mọi việc đều có thời"  (Gv 3,1).

Đối với người có đức tin vào Thiên Chúa thì những việc làm thể hiện lòng tin hằng ngày là cách làm đẹp bền vững và chắc chắn. Đức Maria quả thật là người phụ nữ biết làm đẹp mình bằng lòng tin. Được mời gọi cộng tác vào chương trình cứu độ, Mẹ không kiêu hãnh tự phụ mà luôn khiêm tốn dấn thân trọn vẹn. Mẹ dư biết mình không thể nào tự sức mình mà đảm nhận nổi vai trò Chúa mời gọi. Bằng lòng tin vào Chúa, Mẹ đã phó thác hoàn toàn cho Người.

Từ khi thưa hai tiếng "xin vâng", Mẹ đã đón nhận rất nhiều những sự không may mắn đến với mình. Những sự kiện xảy ra với chính bản thân Mẹ cũng như với Chúa Giêsu không làm Mẹ nản lòng mà là như thêm vững mạnh để Mẹ thêm lòng tin vào Chúa. Tất cả điều nào không hiểu, Mẹ đều để đó mà suy đi nghĩ lại trong lòng để tìm thánh ý Thiên Chúa. Không bao giờ có những lời phàn nàn trách móc nơi môi miệng của Mẹ.

Trong Tin mừng cũng có người phụ nữ Canaan đã biết làm đẹp mình bằng lòng tin. Thái độ và lời nói của Chúa Giêsu nhằm thử thách đã không làm cho bà nản chí. Câu trả lời của bà: "Vâng, lạy Ngài! Nhưng chó con cũng được ăn những mảnh vụn từ bàn của chủ rớt xuống!" (Mt 15, 27) đã làm cho Chúa Giêsu phải khâm phục: "Này bà! Bà có Đức Tin mạnh lắm! Bà muốn gì thì được như ý bà xin!"  (Mt 15, 28).

Ngày 27. 8 hằng năm Giáo hội mừng lễ Thánh Mônica bổn mạng các Bà mẹ Công giáo. Đây cũng là người phụ nữ biết trang điểm mình bằng lòng tin vào Chúa. Với sự kiên trì của lòng tin Chúa đã ban cho bà được toại nguyện: người chồng bạo lực và đứa con hư hỏng là  thánh Augustinô đã được ơn trở lại.

Năm đức tin mời gọi ta củng cố đời sống đức tin. Noi gương Đức Mẹ, người phụ nữ Canaan, thánh Mônica và nhiều người nữ đã biết làm đẹp mình bằng lòng tin mỗi người hãy có quyết tâm cho chính mình.

TRANG GIỚI TRÉ

Bài Giáo Lý XI của ĐTC Bênêđictô XVI về Năm Đức Tin:
Căn Tính của Chúa Giêsu


Dưới đây là bản dịch Bài Giáo Lý thứ mười một của ĐTC Bênêđictô XVI về Năm Đức Tin, được ban hành tại Sảnh Đường Phaolô VI, thứ tư ngày 02 tháng 01 năm 2013.

Anh chị em thân mến,

Lễ Giáng sinh của Chúa một lần nữa chiếu ánh sáng vào những bóng tối thường bao phủ thế gian và tâm hồn của chúng ta, cùng mang lại niềm hy vọng và niềm vui.  Ánh sáng này từ đâu đến? Từ hang đá Bethlehem, nơi các mục đồng tìm thấy "Đức Mẹ Maria và Thánh Giuse, cùng Hài Nhi nằm trong máng cỏ" (Lc 2:16).  Trước Thánh Gia này phát sinh một câu hỏi khác sâu xa hơn là: làm sao mà Hài Nhi bé nhỏ và yếu đuối này đã mang lại một sự mới lạ triệt để trên thế gian để thay đổi dòng lịch sử?  Chẳng phải là có một điều gì mầu nhiệm trong nguồn gốc của Người vượt ra ngoài hang đá ấy hay sao?

Câu hỏi về nguồn gốc của Chúa Giêsu luôn được người ta nhắc đi nhắc lại, cùng là một câu hỏi của quan Phongxiô Philatô trong phiên xử: "Ông từ đâu đến?" (Ga 19:29). Tuy nhiên, nguồn gốc của Người lại thật rõ ràng. Trong Tin Mừng Thánh Gioan, khi Chúa quả quyết: "Ta là bánh từ trời xuống," người Do Thái phản ứng bằng cách lẩm bẩm với nhau, "Ông này không phải là Giêsu, con ông Giuse sao? Chúng ta chẳng biết cha mẹ ông ta sao? Làm sao ông ta có thể nói, 'Ta từ trời xuống?'" (Ga 6:42).  Và, chẳng bao lâu sau đó, các công dân của Giêrusalem đã kịch liệt chống lại việc Chúa Giêsu tự nhận là Đấng Mêsia khi họ nói rằng "Nhưng chúng ta biết ông ta từ đâu đến; mà khi Đấng Mêsia đến, thì không ai biết Ngài từ đâu đến" (Ga 7:27). Chính Chúa Giêsu đã vạch ra việc họ nghĩ rằng họ biết nguồn gốc của Người là điều thiếu sót như thế nào, và cũng cung cấp một hướng đi để biết Người từ đâu đến: "Tôi không tự mình mà đến.  Đấng đã sai Tôi là Ðấng chân thật, mà các ông không biết Ngài." (Ga 7:28).  Tất nhiên, Chúa Giêsu phát xuất từ Nadareth, sinh ra tại Bethlehem, nhưng người ta biết gì về nguồn gốc thật sự của Người?

Trong bốn Tin Mừng, câu trả lời cho câu hỏi Chúa Giêsu "từ đâu" đến trở nên rõ ràng hơn: nguồn gốc thực sự của Người là Đức Chúa Cha, Thiên Chúa. Người đến hoàn toàn từ Ngài, nhưng bằng một cách khác biệt với bất kỳ ngôn sứ nào được Thiên Chúa sai đến trước Người.  Điều này bắt nguồn từ mầu nhiệm của Thiên Chúa, là Đấng "không ai biết", đã được chứa đựng trong tường thuật thời thơ ấu của các Tin Mừng Thánh Matthêu và Thánh Luca, mà chúng ta đọc trong mùa Giáng Sinh này. Thiên sứ Gabriel tuyên bố: "Chúa Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ bao phủ (rạp bóng) bà; vì vậy, Con Trẻ sắp sinh ra sẽ được gọi là Ðấng Thánh, là Con Thiên Chúa." (Lc 1:35).  Chúng ta lặp lại những lời này mỗi lần chúng ta đọc kinh Tin Kính, lời tuyên xưng đức tin: "et incarnatus est de Spiritu Sancto, ex Maria Virgine," "bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, Người đã nhập thể trong lòng Trinh Nữ Maria".  Trong câu này, chúng ta quỳ xuống [bản tiếng Anh dịch là cúi đầu] bởi vì bức màn che khuất Thiên Chúa có thể nói là được vén lên, và mầu nhiệm khôn dò và không thể tiếp cận được của Ngài trực tiếp chạm đến chúng ta: Thiên Chúa trở thành Đấng Emmanuel, "Thiên Chúa ở cùng chúng ta."  Khi chúng ta lắng nghe các bộ hát Thánh Lễ được sáng tác bởi các bậc thầy vĩ đại của thánh nhạc, thí dụ như Bộ Đại Thánh Lễ của Mozart, tôi thiết nghĩ rằng chúng ta nhận ngay ra rằng người ta ngừng lại một cách đặc biệt ở câu này, như thể để cố gắng diễn tả bằng ngôn ngữ phổ quát của âm nhạc điều mà lời nói không thể nào diễn tả nổi: mầu nhiệm cao cả của Thiên Chúa nhập thể, làm người.

Nếu chúng ta xem xét cẩn thận lời cụm từ "bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, Người đã nhập thể trong lòng Trinh Nữ Maria," chúng ta thấy rằng cụm từ này bao gồm bốn chủ thể hành động.  Chúa Thánh Thần và Đức Mẹ Maria được đề cập một cách rõ ràng, nhưng "Người", nghĩa là Chúa Con, Đấng đã trở thành nhục thể trong lòng Đức Trinh Nữ, được hiểu ngầm.  Trong lời tuyên xưng đức tin, Kinh Tin Kính, Chúa Giêsu được nhắc đến bằng những danh hiệu khác nhau: "Lạy Chúa, ... Đức Kitô, Con Một Thiên Chúa ... Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, ánh sáng bởi ánh sáng, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật... đồng bản thể với Đức Chúa Cha" (Nicê-Constantinople).

Như thế chúng ta thấy rằng "Người" ám chỉ một ngôi vị khác, là Chúa Cha.  Do đó chủ thể thứ nhất của câu này là Chúa Cha, Đấng là Thiên Chúa duy nhất cùng với Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

Lời khẳng định này của Kinh Tin Kính không nói về hữu thể vĩnh cửu của Thiên Chúa, mà đúng hơn là nói về một hành động có sự tham gia của Thiên Chúa Ba Ngôi và được thể hiện "ex Maria Virgine (bởi Đức Trinh Nữ Maria)".  Nếu không có Mẹ, việc Thiên Chúa bước vào lịch sử nhân loại sẽ không đạt đến cùng đích của nó và điều là trung tâm của lời tuyên xưng đức tin của chúng ta: Thiên Chúa là một Thiên Chúa ở cùng chúng ta, cũng không xảy ra.  Vì vậy, Đức Mẹ, một cách không thể chối cãi được, thuộc về đức tin của chúng ta vào Thiên Chúa, là Đấng hành động, là Đấng can thiệp vào lịch sử.  Mẹ hiến dâng toàn thể con người của Mẹ, "đồng ý" trở thành nơi cư ngụ của Thiên Chúa.

Đôi khi, ngay cả trong cuộc hành trình và cuộc sống đức tin của mình, chúng ta có thể cảm thấy sự nghèo nàn của mình, sự bất cập của mình trước việc làm chứng tá để cung ứng cho thế giới.  Nhưng Thiên Chúa đã chọn một người phụ nữ khiêm hạ, trong một ngôi làng vô danh, trong một tỉnh hẻo lánh nhất của đại đế quốc Rôma.  Ngay cả giữa những vấn đề khó khăn nhất phải đương đầu, chúng ta phải luôn luôn tin tưởng vào Thiên Chúa, đổi mới đức tin vào sự hiện diện và hành động của Ngài trong lịch sử của chúng ta, như của Đức Mẹ Maria.  Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể được!  Với Ngài, cuộc sống của chúng ta luôn luôn bước đi trên đất vững vàng và mở ra cho một tương lai đầy hy vọng chắc chắn.

Khi tuyên xưng lời Kinh Tin Kính: "bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, Người đã nhập thể trong lòng Trinh Nữ Maria," chúng ta khẳng định rằng Chúa Thần Thánh, như quyền năng của Thiên Chúa Tối Cao, đã làm việc một cách mầu nhiệm trong việc thụ thai Con Thiên Chúa của Đức Trinh  Nữ Maria.  Thánh sử Luca ghi lại lời của Tổng Lãnh Thiên Thần Gabriel, "Chúa Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ bao phủ bà" (1:35). Có hai quy chiếu rõ ràng: thứ nhất là vào lúc tạo dựng.  Ở đầu Sách Sáng Thế Ký, chúng ta đọc rằng "Thần Khí của Thiên Chúa đã là là trên mặt nước" (1:2); chính Thần Khí Tạo Dựng, là Đấng ban sự sống cho tất cả mọi sự và nhân loại.

Điều xảy ra trong Đức Mẹ Maria, nhờ tác động của Thần Khí Thiên Chúa, là một việc tạo dựng mới: Thiên Chúa, Đấng làm cho mọi sự hiện hữu từ hư không, nhờ mầu nhiệm Nhập Thể ban sự sống cho một khởi đầu mới của nhân loại.  Các Giáo Phụ thường nói về Đức Kitô như Ađam mới, để đánh dấu sự khởi đầu của việc tạo dựng mới từ việc giáng sinh của Con Thiên Chúa trong cung lòng Đức Trinh Nữ Maria.  Điều này làm cho chúng ta suy nghĩ về cách thế làm sao để đức tin cũng làm phát sinh trong chúng ta một sự mới mẻ mạnh mẽ đến độ gây ra một cuộc tái sinh. Thực ra, ngay từ đầu đời sống Kitô hữu đã có bí tích rửa tội làm cho chúng ta được tái sinh thành con cái Thiên Chúa, chúng ta được thông phần vào mối liên hệ con thảo của Chúa Giêsu với Chúa Cha. 

Tôi muốn vạch ra rằng Bí Tích Rửa Tội mà chúng ta đã lãnh nhận, việc chúng ta "được rửa tội", là điều thụ động - bởi vì không ai tự mình có khả năng trở thành con cái Thiên Chúa: đó là một món quà nhưng không.  Thánh Phaolô nhắc đến việc được nhận làm nghĩa tử này của các Kitô hữu trong một đoạn chính của Thư gửi tín hữu Rôma, ngài viết: "Tất cả những ai được Thần Khí Thiên Chúa hướng dẫn, đều là con cái Thiên Chúa. Vì anh em đã không nhận được thần khí nô lệ làm cho anh em lại phải sợ hãi, nhưng anh em đã nhận Thần Khí làm nghĩa tử, bởi đó cho chúng ta kêu lên, 'Abba! Cha ơi'" Chính Thần Khí làm chứng cho thần trí chúng ta rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa." (8:14-16), chứ không là nô lệ.  Chỉ khi nào chúng ta mở lòng ra cho Thiên Chúa, như Đức Mẹ Maria, chỉ khi nào chúng ta phó thác cuộc đời của mình cho Chúa như một người bạn mà chúng ta hoàn toàn tin tưởng, thì mọi sự sẽ thay đổi, cuộc đời của chúng ta sẽ có một ý nghĩa mới và một khuôn mặt mới: khuôn mặt của những người con của một Chúa Cha, Đấng đã yêu thương chúng ta và không bao giờ ruồng bỏ chúng ta.

Chúng ta đã nói về hai yếu tố: yếu tố thứ nhất là Thần Khí trên mặt nước, Thần Khí Tạo Dựng; còn có một yếu tố khác trong những lời Truyền Tin.

Thiên sứ nói cùng Đức Mẹ Maria: "Quyền năng của Đấng Tối Cao sẽ bao trùm bà".  Đó là một lời nhắc đến đám mây thánh trong cuộc hành trình Xuất Hành, ngừng lại ở Hội Mạc (Lều Tạm), hòm bia giao ước, mà dân Israel đem theo với họ, và biểu thị sự hiện diện của Thiên Chúa (x. Xh 40 ,40:34-38).  Như thế Đức Mẹ Maria là Lều Tạm thánh mới, là Hòm Bia mới của Giao Ước: qua lời thưa "xin vâng" của Mẹ với những lời của Tổng Lãnh Thiên Thần, Thiên Chúa nhận được một nơi cư ngụ trong thế gian này, Đấng mà cả vũ trụ không thể chứa nổi đã đến để cư ngụ trong cung lòng một trinh nữ.

Như thế, chúng ta hãy trở lại câu hỏi mà chúng ta đã mở đầu, nguồn gốc của Chúa Giêsu, được tổng hợp bởi câu hỏi của Philatô: "Ông từ đâu đến?"  Những suy nghĩ của chúng ta làm sáng tỏ, từ đầu các sách Tin Mừng, nguồn gốc thực sự của Chúa Giêsu là gì: Người là Con Một Chúa Cha, Người đến từ Thiên Chúa.  Chúng ta đứng trước mầu nhiệm cao cả và sửng sốt mà chúng ta cử hành trong Mùa Giáng Sinh này:  Con Thiên Chúa, nhờ tác động của Chúa Thánh Thần, đã nhập thể trong lòng Đức Trinh Nữ Maria.  Đây là một lời loan báo vang lên âm thanh luôn luôn mới mẻ, và mang trong nó niềm hy vọng và niềm vui cho tâm hồn chúng ta, bởi vì mỗi lần lời loan báo ấy vang lên nó ban cho chúng ta sự chắc chắn rằng, mặc dù chúng ta thường cảm thấy yếu đuối, nghèo nàn, không có khả năng đương đầu với những thách thức và sự dữ trong thế gian, quyền năng của Thiên Chúa luôn luôn hoạt động và thực hiện những kỳ công trong sự yếu đuối.  Ân sủng của Ngài là sức mạnh của chúng ta (x. 2 Corinthians 12:9-10). 

Cảm ơn anh chị em.

Nguồn: giaoly.org
Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

TRANG GIA ĐÌNH

Con cái mong muốn điều gì ở Cha Mẹ?

Tình cảm, tâm lý, lối sống của con có được là nhờ sự dạy dỗ, chăm sóc của cha mẹ. Nhưng đến từng độ tuổi nhất định, trẻ sẽ có sự hiểu biết, cảm thông và mong muốn riêng của chúng. Bạn có biết rằng 7 yếu tố sau đây là mong muốn của trẻ ở mọi lứa tuổi không?

Không muốn cha mẹ cãi nhau trước mặt chúng: Trẻ con có khuynh hướng bắt chước bố mẹ. Cách bạn giải quyết những mâu thuẫn, xung đột gia đình sẽ tác động đến tâm lý và hành vi của trẻ. Vì thế, các bậc phụ huynh hãy kiềm chế và xử lý bất đồng trong ôn hòa, nhã nhặn.

Muốn cha mẹ đối xử công bằng: Đối xử công bằng với con cái không phải là bằng mọi thứ. Mỗi đứa con là một cá thể độc lập, nhưng tất cả chúng đều cần tình yêu thương và sự cảm thông như nhau.

Cha mẹ là những người thành thật: Khi bạn bảo người tiếp thị qua điện thoại rằng bạn không có ở nhà nhưng thực tế bạn đang ngồi cạnh các con trong phòng khách, bạn đã gieo vào đầu con ý nghĩ không tốt về sự nói dối của người lớn.

Niềm nở với bạn bè của con: Nếu con đưa bạn về nhà chơi, bạn sẽ dễ dàng nhận biết con mình kết thân với những ai và giúp con định hướng tình bạn. Vì thế, bạn hãy rộng mở cánh cửa đón chào bạn của các con.

Cha mẹ là những người biết lắng nghe và giải đáp: Có bao giờ bạn cảm thấy có lỗi khi nói với con: "Bây giờ bố mẹ bận lắm. Chúng ta hãy nói về việc này sau nhé!". Và vấn đề ấy bị lãng quên, không được đề cập đến dù thời gian "sau này" không biết đã qua bao nhiêu lần. Hãy dành thời gian để giải đáp những thắc mắc của con cái. Nếu bạn không có câu trả lời thì nên ghi nhận lại và giúp con tìm lời giải đáp sau.

Không kỷ luật con trước mặt người ngoài: Cha mẹ có thể phạt trẻ khi cần thiết nhưng không nên thực hiện trước mặt người lạ, đặc biệt là bạn bè của con. Chúng cũng cần được tôn trọng và đối xử như người lớn.

Tập trung vào ưu điểm của con: Bạn hãy ghi nhận những điểm tốt và điểm chưa tốt của con và lựa lúc thích hợp chỉ ra cho chúng thấy để phát huy mặt mạnh và hạn chế mặt yếu.

Nguồn: meyeucon.org

ĐỨC MARIA GƯƠNG  MẪU GƯƠNG ĐỜI SỐNG ĐỨC TIN

Gia đình tôi, một gia đình ngoại mới trở lại với Chúa không lâu. Lý do trở lại cũng rất giản dị: người chồng và cha của gia đình bị tai biến khá nặng, ông là lao động chính nuôi dưỡng gia đình sáu miệng ăn: cha mẹ và 4 người con hai trai hai gái.

Ngày chồng tôi bị tai biến, gia đình tôi vô cùng bối rối , hụt hẫng, đêm tối bao phủ tuyệt vọng không thấy ngày mai. Nỗi buồn lộ hẳn trên khuôn mặt. Thương chồng, tôi chạy chữa lo thuốc thang cho chồng, an ủi ông. Ông đang đường hoàng là người gánh vác gia đình, bây giờ lại àl kẻ bất lực, trở thành kẻ gia đình phải gánh vác. Ông mặc cảm vì là gánh nặgn cho gia đình.

Đang lúc gia đình tôi buồn rầu, chao đảo thì một gia đình công giáo tốt bụng ở sát vách nhà tôi, biết chuyện khốn khó của gia đình tôi nên sãn sàng giang tay giúp đỡ: an ủi tôi, cjia sẻ với tôi và gia đình về tình trạng thiếu thốn, đặc biệt là nâng đỡ tinh thần với niềm hy vọng ngày mai trời lại sáng.

Bà vợ hoàn toàn hiểu được hoàn cảnh gia đình tôi lúc này, bfan ủi tôi và gia đình hãy tin tưởng chạy đến ông trời, ông trời có mắt, có tâm, có tình. Ông đặt gánh nặng cho gia đình nhưng chính ông cũng bớt gánh nặng cho gia đình. Chính ông nói "Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghĩ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi và hãy học với tôi vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được bình an. Vì ách  của tôi êm ái, và gánh của tôi nhẹ nhàng" (Mt 11, 28-30).

Bà giúp tôi cầu nguyện đơn sơ vắn tắt với niềm hy vọng Ông Trời sẽ thương chồng tôi và gia đình tôi. Bà đã giúp chúng tôi đọc kinh Lạy Cha với niềm tin tưởng phó thác và vâng phục. Gia đình tôi từ từ có sự bình an. Sự bình an của Cháu ban giữa gian nan khốn khó, vui nhận, vui chịu theo ý trời.

Bà chia sẻ tình trạng thiếu thốn của gia đình tôi: thiếu ơn Chúa, không biết chạy chữa chồng tôi ra sao, thiếu tiền bạc xoay xở. Bà đã dùng khả năng của mình nâng đỡ sự khốn khó của gia đình tôi. Bà đã đưa bác sĩ đến khám bệnh, chăm sóc cho toa, bà đã mời thầy đông y châm cứu, giới thiệu y tá giúp vật lý trị liệu. Chính bà một phần cho luôn và một phần cho vay tiền bạc trang trải thuốc men. Đặc biệt, bà giúp 2 người con trai và gái lớn của tôi có công ăn việc làm để thay cha bệnh nuôi sống gia đình. Lòng tốt của bà và sự quãng đại của gia đình bà nâng đỡ chúng tôi can đảm đối đầu với gian nan, thử thách.

Để nâng đỡ tinh thần và bơm vào gia đình tôi  một niềm hy vọng ngày mai trời lại sáng, bà kể cho chúng tôi nghe về người Mẹ khốn khổ nhưng diễm phúc. Bà xin chúng tôi hãy noi gương tin tưởng và cầu nguyện với bà Mẹ này, mong được Mẹ giúp đỡ. Bà kể cho chúng tôi: bà Mẹ tuyệt đối tin tưởng, cộng tác với Chúa. Chúa muốn bà Mẹ nầy trở thành Mẹ Đấng Cứu Thế, tận tụy tuân phục ý Chúa, sống đẹp lòng Chúa. Theo ý Chúa bà Mẹ này đến miền núi thăm người chị em già cả mang thai con trai gần sinh để giúp mẹ con bà này. Bà Mẹ độc đáo đó được người chị em phát giác ca ngợi, bà đã ca ngợi Thiên Chúa, Đấng làm mọi sự lạ lùng.

Rồi ở Bêlem bà Mẹ ấy đã sinh con trai trong lời ca tiếng hát bình an của thiên sứ, với sự viếng thăm, thờ lạy, loan báo của đám mục đồng nghèo. Nghe tin nhà vua muốn giết con mình, bà cùng chồng vội vã đem con qua Ai Cập lánh nạn, bà Mẹ nầy hoàn toàn phó thác, vâng theo ý Chúa không hề kêu ca, phàn nàn, trách móc. Ngày thần sứ chỉ bảo, bà Mẹ ấy cùng chồng đem con về Nazaret, sống đạm bạc nghèo nàn, hòa hiệp với bà con chòm xóm.

Lúc Con ra đi rao giảng Tin Mừng cứu độ, bà Mẹ ấy theo Con, vui mừng với Con vì thành công, chia sẻ với con vì bị chống đối, đau khổ với Con vì bị giới lãnh đạo Do Thái chống đối, mượn tay kẻ cầm quyền ngoại giáo giết chết Con một dấu yêu của bà. Bà Mẹ kỳ diệu ấy chứng kiến và hiệp thông với con cho đến chết tức tưởi trên thánh giá. Với niềm tin vững mạnh vào Thiên Chúa quyền năng, bà Mẹ đau khổ ấy chờ đợi Người Con của bà vâng theo ý Chúa sẽ phục sinh. Bà đã vui mừng thấy Con của bà từ cõi chết sống lại, đem hạnh phúc và sự sống vinh quang đến cho mọi người tin.

Bà bảo tôi và gia đình hãy khiêm tốn, yêu mến, chạy đến cầu xin Đức Maria, chính là Mẹ của Chúa Giêsu, Con Một Thiên Chúa làm người. Gia đình chúng tôi đã hằng ngày chạy đến với Đức Maria, nài xin Bà cầy bầu cùng Chúa cho gia đình. Niềm tin yêu và hy vọng của chúng tôi vào Thiên Chúa, qua lời cầu bầu của Đức Maria có kết quả: gia đình chúng tôi không buồn phiền sầu não, cuộc sống của chúng tôi cũng ổn định, cơn bệnh của chồng tôi đã thuyên giảm từng ngày. Chồng tôi có thể đi lại, tự lo vệ sinh sạch sẽ cho bản thân...

Nhờ ơn Chúa, gia đình tôi được đầm ấm vui vẻ. Chúng tôi quyết định học biết Chúa để theo Chúa đến cùng. Hằng ngày chúng tôi theo gương Mẹ Maria và bắt chước Mẹ vững tin vào Chúa.

Gia đình tôi hết lòng biết ơn gia đình Công giáo tốt bụng đã cưu mang, an ủi, tận tình giúp đỡ, và hướng dẫn gia đình chúng tôi vào con đường cứu độ.

TRANG GIÁO LÝ VIÊN

HUẤN LUYỆN SƯ PHẠM (tt)

4. Chúa Giêsu tóm tắt ý chính thành những câu ngắn gọn :

Sau khi giải thích, Chúa đúc kết thành những câu ngắn, rất giản dị nhưng sâu sắc. Thí dụ :         

- Hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng...

- Ai tin sẽ được, ai tìm sẽ thấy...

- Kẻ gọi thì nhiều, chọn thì ít...

- Kẻ trước hết sẽ nên sau hết...

- Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống...

Tóm tắt bài học là một điều rất quan trọng trong khi dạy giáo lý. Sau khi phân tích giảng giải để hiểu, giáo lý viên xác định đâu là điều cần ghi nhớ ? Bộ não của chúng ta không đủ để ghi nhận từng lời nói, cử chỉ trong khi tiếp nhận. Vì vậy việc tóm tắt những điều đã hiểu thành những ý chính để ghi vào bộ nhớ là giai đoạn cuối cùng của việc truyền đạt. Có khi cả bài giáo lý đạo đức chỉ tóm lại ở 4 chữ: " Ở hiền gặp lành", một em bé cũng có thể nhớ được. Nhiều người nên thánh là nhờ cả cuộc đời sống với một câu danh ngôn hay châm ngôn, hay một câu nói của ai đó. Thí dụ Thánh Inhaxiô luôn tâm niệm : " Được lời lãi cả thế gian mà thiệt mất mạng sống thì nào có ích chi ?" (Mc 9, 36).

Trong mỗi bài giáo lý, giáo lý viên tóm tắt bài giáo lý thành những câu ngắn gọn với đầy đủ ý chính cần thiết để các em học thuộc lòng. Những gì được học thuộc lòng sẽ giúp các em ghi khắc trong ký ức. Điều gì được lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ dễ dàng được bật ra để áp dụng vào cuộc sống.

5. Ngài dùng cách đặt vấn đề

Ngài đặt câu hỏi liên quan đến người nghe, kích thích tính học hỏi, tạo sự chú ý theo dõi, thí dụ :

- Các ngươi thấy gì trong sa mạc ? (Lc 7,24)

- Anh muốn tôi làm gì cho anh ? (Lc 18,41)

- Các con bảo Thày là ai ? (Mt 16,15)

- Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn nào ích gì ? (Mc 8,36)

- Các ông không nghe đọc trong sách à ? (Mt 12,3).

- Anh có tin là tôi làm được điều ấy không ? (Mt 10,28)

Ngày nay, ai cũng nhận thấy rằng lối độc thoại trong phương pháp giảng dạy là lỗi thời. Người ta thích đối thoại, hai bên cùng làm việc, học sinh thích tham gia, động não. Câu hỏi của thầy cô đặt ra sẽ kích thích suy tư, tạo ra nỗi thao thức. Giáo lý viên cần biết đưa ra những câu hỏi trong khi dạy giáo lý để giúp các em biết suy tư sâu hơn, biết nảy sinh những sáng kiến, biết chủ động trong việc hiểu bài. Giáo lý viên nên tìm những câu hỏi gợi mở, mang tính dẫn dắt. Bằng phương pháp này, giáo lý viên giúp các em biết trao đổi ý kiến với người khác, tích cực đóng góp, chịu khó tìm tòi sáng tạo, và hiểu bài một cách tự tin hơn.

Ngày nay người ta không thích dạy giáo lý bằng phương pháp "Hỏi đáp" theo kiểu "giáo lý viên đặt một câu hỏi và đứa trẻ phải đáp đúng từng chữ theo trong sách" nữa, nhưng cách đối thoại giữa thầy và trò, giữa giáo lý viên và các em học giáo lý, vẫn luôn hợp thời. Người ta biết rằng đó là một cách dễ và có hiệu quả để kiểm tra những gì đã tiếp thu được. Lối đối thoại, trao đổi, chia sẻ có chỗ đứng quan trọng trong mọi khoa sư phạm.

6. Ngài nhắc lại một chủ đề bằng nhiều hình thức khác nhau

Khi trình bày một chân lý nào, Chúa Giêsu thường dùng nhiều hình thức khác nhau để người nghe dễ hiểu, dễ nhớ và không nhàm chán. Thí dụ khi minh họa lòng yêu thương tội nhân, Chúa dùng dụ ngôn con chiên lạc, đồng bạc bị mất, người cha nhân hậu...

Với cùng một đề tài giáo lý, giáo lý viên có thể dùng nhiều hình thức minh họa khác nhau chẳng hạn như xem tranh, xem video, ca hát, băng reo, kể chuyện, diễn nguyện... Khi biết thay đổi bầu khí, các em sẽ không nhàm chán, hoặc cảm thấy thời gian học quá lâu. Giáo lý viên luôn luôn tìm tòi những hình thức truyền đạt, cung cách giảng dạy mới lạ, để việc dạy giáo lý được hấp dẫn hơn.

Vào những năm gần đây, việc huấn giáo đã sử dụng rộng rãi những phương tiện hỗ trợ cho nội dung bài giáo lý : bên cạnh một quyển sách chính thích hợp với tuổi, với trình độ văn hóa và với giai đoạn hiện tại của các em, người ta sử dụng thêm "những tài liệu tốt nhất cho đức tin". Việc dùng Tân ước và các bản văn Kinh Thánh đã trở nên quen thuộc ngay từ lúc chín hoặc mười tuổi. Thường thường giáo lý viên cung cấp thêm nhiều yếu tố khác, sách, tạp chí, các bài thơ hay sách truyện, kinh nguyện hay bài hát, hình ảnh hay bích chương, để các em sử dụng. Nhiều nơi, việc dựng các phim nghe nhìn và các băng "audio" và "vidéo" cung cấp một lối khác nữa đế tiếp cận chủ đề được học hỏi.

Các lợi điểm của một phương pháp như thế thì rất nhiều, để giúp các em nhỏ trở nên linh hoạt. Các em dễ dàng đạt tới các nguồn cội của đức tin, cách trực tiếp chứ không phải chỉ qua các lựa chọn và các lời chú giải của người lớn. Như vậy việc huấn giáo phải làm sao hòa trộn nguồn cội đức tin với màu sắc của thời đại.

7. Ngài trình bày cụ thể, sinh động, hợp với người nghe:

Những người nghe Chúa đa số là người bình dân, chất phác, không có học. Chúa đặt mình vào tầm hiểu biết của họ, nói những gì họ có thể hiểu, giải đáp những điều họ thắc mắc. Chúa nói bằng chính ngôn ngữ của họ. Do đó họ cảm thấy không chán và đã thú nhận : "Thật chưa thấy ai giảng dạy như ông này ". Giáo lý viên cũng phải nắm vững đối tượng giảng dạy để có một giáo án phù hợp tìm cách ứng dụng khéo léo vào từng hoàn cảnh cụ thể. Đối với các em ở thôn quê, nên dùng những hình ảnh cụ thể, những lời nói đơn sơ dễ hiểu... những em ở thành thị nên dùng tranh ảnh, hoạt cảnh, đóng kịch... để Lời Chúa trở thành gần gũi với tất cả mọi người giàu nghèo hay sang hèn, trí thức hay bần nông...

Tóm lại, Chúa đã dạy dỗ dân chúng như một người thầy dẫn con trẻ từ tuổi thơ tiến dần đến tuổi trưởng thành, theo những giai đoạn liên tiếp khác nhau, thích nghi với tâm trạng và tuỳ theo lịch trình tiến hóa của họ.

Để theo gương Chúa, giáo lý viên phải là người luôn gặp gỡ, yêu mến và nên một với Đức Kitô để có thể chia sẻ kinh nghiệm của mình cho các học viên. Ngoài ra cần học hỏi thêm về Chúa và tìm đủ mọi phương cách thích hợp giúp học viên đón nhận Lời Chúa.

Kết luận:

Để gặp được Đức Giêsu và nên một với Ngài, giáo lý viên cần có những điều kiện như điều kiện mà Đức Giêsu đòi hỏi ba môn đệ đã chứng kiến việc Ngài biến hình. Đức Giêsu "đem theo họ", "đưa họ lên núi cao" để "họ ở đó với Ngài".

Gặp gỡ Đức Giêsu và hiểu biết Ngài không dừng nơi sách vở, nhưng qua kinh nghiệm tiếp xúc giữa ta với Ngài trong cầu nguyện. Qua kinh nghiệm cầu nguyện, ta sẽ không bao giờ ngừng tìm hiểu về Đức Giêsu : "Hãy tìm sẽ gặp". Đúng vậy, nhưng gặp rồi phải tìm nữa. Càng gặp càng muốn tìm thêm. Hãy gặp Chúa Giêsu bằng cách đọc và suy niệm Tin Mừng, vì Tin Mừng là trường học dậy cho ta biết về Ngài. Lời Ngài và chân dung của Ngài sẽ thấm nhuần lòng ta.

Đi vào trường học của Đức Giêsu có nghĩa là "học với Ngài". Học hàng ngày và từng chút một. Học trong sự dễ dậy và kiên trì. Điều này đòi hỏi một sự thân thiết hàng ngày với Đức Giêsu : ngồi gần Ngài, lắng nghe Ngài. Người khác có thể nói cho ta về sứ điệp của Đức Giêsu thạt hay, thật hiệu quả, nhưng mãi mãi họ chỉ là người phụ đạo. Chỉ một mình Ngài mới là Thầy dậy, là suối nguồn của mọi giáo huấn.

Học với Đức Giêsu để biết Ngài là ai. Đức Giêsu mạc khải cho ta dung mạo của Ngài : "hiền lành và khiêm nhượng trong lòng" (Mt 11, 29). Phải chăng dung mạo của Ngài quá đơn sơ ? Phải chăng điều Ngài muốn ta học quá ít ? Không đâu! Nếu chúng ta muốn thấy được sự phong phú của lời mời gọi này, ta hãy khám phá con người Đức Giêsu bằng cách nghiền ngẫm Tin Mừng. Đức Giêsu không nói với Tôma: "Thầy chỉ cho anh em đường đi, dậy cho anh em sự thật, cho anh em sự sống" mà nói : "Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống" (Ga 14, 5-6).

Nhưng làm sao để giữ cho chân dung Đức Giêsu khỏi nhạt nhòa trong ta ? Một chân dung với vẻ đẹp không thể là công trình của một phút hay một ngày mà là của hàng tháng, hàng năm, có khi cả một đời. Một chân dung hời hợt về Đức Giêsu chỉ là nét vẽ trên nước, một gợn sóng cũng đủ làm tan biến. Ta phải hình thành bức chân dung Đức Giêsu cách sâu xa với thời gian đủ dài. Đúng hơn, ta phải để cho chính Chúa Giêsu khắc họa đường nét của Ngài vào lòng ta. Vẻ đẹp nơi chân dung Đức Giêsu chẳng những thu hút mà còn tác động và biến đổi đời ta.

Vậy giáo lý viên học hỏi nơi Đức Kitô để sống gắn bó với Thiên Chúa và tiếp nhận mọi người được trao phó cho mình. Họ có thể là người rất thành tâm thiện chí nhưng cũng có thể là những người sống xa rời chân lý đức tin. Điều quan trọng là giáo lý viên biết đặt họ trên con đường, trao cho họ niềm thích thú lên đường, tung ra lời kêu gọi họ tin, mời họ trải qua một kinh nghiệm tương tự với các kinh nghiệm của các môn đệ đầu tiên : "Hãy đến mà xem" (Ga 1,30)

Giáo lý viên là người dẫn đường, nghĩa là không được trở thành vật cản trong việc đưa người khác đến với Đức Kitô, nhưng trở thành tôi tớ của Lời Chúa, là người chấp nhận mất tất cả để được Đức Kitô (xem Pl 3,8). Như thế, giáo lý viên là một tôi tớ vô ích sau khi đã là tôi tớ cần thiết của Đức Kitô. Họ mang trong lòng một hai nỗi đam mê : đam mê Tin Mừng và đam mê rao giảng Tin Mừng cho mọi người. Họ theo gương Đức Kitô gặp gỡ Thiên Chúa trong tình con thảo và gặp gỡ anh chị em trong tình bạn.

Tu Viện Mân Côi Chí Hòa

TRANG QUỚI CHỨC

TRỒNG CHUỐI LẤY CON

Câu "trồng chuối lấy con" không còn lạ gì đối với những người có đạo. Nhưng hiểu thế nào cho đúng lại là một vấn đề.

Trồng một cây chuối, sau một năm người ta thu hoạch được một buồng và hơn thế, người trồng còn có thêm một bụi, những cây chuối con mọc từ gốc cây mẹ mà người ta đã trồng. Như thế là nhất cử lưỡng tiện !

Hình ảnh đó cũng giống như việc mời gọi một người chưa biết Chúa trở thành người công giáo để rồi sau đó người ấy sanh con đẻ cái sau này trở thành một dòng tộc đông đảo và tất nhiên chúng ta ai cũng nghĩ rằng con cháu của họ sẽ là người công giáo.

Trên lý thuyết là thế, nhưng trong thực tế có một vấn đề thường xãy ra. Đó là cây chuối mà người ta trồng là chuối gì ? việc trồng chuối có đúng cách hay không ?

Nếu cây chuối được trồng bị nhiễm bệnh (chuối sùng) thì "công dã tràng", mất công chăm sóc mất cả tiền của mà chẳng thu được gì, lại đem mầm bệnh đến cho cả đám chuối. Lợi bất cập hại !

Nếu trồng không cẩn thận, cân sẽ ngã, chẳng ăn được trái nào, những cây con bị trồi gốc, ốm yếu, chỉ tốn công chặt bỏ mà thôi !

Người dự tòng cũng giống như cây chuối, không nói đến họ là loại chuối nào nhưng chúng ta cần quan tâm đến việc "trồng" họ. Nhiều người cứ nghĩ cứ dạy cho họ một ít rồi sau này họ đọc kinh đi lễ sẽ hiểu biết thêm. Điều này nghe thật lý tưởng nhưng thật là mạo hiểm. Trồng một cái cây mà chỉ cần nhổ lên rồi quăng trên mặt đất, không xới đất, không ủ gốc, không điểm tựa...cây đó có sống được không ? Chỉ cho người ta gặp một người mà chỉ cho họ biết vỏn vẹn một cái tên thì có phải làm khó cho họ không ?

Chúa Giêsu chính là Lời ban sự sống, chúng ta chỉ có thể sống nhờ lời khôn ngoan đến từ Thiên Chúa vì thế chúng ta cần phải học cho thấu đáo Lời ấy và hãy truyền đạt một cách cẩn trọng và đầy đủ Lời ấy cho người khác để họ cũng gặp được Chúa Giêsu, Lời ban sự sống, để họ cũng được sống và truyền lại một cách trọn vẹn sự sống ấy cho con cháu họ.

SỐNG ĐẸP

ĐTC Phanxicô Và Ông Thợ Đóng Giầy Samaria

Câu chuyện về Đức Thánh Cha Phanxicô và ông thợ già đóng giầy không những cho thấy đức tính giản dị khó nghèo của ngài mà còn thể hiện mối quan hệ lâu bền giữa một khách hàng quen thuộc với ông thợ chủ tiệm.

Được biết trong suốt 40 năm qua khi còn ở Buenos Aires, Argentina, ông thợ đóng giầy đến nay đã 81 tuổi chuyên sửa lại những đôi giầy cũ cho Đức Thánh Cha Phanxicô. Những đôi giầy ngài sử dụng có màu đen và thường hết sức đơn giản. Đến nay khi đã ở Vatican, Đức Thánh Cha vẫn không quên ông ta. Ngài trực tiếp gọi điện thoại để đặt giầy, và căn dặn ông vẫn cung cấp cho mình những đôi giầy như trước đây.

Tại sao trong cương vị giáo hoàng, Đức Thánh Cha Phanxicô lại vẫn tự mình xoay xở những việc cá nhân mà không hề nhờ vả một ai ? Tại sao ngài phải đặt giầy tận bên quê nhà mà không nhờ ai ra cửa tiệm bình dân ở Rôma để mua cho mình loại giầy rẻ tiền ? Một điều khác thật khó hiểu khi mà thời nay người ta vốn bị lôi cuốn bởi những quảng cáo về các loại đồ dùng hết sức hấp dẫn đối với chất lượng và mẫu mã. Nếu có một thương hiệu mới, thời nay người ta muốn ngay lập tức mình phải là khách hàng đầu tiên sử dụng sản phẩm đó thì mới là sành điệu và hợp thời trang. Đàng này, tại sao Đức Thánh Cha suốt ngần một nửa thế kỷ mà vẫn là một khách hàng bình dân trung thành của ông chủ tiệm đóng giầy ?

Vượt lên trên nét hào nhoáng về thị hiếu và tâm lý sành điệu của người tiêu dùng, Đức Thánh Cha lại trân trọng mối quan hệ lâu bền của ngài với ông thợ sửa giầy, một mối quan hệ vượt thời gian. Chắc hẳn mối liên hệ tốt đẹp ấy luôn được vun đắp và lớn lên theo năm tháng. Mỗi lần ghé tiệm giầy để sửa, Đức Thánh Cha lại có dịp hỏi thăm về tin tức gia đình của ông thợ. Lại trong cùng một độ tuổi, chắc chắn hai người cũng có rất nhiều điểm tương đồng khác nữa. Câu chuyện mà họ trao đổi ắt hẳn không ngoài phạm vi đời sống thường nhật, thời buổi, cũng như những mối quan tâm chung về đất nước...Điều cao quý ở đây là sự trân trọng tình người được hun đúc theo thời gian. Nó hoàn toàn khác hẳn mối quan hệ chớp nhoáng giữa người tiếp thị và khách hàng sành điệu thời nay vốn chỉ dừng lại ở cấp độ trao đổi, mà không hề đi vào bên trong để tạo nên vẻ đẹp cho cuộc sống nhân loại.

Ở vào mọi nơi, mọi thời đại và mọi nền văn hóa, con người rất cần những mối quan hệ bền vững trong phạm vi gia đình cũng như bên ngoài xã hội. Ai ai cũng hiểu được tầm quan trọng của những mối quan hệ này và sẽ rất tự hào, thậm chí trân trọng là đàng khác khi có được chúng.

Một tình bạn thân thiện luôn là nguồn sức mạnh để vượt qua những thời điểm khó khăn và giúp cho niềm vui được triển nở. Có được tình bạn tốt, chúng ta sẽ đẩy lui được tâm lý cô đơn và những tư tưởng tiêu cực. Mối quan hệ tốt đẹp này chẳng khác gì một gia sản quý qua đó chúng ta có được những ý kiến chân thành cũng như sự đồng cảm cao độ trước những thành công hoặc ngay trước thất bại trên đường đời.

Đặc biệt, trong một xã hội có nhiều đổi thay và áp lực nghề nghiệp ngày cao, con người luôn cần có một chỗ dựa vững chắc từ mối quan hệ vững chắc trong gia đình. Đó là mối quan hệ giữa các thành viên như ông bà, cha mẹ, và con cháu, giữa vợ với chồng, giữa các anh chị em với nhau. Cách riêng đối với các trẻ thơ, chúng rất cần mái ấm gia đình để phát triển tài năng và nhân cách của mình để học hỏi những bài học yêu thương của trao ban và nhận lãnh. Nơi gia đình luôn có một sức mạnh vô song mang lại sự thay đổi tích cực cho bộ mặt của xã hội và Giáo Hội.

Để duy trì được những mối quan hệ nêu trên, không gì khác ngoài việc đầu tư thời gian, công sức và trọn cả bầu nhiệt huyết của chúng ta nữa. Đôi khi chúng phải được trả giá bằng những hy sinh và thua thiệt thì mới có thể có được. Tình bằng hữu là vô giá. Hạnh phúc gia đình là kết quả của sự cộng tác và đóng góp của từng thành viên có liên quan. Khi mà trong xã hội có nhiều hoài nghi về lòng tốt, khi mà con người chạy theo những cái mau qua, và khi mà chủ nghĩa tương đối được tuyệt đối hóa, hơn bao giờ hết rất cần lắm những tâm hồn quảng đại để mang lại niềm vui, hòa bình và hy vọng cho đời.

Những mối quan hệ tốt đẹp giữa con người với nhau tự nó có giá trị vững bền và luôn luôn được đề cao. Hương thơm của chúng lan tỏa một cách tự nhiên khiến cho mọi người có được cảm giác dễ chịu. Hết thảy mọi người đều cần đến những mối quan hệ ấy để cuộc sống của mình triển nở và thực sự có ý nghĩa. Ý thức được như vậy, mỗi người không ngừng được mời gọi đóng góp sự cộng tác của mình để làm tăng thêm nét đẹp muôn hình muôn vẻ cho đời.

Lm. Giuse Vũ Tiến Tặng

HỎI ĐÁP MỤC VỤ

Trong lễ cưới, linh mục được phép nói "Cha tuyên bố hai con là vợ chồng với nhau" không?

Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), Giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma.

Hỏi: Trong 10 năm qua, tôi đã tham dự nhiều lễ cưới Công Giáo, và không lần nào nghe vị linh mục nói "Giờ đây cha tuyên bố hai con là vợ chồng với nhau". Điều gì sẽ xảy ra cho một lời tuyên bố đơn giản như thế, và tại sao nó bị cắt khỏi lời thề hôn phối? - G. B., Richmond, Virginia, Mỹ.

Đáp: Theo tôi đã có thể đoán chắc, công thức đặc biệt này không bao giờ là một phần trong nghi thức hôn phối Công Giáo Rôma. Lời này, hoặc các biến thể tương tự, là phần nghi thức của hôn phối Anh Giáo, hoặc của một số giáo phái Tin Lành khác.

Kể từ khi phương tiện truyền thông không khắt khe với chi tiết khi nói đến nghi lễ, nhiều người đã thấy và đã nghe cụm từ được cho là Công Giáo này, trong vô số phim và chương trình truyền hình. Vì lý do này, họ có thể mong đợi như thế khi tham dự một lễ cưới Công Giáo thực sự.

Những người Công Giáo cuối cùng có thể nghe một câu tương tự là người tham dự lễ cưới theo hình thức ngoại thường của nghi thức Rôma, vốn được sử dụng chung cho đến đầu thập niên 1970. Sau khi đôi hôn phối bày tỏ sự ưng thuận kết hôn, và trước khi làm phép nhẫn, linh mục nói, "Ego conjúngo vos in matrimónium. In nómine Patris, et Fílii, et Spíritus Sancti. Amen" (Cha kết hợp hai con trong bí tích hôn phối. Nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần. Amen).

Với cải cách phụng vụ, lời trên đã được hủy bỏ khỏi nghi thức hôn phối. Trong số các lý do để hủy bỏ nó là, do việc cử hành lễ cưới được thực hiện bằng ngôn ngữ địa phương, việc sử dụng ngôi thứ nhất số ít có thể dễ dàng làm cho người ta hiểu rằng linh mục hành sử như là thừa tác viên bí tích, tương tự như cách thức ngài hành sử khi nói "Cha rửa tội cho con" hoặc "Cha tha tội cho con". Tuy nhiên, truyền thống Latinh nói rằng chính đôi nam nữ mới là thừa tác viên của bí tích hôn phối.

Sách Giáo Lý dạy:

"1623. Theo truyền thống Latinh, chính đôi hôn phối là thừa tác viên ân sủng Đức Kitô; họ ban bí tích Hôn Phối cho nhau khi họ bày tỏ sự ưng thuận kết hôn trước mặt Hội Thánh. Trong truyền thống các Giáo Hội Đông Phương, linh mục hay Giám mục chủ lễ làm chứng việc đôi hôn phối trao đổi lời ưng thuận kết hôn (x.CCEO 817), nhưng lời chúc hôn của các ngài cũng cần thiết để bí tích thành sự (x. CCEO 828).

"1626. Hội Thánh coi việc hai người bày tỏ sự ưng thuận kết hôn là yếu tố cần thiết "làm nên hôn nhân" (x. CIC 1057, 1). Thiếu sự ưng thuận này thì không có hôn nhân.

"1627. Sự ưng thuận là "hành vi nhân linh, trong đó đôi vợ chồng tự hiến cho nhau và đón nhận nhau" (x. GS 48,1); (x. CIC 1057, 2): "Anh nhận em làm vợ"; "Em nhận anh làm chồng" (x. OcM 45). Sự ưng thuận này nối kết hai vợ chồng lại với nhau, được thể hiện trọn vẹn khi hai người "trở nên một thân thể" (x. St 2, 24; Mc 10, 8; Ep 5,31).

"1628. Sự ưng thuận phải là hành vi ý chí của mỗi người phối ngẫu, không bị cưỡng bức vì bạo lực hay quá sợ hãi do một nguyên cớ ngoại tại (x. CIC 1103). Không có thế lực nhân loại nào có thể thay thế sự ưng thuận này (x. CIC 1057, 1) . Thiếu sự tự do, hôn nhân không thành.

"1630. Linh mục (hay phó tế), chứng giám nghi thức Hôn Phối, nhân danh Hội Thánh nhận lời ưng thuận của đôi hôn phối và chúc lành cho họ. Sự hiện diện của thừa tác viên Hội Thánh (và của những người làm chứng), cho thấy rõ ràng hôn nhân là một bậc sống trong Hội Thánh.

"1631. Vì lý do này, Hội Thánh thường đòi buộc các tín hữu phải kết hôn theo thể thức của Hội Thánh (x. CĐ Trentô: DS 1813-1816; CIC 1108). Qui định này có những lý do sau:

- hôn nhân là một bậc sống trong Hội Thánh, có những nghĩa vụ và quyền lợi giữa đôi vợ chồng và đối với con cái;

- bí tích Hôn Phối là một hành vi phụng vụ. Do đó, nên cử hành trong nghi thức phụng vụ công khai của Hội Thánh;

- vì hôn nhân là một bậc sống trong Hội Thánh, nên phải có sự chắc chắn (vì thế buộc phải có những người làm chứng);

- việc công khai bày tỏ sự ưng thuận bảo vệ lời cam kết và giúp vợ chồng sống chung thủy" (Bản dịch Việt ngữ của Bộ Giáo Luật do các Linh Mục Nguyễn Văn Phương, Phan Tấn Thành, Vũ Văn Thiện, Mai Đức Vinh thực hiện).

Vì các lý do này, linh mục không còn sử dụng ngôi thứ nhất số ít, nhưng tiếp nhận sự ưng thuận của cặp vợ chồng, bằng cách nói:

"Xin Chúa tỏ lòng nhân hậu chuẩn y sự ưng thuận các con (...) vừa tỏ bày trước mặt Hội thánh. Và xin Chúa tuôn đổ phúc lành của Ngài trên các con. Sự gì Thiên Chúa kết hợp, loài người không được phân ly". (Zenit.org 18-1-2011)

Nguyễn Trọng Đa
Nguồn: vietcatholic.net

CHUYỆN THƯỜNG NGÀY

Chỉ Có Một Người Thôi !

Người đến dự đám cưới khá đông. Ông hàng xóm gọi bác làm công đến và bảo:

- Này, anh đi xem xem có bao nhiêu người đến dự đám cưới bên ấy.

Bác làm công ra đi. Bác để lên ngưỡng cửa một khúc gỗ và ngồi lên bờ tường đợi khách khứa ra khỏi nhà. Họ bắt đầu ra về. Ai đi ra cũng vấp phải khúc gỗ, văng lên chửi và lại tiếp tục đi. Chỉ có một bà lão vấp phải khúc gỗ, liền quay lại đẩy khúc gỗ sang bên.

Bác làm công trở về gặp người chủ.

Người chủ hỏi:

- Ở bên ấy có nhiều người không?

Bác làm công trả lời:

- Chỉ có mỗi một người mà lại là bà lão.

- Tại sao vậy?

- Bởi vì tôi để khúc gỗ bên thềm nhà, tất cả đều vấp phải, nhưng cũng chẳng ai buồn dẹp đi. Thế thì lũ cừu cũng làm như vậy. Nhưng một bà lão đã dẹp khúc gỗ sang bên để người khác khỏi vấp ngã. Chỉ có con người mới làm như vậy. Một mình bà lão là người.

Câu chuyện dí dỏm trên đây gửi đến mỗi người chúng ta một thông điệp sâu sắc:  sống là sống cho mình và cho người. Hy sinh cho người cũng chính  là nét đẹp của cuộc  đời. Nếu mỗi người sống có ý thức và trách nhiệm hơn, gia đình và xã hội sẽ bớt phiền muộn đồng thời tạo nên tình thân ái đoàn kết, yêu thương.

MỘT CHÚT TÂM TÌNH

Hãy Bước Đi Trong Tình Yêu Thương
(Ambulate in dilectione)
(Các bài đọc: Is 25, 6a. 7-9 ; Ep 5,1-2 ; Ga 15, 9-17)

Bài giảng của Đức cha Phaolô Bùi Văn Đọc, Giám mục Mỹ Tho, trong Thánh lễ an táng Đức cha Tôma Nguyễn Văn Tân, Giám mục Vĩnh Long, tại Nhà thờ Chánh tòa Vĩnh Long, 9g30 ngày 22 tháng 8 năm 2013.

Anh chị em rất thân mến,

1. Sự ra đi đột ngột của Đức cha Tôma là một bất ngờ quá lớn đối với các giám mục Việt Nam chúng tôi, và làm cho mỗi một người chúng tôi bàng hoàng xúc động, không biết nói làm sao! Chúng tôi mới gặp nhau đông đủ trong kỳ họp tháng 04 vừa qua tại Toà Giám mục Xuân Lộc, Đức cha Tôma ngồi sát cạnh tôi. Anh chị em cũng như chúng tôi, chúng ta rất yêu thương Đức cha Tôma. Chắc chắn đối với đa số anh chị em, biến cố này xảy ra quá bất ngờ, làm rúng động tâm hồn chúng ta. Nhưng Lời Chúa trong các bài đọc Kinh Thánh hôm nay an ủi chúng ta, nhất là những người thân yêu của Đức cha, đặc biệt trong bối cảnh của "Năm Đức Tin" này.

2. Chúng ta tin mọi sự đều bắt nguồn từ Thiên Chúa, Đấng tự bản chất là Tình Thương, tất cả đều "khởi sự từ tình thương và hoàn tất trong tình thương". Trong đoạn Tin mừng Gioan mà chúng ta vừa lắng nghe, Chúa Giêsu mạc khải cho chúng ta: "Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Hãy ở lại trong Tình Thương của Thầy" (Ga 15, 9). Trong thư Ephêsô, thánh Phaolô dạy chúng ta: "Anh em hãy bắt chước Thiên Chúa, vì anh em là con cái được Người yêu thương, và hãy bước đi trong tình yêu thương, như Đức Kitô đã yêu thương chúng ta, và vì chúng ta đã tự nộp mình làm hiến lễ, làm hy lễ dâng lên Thiên Chúa tựa hương thơm ngào ngạt." (Ep 5, 1-2).

3. Chúng ta tin như lời thánh Phaolô khẳng định, chúng ta là "con cái Thiên Chúa, được Thiên Chúa yêu thương", nên chúng ta cố gắng bắt chước Thiên Chúa, sống trong tình bác ái, bước đi trong tình yêu thương (x. Ep 5, 1-2). Đức cha Tôma, khi còn sống, đã tin mãnh liệt vào tình thương của Thiên Chúa, xác tín mạnh mẽ vào tình yêu của Chúa Kitô, nên đã chọn khẩu hiệu "Hãy bước đi trong tình yêu thương" ("Ambulate in dilectione", Ep 5, 2), để biểu lộ niềm tin và quyết tâm của ngài. Đức cha Tôma không những đã làm luận án Tiến sĩ thần học về Thánh lễ là Hy tế, mà ngài đã cố gắng noi gương Chúa Giêsu, từ lúc còn làm linh mục, biến cuộc đời của mình thành "hy lễ" dâng lên Thiên Chúa, tự hiến bản thân mình cho những người mình phục vụ.

4. Đức cha Tôma muốn trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giêsu trong việc rao giảng Tin mừng không mệt mỏi cho những người nghèo khổ. Đức cha đã đi, đã lặn lội khắp nơi trong giáo phận, đi khắp các hang cùng ngõ hẻm, đến tất cả những vùng sâu vùng xa, để loan báo tình yêu cứu độ của Thiên Chúa. Đức cha đã hao mòn sức lực vì cố gắng tối đa trong việc giáo dục đức tin cho các thành phần Dân Chúa, một cách đặc biệt cho những người sống đời thánh hiến. Đức cha đã băn khoăn trăn trở rất nhiều trong việc đào tạo và thăng tiến hàng giáo sĩ sao cho phù hợp với lòng Chúa mong ước. Đức cha sẵn sàng trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giêsu trong cuộc khổ nạn của Người. Đức cha đã chịu nhiều đau khổ trong cuộc đời mục tử của mình. Và cuối cùng hôm nay Đức cha đã ra đi vĩnh viễn theo tiếng Chúa gọi.

5. An ủi lớn nhất trong cuộc đời linh mục và giám mục của Đức cha Tôma là được "làm bạn với Chúa Giêsu" và ở lại trong tình thương của Người (x. Ga 15, 14-15). Không có gì quý báu và làm cho người môn đệ hạnh phúc bằng tình bằng hữu của Chúa. Chính tình thương của Chúa là nguồn vui bất diệt cho Đức cha và cho tất cả chúng ta. Hôm nay, nhân dịp lễ an táng Đức cha Tôma, Chúa Giêsu nhắc lại cho tất cả chúng ta và mời gọi chúng ta đón nhận tình bằng hữu của Người. Hãy để cho Người yêu thương chúng ta, hãy sống trong lòng mến của Người, hãy bước đi trong tình yêu thương, hãy thực hiện điều răn yêu thương của Người, để thông phần trọn vẹn niềm vui của Người là Con Yêu Dấu đẹp lòng Chúa Cha mọi đàng và "được Chúa Cha yêu thương" (x. Ga 15, 9-15).

6. Niềm vui trọn vẹn ấy đã được Thiên Chúa hứa ban cho toàn thể nhân loại, như lời của Người trong đoạn sách tiên tri Isaia: "Ngày ấy Chúa các đạo binh sẽ thiết đãi tất cả các dân trên núi này một bữa tiệc. Và trên núi này Người sẽ cất chiếc khăn tang bao trùm muôn dân, và tấm khăn liệm trải trên mọi nước. Người sẽ tiêu diệt sự chết đến muôn đời. Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt trên mọi khuôn mặt" (Is 25, 6. 8).

Mọi sự khởi đầu từ Thiên Chúa là Tình Thương, thì cũng hoàn tất trong Thiên Chúa là Tình Thương. Tình thương của Thiên Chúa là tiếng nói sau cùng, là sức mạnh lớn nhất, đã làm cho Chúa Giêsu trỗi dậy từ cõi chết!

Đó là mầu nhiệm sự chết và sự sống lại của Chúa Giêsu mà chúng ta đang cùng nhau cử hành trong Thánh lễ này! Đó là niềm tin của chúng ta! Đó là niềm hy vọng của chúng ta! Chúng ta hãnh diện tuyên xưng đức tin ấy trong Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Amen!

Nhà thờ Chánh tòa Vĩnh Long, ngày 22 tháng 8 năm 2013

 + Phaolô Bùi Văn Đọc
   Giám Mục Mỹ Tho