1. Lời Chủ Chăn
  2. Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo
  3. Diễn Giải
  4. Lời Nguyện Chung
  5. Áp Dụng Thực Hành
  6. Tìm Hiểu Giáo Luật
  7. Trang Linh Mục
  8. Trang Tu Sĩ
  9. Trang Sống Ơn Gọi
  10. Trang Thiếu Nhi
  11. Trang Giới Trẻ
  12. Trang Gia Đình
  13. Trang Giáo Lý Viên
  14. Trang Quới Chức
  15. Sống Đẹp
  16. Hỏi Đáp Mục Vụ
  17. Tin Nổi Bật
  18. Một Chút Tâm Tình
  19. Chia Sẻ Mục Vụ Bác Ái
  20. Tìm Hiểu Về Đức Tin

LỜI CHỦ CHĂN

Vĩnh Long ngày 25.4.2014

Kính gửi:  Quý Cha
                Quý Tu sĩ nam nữ
                Và tất cả anh chị em Gp. Vĩnh Long


V/v Tháng Đức Mẹ

Đức Giêsu là Người yêu thương chúng ta và là gương mẫu cho chúng ta. Ngài vừa là Thiên Chúa vừa là con người hoàn hảo. Kế đến là Đức Trinh Nữ Maria, vừa là mẹ Thiên Chúa với nhiều ưu phẩm, và cũng là Mẹ chúng ta. Nếu cha mẹ chúng ta không hiểu chúng ta thì đã có Đức Mẹ là người hiểu thấu chúng ta. Hôm vừa kề bên thập giá Mẹ đã nhận lời trối của Chúa Giêsu "Hỡi bà, này là con bà!..... Này là Mẹ con!" (Ga 19, 26 - 27) để nhận thánh Gioan làm con mẹ, thì cũng nhận chúng ta ngày nay làm con của mẹ.

Mẹ luôn tỉnh thức và cầu nguyện cho chúng ta; Mẹ là gương mẫu các nhân đức cho chúng ta; Mẹ chăm sóc từng đứa con: đứa con thánh thiện, Mẹ giúp cho hoàn thiện. đứa con trung bình Mẹ giúp cho tiến trển. Đứa con tội lỗi, Mẹ giúp cho trở về đường ngay nẻo chính. Mẹ thương hết mọi người con.

Chúng con cảm tạ Chúa đã ban Đức Mẹ làm Mẹ chúng con. Xin Đức Mẹ là tòa khôn ngoan ban cho chúng con biết lựa chọn Chúa, yêu mến Chúa và vâng lời Chúa như Mẹ đã sống.

Phêrô Dương Văn Thạnh
     Giám Quản Gp. Vĩnh Long

GIÁO LÝ HỘI THÁNH CÔNG GIÁO

CHỦ ĐỀ: GIA ĐÌNH, CỘNG ĐOÀN ĐỐI THOẠI

Hôn nhân và gia đình được thiết lập trên sự ưng thuận của đôi vợ chồng, nhằm vào lợi ích của họ cũng như vào việc sinh sản và giáo dục con cái. Tỡnh yờu vợ chồng và việc sinh sản con cỏi tạo ra những tương quan nhân vị và những trách nhiệm hàng đầu, giữa những phần tử trong gia đình.

Vợ chồng và con cái tạo thành một gia đỡnh. Gia đỡnh tự hỡnh thành và cú trước sự công nhận của công quyền. Người ta xem gia đỡnh là nền tảng để từ đó xác định những tương quan khác trong thân tộc.

Khi tạo dựng người nam và người nữ, Thiên Chúa đó thiết lập gia đỡnh và đặt nền tảng cơ bản cho nú. Các phần tử trong gia đỡnh đều bỡnh đẳng về nhân phẩm. Vỡ lợi ớch chung của cỏc phần tử và của xó hội, gia đỡnh cú một số trỏch nhiệm, quyền lợi và bổn phận (GLHTCG 2201,2202,2203).

DIỄN GIẢI

GIA ĐÌNH: CỘNG ĐOÀN ĐỐI THOẠI

Lời Chúa: "Hãy học với tôi vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường"  (Mt 11,29). X. Ep 5, 21-33.

Ý cầu nguyện: Xin cho cả gia đình yêu thương nhau, biết cởi mở chia sẻ, tâm sự để ngày càng hiểu biết thông cảm nhau hơn, nên một cộng đoàn đối thoại với Chúa, với nhau, với mọi người.

Bài ca ý lực: Tôi theo một người (Lời Cho Cuộc Sống (tr.100))

1. Gia đình là cộng đoàn đối thoại với Thiên Chúa

- Để có thể tham dự vào đời sống và sứ mạng của Hội Thánh, gia đình vốn là hội thánh tại gia trước hết phải trở thành cộng đoàn đối thoại với Thiên Chúa nhờ Đức Kitô và trong Đức Kitô. Thật vậy, để là hội thánh và thực thi sứ mạng loan báo Tin mừng và phục vụ con người, gia đình trước hết phải được kết hợp mật thiết với Đức Kitô như cành nho gắn kết với cây nho, để nhờ đó mà được múc lấy sức sống thần linh và từ đó hòa nhập vào Hội Thánh dân tư tế.  Được bén rễ và dưỡng nuôi từ bí tích Hôn phối, gia đình không ngừng được sống nhờ Chúa Giêsu, và được Người mời gọi và lôi cuốn vào cuộc đối thoại với Thiên Chúa qua đời sống bí tích, qua việc dâng hiến đời mình và nhờ cầu nguyện.[1] Khi ấy gia đình mới là hình ảnh và làm cho sự Hiệp thông vô hình của Ba Ngôi thần linh thành hiện thực lịch sử.

2. Sự khác biệt trong Gia đình

- Đôi bạn, là những nhân vật chủ chốt vì gia đình dựa trên nền tảng hôn phối của họ, rất khác nhau : về giới tính, tính tình, tính cách, về văn hóa, có thể khác cả về tôn giáo tín ngưỡng. Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày nay, đôi bạn gặp gỡ rồi yêu nhau và muốn xây dựng gia đình với nhau thường có nguồn gốc văn hóa, tín ngưỡng, ngôn ngữ, sắc tộc ... khác nhau.

a. Khác biệt về văn hóa: văn hóa khác biệt do nguồn gốc địa phương, ngôn ngữ, sắc tộc khác biệt, hoặc trình độ học thức khác biệt. Khác biệt có thể gây hiểu lầm, sinh ra căng thẳng xung đột khi sống chung. Không hiểu biết những hành vi thuộc đặc thù văn hóa của tha nhân nhưng đồng thời ta thường vẫn có những ý nghĩ, xét đoán, và phản ứng theo những ý nghĩ, định kiến của riêng ta, làm sai lệch tầm nhìn, và dễ tạo nên thương tổn cho nhau. Vì thế, mọi người cần tìm hiểu qua đối thoại chân thành, cởi mở, tin tưởng và kính trọng nhau. Không được xem văn hóa này cao trọng hơn còn văn hóa kia thấp kém hơn, vì mọi văn hóa là một phiên bản khác biệt của một văn hóa nhân loại chung và nhân dạng các nền văn hóa cũng không ngừng tương tác và thay đổi. Điều quan trọng không phải là bỏ đi một văn hóa để đón nhận một văn hóa khác, nhưng là: sự khác biệt làm cho nhau thêm phong phú để cùng xây dựng một điều gì mới mẻ.

"Này anh, điều anh khác với tôi không làm tổn hại tôi nhưng làm tôi thêm phong phú." (Antoine de Saint-Exupéry)

b. Khác biệt về tôn giáo: Đời sống chung thân mật trong tình yêu thương của gia đình cũng có thể là một cuộc đối thoại liên tôn giữa những thành viên khác tín ngưỡng, tôn giáo trong gia đình, hoặc với các gia đình khác trong gia tộc và trong cộng đồng xã hội. Một nguyên tắc phải được tôn trọng: "trong lãnh vực tôn giáo, không ai bị ép buộc hành động trái với lương tâm, cũng không ai bị ngăn cấm hành động theo lương tâm"[2]. Đối thoại còn là gì hơn nữa chứ không chỉ đơn giản là sự khoan dung giữa những người khác biệt tôn giáo, tín ngưỡng. Đối với người Kitô hữu, tin rằng Đức Giêsu Kitô là «Sự thật» (Ga 14,6) có nghĩa là chấp nhận cùng đồng hành với tha nhân, nhất là với "thân nhân" của mình, lại cũng là người khác niềm tin với mình để có thể hiểu biết chính xác hơn, sâu xa hơn "sự thật" này là gì. Đối thoại liên tôn trong gia đình thường đòi hỏi sự kiên nhẫn và bền bĩ có thể cho đến cuối cuộc đời, cố gắng "hợp nhất trong những điều thiết yếu, tự do trong những điểm còn nghi ngờ, bác ái trong tất cả mọi sự"[3].

c. Khác biệt về giới tính: "Mỗi người, nam cũng như nữ, phải nhận biết và chấp nhận căn tính giới tính của mình. Sự khác biệt và bổ sung cho nhau về thể xác, tinh thần và tâm linh hướng đến lợi ích của hôn nhân và phát triển đời sống gia đình. Sự hòa hợp của đôi vợ chồng và của xã hội tùy thuộc phần nào vào việc hai bên nam nữ bổ túc, đáp ứng và nâng đỡ lẫn nhau"[4].

3. Gia đình là cộng đoàn đối thoại với nhau

- Gia đình là cộng đoàn sự sống thân mật và yêu thương hợp nhất giữa các thành viên khác biệt: vợ với chồng, cha mẹ với con cái, ông bà với cháu chắt, anh chị em, dâu và rễ. Trong đó sự hợp nhất giữa vợ chồng là nền tảng rất quan trọng cho sự hợp nhất trong gia đình, trong các tương quan còn lại trong gia đình. "Thuận  vợ thuận chồng, tát bể Đông cũng cạn". Yêu thương là hợp nhất trong khác biệt. Để được như thế họ phải hiểu biết và tôn trọng những cái giống nhau và cả những điều khác nhau, mà trước hết là phải đối thoại với nhau cởi mở và chân thành trong tin tưởng và yêu thương. Muốn thế, vợ chồng phải dành thời gian riêng cho nhau, dành cho nhau những lời nói nhẹ nhàng, âu yếm, những cử chỉ trân trọng, lịch sự, như ông bà ta khi xưa nói: "vợ chồng tương kính như tân".

- Cộng đoàn đối thoại còn là cộng đoàn biết chia sẻ những việc cụ thể chung của gia đình:

1. Ăn ở : chia sẻ việc nhà cửa, bếp núc, bàn bạc trong tương quan với cha mẹ anh em hai bên nội ngoại, xóm giềng, chịu chung trách nhiệm mọi việc.

2. Tài chánh : Chia sẻ được mọi chi và tiêu: có thể công khai những món tiền lớn và tiền nhỏ.

3. Việc con cái: cùng đón nhận đứa con chào đời, chia sẻ việc nuôi và cùng nhau giáo dục con cái, trao đổi thống nhất việc giáo dục con cái, nhất là cùng dạy con biết Chúa.

4. Chuyện vợ chồng : Có thể chia sẻ thực lòng với nhau những giai đoạn khó khăn và nhu cầu thầm kín. Học phương pháp kế hoạch gia đình theo tự nhiên, trước hết phải là kĩ năng giúp vợ chồng sống hạnh phúc nhờ hiểu để biết chia sẻ. Tiết dục định kỳ cũng như những phương pháp điều hòa sinh sản đặt nền tảng trên việc tự quan sát và sử dụng những thời gian không thể thụ thai: đều phù hợp với các tiêu chuẩn khách quan của luân lí. Những phương pháp này tôn trọng thân thể của vợ chồng, khuyến khích họ âu yếm và giúp nhau hướng đến tự do chân chính[5].

5. Cầu nguyện : Đọc kinh chung là có thể thổ lộ với Chúa cùng tâm tư. Nền tảng của hiệp thông vợ chồng chính là Lời Chúa và Bí Tích Thánh Thể.

6. Không giấu nhau chuyện gì : thống nhất với nhau từ đầu, điều gì làm mà không dám nói cho nhau biết tập ý thức không làm.

Câu hỏi chia sẻ và thảo luận

  1. Gia đình tôi có Chúa hiện diện trong đối thoại gia đình hay không?
  2. Giữa vợ chồng, giữa cha/mẹ và con còn có điều gì chưa thể chia sẻ, trao đổi, tâm sự không?
  3. Khi đối thoại chúng tôi có tôn trọng sự dị biệt chính đáng của nhau, có thực sự quan tâm muốn chia sẻ và nâng đỡ nhau vì yêu thương hay không?

Nguồn: ubmvgd.org

LỜI NGUYỆN CHUNG

Kêu mời:  Anh chị em thân mến,

Gia đình gồm các thành phần có cùng một mục đích yêu thương. Yêu thương thì lại được thể hiện trên tương quan hài hoà. Và tương quan hài hoà cần có đối thoại và thông hiểu nhau. Chúng ta cùng hiệp ý cầu nguyệný:

1. Chúa phán: "Hãy đến mà xem nơi ở của Thầy". Chúng ta cầu nguyện cho các gia đình trong Hội Thánh, luôn biết mời Chúa Giêsu làm trung tâm gia đình mình, biết dùng Lời Chúa mà giúp nhau nên thánh.

2. Chúa phán: "Con chiên Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta". Chúng ta cầu nguyện cho các gia đình Công Giáo luôn biết dùng lời lẽ yêu thương mà đối xử với nhau, biết lắng nghe và đi theo tiếng Chúa.

3. Chúa phán: "Thầy gọi các con là bạn hữu, vì những gì Thầy nghe biết nơi Cha Thầy, thì Thầy đã cho các con biết". Chúng ta cầu nguyện cho các gia đình luôn nói cho nhau biết tình yêu của Thiên Chúa và ơn cứu rỗi của Người.

4. Thánh Phaolô nói: "Anh em hãy dùng lời lẽ đức tin mà an ủi nhau". Chúng ta cầu nguyện cho các gia đình trong họ đạo chúng ta, luôn biết dùng lời lẽ của đức tin, của tình yêu mà trao đổi cho nhau, để mọi người cùng tin yêu Chúa.

Kết thúc: Lạy Chúa là Cha tràn đầy tình yêu thương. Chúa muốn chúng con dùng lời Chúa mà đối đáp với nhau. Xin cho chúng con biết dùng Lời Chúa mà giúp đỡ nhau đến hạnh phúc đời này và đời sau. Chúng con cầu xin...Amen.

ÁP DỤNG THỰC HÀNH

ĐỐI THOẠI TRONG ĐỜI SỐNG HÔN NHÂN

Đối thoại là nói chuyện với nhau, đàm đạo với nhau. Phải có ít nhất hai người thì mới gọi là đối thoại, nếu không thì chỉ là độc thoại. Đối thoại rất cần thiết trong cộng đồng xã hội, nhờ đối thoại mà người ta hiểu nhau hơn. Đối thoại cần phải chân thành và cởi mở, nếu không sẽ biến thành "đối thọi". Muốn chân thành và cởi mở thì phải biết từ bỏ mình, biết hạ mình và đề cao người khác, nghĩa là mỗi người phải biết sống khiêm nhường, vì "khiêm nhường là nền tảng mọi nhân đức".

Để có thể sống khiêm nhường thì phải tập sống hiền từ. Khiêm nhường và hiền từ có liên quan mật thiết, có cái này thì mới có cái kia. Muốn hiền từ và khiêm nhường đúng mức, thì ta không thể cậy vào sức mình, mà phải noi gương Chúa Giêsu, vì chính Ngài vừa nhắn nhủ vừa xác định: "Hãy học với tôi vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường" (Mt 11, 29).

Ai cũng có một gia đình, vì thế chúng ta đều biết rằng gia đình là xã hội thu nhỏ, là một cộng đoàn nhỏ, mà là cộng đoàn thì luôn có những điều "đối lập", vì "cha sinh con, trời sinh tính", mỗi người mỗi tính cách, không tránh khỏi những lúc hiểu lầm hoặc xung đột, vì thế mà rất cần đối thoại. Nhờ đối thoại để gia đình mãi mãi là Tổ Ấm, không bao giờ bị "lạnh". Thật vậy, dù biết Chúa Giêsu rất bận việc, nhưng Đức Mẹ và các anh em vẫn "muốn nói chuyện với Ngài" (x. Mt 12:47).

Lời nói rất quan trọng, Thánh Phêrô khuyên: "Anh em hãy từ bỏ mọi thứ gian ác, mọi điều xảo trá, giả hình và ghen tương cùng mọi lời nói xấu gièm pha" (1 Pr 2:1).

Quả thật, lời nói rất quan trọng và có tác dụng mạnh, có thể làm "lung lay" lòng người nếu cứ nghe hoài. Lời nói là một trong bốn thứ cơ bản phải học để sống: "Học ăn, học nói, học gói, học mở". Ca dao Việt Nam cũng nhắn nhủ:

Lời nói chẳng mất tiền mua
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau

Thánh Phaolô căn dặn: "Đừng nặng lời với cụ già, nhưng khi khuyên nhủ, hãy coi cụ như cha; hãy coi các thanh niên như anh em, các cụ bà như mẹ, các thiếu nữ như chị em, với tấm lòng hoàn toàn trong sạch" (1 Tm 5:1-2).

Lời nói rất quan trọng vì thế trước khi nói, người ta phải "uốn lưỡi bảy lần", nghĩa là phải cân nhắc, chứ đừng nói cho "sướng" cái miệng, đừng nói cho thỏa cơn giận. Lời đã được nói ra thì không thể rút lại. Hãy ghi nhớ nguyên tắc sống cơ bản: "Mau nghe, chậm nói". Lý do thật đơn giản: Nói nhiều thì sai nhiều, nói ít thì sai ít, không nói thì không sai. Vả lại, nghe nhiều thì được nhiều, nói nhiều thì mất nhiều. Nói là gieo, nghe là gặt. Tấm gương khôn ngoan điển hình nhất trong Giáo hội Công giáo mà ai cũng biết: Đức Thánh Giuse. Ngài luôn trầm lặng, chẳng nói gì.

Thánh Phaolô nói:"Đừng nói lời thô tục, nhảm nhí, cợt nhả: đó là những điều không nên; trái lại, phải tạ ơn Thiên Chúa thì hơn. Anh em phải biết rõ điều này: không một kẻ gian dâm, ô uế hay tham lam nào - mà tham lam cũng là thờ ngẫu tượng - được thừa hưởng cơ nghiệp trong Nước của Đức Kitô và của Thiên Chúa. Đừng để ai lấy lời hão huyền mà lừa dối anh em, chính vì những điều đó mà cơn thịnh nộ của Thiên Chúa giáng xuống những kẻ không vâng phục" (Ep 5, 4 - 6).

Tục ngữ nói: "Cái lưỡi không xương nhiều đường lắt léo". Cái ngon nhất là lưỡi, cái dở nhất cũng là lưỡi. Mỗi chúng ta hãy tâm niệm: "Một lời bất cẩn có thể nhóm lên xung đột, một lời tàn nhẫn có thể phá hỏng một cuộc đời, một lời đúng lúc có thể xua đi căng thẳng, nhưng một lời yêu thương có thể chữa lành và chúc phúc".

Thánh Phaolô "chỉ thị riêng cho đời sống gia đình" rằng: "Người làm vợ hãy phục tùng chồng, như thế mới xứng đáng là người thuộc về Chúa. Người làm chồng hãy yêu thương chứ đừng cay nghiệt với vợ. Kẻ làm con hãy vâng lời cha mẹ trong mọi sự, vì đó là điều đẹp lòng Chúa. Những bậc làm cha mẹ đừng làm cho con cái bực tức, kẻo chúng ngã lòng. Kẻ làm nô lệ hãy vâng lời những người chủ ở đời này trong mọi sự. Đừng chỉ vâng lời trước mặt, như muốn làm đẹp lòng người ta, nhưng với lòng đơn sơ, vì kính sợ Chúa. Bất cứ làm việc gì, hãy làm tận tâm như thể làm cho Chúa, chứ không phải cho người đời vì biết rằng anh em sẽ nhận được phần thưởng Chúa ban, là gia nghiệp dành cho dân Người. Đức Kitô là Chủ, anh em hãy phục vụ Người. Ai ăn ở bất công sẽ được trả theo điều bất công mình làm; không có chuyện thiên vị". (Cl 3, 18 - 21)

Xin Thiên Chúa luôn ban ơn những cần thiết cho mọi người chúng con trong đời sống gia đình. Xin Đức Trinh Nữ Maria, Đức Thánh Giuse, và các Thánh luôn nguyện giúp cầu thay cho mỗi thanh viên trong gia đình, đặc biệt trong năm nay Năm Phúc Âm Hóa Gia Đình.

TÌM HIỂU GIÁO LUẬT

GIẢI ĐÁP MỤC VỤ VỀ  BÍ TÍCH RỬA TỘI

Câu hỏi: Kính thưa Quý Cha trong ban mục vụ của Địa phận.

Vừa rồi con có tham dự lớp giáo lý nâng cao của Hạt (...) và được Quý Cha phụ trách giải đáp về điều kiện để được lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội, nhưng con không nắm được hết. Vậy xin Quý Cha trong ban mục vụ của Địa phận vui lòng giúp con hiểu rõ hơn và nhờ đó cũng là hành trang cho con trong việc dạy giáo lý tại họ đạo của con. Con xin hết lòng cám ơn Quý Cha!

Trả lời: Kính Chị...

Trước tiên, tôi xin thay lời cho Quý Cha trong ban mục vụ của Địa phận cám ơn Chị vì câu hỏi rất hay này, và tôi cũng xin thay lời cho Quý Cha để nêu lên những điều kiện đòi hỏi theo luật định để người nhận bí tích Rửa Tội có đủ điều kiện để được lãnh nhận bí tích nầy.

Thưa Chị, câu hỏi của Chị rất hay nhưng cũng rất phức tạp vì không thể trong một hoặc hai điều luật có thể trả lời thấu đáu cho câu hỏi nầy, mà phải tổng hợp nhiều điều luật và giáo huấn của Hội Thánh thì mới có thể làm sáng sủa được hết mọi vấn đề. Vì vậy, tôi xin lần lượt trình bày từng phần theo giới hạn trang được phép in trong Nguyệt San của Điạ phận (dài quá bì rầy. hihi...). Xin Chị đón xem từng tháng, kể từ tháng 5, để nắm được trọn vẹn Chị há!

a. Điều kiện tổng quát:

Khởi đi từ nguyên tắc chung của Giáo luật về bí tích Rửa Tội, Hội Thánh dạy như sau: "Tất cả và chỉ những người chưa được Rửa Tội mới có khả năng lãnh nhận bí tích Rửa Tội" (Đ.864).

Nguyên tắc tổng quát nầy, Giáo luật đòi hỏi hai điều điện để được lãnh nhận bí tích Rửa Tội cách hữu hiệu là:

1. Là con người, chứ không phải những loài thụ tạo khác.

2. Là người chưa bao giờ được lãnh bí tích Rửa Tội, xét vì bí tích nầy ghi ấn tích (bí tích Rửa tội, Thêm sức và Truyền chức thánh), và chỉ nhận một lần cho cả đời.

Như vậy, chúng ta có thể đặt ra vấn đề trong trường hợp rửa tội lại, hay rửa tội hồ nghi thì sao? Đó là trong trường hợp hoài nghi không biết lần rửa rội thứ nhất có hữu hiệu hay không hay là có được rửa tội chưa? Vấn đề nầy chúng ta sẽ bàn tới sau.

Sau khi đưa ra nguyên tắc tổng quát, Giáo luật nói đến từng thành phần lãnh nhận bí tích Rửa Tội : người lớn, trẻ nhỏ, những trường hợp phức tạp như bào thai, bị sẩy thai, hài nhi bị bỏ rơi.

b. Những trường hợp cụ thể:

            1. Người lớn

Có một vấn đề đặt ra là ở tuổi nào thì được xem là người lớn?

Theo tinh thần của Giáo luật, thì những người đã sử dụng đủ trí khôn, nghĩa là những người đã được bảy tuổi trọn, thì được xem là người lớn và buộc phải giữ luật của Hội Thánh (x.Đ.11).

Một vấn đề khác được đặt ra : nếu là người đã lớn (bảy tuổi trở lên) mà không sử dụng đủ trí khôn thì có được xem là người lớn hay không và có được lãnh nhận bí tích Rửa Tội hay không?

Căn cứ vào điều 852, chúng ta thấy Hội Thánh chỉ dạy như sau:

§1. Những gì đã được quy định trong những điều về bí tích Rửa Tội cho người thành niên cũng được áp dụng cho tất cả mọi người quá tuổi nhi đồng đã biết sử dụng trí khôn.

§2. Người nào không làm chủ được mình thì được đồng hoá với nhi đồng, cả trong vấn đề liên quan đến bí tích Rửa Tội.

Như vậy, chúng ta đã thấy quá rõ Hội Thánh dạy rằng, nếu những ai đã là người lớn mà không sử dụng đủ trí khôn thì xem như trẻ nhỏ và dĩ nhiên là được rửa tội theo cách thức của trẻ nhỏ.

Sau khi xác định ở độ tuổi nào thì được xem là người lớn/thành niên, thì Giáo luật đua ra điều kiện để người lớn được lãnh nhận bí tích Rửa Tội ở điều 865:

§1. Để có thể được Rửa Tội, người thành niên phải bày tỏ ý muốn lãnh nhận bí tích Rửa Tội, phải được dạy dỗ đủ về những chân lý đức tin và những nghĩa vụ Kitô giáo và phải được thử luyện sống đời Kitô hữu qua thời gian dự tòng: họ cũng được khuyên nhủ ăn năn tội lỗi của mình. 

§2. Trong trường hợp nguy tử, người thành niên có thể được Rửa Tội, nếu sau khi đã có một vài nhận thức về những chân lý chính yếu của đức tin, họ tỏ ý muốn lãnh nhận bí tích Rửa Tội bằng bất cứ cách nào, và hứa sẽ tuân giữ các giới răn của Kitô giáo.

Điều luật 865 nêu ra hai trường hợp mà người lớn muốn lãnh nhận bí tích Rửa Tội: trường hợp thông thường và trường hợp nguy tử. Ở đây chúng ta xét tới trường hợp thông thường một cách kỷ lưỡng hơn trường hợp kia. Các điều kiện đó là:

1.      Người thành niên phải bày tỏ ý muốn lãnh nhận bí tích Rửa Tội một cách tự do;

2.      Phải được dạy dỗ đầy đủ về những chân lý đức tin và những nghĩa vụ Kitô giáo;

3.      Phải được thử luyện sống đời Kitô hữu qua thời gian dự tòng;

4.      Phải được khuyên nhủ ăn năn tội lỗi của mình.

Những điều kiện của điều luật nầy khởi đi từ những yêu cầu của nhiều vị giám mục, công đồng Vatican II đã truyền tái lập các nghi thức khai tâm cho người dự tòng. Dựa vào truyền thống từ các thế kỷ đầu, những người muốn gia nhập Kitô giáo, cần phải trải quan một thời gian dự tòng, và sẽ lãnh nhận cả ba bí tích khai tâm cùng một lúc.

Nghi thức khai tâm được Hội Thánh ban hành năm 1972. Nghi thức nầy được chia ra thành nhiều giai đoạn, nhằm dẫn đưa người dự tòng dần dần vào Hội Thánh. Có ba giai đoạn chính: giai đoạn thứ nhất gọi là "gia nhập lớp dự tòng"; giai đoạn thứ hai gọi là "thanh tẩy" và giai đoan thứ ba là "giai đoan lãnh nhận bí tích". Chúng ta sẽ nói tới ba giai đoạn nầy cách cụ thể trong Nguyệt San tháng 6.

TRANG LINH MỤC

                    LINH MỤC, CON NGƯỜI ĐỐI THOẠI

Đối thoại là: Trực tiếp (đối diện) nói chuyện (đàm thoại) giữa 2 đối tượng (người với người, hoặc người với thần linh) để tìm ra một điểm chung khi có những dị biệt, bất đồng hoặc đối kháng. Đối thoại nhằm dung hoà quan điểm, thống nhất ý kiến, tìm đến chân lý. Linh mục, con người đối thoại.

1. Đối thoại với Thiên Chúa

Tương quan đầu tiên mà người linh mục cần thiết lập hằng ngày, đó là với Thiên Chúa. Vì linh mục được Thiên Chúa tuyển chọn để phục vụ Nước của Ngài, nên linh mục cần đối thoại hằng ngày với Ngài qua cầu nguyện để biểt được Thiên Chúa muốn mình làm gì.

Linh mục cần đối thoại với Thiên Chúa hằng ngày để thực thi trọn vẹn ý Cha: "Lạy Thiên Chúa, này con đây, con xin đến để thực thi ý Ngài" (Dt 10, 5-7). Đặc biệt, khi gặp những thử thách gian lao, khi bị hiểu lầm, khi thất bại trên đường mục vụ, người linh mục của Chúa luôn quỳ gối để xin ánh sáng chỉ đường. Có Chúa đồng hành, linh mục sẽ không thất vọng, vì sau ngày thứ sáu tuần thánh, luôn le lói chút ánh sáng Phục Sinh. Có Chúa là người bạn đường, linh mục dù sống độc thân vẫn không cảm thấy cô đơn lạnh lùng. Đối thoại với Thiên Chúa sẽ làm khai mở các cuộc đối thoại khác, những cuộc đối thoại chân thành và khiêm tốn, bắt đầu với bề trên trực tiếp của mình.

2. Đối thoại với giám mục

Về phía linh mục: Thánh Công Đồng khuyên các linh mục phải luôn nhớ rằng "các giám mục lãnh nhận sung mãn Bí Tích Thánh Chức, nên phải tôn trọng nơi các ngài quyền bính của Chúa Kitô, Chủ Chăn tối cao. Vậy các linh mục phải kết hiệp với giám mục bằng tình thương yêu chân thành và lòng vâng phục" (PO.7). Trong giáo phận, linh mục phải xem giám mục như người cha, kính cẩn vâng phục ngài. Vâng phục là căn tính của linh mục, bởi khi nhận chức linh mục, linh mục đã đặt hai tay của mình vào trong lòng bàn tay của giám mục để thề hứa xin vâng lời ngài, cũng như đấng kế vị ngài. Tuy nhiên, vâng lời đích thực phải có các cuộc đối thoại chân thành. Khi được trao sứ vụ, linh mục thành tâm nói cho giám mục nghe điểm yếu và điểm mạnh của mình, để cho giám mục biết có nên cất nhắc mình vào sứ vụ đó hay không. Và khi giám mục trao sứ vụ thì vui vẻ nhận lời, đừng so đo tính toán, vì toàn cả cuộc đời ta đã dâng cho Chúa. Khi gặp khó khăn trong công tác mục vụ hay thậm chí khi sa ngã trên đường đời, linh mục đơn sơ tâm sự với giám mục như người cha để nhận lời khuyên. Các ngài cũng mạnh dạn đề nghị bề trên của mình những ý tưởng để phát triển giáo phận. Đề nghị là trách nhiệm của mình, còn thực hiện là trách nhiệm của bề trên. Ngay cả khi những đề nghị của mình không được thực hiện thì linh mục cũng vui, vì ngoài mình ra, còn hằng trăm, nếu không nói là hàng ngàn đề nghị khác. Người cha của giáo phận chỉ làm những gì mà ngài cho là có lợi chung cho cả giáo phận.

3. Đối thoại với anh em linh mục

Thánh Công Đồng đã khuyên các thể hệ hảy đối thoại để học hỏi lẫn nhau, nhất là tôn trọng sự khác biệt của nhau và trên hết mọi sự, phải tập đón nhận nhau:" (PO. 8). Như vậy, phía linh mục lớn tuổi phải tập bao dung và sẵn sàng chỉ dẫn cho các linh mục trẻ như những người anh đi trước. Còn các linh mục trẻ phải khiêm tốn lĩnh hội kinh nghiệm của người đi trước. Nên nhớ rằng con người không nhỏ đi chút nào khi mình học hỏi kẻ khác. Sự trưởng thành nhân cách hệ tại ở việc khiêm tốn đón nhận những lời chỉ bảo, những kinh nghiệm quý báu của những người đi trước. Ở điểm này, đa số các địa phận đều bổ nhiệm các linh mục mới ra trường làm cha phó một thời gian dài trước khi làm linh mục chính xứ.

Công Đồng khuyên các linh mục phải sống tình huynh đệ đặc biệt với anh em linh mục của mình: "các linh mục đừng quên lòng hiếu khách, phải lo làm việc thiện và san sẽ của cải, nhất là phải chú tâm đến những vị đau yếu, phiền muộn, lao lực, cô đơn, bị đày ải và ngay cả những vị bị bách hại" (PO. 8).

Tương quan với những người gặp khó khăn: Linh mục cũng là con người. Họ được mời gọi lãnh nhận thiên chức từ những con người yếu đuối mỏng dòn, nhiều khi mỏng dòn hơn cả giáo dân. Ý thức chính từ những mỏng dòn yếu đuối của mình, người linh mục luôn sẵn sàng nâng đỡ những anh em khác khi họ sa ngã.

4. Đối thoại với giáo dân được ủy thác cho mình

Ở Việt Nam, do ảnh hưởng của tư tưởng nho giáo cũng như vấn đề tôn trọng phẩm trật trong Giáo Hội Công Giáo, các linh mục, dù còn rất trẻ, vẫn thường có thói quen "phán" cho giáo dân nghe. Giáo dân nhiều lúc "bằng mặt mà không bằng lòng". Vì thế, một mục tử đích thực phải học cách đối thoại với giáo dân của mình. Khi vừa được bổ nhiệm coi sóc một giáo xứ, các ngài phải dùng thời gian tìm hiểu những phong tục, tập quán, những mặt yếu, mặt mạnh của giáo xứ. Ngài phải lắng nghe các bô lão, các ông câu, ông trùm, cũng như các thành phần dân Chúa nói cho nghe về giáo xứ của họ. Không ai hiểu giáo xứ hơn những giáo dân sở tại. Sắc lệnh về chức vụ và đời sống của linh mục nhấn mạnh tới hai điểm sau đây trong tương quan với giáo dân:

- Nhìn nhận các khả năng của giáo dân: "Các linh mục phải thành thật nhìn nhận và nêu cao phẩm giá và vai trò riêng biệt của giáo dân trong sứ mệnh Giáo Hội. Các ngài cũng phải thành thật kính trọng sự tự do chân chính mà mọi người có quyền được hưởng trong xã hội trần gian. Các ngài phải sẵn lòng lắng nghe giao dân, lưu ý đến nguyện vọng của họ trong tinh thần huynh đệ, nhìn nhận kinh nghiệm và khả năng chuyên môn của họ trong các lãnh vực khác nhau của hoạt động nhân sinh, để cùng với họ có thể nhận biết những dấu chỉ của thời đại". Và khi nhìn nhận khả năng của giáo dân, "các ngài phải tin tưởng trao phó nhiệm vụ cho các giáo dân trong việc phục vụ Giáo Hội, để họ được tự do và có lãnh vực hoạt động, hơn nữa lúc thuận tiện, phải khuyến khích họ đảm trách công việc" (PO.9).

- Xây dựng giáo xứ hiệp nhất: "Các ngài phải tìm cách hòa hợp các tâm trạng khác nhau, để không ai cảm thấy mình xa lạ trong cộng đoàn tín hữu". Đồng thời, "các ngài là những người bênh vực ích chung mà các ngài gìn giữ nhân danh Giám Mục, đồng thời là những người can đảm bảo vệ chân lý để các tín hữu không bị lôi cuốn bởi một chủ thuyết nào" (PO.9). Liên quan đến vấn đề chủ thuyết, để hiệp nhất cộng đoàn, Giáo Hội khuyên các linh mục không làm chính trị dưới danh nghĩa đảng phái, nghĩa là không tham gia bất kỳ đảng phái nào: "Trong việc kiến thiết cộng đoàn Kitô, các linh mục không bao giờ phục vụ cho một chủ thuyết hay một đảng phái nhân loại nào, nhưng là những vị rao giảng Phúc  m và là chủ chăn của Giáo Hội, các ngài lo lắng theo đuổi việc phát triển thiêng liêng của Thân Thể Chúa Kitô" (PO.6). Sở dĩ Giáo Hội khuyên các linh mục không nên tham gia đảng phái, vì ở các nước tự do, trong một giáo xứ, thường có nhiều đảng phái. Nếu linh mục ủng hộ đảng này thì sẽ làm phật lòng giáo dân theo các đảng khác. Như vậy, linh mục trở thành con người của sự chia rẽ. Tuy không làm chính trị theo nghĩa đảng phái, nhưng linh mục là những người thực thi sứ mạng bảo vệ những giá trị của Tin Mừng, các ngài phải luôn bảo vệ, cổ xúy và phát triển phẩm giá và nhân quyền cũng như cương quyết nói lên những gì nghịch với nhân quyền. Nói tóm lại, linh mục phải thi hành nghĩa vụ công dân, nghĩa là dấn thân cho công ích. Hơn nữa, các ngài còn thi hành nghĩa vụ ngôn sứ, tức là dấn thân cho một xã hội thực sự công bằng, dân chủ, bác ái và huynh đệ. Kinh nghiệm cho thấy, giáo dân thường sống đoàn kết,hiệp thông chung quanh một mục tử can đảm thực thi chức năng ngôn sứ của mình.

Để tránh gây chia rẽ trong cộng đoàn, linh mục cũng cần tránh xa sự tùy tiện của người lãnh đạo, nhất là trong việc đề cử các ban ngành. Ở nhiều nơi, đã có tình trạng giáo dân tập họp để bầu các ban ngành theo nội quy của giáo xứ. Cha xứ không đồng ý và đã chọn những người khác hợp sở thích của mình.Vì thế, giáo xứ chia rẽ. Một ít theo cha xứ. Số còn lại cho rằng giáo dân được quyền tự quyết trong việc chọn người đại diện của mình. Giáo xứ chia rẽ trầm trọng, người đến nhà thờ thưa dần. Đức Giám Mục phải đổi cha xứ đi nơi khác.

Còn một vấn đề khác rất cần cho tinh thần đoàn kết trong giáo xứ. Thông thường, khi nhận một xứ mới, trong giáo xứ thường có hai khuynh hướng: một theo cha mới và một theo cha cũ. Vì thế, để tránh xung đột xảy ra, cha mới nên dạy cho giáo dân biết tôn kính các linh mục quản xứ trước mình. Ở Sài Gòn, tôi thấy cha xứ họ đạo Gia Định thường cầu nguyện cho linh hồn các cha sở của họ đạo đã qua đời, ngài cũng dạy giáo dân tôn kính các cha đã từng giúp xứ Gia Định. Đây là một thái độ của những con người trưởng thành. Chúng ta không cần loại trừ người khác, hoặc các công trình của người khác để khẳng định chính mình. Ngược lại, khi có thái độ tôn trọng các vị tiền nhiệm thì giáo dân cũng tôn trọng linh mục quản xứ hiện tại, cũng giống như cha mẹ biết tôn trọng ông bà thì con cái sẽ tôn trọng cha mẹ.

Kết luận: Mỗi con người không phải là một ốc đảo. Sống là sống với và sống cho người khác. Ai đó đã thốt lên: giết người rồi ta ở với ai? Sống với người khác thì cần đối thoại. Ngôn ngữ Việt nam thật hay khi sử dụng danh từ "người ta", nghĩa là trong người có "ta" và trong "ta" có người. Ngôn ngữ càng hay hơn khi dùng từ "người khác", nghĩa là "người" luôn khác "ta" và "ta" luôn khác "người". Vì khác biệt, nên con người cần đối thoại để giảm bớt khoảng cách, để "người khác" dần dần trở thành "người ta". Linh mục là người của mọi người, người "làm dâu trăm họ", nên các ngài lại cần đối thoại hơn bao giờ hết. Khi đối thoại không chỉ bằng lời mà bằng cả cuộc đời, linh mục theo gương Đức Ki-Tô nhập thể sống giửa muôn người để thiết lập các tương quan: giao hòa giửa người với người và giao hòa giửa người với Thiên Chúa, cho mọi người "được sống và sống dồi dào". Cuộc đối thoại tuyệt vời nhất, chính là hy lễ được dâng trên bàn thờ mỗi ngày. Nơi đó, cộng đoàn dân Chúa, các chi thể khác biệt cùng hiệp nhất trong thân thể nhiệm mầu của Đức Ki-Tô, như bản hòa tấu kết hiệp bởi muôn cung đàn, để cùng dâng lên Chúa Cha lời cảm tạ tri ân vì ân huệ cuộc sống, Đức Tin và nhất là vì con người luôn có khả năng nói chuyện được với nhau sau những bất đồng.

Fx. Tiến-Dâng

TRANG TU SĨ

LẮNG NGHE TRONG TÌNH MẾN

Trong lớp giáo lý tôi phụ trách, Tú là một nam sinh hiếu học, hoạt bát và vui tính.  Em cũng rất tốt với bạn bè và hay giúp các bạn kém hơn.  Theo lời mẹ em thì trong gia đình, em rất ngoan ngoãn, vâng lời; ngoài giờ học ở trường, em thường giúp đỡ cha những công việc đồng áng.  Nhưng gần đây em tỏ ra trầm lặng, ít nói hơn, không còn tích cực trong các giờ học nữa.  Một hôm, sau khi xong lớp giáo lý, mọi người ra về; một lúc sau tôi trở lại đóng cửa phòng học thì nhìn thấy em đang một mình ngồi đó, mắt nhìn ra cửa sổ và không buồn chào tôi.  Tôi lên tiếng trước: "Con có điều buồn lắm hả?  Dì Năm có thể giúp con được gì không?"  Sau một lúc cúi đầu im lặng, Tú buồn bã tâm sự về hoàn cảnh của mình... 

"Gần tháng nay con gần như không muốn tiếp xúc với ba mẹ nữa.  Lý do là con đang suy nghĩ để nộp hồ sơ thi đại học. Con chọn Đại học Sư phạm trong khi ba thì muốn con thi vào ngành y làm bác sĩ giống anh Hai, mẹ lại bắt buộc con phải học ngành kiến trúc.  Ba mẹ nói: thời buổi này ai lại làm giáo viên nữa, đồng lương bèo lắm, làm sao có được tương lai tốt nếu không có nhiều tiền...?  Nhưng con chỉ thích dạy học thôi vì nghề đó hợp với con hơn.  Thế là liên tiếp mấy ngày liền, trong gia đình bắt đầu có sự bất đồng ý kiến, ai cũng muốn giữ lập trường của mình mà không nghĩ đến tương lai của con.  Ba thì cứ gặp con là cau có hoặc ra điều kiện là nếu như không thi ngành y thì đừng nhìn mặt ba nữa.  Còn mẹ con thì có vẻ nhượng bộ hơn với ba nhưng vẫn không muốn cho con thực hiện ước mơ của mình.  Hôm qua, ba con cố gắng thuyết phục để con chìu theo ý muốn của ông mà không chịu nghe con giải thích.  Và trong một phút nóng nảy, con đã lớn tiếng cãi lại với ba.  Đó là điều mà từ trước tới giờ con chưa bao giờ làm.  Con buồn lắm!  Giờ con không muốn về nhà nữa!"

Đó là một câu chuyện điển hình trong muôn ngàn trường hợp khác về sự đối thoại trong gia đình.  Nhiều gia đình vẫn giữ lối giáo dục cứng nhắc và bảo thủ của mình trong khi dạy dỗ và hướng dẫn con cái định hướng tương lai.  Cha mẹ nghĩ rằng: những gì mình cho là tốt, là có lợi cho con cái, đó phải là điều đúng nhất và bắt buộc con cái phải nghe theo; trong khi chúng ta không hề nghĩ tới cảm nhận hay những hoài bão chính đáng của con mình.  Rằng: làm con thì nhất nhất phải nghe cha mẹ, bất chấp điều đó có lợi hay cần thiết cho con mình hay không.

Chúng ta không biết rằng: chính sự áp đặt của bậc làm cha mẹ có thể là nguyên nhân đẫn đến sự bất hợp tác và phản kháng của con cái.  Cũng có khi vì quá lo lắng cho cuộc sống mà chúng ta quên dành giờ gần gũi, trò chuyện, lắng nghe con, để có thể hiểu được những nhu cầu và ước mơ cho dù là đơn giản nhất của con cái mình.  Trong khi con cái buồn vì cảm thấy cha mẹ không hiểu, không cởi mở hay thông cảm cho chúng; thì cha mẹ lại phàn nàn con cái bướng bỉnh, ngỗ nghịch và làm khổ mình nhiều quá.  Tất cả những điều này tạo nên bức tường ngăn cách giữa cha mẹ và con cái.  Nếu như những bậc làm cha mẹ không thay đổi những suy nghĩ mang tính bảo thủ, những cách cư xử đầy trưởng giả của mình, hay không chịu ngồi lại lắng nghe để có thể hiểu và thông cảm với con cái, thì bức tường ngăn cách này mỗi ngày sẽ cao thêm, và tình cảm trong gia đình sẽ bị rạn nứt và dễ dàng đổ vỡ.

Trong huấn từ tại Đại hội toàn thể lần thứ 21 của Hội đồng Toà Thánh về Gia đình tổ chức tại Rôma ngày 25. 10. 2013, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói: "Gia đình là nơi chúng ta được nhận một tên gọi, là nơi của mọi tình thương mến và là không gian thân mật, là nơi chúng ta học cách đối thoại và giao tiếp giữa con người với con người." 

Vả lại, khi được sinh ra trong một gia đình, mỗi người chúng ta đều có quyền lợi và phẩm giá của một con người, với sự khác biệt về giới tính, tính tình, sở thích... và những vai trò khác nhau, nhưng luôn bổ túc cho nhau.  Hiểu nhau, thông cảm cho nhau và tôn trọng ý kiến của nhau là điều không thể thiếu trong một gia đình.  Nhưng làm sao có thể hiểu, thông cảm và tôn trọng nhau nếu như cả cha mẹ và con cái không biết khiêm tốn lắng nghe nhau? 

Ước mong mỗi thành viên trong các gia đình Công Giáo đều ý thức chỗ đứng và trách nhiệm của mình trong mối tương quan mật thiết và gắn kết theo kiểu mẫu của cộng đoàn Thiên Chúa Ba Ngôi: tôn trọng, yêu thương và hiệp nhất ngay trong sự khác biệt đa dạng của mình, để gia đình có được tiếng nói chung và tình yêu Chúa luôn là điểm tựa cho tình yêu giữa các phần tử với nhau.  Cũng vậy, nơi gia đình Thánh Gia: Chúa Giêsu, Mẹ Maria và Thánh Giuse, mẫu gương của đời sống gia đình, các gia đình cũng hãy học cách đối thoại - một phương cách đối thoại bằng tình yêu, giúp các gia đình trở nên những chứng tá tình yêu Chúa cho cuộc sống hôm nay ngay trong đời sống thường ngày.

MTG  Cái Mơn

TRANG SỐNG ƠN GỌI

ƠN THIỆN TRIỆU

Ngày Thế Giới Cầu Nguyện cho Ơn Gọi đã được Giáo Hội cử hành trong 5 thập kỷ vừa qua. Thật vậy, năm 1964, Đức Thánh Cha Phaolô Đệ Lục đã thiết định việc cử hành Ngày Thế Giới Cầu Nguyện cho Ơn Gọi vào Chúa Nhật Thứ IV Mùa Phục sinh. Do đó, hằng năm Giáo Hội dùng ngày này để cầu nguyện cho các ơn gọi một cách đặc biệt. Vậy thế nào là cầu nguyện cho ơn gọi và ơn gọi được nảy sinh như thế nào?

Đối với tôi ơn gọi thường được nảy sinh trong một tâm hồn được ảnh hưởng bởi một môi trường tốt từ gia đình đạo đức, các đoàn thể sinh hoạt Công giáo, các nhóm công tác từ thiện... Từ những ảnh hưởng đó rồi ý tưởng đi tu được hình thành rõ nét hơn, có thể là qua một lần đi tĩnh tâm, gặp gỡ linh mục hay tu sĩ, lôi cuốn bởi chiếc áo dòng hay một cuốn phim về vị thánh... từ đó, họ đáp trả lại lời mời gọi của Thiên Chúa.

Chính vì lời mời gọi và sự đáp trả bất ngờ đó mà người ta đã gọi ơn gọi là một huyền nhiệm, Chúa gọi những ai Người muốn (x.Mc 3,13) hay là một ân huệ đặc biệt của Thiên Chúa nằm trong kế hoạch tình yêu và cứu độ bao la của Thiên Chúa đối với mỗi người và toàn thể nhân loại (x. Sứ điệp của ĐTC Bênêdictô XVI nhân ngày thế giới cầu cho ơn thiên triệu lần thứ 46). Vì ơn gọi là một ơn ban nhưng không từ Thiên Chúa, nghĩa là điều mà người ta không có quyền đòi hỏi hay tự hào là ơn gọi tôi có là do công sức hay tài năng của tôi, nhưng hoàn toàn là do bởi tình thương và thánh ý nhiệm mầu của Thiên Chúa: "Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em" (Ga 15,16). Trong ngôn ngữ thường dùng người ta hay dùng cụm từ đồng nghĩa với ơn gọi, đó là ơn thiên triệu (Thiên có nghĩa là trời, triệu có nghĩa là mời gọi). Như thế ơn gọi tiên khởi và nền tảng là chuyện riêng tư giữa Thiên Chúa và một con người "Người có ước muốn hoàn thành kế hoạch dành cho ta trong lòng Người nhưng Người muốn hoàn tất kế hoạch ấy với sự ưng thuận và hợp tác của chúng ta"(x. Sứ điệp Ngày Thế Giới Cầu Nguyện cho Ơn Gọi lần thứ 51 của Đức Thánh Cha Phanxicô ) .Chắc chắn một điều là khi Chúa chọn Người không bao giờ bỏ rơi vì Người luôn cần sự cộng tác của chúng ta!

Về phía những người được kêu gọi cần phải chăm chú lắng nghe, khôn ngoan phân định, quảng đại gắn bó với dự phóng của Thiên Chúa, và học hỏi kỹ lưỡng những gì thuộc về ơn gọi linh mục và tu sĩ để có thể đáp lại với tinh thần trách nhiệm và xác tín (x. Sứ điệp ĐTC Be. XVI) mà ĐTC Phanxicô gọi sự đáp trả đó là " một sự xuất hành khỏi chính mình để đặt trọng tâm cuộc sống chúng ta nơi Đức Kitô và Tin Mừng".

Đọc lại trong Tin Mừng Matthêu thuật lại việc Đức Giêsu nhìn đám đông dân chúng và chạnh lòng thương họ phải lầm than, như bầy chiên không người chăn dắt và người nói với các môn đệ: "lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về" (Mt 9, 38). Lời của Chúa Giêsu vẫn con văng vẳng bên tai mỗi người chúng ta, "Anh em hãy xin" đây chính là lời mời gọi cấp bách của Chúa Giêsu muốn mỗi người Kitô hữu chúng ta phải luôn nhớ tới và cầu nguyện cho các ơn gọi tu sĩ, linh mục. Như trong sứ điệp của ĐTC Bênêdictô cũng nói: "Bổn phận trước hết của chúng ta là phải không ngừng cầu nguyện để xin cho sáng kiến này của Thiên Chúa luôn sống động nơi các gia đình và các giáo xứ, nơi các phong trào và hiệp hội Tông Đồ, nơi các cộng đoàn tu trì và nơi tất cả các cơ cấu của đời sống Giáo Phận. Chúng ta phải cầu nguyện để toàn dân Kitô hữu lớn lên trong niềm tín thác vào Thiên Chúa, tin rằng chủ mùa gặt" không ngừng xin một số người tự ý đem cả đời mình phục vụ Người để cộng tác chặt chẽ hơn với Người và sứ vụ cứu độ". Cầu nguyện cho các ơn gọi không có nghĩa là Chúa thấy thiếu rồi xin thêm để rồi Người đổi ý theo chúng ta. Nhưng là Thiên Chúa luôn luôn kêu gọi những ai cần thiết cho công cuộc của Người, cho Giáo Hội Người, nhưng những người được kêu gọi có nhận ra và đáp trả không thì lại là một chuyện khác.

Vì thế ngày cấu nguyện cho ơn thiện triệu cũng là ngày nhắc nhở mỗi người Kitô hữu chúng ta hãy cầu cho chính mình, cho những người được Chúa kêu gọi và cho Giáo Hội. Nhìn vào thực trạng thế giới ngày nay nào là nạn phá thai khủng bố, kỳ thị chủng tộc, thông tin văn hóa đồi trụy, dường như nó đi ngược lại hoàn toàn với lý tưởng phục vụ của đời tu sĩ linh mục. Trong sứ điệp ngày cầu cho ơn gọi thiên triệu năm 2002 của Đức cố giáo hoàng Gioan Phaolô II viết rằng: "Lý tưởng này đang phải đối mặt với những cám dỗ mạnh mẽ của cá nhân chủ nghĩa, tính vị kỷ óc thống trị, lòng ham muốn lợi lộc vật chất và tham vọng quyền lợi". Cho nên mỗi Kitô hữu chúng ta phải luôn biết cầu nguyện cho những người được Thiên Chúa kêu gọi để họ biết lưu ý đến tiếng Chúa thôi thúc và biết đáp lại bằng việc chấp nhận những hy sinh, từ bỏ, tin tưởng và cậy trông vào Chúa để bước theo dấu chân Đức Kitô cách trọn vẹn hơn.

TRANG THIẾU NHI

SỬ DỤNG TỐT KHẢ NĂNG DÙNG LỜI NÓI

Một trong những khả năng quý báu mà Đấng Tạo Hóa ban cho con người là khả năng dùng lời nói để diễn tả cảm xúc của mình. Con người dùng khả năng này để trao đổi với nhau những điều cần thiết, để giúp nhau biết những suy nghĩ trong tâm hồn. Để rồi từ đó con người có thể thông cảm, gần nhau và yêu thương nhau hơn.

Ông bà ta đã thường nhắc nhở con cháu: "Học ăn, học nói, học gói, học mở"

"Lời nói không mất tiền mua.
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau"

"Chim khôn kêu tiếng rảnh rang.
Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe"

"Chim khôn chưa bắt đã bay, người khôn ít nói ít hay trả lời".

"Ăn có nhai, nói có nghĩ".

"Một lời nói dối, sám hối bảy ngày"....

Và những câu danh ngôn dạy về lời nói:

"Nếu trái tim bạn là một đóa hồng, miệng bạn sẽ thốt ra những lời ngát hương".(Ngạn ngữ Anh)

"Tôi thường hối tiếc vì đã mở miệng, chứ không hề hối tiếc vì đã im lặng". (Phillipe de Commynes)

"Hãy suy nghĩ tất cả những gì bạn nói, nhưng đừng nói tất cả những gì bạn  nghĩ". (Delarme)

Như vậy, việc sử dụng lời nói của con người thật là quan trọng trong đời sống giữa người tín hữu với Thiên Chúa cũng như giữa con người với nhau.

Thực tế cho thấy, ngày nay số gia đình Công giáo càng ngày càng ít cầu nguyện hơn. Khả năng dùng lời nói Chúa ban để người tín hữu biết thưa chuyện và tâm tình với Chúa. Các thành viên trong gia đình thường xuyên nhắc nhở nhau đến Nhà thờ tham dự Thánh lễ để cùng cầu nguyện với cộng đoàn Họ đạo thật là tốt biết bao. Cũng thế, mỗi tối trước khi đi ngủ mỗi gia đình Công giáo ngồi quây quần trước bàn thờ Chúa để đọc kinh chung là một hình ảnh rất đẹp.

Tin Mừng cho ta biết rất nhiều người đã biết dùng khả năng dùng lời nói này để thưa với Chúa Giêsu và kết quả hầu như lúc nào cũng tốt đẹp: Người mù tại thành Giêricô đã kêu xin với Chúa Giêsu xin Người chữa mình (Mc 10, 36 - 42); Người phụ nữ xứ Canaan đã xin Chúa chữa cho con của mình (Mt 15, 21 - 28); Viên sĩ quan đến xin Chúa chữa cho người đầy tớ thân tín của ông (Lc 7, 1 - 10).

Sở dĩ ngày nay một trong những lý do khiến cho nhiều gia đình trẻ Công giáo tan vỡ là các thành viên trong gia đình không sử dụng tốt khả năng dùng lời nói của mình. Thay vì nói những lời hay ý đẹp để xây dựng, khích lệ và động viên nhau thì họ lại dùng lời nói để khích nhau, moi móc những tật xấu của nhau, thậm chí đay nghiến nhau. 

Chỉ duy nhất con người mới là thụ tao được Thiên Chúa ban cho khả năng dùng lời nói. Đó là ân ban đặc biệt cao quý mà nhiều lúc ta chưa nhận ra. Ước gì hôm nay, ngày mai và mãi mãi khả năng dùng lời nói của người tín hữu Công giáo được tốt đẹp hơn. Sự tốt đẹp ấy được thể hiện qua tương quan với Chúa và tương quan với nhau trong môi trường gia đình.

TRANG GIỚI TRẺ

Bài Giáo Lý III Về Kinh Tin Kính Của ĐTC Phanxicô

Ý Nghĩa việc Lên Trời của Đức Kitô

Dưới đây là bản dịch bài Giáo Lý thứ ba của ĐTC Phanxicô về Năm Đức Tin trong buổi Triều Yết Chung tại Quảng trường Thánh Phêrô, hôm thứ tư ngày 17 tháng 4 năm 2013. Hôm nay Ngài tiếp tục loạt bài về Kinh Tin Kính mà ĐTC Bênêđictô XVI đã bắt đầu.

Anh chị em thân mến, chào anh chị em.

Trong kinh Tin Kính chúng ta thấy có khẳng định rằng Chúa Giêsu "lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha." Cuộc sống trần thế của Chúa Giêsu đạt đến tột đỉnh với biến cố Lên Trời, nghĩa là, khi Người qua thế gian này mà về với Chúa Cha và được đưa lên ngự bên hữu Ngài. Ý nghĩa của biến cố này là gì? Hậu quả của biến cố này đối với cuộc sống của chúng ta là gì? Chiêm ngưỡng Chúa Giêsu ngự bên hữu Đức Chúa Cha nghĩa là gì? Chúng ta sẽ để cho Thánh Sử Luca hướng dẫn mình về điều này.

Chúng ta sẽ bắt đầu từ lúc Chúa Giêsu quyết định thực hiện cuộc hành trình cuối cùng của Người lên Giêrusalem. Thánh Luca ghi nhận: "Khi gần đến ngày Người được đưa lên trời, Người nhất định đi lên Giêrusalem." (Lc 9:51). Trong khi Người "đi lên" Thành Thánh, nơi mà cuộc "xuất hành" của Người khỏi cuộc sống này sẽ được hoàn thành, Chúa Giêsu đã thấy cùng đích là Thiên Đàng, nhưng Người biết rõ rằng con đường sẽ đưa Người vào vinh quang của Chúa Cha phải đi qua Thánh Giá, qua sự vâng phục kế hoạch yêu thương nhân loại của Thiên Chúa. Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo nói rằng "việc nâng lên Chúa Giêsu lên trên thập giá ám chỉ và loan báo việc đưa Người lên qua sự lên Trời của Người" (số 662). Trong đời sống Kitô hữu của mình, chúng ta cũng phải hiểu rất rõ rằng để đi vào vinh quang Thiên Chúa đòi hỏi phải trung thành với Thánh Ý của Ngài hàng ngày, ngay cả khi điều ấy đòi hỏi hy sinh, khi điều ấy đôi khi đòi buộc chúng ta phải thay đổi kế hoạch của mình. Việc Lên Trời của Chúa Giêsu đã diễn ra cách cụ thể trên Núi Cây Dầu, gần nơi mà Người lui về cầu nguyện trước Cuộc Khổ Nạn ở lại trong sự kết hợp mật thiết với Chúa Cha: một lần nữa chúng ta thấy rằng cầu nguyện cho chúng ta ân sủng để sống trung thành với kế hoạch của Thiên Chúa.

Ở cuối Tin Mừng của ngài, Thánh Luca kể lại biến cố Thăng Thiên một cách rất tổng hợp. Chúa Giêsu dẫn các môn đệ "đi đến tận vùng gần Bêtania, và giơ tay chúc lành cho các ông. Trong khi Người đang chúc lành, thì Người rời khỏi các ông và được rước lên trời. Các ông thờ lạy Người rồi trở lại Giêrusalem, lòng tràn ngập niềm vui, và luôn ở trong Ðền Thờ mà ngợi khen Thiên Chúa." (Lc 24:50-53): Đó là điều mà Thánh Luca nói. Tôi muốn ghi nhận hai yếu tố của tường thuật này. Trước hết, trong khi Lên Trời, Chúa Giêsu làm cử chỉ chúc lành của tư tế và các môn đệ chắc chắn bày tỏ đức tin của mình với việc thờ lạy, quỳ gối và cúi đầu của các ông. Đây là một điểm quan trọng thứ nhất: Chúa Giêsu là vị tư tế duy nhất một và vĩnh cửu, là Đấng với Cuộc Khổ Nạn của Người, đã đi qua cái chết, ngôi mộ và Sống Lại cùng Lên Trời.  Người ở cạnh Thiên Chúa Cha, nơi Người mãi mãi cầu bầu cho chúng ta (x. Dt 9:24). Như Thánh Gioan nói trong Thư Thứ Nhất của ngài, Người là Ðấng Bào Chữa cho chúng ta: đẹp biết bao khi nghe điều này. Khi một người bị gọi ra trước quan tòa hay bị gọi ra xét xử, điều đầu tiên người ấy làm là tìm một trạng sư để bảo vệ mình. Chúng ta có một Đấng luôn luôn bảo vệ chúng ta. Người bảo vệ chúng ta khỏi mưu chước xảo quyệt của ma quỉ, Người bảo vệ chúng ta khỏi chính mình, khỏi tội lỗi của mình! Anh chị em thân mến, chúng ta có Đấng Bào Chữa này: chúng ta đừng sợ hãi đến cùng Người để xin ơn tha thứ, để xin phúc lành của Người, để cầu xin Người thương xót. Người luôn luôn tha thứ cho chúng ta, Người là Đấng Bào Chữa cho chúng ta: Người luôn luôn bảo vệ chúng ta. Đừng quên điều này!

Do đó việc Chúa Giêsu Lên Trời làm cho chúng ta biết thực tại rất an ủi này dành cho cuộc hành trình của mình: trong Đức Kitô, là Thiên Chúa thật và người thật, bản tính nhân loại của chúng ta đã được đưa lên cùng Thiên Chúa; Người đã mở đường cho chúng ta; Người như người đứng đầu của một dây kéo khi leo lên một ngọn núi, Đấng đến đỉnh núi và kéo chúng ta lên với chính Người, dẫn dắt chúng ta đến với Thiên Chúa. Nếu chúng ta phó thác cuộc đời của chúng ta cho Người, nếu chúng ta để cho mình được Người hướng dẫn, chúng ta nhất định ở trong vòng tay an toàn, trong vòng tay của Đấng Cứu Độ chúng ta, trong tay Đấng Bào Chữa cho chúng ta.

Một yếu tố thứ hai: Thánh Luca nói rằng các Tông Đồ, sau khi thấy Chúa lên trời, trở về Giêrusalem "lòng tràn ngập niềm vui." Điều này có vẻ hơi xa lạ đối với chúng ta. Nói chung, khi phải xa cách người thân và bạn bè của mình, vì một cuộc ra đi dứt khoát, và trên hết là vì cái chết, thì trong lòng chúng ta tự nhiên cảm thấy buồn bởi vì chúng ta sẽ không còn nhìn thấy khuôn mặt của họ, chúng ta sẽ không còn nghe thấy tiếng nói của họ, chúng ta sẽ không còn có thể tận hưởng tình cảm của họ và sự hiện diện của họ. Thay vào đó, Thánh Sử nhấn mạnh đến niềm vui sâu xa của các Tông Đồ. Nhưng làm sao điều đó có thể xảy ra?  Chính bởi vì, với cái nhìn đức tin, các ông hiểu rằng, mặc dù không còn trong tầm mắt của các ông, Chúa Giêsu luôn luôn ở lại với các ông, Người không bỏ rơi các ông, và trong vinh quang của Chúa Cha, Người nâng đỡ các ông, hướng dẫn các ông và cầu bầu cho các ông.

Thánh Luca cũng kể lại biến cố Thăng Thiên ở đầu sách Tông Đồ Công Vụ, để nhấn mạnh rằng biến cố này như cái vòng cột chặt và liên kết cuộc sống trần thế của Chúa Giêsu với cuộc sống của Hội Thánh. Ở đây Thánh Luca cũng đề cập đến đám mây che khuất Chúa Giêsu khỏi nhãn quan của các môn đệ, lúc các ông vẫn còn nhìn chăm chú vào Đức Kitô khi Người lên cùng Chúa Cha (x. Cv 1:9-10). Sau đó có hai người đàn ông mặc áo choàng trắng đứng cạnh các ông, đã yêu cầu các ông đừng đứng đó nhìn trời, nhưng hãy nuôi dưỡng cuộc sống các ông và việc làm nhân chứng của các ông cho điều chắc chắn rằng Chúa Giêsu sẽ trở lại cùng một cách như các ông đã thấy Người lên trời (x. Cv 1:10-11).  Thực ra, đó là lời mời để bắt đầu từ việc chiêm niệm về quyền làm Chúa của Đức Kitô, ngõ hầu nhận được từ Người sức mạnh để mang Tin Mừng và làm chứng cho Tin Mừng trong cuộc sống hàng ngày: Thánh Bênêdictô dạy rằng chiêm niệm và hành động, cầu nguyện và làm việc, cả hai đều cần thiết trong cuộc sống Kitô hữu của chúng ta.

Anh chị em thân mến, việc Chúa Lên Trời không biểu thị sự vắng mặt của Chúa Giêsu, nhưng nói cho chúng ta biết rằng Người vẫn còn sống và ở giữa chúng ta bằng một cách thế mới; Người không còn ở một nơi cụ thể trên thế gian như trước khi Lên Trời; giờ đây Người ở trong quyền lực của Thiên Chúa, trong sự hiện diện ở mọi không gian và thời gian, gần gũi mỗi người chúng ta. Chúng ta không bao giờ bị cô đơn trong cuộc sống của mình: Chúa Chịu Đóng Đinh và Phục Sinh hướng dẫn chúng ta; có rất nhiều anh chị em cùng với chúng ta sống đức tin của họ hàng ngày trong thinh lặng và âm thầm, trong cuộc sống gia đình và làm việc của họ, trong những vấn đề và những khó khăn của họ, trong niềm vui và hy vọng của họ, và mang đến cho thế gian quyền lực của tình yêu Thiên Chúa, trong Đức Chúa Giêsu Kitô đã Sống Lại và Lên Trời, Đấng Bầu Cử cho chúng ta. Cảm ơn anh chị em.

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ. Nguồn: giaoly.org

TRANG GIA ĐÌNH

GIA ĐÌNH SỐNG ĐỨC TIN THEO GƯƠNG MẸ MARIA

Đức Mẹ được Thiên Chúa thương yêu, tuyển chọn và ban cho Mẹ nhiều đặc ân, nhất là đặc ân cao cả làm Mẹ Thiên Chúa. Mẹ đã đáp lại bằng lòng tin yêu, phó thác và vâng phục. Trong giới hạn của bài viết này, xin được nêu ra một số điểm trong đời sống đức tin của Đức Mẹ để mỗi gia đình chúng ta noi gương Mẹ, cùng sống sống đức tin với Mẹ trong đời sống của mình.

1."Này tôi là nữ tỳ của Chúa, tôi xin vâng như lời sứ thần truyền".

Lời thưa xin vâng của Mẹ được thốt ra trên cửa miệng không phải một lần mà trong suốt cả cuộc đời, lúc truyền tin đến hang đá Bêlem và cho đến núi sọ. Điều ấy, chứng tỏ cho ta thấy Mẹ Maria đã sống một niềm tin phó thác trọn vẹn Thiên Chúa mỗi ngày. Đức tin của Mẹ cũng gặp nhiều những gian nan, thử thách. Tuy vậy, Mẹ luôn quy hướng về Thiên Chúa, Mẹ "suy đi nghĩ lại" mọi điều để tìm ra Thánh Ý Chúa, sống đẹp lòng Thiên Chúa.

Noi gương Mẹ chúng ta củng cố niềm tin bằng chính việc đọc lời Chúa, lắng nghe lời Chúa, suy niệm lời Chúa. " Suy đi nghĩ lại trong lòng",  để thấy ý Chúa trong quyết tâm sống theo Lời Chúa hướng dẫn.

Noi gương Mẹ Maria, chúng ta đón nhận thánh ý Chúa trong từng biến cố của cuộc đời. Dù lúc chúng ta tràn đây niềm vui vì đạt được những thành quả tốt cho cuộc sống, hay lúc chúng ta phải ngặt nghèo đương đầu với mọi thử thách, chúng ta vẫn thực hiện ý Chúa trong cuộc sống của mình.

Chúng ta cùng Mẹ sống những biến cố quan trọng trong cuộc đời của Chúa,  thể hiện qua những mầu nhiệm kinh Mân Côi mà chúng ta đọc hằng ngày. Sống những mầu nhiệm ấy, đời sống đức tin của mỗi gia đình chúng ta được nuôi dưỡng và tăng trưởng hơn.

2."Maria mẹ  tràn đầy ơn phúc".

Thiên Chúa đã chọn cung lòng thanh khiết của Mẹ để trao gởi Người Con Yêu Dấu của Ngài là Đấng Thánh. Chính nhờ Mẹ, với Mẹ và qua của Mẹ, Thiên Chúa đã trao ban Đấng Cứu Độ cho loài người.

Để được tràn đầy ơn phúc, mỗi gia đình năng tham dự thánh lễ vì thánh lễ là chóp đỉnh của đời sống người Kitô hữu. Từ việc tham dự thánh lễ, nguồn ân sủng của Thiên Chúa sẻ đổ dạt dào xuống cho mỗi gia đình chúng ta.

Việc lãnh nhận bí tích Hoà Giải làm cho tâm hồn chúng ta được thanh tẩy trong trắng hầu ơn Chúa có thể đổ tràn đầy trong lòng chúng ta

Các giờ kinh trong gia đình là phương thế hữu hiệu giúp cho chúng ta đón nhận ơn  thánh, tạo bầu khí đạo đức, bình an, thuận hoà và đầm ấm trong gia đình. Chính đời sống cầu nguyện là phương thế hữu hiệu giúp chúng ta tránh xa tội lỗi.

3. Mẹ Maria là người mẹ gương mẫu trong việc nuôi dưỡng và bảo vệ sự sống.

Mẹ được trao cho sứ mệnh cưu mang Đấng Cứu Thế và Mẹ đã chu toàn sứ mệnh ấy. Khi vừa mới sinh hạ hài nhi Gisêsu, người ta đã tìm cách sát hại hài nhi. Mẹ đã lặn lội đem hài nhi sang Ai Cập để có thể bảo vệ sư sống cho con mình. Mẹ đã nuôi dưỡng cho con mình được lớn lên, đã đem con dâng con trong đền thánh theo luật Môisê, đã đưa con đi lên Giêrusalem để dự lễ Vượt Qua theo luật.

Noi gương Mẹ mỗi gia đình biết bảo vệ sự sống cho con cái ngay khi còn là thai nhi. Bảo vệ sự sống tinh thần cho con cái, giúp con cái tránh khỏi những độc tố của xã hội tác hại làm mất sự sống linh hồn. Giáo dục đức tin cho con cái và giúp con cái biết sống đức tin cách trưởng thành. Đặc biệt cha mẹ làm gương cho con cái, hướng dẫn chúng biết cách cầu nguyện, suy nghĩ và hành động theo đức tin Kitô giáo, dẫn dắt chúng đi tham dự thánh lễ, nhất là thánh lễ Chúa Nhật.

Mỗi người chúng ta cùng nhìn lại:

  • Vị trí của Đức Mẹ trong đời sống hằng ngày của mỗi người.
  • Việc noi gương Đức Mẹ như thế nào trong đời sống kinh nguyện, vâng ý Chúa như thế nào trong những biến cố của cá nhân và gia đình.
  • Việc giáo dục đức tin cho con cái.

Để từ đó chúng ta có thể chỉnh đốn lại những gì còn thiếu sót và phát huy hơn nữa những gì chúng ta đã sống tốt. Nhờ sự trợ giúp của Mẹ Maria, chúng ta cùng tiến bước với Mẹ trên đường nên thánh và tiến về quê thật với Mẹ trên nước Chúa.

 Ban Đặc Trách Gia Trưởng Gp. Xuân Lộc

TRANG GIÁO LÝ VIÊN

25 Bài Giáo Lý Về Thánh Phaolô

Bài 03: Thánh Phaolô viết bao nhiêu thư? Và Khi nào?

Đọc trong Tân Ước, ta thấy có 13 thư mang tên tác giả Phaolô gởi cho các giáo đoàn hay cá nhân theo thứ tự: Rôma, 1 và 2 Corintô, Galata, Ephêsô, Philiphê, Côlôsê, 1 và 2 Thesalônica, 1 và 2 Timôtê, Titô, và Philêmon.

Một số học giả Thánh Kinh cho rằng tất cả 13 thư trên là do Phaolô viết hay những trợ tá trực tiếp viết. Nhưng phần lớn các học giả Thánh kinh ngày nay tin rằng chỉ có 7 thư do chính Phaolô viết là: Roma, 1 và 2 Corintô, Galata, Philiphê, 1 Thesalonica và Philêmon. Ngay cả trong số 7 thư này cũng có những cộng sự viên cùng viết với Ngài và tên của họ được liệt kê trong những lời giới thiệu đầu thư như thư 1 và 2 Côrintô, Philiphê, 1 Thesalonica và Philêmon.

Còn sáu thư còn lại (2 Thesalonica, Ephêsô, Côlôsê, 1 và 2 Timôtê và Titô) là đề tài tranh luận giữa những học giả Thánh Kinh về tác quyền, và họ gọi những thư này là Thứ Kinh (Deutero-Pauline letters).

Trong thế kỷ thứ nhất người Do Thái và vùng ảnh hưởng Hi Lạp có thói quen viết thư nhân danh một nhân vật quan trọng mà mình thật sự quen biết và thông hiểu tư tưởng người đó, rồi trao danh dự cho người đó bằng cách ký tên nhân vật đó là tác giả.

Chúng ta ngày nay có thể không hiểu cách làm việc này và cho là vi phạm tác quyền. Nhưng những người của thế kỷ thứ nhất quan niệm về tác quyền hoàn toàn khác chúng ta ngày nay. Điều quan trọng là những thư viết này phải phản ánh được tư tưởng của người mà họ muốn cống hiến tên tuổi làm tác giả.

Nói cách khác, những người viết thay này thường là học trò / môn đệ hay bạn bè thân thiết đã hiểu được tư tưởng người được gọi là tác giả.

Vì thế, dù có những khác biệt về hình thức trình bày và cách hành văn, 6 thư còn lại vẫn diễn tả tư tưởng của Phaolô và tiếp tục những giáo huấn được ghi lại trong 7 lá thư mà người ta tin chắc chắn là do chính Phaolô viết.

Về thời gian, rất khó biết chính xác, nhưng các học giả sắp xếp những thư như sau: 1 Thesalônica chừng 50-51; 1 và 2 Corintô chừng 54-55; Galata chừng 54-55; Philiphê chừng 56; Rôma chừng 57-58; Philêmon chừng 60-61; 2 Thesalonica, Côlôsê và Ephêsô chừng giữa thập niên 80 (và nếu thật sự Phaolô viết những thư này thì có thể vào giữa những năm 50); 1 và 2 Timôthê và Titô chừng giữa 60-90 (và nếu thật sự Phaolô viết thì có thể đầu những năm 60).

Nhìn chung, tất cả 13 thư trên đều trình bày những giáo huấn thống nhất của một Phaolô cương nghị, dứt khoát và nhiệt tình trong giảng dạy.

Lm. Mt. Nguyễn khắc Hy, S.S.
Nguồn: liendoanconggiao.net

TRANG QUỚI CHỨC

VE THÁNG NĂM

Mỗi mùa hè sang chúng ta lại nghe tiếng ve. Đã mấy mươi năm trôi qua, đã nghe ve kêu biết bao nhiêu lần rồi nhưng sao không ấn tượng bằng năm nay.

Về chổ ở mới gần một năm, có những cái mới, nhưng ấn tượng hơn là năm nay trời nóng hơn và không biết có phải vì thế mà ve nhiều hơn không. Ai cũng nói năm nay ve nhiều thật. Ở chỗ cũ tiếng ve chỉ lác đác nghe rất thơ mộng, gợi nhớ những kỷ niệm thời còn đi học, nhưng ở đây ve kêu như tiếng máy nổ, kêu không nghỉ, nó kêu cả ngày lẫn đêm. Những đêm nóng bức khó ngủ, nghe tiếng ve kêu lại càng khó ngủ. Ngày xưa muốn tìm bắt một con ve xem cho biết nó như thế nào nhưng rất khó tìm, còn năm nay, tối tối nhìn thấy ánh đèn nó bay vào tận trong nhà. Hôm tối thứ năm Tuần Thánh nó bay vào nhà chầu nơi cất Mình Thánh Chúa, chỉ hai con thôi mà hơn hai mươi người đọc kinh còn nhỏ hơn tiếng kêu của chúng. Quá ấn tượng về chúng nên tôi quyết định đi tìm hiểu về chúng.

Bắt thử một con ve, thấy nó to hơn ve ngày xưa mình từng biết. chắc có lẽ vì thế mà tiếng của nó nghe cũng kinh khủng hơn. Tra cứu sách vở người ta nói rằng: chỉ ve đực mới phát ra tiếng kêu mà thôi ve cái không phát ra tiếng kêu. Nhưng ở ve cái có bộ phận nhận ra âm thanh của ve đực. Chính nhờ đó mà chúng đến được với nhau để sinh sản.

Thật lý thú và phải nhìn nhận đây là sự xếp đặt của Đấng tạo thành. Nếu ve cái không nghe được tiếng ve đực thì sự thể sẽ thế nào ? Ve sẽ không còn nữa vì chúng không thể tìm đến được với nhau và sẽ....tuyệt chủng !

Qui luật "nói và nghe" này thật ra không chỉ áp dụng cho chỉ loài ve mà Thiên Chúa còn muốn áp dụng cho các loài vật có cùng loài với nhau, ở mỗi loài có một phương thế riêng để nhận ra nhau nhưng cách "nói và nghe" ở loài ve lại rất gần với loài người, đặt biệt là các cộng đoàn gia đình.

Đầu tiên hai người đến được với nhau nhờ nghe được nhịp đập con tim của nhau, kế đến người ta hiểu nhau nhờ những lời thì thầm của nhau và từ đó người ta mến nhau, quyến luyến nhau. Nhưng ở con người hơn con ve ở chổ ve cái chỉ nghe mà không nói còn ở người, người nữ không chỉ biết nghe mà còn biết chia xẻ tâm sự. chính nhờ đó mà mối liên kết trong gia đình càng thêm đậm đà thắm thiết như đường thêm mật. Chúa ban ơn cho loài người nhiêu hơn loài vật chăng ? Cảm ơn Chúa !

Có lẽ chúng ta cần phát huy ân sủng này nhiều hơn để làm cho gia đình mỗi ngày một đầm ấm hơn. Ông bà ta có dạy: phu xướng phụ tùy, chồng kêu vợ dạ...những câu này tuy còn phiến diện, chỉ nghiêng một chiều người chồng người cha do ảnh hưởng của nho giáo nhưng không phải là không còn giá trị. Ngày nay xã hội văn minh hơn mỗi người đều có quyền có ý kiến riêng điều đó rất tốt để hiểu được nhau. Nhưng quan trọng là chúng ta có biết lắng nghe nhau hay không ?

Một gia đình biết lắng nghe nhau sẽ giải quyết được rất nhiều vấn đề : sẽ không còn bằng mặt mà không bằng lòng, không còn khẩu phục mà tâm không phục, vợ chồng bớt đi những hiểu lầm, con cái sẽ không ngổ nghịch ương bướng...

Cả trong việc cầu nguyện chúng ta cũng cần học bài học từ con ve này. Thường chúng ta cứ nghĩ cầu nguyện là phải nói cho Chúa nghe mà không biết nghe Chúa nói. Chính vì thế mà chúng ta thường rất ngán cầu nguyện, đặc biệt là các giờ chầu lâu giờ, bởi vi biết nói gì với Chúa cả hàng giờ như thế ?! Sao chúng ta dành nói hết mà chúng ta không biết lắng nghe vậy ! Người xưa nói : nói là gieo, nghe là gặt. Chúng ta chỉ giao mà không gặt nên thường chúng ta thấy cầu nguyện có vẽ như vô ích, Chúa dường như không nghe lời cầu của chúng ta là vậy. Chúng ta chưa nghe câu trả lời của Chúa mà !

Tháng Năm về, xin Đức Mẹ giúp chúng ta biết lắng nghe tiếng Chúa và tiếng của lòng nhau !

SỐNG ĐẸP

Tiểu sử  Thánh Gioan XXIII và Thánh Gioan Phaolô II

VATICAN - Trong nghi lễ tuyên thánh cho hai vị Giáo hoàng Gioan XXIII và Gioan Phaolô II hôm 27.4.20014 tại quảng trường Thánh Phêrô, Thánh lễ bắt đầu như sau:

Đức Thánh Cha Phanxicô vừa làm dấu thánh giá khai mạc buổi lễ.

Trước hết, Đức Hồng Y Angelo Amato, tổng trưởng Bộ Phong Thánh sẽ tuyên đọc tiểu sử Đức Thánh Cha Gioan XXIII và Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II. Sau đó, Đức Thánh Cha và cộng đoàn sẽ cùng quỳ gối đọc kinh cầu các thánh xin Chúa đoái thương và gìn giữ Hội Thánh của Ngài trong quyết định quan trọng sắp diễn ra.

Lễ nghi sẽ được tiếp nối với việc các cáo thỉnh viên của án phong thánh tiến lên xin Đức Thánh Cha Phong Thánh cho hai vị là Chân Phước Giáo Hoàng Gioan XXIII và Chân Phước Giáo Hoàng Phaolô II.

Phần quan trọng nhất trong lễ nghi ngày hôm nay sẽ diễn ra sau đó với việc Đức Thánh Cha Phanxicô long trọng đọc công thức Phong Thánh và tuyên bố hai vị Chân Phước Giáo Hoàng là Thánh.

Sau đó, các phần của Thánh Lễ ngày Chúa Nhật Kính Lòng Thương Xót Chúa sẽ diễn ra như thường lệ.

Kính thưa quý vị và anh chị em, sau đây là phần tiều sử 2 vị Thánh chính thức được công bố hôm nay:

Đức Hồng Y Angelo Amato, tổng trưởng Bộ Phong Thánh đang tiến lên trước Đức Thánh Cha và tuyên đọc tiểu sử Đức Thánh Cha Gioan XXIII.

Tiểu sử Đức Thánh Cha Gioan XXIII

Angelo Giuseppe Roncalli sinh ngày 25 tháng 11 năm 1881, tại Sotto il Monte, thuộc giáo phận và tỉnh Bergamo. Là con thứ tư của gia đình, ngài được rửa tội cùng ngày. Dưới sự dìu dắt của vị linh mục chính xứ xuất chúng, Cha Francesco Rebuzzini, ngài được đào tạo sâu sắc về phương diện Giáo Hội, một sự đào tạo sẽ nâng đỡ ngài trong lúc khó khăn và gợi hứng cho ngài trong các công tác tông đồ.

Ngài được thêm sức và rước lễ lần đầu năm 1889 và gia nhập chủng viện Bergamo năm 1892. Ngài tiếp tục học cổ điển và thần học tại đây cho tới năm thứ hai thần học. Mới chỉ là một thiếu niên 14 tuổi, ngài đã bắt đầu viết nhật ký thiêng liêng và lưu giữ chúng dưới nhiều hình thức khác nhau cho tới ngày qua đời. Sau này, tất cả các nhật ký này đã được gom lại thành cuốn Nhật Ký Của Một Linh Hồn. Chính tại nơi này, ngài bắt đầu thực hành đều đặn việc linh hướng. Ngày 1 tháng 3 năm 1896, vị linh hướng của Chủng Viện Bergamo, Cha Luigi Isacchi, ghi danh cho ngài gia nhập Dòng Ba Phanxicô; ngài khấn luật dòng này ngày 23 tháng 5 năm 1897.

Từ năm 1901 tới năm 1905, ngài theo học Giáo Hoàng Chủng Viện Rôma, nơi ngài được giáo phận Bergamo cấp học bổng cho các sinh viên ưu tú. Trong khoảng thời gian này, ngài hoàn tất một năm nghĩa vụ quân sự. Ngài được truyền chức linh mục ngày 10 tháng 8 năm 1904 ở Rôma, tại nhà thờ Santa Maria in Monte Santo in Piazza del Popolo. Năm 1905, ngài được cử làm thư ký cho tân giám mục của giáo phận Bergamo, là Đức Cha Giacomo Maria Radini Tedeschi. Ngài giữ vai trò này cho tới năm 1914, tháp tùng Đức Cha đi thăm viếng mục vụ và tham gia nhiều sáng kiến mục vụ khác như hội đồng giám mục, viết xã luận cho nguyệt san giáo phận tên là La Vita Diocesana (Sinh Hoạt Giáo Phận), đi hành hương và nhiều công trình xã hội khác nhau. Ngài cũng dạy các môn lịch sử, giáo phụ học và hộ giáo tại chủng viện. Năm 1910, khi duyệt lại qui chế của Công Giáo Tiến Hành, Đức Cha giáo phận trao cho ngài việc chăm sóc mục vụ cho các phụ nữ Công Giáo (phân bộ V). Ngài thường xuyên viết cho nhật báo Công Giáo của giáo phận Bergamo. Ngài cũng là một diễn giả cần mẫn, sâu sắc và hữu hiệu.

Đó là những năm ngài tiếp xúc sâu sắc với các vị thánh giám mục: Thánh Charles Borromeo (mà tác phẩm Atti della Visita Apostolica, được hoàn thành tại Bergamo năm 1575, sẽ được chính ngài phát hành sau này), Thánh Phanxicô de Sales và chân phúc Gregorio Barbarigo. Đó cũng là những năm tháng hoạt động mục vụ vĩ đại bên cạnh Đức Cha Radini Tedeschi. Khi vị này qua đời vào năm 1914, Cha Roncalli tiếp tục thừa tác vụ linh mục của mình trong vai trò giáo sư chủng vidện và phụ tá linh hướng cho nhiều hiệp hội Công Giáo.

Khi Ý tham chiến vào năm 1915, ngài bị gọi thục hành nghĩa vụ quân sự trong tư cách trung sĩ quân y. Một năm sau, ngài trở thành tuyên úy quân đội, phục vụ tại các bệnh viện quân sự tại hậu phương, và phối hợp việc chăm sóc thiêng liêng và luân lý cho các binh sĩ. Lúc chấm dứt chiến tranh, ngài mở một Cư Xá Cho Các Sinh Viên và chính ngài cũng phục vụ làm tuyên úy cho sinh viên. Năm 1919, ngài được cử làm linh hướng cho chủng viện.

Năm 1921 đánh dấu giai đoạn hai trong cuộc đời của ngài: phục vụ Tòa Thánh. Được Đức Bênêđíctô XV triệu về Rôma làm chủ tịch hội đồng trung ương Hội Truyền Bá Đức Tin của Ý, ngài đi thăm nhiều giáo phận và nhiều giới truyền giáo có tổ chức của Ý. Năm 1925, Đức Piô XI cử ngài làm Khâm Sứ Tòa Thánh tại Bulgaria, nâng ngài lên chức giám mục, hiệu tòa Areopolis. Ngài chọn khẩu hiệu giám mục là Oboedentia et Pax (vâng lời và bình an), một khẩu hiệu được dùng làm chương trình cho đời ngài.

Được phong chức giám mục ngày 19 tháng 3, năm 1925, ngài tới Sophia ngày 25 tháng 4. Sau đó, được cử làm Đại Diện Tòa Thánh đầu tiên tại Bulgaria, Đức Tổng Giám Mục Roncalli tiếp tục phục vụ tại đây cho tới năm 1934, thăm viếng các cộng đoàn Kitô Giáo và phát huy các mối liên hệ tương kính đối với các cộng đoàn Kitô Giáo khác. Ngài có mặt và cung cấp nhiều trợ giúp bác ái trong vụ động đất năm 1928. Ngài âm thầm chịu đựng các hiều lầm cũng như các khó khăn của một thừa tác vụ lúc tiến ngừng. Ngài phát triển việc hiểu mình và niềm tự tin cũng như phó thác trong tay Chúa Kitô chịu đóng đinh.

Ngày 27 tháng 11 năm 1934, Ngài được cử làm Đại Diện Tòa Thánh tại Thổ Nhĩ Kỳ và Hy Lạp. Trách nhiệm mới của ngài bao trùm một khu vực khá rộng. Giáo Hội Công Giáo hiện diện nhiều cách tại Cộng Hòa non trẻ Thổ Nhĩ Kỳ; Cộng Hòa này đang trong diễn trình đổi mới và tự tổ chức. Thừa tác vụ của ngài đối với người Công Giáo khá đòi hỏi và ngài được tiếng trong cung cách kính trọng của ngài và trong việc đối thoại với người Chính Thống Giáo và Hồi Giáo. Lúc Thế Chiến Hai bùng nổ, ngài đang có mặt tại Hy Lạp, lúc ấy đang bị chiến trận tàn phá. Ngài tìm cách thâu lượm tin tức về tù binh chiến tranh và ra tay cứu sống nhiều người Do Thái bằng cách phát hành nhiều chiếu khán quá cảnh cho họ. Ngày 6 tháng 12 năm 1944, ngài được Đức Piô XII cử làm Sứ Thần Tòa Thánh tại Paris.

Trong những ngày cuối cùng của chiến tranh và trong những ngày đầu của hòa bình, Đức TGM Roncalli trợ giúp các tù binh chiến tranh và góp tay phục hồi ổn định cho sinh hoạt của Giáo Hội Pháp. Ngài thăm viếng các đền thờ của Pháp và tham dự các lễ lạy bình dân cũng như các biến cố tôn giáo có ý nghĩa hơn. Ngài chăm chú, khôn ngoan và đáng tin trong cách tiếp cận với các sáng kiến mục vụ mới do các linh mục và giám mục Pháp đưa ra. Ngài không ngừng tìm cách nhập thân tính đơn giản của Tin Mừng, cả khi phải đương đầu với những vấn đề ngoại giao phức tạp nhất. Ý muốn trở thành linh mục luôn nâng đỡ ngài trong mọi hoàn cảnh. Lòng đạo đức sâu sắc của ngài được phát biểu rõ ràng trong các thời điểm cầu nguyện và suy ngắm.

Ngày 12 tháng 1 năm 1953, ngài được tấn phong Hồng Y và ngày 25 tháng 1, ngài được cử làm Thượng Phụ Venic e. Ngài hân hoan được tận hiến quãng đời sau cùng của ngài cho thừa tác vụ mục vụ trực tiếp, một nguyện vọng ngài luôn trân quí trong đời linh mục. Ngài là một mục tử khôn ngoan và đầy sinh lực, sẵn sàng bước theo chân các vị giám mục thánh thiện mà ngài hằng ngưỡng mộ: Thánh Lorenso Giustiniani, thượng phụ tiên khởi của Venice và thánh Piô X. Càng có tuổi, ngài càng tín thác nơi Chúa Kitô, trong bối cảnh một thừa tác vụ tích cực, mạnh dạn và đầy hân hoan.

Sau khi Đức Piô XII qua đời, ngài đựợc bầu làm giáo hoàng ngày 28 tháng 10 năm 1958, lấy tên là Gioan XXIII. Trong 5 năm làm giáo hoàng, ngài xuất hiện với thế giới như là hình ảnh đích thực của Người Chăn Chiên Tốt Lành. Khiêm nhường và hiền lành, tháo vát và đảm lược, đơn sơ và luôn tích cực, ngài đảm nhiệm nhiều công trình bác ái phần xác và phần hồn, thăm viếng tù nhân và người bệnh, chào đón người thuộc mọi quốc gia và tôn giáo, biểu lộ một cảm thức phụ tử tuyệt diệu với mọi con người. Huấn quyền xã hội của ngài chứa đựng trong thông điệp Mẹ và Thầy (1961) và Hoà Bình Trên Trái Đất (1963).

Ngài triệu tập công đồng Rôma, thiết lập Ủy Ban Duyệt Xét Bộ Giáo Luật, và triệu tập Công Đồng Vatican II. Là giám mục Rôma, ngài đi thăm các giáo xứ và các nhà thờ trong trung tâm lịch sử và các khu ngoại thành. Nơi ngài, dân chúng nhận ra sự phản ảnh của benignitas evangelica (lòng nhân hậu của tin mừng) nên đã gọi ngài là "vị giáo hoàng nhân hậu". Một tinh thần cầu nguyện sâu sắc luôn nâng đỡ ngài. Là sức mạnh lèo lái đứng đàng sau phong trào canh tân Giáo Hội, ngài nhập thân sự bình an của một người luôn tín thác hoàn toàn nơi Chúa. Ngài cương quyết tiến bước trên con đường phúc âm hóa, đại kết và đối thoại, và biểu lộ một quan tâm phụ tử muốn vươn tay ra cho tất cả những con cái cơ cực nhất.

Ngài qua đời tối ngày 3 tháng 6 năm 1963, ngày Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, trong một tinh thần phó thác sâu xa cho Chúa Giêsu, tha thiết được nằm trong vòng tay Người, và được bao bọc bằng lời cầu nguyện của toàn thế giới; dừng như cả thế giới đang quây quần cạnh giường ngài để cùng ngài thở hơi thở yêu thương Chúa Cha.

Đức Gioan XXIII được Đức Gioan Phaolô II phong chân phúc ngày 3 tháng 9 năm 2000 tại Công Trường Nhà Thờ Thánh Phêrô, trong năm cử hành Năm Đại Thánh 2000.

Đức Hồng Y Angelo Amato, tổng trưởng Bộ Phong Thánh đang tuyên đọc tiểu sử Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II.

Tiểu sử Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II

Karol Józef Wojtyla, được bầu làm giáo hoàng ngày 16 tháng 10 năm 1978, sinh tại Wadowice, Ba Lan, ngày 18 tháng 5 năm 1920.

Ngài là con thứ ba trong số ba người con của ông Karol Wojtyla và bà Emilia Kaczorowska, người đã qua đời năm 1929. Anh trai của ngài là Edmund, một y sĩ, qua đời năm 1932, và cha ngài, ông Karol, một viên hạ sĩ quan của lục quân, qua đời năm 1941.

Lên 9, ngài được rước lễ lần đầu. Và lên 18, ngài được thêm sức. Sau khi tốt nghiệp trung học tại Wadowice, ngài ghi danh học tại Đại Học Jagellonian ở Krakow năm 1938.

Khi lực lượng chiếm đóng của Quốc Xã đóng cửa trường đại học vào năm 1939, Karol làm việc trong một hầm đá và sau đó trong nhà máy hóa chất Solvay (1940-1944) để kiếm kế sinh nhai và tránh khỏi bị phát vãng qua Đức.

Cảm nhận mình được kêu gọi làm linh mục, năm 1942, ngài bắt đầu theo học đại chủng viện chui của giáo phận Krakow, do Đức TGM Adam Stefan Sapieha điều khiển. Trong thời gian này, ngài là một trong những người tổ chức ra Ban Kịch Sống Động, hoạt động trong bóng tối.

Sau chiến tranh, Karol tiếp tục việc học tại đại chủng viện mới được mở lại, và tại trường thần học của Đại Học Jagellonian cho tới khi được thụ phong linh mục tại Krakow ngày 1 tháng 11 năm 1946. Sau đó, tân linh mục Wojtyla được Đức HY Sapieha gửi tới Rôma, nơi ngài đậu bằng tiến sĩ thần học năm 1948. Ngài viết luận án về đức tin như đã được hiểu trong các tác phẩm của Thánh Gioan Thánh Giá. Lúc còn học ở Rôma, ngài dành kỳ nghỉ làm mục vụ cho các các di dân Ba Lan ở Pháp, ở Bỉ và ở Hòa Lan.

Năm 1948, Cha Wojtyla trở về Ba Lan và được cử làm phó xứ tại nhà thờ Niegowic, gần Krakow, và sau đó tại nhà thờ Thánh Florian ở trung tâm thành phố. Ngài là tuyên úy đại học cho tới năm 1951, lúc ngài đi học triết học và thần học một lần nữa. Năm 1953, Cha Wojtyla trình luận án tại ĐH Jagellonian về việc có thể đặt cơ sở cho đạo đức học Kitô Giáo trên hệ thống đạo đức của Max Scheller. Sau đó, ngài trở thành giáo sư thần học luân lý tại Đại Chủng Viện Krakow và tại phân khoa thần học của ĐH Lublin.

Ngày 4 tháng 7 năm 1958, Đức Piô XII cử Cha Wojtyla làm giám mục phụ tá của giáo phận Krakow, hiệu tòa Ombi. Đức TGM Eugeniusz Baziak tấn phong ngài tại Nhà Thờ Chính Toà Wawel (Krakow) ngày 28 tháng 9 năm 1958.

Ngày 13 tháng 1 năm 1964, Đức Phaolô VI của Đức Cha Wojtyla làm Tổng Giám Mục Krakow và sau đó, ngày 26 tháng 6 năm 1967, ngài được phong Hồng Y.

Đức Cha Wojtyla tham dự Công Đồng Vatican II (1962-1965) và đưa ra nhiều đóng góp có ý nghĩa trong việc soạn thảo hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng. Ngài cũng tham dự 5 kỳ họp của Thượng HỘi Đồng Giám Mục trước khi được bầu làm giáo hoàng.

Ngày 16 tháng 10 năm 1978, Đức HY Wojtyla được bầu làm giáo hoàng và ngày 22 tháng 10, ngài bắt đầu thừa tác vụ của ngài như là Mục Tử của toàn thể Giáo Hội.

Đức Gioan Phaolô II thực hiện 146 cuộc tông du tại Ý, và trong tư cách Giám Mục Rôma, ngài thăm 317 trong tổng số 322 giáo xứ Rôma. Các cuộc tông du quốc tế của ngài lên tới 104; các cuộc tông du này nói lên quan tâm mục vụ thường hằng của Người Kế Nhiệm Thánh Phêrô đối với mọi Giáo Hội.

Các văn kiện chính của ngài bao gồm 14 thông điệp, 15 tông huấn, 11 tông hiến và 45 tông thư. Ngài cũng viết 5 cuốn sách: Vượt Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng (10/1994); Hồng Phúc và Mầu Nhiệm: Kỷ Niệm Lần Thứ 15 Tôi Được Thụ Phong Linh Mục" (tháng 11 năm 1996), Tranh Ba Bức Rôma: Suy Niệm Trong Thi Ca (tháng 3, 2003), Đứng Dậy, Nào Ta Lên Đường (Tháng 5, 2004) và Ký Ức Và Bản Sắc (tháng 2, 2005).

Đức Gioan Phaolô II cử hành 147 lễ phong chân phúc, trong đó, ngài đã phong chân phúc cho 1,338 vị, và cử hành 51 lễ phong thánh cho tất cả 482 vị. Ngài triệu tập 9 mật nghị viện Hồng Y, trong đó ngài tấn phong Hồng Y cho 231 vị (và 1 vị in pectore). Ngài cũng chủ tọa 6 phiên họp toàn thể Hồng Y Đoàn.

Từ năm 1978, Đức Gioan Phaolô II triệu tập 15 phiên họp của Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế giới: 6 phiên khoáng đại thông thường (1980, 1983, 1987, 1990, 1994 và 2001), 1 phiên khoáng đại bất thường (1985) và 8 phiên đặc biệt (1980, 1991, 1994, 1995, 1997, 1998 [2] và 1999). Ngày 3 tháng 5 1981, một vụ mưu sát Đức Gioan Phaolô II đã diễn ra tại Công Trường Nhà Thờ Thánh Phêrô. Được bàn tay từ mẫu của Mẹ Thiên Chúa cứu chữa, sau một kỳ dưỡng thương dài tại bệnh viện, ngài đã tha thứ cho kẻ mưu toan sát nhân và, vì ý thức rằng mình đã lãnh nhận một hồng ân vĩ đại, nên ngài đã tăng cường các cam kết mục vụ của ngài một cách quảng đại anh hùng.

Đức Gioan Phaolô II cũng đã biểu lộ quan tâm mục vụ của ngài qua việc thiết lập khá nhiều giáo phận và giáo hạt, và qua việc công bố các bộ giáo luật cho các Giáo Hội La Tinh và Đông Phương, cũng như Sách Giáo Lý Của Giáo Hội Công Giáo. Ngài công bố Năm Cứu Chuộc, Năm Thánh Mẫu và năm Thánh Thể cũng như Năm Đại Thánh 2000 để cung cấp cho Dân Thiên Chúa những trải nghiệm thiêng liêng hết sức nồng đậm. Ngài cũng lôi cuốn giới trẻ bằng cách khởi sự cử hành Ngày Giới Trẻ Thế Giới.

Không có vị giáo hoàng nào khác từng gặp gỡ nhiều người như Đức Gioan Phaolô II. Hơn 17 triệu 6 trăm nghìn khách hành hương đã tham dự các buổi yết kiến chung vào ngày thứ Tư (tổng cộng 1,160 buổi). Đó là chưa tính các buổi yết kiến đặc biệt cũng như nhiều nghi thức tôn giáo khác (hơn 8 triệu khách hành hương nguyên trong Năm Đại Thánh 2000). Ngài gặp hàng triệu tín hữu trong các cuộc viếng thăm mục vụ tại Ý và trên khắp thế giới. Ngài cũng tiếp nhiều viên chức các chính phủ tới yết kiến, trong đó, có 38 cuộc viếng thăm chính thức và 738 cuộc yết kiến và gặp mặt các quốc trưởng, cũng như 246 cuộc yết kiến và gặp mặt các vị thủ tướng.

Đức Gioan Phaolô II qua đời tại Tông Điện lúc 9 giờ 37 đêm thứ Bẩy, ngày 2 tháng Tư năm 2005, hôm vọng Chúa Nhật Áo Trắng (in albis) hay Chúa Nhật Lòng Chúa Thương Xót, mà chính ngài thiết lập. Ngày 8 tháng Tư, lễ an táng ngài cách long trọng đã được cử hành tại Công Trường Nhà Thờ Thánh Phêrô và xác ngài được chôn cất trong hầm Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô.

Đức Gioan Phaolô II được Đức Bênêđíctô XVI, vị kế nhiệm cận kề của ngài và là người cộng tác được ngài trân quí trong tư cách tổng trưởng Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, phong chân phúc tại Công Trường Nhà Thờ Thánh Phêrô ngày 1 tháng 5 năm 2011.

Bản dịch của VietCatholic,  27/4/2014

HỎI ĐÁP MỤC VỤ

Phải Hiểu Lời Của Đức Giêsu: "Xin Thì Sẽ Được" (Mt 7,7) Như Thế Nào?

Hỏi: Thưa cha, Tại sao Chúa Giêsu nói: "Anh em cứ xin thì sẽ được" (Mt 7,7), mà có người xin thì được, có người xin mãi cũng không được? 

Đáp: Câu nói của Đức Giêsu là một khẳng định rất mạnh mẽ, một bảo đảm rất chắc chắn, bởi vì theo ngữ pháp, câu nói ấy là một thụ-động-cách để thay tên Thiên Chúa (divine passive: nghĩa là thay vì nói thẳng tên Thiên Chúa ra, người Do-thái tránh nói ra tên Ngài vì sợ phạm thánh, bằng cách nói quanh với thụ-động-cách). Như vậy, câu Mt 7,7 trong bản văn Hy-lạp là "Anh em hãy xin thì anh em sẽ được ban cho", dịch rõ ra là "Anh em cứ xin thì Thiên Chúa sẽ ban cho anh em". Đức Giêsu còn minh họa câu nói này bằng mấy dụ ngôn nho nhỏ (x. Mt 7,9-11; Lc 11,9-13).

Vì lời bảo đảm ấy của Đức Giêsu, chúng ta tin chắc là hễ chúng ta xin Thiên Chúa là "nhận được". Tuy nhiên, cùng với lời cam kết này, Đức Giêsu còn dạy nhiều điểm khác liên hệ đến việc cầu xin, chẳng hạn hợp lời với nhau mà cầu xin: "Nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, sẽ ban cho", và nhân danh Đức Giêsu (Mt 18,19-20). Tin Mừng Gioan cũng nói đến việc "ở lại" trong Đức Giêsu và để cho lời Người "ở lại" trong chúng ta (Ga 15,7 và 16; x. Ga 14,13-14). Người mời gọi chúng ta kiên trì cầu xin (Dụ ngôn "Người bạn quấy rầy", Lc 11,5-8, và "Quan tòa bất chính và bà goá quấy rầy", Lc 18,1-7).

Nếu chúng ta đã xin cùng với thái độ như Đức Giêsu dạy, thì chắc chắn sẽ "nhận được". Nhưng thế nào là "nhận được"? Người nào thấy mình được ngay đúng như mình xin, thì biết là Thiên Chúa đã cho; nhưng cũng đùng vì thế mà nghĩ rằng mình đã "biết cách" xin, nên đương nhiên Thiên Chúa "phải" cho (Y như làm đúng "thủ tục" thỉnh cầu là nhận được điều mình thỉnh cầu vậy)! Không đâu, Ngài ban cho chỉ vì Ngài yêu thương và thấy ban cho như thế là tốt. Còn nếu không được như mình xin, thì phải hiểu thế nào? Có thể Ngài không ban vì điều ấy không có lợi cho chúng ta, hoặc Ngài không ban để huấn luyện đức tin của chúng ta. Có thể Ngài trì hoãn để chúng ta thêm tin tưởng vào Ngài và đánh giá lại nhu cầu của chúng ta rồi bày tỏ với Ngài cho nghiêm túc hơn. Có thể Ngài sẽ ban cho vào một lúc khác, hoặc đã ban cho rồi, và cho một điều tốt hơn, quan trọng hơn điều chúng ta đã xin Ngài, nhưng khổ nỗi, chúng ta lại cứ chờ Ngài đáp ứng nhu cầu cách "nhãn tiền"! Cái nhìn đức tin của chúng ta chưa đủ mạnh để nhận ra cách Thiên Chúa hành động: "Nếu anh em là những kẻ xấu, mà còn biết cho con cái mình những của tốt lành, phương chi Cha anh em, Đấng ngự trên trời, Người sẽ ban những của tốt lành cho những kẻ xin Người" (Mt 7,11).

Ngẫm nghĩ lại, tôi nhận thấy đôi khi chúng ta xử sự với Thiên Chúa rất "vô phép". Tôi xin được diễn tả hơi "cường điệu": chúng ta coi Ngài như một "ông bụt tốt", một "bà tiên hiền" cứ sẵn sàng để chờ chúng ta xin là đáp ứng, sau đó lại "liệu" mà biến đi, chờ dịp khác lại đến giúp chúng ta! Vậy thì đâu là thái độ phải có của một tạo vật đối với Đấng Tạo hóa? Đâu là thái độ phải có của một bề tôi đối với Đấng có quyền trên mình? Đâu là thái độ phải có của một người con đối với người cha? Như thế, phía chúng ta chỉ có một thái độ đúng đắn: vì tin yêu Thiên Chúa, khi có nhu cầu thì cứ bày tỏ với Ngài, còn Ngài đáp ứng thế nào, chúng ta cũng biết là luôn luôn do lòng yêu thương của Ngài, nên cứ sống trong tâm tình cảm tạ và tin yêu Ngài. Một người luôn sống chan hòa các quan hệ với Thiên Chúa, thì cũng biết cầu xin như Chúa muốn.

Lm PX Phan Long, ofm

TIN NỔI BẬT

"BIỂN" NGƯỜI DỰ LỄ PHONG THÁNH LỊCH SỬ CHO 2 CỐ GIÁO HOÀNG

Khoảng 800.000 người đã đổ về thành phố Vatican hôm nay để tham dự lễ phong thánh lịch sử cho 2 cố Giáo hoàng Gioan Phaolô II và Gioan XXIII. Đây lần đầu tiên trong lịch sử 2 vị Giáo Hoàng được phong thánh cùng lúc.

ĐGH Phanxicô và vị tiền nhiệm, ĐTC Bênêđictô XVI, đã chủ trì thánh lễ phong thánh cho hai cố Giáo hoàng Gioan XXIII và Gioan Phaolô II.

Vatican cho biết khoảng 800.000 đã theo dõi trực tiếp buổi lễ tại quảng trường Thánh Phêrô. Sự kiện cũng được phát sóng trực tiếp qua các kênh phát thanh, truyền hình và trên mạng internet.

Gần 100 phái đoàn nước ngoài đã tới tham dự buổi lễ, trong đó có các các nhân vật hoàng gia, các vị đứng đầu nhà nước và chính phủ các nước.

Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Giáo hội Công giáo La Mã hai vị giáo hoàng được phong thánh cùng lúc. Đây cũng lần đầu tiên một thánh lễ có sự hiện diện của 2 giáo hoàng, một đương nhiệm và một tiền nhiệm.

Trong bài giảng, ĐGH Phanxicô đã bày tỏ lòng tôn kính đối với 2 vị thánh mới được phong, gọi họ là "những con người của lòng dũng cảm".

"Họ là các linh mục, các giám mục và giáo hoàng của thế kỷ 20. Họ đã trải qua các sự kiện bi kịch của thế kỷ, nhưng họ không chúng làm lu mờ. Với họ, Chúa quyền lực hơn", ĐGH Phanxicô nói.

Ngay từ hôm qua 26/4, những người hành hương đã tập trung tại quảng trường Thánh Phêrô  và một số người đã qua đêm ngoài trời ngay tại đây với hy vọng có thể trở thành người có mặt sớm nhất khi buổi lễ bắt đầu vào 10 giờ sáng nay giờ địa phương (3 giờ chiều giờ Việt Nam).

Các màn hình lớn cũng được dựng trên những con đường xung quanh và ở những nơi khác trong thành phố cho những ai không thể vào được quảng trường.

Sự kiện hôm nay cũng là lần xuất hiện hiếm hoi trước công chúng của ĐTC Bênêđictô XVI kể từ khi thoái vị vì các lý do sức khỏe một năm trước, vị giáo hoàng đầu tiên thoái vị trong 600 năm qua.

ĐGH Gioan XXIII  trị vì từ 1958 cho tới khi mất năm 1963. Còn Giáo ĐGH Gioan Phaolô II trị vì trong 26 năm cho tới khi qua đời năm 2005.

Quy trình phong thánh của Vatican thường là kéo dài và rất tốn kém. Nhưng ĐGH Gioan Phaolô II  đã được phong thánh trong một quá trình kéo dài chỉ 9 năm. Trong khi đó, ĐGH Gioan XXIII  được phong thánh qua một quyết định bất ngờ và mới đây của Giáo hoàng Phanxicô.

Theo Báo Dân trí

MỘT CHÚT TÂM TÌNH

Thánh lễ và bài giảng trong Thánh Lễ
Phong thánh Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII và Gioan Phaolô II

Thánh Lễ

Lúc quá 9 giờ 30, ngày 27/4/2014, Đức nguyên Giáo Hoàng Biển Đức XVI tiến vào địa điểm hành lễ, giữa tiếng vỗ tay chào mừng của mọi người. Ngài ngồi ở ghế đầu dành cho các Hồng Y, phía sau đã có 700 GM trong phẩm phục đồng tế ngồi sẵn.

Các tín hữu cũng cảm động vỗ tay như vậy khi tổng thống Italia, ông Giorgio Napolitano, và phu nhân đến chào ngài, khi đến khu vực dành cho các vị nguyên thủ quốc gia.

10 giờ kém 5 phút, trong khi ca đoàn và mọi người hát kinh cầu các thánh, đoàn 150 Hồng Y đồng tế bắt đầu tiến từ bên trong đền thờ Thánh Phêrô tiến ra lễ đài, đi trước là các vị Thượng Phụ và TGM trưởng của các Giáo Hội Công Giáo nghi lễ Đông phương. Đi sau cùng là ĐTC Phanxicô. Ngài xông hương bàn thờ xong và tiến lại chào vị tiền nhiệm Biển Đức 16 của ngài, trước khi tiến đến bái kính tượng Đức Mẹ và đến ngai tòa.

Nghi thức phong hiển thánh bắt đầu với 3 lần ĐHY Angelo Amato, Tổng trưởng Bộ Phong Thánh, nhân danh toàn thể Giáo Hội xin ĐTC ghi tên hai chân phước Gioan XXIII và Gioan Phaolô II vào Sổ Bộ các thánh. Sau lời thỉnh cầu thứ I, ĐTC mời gọi toàn thể các tín hữu cầu xin Thiên Chúa toàn năng nhờ Đức Giêsu Kitô, Đức Trinh Nữ Maria và các thánh, nâng đỡ chúng ta bằng ơn thánh điều mà chúng ta sắp thực hiện. Sau lời thỉnh cầu thứ hai, ĐTC mời gọi cộng đoàn hát kinh Cầu Xin Chúa Thánh Linh. Sau lời xin thứ 3 của ĐHY Tổng trưởng Bộ Phong thánh, ĐTC đã tuyên đọc công thức phong thánh:

"Để tôn vinh Chúa Ba Ngôi cực thánh, để tuyên dương đức tin Công Giáo và tăng tiến đời sống Kitô, với quyền bính của Chúa Giêsu Kitô, của các thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô và của Chúng Tôi, sau khi suy nghĩ chín chắn, nhiều lần khẩn cầu ơn phù trợ của Chúa và lắng nghe ý kiến của nhiều anh em chúng tôi trong hàng Giám Mục, chúng tôi tuyên bố và xác định Chân Phước Gioan XXIII và Gioan Phaolô II là Hiển Thánh, và chúng tôi ghi tên các ngài vào sổ bộ các Thánh và qui định rằng trong toàn thể Giáo Hội, các Ngài được được tôn kính với lòng sùng mộ nơi Các Thánh. Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần

ĐTC vừa dứt lời, cộng đoàn vỗ tay nồng nhiệt và ca đoàn cùng cộng đoàn ca bài Jubilate Deo (Hãy tung hô Chúa, hãy hát mừng Chúa), trong khi đó, thánh tích của hai vị tân hiển thánh được rước lên cho ĐTC hôn kính trước khi đặt trên một giá nhỏ phía trước bàn thờ. Thánh tích của Đức Gioan XXIII là một mảnh da của Người, và của Đức Gioan Phaolô II là một ống nhỏ đựng máu của thánh nhân.

Trong bài giảng sau bài đọc Tin Mừng bằng tiếng la tinh và hy lạp, ĐTC đã diễn giải bài Tin Mừng về việc Thánh Tôma tông đồ được Chúa Giêsu Phục Sinh mời gọi động chạm đến những vế thương để tin và đừng cứng lòng nữa. ĐTC nói đến lòng can đảm của hai vị thánh Giáo Hoàng không hổ thẹn về những vết thương của Chúa, ngoan ngoãn tuân theo Chúa Thánh Linh trong việc hướng dẫn Dân Chúa, và ĐTC đặc biệt cầu xin Đức Gioan Phaolô II, vị Giáo Hoàng của gia đình, hướng dẫn hành trình của Thượng Hội đồng GM về gia đình.

Toàn văn bài giảng của ĐTC

"Nơi trọng tâm Chúa Nhật kết thúc Tuần Bát Nhật Phục Sinh này, mà Đức Gioan Phaolô II đã muốn gọi là Chúa Nhật Lòng Thương Xót Chúa, có những vết thương vinh hiển của Chúa Giêsu Phục sinh.

"Chúa đã tỏ các vết thương ấy lần đầu tiên khi Ngài hiện ra với các Tông Đồ, chính buổi chiều tối ngày sau ngày sabát, ngày Phục sinh, nhưng chiều tối hôm ấy không có tông đồ Tôma; và khi nhưng vị khác kể lại với ông là đã thấy Chúa, ông trả lời là sẽ không tin nếu không nhìn thấy và động chạm đến các vết thương của Ngài. 8 ngày sau, Chúa Giêsu lại hiện ra tại Nhà Tiệc Ly, giữa các môn đệ, và có cả Tôma; Ngài ngỏ lời với ông và mời ông chạm đến các vết thương của Ngài. Bấy giờ con người chân thành ấy, con người quen đích thân kiểm chứng, liền quỳ xuống trước Chúa Giêsu và thưa: "Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con!" (Ga 20,28).

"Những vết thương của Chúa Giêsu là cớ vấp phạm đối với đức tin, nhưng chúng cũng là điều kiểm chứng niềm tin. Vì thế nơi thân thể của Chúa Kitô Phục Sinh, những vết thương ấy không biến mất, nhưng tồn tại, vì những vết thương ấy là dấu chỉ trường tồn về tình thương của Thiên Chúa đối với chúng ta, và chúng không thể thiếu được để tin nơi Thiên Chúa. Không phải để tin Thiên Chúa hiện hữu, nhưng để tin rằng Thiên Chúa là tình thương, là lòng từ bi, trung tín. Thánh Phêrô, nhắc lại Ngôn sứ Isaia, đã viết cho các tín hữu Kitô: "Từ những vết thương của Người, anh chị em được chữa lành" (1 Pr 2,24; Xc Is 53,5).

"Đức Gioan XXIII và Gioan Phaolô II đã can đảm nhìn những vết thương của Chúa Giêsu, động chạm đến những bàn tay bị thương và cạnh sườn của Chúa bị đâm thâu qua. Các vị đã không hổ thẹn vì thân thể của Chúa Kitô, không vấp phạm về Chúa, về thập giá của Ngài Is 58,7); không hổ thẹn vì thân mình của người anh em (Xc 58,7), vì nơi mỗi người đau khổ, các vị nhìn thấy Chúa Giêsu. Hai vị là những người can đảm, đầy ơn táo bạo (parresía) của Chúa Thánh Linh, và đã làm chứng cho Giáo Hội và thế giới về lòng từ nhân của Thiên Chúa, về lòng từ bi của Chúa. Các vị đã là những linh mục, giám mục và giáo hoàng của thế kỷ 20. Các vị đã sống những thảm trạng, nhưng không để chúng lướt thắng. Nơi các vị, Thiên Chúa mạnh mẽ hơn; niềm tin nơi Chúa Giêsu Đấng Cứu Chuộc con người và là Chúa tể của lịch sử mạnh mẽ hơn; nơi các vị sự gần gũi từ mẫu của Mẹ Maria mạnh mẽ hơn. Nơi hai vị là những người chiêm ngắm các vết thương của Chúa Kitô và là chứng nhân về lòng từ bi của Chúa có một "niềm hy vọng sinh động", cùng với một "niềm vui khôn tả và vinh hiển" (1 Pr 1,3.8). Niềm hy vọng và niềm vui mà Chúa Kitô phục sinh ban cho các môn đệ của Ngài, và không ai và không gì có thể làm cho họ bị thiếu những hồng ân ấy. Niềm hy vọng và niềm vui phục sinh, được thanh luyện qua cái lò từ bỏ, loại trừ sự gần gũi tội lỗi cho đến tột cùng, đến độ cảm thấy buồn nôn vì chén đắng. Đó chính là niềm hy vọng và niềm vui mà hai vị Thánh Giáo Hoàng đã lãnh nhận như hồng ân từ Chúa phục sinh và tiếp đến, các vị đã trao tặng dồi dào cho Dân Chúa, và được lòng biết ơn đời đời của họ.

"Niềm hy vọng và niềm vui này được cảm nghiệm trong cộng đoàn đầu tiên của các tín hữu ở Jerusalem, như sách Tông đồ công vụ kể lại (Xc 2,42-47). Đó là một cộng đoàn trong đó nòng cốt của Tin Mừng được sống thực, nghĩa là tình thương, lòng từ bi, trong đơn sơ và huynh đệ.

"Và đó là hình ảnh Giáo Hội mà Công đồng chung Vatican 2 đã có trước mắt. Đức Gioan XXIII và Gioan Phaolô II đã cộng tác với Chúa Thánh Linh để phục hồi và canh tân Giáo Hội theo dạng thức nguyên thủy, dạng thức mà các thánh qua các thế kỷ đã mang lại cho Giáo Hội. Chúng ta đừng quên rằng chính các thánh đã làm cho Giáo Hội tiến bước và tăng trưởng. Trong việc triệu tập Công đồng chung Vatian II, Đức Gioan XXIII đã chứng tỏ một thái độ ngoan ngoãn đối với Chúa Thánh Linh, đã để cho Chúa hướng dẫn, và đối với Giáo Hội, Người là một vị mục tử đối với Hội Thánh, một vị hướng đạo được hướng dẫn. Đó chính là một sự phục vụ cao cả Người dành cho Giáo Hội; Người là một vị Giáo Hoàng ngoan ngoãn tuân theo Chúa Thánh Linh.

"Trong việc phục vụ Dân Chúa, Đức Gioan Phaolô II là vị Giáo Hoàng của gia đình. Chính Người đã có lần nói là muốn được nhắc nhớ đến như vị Giáo Hoàng của gia đình. Tôi vui lòng nhấn mạnh điều đó trong lúc chúng ta đang sống hành trình Thượng HĐGM về gia đình và với các gia đình, một hành trình mà từ trời cao, chắc chắn Người đang tháp tùng và hỗ trợ. xin cả hai vị tân Hiển Thánh Mục Tử của Dân Chúa chuyển cầu cho Giáo Hội, để trong hai năm hành trình Thượng HĐGM này, Giáo Hội ngoan ngoãn tuân theo chỉ dạy của Chúa Thánh Linh trong việc phục vụ mục vụ gia đình. Xin cả hai thánh nhân dạy chúng ta đừng coi các vết thương của Chúa Kitô như cớ vấp phạm, tập trung vào mầu nhiệm từ bi của Chúa, luôn hy vọng, luôn tha thứ, luôn yêu thương".

Nguồn: vietcatholic.net

CHIA SẺ MỤC VỤ BÁC ÁI

BẠN CÓ BIẾT?

Số người bị nhiễm HIV ngày càng nhiều. Những bệnh nhân này cũng là đối tượng được tổ chức Caritas quan tâm giúp đỡ. Chúng ta cũng cần biết những kiến thức cơ bản về HIV như thế nào.

1 . AIDS (SIDA) nghĩa là gì?

SIDA do 4 chữ đầu của tên bệnh bằng tiếng Pháp (Syndrom d'lmmuno Déficience Acquise) có nghĩa là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải. Tiếng Anh gọi là AIDS (Acquired - Immuno - Deficiency - Syndrome).

  • Hội chứng: Tập hợp nhiều triệu chứng và dấu hiệu bệnh.
  • Suy giảm miễn dịch: Suy giảm chức năng bảo vệ cơ thể chống lại sự tấn công của các mầm bệnh (vi trùng, virus, vi nấm...)
  • Mắc phải: Không phải do di truyền mà do bị lây lan từ bên ngoài.

Nguyên nhân gây bệnh AIDS là một loại virus có tên là HIV (còn gọi là virus SIDA). Bệnh lây qua đường tình dục, đường máu và đường mẹ truyền qua con.

Tất cả mọi người không phân biệt màu da, nam, nữ, tuổi tác đều có thể mắc bệnh. Hiện nay AIDS chưa có thuốc chữa, thuốc chủng ngừa, tử vong 100%. Cách đối phó duy nhất là đừng để nhiễm HIV.

2. Miễn dịch là gì?

Con người luôn luôn sống giữa vô số những mầm bệnh độc hại sẵn sàng gây bệnh cho cơ thể như: vi trùng, virus, vi nấm, ký sinh trùng và cả một số tế bào ung thư sinh sản lẻ tẻ trong cơ thể. Tuy nhiên cơ thể cũng có một hàng rào phòng vệ rất hiệu quả khiến cho phần lớn các mầm bệnh không thể gây bệnh được. Đó chính là hệ miễn dịch.

Hệ miễn dịch chủ yếu gồm các bạch cầu có trong máu giữ nhiệm vụ tuần tra và khi phát hiện mầm bệnh sẽ chiến đấu tiêu diệt mầm bệnh bảo vệ cơ thể.

3 . HIV là gì?

HIV là chữ viết tắt của virus gây AIDS bằng tiếng Anh Human-Immuno-Deficiency-Virus, có nghĩa là virus làm suy giảm miễn dịch ở người, ta quen gọi là virus SIDA.

Nguồn gốc của nó hiện nay vẫn chưa xác định. Chỉ biết rằng có 2 loại Virus là HIV1 và HIV2. Cả hai đều gây bệnh cho người.

4 . HIV xâm nhập vào cơ thể gây chết người như thế nào?

Khi xâm nhập vào cơ thể con người, HIV tìm cách tấn công vào bạch cầu gây tàn phá hệ miễn dịch. Sau một thời gian, khi các bạch cầu bị tiêu diệt nhiều, khả năng chống đỡ với mầm bệnh bị giảm. Cơ thể sẽ bị mầm bệnh tấn công sinh ra nhiều chứng bệnh nguy hiểm dẫn đến cái chết.

5 . Diễn biến sau khi nhiễm HIV như thế nào?

Sau khi nhiễm HIV, cơ thể sẽ trải qua 4 giai đoạn bệnh lý như sau:

5.1 Giai đoạn sơ nhiễm: Lúc mới nhiễm HIV sẽ có một vài biểu hiện như sốt mệt mỏi, nhức đau tay chân... kiểu như bị cảm cúm.

5.2. Giai đoạn nhiễm trùng không triệu chứng: Giai đoạn này, cơ thể gần như bình thường, không có biểu hiện triệu chứng. Lúc này bạch cầu chỉ bị tiêu diệt ít không đáng kể. Virus tiếp tục sinh sôi nẩy nở, nhìn bề ngoài không ai có thể biết được bệnh nhân đã bị nhiễm HIV, ngay cả chính bản thân người bệnh (nếu chưa xét nghiệm máu). Thời gian này kéo dài từ 5-10 năm.

5.3. Giai đoạn có liên quan đến AIDS: Sau vài tháng đến vài năm từ lúc bị nhiễm sẽ xuất hiện các triệu chứng như sút cân, sốt dai dẳng, đỗ mồ hôi ban đêm, nổi hạch, tiêu chảy... Các triệu chứng kéo dài hoặc tái đi tái lại báo hiệu tình trạng hệ miễn dịch đã bắt đầu suy sụp.

5.4. Giai đoạn bệnh AIDS: thực sự tương đương với hệ miễn dịch bị tàn phá gần hết, người bệnh chết dễ dàng vì các nhiễm trùng cơ hội như viêm màng não, viêm phổi, viêm ruột hoặc ung thư mạch máu, ung thư hạch... Giai đoạn này thường kéo dài không quá 2 năm. Có một số thuốc được dùng trong giai đoạn này nhưng chỉ giúp kéo dài sự sống một ít, còn không hoàn toàn điều trị dứt bệnh. (trích từ caritasvn.org)

HOẠT ĐỘNG CỦA BAN BAXH GIÁO PHẬN VĨNH LONG

Ban BAXH GPVL phân công Dì Hoa (MTG Cái Mơn) và bạn Quốc Thiện trực tiếp gặp gỡ những bệnh nhân  nhiễm HIV. Công tác xã hội nào cũng đòi hỏi tình nguyện viên có tinh thần trách nhiệm cao và nhất là trái tim nhân ái biết quên mình dấn thân phục vụ nhằm xoa dịu phần nào nổi đau khổ của những người quanh mình.

1 . Nhóm bệnh nhân ở Vĩnh Long:

Hổ trợ cho 29 bệnh nhân.

- Hàng tháng gặp mặt được các anh chị để thăm hỏi công ăn việc làm, tình hình sức khỏe cũng như gia đình. Hỗ trợ gạo, sữa... mỗi phần trị giá khoảng 200.000đ (với những gia đình có hoàn cảnh khó khăn).

- Thăm hỏi tình hình của hai chị vay sinh kế nuôi heo và buôn bán nhỏ, các chị sử dụng nguồn vốn rất tốt có lợi nhuận, đảm bảo chi trả vốn vay.

2 . Nhóm bệnh nhân ở Bến Tre:

Tại Bến Tre có nhóm " Dừa Xanh" gồm 23 bệnh nhân nhiễm HIV.

- Hàng tháng các anh chị gặp mặt nhóm định kỳ vào những ngày Chủ Nhật cuối tháng ( để chia sẻ với nhau về công ăn việc làm, tình hình sức khỏe cũng như gia đình trong tháng qua).

- Quý vừa qua nhờ góp vốn xoay vòng, đã hỗ trợ thêm cho 1 chị trong nhóm làm kinh tế nhỏ với vốn là 5.000.000 VNĐ. Tổng quý III, IV/2013 và quý I/2014 là 38.500.000 VNĐ.

- Sau buổi lượng giá cuối năm 2013, nhận thấy anh chị trong nhóm " Dừa Xanh" có nhiều biểu hiện tốt hơn, các anh chị biết hy sinh vì người khác hơn (thành lập được quỹ tương trợ cho nhóm, quỹ này đóng góp tùy vào tấm lòng, khả năng của mỗi người. Sau 2 tháng, chị nhóm trưởng thông tin đã nhận được sự đóng góp từ các anh chị với số tiền là 550.000 VNĐ).

- Thăm viếng gia đình và tiếp cận một số mô hình kinh tế của các anh chị sinh kế trong nhóm. Có người thành công, có người không thành công nhưng đã chuyển đổi kinh tế, đảm bảo hoàn vốn vay.

- Hoạt động tại Bến Tre không hỗ trợ con của các bệnh nhân HIV , vì các em này đã được các Nữ Tu Dòng Mến Thánh Giá Cái Mơn hỗ trợ và giúp đỡ rất tốt.

Chúng ta lắng nghe tâm sự của một bệnh nhân HIV: "Ngoài sự suy kiệt dần mòn sức khỏe, những bệnh nhân HIV chúng em còn mang tâm trạng bị dày vò do sự xa lánh của những người chung quanh. Vì vậy sự quan tâm nâng đỡ  của quý ân nhân là những bông hoa nhỏ chúng em gặp thấy từng ngày trong giai đoạn cuối của cuộc sống ngắn ngủi còn lại của mình".

Caritas GP.Vĩnh Long

TÌM HIỀU VỀ ĐỨC TIN

28- Thưa Cha, thiên thần là ai, và ta có thể chờ đợi gì ở thiên thần bản mệnh?

Từ "thiên thần" có nghĩa là "sứ giả của Thiên Chúa". Thiên thần đều hiện diện trong Cựu Ước cũng như trong Tân Ước. Phục tùng Thiên Chúa, thiên thần chuyển giao sứ điệp của Chúa cho con người. Có ba vị mang biệt danh Gabrien, Micae và Raphaen. Thánh Kinh còn nói đến vô số các Thiên Thần vô danh.

Tôn kính các Thiên Thần là một việc rất quan trọng đối với dân Do Thái, họ tin rằng mỗi người đều được giao phó cho một vị thiên thần hộ mệnh. Kitô giáo tiếp nhận niềm tin này. Và từ năm 1969, Giáo Hội dành riêng một ngày trong năm phụng vụ để kính nhớ các vị Thiên Thần Bản Mệnh, đó là ngày 2 tháng 10. Ngày hôm đó, linh mục bắt đầu thánh lễ bằng ca khúc: "Hỡi các Thiên Thần của Chúa, hãy chúc tụng Chúa, hãy ca ngợi Chúa và tôn vinh Chúa muôn đời". Nhưng mà không phải chỉ có ngày hôm đó, chúng ta mới cầu nguyện cùng với các thiên thần. Mỗi lần cử hành phụng vụ Thánh Thể, để mời gọi toàn thể cộng đoàn tham dự vào bài ca "Thánh, Thánh, Thánh", linh mục đọc: "Cùng với toàn thể thiên thần và các thánh, chúng con đồng thanh chúc tụng vinh quang Chúa rằng".

Các thiên thần không ngừng bảo vệ chúng ta, vì một trong các sứ mệnh của chư vị là tôn vinh ca ngợi Thiên Chúa. Như vậy, chư vị theo sát chúng ta trên đường gặp gỡ Thiên Chúa.

29- Thưa Cha, ơn bất khả ngộ của Đức Giáo Hoàng được đề cập đến từ khi nào, và buộc phải tin trong những vấn đề nào?

Ơn bất khả ngộ của Đức Giáo Hoàng  được công bố vào năm 1870, nhân dịp Công đồng Vatican I. Từ đó đến bây giờ, ơn này buộc phải tin duy nhất chỉ có một lần, vào năm 1950, do Đức Giáo Hoàng  Piô XII, khi Ngài công bố về tín điều Đức Mẹ Hồn xác Lên Trời. Tín điều này xác quyết một điểm quan trọng trong đức tin Kitô giáo: Đức Trinh Nữ Maria, sau khi chết, đã vào Thiên Đàng cả hồn lẫn xác mà không phải chờ đợi ngày phục sinh.

Khi buộc tín hữu phải tin sự bất khả ngộ của mình, Đức Giáo Hoàng không tuyên bố theo tư cách cá nhân, mà theo phương thức long trọng (ex cathedra), có nghĩa là tuyên bố từ ngai tòa giáo hoàng, ngai tòa Phêrô. Ngài tuyên bố nhân danh Giáo Hội hoàn vũ, bày tỏ đức tin đã được loan truyền qua bao thế kỷ.

Trái với ý kiến đôi khi phổ biến trong dư luận, ơn bất khả ngộ của Đức Giáo Hoàng được giới hạn vào những trường hợp rất rõ ràng. Những phán quyết thuộc diện không thể sai lầm, không nhằm mục đích đổi mới, mà xác định, làm sáng tỏ một vấn đề của sứ mệnh Phúc Âm.

Khi Đức Giáo Hoàng dung quyền bất khả ngộ của mình, thì tất cả mọi Kitô hữu đều buộc phải tin điều Ngài phán quyết "trong sự vâng phục của đức tin".

30- Thưa Cha, có thể rước lễ mà không cần phải xưng tội ngay trước đó không?

Ai rước lễ mỗi ngày thì không cần đi xưng tội mỗi ngày. Vả lại điều này không đáng khuyến khích. Vấn đề đúng thực là trước khi rước lễ, tự biết mình hòa hiệp với Thiên Chúa, với anh em và với chính bản thân mình. Để có được sự hòa hiệp này, chúng ta phải nhận biết những yếu hèn và những sai lỗi của mình và xin ơn tha thứ. Ngay từ đầu Thánh lễ, toàn thể cộng đoàn thực hiện việc làm này khi đọc kinh thống hối.

Trước khi chịu lễ, chúng ta tiến thêm một bước nữa vào sự giao hòa khi đọc kinh "Lạy Cha" ( "xin Cha tha tội cho chúng con, như chúng con cũng tha cho những người có lỗi với chúng con"). Đoạn chúng ta chúc bình an cho nhau. Dù vậy, phụng vụ Thánh Thể không miễn trừ cho chúng ta một hành động cá nhân tiến đến sự giao hòa với Thiên Chúa.

Để sống tràn đầy bí tích Thánh Thể, Giáo Hội yêu cầu các Kitô hữu nên xưng tội thường xuyên, sự chân thành của tâm hồn còn làm đẹp lòng Thiên Chúa hơn.

31- Thưa Cha, có phải xưng tội trước khi chết không?

Người tín hữu, trước nguy cơ tử vong, được mời gọi nhìn lại cuộc đời mình và vị trí mà người đó dành cho Thiên Chúa và tha nhân trong suốt bước đường trần gian.

Trước tình cảnh tột cùng này, xưng tội là cơ hội cuối cùng để bày tỏ với một người, là vị đại diện Chúa Kitô do ủy quyền của Giáo Hội, về một khía cạnh quan trọng của đời mình, về mọi sai phạm đang đè nặng trên mình. Đó cũng là giờ phút ký thác cuộc đời mình và đón nhận ơn tha thứ của Thiên Chúa cho phép người sắp ly trần tiến lại gần Thiên Chúa lần cuối cùng bằng sự hoán cải tâm hồn và lòng thống hối ăn năn.

Sau nữa, ao ước lãnh nhận bí tích hòa giải, chính là tuyên xưng niềm tin của mình vào sự sống lại.

32-  Thưa Cha, con là người công giáo sống đạo. Khi không có linh mục, con phải làm điều gì, nếu có một người gặp nguy cơ tử vong muốn xưng thú tội trọng? Con có thể làm trung gian để người đó được tha không?

Ông không thể làm trung gian được. Sự xá giải là ơn tha thứ của Thiên Chúa, được linh mục trao ban nhân danh Thiên Chúa. Thế nhưng lòng nhân lành của Thiên Chúa không chỉ giới hạn ở bí tích hòa giải. Ngài chăm chú lắng nghe mọi tiếng thở than: "Lạy Cha, nầy con đây trước mặt Cha, với những yếu hèn, với những sai phạm của con, nhưng con cậy trông vào tình yêu và lòng nhân lành của Cha".

Khi chúng ta cầu xin Thiên Chúa thứ tha, chúng ta nhận biết rằng chúng ta không ở vào tầm cao của Tình Yêu Ngài, nhưng chúng ta cũng thấu hiểu rằng Ngài yêu chúng ta bất chấp mọi lỗi lầm của chúng ta. Dù vậy, trong tình cảnh mà ông nêu, ông không thể ban lời xá giải, nhưng ông có thể có một vai trò hết sức quan trọng trong giờ phút ấy. Sụ hiện diện của ông có nghĩa rằng người hấp hối không ra đi một mình và bị bỏ rơi: ông có mặt ở đó, bên cạnh họ, để giúp đỡ họ đặt hết niềm cậy trông vào lòng nhân lành cuả Thiên Chúa. Điều quan trọng là cuộc đời họ không kết thúc trong sự tuyệt vọng. Tất cả vẫn chưa hết chuyện chỉ vì lẽ ta là kẻ có tội. Con người luôn luôn có thể mở rộng tâm hồn mình cho Thiên Chúa, để tình yêu bao la của Ngài chiếm cứ. Mức độ tình yêu của Ngài, chính là khả năng tha thứ của Ngài.

33- Con không thể đi xưng tội vì con biết rằng tội lỗi của con khai trừ con ra khỏi Giáo Hội. Con không thể tự thú với một linh mục. Tuy nhiên, con tin rằng Thiên Chúa yêu con. Con phải làm gì, thưa Cha?

Đời sống của một Kitô hữu không phải lúc nào cũng hoàn toàn hòa hợp với Thiên Chúa. Thánh Phao lô đã nhắc đến điều đó: "Điều lành mình muốn thì không làm, còn điều ác mình gớm ghét, lại làm". Chúng ta mang dấu ấn tội nguyên tổ, nhưng Chúa Kitô đã giải thoát chúng ta nhờ cái chết và sự phục sinh của Ngài. Bởi lẽ đó, là Kitô hữu, thì đừng để tội lỗi lúc nào cũng ám ảnh chúng ta. Nên cậy trông vào Thiên Chúa, vào Chúa Kitô là Đấng yêu thương chúng ta, vượt qua mọi giới hạn và lòng chúng ta ao ước trung thành với Ngài. Không có gì đáng kể ngăn cản bạn tâm sự với một linh mục và có thể lãnh nhận bí tích sám hối trong niềm ao ước hoán cải và giao hòa cùng Thiên Chúa.

34-  Giáo dân càng ngày càng tham gia vào việc cư hành phụng vụ Thánh Thể: họ đọc sách thánh, trao Mình Thánh Chúa... Linh mục có còn là người của Thánh Thể nữa không?

Linh mục là "người của Thánh Thể". Linh mục chủ sự Thánh Lễ. Ngài là dấu chỉ củ sự hiện diện thật sự của Chúa Kitô ngay giữa một cộng đoàn thuộc về riêng mình. Nếu không có sự hiện diện tích cực của linh mục, thì sẽ không có việc cử hành Thánh Thể. Thánh Lễ là một cơ hội để cầu nguyện và để nghe Lời Chúa, Thánh Lễ còn là một bữa tiệc thông hiệp, bữa tiệc chỉ thật sự đầy đủ ý nghĩa nếu được cả cộng đoàn chia sẻ và cùng cử hành lễ tế tái hiến của Chúa Kitô.

Hiến chế "Thánh Công Đồng" (Vatican II), về phụng vụ, yêu cầu "mọi tín hữu không tham dự vào huyền nhiệm đức tin này như khách bàng quan câm lặng, mà chớ gì họ tham gia vào hành vi thánh thiện này một cách có ý thức và tích cực". Những tác vụ được giáo dân hoàn thành (như giới thiệu chủ đề, đọc sách thánh, điều động ca hát, trao Mình Thánh Chúa...) không làm phương hại chút nào đến chức tư tế. Trái lại, nên phấn khởi về sự tham dự tích cực hơn nữa của giáo dân. Nhân dịp kỷ niệm hai mươi lăm năm ban hành hiến chế "Thánh Công Đồng", Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II đã viết: "Phải cảm tạ Thiên Chúa (...) về sự tham gia tích cực hơn của các tín hữu vào phụng vụ Thánh Lễ và các bí tích khác, bằng việc cầu nguyện và ca hát, bằng mọi thái độ và sự thinh lặng".

(còn tiếp)

JEAN-MICHEL DI FALCO, GIẢI ĐÁP 100 VẤN NẠN VỀ ĐỨC TIN, Nxb Centurion, 1993).
Linh mục Emmanuen Nguyễn Vinh Gioang trình bày và giới thiệu.

 


[1] FC 55.

[2] CĐ Vatican II, Tuyên ngôn Dignitatis Humanae 2.

[3] GS 92.

[4] GLHTCG 2333.

[5] GLHTCG 2370; X. ĐGH Phaolô VI, Tđ. Humanae Vitae 16.