1. Lời Chủ Chăn
  2. Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo
  3. Diễn Giải
  4. Lời Nguyện Chung
  5. Áp Dụng Thực Hành
  6. Tìm Hiểu Giáo Luật
  7. Trang Linh Mục
  8. Trang Tu Sĩ
  9. Trang Sống Ơn Gọi
  10. Trang Thiếu Nhi
  11. Trang Giới Trẻ
  12. Trang Gia Đình
  13. Trang Giáo Lý Viên
  14. Trang Quới Chức
  15. Sống Đẹp
  16. Hỏi Đáp Mục Vụ
  17. Chuyện Thường Ngày
  18. Một Chút Tâm Tình
  19. Chia Sẻ Mục Vụ Bác Ái
  20. Thần Học Kinh Thánh

LỜI CHỦ CHĂN

Vĩnh Long ngày 25.7.2014

Kính gửi: Quý Cha
              Quý Tu sĩ nam nữ
              Và tất cả anh chị em Gp. Vĩnh Long


V/v Tưởng Nhớ

 


Chúa ban cho mỗi người chúng ta có trí óc để suy niệm, để tưởng nhớ.

Trong tháng 8 này, chúng ta tưởng nhớ đến Đức cha Tôma Nguyễn văn Tân, vị mục tử của chúng ta theo chân Chúa Kitô, xin cho ngài được an nghỉ trong tình thương của Chúa, Đấng đã kêu gọi làm con Chúa, làm mục tử coi sóc đoàn chiên Chúa.

Chúng ta cũng nhớ đến :

-         Đức cha Phêrô Ngô đình Thục, vị Giám mục đầu tiên của Địa phận chúng ta.

-         Đức cha Antôn Nguyễn văn Thiện, từ năm 1960.

-         Đức cha Giacôbê Nguyễn văn Mầu, từ năm 1968.

-         Đức cha phó Raphae Nguyễn văn Diệp.

Dĩ nhiên, cùng với Hội Thánh, chúng ta cũng tưởng nhớ đến các vị Thánh, đang là gương mẫu và cầu bàu cho chúng ta:

-  01/08 Thánh Alphonsô Ligouri, giám mục tiến sĩ Hội Thánh, thành lập dòng Chúa Cứu Thế.

-   04/08 Thánh Gioan Maria Vianney, bổn mạng các cha sở.

-  08/08 Thánh Đôminicô, thành lập dòng Đaminh.

-  14/08 Thánh Maximilianô Kolbê, linh mục tử đạo của thế kỷ XX.

Đặc biệt:

- 06/08 lễ Chúa Hiển Dung, tăng cho ta lòng trông cậy, lòng mến Chúa, Đấng làm cho ta nên thánh thiện và vinh hiển.

-  15/08 Đức Mẹ hồn và xác lên trời, để dọn đường cho chúng ta và cầu bàu cho chúng ta.

Như vậy, chúng ta cần cảm tạ Chúa đã ban cho chúng ta những vị mục tử trong đời sống hiện tại và những thánh vừa là gương mẫu cho chúng ta trong thời nay và tích cực cầu bàu cho chúng ta trước tòa Chúa. Chúng ta cố gắng sống xứng đáng với Chúa Cứu Thế, với những vị thánh Chúa ban cho chúng ta. Ước gì được như vậy !

Phêrô Dương Văn Thạnh
           Giám Quản Gp. Vĩnh Long

GIÁO LÝ HỘI THÁNH CÔNG GIÁO

CHỦ ĐỀ: GIA ĐÌNH: TRƯỜNG GIÁO DỤC NHÂN BẢN & ĐỨC TIN

Gia đình là nơi thể hiện đặc biệt chức tư tế cộng đồng của người cha, người mẹ, con cái và mọi phần tử trong gia đình, "nhờ lãnh nhận các bí tích, kinh nguyện và tạ ơn, chứng từ đời sống thánh thiện, hy sinh và đức ái hữu hiệu" (x. LG 10). Gia đình là trường học đầu tiên về đời sống Ki-tô giáo và là "một trường học phát triển nhân tính" (x. GS 52,1). Chính trong gia đình, người ta học biết làm việc với sự nhẫn nại và niềm vui, yêu thương huynh đệ, quảng đại tha thứ luôn, nhất là phụng thờ Thiên Chúa qua kinh nguyện và hy lễ đời sống (GLCG 1657).

Cha mẹ phải giáo dục đức tin cho con cái ngay từ tuổi ấu thơ. Việc giáo dục này khởi đầu ngay khi các phần tử trong gia đình giúp nhau lớn lên trong đức tin, nhờ chứng từ của một đời sống đạo phù hợp với Tin Mừng. Việc dạy giáo lý trong gia đình đi trước, đồng hành và làm phong phú thêm các hình thức giáo dục đức tin khác. Cha mẹ có sứ mạng dạy cho con cái biết cầu nguyện và khám phá ra ơn gọi làm con Thiên Chúa (x. LG 11). Giáo xứ là cộng đồng Thánh Thể và là trung tâm đời sống phụng vụ của các gia đình Ki-tô giáo, nên là nơi tốt nhất để giáo dục đức tin cho trẻ em và cha mẹ chúng (GLCG 2226).

DIỄN GIẢI

GIA ĐÌNH TRƯỜNG HỌC ĐẦU TIÊN

Lời Chúa: “Những bậc làm cha mẹ đừng làm cho con cái tức giận, nhưng hãy giáo dục chúng thay mặt Chúa bằng cách khuyên răn và sửa dạy” (Ep 6, 4).

Ý cầu nguyện: Tạ ơn Thiên Chúa đã chọn một gia đình để Đức Giêsu, Ngôi Lời, được sinh ra, được nuôi dạy suốt ba mươi năm cho lớn lên, cho biết hiếu thảo, vâng phục, nên người và nên Con Thiên Chúa.

Bài ca ý lực: Loan Tin Mừng (Ca Vang Tin Mừng tr.96).

1. Quyền và bổn phận giáo dục của cha mẹ

- Bổn phận giáo dục bắt nguồn từ trong ơn gọi đầu tiên của đôi bạn là dự phần vào công cuộc sáng tạo của Thiên Chúa: khi sinh ra một ngôi vị mới trong tình yêu và do tình yêu, một ngôi vị mang sẵn nơi mình ơn gọi phải lớn lên và phát triển, bậc cha mẹ cũng từ đó mà lãnh nhận bổn phận phải giúp đỡ hữu hiệu cho ngôi vị ấy được sống một đời sống làm người trọn vẹn. Như Công Đồng Vaticanô II đã nhắc lại: "Vì là người truyền sự sống cho con cái, nên cha mẹ có bổn phận hết sức quan trọng phải giáo dục chúng, và vì thế, họ phải được coi là những nhà giáo dục đầu tiên và chính yếu của chúng. Vai trò giáo dục này quan trọng đến nỗi nếu thiếu sót sẽ khó lòng bổ khuyết được [...] ; gia đình là trường học đầu tiên dạy các đức tính xã hội mà không một đoàn thể nào khác có thể vượt qua được"[1]. “Quyền và bổn phận giáo dục con cái là quyền và bổn phận hàng đầu và bất khả nhượng của cha mẹ”.[2]

- Ngoài những đặc điểm ấy, người ta cũng không thể quên rằng yếu tố gốc rễ nhất, có tính cách định tính cho bổn phận giáo dục của cha mẹ, chính là tình phụ tửtình mẫu tử, tình yêu này được hoàn thành trong công cuộc giáo dục khi nó bổ túc và hoàn thiện trọn vẹn công việc phục vụ sự sống của họ. Như một nguồn mạch, tình yêu thương của cha mẹ trở thành linh hồn và là nguyên tắc gợi hứng và hướng dẫn tất cả hành động giáo dục cụ thể, bằng cách phong phú hóa nó với những giá trị như sự dịu dàng, kiên trì, nhân hậu, phục vụ vô vị lợi, tinh thần hy sinh, là những bông hoa quí báu nhất của tình yêu.

2. Giáo dục theo các giá trị chính yếu của đời người

- Dù phải đương đầu với những khó khăn, mà ngày nay lại thường là những khó khăn to lớn trong trách nhiệm giáo dục con cái, bậc cha mẹ cần phải tin tưởng và can đảm giáo dục con cái họ theo những giá trị chính yếu của đời người. Trẻ em phải lớn lên trong một sự tự do chân chính trước các của cải vật chất, biết chọn một nếp sống giản dị và khắc khổ, vì xác tín mạnh mẽ rằng: "giá trị của con người là do ‘cái mình’, hơn là do ‘cái mình có’"[3].

- Gia đình là nơi thích hợp cho việc giáo dục các nhân đức. Việc giáo dục này đòi phải tập bỏ mình, tập phán đoán lành mạnh, tập tự chủ, là những điều kiện để có sự tự do đích thực. Cha mẹ phải dạy cho con cái biết “đặt những gì là vật chất và tự nhiên phụ thuộc những gì thuộc nội tâm và  tinh thần”. Cha mẹ có trách nhiệm quan trọng là phải nêu gương tốt cho con cái.[4]

- Gia đình là môi trường tự nhiên để khai tâm cho nhân vị về tình liên đới và về các trách nhiệm trong cộng đồng. Cha mẹ phải dạy con cái biết giữ mình khỏi những nguy hiểm và những sa đọa đang đe dọa xã hội loài người.[5]

- Gia đình là trường học đầu tiên, trường học căn bản về đời sống xã hội. Như một cộng đồng yêu thương, gia đình nhận ra rằng tự hiến mình là qui luật hướng dẫn gia đình và làm cho gia đình tăng trưởng. Sự hiến mình đang làm cho tương quan giữa đôi bạn với nhau được sinh động chính là kiểu mẫu và nguyên tắc cho sự hiến mình cần có giữa anh chị em trong nhà và giữa những thế hệ khác nhau đang cùng sống trong gia đình.

- Việc giáo dục tình yêu như sự tự hiến còn giúp cha mẹ có được những tiền đề cần thiết để cống hiến cho con cái họ một sự giáo dục tính dục rõ ràng và tế nhị. Trước một văn hóa đang biến phần lớn tính dục con người thành tầm thường, cả trong cách diễn giải lẫn trong cách sống thu hẹp và nghèo nàn, cũng như chỉ liên kết tính dục với thể xác và với lạc thú ích kỷ, việc phục vụ giáo dục của cha mẹ phải cương quyết nhắm đến một nền văn hóa tính dục là một sự phong phú của toàn thể ngôi vị. Thật vậy, tính dục là một sự phong phú của toàn thể ngôi vị - thể xác, tình cảm, tâm hồn – và biểu lộ ý nghĩa thâm sâu của nó bằng cách đưa ngôi vị ấy đến chỗ tự hiến trong tình yêu.[6]

3. Những nhà giáo dục đức tin

- Nhờ ân sủng của bí tích Hôn phối, cha mẹ nhận trách nhiệm và đặc ân loan báo Tin Mừng cho con cái. Cha mẹ khai tâm cho con cái về các mầu nhiệm đức tin ngày từ đầu đời, chính họ là “những sứ giả đầu tiên” (LG 11) của đức tin đối với con cái mình. Lúc chúng còn thơ ấu, cha mẹ phải giúp con hòa nhập vào đời sống của Hội Thánh. Cách sống của gia đình, chứng từ của đời sống Kitô hữu theo Tin mừng, dạy Giáo lý trong gia đình là bước đi đầu tiên, và bước đi đồng thời và làm phong phú các hình thức giáo dục đức tin khác như ở trường học, giáo xứ, ... Cha mẹ có sứ vụ dạy con cái cầu nguyện và khám phá ra ơn gọi làm con Thiên Chúa (LG 11). Giáo xứ là cộng đoàn Thánh Thể và là trung tâm đời sống phụng vụ của các gia đình Kitô giáo; đó là nơi tốt nhất để dạy giáo lý cho con cái và cho cha mẹ chúng[7].

- Gương sống cụ thể, chứng tá sống động của cha mẹ, là yếu tố căn bản và không thể thay thế được trong việc giáo dục cầu nguyện : chỉ khi nào cha mẹ cùng cầu nguyện với con cái, chu toàn chức vụ tư tế vương giả của họ, họ mới đi vào sâu được trong tâm hồn con cái và để lại đó những dấu vết mà các biến cố cuộc sống về sau sẽ không thể xóa nhòa được. Đức giáo hoàng Phaolô VI ngỏ lời với cha mẹ: "Hỡi các bà mẹ, chị em có dạy cho các con nhỏ của mình những lời kinh của người Ki-tô hữu không? Chị em có cộng tác với các linh mục để chuẩn bị cho chúng lãnh nhận các bí tích của thời niên thiếu: xưng tội, rước lễ, thêm sức không? Nếu chúng đau ốm, chị em có tập cho chúng quen nghĩ tới những sự đau khổ của Đức Ki-tô, quen kêu cầu sự giúp đỡ của Đức Mẹ Đồng Trinh và các thánh không? Chị em có lần hạt chung với chúng ở gia đình không? Còn anh em hỡi những người cha, anh em có biết cầu nguyện chung với con cái, với cộng đồng gia đình, ít là thỉnh thoảng không? Gương sống của anh em, qua sự ngay thẳng trong tư tưởng và hành động, được hỗ trợ bằng ít nhiều kinh nguyện chung, quả là một bài học sống, một hành vi thờ phượng đáng tuyên dương. Như thế anh em đang đem bình an vào trong tổ ấm gia đình anh em: "Bình an cho nhà này". Đừng quên rằng làm như thế là anh em đang xây dựng Giáo Hội"[8]

Câu hỏi chia sẻ và thảo luận

1. Giáo dục con cái là một sứ mạng và đặc ân lớn lao của cha mẹ, bởi vì chính họ thực sự đào tạo nên những con người mới, thông truyền cho con cái những giá trị đích thực về nhân bản và đức tin. Anh chị có ý thức điều đó và đã giáo dục con cái như thế nào ? Anh chị quan tâm đến giáo dục những giá trị nhân bản nào nhất nơi con cái?

2. Gợi ý của đức Phaolô VI giúp anh chị có sáng kiến gì giáo dục cầu nguyện, giáo dục đức tin cho con cái?

LỜI NGUYỆN CHUNG

Kêu mời: Anh chị em thân mến,

Thiên Chúa dùng đường lối đặc biệt để giáo dục Dân Chúa trong Cựu Ước, dùng cuộc khổ nạn thập giá để giáo dục Hội Thánh. Chúa dùng thể chế gia đình để giáo dục nhân bản và đức tin. Chúng ta cùng hiệp ý cầu nguyện‎:

1.     Bà Elisabeth kêu lớn tiếng rằng: “Phúc cho em vì em đã tin vào lời Chúa phán”. Chúng ta cầu nguyện cho mọi thành phần Hội Thánh, luôn biết dùng những lời nói và những hành động đức tin để nhủ bảo nhau.

2.     Chúa phán với người cha của đứa bé: “Hãy vững tin, đừng nản lòng tin”. Chúng ta cầu nguyện cho các thành phần trong cộng đoàn gia đình, giúp đỡ nhau vũng lòng tin vào tình yêu và quyền năng Thiên Chúa.

3.     Chúa phán: “Đừng làm cớ vấp phạm cho những kẻ bé mọn trong anh em”. Chúng ta cầu nguyện cho các thành phần gia đình Kitô-giáo, biết chỉ bảo cho nhau những lịch thiệp, những nét văn hoá dân tộc, lịch sự nhân bản.

4.     Chúa phán: “Thầy truyền cho các con điều răn mới là các con hãy yêu thương nhau”. Chúng ta cầu nguyện cho các thành phần gia đình trong họ đạo chúng ta, biết kính trên nhường dưới, yêu thương và phục vụ nhau.

Kết thúc: Lạy Chúa, Chúa muốn dùng thể chế gia đình làm trường giáo dục nhân bản và đức tin. Xin cho chúng con biết tận dụng môi trường gia đình mà giúp nhau làm trọn phép nhân bản và thăng tiến đức tin cho nhau, cho ngày sau đặng lên thiên đàng. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen.

ÁP DỤNG THỰC HÀNH

GIA ĐÌNH GIÁO DỤC

Gia đình là thể chế xã hội đầu tiên góp phần quyết định vào sự hình thành nhân cách trẻ em, hay nói đúng hơn, vào sự hình thành cấu trúc nhân cách. Các nhà tâm lý học đã chứng minh khá vững chắc điều đó. Ở phương Đông các nhà hiền triết cũng đặc biệt nhấn mạnh tới sự hình thành nhân cách từ thuở ấu thơ, thậm chí từ khi còn nằm trong bào thai.

Bởi thế, không thể có sự hình thành và phát triển nhân cách một cách đầy đủ và vững bền nếu không có một môi trường giáo dục gia đình thuận lợi. Gia đình là thể chế đầu tiên quan trọng nhất in dấu lên nhân cách đang hình thành vào lứa tuổi còn non dại, khi trẻ em chưa có ý thức rõ về điều đó. Những mối liên hệ của trẻ em với môi trường nguyên thuỷ này, đặc biệt với ba và mẹ, quyết định phương thức ứng xử, nhất là về mặt tình cảm, mà chúng sẽ trải qua sau này trong những mối liên hệ với các cá nhân khác. Một mối liên hệ tốt với ba mẹ, nhất là với mẹ, nếu được coi là "tốt”, sẽ đem lại cho chúng sự phấn chấn, tin cậy, lòng biết ơn và lòng hào hiệp sau này. Và nếu như mối liên hệ ấy bị trẻ coi là "xấu” thì sẽ khiến cho chúng lo sợ mất đi cái gì đang có, tạo ra nơi chúng sự bất an, ganh tức, nghi ngờ…

Các bậc cha mẹ lo lắng và tỏ ra bất lực khi con cái sa vào các tệ nạn, họ than oán, chê trách ngành giáo dục, đổ lỗi cho nhà trường và các tổ chức đoàn thể. Các bậc phụ huynh không biết rằng do khoán trắng con cái cho nhà trường, cho thầy cô để dành thời gian lo toan cho cuộc sống cơm áo, chức quyền, tiền bạc nên họ phải trả giá. Đã đến lúc các bậc làm cha, làm mẹ cần phải tĩnh tâm để xem xét lại về vấn đề giáo dục con cái. Họ không ý thức rằng gia đình, nơi chứa đựng và nuôi dưỡng tình yêu thương nhiều nhất, làm điểm tựa cho nhân cách và tài năng của một con người. Nếu như cha mẹ cứ chạy theo đồng tiền, danh lợi mà quên mất những đứa con của họ, cứ nghĩ có tiền là có thể làm được tất cả, thì họ sẽ có những đứa con tật nguyền về tinh thần. Thế hệ trẻ ngày hôm nay đang bị chấn thương về đạo đức, căn bệnh nguy hiểm này cần được trị liệu bằng một môi trường giáo dục lành mạnh từ gia đình, sau đó là học đường và xã hội.

Trong xã hội hôm nay, rất nhiều người lẫn lộn các giá trị: người ta bận tâm hàng đầu đến sức khoẻ thể chất và tâm lý, đến viễn ảnh tương lai con cái có thể vươn tới một vị trí nào đó trong xã hội, còn sự tăng trưởng của chúng từ góc nhìn luân lý, hay nói chung hơn từ góc nhìn nhân văn, có vẻ như là chuyện thứ yếu.

Trong gia đình con trẻ lớn lên đồng thời hấp thu giáo dục không chỉ bằng lời nói thuần túy của cha mẹ (hay của người lớn) chúng nghe lúc này lúc khác; nhưng nhất là khi chúng thấy lời nói của họ đi đôi với kinh nghiệm, lời dạy dỗ được củng cố bằng việc làm của cha mẹ, bằng một sự gắn kết chặt chẽ giữa nói và làm. Nguy hiểm lớn nhất của giáo dục không phải là thiếu nhất quán giữa ngôn và hành về mặt đạo đức, nhưng là thiếu nhất quán về mặt lý tưởng. Cha mẹ có cãi nhau, chia rẽ trầm trọng thì cùng lắm làm cho trẻ bị rối loạn tâm lý hay oán giận, nhưng không làm tổn hại trầm trọng đến lương tâm biết phán đoán của chúng. Thiếu nhất quán về luân lý còn có thể tha thứ được vì thân phận con người mỏng dòn, yếu đuối. Nhưng thiếu nhất quán về lý tưởng, nghĩa là nhìn nhận một chân lý nhưng rồi lại không sống hay đem áp dụng, không rút ra từ đó những tiêu chuẩn để sống, là dấu hiệu của một kẻ quá hời hợt, hay tệ hơn là dấu hiệu của một sự giả dối. Nếu ta nói trăm lần lời xin lỗi bởi thành thật công nhận sai lầm của mình đó vẫn không phải là dối trá. Nhưng nếu ta nói đây là chân lý mà thực tế lại hành động cách khác bởi theo những tiêu chuẩn khác như thể chân lý nằm ở chỗ kia, thì đó là ta phủ nhận sự thật, ta dối trá. Nói một đàng mà lòng gắn bó với một nẻo khác.

Bởi thế, bước cơ bản đầu tiên của giáo dục Kitô giáo phải lưu tâm đến môi trường giáo dục đầu tiên, không thể chuyển nhượng và không thể bị tiếm quyền là gia đình. Điều đó đã được Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đề cập đến trong thư chung như chủ đề sống đức tin cho toàn thể Dân Chúa ở Việt Nam cho những năm 2008 - 2010: “Giáo dục hôm nay, xã hội và Giáo hội ngày mai”.

“Gia đình là hội thánh tại gia, là trường học tự nhiên và căn bản trong nền giáo dục Kitô giáo. Mọi thành viên của gia đình, ông bà, cha mẹ và các anh chị em sống đạo nhiệt thành làm thành truyền thống đức tin gia đình. Nơi đây đức tin được truyền thụ qua những lời cầu nguyện, lời nhủ bảo, đặc biệt trong những biến cố vui buồn của cuộc sống và qua những mẫu gương đức tin. Gia đình còn là “chiếc nôi của sự sống và tình yêu” giúp các phần tử gia đình cảm nghiệm tình yêu và lòng trung thành của Thiên Chúa, đồng thời cũng giúp hình dung trước những mối tương quan liên vị trong xã hội”.

Sứ mạng giáo dục đòi hỏi các cha mẹ kitô hữu phải biết giúp con cái của họ trưởng thành nhân cách dần dần theo nhãn quan kitô giáo và hội thánh. Gia đình chính là nơi chúng có kinh nghiệm đầu tiên về Hội thánh, về Thiên Chúa.

Thánh Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II, một chuyên viên về nhân học, ý thức hơn ai hết về sứ vụ cao cả của cha mẹ cộng tác vào công trình sáng tạo của Thiên Chúa, nói rằng cha mẹ Kitô hữu, nhờ gương sáng đời sống, phải là những sứ giả tiền hô loan báo tin mừng cho con cái mình. Hơn nữa, để khai tâm vào Kitô giáo, nhờ cùng cầu nguyện với con cái, cùng đọc Lời Chúa với chúng, cha mẹ đưa con tháp nhập sâu xa vào Thân Mình của Đức Kitô, tức Thánh thể và Hội thánh. Như thế, họ trở nên cha mẹ với đầy đủ ý nghĩa, không chỉ ban cho con sự sống thể lý mà cả sự sống tuôn chảy từ thập giá và phục sinh của Chúa Kitô.

Không có người cha hay người mẹ nào mà thực tế không làm công việc giáo dục. Bởi thế, trước hết cha mẹ là người cần tự giáo dục mình đầu tiên. Tôi nhớ đến một phát biểu của một nhà giáo dục nào đó: để giáo dục trước hết cần tự giáo dục. Đúng hơn, hãy mở toang cánh cửa lòng để Thần Khí Chúa Kitô giáo dục ta trong cuộc sống.

TÌM HIỂU GIÁO LUẬT

GIẢI ĐÁP MỤC VỤ VỀ BÍ TÍCH RỬA TỘI (TT)

Điều Kiện Để Được Lãnh Nhận Bí Tích Rửa Tội

Những Trường Hợp Cụ Thể:

1. Người lớn (NS tháng 7/2014)

2. Trẻ nhỏ và những trường hợp phức tạp khác

Qua những điều được trình bày trong hai số Nguyệt San tháng 5 và 7, chúng ta đã thấy những chỉ dạy của Hội Thánh (đ.865 và 866) về những điều kiện để người lớn được lãnh nhận Bí tích Rửa tội họ phải: bày tỏ lòng ước ao cách tự do, phải qua một thời gian học hỏi giáo lý, phải tỏ lòng ăn năn thống hối về những tội lỗi của mình và khi lãnh nhận bí tích rửa tội chính họ phải tuyên xưng đức tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi và vào Hội Thánh. Trong Nguyệt San tháng nầy, chúng ta sẽ xem những điều kiện để các trẻ nhỏ và những trường hợp như: hoài nghi, đứa trẻ bị bỏ rơi, bị sẩy thai…thì được rửa tội như thế nào.

Trẻ nhỏ:

Khởi đi từ lệnh truyền của Chúa Giêsu : “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo. Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ…” (Mc 16,15-16). Với lệnh truyền nầy, bí tích rửa tội được ban cho những ai có lòng tin. Hay nói cách khác, bí tích rửa tội được xem là bí tích của đức tin. Đức tin là điều kiện cần thiết để được lãnh nhận phép rửa. Đối với người lớn, việc học hỏi giáo lý, tìm hiểu đạo và tuyên xưng đức tin do chính đương sự thực hiện để biểu lộ ước muốn và lòng tin ra bên ngoài chúng ta nhận thấy được, còn trường hợp các trẻ nhỏ thì sao?

Trong trường hợp rửa tội cho trẻ nhỏ/nhi đồng, dĩ nhiên đương sự không thể tự mình tuyên xưng đức tin được, song cha mẹ và người đỡ đầu sẽ thay lời cho các em. Hay nói cách khác, các em nhỏ được rửa tội nhờ vào đức tin của cha mẹ và người đỡ đầu. Cũng vì đó, việc thay thế nầy mang theo những trách nhiệm sau đây:

Trước hết, chính cha mẹ sẽ xin cho con em mình được rửa tội. đây là một quyền lợi và là nghĩa vụ của họ: xét vì cha mẹ có trách nhiệm lo cho con cái được sống và trưởng thành, không chỉ về thể xác mà cả về tinh thần nữa, nên họ phải lo liệu để con em mình được sống trong ơn nghĩa Chúa.

Một trách nhiệm nữa, cha mẹ còn phải cùng với cộng đoàn lo việc giáo dục con em mình trong đức tin Công giáo, giúp các em thăng tiến trong đời sống đạo (dạy và học giáo lý).

Xét vì quyền lợi và trách nhiệm của cha mẹ như vậy, Giáo luật điều 867 và 868 dạy rằng:

-  Các bậc cha mẹ buộc phải lo cho con cái mình được rửa tội trong vòng những tuần lễ đầu tiên (đ.867).

-  Không ban bí tích rửa tội cho các nhi đồng khi cha mẹ không muốn (đ.868§1.1).

-  Không ban bí tích rửa tội cho các nhi đồng khi không có một hy vọng chắc chắn các em sẽ được giáo dục trong đạo Cộng giáo (trong những trường hợp cha mẹ rối, cha mẹ không thực hành đức tin...) (đ.868§1.2).

-  Tuy nhiên, trong trường hợp nguy tử, vì phần rỗi các linh hồn, Giáo luật cho phép rửa tội cho các nhi đồng của cha mẹ Công giáo cũng như cha mẹ không Công giáo dù ngoài ý muốn của cha mẹ (đ.868§2).

Dù sao, trong vấn đề nầy, không phải chỉ có cha mẹ mới có trách nhiệm lo cho các em nhỏ đón nhận ơn cứu rỗi của Chúa, mà cộng đoàn và các linh mục chăm lo cho đoàn chiên cũng phải có trách nhiệm hướng dẫn và giúp đỡ cho các cha mẹ chu toàn bổn phận của mình.

Những trường hợp phức tạp khác (còn tiếp)

TRANG LINH MỤC

GIÁO DỤC ĐỨC TIN

Hiện nay, có lẽ vẫn còn nhiều cha mẹ cứ “khoán trắng” việc dạy đức tin cho nhà thờ, cho họ đạo. Họ nghĩ rằng dạy giáo lý cho trẻ em là việc của các cha, các thầy, các sơ, các giáo lý viên”trăm sự nhờ cha, nhờ dì….”. Thực ra, theo giáo huấn của HT  thì cha mẹ là những nhà giáo dục đầu tiên và chính yếu và không ai có thể thay thế được đến nỗi nếu thiếu sót thì khó lòng bổ khuyết được. Còn vai trò của Họ đao chỉ là củng cố và đào sâu chínhvà đức tin mà cha mẹ đã dạy cho con cái trong những năm tháng đầu của cuộc sống. Vậy cha mẹ giáo dục con cái bằng cách nào?

Trước hết bằng gương sáng: Cách hữu hiệu nhất để biến mình thành nhà giáo dục là cương quyết sống những gì mình muốn truyền đạt cho con cái. Khi cha mẹ thăng tiến chính bản thân, nêu gương đời sống tốt đẹp về nhân cách, đạo đức và các khả năng khác, con cái sẽ noi theo. Đúng như người xưa vẫn nói: - Cha nào con nấy,  - Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà.

Kinh Thánh dạy rằng: “Hãy dạy đứa trẻ con đường nó phải đi, để khi lớn lên nó vẫn không lìa bỏ”  ( Châm Ngôn 22,6). Công đồng cũng xác quyết: “Được cha mẹ hướng dẫn bằng gương sáng và kinh nguyện gia đình, con cái và tất cả những ai sống trong khuôn khổ gia đình sẽ gặp được con đường nhân ái, cứu độ và thánh thiện dễ dàng hơn[8]“.

Thánh Phaxicô nói rằng cần phải dạy bằng lời, cần phải rao giảng Tin Mừng, nhưng lời thường vào lỗ tai này rồi đi qua lỗ tai khác. Nhưng các em không thể quên được những gì các em thấy chúng ta làm, ngày này qua ngày khác, năm này qua năm nọ. Cha mẹ nào phản ảnh tình yêu của Cha Trên Trời đối với con cái, cha mẹ nào sống đời cầu nguyện và làm việc lành, chung thủy với nhau và siêng năng lãnh nhận các Bí Tích, thì đã làm được ba phần tư công tác là nhà giáo dục đầu tiên của con cái mính.

Thật vậy,ngoài những vẻ bên ngoài của việc cầu nguyện và đạo đức trong gia đình, con trẻ phải thấy rằng cha mẹ đều thấm đẫm kết quả của việc cầu nguyện – nghĩa là họ thật sự sống ơn đức tin, lòng thương xót và sự tha thứ. Việc có con cái trong nhà giúp rà soát lương tâm thường xuyên. Cha mẹ dạy con mình không ngồi lê đôi mách hay nói lời bình phẩm chỉ trích người khác, nhưng cha mẹ có nói về những người hàng xóm một cách thiếu bác ái không? Nếu cha mẹ dạy con sống điều độ, nhưng ông ăn uống quá mức, việc đó sẽ gởi đi một tín hiệu rằng: “Hãy làm như tôi nói, đừng làm như tôi làm.” Việc dạy con không được cãi lại, hay không được bất kính là một điều tốt, nhưng nếu cha mẹ nêu gương xấu qua việc mắng chửi nhau hoặc không quan tâm đến nhau, thì lúc đó những lời cha mẹ dạy con cái quả là trống rỗng. Còn nhiều điều khác tương tự như vậy.

Chắc chắn con cái sẽ nắm bắt được mỗi khi cha mẹ nói một đàng làm một nẻo.  Dĩ nhiên không có cha mẹ  nào là hoàn hảo, và con cái cũng sẽ hiểu được điều này, nhưng chúng cần phải được thấy cha mẹ chúng đang làm hết sức mình để sống đức tin tốt.

Kế đến bằng việc cầu nguyện: Trước mỗi bữa ăn nên dạy con cái làm dấu thánh giá và giải thích cho chúng biết ý nghĩa của việc làm dấu thánh giá trước bữa ăn là có ý cám ơn Chúa vì Chúa đã ban cho có đất đai, ruộng vườn, cho mưa thuận gió hòa để người nhà nông cày cấy làm ra thóc lúa, cho ba má làm ra tiền để mua gạo, mua thức ăn. Việc làm dấu thánh giá truớc bữa ăn tuy đơn giản nhưng lại là cách tuyên xưng niềm tin công khai của người Kitô hữu, và nó cũng là một cách truyền giáo nữa.

Tôi nghe nói một số con em cán bộ gửi học tại nhà trẻ của mấy sơ, khi các sơ dạy các cháu công giáo cách làm dấu thánh giá trước khi ăn cơm, thì những cháu không có đạo cũng bắt chước miết thành thói quen, đến nỗi khi về nhà ăn cơm với ba má các emcũng làm dấu; nếu thấy ba má không làm dấu thì các em nhắc “phải làm dấu cám ơn Chúa thì Chúa mới ban ơn!” rồi các em dạy ba má cách làm dấu như thế nào. Nhiều trường hợp vì chiều con, hơn nữa thấy chẳng mất mát gì, các cha mẹ là cán bộ cũng làm theo, rồi dần dần có cảm tình với đạo.

Tôi đã thấy nhiều bà mẹ vừa cầm tay con chỉ vào ảnh Chúa hay ảnh Đức Mẹ vừa đọc to “Chúa, Đức Mẹ” cho tới khi bé quen và có thể tự mình làm được như vậy. Lớn hơn một chút, cha mẹ dạy các cháu đọc những kinh đơn giản như Lạy Cha, Kính mừng, Sáng danh… Thánh nữ Têrêsa Hài đồng kể rằng nhờ được cha mẹ dạy đọc kinh Mân côi từ rất sớm, nên khi mới ba bốn tuổi thánh nữ đã thuộc. Mỗi lần lên cầu thang, cứ leo được chừng 7, 8 bậc thì thánh nữ ngồi nghỉ, và trong khi nghỉ thì đọc Kính mừng Maria!

Khi các em lớn hơn thì dạy các cháu cách cầu nguyện đơn giản: xin Chúa cho con khoẻ mạnh để con đi nhà trẻ; xin Đức Mẹ cho ba hết đau, cho má về sớm. Rồi trong những buổi đọc kinh tối tại gia đình nên khuyến khích các cháu nhỏ cũng ngồi đọc chung với mọi người, dù cá em chưa thuộc hết các kinh và dù chúng vừa đọc vừa ngủ gật cũng được. Một thi sĩ nước ngoài, trong một bài thơ có viết: “Thật là đẹp và dễ thương, hình ảnh em bé vừa đọc kinh với gia đình vừa ngủ gật!” Nó đẹp và dễ thương ở chỗ dù em bé có quyền nằm ngủ, không bắt buộc phải đọc kinh với gia đình, nhưng cũng cố gắng ngồi được lúc nào hay lúc ấy. Đó cũng là có công phúc và đẹp lòng Chúa lắm rồi! Những buổi đọc kinh tối như vậy dần dần thấm vào tâm hồn các em và làm cho đức tin của các em lớn lên.

Không có lời giảng dạy nào hùng hồn và thuyết phục con cái cho bằng thái độ khiêm tốn bày tỏ đức tin của người cha, khi ông quỳ gối trước bàn thờ và hướng dẫn toàn thể gia dình đọc kinh tối kinh sáng.Thái độ của người cha dạy con cái trước hết và trên hết phải tuân phục một mình Thiên Chúa. Chúa là chủ gia đình, cha mẹ chỉ là người quản lý thôi.

Hơn nữa, qua việc cầu nguyện chung với con cái, qua việc đọc Lời Chúa với các em và dẫn các em đi xâu vào việc gia nhập Nhiệm Thể Đức Kitô…, họ hoàn toàn trở nên cha mẹ, mà trong đó không những chỉ họ sinh ra sự sống thể xác mà còn sự sống phát sinh từ Thánh Giá và sự Phục Sinh của Đức Kitô qua sự canh tân của Chúa Thánh Thần (FC, số 39).

(Còn tiếp)

TRANG TU SĨ

GIA ĐÌNH – MÁI TRƯỜNG ĐẦU TIÊN

Ngồi bên mẹ, bé băn khoăn
Đưa tăm sao lại đưa bằng hai tay
Mẹ cười, bé hỏi rõ hay
Cái tăm nhẹ lắm một tay được rồi
Nhưng đâu chỉ nhẹ mà thôi

Mà là lễ phép với người bề trên

Hai tay kính mến đưa lên
Là lòng con thảo cháu hiền hiện ra
Đưa mời bố mẹ ông bà
Cái tăm hiếu thảo phải là hai tay”

Phía sau sự thành nhân – thành tài – thành công của một nhân vật vĩ đại nào cũng có một chỗ rất đặc biệt của gia đình, hay có thể nói gia đình luôn có một ảnh hưởng lớn đối với quá trình hình thành và phát triển nhân bản của mỗi con người trong xã hội. Chính từ mái ấm gia đình mà bạn và tôi theo năm tháng học lấy hành trang cho cuộc sống nơi cha mẹ, ông bà, anh chị em và những người chung quanh. Đôi lần bạn gặp những bất ngờ hay muộn phiền và than thở: đâu có ai dạy cho mình biết phải làm sao? Những lúc đó gia đình lại hiện ra trong ký ức bạn như một nguồn sức mạnh, bạn sẽ học cách để gánh vác tương lai, vượt qua khó khăn như cha mẹ đã từng phải đương đầu và các ngài đã chiến thắng.

Ngay khi bạn còn nằm trong lòng mẹ bạn đã học được từ mẹ một trái tim yêu thương, những rung động rất kín đáo và tế nhị của mẹ dành cho bạn, sự hưởng ứng của bạn với mẹ đã thật sự là bài học nhân bản đầu tiên hình thành nơi bạn bản năng yêu và lòng tôn trọng…vậy đó, bạn đã học yêu ngay khi mới được tượng hình nơi tình yêu của mẹ cha và đó có chăng là căn cội lòng “NHÂN” của một con người?

Ngày bạn ra đời là bạn bắt đầu những mối tương giao, với tiếng khóc vỡ òa làm trào dâng niềm hạnh phúc của mọi người, bạn đã là món quà cho thế giới. Thời gian trôi qua bạn tiếp tục học lấy cách biểu lộ cảm xúc, suy nghĩ và nhu cầu của mình bằng những cái gật rồi lắc đầu, xua tay và đôi khi có cả những cái bấu đau điếng lúc giận hờn…tất cả thế giới xung quanh như cộng hưởng trong việc hình thành nhân cách nơi bạn, gia đình trở nên ngôi trường dạy bạn học cách sống cộng đồng: có trao đổi chia sẻ, có sự quan tâm hy sinh cho nhau, bạn học nét hiền hòa, tính chịu khó của mẹ, cái mạnh mẽ lặng trầm của cha, tình trìu mến ấm áp của ông bà… rồi những cách ứng xử, cách nói năng, đi đứng bạn nhìn thấy từ những thành viên trong gia đình dần ảnh hưởng đến phong cách riêng của bạn và rất thường tình bạn sẽ mắc lỗi hay phạm sai lầm, đôi khi bạn nếm phải thất bại thì chính nơi gia đình bạn cũng học được lòng khoan dung, tính nhẫn nại, nghị lực vững vàng và cách trở nên sự an ủi cho người khác.

Hơn tất cả gia đình còn là nơi bạn cảm nghiệm tình yêu Thiên Chúa, bạn nhận ra sự chăm sóc của Thiên Chúa trên cuộc đời bạn nơi đôi tay cần lao của cha mẹ, bạn nhận ra mình được cõng trên lưng bởi tất cả yêu thương và ánh nhìn che chở của Thiên Chúa.

Khi thấy mẹ cha ngày một hao mòn theo tuổi tác bạn cũng hiểu được cần trân trọng từng giây phút còn có thể nói với các ngài lòng biết ơn. Ý nghĩa cuộc sống đôi khi nằm trong những điều bình dị nhất, một nhân bản tròn đầy luôn được lĩnh hội từ những bài học đơn sơ của nếp sống gia đình. Rồi một ngày đi xa, bạn sẽ chợt nhận ra những vụn vặt tưởng chừng vô nghĩa từ gia đình giờ đây trở thành vốn sống cho bạn giữa cuộc đời, bạn sẽ nhớ cách mẹ dịu dàng chăm sóc cho ông bà trong những ngày thực tập nghành y tá, bạn sẽ nhớ cách cha kiên nhẫn chờ mùa lúa trổ, đôi vai trần gánh gạch thuê kiếm cơm, hay nhớ những lời bà khuyên cháu giữ gìn cốt đạo…Được là chính bạn của ngày hôm nay không phải tự nhiên vô tình, nhưng chính cuộc đời của ông bà, cha mẹ đã đi qua trong mầu nhiệm lặng lẽ tạo nên tâm hồn bạn, ước mong bạn biết trân trọng những bài học vô giá nơi gia đình - mái trường đầu tiên đã trao tặng bạn.

MTG Cái Nhum

 

NHỮNG NGƯỜI MẸ TUYỆT VỜI

Vào một buổi sáng, đang giúp xoa bóp cho Bà Tư, một nữ tu đã ngoài 70 tuổi nghỉ hưu tại Hội Dòng, Trúc ôn tồn hỏi: “Bà Tư ơi, trong cuộc đời Bà Tư, ai là người có ảnh hưởng nhiều nhất?”  Không để cô Thử sinh nhỏ chờ đợi lâu, Bà Tư mỉm cười trả lời: “Người đó không ai khác mà chính là mẹ của bà.” Trúc hỏi: “Con được biết bà cụ đã mất khi Bà Tư còn nhỏ phải không?” “Đúng vậy. Lúc đó bà mới được 14 tuổi, nhưng những gì mẹ làm và dạy, đều in rõ trong trí bà cho tới bây giờ, nâng đỡ đời tu của bà nhiều lắm!” Bà Tư nói. “Bà Tư có thể kể về mẹ cho con nghe được không?” Trúc tò mò. “Được chứ!” Bà Tư đáp.

Rồi bà bắt đầu kể: “Mẹ của bà là một người hiền lành, tốt bụng và rất ngoan đạo. Lúc lấy chồng mẹ mới học đạo, nhưng kiên trì tin Chúa, không ai trong gia đình có thể sánh bằng. Mẹ luôn dạy anh em của bà phải sống hiền lành, biết chia sẻ cho người nghèo và trân trọng họ. Mỗi tháng mẹ làm bánh lá cho cả nhà ăn nhưng cũng không quên sai các con đem chia sẻ cho những người nghèo trong xóm; mẹ sống hiền hòa với mọi người nên bà con ai cũng quý mến. Mẹ cũng dạy bà phải sống trung thực với bản thân và người khác, nhờ đó mà cho tới bây giờ, chưa một lần nào bà nói dối. Mẹ dạy các con yêu Chúa và làm dấu Thánh giá từ khi mới bập bẹ biết nói. Dù phải làm việc vất vả nhưng mỗi tối, mẹ luôn nhắc nhở mọi người đọc kinh chung với nhau, không bỏ sót ngày nào. Mẹ là người mẹ gương mẫu và rất thương con cái, mỗi khi con làm sai, mẹ không bao giờ nặng lời trách mắng nhưng nhẹ nhàng dạy bảo.  Cha của bà phải đi lính nên mọi sự trong ngoài đều do một tay mẹ đảm đang.”

“Nhưng sao bà cụ lại mất sớm vậy Bà Tư?” Trúc ngắt lời.  Bằng giọng trầm ngâm, bà Tư trả lời: “Từ khi sinh đứa em út, sức khỏe của mẹ ngày càng giảm đi.  Sau đó khá lâu thì phát hiện chứng ung thư tử cung nhưng đã quá muộn. Trong thời gian đó, mẹ vẫn ráng sức làm việc, đến khi không còn có thể ráng được nữa. Tuy vậy, mẹ vẫn không than vãn hay tỏ ra đau đớn, lúc nào cũng bình thản.  Rồi mẹ của bà chết một cách lành thánh, để lại niềm thương tiếc cho mọi người.”  “Giờ thì con đã hiểu rồi. Bà Tư có một người mẹ tốt lành như vậy.  Con có thể tưởng tượng được bà cụ qua đời sống hiền lành, khiêm tốn và thánh thiện của Bà Tư.”

“Còn cha mẹ của con thì sao?  Mạnh khỏe không?” Bà Tư hỏi. “Dạ, ba mẹ con vẫn khỏe. Nhưng con buồn lắm vì cho tới bây giờ, ba vẫn chưa hoàn toàn đồng ý cho con đi tu vì có chút bất hòa với Cha Sở trước đây. Mỗi lần buồn thì đi uống rượu và sau đó là trách móc mẹ con không tiếc lời. Chỉ tội nghiệp mẹ, có hai đứa con mà anh Hai con lại đi làm xa.  Con chỉ biết cầu nguyện cho ba mẹ thôi. Tuần rồi, con có gọi về, mẹ nói con cứ cố gắng tu cho tốt và cầu nguyện nhiều hơn.  Mẹ cũng báo tin vui là ba con đã có chút thay đổi rồi.  Mỗi ngày mẹ đều đi lễ để tạ ơn Chúa và còn rủ ba cùng đi nữa. Bà Tư cũng cầu nguyện cho gia đình con với nha!”  Bà Tư xoa đầu Trúc: “Ờ, bà sẽ cầu nguyện đặc biệt cho ba con và gia đình con. Mỗi người có một hoàn cảnh gia đình khác nhau. Ba mẹ con đã sinh con ra, nuôi nấng và dạy dỗ con khôn lớn như hôm nay tốn biết bao nhiêu là công khó. Ba con vì thương nên mới không muốn xa con thôi. Còn mẹ con, một người mẹ quảng đại vô cùng, chỉ có mình con là con gái, đã không giữ lại cho mình mà lại dâng cho Chúa, đáng để nhiều người noi theo. Con phải cầu nguyện nhiều cho ba mẹ con. Chúa sẽ ban thưởng xứng đáng cho những ai biết cho đi mà không tính toán. Bà tin rằng không lâu nữa ba con cũng sẽ hết lòng ủng hộ con nhờ sự kiên trì của mẹ con.” 

Buổi sáng hôm đó, hai bà cháu đã có những giây phút thật tuyệt vời. Chợt nhớ tới giờ học, Trúc nhìn lên đồng hồ... đã trễ 10 phút. Cô thử sinh vội vàng chào và nhẹ nhàng đẩy chiếc xe lăn chở người nữ tu già trở về phòng.

Thế đó, trong bất kỳ môi trường hay hoàn cảnh sống nào, gia đình là yếu tố quan trọng nhất, ảnh hưởng trực tiếp trên cuộc đời mỗi người chúng ta.  Nơi đó, chúng ta học được rất nhiều từ cha mẹ. Dù ở lứa tuổi nào hay bậc sống nào, dù đi đâu hay làm gì, những ký ức về người cha, người mẹ, những ảnh hưởng của người thân trong gia đình luôn là “kim chỉ nam,” là “bàn đạp”, giúp chúng ta vươn lên trong cuộc sống.

Dưới cái nhìn của Giáo hội Công Giáo, cha mẹ đóng một vai trò “có một không hai” trong việc đào tạo những tương lai tốt cho xã hội và Giáo hội, mà vì tình yêu, họ đã sinh ra.  Công đồng Vatican II đã nói: “Vì là người truyền sự sống cho con cái, nên cha mẹ có bổn phận hết sức quan trọng phải giáo dục chúng, và vì thế, họ phải được coi là những nhà giáo dục đầu tiên và chính yếu của chúng. Vai trò giáo dục này quan trọng đến nỗi nếu thiếu sót sẽ khó lòng bổ khuyết được...” (Tuyên ngôn về Giáo dục Kitô giáo, số 3). 

Mẹ Giáo Hội luôn quan tâm lo lắng, tìm đủ mọi phương cách để giúp các gia đình sống tốt ơn gọi thiêng liêng của mình. Ước mong mọi gia đình Công Giáo trong Giáo phận Vĩnh Long không ngừng nỗ lực trong việc thăng tiến những giá trị căn bản trong đời sống gia đình của cả hai chiều kích: xã hội và tâm linh, theo những chỉ dẫn của Giáo hội, để mang lại hoa trái là những người con với những đức tính tốt và một đức tin vững mạnh, biết giúp ích cho xã hội và nhiệt thành xây dựng Giáo hội.

MTG Cái Mơn

TRANG SỐNG ƠN GỌI

NHÂN CÁCH TRƯỞNG THÀNH

Khi nhắc đến các triết gia bàn về con người, nhân vật đầu tiên mà chúng ta thường nghĩ tới là Socrates. Khi bàn về triết lý của ông, câu châm ngôn được mọi người tâm đắc nhất là “Hãy nhận thức chính mình”. Trong đời tu cũng thế, phải biết rõ chính mình mới sửa đổi và phát triển được. Nói một cách chính xác hơn là biết mình để thể hiện nhân cách trưởng thành hơn và từ đó người tu sẽ dễ dàng vượt qua được những thử thách và trưởng thành trong đời sống Kitô hữu hơn.

Đời sống tu trì là một chuỗi dài sống “cho” và sống “với” vì vậy đối với những người tu khi  sống giữa cộng đoàn với nhiều nhân cách khác nhau sẽ dễ dàng làm cho họ bị cuốn hút theo những nhân cách đó, hoặc làm chúng ta bị lệch lạc đi mất nhân cách của mình. Tuy rằng không có ai là một nhân cách hoàn hảo. Nhưng khi đã là chủng sinh hay chỉ là dự tu hoặc đệ từ thì cũng đòi hỏi chúng ta phải nỗ lực tiến tới thể hiện một nhân cách trưởng thành. Dù rằng bên cạnh chúng ta luôn có nguồn trợ lực của bề trên và anh em. Nhưng nguồn trợ lực đó chỉ là mớ lý thuyết dẫn đường cho mình đến nhân cách trưởng thành chứ đó không phải là nhân cách trưởng thành mà ai đó có thể cho được. Do đó, để thể hiện được nhân cách trưởng thành trước tiên phải biết mình, ý thức về mình rõ ràng từ đó chúng ta mới thấy được tất cả giá trị của các mối tương quan với anh em.

Khi đã chấp nhận bước trên con đường tu trì thì chúng ta đã thể hiện được nhân cách của mình trong việc tự do lựa chon. Qua nhận định, phán đoán và nhờ Thánh Thần soi sáng đã chấp nhận dấn thân đáp trả ơn gọi đi tu một cách tự do không vì truyền thống gia đình hay ép buộc…và mỗi người luôn nhận ra rằng mình như một bông hoa kỳ diệu giữa muôn vàn bông hoa được Chúa dựng nên mà mỗi cái đều có độc đáo riêng, ơn gọi riêng, đặc điểm riêng, tài năng riêng.

Sống trong cộng đoàn tu, Thiên Chúa ban cho mỗi người có một tài năng khác nhau như: đàn giỏi, hát hay, chưng bông khéo, hay có tài ăn nói…Vậy khi đứng giữa những “tài năng thiên phú” đó nếu chúng ta không thể hiện được nhân cách của mình thì ta rất dễ bị khép kín, lùi vào thế thủ không thể phát triển được nhân cách chính mình hoặc nếu có phát triển cũng dễ bị lệch lạc. Vì thế, để nhân cách tôi được trưởng thành qua việc biết mình, khả năng mình, chấp nhận giới hạn chính mình cho dù hay hoặc dỡ; như tôi không thể hát hay nhưng tôi vẫn luôn vui vẻ chấp nhận và luôn biết rằng tôi cũng có cái hay khác, độc đáo riêng của mình. Nhờ đó tôi sẽ dễ dàng chấp nhận cái hay của anh em và anh em cũng cần đến cái hay của tôi chứ không vì đó mà trở nên ganh tỵ hay khép kín.

Chính nhờ biết mình mà chúng ta chấp nhận giới hạn và tôn trọng lẫn nhau để từ đó đời sống cộng đoàn huynh đệ cần đến nhau, bổ sung cho nhau và cùng tiến tới nhân cách trưởng thành hơn.

Ngược lại một chủng sinh sẽ rất buồn khổ và chán nản, nếu không biết chấp nhận giới hạn của mình, từ đó sẽ dẫn đến ganh tỵ, ganh ghét, nội tâm bất an làm cho nhân cách bị vướng không phát triển được, hoặc mình sẽ bắt chước, làm theo, mất đi sự sáng tạo, rập khuôn theo người khác cũng làm nhân cách thiếu trưởng thành thậm chí đi đến lệch lạc.

Sống trong cộng đoàn tu, chúng ta dễ dàng nhận ra được những thái độ ảnh hưởng làm cho mình không thể hiện được nhân cách trưởng thành. Đó là thái độ tôi quá chú ý đến mình. Khi quá chú ý đến mình thì chúng ta dễ rơi vào thái độ vừa tự tôn lại vừa có thái độ tự ti. Thái độ tự ti gặp rất nhiều mỗi khi mình phải nói chuyện hoặc tiếp xúc với bề trên hay những anh em mà chúng ta nghĩ họ giỏi hơn mình. Tự nhiên mình lại nhút nhác, không đủ tự tin rụt rè, sợ sệt làm cho nhân cách chúng ta dễ dàng đóng kín không thoát ra được. Ngược lại thái độ tự tôn của chúng ta lại được thể hiện trước các anh em dở hơn, nhỏ hơn... Chính những thái độ đó làm cho mình rất dễ “ làm dáng ” trước mọi người. Đặc biệt, khi có dịp về hè hoặc tết; có lúc mình không tự đưa mình lên thì những người xung quanh lại đưa lên, thần tượng mình như một ông thầy tài năng biết đủ mọi chuyện, một nữ tu thánh thiện hiền từ, vì vậy rất dễ dàng đưa chúng ta sông giả hình. 

Khi sống như thế chúng ta như bị nô lệ cho những lời tâng bốc, làm cho chúng ta không còn biết mình là ai và phải luôn gồng mình để nô lệ cho cái tự tôn sống trong áp lực ảo tưởng đó. Nên nhân cách chúng ta cũng bị đè nén theo làm không thể trưởng thành được.

Tóm lại, để thể hiện được nhân cách trưởng thành tôi phải sống đúng với chính mình. Như người ta vẫn thương hay quan niệm vui rằng: “Thánh nhân là người sống đích thực là mình”.

TRANG THIẾU NHI

GIÁO DỤC CON CÁI NÊN NGƯỜI VÀ NÊN CON CHÚA

Con người từ khi sinh ra đến khi kết thúc cuộc sống ở trần gian này thông thường phải được trải qua quá trình thành nhân. Thành nhân qua nhiều môi trường đào tạo. Môi trường đầu tiên để con người được giáo dục chính là gia đình.

Tự bản chất cha mẹ có quyền và bổn phận giáo dục con cái của mình. Đây là quyền bất khả xâm phạm và bất khả chuyển nhượng của họ. Giáo dục con cái trở thành con người tốt. Cha mẹ Công giáo còn có bổn phận dạy dỗ con cái mình để chúng trở thành những người con của Chúa thật sốt sắng.

Những đức tính nhân bản căn bản của một con người nơi những người con sẽ được chính cha mẹ truyền lại. Cha mẹ cư xử lễ độ với những người lớn và sống hài hòa với mọi người sẽ gây ảnh hưởng rất tốt cho con cái mình. Cha mẹ ngăn nắp trật tự khi sử dụng các vật dụng trong nhà cũng như trong việc sử dụng thời gian sẽ là lời dạy rất hữu ích cho con cái. Một đứa con trong gia đình không thể làm biếng khi thấy cha mẹ nó siêng năng chăm chỉ cần cù lao động. Cũng thế, một đứa con làm sao dám hoang phí tiền bạc khi biết được cha mẹ nó tiết kiệm dành dụm từng chút…

Bầu khí đạo đức thánh thiện thật sự cần thiết cho một gia đình Công giáo. Cha mẹ nhắc nhở con cái và cùng với chúng đọc kinh sáng tối, đi dự Thánh lễ và siêng năng lãnh nhận Bí tích Hòa giải để chăm lo cho đời sống đức tin.

Mười năm trồng cây, trăm năm trồng người. Thật vậy, bổn phận giáo dục con cái của các bậc cha mẹ phải là một việc làm xuyên suốt và liên lỉ. Bởi lẽ, hơn bao giờ hết con người trong thời đại hôm nay cần những chứng nhân hơn là những thầy dạy. Cha mẹ dạy con cái mình bằng đời sống của họ.

Trong cái nhìn đức tin con cái còn là hồng ân Chúa ban. Chúng nó sẽ là triều thiên hạnh phúc hay vòng gai đau khổ cho cha mẹ là tùy thuộc rất lớn vào cách giáo dục của họ. Giáo dục con cái tốt cũng là góp phần lớn để chúng thật sự có ích lợi cho xã hội và cho Giáo hội. Ước mong các bậc cha mẹ trẻ Công giáo biết ý thức được điều hết sức quan trọng này.

DẠY CON NÊN NGƯỜI: 4 ĐIỀU CON TRẺ SẼ CÁM ƠN BẠN

Tất cả những gì bố mẹ làm đều là để tốt cho con nhưng con có hiểu và nghe theo hay không lại là chuyện khác. Vậy làm sao để dạy con nên người mà không cần phải dùng quyền uy hoặc đòn roi để ép buộc trẻ? Áp dụng 4 điều dưới đây và con trẻ sẽ phải cám ơn bạn khi chúng khôn lớn.

Yêu thương vô điều kiện. “Con ngoan thì mẹ mới thương” có phải là câu cửa miệng của nhiều chị em từ khi con còn nhỏ xíu? Thế nhưng, thực tế là mẹ có thể nào không thương con được chăng, cho dù con có không nghe lời đi nữa? Vậy thì tại sao không để cho trẻ biết điều đó? Sẽ có những lúc con mắc sai lầm, từ những lỗi nhỏ nhặt “chuyện con nít” tới những vấp ngã lớn hơn khi vào đời, nếu không phải là gia đình thì đâu sẽ là nơi giang rộng vòng tay đón nhận con cho dù con đã làm sai điều gì đi nữa? Bố mẹ có thể xem đó là chuyện hiển nhiên nhưng con cái thì không đâu nhé. Với những đứa trẻ từ nhỏ đã chịu áp lực “phải ngoan”, “phải học giỏi”, “phải thành đạt” từ phía gia đình mà không có được sự cảm thông và chia sẻ tương ứng, chúng sẽ ít có xu hướng tìm đến sự giúp đỡ của bố mẹ cũng như quay về nhà những khi gặp khó khăn. Ở mặt tích cực, trẻ sẽ học được cách tự giải quyết những vấn đề của mình nhưng nếu nhìn về phía tiêu cực, điều này cho thấy sự rạn nứt trong mối quan hệ giữa bố mẹ và con cái.

Duy trì những bữa cơm gia đình. Điều này nghe bình thường vậy thôi nhưng cuộc sống hiện đại và bận rộn đôi khi khiến chúng ta lãng quên tầm quan trọng của những bữa cơm gia đình. Bố mẹ bận đi làm, con cái bận đi học, nào là học chính khóa rồi lại học thêm, vậy thì còn dịp nào để cả nhà ngồi lại cùng nhau và chia sẻ những câu chuyện hàng ngày tốt hơn là bữa cơm tối? Đây chính là cách mà các thành viên gia đình luôn là một phần trong cuộc sống của nhau. Đến một lúc nào đó khi con lớn hơn, có nhiều mối bận tâm hơn, các ông bố bà mẹ sẽ thấy thói quen ăn tối cùng nhau thật sự có giá trị đến nhường nào. Tuy nhiên nói vậy không có nghĩa là bạn nên biến bữa cơm thành “buổi giáo huấn” vì đúng như ông bà ta đã nói: “Trời đánh tránh bữa ăn”, câu chuyện nơi bàn ăn chỉ nên là những gì nhẹ nhàng và vui vẻ.

Cho con quyền quyết định. Hầu hết các bậc cha mẹ Á Đông đều mong muốn có những đứa con ngoan, biết nghe lời người lớn? Tuy nhiên đã bao giờ bạn nghĩ bạn có thể quyết định thay con đến bao giờ? Và bạn có thể nào ở bên con 24/7 để chỉ cho trẻ biết phải làm thế này hay không được làm thế kia? Đây chính là lý do tại sao bạn cần tập cho con tự quyết định những chuyện của bản thân ngay từ nhỏ miễn là điều đó không ảnh hưởng tới an toàn của trẻ. Nhiệm vụ của bạn là giúp bé hiểu được mỗi lời nói, hành động của trẻ sẽ có những tác động nhất định, sau đó để trẻ tự suy nghĩ và lựa chọn. Chẳng hạn khi thấy trẻ giành đồ chơi của bạn By hàng xóm, thay vì la mắng và bắt trẻ trả lại ngay, bạn nên giải thích cho trẻ hiểu việc trẻ làm khiến cho bạn By buồn và cũng khiến cho bố mẹ buồn kèm theo những lý do cụ thể. Có thể bạn sẽ không thành công ngay từ lần đầu tiên nhưng hãy kiên nhẫn và bạn sẽ thấy kết quả.

Cho con không gian để “nổi loạn”. Đây chính là cách để bố mẹ “kiểm soát” con cái mà không khiến trẻ cảm giác đang bị kiểm soát. Quá siết chặt kỷ luật sẽ chỉ khiến bản năng nổi loạn trong trẻ bùng lên và tìm mọi cách để “lách luật”. Bạn nghĩ như thế nào nếu ở trước mặt bạn, con tỏ ra ngoan ngoãn và nghe lời nhưng khi bạn đi khỏi, con sẽ làm tất cả những gì bạn vừa bảo là không được làm? Thay vào đó, bạn có thể để con làm những điều con muốn ở ngay trước mặt bạn cho dù có thể bạn sẽ không thích những điều đó. Bạn có thể không thích kiểu quần áo con mặc hoặc một người bạn mà con chơi cùng nhưng chỉ nên dừng lại ở việc giải thích cho trẻ lý do tại sao và cho con lời khuyên thay vì nghiêm cấm. Bằng cách này, bố mẹ sẽ đảm bảo được mình biết chuyện gì đang xảy ra với con và hạn chế những tình huống nguy hiểm khi trẻ lén lút làm những việc mà bạn hoàn toàn không hay biết.

Dạy con nên người là mục đích chung của tất cả các bậc phụ huynh nhưng lại không có phương pháp giáo dục nào được “đo ni đóng giày” cho tất cả mọi đứa trẻ. Thậm chí ngay cả hai đứa trẻ trong cùng một gia đình cũng cần những cách dạy dỗ khác nhau. Hãy làm bạn cùng con, lắng nghe con để hiểu con và biết cách nuôi dạy nào là tốt nhất cho con, bạn nhé.

MarryBaby

TRANG GIỚI TRẺ

Bài Giáo Lý VI Về Kinh Tin Kính Của ĐTC Phanxicô

Công Việc của Chúa Thánh Thần

Dưới đây là bản dịch bài Giáo Lý thứ sáu của ĐTC Phanxicô về Năm Đức Tin trong buổi Triều Yết Chung tại Quảng trường Thánh Phêrô, hôm thứ tư ngày 15 tháng 5 năm 2013. Hôm nay Ngài tiếp tục loạt bài về Kinh Tin Kính mà ĐTC Bênêđictô XVI đã bắt đầu.

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Hôm nay tôi muốn tập trung vào hành động mà Chúa Thánh Thần thực hiện trong việc hướng dẫn Hội Thánh và mỗi người chúng ta đến Chân Lý. Chính Chúa Giêsu nói với các môn đệ của Người: Chúa Thánh Thần “sẽ dẫn các con đến toàn thể chân lý” (Ga 16:13), chính Ngài là “Thần Khí Chân Lý” (x. Ga 14:17; 15:26, 16:13).

Chúng ta đang sống trong một thời đại mà trong đó người ta một phần nào hoài nghi về Chân Lý. Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã nói nhiều lần về thuyết tương đối, tức là khuynh hướng tin rằng không có gì là chung quyết, và nghĩ rằng chân lý phát sinh từ sự đồng thuãn hoặc từ những gì chúng ta muốn.  Câu hỏi được đặt ra là: thực sự có “chân lý” không?  Chân lý là gì?  Chúng ta có thể biết nó không?  Chúng ta có thể tìm thấy nó không?  Ở đây tôi nhớ đến câu hỏi của Thủ Hiến Phongxiô Philatô khi Chúa Giêsu tiết lộ cho ông ý nghĩa sâu xa của sứ mệnh của Người: “Chân lý là gì?” (Ga 18:37.38). Philatô không hiểu rằng “Chân lý’ đang ở trước mặt ông, ông không thể nhìn thấy trong Chúa Giêsu dung nhan của Chân Lý, là dung nhan của Thiên Chúa. Nhưng Chúa Giêsu chính là Chân Lý: Chân Lý “đã trở thành nhục thể”, trong thời viên mãn, (Ga 1,1.14), đã đến giữa chúng ta để chúng ta biết Chân Lý ấy.  Không thể nắm bắt Chân Lý như nắm bắt một sự vật.  Chân Lý  phải được gặp gỡ.  Nó không phải là một vật sở hữu, nhưng là một cuộc gặp gỡ với một Ngôi Vị.

Nhưng ai sẽ làm cho chúng ta nhận ra rằng Chúa Giêsu là “Lời” Chân Lý, Con Một Đức Chúa Cha?  Thánh Phaolô dạy rằng “không ai có thể nói rằng ‘Đức Giêsu là Chúa’ nếu không được hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần” (1 Corinthians 12:3).  Chính Chúa Thánh Thần, hồng ân của Đức Kitô Phục Sinh, là Đấng làm cho chúng ta nhận ra Chân Lý.  Chúa Giêsu gọi Ngài là “Đấng Bảo Trợ”, nghĩa là “một Đấng đến để giúp đỡ chúng ta”,  Đấng đứng về phía chúng ta để nâng đỡ chúng ta trong cuộc hành trình đến hiểu biết; và trong Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu bảo đảm với các môn đệ rằng Chúa Thánh Thần sẽ dạy các ông mọi sự và nhắc nhở các ông những điều mà Người đã nói (x. Ga 14:26).

Như thế hành động của Chúa Thánh Thần trong đời sống chúng ta và trong đời sống Hội Thánh để hướng dẫn chúng ta đến Chân Lý là gì?  Trước hết, Ngài nhắc nhở và ghi khắc trong tâm hồn các tín hữu những lời mà Chúa Giêsu đã nói, và chính qua những lời này, Lề Luật của Thiên Chúa – như đã được các ngôn sứ của Cựu Ước công bố – được ghi khắc trong tâm hồn chúng ta và trở nên trong chúng ta một nguyên tắc để đánh giá những lựa chọn và hướng dẫn trong những hành động hàng ngày, nó trở nên một nguyên tắc của đời sống.  Lời tiên tri cả thể của ngôn sứ Edêkiel được nên trọn: “Ta sẽ thanh tẩy các ngươi khỏi mọi ô uế và mọi ngẫu tượng của các ngươi, Ta sẽ ban cho các ngươi một quả tim mới, và đặt trong các ngươi một tinh thần mới… Ta sẽ đặt Thần Khí của Ta trong các ngươi, và làm cho các ngươi sống theo giới luật của Ta, và tuân giữ cùng thực hành các phán quyết của Ta” (36:25-27).  Thực ra, các hành động của chúng ta được nảy sinh từ chính tận thâm tâm chúng ta: chính quả tim cần phải được hoán cải trở về với Thiên Chúa, và Chúa Thánh Thần biến đổi nó nếu chúng ta mở lòng ra với Ngài.

Vậy, Chúa Thánh Thần, như Chúa Giêsu đã hứa, hướng dẫn chúng ta “vào tất cả Chân Lý” (Ga 16:13); Ngài không những chỉ giúp chúng ta gặp gỡ Chúa Giêsu, sự viên mãn của Chân Lý, mà còn hướng dẫn chúng ta “vào” Chân Lý, làm cho chúng ta đi vào sự hiệp thông sâu xa hơn với Chúa Giêsu, cho chúng ta hiểu biết về những gì thuộc về Thiên Chúa.  Chúng ta không thể đạt được điều này bằng sức riêng của mình. Nếu Thiên Chúa không soi sáng nội tâm chúng ta, việc làm Kitô hữu của chúng ta sẽ hời hợt.  Truyền Thống của Hội Thánh khẳng định rằng Thần Chân Lý hoạt đông trong tâm hồn chúng ta bằng cách làm dậy lên “cảm thức đức tin” (sensus fidei) này, mà qua đó, như Công đồng Vaticanô II xác quyết, Dân Thiên Chúa, dưới sự hướng dẫn của Huấn Quyền, gắn bó bền chặt với đức tin được truyền lại, và đào sâu nó bằng phán đoán đúng, cùng áp dụng nó cách trọn vẹn hơn trong đời sống (x. Hiến Chế Tín Lý Lumen Gentium, 12). Chúng ta hãy tự hỏi: tôi có mở lòng ra cho Chúa Thánh Thần, tôi có cầu xin Ngài ban cho tôi ánh sáng, làm cho tôi nhạy cảm hơn với những gì thuộc về Thiên Chú không?  Đây là một kinh nguyện mà chúng ta cần phải đọc mỗi ngày: “Lạy Chúa Thánh Thần xin làm cho tâm hồn con mở ra cho Lời Chúa, cho tâm hồn con mở ra cho sự thiện, cho tâm hồn con mở ra cho vẻ đẹp của Thiên Chúa mỗi ngày.”  Tôi muốn đề ra một câu hỏi cho tất cả mọi người: có bao nhiêu người trong anh chị em cầu nguyện với Chúa Thánh Thần mỗi ngày? Có lẽ là ít người, nhưng chúng ta phải đáp ứng mong muốn này của Chúa Giêsu và cầu nguyện mỗi ngày cùng Chúa

Thánh Thần, ngõ hầu Ngài mở rộng tâm hồn chúng ta ra cho Chúa Giêsu.

Chúng ta hãy nghĩ đến Đức Mẹ Maria là Đấng “đã giữ tất cả những điều ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng” (Lc 2:19.51).  Sự đón nhận những lời và những chân lý đức tin để chúng có thể trở nên sự sống, xảy ra và phát triển dưới tác động của Chúa Thánh Thần.  Theo nghĩa này, chúng ta phải học từ Đức Mẹ Maria, sống lại lời “xin vâng” của Mẹ, hoàn toàn sẵn lòng đón nhận Con Thiên Chúa vào cuộc đời Mẹ, mà từ giây phút ấy cuộc đời Mẹ đã được biến đổi. Nhờ Chúa Thánh Thần, Chúa Cha và Chúa Con đến ở với chúng ta; chúng ta sống trong Thiên Chúa và bởi Thiên Chúa.  Nhưng cuộc sống của Chúng ta có thực sự được sinh động hóa bởi Thiên Chúa không? Chúng ta đặt bao nhiêu điều lên trước Thiên Chúa?

Anh chị em thân mến, chúng ta cần phải để cho mình được tràn ngập bởi ánh sáng của Chúa Thánh Thần, để Ngài đưa chúng ta vào Chân Lý của Thiên Chúa, Đấng là Chúa duy nhất của cuộc đời chúng ta.  Trong Năm Đức Tin này, chúng ta hãy tự hỏi mình xem chúng ta đã đi những bước cụ thể nào để biết thêm về Đức Kitô và Chân Lý đức tin, qua việc đọc và suy niệm Thánh Kinh, học Giáo lý, và trung thành tiếp cận các Bí Tích. Nhưng đồng thời cũng hãy tự hỏi xem chúng ta đã đi những bước nào để làm cho đức tin hướng dẫn toàn thể cuộc đời chúng ta.  Một người không thể là một Kitô hữu “bán thời gian”, ở những thời điểm nào đó, trong những hoàn cảnh nào đó, trong một số chọn lựa.  Một người không thể là một Kitô hữu như thế.  Một người là Kitô hữu trong mọi gây phút! Toàn diện!  Chân lý của Đức Kitô, mà Chúa Thánh Thần dạy chúng ta và ban cho chúng ta, phải mãi mãi và hoàn toàn ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của chúng ta.  Chúng ta hãy cầu khẩn Ngài thường xuyên hơn, để Ngài hướng dẫn chúng ta trên con đường làm môn đệ của Đức Kitô.  Chúng ta hãy cầu khẩn Ngài mỗi ngày.  Tôi đề nghị cùng anh chị em điều này: chúng ta hãy khẩn cầu Chúa Thánh Thần mỗi ngày, để Chúa Thánh Thần đem chúng ta đến gần Đức Chúa Giêsu Kitô hơn.

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ
Nguồn:  giaoly.org.vn

TRANG GIA ĐÌNH

Thư Gởi Con

Sau đây là những dòng tâm sự đầy xúc động trong lá thư gửi con của một người tên Pierre Antoine (Việt kiều Pháp). Lá thư này khi được đăng trên nhiều trang mạng và các blog đã khiến cư dân mạng thổn thức.

Thư gởi con,

“Ngày bố mẹ già đi, con hãy cố gắng kiên nhẫn và hiểu cho bố mẹ. Nếu như bố mẹ ăn uống rớt vung vãi... Nếu như bố mẹ gặp khó khăn ngay cả đến cái ăn cái mặc... Xin con hãy bao dung!

Con hãy nhớ những ngày, giờ mà bố mẹ đã trải qua với con, để dạy cho con bao điều lúc thuở bé.

Nếu như bố mẹ cứ lặp đi lặp lại hàng trăm lần mãi một chuyện, thì đừng bao giờ cắt đứt lời bố mẹ... mà hãy lắng nghe!

Khi con còn ấu thơ, con hay muốn bố mẹ đọc đi đọc lại mãi một câu truyện hằng đêm cho đến khi con đi vào trong giấc ngủ... và bố mẹ đã làm vì con.

Nếu như bố mẹ không tự tắm rửa được thường xuyên, thì đừng quở trách bố mẹ và đừng nên cho đó là điều xấu hổ.

Con hãy nhớ... lúc con còn nhỏ, bố mẹ đã phải viện cớ bao lần để vỗ về con trước khi tắm.

Khi con thấy sự ít hiểu biết của bố mẹ trong đời sống văn minh hiện đại ngày hôm nay, đừng thất vọng mà hãy để bố mẹ có thời gian tìm hiểu.

Bố mẹ đã dạy dỗ con bao điều... từ cái ăn, cái mặc cho đến bản thân và phải biết đương đầu với bao thử thách trong cuộc sống.

Nếu như bố mẹ có đãng trí hay không nhớ hết những gì con nói... hãy để bố mẹ đôi chút thời gian suy ngẫm lại và nhỡ như bố mẹ không tài nào nhớ nổi, đừng vì thế mà con bực mình mà tức giận... vì điều quan trọng nhất đối với bố mẹ là được nhìn con, đưọc gần bên con và được nghe con nói, thế thôi!

Nếu như bố mẹ không muốn ăn, đừng ép bố mẹ!... vì bố mẹ biết khi nào bố mẹ đói hay không.

Khi đôi chân của bố mẹ không còn đứng vững như xưa nữa... hãy giúp bố mẹ, nắm lấy tay bố mẹ như thể ngày nào bố mẹ đã tập cho con trẻ những bước đi đầu đời.

Và mỗi ngày như một ngày sẽ đến, bố mẹ sẽ nói với con rằng... bố mẹ không muốn sống, bố mẹ muốn từ biệt ra đi.

Con đừng oán giận và buồn khổ... vì con sẽ hiểu và thông cảm cho bố mẹ khi thời gian sẽ tới với con.

Hãy cố hiểu và chấp nhận, đến khi về già, sống mà không còn hữu ích cho xã hội mà chỉ là gánh nặng cho gia đình!... và sống chỉ là vỏn vẹn hai chữ "sinh tồn".

Một ngày con lớn khôn, con sẽ hiểu rằng, với bao sai lầm ai chẳng vướng phải, bố mẹ vẫn bỏ công xây dựng cho con một con đường đi đầy an lành.

Con đừng nên cảm thấy xót xa buồn đau, đừng cho rằng con bất lực trước sự già nua của bố mẹ.

Con chỉ cần hiện diện bên bố mẹ để chia sẻ những gì bố mẹ đang sống và cảm thông cho bố mẹ, như bố mẹ đã làm cho con từ khi lúc con chào đời.

Hãy giúp bố mẹ trong từng bước đi vào chiều...

Hãy giúp bố mẹ trong phút sống còn lại trong yêu thương và nhẫn nại...

Cách duy nhất còn lại mà bố mẹ muốn cảm ơn con là nụ cười và cả tình thương để lại trong con.

Thương con thật nhiều...

Bố mẹ...

Nguồn: ubmvgiadinh.org

TRANG GIÁO LÝ VIÊN

25 Bài Giáo Lý Về Thánh Phaolô

Bài 6: Tại sao Phaolô được gọi là tông đồ trong khi Ngài không là một trong mười hai người được Chúa Giêsu chọn?

Thánh Phaolô có lẽ chưa bao giờ tiếp xúc với Chúa Giêsu bằng xương bằng thịt khi Chúa Giêsu còn sống, nhưng Ngài gặp Chúa Giêsu trên đường Damas, sau khi Chúa Giêsu đã sống lại. Trong thư viết cho giáo dân Côrintô và Galata, Phaolô khẳng định là Chúa Giêsu Kitô kêu gọi Ngài làm Tông đồ (1 Cor 1:1; Gal 1:1).

Nhưng để hiểu vai trò của một Tông đồ, ta cũng nên biết ý nghiã của danh từ này. Trong tiếng Hilạp apostolos có nghĩa là người được sai đi; và danh từ môn đệ - tiếng Hi lạp mathçtçs - có nghĩa là học trò, học sinh.

Trong Tân ước, đôi khi các thánh sử dùng hai danh từ này thay đổi nhau để chỉ cùng một đối tượng. Mathêu gọi Nhóm Mười Hai - một danh từ đặc biệt chỉ 12 người được chọn và sống gần gũi với Chúa Giêsu - là Tông đồ (Mt. 10:2) khi kê khai tên họ, nhưng ông lại gọi họ là những Môn đệ khi nhắc đến họ trong những lần khác. Chỉ có Luca dùng danh từ Tông đồ hầu như để dành riêng cho Nhóm Mười Hai mà thôi, dù một lần trong sách Công vụ tông đồ, Luca gọi Phaolô và Barnabas là hai Tông đồ (Cvtd 14:14).

Cũng nên biết rằng con số Mười Hai là dấu chỉ quan trọng có ý nghĩa tôn giáo và liên quan đến mười hai chi họ Israel. Vì thế sau khi Giuda phản bội, nhóm Mười Một đã chọn Mathias thay thế cho đủ số Mười Hai. Nhưng sau khi các Tông đồ trong nhóm Mười Hai qua đời, họ không còn bốc thăm để thay thế nữa (Cvtd 1:21-26).

Thánh Phaolô không dùng danh từ Môn đệ mà dùng từ Tông đồ để chỉ mình và những người cộng tác đương thời. Ngài dùng từ Tông đồ để chỉ những người được Chúa Giêsu kêu gọi và sai đi rao giáng tin mừng. Với Nhóm Mười Hai, Phaolô dùng từ này để chỉ cả nhóm hơn là cá nhân (1 Cor 15:5).

Liệt kê danh sách những công việc mục vụ, thánh Phaolô kể chức năng Tông đồ vào hàng đầu tiên: “thứ nhất là các Tông Đồ, thứ hai là các ngôn sứ, thứ ba là các thầy dạy, rồi đến những người được ơn làm phép lạ….” (1 Cor 12: 28). Trong khi công nhận vai trò quan trọng của các Tông đồ đối với mình, Phaolô cũng tự nhận là Tông đồ, nhất là mỗi khi nói đến quyền giảng dạy (Rom 1:1; 2 Cor 1:1; Gal 1:1). Phaolô còn so sánh mình là Tông đồ dân ngoại và Phêrô là Tông đồ của những người chịu cắt bì (Gal 2:8).

Như vậy, danh từ Tông đồ được dùng không chỉ cho Nhóm Mười Hai mà còn với Phaolô, Barnabas, và nhiều người được Chúa Giêsu Kitô kêu gọi và sai đi trong thời sơ khai. Khi so sánh mình với những Tông đồ này (là những người được sai đi, không hẳn chỉ là Nhóm Mười Hai), Phaolô lên tiếng: “tôi nghĩ là tôi cũng chẳng thua gì những Tông đồ siêu đẳng kia đâu” (1 Cor 11:5).

Các thánh giáo phụ vẫn cắt nghĩa rằng Phaolô tự hào nhận mình là Tông đồ vì Ngài cảm nghiệm chắc chắn rằng Chúa Giêsu Kitô đã kêu gọi và cắt đặt Ngài đi rao giảng tin mừng - không thua gì những Tông đồ được sống với Chúa Giêsu - qua việc làm và lời nói (2 Cor 12:12; Cvtd 19;11-12).

Lm. Mt. Nguyễn khắc Hy, S.S.
Nguồn: liendoanconggiao.net

TRANG QUỚI CHỨC

NHIỆM VỤ BẤT KHẢ NHƯỢNG

Mỗi người được sinh ra trong trần gian này đều được đặt để ở một vị trí nào đó được gọi là bậc sống. Bậc sống đó cũng đồng nghĩa với trách nhiệm mà mình phải chu toàn theo ý của Đấng sáng tạo là Thiên Chúa. Người đi tu có bổn phận của người đi tu, người sống bậc vợ chồng có trách nhiệm của bậc vợ chồng.

Vậy bổn phận của những người có gia đình là gì? Sinh, dưỡng, dục con cái đó chính là bổn phận mà người sống trong bậc sống này phải lãnh lấy.

Giáo dục con cái là bổn phận không thể thoái thác của những người làm cha mẹ. Trường học, nhà thờ…chỉ là những nơi bổ túc cho những gì cha mẹ còn khiếm khuyết chớ không giữ vai trò quyết định;  bởi con người là một sinh vật bắt chước và sống bằng kinh nghiệm của người đi trước, hơn nữa những người có ảnh hưởng quyết định đến đứa trẻ là những người sống gần gũi với nó nhất.

Khoa học ngày nay đã khám phá ra rằng ngay từ trong bụng mẹ, bào thai đã có thể cảm nhận, có thể nghe được những gì đang xãy ra ở thế giới bên ngoài. Có những đứa trẻ, khi biết nói,  có thể nói những điều mà trước đó chưa hề được dạy khiến mọi người phải ngạc nhiên. Ai đã dạy chúng, nó học ở đâu ? Từ lúc còn trong bụng mẹ đấy!

Đến lúc ra đời chúng tiếp tục khám phá thế giới xung quanh để học cách thích nghi và tồn tại bằng các giác quan Chúa ban và như thế nhân cách của chúng dần hình thành một cách rõ ràng hơn theo như lời người xưa đã nói: Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài.

Như thế chúng ta thấy nhân cách của một con người được hình thành từ trong lòng mẹ, chịu ảnh hưởng từ môi trường xung quanh mà gia đình chính là yếu tố quyết định.

Là Kitô hữu, trong việc giáo dục con cái,  ngoài nhân nghĩa lễ trí tín, còn có một việc khác quan trọng hơn đó là giáo dục về đức tin. Đây chính là hậu vận của đứa con. Người không có đức tin sẽ sống mà không có ngày mai, không có tương lai, cuộc đời đối với họ như một giấc mộng, có thể là mộng đẹp, nhưng cũng có thể là ác mộng khi cuộc đời gặp gian nan khốn khó để rồi sẽ kết thúc giấc mộng khi xuôi tai nhắm mắt và không thể hiểu được mình sinh ra trong trần gian này để làm gì. Thử nghỉ xem chúng sẽ hành xử như thế nào trong cuộc sống này?

Lời nói lung lay, gương bày lôi kéo. Các bậc cha mẹ hãy nên những gương sáng chứ không là cớ vấp phạm cho con cái mình.

SỐNG ĐẸP

MỘT BÀI GIẢNG CÓ GIÁ TRỊ

Roma (WHĐ 16-12-2013) - Tông huấn đầu tiên của Đức giáo hoàng Phanxicô, Evangelii gaudium (Niềm vui Phúc Âm), được Đức giáo hoàng Phanxicô ký vào ngày 24 tháng 11 năm 2013, ngày lễ Chúa Kitô Vua, ngày bế mạc Năm Đức Tin, và được công bố vào ngày 26 tháng 11 năm 2013. Tông huấn gồm 5 chương và 288 số. Đức giáo hoàng đã trình bày Tông huấn bằng một giọng văn đơn sơ, dễ hiểu, và đôi khi dí dỏm. Ngài cho thấy rằng Tin Mừng của Đức Giêsu là một Tin Mừng về tình yêu, Tin Mừng này rất dễ hiểu.

Ngài đã dành hẳn một chương (chương III, từ số 111 đến số 173) để nói về việc "loan báo Tin Mừng"; và trong chương này, ngài dành một phần dài để nói về "việc rao giảng trong phụng vụ", nghĩa là "bài giảng và việc chuẩn bị", bởi vì "có rất nhiều người than phiền về tác vụ quan trọng này" (135). Chúng ta có thể đọc từ số 135 đến số 159 (hoặc đến tận số 175) để đón nhận giáo huấn của Đức giáo hoàng về bài giảng.

Đối với Đức Phanxicô, "bài giảng có một giá trị đặc biệt vì phát sinh từ bối cảnh Thánh Thể, là điều làm cho bài giảng vượt trên mọi hình thức dạy giáo lý bởi vì đây là một cuộc đối thoại tuyệt vời nhất giữa Thiên Chúa và dân Ngài, trước khi hiệp thông Bí Tích" (137).

Do tầm quan trọng của bài giảng, Đức giáo hoàng phác ra cả một lộ trình cho việc dọn bài giảng (145-159). Ngài khuyên các mục tử "dành nhiều thì giờ để học hỏi, cầu nguyện, suy niệm và sáng tạo mục vụ": "mỗi tuần dành riêng một phần thì giờ cá nhân và cộng đồng đủ dài cho công tác này" (145). Ngài không chấp nhận bất cứ lý do nào, kể cả bận quá nhiều công việc, để không dọn bài giảng cho kỹ; trái lại, phải bớt một số công việc, cho dù quan trọng, để chuẩn bị bài giảng.

Ngài nhấn mạnh rằng một mục tử mà không dọn bài giảng cho kỹ thì không "thuộc linh", không làm việc dưới sự soi sáng của Chúa Thánh Thần, và "thiếu trách nhiệm đối với những hồng ân mà mình đã nhận được" (145). Ngài dạy: "Ai muốn giảng dạy, trước tiên phải sẵn sàng để cho Lời chạm đến mình và làm cho Lời nhập thể trong cuộc sống cụ thể của mình" (150; x. 153).

Đức giáo hoàng khuyến cáo là các bài giảng phải ngắn gọn, vì đây không phải là "một bài diễn văn hoặc một bài thuyết trình", hay là một bài học chú giải về Kinh Thánh (138, 142), càng không phải là một công việc "quảng cáo": các bài giảng phải "đốt cháy lòng người", và không được giới hạn vào việc khuyên răn luân lý (142).

Ngài nói thêm: "Bài giảng không thể là một hình thức trình diễn để giải trí, như được trình bày trên các phương tiện truyền thông, nhưng phải đem lại sự nhiệt thành và ý nghĩa cho buổi lễ", rồi ngài xác định rằng lời của nhà giảng thuyết "không được chiếm một chỗ quá đáng, để Chúa tỏa sáng hơn nhà giảng thuyết" (138). Đây là lãnh vực của Chúa Thánh Thần, nên cần cầu nguyện với Chúa Thánh Thần, lắng nghe Chúa Thánh Thần là Thầy dạy sự thật, và để Người dẫn dắt (151).

Khi đó, "một bài giảng hay phải có một ý tưởng, một tâm tình và một hình ảnh" (157), bài giảng luôn luôn có tính tích cực, đem lại hy vọng, chứ không giam hãm các tín hữu trong "những điều tiêu cực" (159). "Bài giảng có thể thực sự là một kinh nghiệm mãnh liệt và hạnh phúc về Chúa Thánh Thần, một cuộc gặp gỡ đầy an ủi với Lời Chúa, một nguồn mạch không ngừng đưa đến việc canh tân và tăng trưởng" (135; x. 151).

Bài giảng cũng phải diễn tả "tinh thần mẫu tử và Hội Thánh": đây là điều khiến chúng ta ngỡ ngàng đến độ xúc động khi nghe Đức giáo hoàng diễn tả người rao giảng như người mẹ chuẩn bị bữa cơm cho gia đình. Người giảng phải sống tình mẫu tử, đặc biệt bằng "thái độ gần gũi, giọng nói ấm áp, cách nói dịu dàng, các cử chỉ diễn tả niềm vui" (140), bởi vì "bài giảng tiếp tục cuộc đối thoại đã được mở ra giữa Thiên Chúa và dân Ngài" (137).

Nhưng muốn "đón nhận kho báu cao siêu của Lời được mặc khải", cần "phải mở cánh cửa học hỏi Kinh Thánh ra cho tất cả các tín hữu". Ðức giáo hoàng đã dạy như vậy, rồi ngài kêu gọi "các giáo phận, các giáo xứ và các nhóm Công giáo đề ra một chương trình học hỏi Kinh Thánh nghiêm túc và kiên trì" (175).

UB Kinh Thánh trực thuộc HĐGMVN

HỎI ĐÁP MỤC VỤ

Có được phép xưng tội qua mọi phương tiện internet không ?

Hỏi:  Xin cha vui lòng giải đáp hai cầu hỏi sau:

1-    Có được phép xưng tội qua điện thoại, internet không ?

2-    Linh mục có được phép mặc quốc phục Việt nam (khăn đóng áo thụng) khi dâng lễ nhân dịp Tết Việt Nam như một số linh mục ở Mỹ và Canada đã làm ?

Trả lời:

Trước khi trả lời những câu hỏi trên, tôi thấy  cần thiết phải nói lại ở đây giáo lý, giáo luật của Giáo Hội về bí tích Hòa giải như sau:

Sau khi sống lại và trước khi về Trời, Chúa Kitô đã thiết lập bí tích Hòa Giải và ban quyền tha tội cho các Tông Đồ như được ghi lại trong Tin Mừng Thánh Gioan sau đây:

"Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha
Anh em cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ" (Ga 20:23).

Trước đó nữa, sau khi Phêrô tuyên xưng Chúa là "Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống", Chúa Giêsu cũng  đã hứa riêng với Phêrô như sau:

"Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời: dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy" ( Mt 16:19).

Như vậy, rõ rệt Chúa Kitô đã ban quyền tha tội trước tiên cho  Phêrô và các Tông Đồ tiên khởi, và sau này cho  những người kế vị các ngài là các Giám Mục cùng với  trợ tá là các linh mục trong Giáo Hội.

Bí tích Hòa giải là phương thế hữu hiệu nhất để giúp cho con người được làm hòa lại với Thiên Chúa, nhận lại tình thương của Người, sau khi đã lỡ phạm tội vì bản chất yếu đuối trước những cám dỗ của thế gian và nhất là của ma quỉ, " thù địch của anh  em như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé" (1 Pr 5: 8). Chúa Giêsu đã biết trước những nguy cơ của tội lỗi đe dọa con người sau khi chịu phép rửa, nên Chúa đã dự liệu trước phương thế hữu hiệu là bí tích hòa giải để giúp con người chỗi dậy, tiếp tục sống trong tình thương và ơn phúc với Chúa sau khi lỡ sa ngã vì yếu đuối con người. Lỡ sa ngã chứ không phải cố tình sa ngã, vì nếu cố tình phạm tội thì bí tích hòa giải cũng trở nên vô ích. Và những ai không cố gắng hết sức để xa tránh tội lỗi mà cứ phạm tội để rồi lại đi xưng tội thì hãy nghe lời Chúa cảnh cáo  sau đây:

 "Ta biết các việc ngươi làm. Phải chi ngươi lạnh hẳn hay nóng hẳn đi. Nhưng vì ngươi hâm hâm chẳng nóng chẳng lạnh, nên Ta sắp mửa người ra khỏi miệng Ta" ( Kh 3:15-16). 

Do đó, để lấy lại tình thương của Chúa, người có tội phải thật lòng sám hối, quyết tâm từ bỏ tội lỗi và đi xưng tội với một linh mục đang có đầy đủ năng quyền (faculty) để xin ơn tha thứ của Chúa qua bí tích hòa giải. Cần giải thích thêm là chỉ có Giám mục và linh mục được phép cử hành bí tích hòa giải mà thôi.

Riêng đối với linh mục thì ngoài chức thánh đã lãnh nhận, còn cần thêm năng quyền để cử hành hợp pháp các bí tích. Năng quyền này linh mục nhận lãnh từ Giám mục trực thuộc hoặc được Giám mục địa phương nào cho phép (đối với các linh mục không trực thuộc quyền cai quản của Giám mục). Nếu không có năng quyền này (hoặc trường hợp bị tạm hay vĩnh viễn "treo chén" (= suspension) thì linh mục không được phép giải tội cho ai trừ trường hợp nguy tử.

Cho được lãnh ơn tha thứ qua bí tích hòa giải, hối nhân phải ý thức rõ về những tội mình đã phạm và thực lòng thống hối với quyết tâm chừa tội..

Giáo Hội phân biệt  2 loại tội: một là tội trọng (mortal sin) là  tội cắt đứt tức khắc mọi tình thân với Chúa là Đấng trọn tốt trọn lành. Ai mắc tội trọng thì không được rước Mình Thánh Chúa, nếu là giáo dân, và không được làm lễ nếu là linh mục (GLHTCG số 1385, Giáo luật, điều 916). Hơn thế nữa, ai đang có tội trọng, nếu chết không kịp lãnh ơn tha thứ qua bí tích hòa giải thì sẽ bị hình phạt hỏa ngục, tức là vĩnh viễn lìa xa  Chúa (GLHTCG số 1035).

Thánh Phaolô đã liệt  kê  những tội con người hay vấp phạm như sau: "dâm dục, ô uế, phóng đãng, thờ ngẫu tượng (idolatry), phù phép, hận thù, bất hòa, ghen tương, nóng giận, tranh chấp chia rẽ, bè phái, ganh tỵ say sưa, chè chén...Tôi bảo trước cho mà biết, như tôi đã từng bảo : những kẻ làm các điều đó sẽ  không được thừa hưởng Nước Thiên Chúa” (Gl 5:19-21).

Vì  thế, những ai biết mình đang có tội trọng (giết người, cưỡng dâm, thông  dâm, cướp của, thù nghét muốn hại người khác, nhất là chối bỏ Thiên Chúa cách công khai hay âm thầm trong lòng..) thì phải mau mắn chạy đến tìm lòng thương xót và tha thứ của Chúa qua bí tích hòa giải. Nếu còn tin tưởng nơi lòng thương xót của Chúa thì Chúa vẫn sẵn lòng tha thứ mọi tội lỗi, trừ tội phạm đến Chúa Thánh Thần, tức là tội chối bỏ Thiên Chúa hoàn toàn thì không thể tha thứ được nữa, như Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ xưa (Mc 3:28-29).

Ngoài tội trọng nói trên, là tội nhẹ (venial sín). Tội nhẹ không cắt đứt tình thương của Chúa nhưng cũng làm thương tổn phần nào tình thân này với Chúa và với tha nhân, nên cũng cần phải được tha thứ và sửa đỗi lại.

Việc xin ơn Chúa tha thứ cho các  tội nặng hay nhẹ  phải được cử hành trực tiếp và kín giữa hối nhân và linh mục đang có năng quyền giải tội. (Giáo luật điều 959-960; GLHTCG số 1456).

Như vậy, tuyệt đối không thể xưng tội qua điện thoại, qua internet , Iphone v.v . vì Giáo Hội chưa hề cho phép việc này cho đến nay. Phát ngôn viên Tòa Thánh ngày 9-2-11 vừa qua cũng đã bác bỏ một tin trên mạng nói là có thể xưng tội qua điện thoại di động Iphone. Giả thuyết này hoàn toàn vô căn cứ do một sổ người muốn áp dụng kỹ thuật tin học vào đời sống thiêng liêng của Giáo Hội. Nhưng chắc chắn Giáo Hội sẽ không bao giờ cho phép việc này, đặc biệt là xưng tội qua mọi phương tiện của Internet

Như vậy, là tín hữu, mọi người phải tuân theo những gì Giáo Hội là Mẹ đang dạy bảo về mọi vấn đề có liên quan đến thực hành đức tin như giáo lý, tín lý, luân lý , phụng vụ, và bí tích. Nghĩa là không ai được làm những gì Huấn Quyền (Magisterium) Giáo Hội không cho phép.

Sau hết, đối với các  bệnh nhân đang nằm bênh viện hay ở tư gia và không buộc phải xem Lễ ngày Chúa Nhật, nhưng muốn hiệp thông cầu nguyện với Giáo Hội, thì được phép xem Thánh Lễ trên truyền hình (TV) để hiệp ý cầu nguyện trong khi đau yếu. Nhưng việc này chỉ dành riêng cho các bênh nhân mà thôi. Người khỏe không thể xem lễ trên truyền hình thay cho lễ Chúa Nhật hay lễ trọng nào được.

2- Về câu hỏi thứ 2, xin được trả lời như sau:

Liên quan đế việc cử hành Thánh Lễ Tạ Ơn (Eucharist), Bộ Phụng Tự và Kỷ luật Bí tích đã qui đinh rõ mọi nghi thức (luật chữ đỏ Rubric) buộc  phải triệt để tuân theo kể cả lễ phục (liturgical vestments) mà các tư tế (giám mục và linh mục) và phó tế phải mặc khi cử hành Thánh Lễ và giúp Bàn Thánh (phó tế). Nghĩa là khi dâng Thánh Lễ, linh mục phải mặc áo Alba bên trong, thắt dây lưng cinture, đeo dây Stola và  áo lễ (Chasuble) ở ngoài. Không có luật nào miễn trừ việc này. Do đó, nếu linh mục nào không tuân giữ kỷ luật về lễ phục khi cử hành Thánh Lễ để mặc y phục nào khác là điều sai trái hoàn toàn. Nói rõ hơn, không thể lấy cớ "hội nhập văn hóa vào phụng vụ" để mặc y phuc Vietnam (khăn đóng áo thụng ) để làm lễ nhân dịp Tết Viêt Nam thay vì phải mặc lễ phục thích hợp theo mùa (màu xanh cho mùa quanh năm, màu trắng hay vàng cho các dịp lễ trọng, màtím cho mùa Vọng và mùa Chay). Đây là một gương xấu cần phải tránh vì nếu ai cũng  theo ý riêng của mình để "phăng ra" hình thức phụng vụ riêng khi cử hành các bí tích,nhất là bí tích Thánh Thể, thì sự hiệp nhất (unity) trong Giáo Hội sẽ không còn ý nghĩa gì nữa. Xưa kia cũng vì mục đích hiệp nhất trong Giáo Hội mà các bí tích, đặc biệt là Thánh Lễ, được cử hành bằng tiếng Latinh suốt nhiều thế kỷ trước Công Đồng Vaticanô II.

Một điều cần nói thêm là lễ phục các tư tế và phó thế phải mặc cũng được coi là các  Á bí tích (sacramentals) được sử dụng để cử hành các bí tích của Giáo Hội. Y phục của các  dân tộc không phải là á bí tích nên không thể thay thế cho lễ phục mặc trong phụng vụ trong bất cứ trường hợp hay lý do nào. Nếu cứ  tự ý "phóng túng" kiểu này  thì sẽ  có ngày một  linh mục nào đó cũng  lấy cớ  "hội nhập văn hóa vào phụng vụ" để dùng bánh đa (bánh tráng) và rượu đế trong Thánh Lễ thay vì phải dùng bánh không men (unleavened bread) và rượu nho như luật phụng vụ và giáo luật (Giáo luật điều 924) qui định và đòi buộc các tư tế phải nghiêm khắc thi hành khi cử hành Thánh Lễ Tạ Ơn (Eucharist) trong Giáo Hội Công Giáo.

Chỉ có các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương (Eastern Orthodox churches) dùng bánh có men (leavened bread) khi cử hành Thánh Lễ mà thôi. Nhưng họ vẫn phải mặc lễ phục áp dụng chung trong Giáo Hội Chính Thống, chứ không theo y phục riêng của mỗi quốc gia như Nga, Hy Lạp, Lỗ Mã ni,Thổ nhĩ Kỳ... nơi có các Giáo Hội Chính Thống chưa hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công Giáo La Mã.

Tóm lại, các tư tế và phó tế trong Giáo Hội Công Giáo đều được mong đợi (expected) thi hành đúng mọi qui luật về  phụng vụ- (trong đó có qui định về lễ phục) - khi cử hành các bí tích nhất là bí tich Thánh Thể tức Lễ  Tạ ơn. Không ai được phép sáng chế hình thức phụng vụ nào ngoài luật chung phải theo vì bất cứ lý do gì.

LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn
Nguồn: Công Giáo Việt Nam

CHUYỆN THƯỜNG NGÀY

NÉT ĐẸP ĐỜI LINH MỤC

Nhiều bậc cha mẹ muốn con đi tu làm linh mục cho sướng cái thân, ra đời lăn lộn kiếm tiền, vất vả khổ cực lắm! Nhưng họ đâu biết rằng, đằng sau những hào nhoáng, sung sướng bên ngoài ấy, người linh mục hằng ngày phải chiến đấu với bản thân, chiến đấu trong lời kinh, nguyện cầu. Làm linh mục có nhiều cái sướng, nhưng khổ đau cũng không ít, thậm chí khổ nhiều hơn sướng.

WGPSG -- Cuộc sống quanh ta với biết bao là nét đẹp. Nét đẹp của hoa cỏ đồng nội. Nét đẹp của trăng sao, cá nước chim trời. Nét đẹp của những cánh đồng mênh mông bát ngát, hay nét đẹp của những dòng sông hiền hòa, trĩu nặng phù sa. Nét đẹp của thiên nhiên và nét đẹp của con người. Đó là nét đẹp của trí tuệ, nét đẹp về hình thể, nét đẹp của lòng nhân ái bao dung, nét đẹp trong những lời thơ, tiếng hát v.v… Thế nên, một nhạc sĩ đã từng viết: “Cuộc đời quanh ta có biết bao là nét đẹp.” Vậy những nét đẹp của đời linh mục là gì? Tại sao đời linh mục lại có những nét đẹp như thế? 

Trong một bài viết đã lâu, linh mục Anthony Đào Quang Chính, OP, có đề cập đến 6 niềm vui sướng và 5 niềm khổ đau trong đời linh mục: “Cái sướng thứ nhất là được gọi bằng “cha”; thứ hai là được bài hát nào đó ca tụng rằng: Chúa chọn con lên hàng khanh tướng; thứ ba là nghe tội người khác; thứ tư là ngồi chỗ kính trọng; thứ năm là không bị lo lay-off, nghĩa là thất nghiệp; và thứ sáu là cha nói một tiếng bằng chúng con nói mười tiếng.” Suy cho cùng, những niềm vui sướng ấy chỉ dừng lại ở khía cạnh hình thức bên ngoài mà thôi. Những niềm vui sướng ấy không nói lên những nét đẹp nơi căn tính và sứ vụ của người linh mục. Căn tính sâu xa của đời linh mục đó chính là nét đẹp của tâm linh, nét đẹp của sẻ chia, nét đẹp của tha thứ, và nét đẹp của hy sinh. 

Nét đẹp của tâm linh 

Linh mục là con người của cầu nguyện, là thầy dạy về cầu nguyện. Là con người của cầu nguyện, linh mục nguyện gẫm, suy niệm Lời Chúa, giảng dạy Lời Chúa, viếng Chúa, Chầu Thánh Thể và dâng Thánh lễ mỗi ngày. Đó là những nét đẹp tâm linh trong đời linh mục. 

Mỗi lần nguyện gẫm, linh mục có thời gian nhìn lại chính mình, nhìn lại mối tương quan giữa mình với Thiên Chúa, hay mối tương quan giữa mình với giáo dân. Mỗi lần suy niệm hay giảng dạy Lời Chúa, linh mục phải là người để Lời Chúa soi sáng, dẫn đường để rao giảng những lời của an ủi yêu thương, những lời của sự thật và sự sống. Mỗi lần viếng Chúa, chầu Thánh Thể, linh mục quỳ gối thinh lặng, cầu nguyện và chiêm ngắm Thánh Thể là bí tích của tình yêu, một tình yêu cao trọng, một tình yêu đến cùng mà Chúa Giêsu, vị linh mục thượng phẩm đời đời đã dành cho nhân loại. Mỗi lần dâng Thánh lễ là mỗi lần linh mục hiệp cùng hy tế của Chúa Giêsu trên thập giá, để dâng cả những suy nghĩ, dự định, ước muốn; dâng cả những lỗi lầm, bất xứng trong đời linh mục lên cho Thiên Chúa Cha, để cầu nguyện cho bản thân, nhất là cầu nguyện cho những đau khổ của đoàn chiên mà Chúa trao phó. 

Nét đẹp của sẻ chia 

Nhiều bổn đạo đau khổ, tuyệt vọng bởi những biến cố đau thương giữa đời thường. Họ tìm đến nhờ linh mục cho những lời khuyên, giúp lời cầu nguyện để vượt qua những khó khăn và thử thách. Đau khổ về tinh thần lẫn vật chất. Nhiều bà con vướng vào cảnh nợ nần, hoặc quá nghèo tìm đến với linh mục, nói thật những đau khổ ấy với linh mục, họ hy vọng được ngài sẻ chia. Có cha mẹ nào lại không thương những đứa con đang hoạn nạn, nghèo túng của mình. Vì vậy, người linh mục luôn đồng cảm với những nỗi thống khổ của nhiều bổn đạo trong giáo xứ mà ngài coi sóc. Cha giúp lời cầu nguyện. Cha thăm viếng động viên. Thậm chí cha giúp một chút tiền để họ vượt qua khủng hoảng và bế tắc. Vì vậy, linh mục là người “bị ăn”, là tấm bánh được bẻ ra để phân phát cho những ai đang đói khát. 

Nhiều linh mục tổ chức mời đoàn bác sĩ ở thành phố về nhiều giáo xứ tỉnh lẻ ở thôn quê để khám bệnh, phát thuốc miễn phí cho bà con giáo dân. Nhiều linh mục tổ chức những đợt phát quà cho bà con giáo dân nghèo mỗi dịp Giáng sinh hay Tết đến. Nhiều linh mục tổ chức những đợt phát học bổng cho các em thiếu nhi có hoàn cảnh khó khăn nhưng chăm chỉ học hành. Gia đình nào có tang chế, linh mục đến hiệp dâng Thánh lễ, cầu nguyện và chia sẻ sự mất mát lớn lao. Đó là những nét đẹp của sẻ chia và yêu thương trong đời linh mục. 

Nét đẹp của tha thứ 

Theo gương Chúa Giêsu, người linh mục là con người của tha thứ. Ngài tha thứ cho những bổn đạo nói xấu, chỉ trích, lên án mình. Ngài tha thứ cho nhiều hối nhân nơi tòa giải tội. Ngài tha thứ cho những lầm lỗi, thiếu sót cho bà con đang làm việc trong các hội đoàn. Đó là nét đẹp của lòng bao dung. Vì yêu thương con cái nên cha mẹ sẵn sàng tha thứ, không chấp nhất những lỗi lầm, khuyết điểm của con. Vì yêu thương đoàn chiên nên người linh mục luôn đón nhận tất cả vào vòng tay nhân ái của người mục tử nhân lành. 

Vì vậy, nơi nét đẹp của tha thứ, mỗi Kitô hữu chúng ta còn khám phá ra nơi khuôn mặt của mỗi linh mục sự hiền lành và phúc hậu. Nét đẹp ấy đã giúp nhiều hối nhân lấy lại niềm tin yêu và cậy trông vào Thiên Chúa. Cả thế giới vô cùng cảm kích trước nghĩa cử Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tới một nhà tù, thăm hỏi và tha thứ cho người thanh niên bắn những phát súng để ám sát ngài. Phải chăng đó là nghĩa cử xuất phát từ những gì Chúa Giêsu đã dạy và đã sống? 

Nét đẹp của hy sinh 

Làm linh mục đòi hỏi phải có sự hy sinh. Hy sinh thời gian, sức khỏe; hy sinh những phút thư giãn của bản thân để phục vụ nhu cầu tâm linh của nhiều bà con bổn đạo; hy sinh sống đời độc thân không có vợ con để dành trọn thời gian và công việc cho việc phục vụ Giáo hội và mọi người. Bởi vậy, nét đẹp của hy sinh được kết nên bởi những từ bỏ trong đời linh mục. Người linh mục đúng nghĩa phải là một con người của sự từ bỏ của cải vật chất, từ bỏ những quyến luyến của tình cảm, của đam mê xác thịt, hay từ bỏ những cám dỗ quyền lực, danh vọng để sống đơn sơ, thanh thoát và dấn thân cho sứ vụ mục tử. 

Tình yêu đòi hỏi phải có hy sinh. Hy sinh càng nhiều tình yêu càng có ý nghĩa và đúng nghĩa. Tuy nhiên, ngày nay, tâm lý tự nhiên ai cũng sợ hy sinh và từ bỏ. Người linh mục sợ hy sinh vì thấy lòng mình chưa thật sự từ bỏ dứt khoát những lôi cuốn của sự đời. Người linh mục sợ cô đơn vì động lực dấn thân vì lòng yêu mến Chúa, yêu mến Giáo hội chưa thật sự mạnh mẽ. Vì vậy, tận trong sâu thẳm cõi lòng, nhiều linh mục vẫn chân nhận rằng mình cảm thấy cô đơn và đấu tranh với những phân mảnh trái ngược nhau diễn ra trong tâm hồn như trong “Lời Kinh Chiều Chúa nhật”, Linh mục Michel Quoist đã viết: 

“Lạy Chúa, chiều nay chiều Chúa nhật, một mình con quỳ đây đối diện với ngọn đèn chầu, đối diện với Thánh Thể Chúa. Giờ này, nhiều gia đình đang sum họp ăn uống, cười nói vui vẻ bên nhau, còn con thì lặng lẽ âm thầm cầu nguyện với Chúa. Con bắt tay nhiều người nhưng không giữ lại một bàn tay nào cho riêng mình. Con tiếp xúc với nhiều trẻ con, nâng niu và vui đùa với chúng. Nhưng lạy Chúa, đó là những đứa trẻ của người khác chứ không phải là của con. Con giơ tay ban phép lành xá tội cho nhiều người, nhưng những tội đời của con thì chỉ có Chúa mới hiểu mà thôi… Lạy Chúa, làm linh mục có những phút giây cô đơn rất thật như thế, nhưng con tin rằng những phút giây ấy là cơ hội để con trắc nghiệm lại động lực ơn gọi dấn thân trong sứ vụ đời mình.” 

Tóm lại, trong cuộc đời này cái gì cũng đều có hai mặt. Đời linh mục cũng vậy. Nhiều bậc cha mẹ muốn con đi tu làm linh mục cho sướng cái thân, ra đời lăn lộn kiếm tiền, vất vả khổ cực lắm! Nhưng họ đâu biết rằng, đằng sau những hào nhoáng, sung sướng bên ngoài ấy, người linh mục hằng ngày phải chiến đấu với bản thân, chiến đấu trong lời kinh, nguyện cầu. Làm linh mục có nhiều cái sướng nhưng khổ đau cũng không phải là ít, thậm chí khổ nhiều hơn sướng. Thế nhưng, nhờ những nét đẹp tâm linh, nét đẹp của sẻ chia, nét đẹp của tha thứ, hy sinh mà người linh mục có thêm động lực tình yêu để sống trọn vẹn trong ơn gọi. Những nét đẹp đời linh mục cho thấy Tin Mừng của Chúa Giêsu là Tin Mừng của niềm vui, của niềm tin yêu và hy vọng cho thế giới hôm nay.

Tâm Thương 

MỘT CHÚT TÂM TÌNH

Bộ Quần Áo Cũ

Sống chung với một ông bố chồng già yếu, bướng bỉnh là chuyện không dễ. Ông hay than phiền, hỏi những câu không đúng lúc và từ chối các món ăn cần thiết. Ông hãnh diện về thời trai trẻ, cứ kể đi kể lại các câu chuyện của thời vàng son. Hồi đó, là chỉ huy trong quân đội...ông luôn đặt lý trí lên trên tình cảm. Tôi biết ông là người tốt, nhưng có cảm giác ông sống vì khối óc chứ không vì con tim, thiếu sự thông cảm.

Hôm nay đưa ông đi lễ ở nhà thờ, một lần nữa ông lại mặc bộ đồ vest cũ sờn rách mang từ Việt Nam sang. Tôi nhẹ nhàng:

- Bố nên thay bộ đồ con mua hôm trước, bộ quần áo này cũ quá.

- Nhưng bố thích mặc bộ này!

Tôi bắt đầu cau có:

- Nhưng mặc như vậy đi chỗ đông người rất kỳ, người ta sẽ nghĩ tụi con bỏ bê không chăm sóc bố.

Ông già buồn rầu, lặp lại:

- Bố thích bộ quần áo này lắm.

Tôi cũng cương quyết:

- Bố nên thay ngay kẻo trễ, con không thấy có lý do gì để bố thích nó.

Ông già trả lời rất gọn ghẽ, chân thành, lâu nay ít khi nào tôi thấy ông minh mẫn như vậy:

- Chính mẹ đã tặng bố bộ quần áo này để mặc ngày kỷ niệm thành hôn. Khi chồng con ra trường, bố cũng mặc bộ quần áo này. Ngày đưa mẹ con ra nghĩa trang, bố cũng mặc bộ đồ này, bố thấy thật vui và xúc động khi mặc nó.

Nước mắt ông già hoen trên mi, rơi xuống gò má nhăn nheo. Tôi hụt hẫng và hết sức bối rối. Bố chồng tôi sống tình cảm và có lý hơn tôi nghĩ.

Trước khi quyết đoán người nào đó khô khan không có trái tim, tôi nên xét lại trái tim mình đã.

(Sưu tầm)

CHIA SẺ MỤC VỤ BÁC ÁI

TÍCH LŨY

“Tích lũy” hai từ khá quen thuộc đối với xã hội hôm nay. Nhiều người hiểu và biết tích lũy, làm cho kinh tế gia đình tươi sáng và cuộc sống của họ khởi sắc hơn. Nơi vùng sâu, còn nhiều người thiếu hiểu biết, họ chưa biết thế nào là tích lũy? Thế nên cần giải thích thật chính xác để nâng cao đời sống của họ. Thường  người vùng quê nghèo hiểu tích lũy là tiết kiệm. Nói cách bình dân giản dị, tích lũy là dành dụm tiền để bỏ vào “ống heo.”

Theo nghĩa tiêu cực tích lũy là để dành tiền, để dành của cải. Nghĩa tích cực tích lũy là biết lấy vốn cùng nhau tái sản xuất. Nếu không biết tích lũy sẽ dẫn đến tình trạng nghèo khó không thể khắc phục hay thay đổi cuộc sống.

Người thuyền trưởng trong gia đình cần biết tích lũy thì kinh tế gia đình mới ổn định và lo cho con cái ăn học thành đạt. Mỗi thành viên trong gia đình biết tiết kiệm thì có điều kiện giúp người nghèo khổ, làm việc từ thiện...

Hằng ngày, đối diện với thực tế chúng ta gặp biết bao khó khăn trong cuộc sống. Sự phung phí tiền của cũng là một trong những nguyên nhân gây ra những khó khăn nầy. Nếu mọi người biết tích lũy tiết kiệm thì đời sống trong xã hội sẽ bớt những cảnh nghèo khổ. Xã hội sẽ vơi đi những tệ nạn làm cho đạo đức suy đồi.

Đối với người Kitô hữu, từ “ tích lũy” rất cần thiết cho đời sống tâm linh. Tích lũy của cải vật chất chỉ đem lại hạnh phúc chóng qua, nhất thời, nhưng nếu biết tích lũy của cải thiêng liêng bằng những việc bác ái với tấm lòng yêu thương, sự tận tâm phục vụ những con người bất hạnh sẽ bảo đảm phần rỗi linh hồn của chúng ta. Người Kitô hữu muốn đạt tới Nước Trời mai ngày chắc chắn phải biết tích lũy ngay hôm nay. Khi biết quan tâm chia sẻ và giúp đỡ người bất hạnh, đó là chúng ta đang thực hành điều Chúa dạy: “…mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40b). Tuy được nghe Lời Chúa, học Lời Chúa và đọc Lời Chúa mỗi ngày, nhưng lắm khi chúng ta vẫn làm ngơ trước nhưng nỗi đau của đồng loại mà chỉ biết thu gom, lo làm giàu cho chính bản thân mình thôi....Mong rằng mỗi chúng ta biết ý thức thực hành việc bác ái để bảo đảm hạnh phúc Nước Trời mai sau.

Hai từ tích lũy còn muốn nhắn gởi mọi người cố gắng không tiêu xài phung phí; trái lại, biết chi tiêu hợp lý trong gia đình, biết cần kiệm chi xuất đúng chỗ để giảm bớt cảnh đói nghèo của gia đình, đúng như cổ nhân đã nói: “Dân nghèo thì nước yếu và dân giàu thì nước mạnh”!  

 Trung Tín là một thành viên tiết kiệm nói:

-  Năm nay tôi tham gia tiết kiệm tính ra là 10 năm rồi....

Tôi hỏi thời gian qua Trung Tín làm được gì?  Trung Tín suy nghĩ và trả lời:

-  Cũng tích lũy được một số tiền chớ bộ.

-  Tiền đó sử dụng như thế nào?

-  Trả hết nợ sẽ sửa nhà lại.

-  Được bao nhiêu?

-  Được mười mấy triệu hà!

Trung Tín là một người thiếu nợ 10.000.000 đồng. Trung Tín không có cách nào đề trả cho dứt nợ. Trung Tín tham gia tiết kiệm, Trung Tín đề dành tiền và trả  xong số nợ là 10.000.000 đồng. Trung Tín định bán nửa công đất để trả nợ nhưng nhờ sự tiết kiệm tương trợ  mà anh giữ được mảnh đất của tổ tiên.

Caritas Vĩnh Long

THẦN HỌC KINH THÁNH

Tội Lỗi Trong Suy Tư Thần Học

Tội lỗi đã được suy tư thần học phân tích sâu rộng với mục đích nhận ra yếu tố hình thái và các khía cạnh đặc thù của nó. Ở đây chúng ta chỉ nhắc lại một vài định nghĩa đáng kể nhất tóm gọn các kết qủa của suy tư thần học.

Định nghĩa thứ nhất về tội là việc vi phạm luật Chúa. Phạm tội là vi phạm lề luật của Thiên Chúa. Thánh Agostino đưa ra định nghĩa nổi tiếng sau đây: ”Tội lỗi là một diễn tả, hay một sự kiện hoặc bất cứ ước muốn nào chống lại luật lệ vĩnh cửu”. Nhưng định nghĩa này không được đọc trong nghĩa duy luật lệ, mà trong viễn tượng của một sự giải thích cá nhân về luật lệ. Đây không phải là việc phạm một điều luật, mà là một thái độ chống đối Thiên Chúa, là tác giả của luật lệ, cả khi nó được trung gian bởi những người trong cộng đoàn tham dự vào quyền định hướng đường đi của con người. Luật lệ không chỉ là một điều luật được áp đặt từ bên ngoài, kìm hãm hay hạn chế sự tự do của con người, nhưng một cách triệt để hơn nó cũng là một chiều kích cấu tạo nên con người trong chính mình, hướng dẫn và kích thích sự phát triển của nó (S. Th. I-II, q,106, a.1). Vì thế lỗi luật là chống lại hướng đi nền tảng của con người tới sự thiện, tới việc thành toàn sứ mệnh nội tại trong ơn gọi cuộc sống và được soi rõ trong tổng thể các biến cố qua đó nó được diễn tả ra ngoài.

Thứ hai, tội lỗi là sự xúc phạm tới Thiên Chúa. Đây là một định nghĩa nằm trên đường lối suy tư của Thánh Kinh. Thánh Tôma Tiến Sĩ đề nghị nó trong nhiều bối cảnh khác nhau. Định nghĩa này được Đức Giáo Hoàng Pio XII lập lại trong Thông điệp ”Humani generis” (DS 3891). Dưới ánh sáng của suy tư kinh thánh định nghĩa này không được hiểu trong nghĩa nhân hình, sẽ có thể dẫn đưa tới một giải thích rất giản lược. Mặc dù không loại trừ khả thể của các thái độ bao gồm một cách rõ ràng việc khước từ Thiên Chúa, rất thường khi việc xúc phạm tới Thiên Chúa được cụ thể hóa trong một thái độ hành xử có hại cho tha nhân và cho chính con người (S. Tommaso, C. Gent, 3c.122).

Thứ ba, tội lỗi có chiều kích xã hội. Khi nói tội lỗi có chiều kích xã hội chúng ta không có ý nói tới tình trạng lây lan thuộc loại tâm lý, cho bằng hiệu qủa của mối dây liên đới hiệp nhất con người với nhau. Sự hiệp thông trong Chúa Kitô càng tan rã bao nhiêu, thì sự liên đới trong sự dữ mà tội lỗi biểu lộ ra và củng cố, càng gia tăng bấy nhiêu. Điều này lại càng trở thành hiển nhiên hơn bởi hình thức cuộc sống bị xã hội hóa một cách mạnh mẽ, khiến cho chúng ta nhậy cảm hơn đối với chiều kích xã hội của tội lỗi và với tinh thần đồng trách nhiệm rộng rãi hơn đối với sự dữ của thế giới: chẳng hạn như sự xung đột giữa các ích kỷ tập thể của các quốc gia, các giai tầng, các đảng phái, các nhóm xã hội, sự vô nhân trong việc thực thi quyền bính, việc khai thác, bóc lột và tàn phá các tài nguyên thiên nhiên vv... Tất cả đều gây ra các hệ lụy cho mọi thành phần xã hội.

Thứ bốn tội lỗi như là việc xa rời Thiên Chúa và tuyên xưng niềm tin nơi các thụ tạo. Đây là một công thức hay được thánh Agostino lập đi lập lại bằng nhiều cách khác nhau trong các tác phẩm của mình. Định nghĩa này tổng kết thực tại của tội lỗi bằng cách tìm tiếp nhận hai chiều kích trong đó tội lỗi trở thành cụ thể. Thứ nhất là viễn tượng Thiên Chúa là trung tâm, trong đó phạm tội là chống lại Thiên Chúa và làm méo mó công trình của Người. Thứ hai là viễn tượng con người là trung tâm, trong đó tội lỗi được coi như là sự dữ của con người trong thực tại tràn đầy cá nhân, xã hội và vũ trụ, như là sự giảm thiểu ngăn cản việc hiện thực tràn đầy của con người (GS 13).

Đó là vài yếu tố kinh thánh và thần học cần chú ý khi đề cập tới tội lỗi. Sau đây chúng ta đề bàn về vài vấn đề chuyên biệt hơn của tội lỗi trên ba bình diện: bình diện bản năng, bình diện luân lý và bình diện tinh thần.

Trước hết là vấn đề ý thức về lỗi lầm và tội. Chúng ta có thể định nghĩa ”cảm tưởng lỗi lầm” như là một cảm giác đau đớn, sự xấu hổ, sự sợ hãi, sự bối rối đi kèm một hành động bị xét đoán như là ”sự dữ”, mà các lý do không phát xuất từ ý thức về tội lỗi trong nghĩa thần học, nhưng từ các kinh nghiệm khác đã có trong cuộc sống. Thường khi ý thức lỗi lầm đi kèm các cảm giác rõ rệt mâu thuẫn với tinh thần đức tin, như tính cách không thể tránh được, cho tới sự tuyệt vọng. Thường khi tội lỗi và ý thức lỗi lầm bị đồng hóa với nhau một cách không đúng với các từ như cắn rứt, sợ hãi tội, ý thức về tội.

Đối với tội được hiểu trong nghĩa thần học, ý thức lỗi lầm có một vài đặc thái có thể nhận ra một cách dễ dàng: chẳng hạn nó chỉ áp đặt cho một vài tội đặc biệt, với các khác biệt mạnh mẽ thuộc loại lịch sử và văn hóa; và nó có thể thay đổi đối với đối tượng của nó cũng như đối với sự sâu đậm tùy theo chủ thể.

Như thế vài chủ thể có ý thức lỗi lầm trong một hành động xác định hơn các chủ thể khác, mặc dù họ đều có lỗi trong cùng một chiều hướng. Thay vì có nhiệm vụ phòng ngừa tội lỗi, đối với các chủ thể bị đổ lỗi một cách cao độ, ý thức lỗi lầm được sống trong chính nó và đem lại khổ đau và xấu hổ, bị đẩy tới chỗ thái qúa, phóng đại tội đã phạm, phẫn nộ thử tìm đền bù, gia tăng các lời xin lỗi. Có thể gặp thấy những người bị kết tội trong một lãnh vực đặc biệt nào đó của luân lý, trong khi nơi những người khác thì không có các bối rối hay hầu như không có.

Nếu phân tích ý thức lỗi lầm dưới khía cạnh chuyên biệt tâm lý hơn nữa, và nhớ tới sự nảy sinh của nó, cảm tưởng lỗi lầm kéo ra các nguồn gốc và được tạo thành bởi sự liên tác động một đàng là giữa một chủ thể, đàng khác là tổng thể các tương quan xã hội. Nó không nảy sinh với chủ thể, mà được tạo thành trong cuộc sống, như là câu trả lời tự động cho các đòi hỏi, các cấm đoán, các xin xỏ của môi trường. Ý thức lỗi lầm không thể bị cột buộc vào một biến cố đặc thù, cũng không thể bị cột buộc vào một giai đoạn xác định của sự phát triển tình cảm. Cùng với sự không chắc chắn sự có lỗi diễn tả đặc tính của mọi âu lo. Sự âu lo luôn luôn là sự sợ hãi của một mất mát, có thật hay tưởng tượng.

Trong cuộc đời mình con người sống các giai đoạn âu lo khác nhau: nỗi âu lo của việc sinh ra phải rời bỏ cung lòng êm ấm của người mẹ để vào đời, để đương đầu với một môi trường xa lạ bên ngoài nơi an toàn là cung lòng người mẹ, trong đó thai nhi đã sống hơn 9 tháng, lo âu phải tự thở, phải tìm vú mẹ để bú, phải bú sữa không phải là sữa mẹ, nỗi âu lo của thời bỏ sữa để bắt đầu ăn bột hay các thức ăn đã nghiền nát trước. Thế rồi dần dần khi lớn lên đứa trẻ khám phá ra người cha, vai trò và quyền bính của ông đối với cuộc sống của nó bên cạnh người mẹ. Nỗi lo âu của mọi sinh hoạt cuộc sống ”học ăn, học nói, học gói, học mở”; Nỗi lo âu của ngày đầu tiên đi vườn trẻ, hay cắp sách tới trường tiểu học, vào trung học, lên đại học; Nỗi lo âu trong các giao tiếp với người thân, bạn bè thầy cô; Nỗi lo âu trước các kỳ thi định kỳ cuối năm hay ra trường. Sau khi dấn thân vào đời con người có những âu lo loại khác như: tìm kiếm công ăn việc làm, định hướng cho tương lai nghề nghiệp, mua sắm nhà cửa xe cộ, lựa chọn người bạn đời, thành lập gia đình, có con cái. Và giờ đây nỗi lo âu nhân lên gấp nhiều lần theo số con cái sinh ra, và có biết bao nhiêu lo âu, sợ hãi khác nữa. Khi con cái lớn khôn vào đời, cha mẹ vẫn còn có nhiều lo âu khác đối với tình duyên sự nghiệp, hạnh phúc, công ăn việc làm và cuộc sống của các con các cháu. Sau khi hết trách nhiệm và bổn phận trực tiếp đối với con với cháu, con người âu lo đối với tuổi già, sợ hãi bệnh tật và cái chết.

Những ai không lập gia đình nhưng theo đuổi một ơn gọi khác như cuộc sống tu trì độc thân, hay tận hiến giữa đời, hiến thân phụng sự Thiên Chúa, xã hội, tha nhân hay một lý tưởng nào đó cũng có những âu lo sợ hãi của mình, theo cương vị, công việc làm và trách nhiệm được giao phó. Ở đây các âu lo bao gồm cuộc sống cá nhân và còn vượt ngoài lãnh vực cuộc riêng tư nữa, vì nó bao gồm cuộc sống của cả một cộng đoàn lơn hơn hay nhiều cộng đoàn lớn hơn, không chì gồm vài chục, vài trăm, hay vài ngàn nhưng có khi lên tới hàng triệu người. Chúng ta cứ nghĩ tới các âu lo và sợ hãi của một bề trên dòng, hay của một linh mục chánh xứ, hoặc một Giám Mục giáo phận, thì đủ hiểu.

Từ khi vào đời cho tới khi nhắm mắt xuôi tay con người phải trải qua biết bao nhiêu âu lo, sợ hãi và tước đoạt đủ loại, đủ kiểu. Ý thức lỗi lầm của chúng ta được thành hình qua chính từng tước đoạt mà chúng ta phải chịu bởi sự đòi hỏi tình yêu nơi cha mẹ, khi sự tước đoạt đó được nhận thức như là xứng đáng. Không phải chỉ qua một chấn thương duy nhất nhưng qua toàn thể các thái độ, các đòi hỏi và các đáp trả, khước từ và bị tước đoạt, mà nảy sinh ra tính cách xung đột của mỗi một cuộc gặp gỡ, từ đó nảy sinh ra sự âu lo và ý thức lỗi lầm. Chúng đụng chạm tới nhu cầu nền tảng nhất của chúng ta, là nhu cầu yêu thương và được yêu thương, được thừa nhận như là các bản vị có giá trị.

Như vậy, có thể nói rằng ý thức lỗi lầm và ý thức tội lỗi là hai thực thể khác biệt, trong nghĩa ý thức tội lỗi nảy sinh từ một cuộc sống đức tin trong tương quan với Thiên Chúa, trong khi ý thức lỗi lầm đến từ môi trường tâm lý xã hội của chủ thể.

(Thần Học Kinh Thánh bài số 1155)
Tác giả: Đức Ông Linh Tiến Khải
Nguồn: vietvatican.net


[1] Cđ. Vatican II, Tuyên ngôn Gravissimum Educationis, 3.

[2] GLHTCG 2221;x. FC 36.

[3] GS 35.

[5] X. GLHTCG 2224.

[6] X. FC 37.

[7] X. GLHTCG 2226.

[8] Đ. Phaolô VI, diễn văn buổi tiếp kiến chung 11.08.1976.