1. Lời Chủ Chăn   
  2. Tự Sắc Porta Fidei
  3. Diễn Giải
  4. Lời Nguyện Chung
  5. Áp Dụng Thực Hành
  6. Học Kinh Thánh
  7. Tìm Hiểu Giáo Luật
  8. Trang Linh Mục
  9. Trang Tu Sĩ
  10. Trang Sống Ơn Gọi
  11. Trang Thiếu Nhi
  12. Trang Giới Trẻ
  13. Trang Gia Đình
  14. Trang Giáo Lý Viên
  15. Trang Quới Chức
  16. Sống Đẹp
  17. Chuyện Thường Ngày
  18. Hỏi Đáp Mục Vụ
  19. Một Chút Tâm Tình

LỜI CHỦ CHĂN

TOÀ GIÁM MỤC VĨNH LONG
103 đường 3/2
P. 1  TP Vĩnh Long

26.03.2013

V/V  Hăng Say Thông Truyền Đức Tin

Kính gởi:  Các Linh Mục,
                  Quí Tu Sĩ,
                  Anh Chị Em giáo dân Địa Phận Vĩnh Long

"Tình yêu Chúa Kitô thúc bách chúng ta" (2 Cor 5,14)

Tại sao chúng ta phải thông truyền đức tin, và hăng say thông truyền đức tin?

Ảnh hưởng của lối sống thực dụng, suy tôn vật chất ngày càng lan rộng. Rất nhiều người lãnh đạm với  tôn giáo, và thậm chí có những người công khai tuyên bố rời bỏ Giáo Hội, vì gương xấu của kẻ nọ người kia, hoặc viện cớ nầy hay cớ khác .

Một cuộc khủng hoảng đức tin. Một thách đố nghiêm trọng khiến Hội Thánh phải có cách đối phó. Năm Đức Tin được thiết lập nhân dịp kỷ niệm 50 năm Khai Mạc Công Đồng Vaticanô II, muốn nói lên điều nầy: "Ngày nay Giáo Hội cần xác tín và dấn thân hơn nữa cho việc tân Phúa âm hoá" (Porta Fidei, 7).

Chúa Giêsu là Ánh Sáng thế gian (Luca 2,32; Gioan 8,12), muốn lôi kéo con người thuộc mọi thế hệ đến với Người, đã cho các môn đồ tham dự sứ mạng của Người (Mt 5, 15), sau cùng đã sai các môn đồ đi khắp bốn phương rao giảng và quy tụ muôn dân thành môn đệ của Người (Mt 28,19; x.Mc 16,15).

Chính Đấng Phục Sinh cũng đã hiện ra cho Saulô đang tầm nã bách hại các tín hữu Kitô, rồi biến đổi ông thành tông đồ đem Tin Mừng đến cho lương dân (Gal 1,16). Với xác tín về ơn gọi tông đồ của mình, sự khẩn thiêt phải loan báo Tin Mừng, Phaolô đã quả quyết: "Chúa Kitô không sai tôi đi làm phép rửa, nhưng đi rao giảng Phúc Âm" (1 Cor 1,17). Và, một cách mạnh mẽ hơn: "Khốn cho tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng"  (1Cor 9,17).

Tin để sống. Nhưng người Công Giáo chúng ta tin Ai?  Tin gì?

Không tin một nhân vật huyền thoại, không tin vào một chuyện hoang đường,  nhưng tin vào một nhân vật lịch sử, tin vào Đức Giêsu Kitô Phục Sinh và sứ điệp của Người. Tin cách tuyệt đối, nghĩa là trên hết mọi sự, để có thể sẵn sàng hy sinh cho đức tin của mình:

"Những điều kể được như la lợi lộc cho tôi, tôi đã coi là thua lỗ bất lợi vì Đức Kitô... Tôi coi tất cả mọi sự là thua lỗ bất lợi, vì cái lợi tuyệt vời là được biết Đức Kitô Giêsu, Chúa tôi. Vì Người, tôi đành thua lỗ mọi sự , và coi là phân bón cả , để lợi được Đức Kitô..." (Phil 3,7-8).

Các Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, Gioan-Phaolô II, Bênêđitô XVI đã thực hiện nhiều chuyến  tông du ngoài Nước Ý, không những để củng cố anh em của mình  mà còn để rao giảng Chúa Giêsu. Các ngài đã đọc diễn văn trước Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc gặp gỡ các nhà Lãnh Đạo các Quốc Gia, bênh vực quyền của con người, bảo vệ công lý và hoà bình.

Trong chuyến viếng thăm Nước Đức từ 22 đến 25 tháng 9 năm 2011, Đức Bênêđitô XVI đã quả quyết: Mặc dầu chuyến viếng thăm của ngài có tính cách chính thức của một Nguyên thủ Quốc Gia, nhưng ngài không nhắm lợi lộc về kinh tế, chính trị, ngài muốn gặp con người và nói về Chúa.  Khi kết thúc buổi canh thức cầu nguyện với các Bạn Trẻ tại Freiburg ngày 24 tháng 9, Đức Bênêđitô XVI đã nói: "Các con hãy để Chúa Kitô đốt nóng các con, cho dầu điều đó đôi khi phải hy sinh và từ bỏ...Các con là ánh sáng của thế gian. Thiên Chúa là tương lai của các con".

Trong mọi lúc, và ở mọi nơi, mỗi tín hữu Kitô phải thông truyền đức tin của mình, vì  chúng ta phải giữ cho ngọn nến đức tin của mình luôn cháy sáng.

Bằng cách nào ?

Không biết, không thương, thì có gì để chia sẻ. Thế nên, cần tìm lại vẻ đẹp của đức tin  qua việc học Giáo Lý của Hội Thánh, Giáo Huấn của Công Đồng Vaticanô II, trong đó tich chứa kho tàng khôn ngoan của Đức Tin Kitô giáo.

Để yêu mến Chúa Giêsu, tất nhiên cần dành thời giờ để cầu nguyện (Bênêđitô XVI, Buổi đọc kinh Truyền Tin cuối cùng 24.02.2013), để ở gần bên Chúa cảm nhận được tình yêu của Chúa (Bênêđitô XVI, Buổi tiếp kiến cuối cùng, ngày 27.02.2013). Gần Chúa chúng ta sẽ có ánh sáng  để dọn dẹp tâm hồn của mình , giảm bớt thói hư tật xấu, để sống quảng đại hơn

Xã hội đang có nhiều thay đổi theo chiều hướng thực dụng, thụ hưởng, khó giữ Đạo, khó giảng Đạo. Những khó khăn của tín hữu cũng là những khó khăn của Hội Thánh.

Hội Thánh thuộc về Chúa Kitô, chúng ta phải vững tin vào Chúa,  Với việc gia tăng cầu nguyện, chúng ta tin chắc Thánh Thần Chúa sẽ thực hiện một cuộc canh tân Đức Tin, canh tân đời sống các tín hữu, canh tân xã hội.

+ Tôma Nguyễn Văn Tân
         Giám Mục của Anh Chị Em

TỰ SẮC PORTA FIDEI

CHỦ ĐỀ: HĂNG SAY THÔNG TRUYỀN ĐỨC TIN

"Tình yêu Chúa Kitô thúc bách chúng ta" (2 Cr 5, 14): chính tình yêu Chúa Kitô đổ đầy tâm hồn chúng ta và thúc đẩy chúng ta loan báo Tin Mừng. Ngày nay cũng như xưa kia, Chúa sai chúng ta ra đi trên khắp nẻo đường thế giới để công bố Tin Mừng của Người cho mọi dân tộc trên trái đất (x. Mt 28, 19). Chúa Giêsu Kitô dùng tình yêu thu hút con người thuộc mọi thế hệ đến với Người: trong mọi thời đại, Người gọi Giáo hội đến và trao nhiệm vụ loan báo Tin Mừng, với một mệnh lệnh luôn luôn mới mẻ. Vì thế, ngày nay Giáo hội phải dấn thân một cách thuyết phục hơn nữa qua công cuộc Tân Phúc âm hóa, để tái khám phá niềm vui đức Tin và tìm lại niềm hăng say thông truyền đức Tin. Việc dấn thân truyền giáo của các tín hữu, vốn không bao giờ được thiếu, sẽ nhận được sức mạnh và tinh thần hăng hái qua việc hằng ngày nhận ra tình yêu của Thiên Chúa. Thực vậy, đức Tin sẽ tăng trưởng khi biết sống đức Tin với cảm nghiệm về tình yêu đã nhận lãnh, và biết thông truyền đức Tin với cảm nghiệm về ân sủng và niềm vui. Đức Tin làm cho chúng ta trở nên phong phú, bởi đức Tin giúp tâm hồn mở rộng trong hy vọng và đem lại một chứng từ giàu sức sống: đức Tin mở cánh cửa tâm trí của tất cả những ai lắng nghe và đón nhận Lời Chúa mời gọi hãy gắn bó với Lời Chúa để trở thành môn đệ của Người. (Porta fidei số 7).

DIỄN GIẢI

Cách đây 98 năm, vào ngày 14 tháng 4 năm 1912, sau Chúa nhật thứ nhất Phục Sinh, chiếc tàu Titanic đã chìm xuống lòng biển Đại Tây Dương, và mang theo hơn 1500 người. Có nhiều chi tiết liên quan đến con tàu định mệnh đã được báo chí đăng tải, nhưng có một chi tiết đáng được chú ý đến, đó là ngay bên hông của con tàu có dòng chữ "No God, No Pope", có nghĩa là không có Thiên Chúa,  không có giáo hoàng (gì cả!).

Lối sống thực dụng làm cho con người đánh mất niềm tin vào Thiên Chúa, họ không còn cảm nhận được sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc đời. Trong khi mỗi người cần có đức tin để sống và sống trọn vẹn. Vì thế Hội Thánh mời gọi  các tín hữu bằng cảm nghiệm gặp gỡ của mình với Thiên Chúa  Tình Yêu, hãy thông truyền đức tin ấy cho mọi người.

"Đức Tin sẽ tăng trưởng khi biết sống đức Tin với cảm nghiệm về tình yêu đã nhận lãnh, và biết thông truyền đức Tin với cảm nghiệm về ân sủng và niềm vui" (Porta Fiedei, 7).

Người tin hữu cần có đức tin mạnh để có thể trao ban cho người khác. Tin chính là gặp gỡ  Đức Giê-su Ki-tô, Thiên Chúa làm  người (x. Đức Bênêđictô XVI, Tông Huấn Verbum  Domini, 7). Chính qua cuộc gặp gỡ nầy chúng ta nhận ra ngài chính là tình yêu không thể tưởng tượng mà Thiên Chúa trao ban cho con người: "Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Ngài thì không phải chết, nhưng được sống đời đời" (Ga 3, 16).

Qua cảm nghiệm: chúng ta chỉ có thể yêu những gì thuộc về mình, một cách tương tự, chúng ta có thể khẳng định Thiên Chúa yêu thương tôi bởi vì tôi  thuộc về Người. Chính Người tạo dựng nên tôi. Người là Cha của tôi.

Thư gửi tín hữu Rô-ma xác nhận: "Chúng ta là những người được Thiên Chúa yêu thương" (Rm 1,7). Và Thánh Gioan lý giải: "Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng là chính Người đã yêu thương chúng ta" (1Ga 4,10). Do đó, "Chúng ta hãy yêu mến, vì Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước" (1Ga 4,19). Toàn bộ Kinh Thánh chính là tình yêu Thiên Chúa dành cho con người. Như thế mới có t'ể giải thích vì sao có tạo dựng, có nhập thể, có cứu chuộc.

Thiên Chúa yêu thương chúng ta vì Ngài là Sự Thiện, mà Sự Thiện thì muốn tỏa tộng ra. Chúa yêu thương dựng nên chúng ta vì muốn tuôn đổ hồng ân của Ngài xuống trên chúng ta.

Cảm nghiệm tình yêu bao la, trung tín và mãnh liệt Thiên Chúa dành cho ta, giúp chúng ta biết yêu Chúa thế nào cho đáng và  biết thương nhau theo gương của Chúa.

Một cảm nghiệm như thế sẽ đưa chúng ta đến việc hoán cải, quay trở về với Cha, với tình yêu của Cha. Và đời sống đức tin ngày một sâu sắc hơn trong sự gắn bó với Thiên Chúa là Cha yêu thương chúng ta.

Như vậy, sống đức tin là sống trong tình yêu của Tình Yêu của Thiên Chúa, mà đỉnh cao của Tình Yêu nầy là Thánh giá cứu chuộc. Vì vậy, đón nhận Thánh Giá trong cuộc đời là một sự can đảm để sống đức tin và cũng là biểu hiện của người đang ở trong Tình Yêu.

Việc gặp gỡ với Đức Giê-su Ki-tô là Tình Yêu của Thiên Chúa làm nẩy sinh trong chúng ta một niềm hân hoan khôn tả: niềm vui có Chúa.  Bởi vì việc khám phá mối tương quan giữa chúng ta với Thiên Chúa "là con đường đi đến tình yêu và tiếng thưa vâng của ý chí chúng ta đối với ý muốn của Người kết hợp sự hiểu biết, ý chí và cảm xúc trở thành một hành động trọn vẹn của tình yêu" (Bênêđictô XVI, Thông điệp Deus caritas est, 17).

Niềm vui cần được chia sẻ. Chúng ta được Thiên Chúa yêu thương cách nhưng không, thì đến lượt mình cũng phải san sẻ niềm vui đức tin cho tha nhân một cách vô điều kiện, như người phụ nữ trong Phúc Âm Luca, khi tìm thấy đồng bạc bị đánh mất liền "mời bạn bè, hàng xóm lại, và nói: "Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm đuợc đồng bạc tôi đã đánh mất" (Lc 15,10).

Do đó, việc thông truyền đức tin là động thái muốn xẻ chia niềm hân hoan vì hồng ân đức tin được nhận lãnh, qua hồng ân này người nhận lãnh gặp gỡ được nguồn tình yêu, gặp gỡ được Đức Giêsu Kitô, Lời yêu thương của Thiên Chúa, Đấng đã tự hiến mình hy sinh chịu chết, đền thay tội cho chúng ta, để chúng ta được sống đời đời với Người.

Như thế, để có thể thông truyền đức tin cho người khác, cần thiết chúng ta phải thực sự cảm nghiệm được tình yêu Thiên Chúa qua cuộc gặp gỡ với Đức Kitô để rồi tiến tới sự hiệp thông với Người. Chính trong sự hiệp thông này thắp lên trong chúng ta ngọn lửa yêu mến thúc bách chúng ta (x. 2 Cr 5,14) nói về Chúa Giêsu với sự xác tín rằng: không nhận biết Tin Mừng là một thiếu sót không có chi bù đắp được, vì chỉ có Tin Mừng mới mang lại sự sống đích thật.  Thông truyền đức tin không phải nói về một Đức Giêsu được tường thuật, nhưng về một con người mà chúng ta đã cảm nghiệm qua sự gặp gỡ với Người, như người phụ nữ Samaria đã thông truyền: "Đến mà xem: có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Ông ấy không phải là Đấng Kitô sao?" (Ga 4,29). Thông truyền đức tin chính là "tạo ra ở mọi nơi và mọi thời những điều kiện để có thể có cuộc gặp gỡ cá vị với Chúa Giêsu Kitô" (Bản Lineamenta:  Tân Phúc Âm Hóa Để Truyền Bá Đức Tin Kitô Giáo, số 11)  đối với hết mọi người.

Nguồn: Lm Antôn Hà văn Minh, Đức Tin và việc thông truyền Đức Tin, giaolyductin.org -  Lm Micae Trần Đình Quảng, Tình Yêu Của Thiên Chúa Đối Với Ta, simonhoadalat.com

LỜI NGUYỆN CHUNG

Kêu mời: Anh chị em thân mến,

Khi sống ở trần gian, Chúa Giêsu hăng hái rao giảng Tin Mừng cho mọi loài. Thật vậy chính bởi vì tình yêu đối với Chúa Cha, mà Chúa Giêsu đã yêu trần gian và cứu chuộc trần gian. Chúng ta cùng hiệp ý cầu nguyện:

1.      Chúa phán với người được khỏi quỷ ám: "Con hãy ở lại mà cất cao lời ngợi khen Chúa". Chúng ta cầu nguyện cho mọi thành phần Hội Thánh, dù trong hoàn cảnh nào cũng đều hăng say loan truyền đức tin của Hội Thánh.

2.      Chúa phán với Phêrô: "Khi con chỗi dậy, con hãy củng cố đức tin của anh chị em con". Chúng ta cầu nguyện cho các Giám Mục, Linh Mục và Phó Tế trở nên những người rao giảng giáo lí Đức Tin cách không mệt mỏi cho mọi người.

3.      Chúa phán: "Tôma, vì con đã thấy Thầy nên con tin, phúc cho ai không thấy mà tin". Chúng ta cầu nguyện cho các kitô-hữu khi đã tin vào Chúa Phục Sinh, cũng biết hăng hái và tích cực loan truyền Tin Mừng cho mọi người.

4.      Thánh Phaolô viết: "Chính tình yêu Chúa Kitô thúc bách chúng ta". Chúng ta cầu nguyện cho mọi người trong họ đạo chúng ta, nhờ kính mến Chúa trên hết mọi sự mà hăng hái loan truyền Đức tin cho anh chị em.

Kết thúc: Lạy Chúa, Chúa muốn chúng con cộng tác vào chương trình cứu chuộc của Chúa. Xin cho chúng con biết sử dụng những ơn Chúa ban mà tích cực và hăng hái loan truyền Tin Mừng cho mọi người. Chúng con cầu xin...Amen.

ÁP DỤNG THỰC HÀNH

LOAN TRUYỀN ĐỨC KITÔ PHỤC SINH

Trong Tin mừng theo thánh Marcô sau khi Chúa Kitô phục sinh, Người đã nhiều lần hiện ra với người này, người khác, với các môn đệ, Người khiển trách các ông vì các ông không tin và Chúa Giêsu đã nói: "Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo." (Mc 16, 15). Đây là lệnh truyền của Chúa Kitô dành cho tất cả các môn đệ của Chúa. Nhưng làm sao để thực hiện được lệnh truyền này lại là cả một quá trình. Ta hãy giở lại Sách tông đồ công vụ và các đoạn tin mừng thuật lại biến cố phục sinh của Đức Kitô xem những Kitô hữu đầu tiên đã sống lệnh truyền của Chúa như thế nào để ta áp dụng kinh nghiệm ấy vào trong đời sống đức tin của mình.

Trước hết, muốn loan truyền Đức Kitô phục sinh thì phải xác tín rằng Người đã sống lại thật. Tin mừng Thánh Gioan khi thuật lại biến cố phục sinh, Chúa Kitô đã hiện ra với bà Maria Madalena và gọi đúng tên bà trong khi bà đang khóc lóc và mất xác Chúa, bà nhận ra người qua tiếng gọi thân thương và xác tín rằng thầy mình là Chúa Giêsu đã phục sinh. Các môn đệ trên đường Emaus cũng vậy, các ông đã được Chúa Kitô đồng hành trên quãng đường xa xôi buồn bã thất vọng. Nhưng của chỉ bẻ bánh trao cho các ông là một cử chỉ thân quen, không thể lẫn lộn được với ai khác. Đây chính là thầy mình, đây chính là Đức Kitô đã sống lại

Thứ đến, để loan truyền Đức Kitô phục sinh thì ta phải sống niềm tin đó. Sách Tông đồ công vụ thuật lại đời sống của cộng đoàn các Kitô hữu tiên khởi trong Cv 2, 42 - 46 như thế này: Họ chuyên cần nghe các Tông đồ giảng dạy, hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, cầu nguyện không ngừng, để mọi sự làm của chung, dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ, ca tụng Thiên Chúa... được toàn dân thương mến. (x Cv 2, 42 - 46). Tại sao toàn dân thương mến họ nếu không phải là vì họ đã sống một đời sống đức tin mạnh mẽ, một đời sống luôn có Chúa Kitô phục sinh luôn đồng hành. Họ có đời sống các biệt hơn các nhóm dân khác, nhưng sự khác biệt này là một sự khác biệt của niềm tin, của sự yêu thương huynh đệ. Người ta có thể không biết đặt tên cho nhóm người này theo tôn giáo nào, đạo nào nhưng thực tế phải nhìn nhận rằng họ đang sống đạo Yêu Thương. Chính niềm tin vào Đức Kitô phục sinh đã thúc đẩy đời sống của các Kitô hữu tiên khởi trở thành những nhân chứng sống động cho tình yêu Thiên Chúa, cho tin mừng của Chúa được lan tỏa nơi anh chị em chung quanh.

Sau là, Sống niềm tin vào Chúa phục sinh là loan báo Người đã sống lại. Trở lại với Maria Madalena, khi nhận ra Chúa đã phục sinh bà liền chạy về nói với các môn đệ "tôi đã thấy Chúa" (Ga 20, 18), cũng như hai môn đệ trên đường Emaus, khi nhận ra Chúa phục sinh hai ông liền chỗi dậy trở về Giêrusalem để báo tin mừng Chúa đã sống lại cho các môn đệ khác cho dù lúc ấy là đêm tối, rất hiểm nguy. Tin và cảm nhận niềm vui Chúa đã sống lại là một niềm vui không thể giữ cho riêng mình, một niềm vui quá trọng đại, một niềm vui của sự sống. Phêrô và Gioan khi bị Thượng hội đồng Do thái cấm đoán không được lấy danh Giê su mà rao giảng nữa thì hai ông mạnh mẽ nói với họ "Nghe lời các ông hơn là nghe lời Thiên Chúa, xin hỏi: trước mặt Thiên Chúa, điều ấy có phải lẽ không ? Các ông thử xét xem" (Cv 4, 19). Niềm tin vào Chúa Kitô phục sinh là một niềm tin không thể không loan báo vì quá vĩ đại đối với mọi loài.

Mỗi năm theo phụng vụ chúng ta mừng lễ Chúa Phục Sinh, những cũng đã biết bao năm rồi mà niềm tin của chúng ta còn mơ hồ, yếu kém. Mừng lễ Chúa Phục Sinh là tin Người đã sống lại, để được lớn lên trong niềm tin này đòi hỏi người Kitô hữu chúng ta cũng phải trở lại hành trình của các Kitô hữu đầu tiên đó là: Chính bản thân ta phải xác tín Người đã sống lại, ta phải sống niềm tin đó và khi đó ơn Chúa là chỉ cho ta biết cách loan truyền niềm tin Chúa Kitô phục sinh.

Điều kiện quan trọng khi loan truyền niềm tin, đó chính là ta biết sống tốt lành đạo đức, tỏ ra là người bác ái thật thà, tử tế với mọi người, quảng đại yêu thương mọi người, không làm hại ai, không gian tham, trộm cắp, lọc lừa. Chính gương đời sống là yếu tố thu hút và thuyết phục kẻ khác hơn cả.

Trái lại, không gì đẩy xa kẻ khác xa chân lý của Chúa cho bằng những phản chứng, những gương mù gương xấu, những việc làm hay hành vi thái độ đáng chê trách. Ví dụ  sống không tử tế, không thật thà, không hiền lành, không tôn trọng quyền lợi và tài sản kẻ khác, hoặc ly dị, trái ngược rành rành với Luật Chúa và giáo lý của Chúa mà người ta từng nghe biết. Trong những trường hợp này, chúng ta không còn loan truyền niềm tin nữa, nhưng là phản chứng cho niềm tin.

Lạy Chúa, xin giúp chúng con trở thành những chứng nhân cho niềm tin và tình yêu Chúa.

HỌC KINH THÁNH

BÀI 27.  THƯ GỬI TÍN HỮU DO THÁI  (Dt)

 1/Ai là tác giả của lá thư gửi tín hữu Do Thái?

Tuy lá thư được xếp vào số các thư do Phaolô viết, nhưng chắc chắn không phải tự tay Phaolô viết thư này, vì đạo lý và lối hành văn thật là khác biệt. Vả lại, thư này thật là một tổng luận thần học phải do một số tác giả viết thành. Một số tác giả cho thư được thánh Barnaba hay Apôllô viết hoặc có lẽ do Origene viết vào khoảng năm 225.

2/ Ai là những người Do Thái mà lá thư muốn gửi tới?   

Họ là các tín đồ Do Thái sống rải rác ở La mã, Giêrusalem, Ephêsô, Alexandria hay tại các giáo đoàn khác. Họ là những người đã và đang trải qua những giờ phút bách hại (Dt 10, 32-34).

3/ Lá thư được viết vào thời nào và ở đâu?

Có nhiều giả thuyết về lúc nào lá thư được viết ra như:

- Nếu Thánh Phaolô có góp phần trong thư thì lá thư Do Thái được viết vào khoảng năm 67.

- Nếu Thánh Phaolô không góp phần vào trong thư thì lá thư được viết vào khoảng năm 95, vì người viết đã biết về Tin mừng nhất lãm, về các lá thư của Thánh Phaolô và về các truyền thống của Thánh Gioan.

- Về nơi chốn xuất phát của lá thư cũng không có gì làm bằng chứng cả nên một số tác giả cho rằng thư có dùng tư tưởng triết lý của người Alexandria nên thư có thể được viết từ một thành phố Hy Lạp, đó là thành phố Alexandria.

4/ Hãy trình bày ngắn gọn nội dung của bức thư?

Ngoài phần nhập đề và kết thúc, lá thư còn được chia ra làm

5 chủ đề chính:

a/ 1, 5 - 2,18:       Danh Chúa cao vời vượt xa các Thiên  thần.

b/ 3,1 - 5,10:        Chúa Giêsu Đấng trung gian và là chủ tế      đầy yêu thương.

c/ 5,11 - 10,39:    Chúa Giêsu Kitô vị Thượng Tế theo phẩm  hàm Melkisêđê.

e/ 11,1 - 12,13:    Đức tin và lòng kiên tâm bền chí.

g/ 12, 14 - 13, 18: Đường công chính mới.

Lời Chúa: "Đức Giêsu Kitô hôm qua và hôm nay vẫn là một và cho đến muôn đời"  (Dt 13,8).

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu là Thượng tế muôn đời, Chúa đã thông ban chức vụ Tư tế cho các linh mục. Xin cho các ngài biết hiến trọn đời mình để làm thành của  lễ tinh tuyền dâng lên trước nhan Chúa. Amen.

TÌM HIỂU GIÁO LUẬT

NƠI THÁNH (tt)
(Đ.1205-1243)

4. Phân Biệt Tên Gọi

Trong tiếng Việt, danh từ "nhà thờ" có lẽ đã xuất hiện trước khi Tin Mừng được rao giảng đến nước ta. Những danh từ khác như "thánh đường", "nguyện đường" hoặc "nhà Chúa" sau đó mới xuất hiện. Vì danh từ "nhà thờ" có liên hệ đến "nhà thờ" của một người hay một dòng tộc nào đó... Ngày nay, một cách thông thường trong Địa phận chúng ta, nơi nào có họ đạo và xây cất được nhà thờ dù lớn hay nhỏ cũng được gọi là nhà thờ của họ đạo, và nơi nào chưa thành lập thành họ đạo mà có "nhà thờ" thì gọi là nhà nguyện. Một vài nơi khác thì có cách phân biệt hơi khác hơn, chẳng hạn: nếu nhà thờ lớn thì được gọi là "thánh đường", nhỏ thì gọi là "nguyện đường" hay "nhà nguyện"...

Bộ Giáo luật thì phân biệt ba loại nơi thờ tự: nhà thờ (thánh đường: ecclesia); nhà nguyện (nguyện đường: oratorium); phòng nguyện (sacellum privatum). Sự phân biệt nầy không dựa trên tiêu chuẩn kích thước rộng hẹp hay sự uy nga của nơi thờ tự, mà nhằm nói lên ý nghĩa và quyền lợi của người tín hữu được sử dụng những nơi đó như thế nào.

4.1  Đối với nhà thờ (thánh đường): tất cả các tín hữu có quyền tới lui để cử hành việc phụng tự cách công cộng (x.đ.1214), chẳng hạn như nhà thờ của các họ đạo.

4.2  Nhà nguyện: việc sử dụng hạn hẹp hơn, nó chỉ dành cho một cộng đoàn hay một nhóm tín hữu nào đó. Ví dụ: nhà nguyện của chủng viện, của một dòng tu, chỉ dành cho chủng sinh hay các tu sĩ trực thuộc, các tín hữu khác chỉ tới lui khi được sự đồng ý của bề trên có thẩm quyền (x.đ.1223).

4.3  Phòng nguyện: được dành cho một vài cá nhân mà thôi. Chẳng hạn: phòng nguyện của riêng giám mục, phòng nguyện của quí cha dưỡng lão...

5. Thiết Lập

5.1. Nhà Thờ:

Nhà thờ được hiểu là một toà nhà thánh, dành riêng cho việc thờ phượng Thiên Chúa. Nhà thờ là nơi các tín hữu có quyền vào để thi hành việc thờ phượng Thiên Chúa, nhất là việc thờ phượng công cộng (đ.1214).

Để có thể thiết lập một nhà thờ, cần phải có sự đồng ý bằng giấy tờ của Đức Giám mục Địa phận. Trước khi ban phép, Đức Giám mục phải tham khảo ý kiến của Hội đồng linh mục và các linh mục coi sóc các nhà thờ kế cận, để xem nhà thờ mới sẽ sinh ích lợi cho các linh hồn hay không, có đủ phương tiện để xây cất và bảo trì việc thờ phượng hay không (x.đ.1215§1-2).

Cũng vậy, các tu sĩ dù đã được phép lập tu viện trong Địa phận, cũng cần phải xin phép Đức giám mục trước khi cất nhà thờ tại một địa điểm xác định (x.đ.1215§3).

Khi xây cất mới hoặc sửa chữa các nhà thờ, cần phải tuân theo các quy tắc về phụng vụ và nghệ thuật thánh, dưới sự cố vấn của những người chuyên môn (x.đ.1216).

Sau khi hoàn tất việc xây cất, nhà thờ cần được cung hiến hoặc làm phép sớm hết sức. Các nhà thờ chánh toà, và nhà thờ họ đạo phải được cung hiến cách trọng thể (x.đ.1217).

Mỗi nhà thờ phải có một tước hiệu riêng, tước hiệu đó không được thay đổi sau ngày cung hiến (đ.1218). Nên biết rằng chỉ được chọn làm tước hiệu nhà thờ như: Ba Ngôi Thiên Chúa, các mầu nhiệm của Chúa Kitô, hoặc là Đức Mẹ Maria, các hiển thánh. Nếu muốn chọn các chân phước làm tước hiệu thì phải xin phép Toà Thánh.

5.2. Nhà Nguyện

Nhà nguyện được hiểu là một nơi chốn dành vào việc thờ phượng Thiên Chúa, vì lợi ích của một cộng đoàn hay của một nhóm tín hữu quy tụ tại đó, các tín hữu khác cũng có thể vào nhà nguyện ấy với sự chấp thuận của Bề Trên có thẩm quyền (đ.1223).

Để lập nhà nguyện, cần phải có phép của Bản quyền (đ.1223), nghĩa là hoặc Bản quyền sở tại hoặc bề trên thượng cấp của các dòng tu và tu đoàn tông đồ giáo sĩ thuộc luật Toà Thánh. Trước khi ban phép, Bản quyền phải đích thân hoặc cử người khác đến thăm nơi sẽ dành để lập nhà nguyện, xem có thích hợp hay không (đ.1224§1).

Nhà nguyện cần được làm phép theo nghi thức đã chỉ định trong sách phụng vụ. Khi đã được làm phép rồi thì chỉ được dùng vào việc thờ tự Thiên Chúa mà thôi, không được sử dụng vào việc phàm tục nếu không có phép của Bản quyền (x.đ.1229; 1224§2).

5.3. Phòng Nguyện

Phòng nguyện tư được hiểu là một nơi dành riêng cho việc thờ phượng Thiên Chúa, vì lợi ích của một hay nhiều người (đ.1226).

Cũng vậy, để lập phòng nguyện, cần phải có phép của Bản quyền sở tại (đ.1226). Tuy nhiên, luật ban đặc ân cho những vị có chức giám mục được quyền có phòng nguyện, với các quyền lợi như nhà nguyện, nghĩa là có thể mở cửa cho các tín hữu khác vào tham dự việc thờ phượng Thiên Chúa (đ.1227).

Phòng nguyện cũng phải được làm phép theo nghi lễ quy định trong các sách phụng vụ. Sau khi đã làm phép thì phải dành riêng vào việc thờ phượng Thiên Chúa mà thôi, và không được sử dụng vào bất cứ việc gì trong nhà (đ.1229).

6. Một Lưu Ý Nhỏ

Có một vài nơi tại nhà thờ/thánh đường của họ đạo/giáo xứ, người ta để tên cho nhà thờ/giáo xứ là "Họ Đạo A" hoặc là "Giáo Xứ A". Điều nầy không chuẩn lắm. Vì: "Họ đạo/Giáo xứ là một cộng đoàn Kitô hữu trong một Giáo Hội địa phương" (đ.515), nghĩa là gồm một phần dân Chúa trong một lãnh thổ nhất định làm thành một họ đạo/giáo xứ; còn "Nhà thờ/thánh đường được hiểu là một toà nhà thánh, dành riêng cho việc thờ phượng Thiên Chúa" (đ.1214). Cho nên, tại nhà thờ/thánh đường nên được để là "Nhà Thờ Họ Đạo A" hoặc là "Thánh Đường Giáo Xứ A" (nhà thờ/thánh đường không là họ đạo/giáo xứ).

7. Cử Hành Phụng Tự Tại Nơi Thánh (còn tiếp)

TRANG LINH MỤC

Linh Mục Là Như Thế Đó...

Thư một linh mục Công giáo gửi báo The New York Times

Lời người dịch: "Đây là một bài đọc hữu ích để tái lập sự quân bình phần nào so với một sự tấn công dàn dựng của nhiều phương tiện truyền thông. Liệu việc tìm kiếm sự thật không đòi hỏi rằng các thực tại tiêu cực không ngăn cản chúng ta nhìn thấy các thực tại tích cực, khi các thực tại này có thể khuyến khích chúng ta, truyền cảm hứng cho chúng ta làm sự thiện chăng? Nó cũng sẽ là một thuốc chữa cho sự rầu rĩ lan tràn" (www.riposte-catholique.fr).

Nhật báo The New York Times là một tờ báo lâu đời ở Mỹ, nổi tiếng là chống đạo Công giáo một cách có hệ thống. Báo này khai thác, quá nhiều và không công bằng, một vài vụ linh mục ấu dâm ở Mỹ và nơi khác, trong khi không hề đưa tin về tuyệt đại đa số linh mục có tâm huyết với Giáo Hội, hy sinh cuộc đời vì Chúa và vì tha nhân. Do đó linh mục Martín Lasarte, người Uruguay, Dòng Don Bosco (SDB), một nhà truyền giáo ở Angola từ 20 năm qua, đã viết bài dưới đây gửi nhật báo The New York Times ngày 6-4-2010. Dễ hiểu là nhật báo không hề trả lời lá thư của cha. Vài ngày sau, lá thư được đăng trên trang mạng Enfoques Positivos ở Argentina, và phát tán nhanh trên các trang mạng bằng tiếng Tây Ban Nha. Sau đó, bản dịch tiếng Anh được phổ biến ở nhiều nước nói tiếng Anh. Mới đây, bản dịch tiếng Pháp được trang www.riposte-catholique.fr đăng ngày 22-3-2013. Xin được giới thiệu bài viết đầy tính thời sự này.

Anh bạn phóng viên thân mến,

Tôi chỉ là một linh mục Công giáo bình thường. Tôi cảm thấy hạnh phúc và tự hào về ơn gọi của mình. Trong 20 năm qua, tôi đã sống ở Angola với tư cách là một nhà truyền giáo.

Tôi đọc trong nhiều phương tiện truyền thông, đặc biệt là tờ báo của bạn, sự phóng đại của chủ đề linh mục ấu dâm, nhưng một cách bệnh hoạn, vì chỉ tìm kiếm chi tiết trong đời sống các linh mục, các sai lầm trong quá khứ.

Có một trường hợp linh mục ấu dâm, trong một thành phố của Mỹ, trong những năm 1970, một trường hợp ở Úc trong thập niên 1980, và cứ như thế, có trường hợp mới đây hơn.... Chắc chắn rằng tất cả các trường hợp này đáng bị khiển trách!

Có các bài báo được cân nhắc và cân bằng, có các bài khác lại phóng đại, đầy thành kiến và thậm chí hận thù nữa. Tôi tự cảm thấy đau đớn nhiều về sự dữ lớn lao rằng các người đáng lẽ là dấu chỉ của tình yêu Thiên Chúa, lại là con dao găm trong cuộc sống của các người vô tội. Không có từ ngữ nào để biện minh cho các hành vi như vậy. Không có nghi ngờ rằng Giáo Hội phải là đứng về phia kẻ yếu, và người nghèo. Vì lý do này, tất cả các biện pháp mà người ta có thể dùng để ngăn ngừa và bảo vệ nhân phẩm của trẻ em sẽ luôn luôn là một ưu tiên.

Nhưng sẽ là kỳ cục hết sức khi có ít tin tức và sự thiếu quan tâm đến hàng ngàn các linh mục khác, đã hiến đời mình và phục vụ hàng triệu trẻ em, thanh thiếu niên và các người bất hạnh nhất ở bốn phương trời của thế giới.

Tôi nghĩ rằng đối với tờ báo của bạn, các điều sau đây không hề được quan tâm đề nói tới:

1) Tôi phải di chuyển qua các con đường đầy mìn do chiến tranh trong năm 2002, để giúp đỡ các em nhỏ đang chết đói từ Cangumbe đến Lwena (Angola), bởi vì cả chính quyền không thể làm được và cả các tổ chức phi chính phủ không được phép làm;

2) Tôi đã chôn cất hàng chục trẻ em chết do việc dời chỗ vì chiến tranh;

3) Chúng tôi đã cứu sống hàng ngàn người dân ở Mexico, nhờ một trung tâm y tế duy nhất hiện hữu trong một vùng có diện tích 90.000 km2, với việc phân phát thực phẩm và các loại giống cây trồng;

4) Chúng tôi đã có thể cung cấp giáo dục và trường học trong mười năm qua cho hơn 110.000 trẻ em;

5) Cùng với các linh mục khác, chúng tôi đã cứu trợ cho gần 15.000 người ở các trại du kích quân, sau khi họ đã đầu hàng và giao nạp vũ khí, bởi vì thực phẩm của chính phủ và của Liên Hiệp Quốc không thể đến được với họ;

6) Không phải là tin tức thú vị khi một linh mục 75 tuổi, Cha Roberto, rảo qua thành phố Luanda ban đêm, chăm sóc các trẻ em đường phố, dẫn họ đến một nơi trú ngụ, để cho họ không bị ngộ độc bởi xăng dầu mà họ hít để kiếm sống, như là người ném lửa;

7) Việc xoá nạn mù chữ cho hàng trăm tù nhân cũng không phải là tin hay;

8) Các linh mục, như cha Stéphane, tổ chức các nhà tạm trú cho các thanh thiếu niên bị ngược đãi, đánh đập, hãm hiếp, để họ tạm lánh;

9) Linh mục Maiato, 80 tuổi, đến thăm từng ngôi nhà một của người nghèo, an ủi người bệnh và người tuyệt vọng;

10) Không phải là tin hấp dẫn khi hơn 60.000 trong số 400.000 linh mục và tu sĩ hiện nay đã rời đất nước và gia đình của họ để phục vụ anh em mình tại các quốc gia khác trong các trại phong, bệnh viện, trại tị nạn, cô nhi viện cho trẻ em bị cáo buộc là phù thủy, hoặc cho trẻ em mồ côi do cha mẹ chết vì AIDS, trong các trường học dành cho người nghèo nhất, trung tâm dạy nghề, trung tâm tiếp nhận người nhiễm HIV......

11) Nhất là các linh mục dành đời mình trong các giáo xứ và cứ điểm truyền giáo, động viên mọi người sống tốt hơn và nhất là thương mến người khác;

12) Không phải là tin hấp dẫn khi bạn tôi, Cha Marcos Aurelio, để giải cứu trẻ em trong cuộc chiến ở Angola, đã đưa các em từ Kalulo đến Dondo và khi trên đường trở về, cha bị bắn chết; và một tu sĩ tên là Phanxicô và năm nữ giáo lý viên, bị chết trong một tai nạn, khi họ đi giúp đỡ các vùng nông thôn xa xôi hẻo lánh nhất của đất nước;

13) Hàng chục các nhà truyền giáo tại Angola đã chết vì thiếu các phương tiện y tế, chỉ vì bệnh sốt rét đơn giản;

14) Nhiều người khác đã bị tung xác lên trời do mìn nổ, khi đi thăm các tín hữu; quả vậy, trong nghĩa trang ở Kalulo, có mộ các linh mục đầu tiên đến khu vực ấy... không ai sống hơn 40 tuổi cả....;

15) Không phải là tin hấp dẫn, khi một linh mục "bình thường" sống công việc hàng ngày của mình, trong các khó khăn và niềm vui của mình, sống âm thầm cả đời vì lợi ích của cộng đoàn mình phục vụ;

Sự thật, là linh mục chúng tôi không cố gắng để có tên trong tin tức, nhưng chỉ mang "Tin Mừng", và Tin Mừng này, không ồn ào, đã bắt đầu vào buổi sáng Phục Sinh. Một cây ngã gây tiếng ồn nhiều hơn cả cánh rừng đang mọc và phát triển.

Người ta gây nhiều tiếng ồn cho một linh mục phạm một lỗi lầm, hơn là gây tiếng ồn cho hàng ngàn linh mục hiến đời mình cho hàng chục ngàn trẻ em và người nghèo khó.

Tôi không muốn làm một biện hộ cho Giáo Hội và các linh mục.

Một linh mục không phải là một anh hùng, cũng không phải là một người rối loạn thần kinh. Linh mục chỉ là một con người bình thường, và với bản tính con người của mình, tìm cách theo Chúa và phục vụ Ngài trong anh chị em của mình.

Linh mục có nhiều khổ đau, nghèo đói và sự mỏng giòn như các người khác; nhưng linh mục cũng có vẻ đẹp và hùng vĩ như mọi thụ tạo khác.... Việc nhấn mạnh một cách ám ảnh bẩm sinh và phá hoại về một đề tài đau đớn, trong khi mất tầm nhìn chung của công việc, tạo ra thật sự các biếm họa tấn công vào hàng linh mục Công Giáo, do đó tôi cảm thấy bị xúc phạm.

Tôi chỉ yêu cầu anh, người bạn phóng viên thân mến, hãy tìm kiếm Chân, Thiện, Mỹ. Điều này sẽ làm lớn mạnh nghề nghiệp của bạn.

Chào anh trong Đức Kitô,

Linh mục Martin Lasarte, SDB

"Quá khứ của con, Lạy Chúa, con phó thác cho lòng Thương xót của Chúa; hiện tại của con, cho Tình yêu Chúa; và tương lai của con, cho sự Quan Phòng của Chúa".

(www.riposte-catholique.fr ngày 22-3-2013)

Nguyễn Trọng Đa dịch
Nguồn: vietcatholic.net

TRANG TU SĨ

TỪNG BƯỚC THEO NGÀI

Hôm nay Hội Dòng có nghi thức gia nhập cho mười bốn em vào Kỳ Tập, và kết thúc năm Tập Nhặt cho chín em - chuẩn bị công tác phục vụ tông đồ nơi các Họ Đạo trong một năm tới. Nhìn những khuôn mặt trẻ trung đang hồi hộp lẫn nôn nao chờ đợi bài sai đầu tiên cho năm Tập Tông Đồ, làm tôi nhớ lại ngày trước tôi cũng từng đứng ngồi không  yên, lo lắng vì không biết mình sẽ được sai đến nơi nào? Môi trường làm việc ra sao? Khả năng của mình có đủ để đáp ứng cho công tác mới này không?... Thế rồi, chuyện phải đến đã đến, tôi được sai đến phục vụ với một Dì lớn tuổi nơi một Họ Đạo nhỏ ở miền sông nước. Lúc đó điện đớm vẫn chưa có, phương tiện đi lại của người dân là ghe xuồng, thỉnh thoảng mới thấy một vài chiếc xe đạp chạy qua, còn xe Honda thì rất hiếm.

Vì Họ Đạo không có Cha ở nên mọi công việc hằng ngày chúng tôi tự sắp xếp cho phù hợp. Thời gian đầu chưa quen với công việc, tôi thấy sợ và nhớ Hội Dòng nhiều lắm, chỉ mong sao thời gian qua nhanh để về lại Nhà Dòng. Thấy tôi lủi thủi làm việc một mình, dì Tư (dì Trưởng) như hiểu được tâm trạng của "gà con vừa xa mẹ", dì đến gần nhẹ nhàng nói:

- Ngày mai, hai dì cháu mình đi thăm giáo dân nghe. Sẵn tiện cho con làm quen với mọi người và hiểu thêm về đời sống của người dân ở đây.

- Dạ - tôi đáp gọn rồi tiếp tục công việc.

Hôm sau, khi cơm sáng xong, Dì cháu tôi vội vàng vàng làm nhanh công việc rồi "cuốc bộ" đến thăm các gia đình giáo dân. Hôm đó chúng tôi thăm được năm gia đình. Từ gia đình này sang gia đình kia mất khoảng 20 - 30 phút đi bộ. Chiều về đến nhà tôi mệt lã người, chỉ còn muốn đi ngủ thôi nhưng tôi thấy dì Tư như rất vui không có vẻ gì là mệt mỏi. Lúc đó tôi cảm thấy mắc cở xấu hổ vì tuổi trẻ mà sức khỏe không bằng người già. Và còn xấu hổ hơn khi tôi tự biện minh "Dì Tư ở đây lâu năm nên đi quen rồi - còn mình lâu nay không đi bộ xa như vậy bao giờ nên mệt là phải". Với lý luận này tôi cảm thấy dễ chịu tạm thời. Vài hôm sau dì lại gọi tôi:

- Mai mình đi thăm giáo dân nữa nghe. Mỗi tuần chúng ta sẽ đi thăm họ hai lần, con thấy được không?

- Dạ được - tôi ỉu xìu đáp.

Lúc đó thực sự tôi thấy hơi ngán và nghĩ "nếu mình ở nhà thì chắc sẽ làm được nhiều việc hơn". Thế rồi tôi  cũng lại lẽo đẽo theo Dì đến từng nhà thăm hỏi mọi người. Có nhiều trường hợp bỏ đạo lâu năm: người bị rối vì kết hôn với người không Công Giáo mà không có Phép Giao, có người thì có đạo nhưng lâu nay không đến nhà thờ, còn người khác thì vừa vô Đạo niềm tin vẫn còn non yếu...

Đặc biệt nơi đây còn nhiều người chưa biết Chúa nhưng họ lại có cảm tình với các Dì nên Dì Tư muốn nhân cơ hội này đến thăm hỏi - quan tâm và cách nào đó đưa họ đến với Chúa. Tôi thật cảm phục Dì Tư trước những hy sinh và kiên nhẫn để giúp người ta nhận biết Tình Yêu Chúa dành cho họ. Một trong những người mà chúng tôi thường đến thăm là Bà Ba, một bà cụ hơn tám mươi tuổi, đang trong tình trạng rối đạo đã gần sáu mươi năm kể từ ngày bà theo chồng ngoại đạo. Vì mặc cảm xa Chúa lâu năm nên Bà vẫn chưa chịu đến nhà thờ dù chúng tôi đến thăm và động viện Bà rất nhiều năm qua. Cách đó vài ngày trước khi Bà ngã bệnh, Dì Tư và tôi có đến thăm và hỏi Bà nếu muốn trở lại thì chúng tôi sẽ đi rước Cha cho Bà xưng tội và lãnh nhận các Bí Tích sau cùng, nhưng Bà vẫn kiên quyết không chịu và cứ điệp khúc: "Tôi không đáng được Chúa tha". Chúng tôi đã nói với Bà rất nhiều về lòng thương xót Chúa, Chúa đã tha thứ cho Bà rồi nhưng chỉ vì Bà vẫn chưa tha thứ được cho bản thân. Chúng tôi đã cầu nguyện nhiều cho Bà trong các giờ Kinh mong sao Bà có thể nhận ra tình thương của Chúa và trở về với Người, ít nữa là trước khi chết.

Quả là Chúa luôn nhìn thấy và không để ai phải thất vọng khi đặt tin tưởng nơi Người. Trên giường bệnh, Bà Ba đã chảy nước mắt và xin được gặp Cha để xưng tôi và lãnh nhận các Bí Tích sau cùng. Nhìn những giọt nước mắt ăn năn thống hối của Bà đang hòa quyện với giọt nước mắt của hạnh phúc chúng tôi đã không khỏi xúc động. Ngày hôm sau Bà Ba đã bình an về với Chúa. Tôi tưởng tượng giờ đây các thần thánh chắc đang hát mừng vì "một người ăn năn trở lại". Bây giờ tôi mới cảm nghiệm được hạnh phúc của việc đi thăm người khác mà Dì Tư tôi đã từng nếm cảm. Nó không phải là việc làm vô bổ - mất thời gian, nhưng cũng không chỉ là cử chỉ đẹp giữa người với người mà còn là việc thông truyền đức tin cách tích cực và cần thiết.

Thật vậy, thông truyền đức tin là động thái muốn xẻ chia niềm hân hoan vì hồng ân đức tin được nhận lãnh, đức tin tăng trưởng khi được sống như một cảm nghiệm về tình yêu đã nhận lãnh và khi được thông truyền như một kinh nghiệm về ơn thánh và niềm vui. Qua hồng ân này người nhận lãnh gặp gỡ được nguồn tình yêu, gặp gỡ được Đức Giêsu Kitô, Lời yêu thương của Thiên Chúa. Do đó, việc thông truyền đức tin là công việc của từng Kitô hữu, và phải được thực thi từng giây phút trong đời sống với khát vọng giới thiệu Tin Mừng đến với mọi người, để họ gặp được Chúa Giêsu, gặp được ơn cứu độ

MTG Cái Nhum

CHỨNG NHÂN LÀ THẦY DẠY 

Tôi nhớ mãi một chuyến công tác xa nhà, tôi và hai chị nữa phải lưu lại bốn ngày tại một giáo xứ miền cao nguyên. Nơi đây chúng tôi được trú tại nhà xứ vì mỗi tuần linh mục mới đến dâng thánh lễ một lần, còn sáng và chiều thì giáo dân đổ chuông rồi cùng nhau đọc kinh. Họ đến khá đông làm chúng tôi rất ngạc nhiên. Sau giờ kinh chiều, vừa ra khỏi nhà thờ, tôi gặp chị Hòa, một người giáo dân:

- Ở đây, bà con giáo dân sốt sắng quá hả chị!

Chị Hòa cười tươi trong niềm vui của người đạo đức hạnh phúc và tâm sự:

- Tuy vắng Cha, vắng Sơ, chúng con ở đây cứ tập trung, sáng đọc kinh rồi đi rẫy luôn. Mấy đứa nhỏ thì đi học, còn các ông bà không khỏe thì về. Chiều canh giờ đi rẫy về, ở lại đọc Kinh Thương Xót rồi về tới nhà là vừa tối.

Mua một gói mì được người bán quán cho thêm ít rau về nấu làm canh. Các em nhỏ vui chơi suốt buổi mà không nghe tiếng cự cải. Mệt nhừ, mồ hôi chảy đầy mặt mũi vậy mà khi kéo nhau ra phía sau nhà thờ uống nước trong một cái lu to, chúng nó không dành nhau, tuần tự hết đứa nầy rồi tới đứa khác. Khi ngoài sân nhà thờ đã im tiếng từ lâu lắm, ra đóng cổng Nhà thờ và quay trở vào, tôi rất ngỡ ngàng và cảm động khi thấy chúng nó đang quỳ cầu nguyện. Một bầu không khí linh thiêng tràn trên những gương mặt lem luốc đơn sơ. Tôi bước theo sau một em:

- Nhà con ở xa không?

- Dạ, xuống hết cái dốc này là tới nhà của con.

- Vậy, con chơi rồi sao không về liền?

-  Dạ, mẹ con bảo chơi ở nhà thờ, chơi xong, cầu nguyện rồi hãy về.

- Vậy cầu nguyện rồi chiều chúng con có đi đọc kinh nữa không?

- Dạ, con với vài bạn nữa thì có đi, còn các bạn kia thì không đi.

- Vì sao các bạn kia không đi?

- Dạ, các bạn đó chưa có đạo.

Tôi ngạc nhiên:

- Ủa, các bạn đó chưa có đạo mà sao cầu nguyện trong nhà thờ lâu vậy?

- Sơ ơi! các bạn đó thích Chúa lắm, khi đi học hay theo chúng con vào nhà thờ chơi cũng như vô cầu nguyện. Có nhiều nhà ở bên kia mà cũng đi với chúng con vô đây, và ở trường nhiều bạn cũng thích chúng con nữa.

Em vừa nói vừa đưa tay vô cặp rút ra một quyển sách kinh nhỏ, em cho biết các bạn thích đọc những kinh trong sách này lắm, hết bạn nầy mượn rồi đến bạn khác nay sách gần rách rồi.

- Vì con tốt với bạn, nên bạn mới dám mượn phải không?

- Dạ, chúng con hay giúp bạn làm bài, vẽ, hát múa, rồi chúng con kể nhiều chuyện trong họ đạo cho tụi nó nghe. Cả những việc chúng con tổ chức đi đọc kinh từng nhà, cầu kinh cho người mới chết, và nhiều nhiều việc khác nữa. Nhất là nói cho các bạn biết sau khi chết mình sẽ được làm thiên thần, không cần phải cúng. Các bạn thích lắm nên mỗi dịp hè Cha Xứ dạy Giáo lý cho các bạn, các bạn đều có người xin vô đạo.

Việc dạy giáo lý, nói cách khác là thông truyền đức tin, hay còn gọi là huấn giáo đã được chuyển trao từ Thiên Chúa đến các tổ phụ, các ngôn sứ, những vị đại diện trong lịch sử cứu độ; từ tay của người Thầy Giêsu sang tay các Tông Đồ; từ tay người Thầy Giáo Hội sang tay của các giám mục, linh mục, giáo lý viên và cuối cùng là toàn thể các tín hữu. Huấn giáo thật sự là một nhiệm vụ của bất cứ ai có tấm lòng thao thức cho công cuộc loan báo Tin Mừng.

Đây là một mệnh lệnh, một sứ mạng mà người kitô hữu phải tận tâm, tận lực thi hành. Đức Tin là hồng ân đến từ THIÊN CHÚA, nhưng ông bà cha mẹ và các thế hệ cha ông có thể thông truyền Đức Tin cho con cái bằng chính cuộc sống Đức Tin của mình. Trong trường hợp nầy, họ đã giáo dục và thông truyền đức tin bằng chính gương sống, và qua việc giúp đỡ tha nhân. Đức tin đã thấm sâu vào lòng con người qua những việc tuy đơn giản, nhỏ bé, chân thành, qua những con người mộc mạc với những nghĩa cử đơn sơ đượm tình làng nghĩa xóm... 

Niềm tin tuy manh nha, đơn giản nhưng rất căn bản và không kém phần sâu sắc của những đứa bé mộc mạc, quê mùa thật ra là hoa quả của lòng đạo đức sâu xa của các bậc ông bà cha mẹ sống niềm tin cách chân thành, giản dị. Niềm tin ấy nhem nhúm cho con cái qua những lời nhắc nhở, cách sống nhân bản, yêu thương chân thành với mọi người. Nhất là họ biết quy tụ con em đến nhà thờ, hướng dẫn các em cầu nguyện với Chúa cách tự nhiên như con cái sống với cha mẹ cùng những việc làm mang đậm tình bác ái, giúp đỡ bạn bè...

Thật đúng như câu ca dao Việt Nam chúng ta: "Lời nói lung lay, gương bày lôi kéo" và một cách xác quyết hơn, như lời Đức Thánh Cha Phaolô VI đã nói: "Thế giới ngày nay tin vào chứng nhân hơn thầy dạy. Và nếu họ có tin vào thầy dạy là bởi thầy dạy là chứng nhân"

MTG Cái Mơn

TRANG SỐNG ƠN GỌI

CHỌN LỰA ƠN GỌI TRONG CUỘC SỐNG HÔM NAY

Cuộc sống là một chuỗi những chọn lựa, và mỗi người chúng ta ai cũng có những chọn lựa của riêng mình, ai cũng có một hướng đi riêng của mình. Dẫu biết rằng khi đi trên chính con đường mà mình đã chọn lựa có lúc bằng phẳng và cũng lắm khi có khúc gập ghềnh. Nhưng nếu ta không bước đi thử thì làm sao biết được nó bằng phẳng hay gập ghềnh.

Bạn, tôi và tất cả chúng ta, được tạo dựng nên đều có đặc ân riêng của mình. Đặc ân ấy nằm gọn trong một từ duy nhất đó là " Quyền", nghĩa là quyền được sống, được yêu và quyền được tự do chọn lựa bất cứ điều gì mà bạn muốn. Vậy có bao giờ bạn tự hỏi chính mình rằng mọi điều bạn đang sỡ hữu đó phát xuất từ đâu? Bạn đã và làm gì với những gì mà bạn chọn lựa.? Có bao giờ trong sâu thẳm tâm hồn của bạn,bạn nhận ra rằng tất cả những điều thuộc về bạn là một ơn gọi rất ư đặt biệt....? Và nếu có ai đó hỏi bạn rằng " bạn nghĩ gì về ơn gọi trong cuộc sống hôm nay? Nó có giống với những gì mà đang chọn lựa không?

Vậy thì mời bạn cùng tôi chúng ta cùng nghĩ xem những gì mà chúng ta đang có đó có phải là ơn gọi không?

Khi nói đến hai từ "ơn gọi" ta có rất nhiều khía cạnh để hiểu và phân tích. Trước tiên về khía cạnh đời sống Thánh Hiến. Ơn gọi được hiểu đó là một tiếng gọi thiêng liêng mà bạn cảm nhận được trong chính tâm hồn của mình và trong suốt quá trình sống và bạn ước ao được dấn thân theo Đấng đã gọi bạn. Bạn chọn đời sống tu trì, nghĩa là sống độc thân vì nước trời. Cả cuộc đời noi theo gương Đức Giêsu sống dấn thân và phục vụ tất cả mọi người. Khía cạnh thứ hai đó là ơn gọi sống đời sống hôn nhân: nghĩa là người nam và người nữ liên kết với nhau bằng một sợi dây bất khả phân ly đó chính là Thiên Chúa. Ngài chính là tình yêu và là lẽ sống. Từ mối dây ấy hai người sống với nhau, sống cho nhau, và sống vì nhau. Dĩ nhiên là phải có tình yêu, đó là điều kiện cần và đủ để làm nên ơn gọi đời sống hôn nhân

Ơn gọi theo một khía cạnh khác đó là ơn của những người mang một khát vọng cao xa và vĩ đại hơn, khi họ cho rằng họ phải hòa nhập vào thế giới khi tham gia công tác từ thiện, hay một tổ chức nào đó mang tính hướng thiện. Họ nghĩ rằng họ thích hợp với ơn gọi ấy vì có thể hòa mình vào sự phát triển của nhân loại, nơi đó họ có thể cúi xuống để đồng cảm, để cảm thông, để chia sẻ và làm vơi dịu đi một phần nào đó nỗi đau mà những con người bị xã hội lãng quên......
Và còn rất nhiều ....rất nhiều ơn gọi khác. Mỗi một ơn gọi có một ưu điểm riêng của mình, ơn gọi nào cũng có ích cho bản thân và phục vụ cho ích lợi của mọi người. Nếu như bạn cho rằng điều đó là đúng.

Nhưng nhìn vào thực tế của cuộc sống, những điều mà chúng ta cho là tốt đẹp đó thật không dễ dàng gì có thể thực hiện hay chấp nhận được. Chúng ta không cần nhìn đâu xa xôi, ngay trên đất nước Việt Nam của chúng ta đã có quá nhiều thách đố rồi. Đặc biệt là đối với các bạn trẻ, việc định hướng ơn gọi và tìm ra hướng đi cho riêng mình là điều không dể dàng gì, bởi vì xung quanh có quá nhiều tác động.

Tác động từ môi trường gia đình, từ sự áp đặt của Cha Mẹ, từ cái gọi là truyền thống tổ tiên....với quan niệm cha mẹ đặt đâu con ngồi đó,hay vì danh dự gia đình ...khiến con cái mất tự do hay ỷ lại gia đình, nên không thể tự mình xác định điều gì mà mình mong muốn. Không biết chọn con đường nào cho phù hợp.

Tác động trong môi trường học đường với bạn tốt, bạn xấu lẫn lộn vào nhau cũng không ít nhiều chịu ảnh hưởng. Rồi tác động của xã hội, khi mà các phương tiện truyền thông ngày càng phát triển mạnh mẽ, bên cạnh đó xuất hiện nhiều hình thức mang tính không lành mạnh, dễ dàng lôi kéo chúng ta, đôi khi nó khiến chúng ta hoang mang và lâm vào tình trạng bế tắc, và mất phương hướng. Mặc khác sự giàu nghèo trong xã hội cũng khiến chúng ta khó chọn lựa ơn gọi và con đường đi của riêng mình.

Vậy thì để làm gì chúng ta có thể nhận ra và khẳng định một cách chắc chắn rằng chúng ta thuộc về hay thích hợp với ơn gọi này hay ơn gọi kia và xem đó là một hướng đi đúng đắn cho cuộc đời mình? Có ai đó đã từng nói rằng " Bạn chỉ có ước mơ mà không chịu bắt tay vào thực hiện, thì ước mơ ấy chỉ là viễn vông và sẽ chẳng bao giờ thực hiện được."Ơn gọi cũng vậy, nó là tiếng nói rất riêng nhưng nếu ta không chú ý, không lắng nghe thì ta sẽ chẳng bao giờ nhận ra nó. Bạn có ước mơ thì hẳn bạn sẽ biết mình sẽ phải làm gì để thực hiện được nó, trước tiên bạn phải luôn tự hỏi mình " Bản thân tôi đang mong muốn điều gì? điều ấy có ích hay không cho chính bản thân tôi và cho mọi người xung quanh tôi? Và điều quan trong là phải suy nghĩ thật kỹ tôi có thực sự hạnh phúc khi chọn lựa ơn gọi ấy?".

Lẽ dĩ nhiên khi bạn chọn ơn gọi riêng của mình bạn sẽ gặp không ít chướng ngại vật, những khó khăn và thử thách. Nhưng không sao bạn cứ tự tin vào chính mình, tin vào những gì mình đã chọn lựa. Hãy can đảm hành động kỳ được ước mơ của cuộc đời mình. Tôi cũng đã từng trải qua một thời gian khi tranh đấu với bản thân để lựa chọn ơn gọi của riêng mình, tôi cũng gặp khó khăn và cản trở từ nhiều phía, nhưng tôi luôn tin vào chính mình, tin vào lý tưởng mà tôi chọn lựa và cuối cùng tôi quyết định chọn ơn gọi " sống đời Thánh Hiến". Trải qua biết bao nhiêu thăng trầm, dù có lúc tưởng chừng như muốn bỏ cuộc.Nhưng có Đấng mà tôi đã chọn lựa luôn ở bên tôi và tôi có thêm nghị lực để vượt qua. Tới bây giờ tôi vẫn không hối hận vì đã chọn lựa ơn gọi nay.

Tuổi trẻ là tuổi của ước mơ và nhiều đam mê, tuổi của những ước vọng lớn hơn cả bầu trời. Vậy thì hãy can đảm lên bạn nhé, hãy tự tin chọn lựa ơn gọi của chính mình. Vì khi bạn chọn lựa ơn gọi phù hợp với chính mình thì lúc đó bạn đang chọn hướng đi đúng và cánh cửa cuộc đời luôn rộng mở để đón bạn.

Chúc bạn, tôi và tất cả chúng ta luôn tìm được niềm vui và sự bình an trong việc chọn lựa "ơn gọi" và sống như những gì mà tất cả chúng ta đã chọn lựa.

Mến chào bạn...!

Hoa Trạng Nguyên
Nguồn: huynhtruong.dmhcg.net

TRANG THIẾU NHI

CHIA SẺ HỒNG ÂN ĐỨC TIN

"Không ai cho cái mình không có". Có lẽ đây cũng là một trong những quy luật của cuộc sống. Con người ta cố gắng làm cho mình được sở hữu càng nhiều thứ càng tốt. Nhưng nếu người ta chỉ biết giữ lấy tất cả những gì mình sở hữu được cho riêng mình thì càng ngày người ta sẽ tự nghèo nàn hóa chính bản thân mình. Do vậy, khi người ta biết đem chia sẻ cho anh chị em những gì mình có thì họ sẽ tự làm phong phú hóa đời sống của mình.

Đức tin là một hồng ân vô giá mà người kitô hữu được đón nhận ngày lãnh nhận Bí tích Rửa tội. Nhờ có đức tin mà người kitô hữu biết được ý nghĩa đời sống của mình: biết mình từ đâu mà đến, sống ở đời này để làm gì và sẽ đi về đâu sau cuộc sống tại thế này.

Nhờ đức tin người ki tô nhận biết được Đấng mình tôn thờ là Cha và họ được mời gọi sống tâm tình con thảo với Ngài.

Nhờ đức tin người kitô hữu biết sống đúng lương tâm của mình theo sự hướng dẫn của Chúa và của Giáo hội. Vì họ tin rằng tất cả những việc làm của họ đều dưới ánh mắt của Chúa.

Nhờ đức tin người kitô hữu sẽ không xem của cải vật chất đời này là cứu cánh đời mình mà chúng chỉ là phương tiện giúp họ đạt tới cứu cánh đời mình là Thiên Chúa.

Nhờ đức tin người kitô hữu biết mình còn có phần rỗi linh hồn ở đời sau. Đời sau sẽ đời đời và vĩnh viễn. Lương thực quý giá nuôi sống phần linh hồn ở đời này chính là Mình và Máu Chúa Giêsu cũng như những Lời dạy của Chúa Giêsu trong Tin mừng.

Nhờ đức tin người kitô hữu biết tôn trọng và gìn giữ đời sống hôn nhân gia đình một vợ một chồng cho đến hơi thở cuối cùng. Vì họ được dạy đời sống hôn nhân gia đình do chính Thiên Chúa thiết lập nên con người khi đã kết hôn thành sự và hợp pháp thì không có lý do gì để ly dị nhau.

Cũng nhờ đức tin mà người kitô hữu biết tôn trọng nhau và xem nhau như anh chị em. Vì tất cả con người đều là hình ảnh Thiên Chúa Cha và là đền thờ Chúa Thánh Thần và tất cả con người đều là con của Cha trên trời.

Tất cả những điều này người kitô hữu đã có được nhờ đức tin. Vậy ta hãy sống tích cực những gì mình được lãnh nhận. Đó là cách thức ta chia sẻ hồng ân đức tin cho những anh chị em xung quanh.

TRANG GIỚI TRẺ

THÁNH LỄ KHAI MẠC SỨ VỤ PHÊRÔ CỦA ĐTC PHANXICÔ
Tại Quảng Trường Thánh Phê-rô 19/3/2013

VATICAN. 200 ngàn tín hữu cùng với đại diện chính quyền 132 quốc gia cũng như nhiều phái đoàn các Giáo Hội Kitô và liên tôn đã tham dự thánh lễ khai mạc sứ vụ Phêrô của ĐTC Phanxicô từ lúc 9.30 sáng ngày 19-3-2013 tại Quảng trường Thánh Phêrô.

Lúc 8 giờ 45, ĐTC Phanxicô đã đi trên chiếc xe díp màu trắng, mui trần, không có kiếng chắn đạn, tiến ra Quảng trường thánh Phêrô. Ngài tiến qua các lối đi để chào thăm các tín hữu, reo vui, vẫy cờ quốc gia của họ. Có một lúc ĐTC truyền dừng xe lại, ngài xuống xe ôm hôn một người khuyết tật, và những lúc khác, ngài ôm hôn các em bé do các nhân viên an ninh bế lên ngài.

Trước thánh lễ, lúc 9 giờ 20 phút, ĐTC đã xuống hầm dưới bàn thờ chính của Đền Thờ Thánh Phêrô và đến trước mộ của Thánh Tông Đồ trưởng. Tại đây, cùng với 10 thủ lãnh các Giáo hội Công Giáo nghi lễ Đông Phương, trong đó có 4 vị Thượng Phụ Giáo Chủ, 4 vị Tổng Giám Mục trưởng, trong số này 4 vị là Hồng Y, ngài cầu nguyện và xông hương trên mộ Thánh Nhân. Từ mộ thánh Phêrô, hai thầy Phó tế đã lấy hai chiếc đĩa: một đựng dây Pallium và một đựng nhẫn Ngư Phủ của ĐTC, để tháp tùng ngài trong đoàn rước tiến ra lễ đài trên thềm đền thờ thánh Phêrô.

Thành phần tham dự

Đi trước ĐTC trong đoàn rước là 180 vị đồng tế, hầu hết là các Hồng Y, trong phẩm phục màu trắng vàng, trong khi ca đoàn Sistina của Tòa Thánh hát kinh cầu các Thánh xin các vị phù giúp Đức tân Giáo Hoàng.

Trong đoàn đồng tế, đặc biệt cũng có 2 LM đó là Cha José Rodriguez Carballo người Mêhicô, và Cha Aldolfo Nicolás Pachón, người Tây Ban Nha, Bề trên Tổng quyền dòng Tên. Hai vị được mời đồng tế trong tư cách là Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hiệp Hội các Bề trên Tổng quyền dòng nam.

Việc giúp lễ do 15 tu sĩ Phanxicô thuộc Đền thánh La Verna ở miền trung Italia, nơi thánh Phanxicô Assisi nhận 5 dấu thánh, đảm trách với sự phụ giúp của 4 thầy thuộc dòng Phanxicô Viện Tu ở Roma. Phần thánh ca trong buổi lễ do Ca đoàn Sistina của Tòa Thánh gồm 65 ca viên do Nhạc trưởng là Đức ông Massimo Palombella điều khiển, cộng thêm với Ca đoàn tổng hợp gồm 80 ca viên.

Bên trái bàn thờ là 200 GM và 33 phái đoàn của các Giáo Hội Kitô anh em, đứng đầu là Đức Thượng Phụ Bartolomaios I, Giáo Chủ Chính Thống Constantinople bên Thổ Nhĩ Kỳ, và cũng được coi là vị thủ lãnh danh dự chung của toàn Chính Thống giáo. Các vị lãnh đạo các Giáo Hội Tin Lành, Hội đồng đại kết các Giáo Hội Kitô, và cả thầy Alois Loeser, tu viện trưởng tu viện Đại kết Taizé bên Pháp.

Cũng ở bên trái nhưng xuống phía trước bàn thờ là phái đoàn của các tôn giáo bạn, từ Do thái giáo, Phật giáo, Hồi giáo, đạo Sikh, Jaina và Ấn Giáo. Sau đó là 1.200 LM và chủng sinh.

Bên hông phải bàn thờ là chỗ dành cho 132 phái đoàn chính thức của các nước, đứng đầu là Tổng thống Cộng hòa Italia, ông Giorgio Napolitano, Bà Tổng thống Cristina Fernández de Kirchner của Argentina, 6 vị vua, 32 vị Tổng thống, 3 thái tử, phần còn lại là các thủ tướng chính phủ, phu nhân Tổng thống, hoặc Phó tổng thống, trong đó có Ông Joseph Biden của Hoa Kỳ.

Chính quyền thành Roma đã bố trí một số màn hình khổng lồ tại khu vực quảng trường Thánh Phêrô và đường Hòa Giải để dân chúng có thể tham dự thánh lễ.

ĐTC tiến ra lễ đài trước sự vỗ tay vang dội của mọi người. Nhiều lá cờ quốc gia cũng được các tín hữu phất lên, dưới bầu trời đẹp.

Nghi thức nhận dây Pallium và nhẫn Ngư Phủ

Nghi thức khai mạc sứ vụ Phêrô, theo qui định của ĐTC Biển Đức 16, nay được cử hành liền trước thánh lễ, vì không phải là bí tích. Nghi thức này gồm phần trao dây Pallium Giáo Hoàng và trao nhẫn Ngư Phủ.

Dây Pallium được trao cho ĐTC là dây làm bằng lông chiên màu trắng, có 6 hình Thánh Giá màu đỏ, khi được đeo vào cổ, có một phần dài ở phía trước ngực và một phần dài ở sau lưng. Đây là biểu hiệu cổ kính nhất của Giám Mục. Simeon thành Tessalonica viết: "Dây Pallium chỉ Chúa Cứu Thế khi gặp chúng ta như chiên lạc đàn, Ngài vác lên vai, và khi nhận lấy nhân tính con người trong cuộc nhập thể, Ngài thần hóa nhân tính ấy bằng cái chết của Ngài trên Thánh Giá, Ngài dâng chúng ta cho Chúa Cha, và qua cuộc phục sinh, Ngài nâng chúng ta lên cao".

Vì thế dây Pallium nhắc nhớ vị Mục Tử nhân lành (cf Ga 10,11), vác trên vai con chiên lạc (cf Lc 15,4-7), và 3 câu trả lời yêu mến đáp lại 3 câu Chúa Giêsu Phục Sinh hỏi thánh Phêrô, và Chúa dạy thánh nhân hãy chăn các con chiên con và chiên mẹ của Ngài (cf Ga 21,15-17).

3 vị Hồng Y là Angelo Sodano, niên trưởng HY đoàn, trưởng đẳng GM, ĐHY Godfried Danneels, nguyên TGM Bruxelles bên Bỉ, trưởng đẳng HY Linh Mục, và ĐHY Jean Louis Tauran, người Pháp, trưởng đẳng HY Phó tế lần lượt tiến lên trước mặt ĐTC. ĐHY Tauran cầu xin Thiên Chúa của hòa bình ban cho ĐGH dây Pallium đã lấy từ bàn thờ tuyên xưng đức tin của Thánh Phêrô Tông Đồ, là Đấng mà Mục Tử nhân lành đã truyền chăn dắt các chiên con và chiên mẹ của Ngài, và ngày hôm nay ĐTC kế vị thánh nhân. Xin Thánh Thần Chân Lý ban ơn soi sáng và phân định cho sứ vụ của ĐTC củng cố các anh em trong đức tin duy nhất.

Rồi ĐHY trưởng đẳng Phó tế tiến lên đeo dây Pallium vào cổ Đức tân Giáo Hoàng, tiếp đến ĐHY trưởng đẳng LM Danneels kết thúc với lời nguyện: "xin Thiên Chúa chúc lành và củng cố ơn Thánh Linh để sứ vụ của Đức tân Giáo Hoàng tương ứng với sự cao cả của đoàn sủng mà Chúa đã ban cho Người."

Sau đó là nghi thức trao nhẫn Ngư Phủ. Ngay từ ngàn năm thứ I, nhẫn là biểu hiệu riêng của Giám Mục. Chiếc nhẫn Ngư Phủ được trao cho ĐTC Phanxiô bằng bạc có hình thánh Phêrô đang cầm chìa khóa, có nghĩa đó là nhẫn chứng thực thực đức tin và nói lên nghĩa vụ được ủy thác cho thánh Phêrô là củng cố các anh em mình (cf Luca 22,32). Nhẫn này được gọi là Nhẫn Ngư Phủ vì thánh Phêrô là Tông Đồ Ngư Phủ (cf Mathêu 4,18-19). Sau khi tin vào lời Chúa Giêsu (cf Luca 5,5), thánh nhân đã thả lưới và kéo vào bờ mẻ cá lạ lùng (cf. Gioan 21,3-14).

ĐHY Angelo Sodano, trưởng đẳng GM, nói: "Kính thưa Đức Thánh Cha, chính Chúa Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống, là Mục tử và là Giám mục của các linh hồn chúng ta, Đấng đã xây dựng Giáo Hội trên đá tảng, ban cho ĐTC Nhẫn này, ấn tín của Thánh Phêrô Ngư Phủ, Người đã sống niềm hy vọng trên biển Tiberiade và Chúa đã trao cho Người chìa khóa nước trời. Ngày hôm nay, ĐTC kế vị Thánh Phêrô trong Giám mục đoàn của Giáo Hội này, làm đầu trong tình hiệp thông hiệp nhất theo giáo huấn của Thánh Phaolô Tông Đồ. Xin Thánh Thần tình yêu được phú vào tâm hồn chúng ta làm cho ĐTC được tràn đầy sức mạnh và sự dịu dàng để giữ gìn các tín hữu Chúa Kitô, qua sứ vụ của ĐTC, trong sự hiệp thông duy nhất".

Rồi ĐHY Sodano trao Nhẫn Ngư Phủ cho ĐTC, giữa tiếng vỗ tay vang dội của cộng đoàn.

Tiếp đến là nghi thức tuân phục. Hồi ĐGH Biển Đức 16 khai mạc sứ vụ, ngoài các Hồng y còn có các đại diện LM, tu sĩ nam nữ và giáo dân, tổng cộng là 12 người, nhưng lần này chỉ có 6 HY đại diện, mỗi đẳng GM, LM và Phó tế 2 vị. Hai vị đứng đầu là ĐHY Giovanni Battista Re và ĐHY Bertone.

Trong nghi thức này không có đại diện LM, tu sĩ nam nữ và giáo dân vì họ sẽ cử hành nghi thức tuân phục trong buổi lễ ĐTC Phanxicô sẽ cử hành trong mùa Phục Sinh khi đến nhận Nhà thờ chính tòa giáo phận Roma của ngài là Đền thờ thánh Gioan Laterano.

Thánh lễ kính Thánh Giuse với kinh nguyện và các bài đọc đi kèm bắt đầu sau nghi thức nhận Pallium và nhẫn Ngư Phủ của ĐTC.

Bài Tin Mừng được hát bằng tiếng Hy Lạp kể lại sự tích thánh Giuse sau khi thấy Đức Maria có thai, thì toan tính âm thầm bỏ rơi Người, nhưng đã được Sứ thần Chúa hiện ra trong giấc mộng và dạy hãy đón nhận Đức Maria về nhà mình.

Bài giảng của ĐTC

Anh chị em thân mến,

Tôi cảm tạ Chúa vì được cử hành Thánh Lễ này, khai mạc sứ vụ Phêrô trong ngày lễ trọng kính Thánh Giuse, Hôn Phu của Đức Trinh Nữ Maria, và là Bổn Mạng của Giáo Hội: đây là một dịp trùng hợp đầy ý nghĩa và cũng là lễ bổn mạng của Vị Tiền Nhiệm Đáng Kính của tôi: chúng ta gần gũi ngài trong kinh nguyện, đầy lòng quí mến và biết ơn (vỗ tay).

Tôi thân ái chào các anh em Hồng y và Giám Mục, các linh mục, phó tế, tu sĩ nam nữ và tất cả anh chị em giáo dân. Tôi cám ơn các đại diện của các Giáo Hội và Cộng đoàn Giáo Hội khác hiện diện nơi đây cũng như các đại diện của cộng đồng Do thái và các cộng đồng tôn giáo khác. Tôi gửi lời chào nồng nhiệt đến các vị Quốc trưởng và Thủ tướng chính phủ, các phái đoàn chính thức của bao nhiêu nước trên thế giới và ngoại giao đoàn.

Chúng ta đã nghe trong Tin Mừng rằng "Giuse làm như Thiên Thần Chúa đã truyền và đón nhận hiền thê của mình" (Mt 1,24). Trong những lời này có gồm tóm sứ mạng mà Thiên Chúa ủy thác cho Giuse, sứ mạng làm người canh giữ. Nhưng canh giữ ai? Thưa là canh giữ Mẹ Maria và Chúa Giêsu, nhưng đó là một sự canh giữ được nới rộng cho toàn thể Giáo Hội, như Chân phước Gioan Phaolô 2 đã nhấn mạnh: "Thánh Giuse, vì yêu thương chăm sóc Mẹ Maria và vui mừng tận tụy giáo dục Đức Giêsu Kitô, như thế Ngài cũng giữ gìn và bảo vệ nhiệm thể của Ngài là Giáo Hội, mà Đức Thánh Trinh Nữ là hình ảnh và gương mẫu" (Tông Huấn Redemptoris Custos, 1).

Thánh Giuse thi hành công việc canh giữ ấy như thế nào? Thưa một cách kín đáo, khiêm tốn, trong thinh lặng, nhưng với một sự hiện diện liên lỷ và trung tín hoàn toàn, cả khi Ngài không hiểu. Từ khi kết hôn với Mẹ Maria cho đến biến cố Chúa Giêsu 12 tuổi tại Đền thờ Jerusalem, Ngài ân cần yêu thương đồng hành trong mọi lúc. Ngài ở cạnh Maria Hiền thê của Ngài trong những lúc thanh thản cũng như trong những lúc khó khăn của cuộc sống, trong hành trình đi Bêlem để kiểm tra dân số, và trong những giờ hồi hộp và vui mừng của cuộc sinh hạ; trong lúc bi thảm tị nạn sang Ai Cập và trong cuộc vất vả tìm con tại Đền Thờ; và rồi trong cuộc sống hằng ngày tại nhà Nazareth, trong phòng làm việc nơi thánh nhân đã dạy nghề cho Chúa Giêsu.

Thánh Giuse đã sống ơn gọi gìn giữ Mẹ Maria, Chúa Giêsu và Giáo Hội như thế nào? Thưa trong sự luôn quan tâm để ý tới Thiên Chúa, cởi mở đối với những dấu hiệu của Chúa, sẵn sàng đối với dự phóng của Chúa, không phải tới điều riêng của mình, nhưng điều mà Thiên Chúa yêu cầu Vua Davít, như chúng ta đã nghe trong bài đọc thứ I; Thiên Chúa không mong ước một nhà do con người làm ra, nhưng Chúa muốn lòng trung thành với Lời Ngài, với kế hoạch của Ngài; và chính Thiên Chúa xây dựng căn nhà, nhưng bằng những viên đá sống động nhờ Thánh Thần của Ngài. Và thánh Giuse là người "canh giữ", vì Ngài biết lắng nghe Thiên Chúa, để cho thánh ý Chúa hướng dẫn, và chính vì thế thánh nhân càng nhạy cảm hơn đối với những người được ủy thác cho Ngài, biết đọc các biến cố một cách thực tế, chú ý đến những gì ở chung quanh và biết đưa ra những quyết định khôn ngoan hơn. Các bạn thân mến, chúng ta thấy thánh Giuse đáp ứng ơn gọi của Chúa như thế nào, với thái độ sẵn sàng, mau mắn, nhưng chúng ta cũng thấy đâu là trung tâm điểm ơn gọi Kitô, là chính Chúa Kitô! Chúng ta hãy gìn giữ Chúa Kitô trong đời sống chúng ta, để giữ gìn những người khác, để giữ gìn thiên nhiên, công trình sáng tạo.

"Nhưng ơn gọi của người canh giữ không phải chỉ liên hệ đến các tín hữu Kitô chúng ta mà thôi, nhưng còn có một chiều kích đi trước và nhân bản, liên hệ tới tất cả mọi người. Đó là việc bảo tồn toàn thể thiên nhiên, vẻ đẹp của công trình tạo dựng, như được trình bày cho chúng ta trong Sách Sáng Thế và như thánh Phanxicô Assisi đã chỉ cho chúng ta; đó là tôn trọng đối với mỗi thụ tạo của Thiên Chúa và môi trường trong đó chúng ta sinh sống. Đó là giữ gìn con người, chăm sóc tất cả mọi người, mỗi người, với tình yêu thương, đặc biệt là các trẻ em, người già, những người yếu đuối hơn và thường ở ngoài lề tâm hồn chúng ta. Đó là chăm sóc lẫn nhau trong gia đình: vợ chồng gìn giữ nhau, và trong tư cách là cha mẹ, họ chăm sóc con cái, rồi với thời gian cả con cái cũng trở thành những người gìn giữ cha mẹ. Đó là sống những tình bạn chân thành, là một sự gìn giữ nhau trong sự tín nhiệm, trong sự tôn trọng và trong thiện ích. Xét cho cùng, tất cả đều được ủy thác cho sự gìn giữ của con người, và đó là một trách nhiệm liên hệ tới tất cả chúng ta. Anh chị em hãy trở thành những người gìn giữ hồng ân của Thiên Chúa.

"Và khi con người thiếu sót trách nhiệm của mình, khi chúng ta không chăm sóc công trình tạo dựng và các anh chị em chúng ta, thì khi ấy xảy ra sự tàn phá và con tim trở nên chai đá. Rất tiếc là trong mỗi thời đại, đều có những "vua Hêrôđê" đề ra những mưu đồ chết chóc, hủy hoại và bóp méo khuôn mặt của con người nam nữ.

Tôi muốn xin tất cả những người đang nắm giữ các vai trò trách nhiệm trong lãnh vực kinh tế, chính trị hoặc xã hội, tất cả những người thiện chí: "Chúng ta hãy trở thành những người gìn giữ công trình tạo dựng, gìn giữ kế hoạch của Thiên Chúa được ghi khắc trong thiên nhiên, giữ gìn tha nhân, môi sinh; chúng ta đừng để cho những dấu hiệu tàn phá và chết chóc tháp tùng hành trình của thế giới chúng ta! Nhưng để "gìn giữ" thì chúng ta cũng phải chăm sóc chính mình! Chúng ta hãy nhớ rằng oán ghét, ghen tương, kiêu ngạo làm cho cuộc sống bị nhơ bẩn! Gìn giữ có nghĩa là canh chừng những tâm tình chúng ta, con tim chúng ta, vì chính từ đó nảy sinh những ý hướng tốt hay xấu: những ý hướng xây dựng và những ý hướng hủy hoại! Chúng ta không được sợ sự tốt lành, và cũng đừng sợ sự dịu dàng!

"Và ở đây, tôi muốn ghi nhận thêm điều này: chăm sóc, giữ gìn, đòi phải có sự tốt lành, đòi phải được sống với sự dịu dàng. Trong các sách Phúc Âm, thánh Giuse xuất hiện như một người mạnh mẽ, can đảm, chuyên cần làm việc, nhưng trong tâm hồn Ngài trổi vượt một sự rất dịu dàng, đây không phải là đức tính của kẻ yếu, trái lại, nó chứng tỏ một tâm hồn mạnh mẽ và có khả năng chú ý, cảm thương, thực sự cởi mở đối với tha nhân, yêu thương. Chúng ta không được sợ sự tốt lành và dịu dàng!

"Ngày nay, cùng với lễ Thánh Giuse, chúng ta cử hành khởi đầu sứ vụ của tân GM Roma, người Kế Vị Thánh Phêrô, cũng bao gồm một quyền bính. Dĩ nhiên Chúa Giêsu Kitô đã ban quyền cho thánh Phêrô, nhưng đó là quyền bính gì thế? Sau ba câu Chúa Giêsu hỏi thánh Phêrô về tình yêu, có 3 lời mời gọi: hãy chăn các chiên con, hãy chăn giắt các chiên mẹ của Thầy. Chúng ta không bao giờ được quên rằng quyền bính đích thực là phục vụ và cả Giáo Hoàng, để thi hành quyền bính này, ngày càng phải tiến sâu hơn vào việc phục vụ ấy, việc phục vụ có tột đỉnh sáng ngời trên Thập Giá; Giáo Hoàng phải nhìn đến sự phục vụ khiêm tốn, cụ thể, đầy đức tin, của thánh Giuse và như thánh nhân, mở rộng vòng tay để giữ gìn toàn thể Dân Chúa và yêu thương, dịu dàng, đón nhận toàn thể nhân loại, nhất là những người nghèo nhất, yếu đuối nhất, những người nhỏ bé nhất, những người mà thánh Mathêu mô tả trong cuộc phán xét chung về đức bác ái: những người đói, khát, ngoại kiều, người trần trụi, bệnh nhân, tù nhân (Xc Mt 25,31-46). Chỉ những ai phục vụ với lòng yêu mến mới biết giữ gìn!

Trong bài đọc thứ hai, Thánh Phaolô nói về Abraham, người "đã tin, kiêm vững trong niềm hy vọng bất chấp mọi nghịch cảnh" (Rm 4.18). Kiên vững trong niềm hy vọng, bất chấp mọi nghịch cảnh! Cả ngày nay, đứng trước bao nhiêu chân trời đen xám, chúng ta cần thấy ánh sáng hy vọng và chính chúng ta trao ban hy vọng. Giữ gìn công trình tạo dựng, mỗi người nam nữ, với cái nhìn dịu dàng và yêu thương, đó chính là mở rộng chân trời hy vọng, là mở ra một luồng sáng giữa bao nhiêu mây mù, là mang sức nóng hy vọng! Và đối với tín hữu, đối với các tín hữu Kitô chúng ta, như Abraham, như thánh Giuse, niềm hy vọng mà chúng ta mang có chân trời của Thiên Chúa được mở rộng cho chúng ta trong Chúa Kitô, được xây dựng trên đá tảng là Thiên Chúa.

"Giữ gìn Chúa Giêsu với Mẹ Maria, giữ gìn toàn thể công trình sáng tạo, giữ gìn mỗi người, đặc biệt là người nghèo nhất, giữ gìn chính chúng ta; đó là một công tác phục vụ mà Giám Mục Roma được kêu gọi chu toàn, nhưng đó cũng là ơn gọi mà tất cả chúng ta được mời gọi làm cho ngôi sao hy vọng được chiếu sáng rạng ngời: Chúng ta hãy gìn giữ với lòng yêu mến điều Thiên Chúa đã ban cho chúng ta!

"Tôi cầu khẩn sự chuyển cầu của Đức Trinh Nữ Maria, của Thánh Giuse, của thánh Phêrô và Phaolô, thánh Phanxicô, xin Chúa Thánh Linh tháp tùng sứ vụ của tôi, và tôi nói với tất cả anh chị em rằng: xin cầu nguyện cho tôi! Amen

Các ý nguyện

Bài giảng của ĐTC bị ngắt quãng nhiều lần vì những tiếng vỗ tay của các tín hữu, lần đầu khi ngài chúc mừng lễ Bổn mạng của Vị Tiền nhiệm và mời gọi các tín hữu cầu nguyện cho Người.

Trong phần lời nguyện phổ quát, đã có 5 ý nguyện được xướng lên là tiếng Nga, Pháp, Arap, Swahili bên Phi châu và tiếng Hoa, lần lượt cầu cho Giáo Hội: Xin Thiên Chúa toàn năng nâng đỡ mọi người, các mục tử và tín hữu, sống tuân phục vô điều kiện đối với Tin Mừng; xin Chúa gìn giữ ĐGH Phanxicô trong việc thi hành sứ vụ của Người Kế Nhiệm Thánh Phêrô và Chủ Chăn của toàn thể Giáo hội; cầu cho các người cầm quyền: xin Chúa soi sáng tâm trí và hướng dẫn họ trong việc xây dựng nền văn minh tình thương; cầu cho những người nghèo khổ trên trái đất: xin Chúa bồi dưỡng, an ủi và ban cho họ niềm hy vọng nhờ lòng bác ái của các tín hữu Kitô; sau cùng là cầu cho gia đình của Thiên Chúa đang tụ họp trong thánh lễ: xin Chúa biến đổi cuộc sống của tất cả các tín hữu nên giống Chúa Giêsu.

Để rút ngắn thời gian buổi lễ, không có phần tiến dâng lễ vật, và ĐTC cũng không đích thân cho rước lễ, nhưng một thầy Phó tế đã làm thay. Trong khi đó có 500 LM mang Mình Thánh Chúa phân phát cho các tín hữu tại khu vực hành lễ. Sau thánh lễ, ở bên trong Đền thờ Thánh Thánh Phêrô, ĐTC đã chào thăm các vị thủ lãnh của 132 phái đoàn chính thức do chính phủ các nước gửi đến dự lễ. Bắt đầu là bà tổng thống Cristina Kirchner của Argentina và tổng thống Giorgio Napolitano của Italia.

Lễ khai mạc sứ vụ của ĐTC kéo dài gần 2 tiếng đồng hồ và được nhiều tín hữu trên thế giới theo dõi qua truyền hình.

G. Trần Đức Anh OP

Nguồn: vietcatholic.net

TRANG GIA ĐÌNH

BÀI 12. HOÀ HỢP VỢ CHỒNG: SỰ KHÁC BIỆT GIỮA NAM VÀ NỮ

"Anh em hãy hết lòng khiêm tốn, hiền hậu, nhẫn nại, chịu đựng nhau trong đức ái; hãy lo bảo vệ sự hợp nhất do Thần khí mang lại, lấy bình an hoà thuận làm giây ràng buộc."  (Ep 4, 2-3)

Thiên Chúa dựng nên con người có nam có nữ[1]. Tự bản chất, nam và nữ khác biệt nhau không chỉ về vóc dáng bên ngoài, mà còn về tâm tính, cũng như cách cảm nhận và hành động.

Giới tính ảnh hưởng trên toàn bộ con người, đặc biệt liên quan đến đời sống tình cảm, khả năng yêu thương, truyền sinh, và một cách tổng quát hơn, liên quan đến năng lực thực hiện những quan hệ hiệp thông với người khác[2].

Mỗi người, nam cũng như nữ, phải nhận ra và chấp nhận giới tính của mình. Sự khác biệt và bổ sung cho nhau về thể xác, tinh thần và tâm linh hướng đến những lợi ích của hôn nhân và sự triển nở của gia đình. "Sự hòa hợp của đôi vợ chồng và của xã hội tùy thuộc một phần vào việc hai bên nam nữ bổ túc, đáp ứng và nâng đỡ nhau[3]."

1. Về thể xác

- Nam có cơ bắp to, thích hợp cho lao động nặng; khi lao động thường tập trung sức mạnh, nhưng sau đó cần nghỉ ngơi.

- Nữ có cơ bắp nhỏ hơn, thích hợp cho những công việc đòi hỏi bền dai; khi lao động thường ít tập trung sức mạnh, có thể làm liên tục hết việc này đến việc khác, có khả năng chịu đựng và tuổi thọ thường cao hơn.

2. Về nhận thức

- Nam chú ý đến cái tổng quát, cốt yếu; lý luận theo nguyên tắc, phán đoán khách quan hơn, vì dựa trên sự kiện, coi việc làm quan trọng hơn lời nói.

- Nữ chú ý đến mọi chi tiết, suy nghĩ bằng trực giác, phán đoán thường chủ quan hơn, vì dựa trên tình cảm, coi lời nói là quan trọng.

3. Về tình yêu

- Nam coi tình yêu là một trong những điều quan trọng bên cạnh những điều quan trọng khác; khi yêu, nam chủ động, muốn chiếm đoạt, dễ bị kích động.

- Nữ coi tình yêu là tất cả; khi yêu, nữ sẵn sàng dâng hiến; cảm xúc của nữ đến từ từ nhưng kéo dài.

4. Về tôn giáo và luân lý

- Nam có lòng đạo kém sốt sắng, nhưng bền vững; khó giữ đức tiết độ và khiết tịnh.

 - Nữ có lòng đạo nồng nhiệt, tình cảm, thích hình thức, chi tiết, nhưng dễ thay đổi và lung lạc; khó giữ đức bác ái trong lời nói.

5. Về tâm lý

Các nhà tâm lý thường tóm tắt những khác biệt về tâm lý giữa nam và nữ trong 5 định luật sau:

5.1. Luật ưu tiên:

Nơi người nam thể xác ưu tiên.

Nơi người nữ trái tim ưu tiên.

* Anh cần nhớ: Chị sống bằng tình cảm hơn lý luận. Chị cần sự quan tâm, bảo vệ và che chở của anh. Hãy đáp ứng bằng những lời nói dịu ngọt, tâm tình, những cử chỉ âu yếm. Hãy phát huy và theo đuổi những giá trị tinh thần.

* Chị cần nhớ: Anh rất chú trọng đến thể xác, sắc đẹp và nét duyên dáng của chị. Hãy ăn mặc và trang điểm dễ thương. Hãy dọn những bữa ăn thật ngon và đúng giờ.

5.2. Luật phân cách:

Nơi người nam trái tim có bốn ngăn.

Nơi người nữ trái tim chỉ có một ngăn.

* Anh cần nhớ: Trái tim của chị chỉ có mình anh. Hãy coi chị là quan trọng nhất, và tỏ ra yêu chị nhất trên đời. Hãy quan tâm đến hạnh phúc gia đình như chị quan tâm.

* Chị cần nhớ: Trái tim của anh có đến bốn ngăn :

- Ngăn 1: Dành cho chị. Anh rất yêu chị, yêu chị nhất trên đời.

- Ngăn 2: Dành cho công việc. Đôi khi anh say mê công việc mà quên cả vợ con.

- Ngăn 3: Dành cho lý tưởng. Hãy thông cảm cho anh, khi anh phải tham gia công việc chính trị, xã hội.

- Ngăn 4: Dành cho giải trí. Giải trí lành mạnh cũng là một phương tiện để bảo vệ hạnh phúc.

5.3. Luật chi tiết:

Người nam quan tâm đến điều cốt yếu.

Người nữ để ý đến các chi tiết.

* Anh cần nhớ: Chị rất trân trọng những kỷ niệm nho nhỏ trong cuộc đời, chẳng hạn ngày sinh, bổn mạng, kỷ niệm ngày cưới... Những điều nhỏ mọn có thể khiến chị đau khổ hoặc hạnh phúc. Chị sống nhiều bằng trực giác. Hãy tỏ ra khéo léo và tế nhị đối với chị.

* Chị cần nhớ: Giảm bớt những chi tiết làm anh bận tâm. Đừng cằn nhằn, hãy bỏ qua những quên sót nhỏ nhặt của anh. Hãy chăm lo trang sức tâm hồn bằng sự quảng đại, dịu dàng, vui vẻ.

5.4. Luật bất đồng cảm:

Người nam phản ứng nhanh nhưng mau dứt.

Người nữ phản ứng chậm nhưng kéo dài.

* Anh cần nhớ: Trong phạm vi tình cảm và sinh lý, chị xúc cảm chậm, nhưng kéo dài hơn anh. Hãy khéo léo và kiên nhẫn.

* Chị cần nhớ: Anh xúc cảm nhanh và mạnh, nhưng mau dứt. Anh mau nóng, nhưng cũng mau nguội. Hãy tỏ ra dịu hiền, đừng đổ thêm dầu vào lửa.

5.5. Luật thính giác:

Người nữ có lỗ tai to.

Người nam có lưỡi ngắn.

* Anh cần nhớ: Đôi tai của chị gắn liền với trái tim, chị thích nghe và dễ tin. Hãy biết nói những lời âu yếm, khen tặng, nói những chuyện lặt vặt, vì đối với chị "yêu là cởi mở tâm hồn".

* Chị cần nhớ: Đừng để người khác dụ dỗ. Đừng quá dễ tin vào dư luận. Đừng càm ràm, than thở, trách móc. Hãy nói trong niềm vui. Hãy khéo léo gợi chuyện để anh "biết nói".

*  *   *

Tình yêu chân thật là thấy rõ khiếm khuyết của người khác, nhưng vui vẻ đón nhận, đồng thời khám phá ra những ưu điểm của họ và khéo léo phát huy.

Trong đời sống hôn nhân và gia đình, để tạo được sự hòa hợp trọn vẹn và vững bền, hai vợ chồng cần hiểu rõ những khác biệt của nhau, để có thể cảm thông, chia sẻ và nương tựa vào nhau trong sự kính trọng và yêu thương chân thành.

Gần đây, người ta đã khám phá ra rằng càng sống chung với nhau lâu năm, trên khuôn mặt của đôi vợ chồng càng có những nét giống nhau. Thiết tưởng không riêng trên khuôn mặt, mà còn cả trong tâm hồn. Đó là thành quả của biết bao nhiêu cố gắng yêu thương, hoà hợp và tha thứ trong cuộc sống. Những cố gắng ấy luôn được Thiên Chúa chúc phúc: "Thầy còn bảo thật anh em: nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, sẽ ban cho. Vì ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ." (Mt 18,19-20).

4 GHI NHỚ :

1. H. Giới tính là gì?

T. Giới tính là tất cả những đặc điểm phân biệt người nam với người nữ.

2. H. Giới tính ảnh hưởng thế nào trên con người?

T. Giới tính ảnh hưởng trên toàn bộ con người, đặc biệt đối với đời sống tình cảm, khả năng yêu thương và truyền sinh.

3. H. Về phương diện tổng quát, người nam và người nữ khác nhau thế nào?

T. Người nam và người nữ khác nhau không chỉ về vóc dáng bên ngoài, mà còn khác nhau về tâm tính, cách nhận thức và hành động.

4. H. Về phương diện tâm lý, sự khác biệt giữa người nam và người nữ được diễn tả thế nào?

T. Được diễn tả bằng năm định luật sau đây:

- Một là ưu tiên.

- Hai là phân cách.

- Ba là chi tiết.

- Bốn là bất đồng cảm.

- Năm là thính giác.

5. H. Vợ chồng phải làm thế nào để tạo sự hoà hợp?

T. Để tạo sự hoà hợp, vợ chồng phải hiểu rõ những khác biệt của nhau, để cảm thông và nâng đỡ nhau trong cuộc sống.

4 GỢI Ý SUY NGHĨ :

1. Tình yêu là "thần dược" giúp cho hai người biến đổi để ngày càng hoàn thiện hơn. Tuy nhiên, sự biến đổi quan trọng nhất vẫn là biến đổi chính mình. Đâu là những khuyết điểm của bản thân mà Anh chị thấy cần khắc phục để có thể đem lại hạnh phúc cho nhau?

2. Tình yêu không mù quáng: Thấy yếu đuối của người yêu và cố sức gánh vác; thấy khả năng của người yêu và tế nhị khơi dậy. Anh chị nghĩ gì về điều này?

3. Làm thế nào để những khi gặp thử thách bên ngoài, làm ăn thua lỗ, vợ chồng có thể trở thành nguồn an ủi cho nhau, ngồi bên nhau như những tri kỷ. Trong thời gian chuẩn bị này, anh chị nên suy nghĩ với nhau và tìm ra đáp số cho bài toán này.

4 CẦU NGUYỆN :

Lạy Chúa, Chúa đã ban cho chúng con giới tính để chúng con có thể vận dụng mà gặp gỡ, yêu thương và hiệp thông với người khác. Xin giúp chúng con luôn ý thức rằng giới tính là một ân huệ Chúa ban, để chúng con biết làm chủ và sử dụng đúng theo ý Chúa muốn. Amen.

___________________

[1] x. St 1,27

[2] x. GLHT 2332

[3] GLHT 2333

Nihil Obstat : Tp. Hồ Chí Minh, ngày 25.08.2004

Lm. Augustinô Nguyễn Văn Trinh

Imprimatur : Mỹ Tho, ngày 03.09.2004

+ Phaolô Bùi Văn Đọc, Giám Mục Mỹ Tho

   Chủ tịch Ủy Ban Giáo lý Đức tin

Nguồn:  UB Giáo Lý Đức Tin, HĐGMVN, giaoducconggiao.net


HĂNG SAY THÔNG TRUYỀN ĐỨC TIN

Có một Cha đến họ đạo tôi giảng phòng "tỉnh tâm mùa chay 2013" theo lời mời của Cha Sở chúngtôi. Trong lúc nói chuyện riêng với qươí chức, ngài hỏi tôi: "họ đạo anh em được bao nhiêu tuổi đời?" tôi hăng hái thưa ngay: "dạ 282 tuổi rồi", ngài vui mừng: "lão làng, lão làng! bề dày tuổi thọ quá cao". Niềm vui của ngài làm chúng tôi vô cùng hãnh diện, tôi nhớ một thời nó đã là thủ phủ của địa phận Đàng trong. Ngài lại hỏi thêm: "Giáo dân của họ đạo anh chị em là bao nhiêu?", tôi cũng mau mắn thưa ngay (5 000) năm ngàn". Ngài hỏi tiếp: "Xã mà anh chị em đang sống có bao nhiêu dân?" tôi liền thưa: "(17 000 dân) mười bảy ngàn dân?". Ngài trầm lặng suy nghĩ  rồi nói: "mười hai ngàn, mười hai ngàn người chưa tin Chúa, phải đưa họ về để có mười bảy ngàn người đi theo Chúa Giêsu Chúa Chiên nhân lành." Rồi ngài trịnh trọng nói với chúng tôi: "Anh chị em phải làm chứng cho Chúa trên miền đất này. Anh chị em đừng phản bội Tổ tiên anh chị em. Những người đã theo Ghúa từ 18. 01. 1615 tại Đàng trong và 19. 03. 1627 tại Đàng ngoài. Vào những năm Vua Chúa bách đạo khốc liệt, họ đã dùng thuyền di chuyển vào Nam định cư ở bên sông, những nơi vắng bóng vua chúa quan quyền, những nơi có thể sống được, họ đã dừng lại lên bờ khẩn hoang sinh sống, họ lôi kéo anh chị em lương dân về với Chúa, họ cùng sống đạo, họ lập họ đạo, trong đó có họ đạo của anh chị em."

Thế ra cha ông, tổ tiên chúng tôi đã hăng say truyền giáo mở rộng đạo thánh Chúa, hôm nay chúng tôi hăng say thông truyền đức tin cho mọi người chung sống với chúng tôi tại xã này, anh chị em mới xứng đáng là con cháu các ngài.

Tôi thấy mọi người trong họ đạo tôi sống ích kỷ, thụ động, không hề quan tâm đến việc truyền giáo, thông truyền đức tin cho người khác. Họ chỉ lo làm ăn, làm giàu, bòn mót cơm áo gạo tiền cho mình và cho con cháu. Bản thân họ không lo sống đạo, con cháu họ lơ là, kinh không đọc, lễ không đi, việc đạo đức không làm, việc bác ái chẳng quan tâm, việc phục vụ thiên ích chung xin dành cho người khác, làm sao họ đạo có sức sống của Chúa Kitô, có sức mạnh của Chúa Thánh Thần, có tình yêu mãnh liệt của Chúa Cha như sức bậc mãnh liệt làm cho việc truyền giáo được toả sáng trong khu vực này.

Cũng may, Cha Giảng như mời gọi thôi thúc chúng tôi nhìn về quá khứ truyền giáo của cha ông mà thán phục, nhìn về hiện tại và tương lai truyền giáo của mình mà sám hối ăn năn, đấm ngực hối cải sửa chữa để làm ngay những việc có thể làm. Truyền giáo bằng cầu nguyện, hy sinh, hãm mình, ăn chay, làm phúc bố thí như thánh nữ Têrêsa quan thầy thứ hai cuả các xứ truyền giáo. Truyền giáo bằng gương sáng sống đạo rèn tập các nhân đức tự nhiên làm người có nhân bản, rèn tập các nhân đức siêu nhiên làm người con Chúa. Sống đời yêu thương, đoàn kết, phục vụ lẫn nhau, siêng năng làm các việc đạo đức như các tín hữu thời giáo hội sơ khai: "Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Đền thờ. Khi bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ. Họ ca tụng Thiên Chúa và được toàn dân thương mến. Và Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người được cứu đo. (tđcv 2, 46 - 47).

Ngài xin mượn hình ảnh anh mõ làng rao tin mới trong thôn xóm, làng xả, để bảo anh em tín hữu phải rao giảng tin Mừng như vậy. Noi gương thánh Phanxicô xaviê quan thầy thứ nhất của các xứ truyền giáo. Đức Thánh Cha Benedicto 16 trong tông thư "Cánh cửa đức tin" số 7 đã dạy: "Tình yêu Chúa Kitô thúc bách chúng ta" (2 cor 5, 14): Chính tình yêu Chúa Kitô làm đầy tâm hồn chúng ta và thúc đẩy chúng ta loan báo Tin Mừng. Ngày nay cũng như xưa kia, Chúa sai chúng ta ra đi trên các nẻo đường thế giới để công bố tin mừng của Ngài cho mọi dân tộc trên trái đất ( Matt 28, 19). Cùng với những người tích cực dấn thân truyền giáo, Chúa Giêsu lôi kéo mọi người đến với Ngài, mở rộng tâm trí của họ lắng nghe và đón nhận Lời Chúa, mời gọi họ gắn bó với Lời Ngài để trở thành môn đệ của Ngài.

Nghe như vậy, mọi tín hữu họ đạo tôi đều sốt sắng lên, đầy nghị lực, can đảm quyết tâm hăng say loan báo Tin Mừng, họ cùng cầu nguyện: Lạy Chúa Giê su, Chúa đã khai mở con đường cứu độ cho nhân loại. Chúa mạnh dạn đi trước, còn chúng con bước tiếp theo sau. Xin cho việc truyền giáo của hội thánh hôm nay được thành công tốt đẹp, đặc biệt là ở ngay họ đạo chúng con.

Cha giảng cũng nói với qưới chức chúng tôi, anh chị em hãy làm cho gia đình của anh chị em thành nơi truyền giáo cho nhau và cho mọi người chung quanh. Anh chị em cũng nung đúc, khuyến khích các gia đình trong xóm giáo của anh chị em cũng làm như vậy. Hãy đến gặp gỡ chuyện trò thân tình với các gia đình lương dân trong xóm, mời gọi một vài người trong mỗi gia đình đi tham dự thánh lễ, làm việc bác ái giúp đỡ những gia đình nghèo, neo đơn. Chung vui với gia đình anh chị em trong dịp lễ lớn. Họ gần mực thì đen, gần đèn thì sáng. Hãy thắp sáng ngọn lửa đức tin trong từng xóm đạo và cả họ đạo của anh chị em sẽ sáng ngời đức tin. Thánh Phao lô nói với tín hữu Philipphê. "Giữa một thế hệ sa đoạ, anh em phải chiếu sáng như  những vì sao trên vòm trời." (Phil 2, 15b).

TRANG GIÁO LÝ VIÊN

MỘT CÁI NHÌN TỔNG QUÁT VỀ LỊCH SỬ GIÁO LÝ CỦA GIÁO HỘI CÔNG GIÁO (tt)

VI. GIÁO LÝ NGÀY NAY :

Sau công đồng Vaticanô II, thế giới có nhiều biến chuyển, tâm thức con người cũng thay đổi theo, vì thế việc giảng dạy giáo lý ngày càng gặp những khó khăn. Người ta bắt đầu quan tâm đến việc canh tân khoa Huấn giáo. Nhiều thử nghiệm canh tân giáo lý ra đời để đáp ứng những tình hình mục vụ mới mẻ và khác nhau. Những cuộc thử nghiệm nhằm tìm ra những thiếu sót, chỉnh lại hướng đi để dần đưa tới việc xuất bản một cuốn sách Giáo lý chung.

Công đồng Vaticanô II đã ra lệnh soạn thảo một cuốn "Kim Chỉ Nam về việc dạy giáo lý". Để thực hiện mệnh lệnh của công đồng, Bộ Giáo Sĩ đã kêu mời một ủy ban các chuyên viên và đã tham khảo ý kiến các Hội Đồng Giám mục trên toàn cầu. Các Hội Đồng này đã gởi nhiều gợi ý và nhận xét về dự án. Bản dự thảo được ủy ban chuyên trách và Bộ Giáo huấn Đức Tin duyệt lại. Ngày 18-3-1971, Đức Phaolô VI chính thức phê chuẩn và ngày 11-4-1971, Ngài công bố dưới tựa đề "Kim Chỉ Nam tổng quát việc giáo lý ".

Ba mươi năm trôi qua kể từ khi công đồng Vaticanô II kết thúc cho tới lúc sắp bước vào thiên niên kỷ thứ ba, hẳn là đã có biết bao nhiêu định hướng và các cổ võ giáo lý phong phú hơn. Có thể nói đây quả là thời gian làm cho Giáo Hội lấy lại sinh khí ban đầu của mình trong việc rao giảng Tin mừng, đặt lại giá trị cho việc dạy dỗ xa xưa của các Giáo Phụ, khuyến khích trở lại hình thức dự tòng ngày xưa một cách khôn ngoan. Từ năm 1971, cuốn Chỉ Nam tổng quát về Giáo lý đã chỉ dẫn các Giáo hội địa phương trên đường dài canh tân giáo lý. Nó đã được coi là điểm quy chiếu cả về nội dung lẫn đường lối sư phạm và các phương pháp phải theo.

Con đường mà bộ môn giáo lý đã đi được trong thời kỳ này là nơi đâu cũng được ghi dấu bởi sự tận tụy, quảng đại của nhiều người, của nhiều sáng kiến đáng phục, của nhiều hoa trái tốt đẹp cho sự giáo dục, sự trưởng thành trong đức tin của trẻ em, giới trẻ và người lớn. Tuy nhiên cũng đã có những thiếu sót về cơ bản giáo lý và kinh nghiệm, điều này đã làm nghèo đi phẩm chất của giáo lý. Phần lớn các thiếu sót này là do bối cảnh văn hóa toàn cầu tiến hóa và do những vấn đề của Giáo Hội không có liên quan với giáo lý.

Huấn quyền của Giáo Hội trong suốt những năm qua đã không ngừng quan tâm tới việc mục vụ giáo lý. Trong tất cả mọi châu lục, nhiều Giám mục và nhiều Hội Đồng Giám mục đã tạo ra những sức bật đáng kể cho sinh hoạt giáo lý, nhất là bằng việc phổ biến các sách giáo lý có giá trị, đưa ra các đường hướng mục vụ, khuyến khích đào tạo người chuyên môn và cổ võ những nghiên cứu giáo lý. Các nỗ lực này thật phong phú và có ảnh hưởng thuận lợi cho việc thực hành giáo lý của các Giáo hội địa phương. Cuốn "Nghi thức khai mở Kitô giáo cho người lớn" công bố ngày 6-1-1972 do Bộ Phụng Tự Thánh cũng mang lại cho việc canh tân giáo lý một sự phong phú tích cực.

Cũng nên đặc biệt nhắc lại ở đây sứ vụ của Đức Phaolô VI, vị Giáo hoàng đã hướng dẫn Giáo Hội vào thời kỳ đầu của hậu công đồng. Đức Gioan Phaolô II đã nói về ngài như sau : "Qua cử chỉ, lời giảng dạy, cách thức chú giải uy tín của người về công đồng Vaticanô II - mà có lẽ người coi như là một cuốn giáo lý vĩ đại của thời hiện đại, qua trọn cuộc sống của người, Đức Phaolô VI, vị tiền nhiệm đáng kính của tôi đã phục vụ ngành giáo lý của Hội Thánh cách đặc biệt gương mẫu"[2].

Một viên đá góc trụ có tính quyết định cho ngành giáo lý chính là sự suy tư triệt để dấn thân nhân dịp đại hội của Hội nghị Thượng Đỉnh Giám mục bàn về công việc Phúc âm hóa trong thế giới ngày nay vào tháng 10 năm 1974. Các đề nghị trong dịp này được đệ trình lên Đức Thánh Cha Phaolô VI và ngài đã cho công bố một Tông huấn mang tên Evangelii Nuntiandi (Loan báo Tin mừng) ngày 8-12-1975. Cũng như một số tài liệu khác, tài liệu này đề nghị một nguyên tắc rất đáng nhấn mạnh: giáo lý là công việc loan báo Tin mừng nằm trong sứ vụ lớn lao của Giáo Hội. Từ nay trở đi, sinh hoạt giáo lý phải được coi như là thành phần trong các nhu cầu cấp bách và trong các mối bận tâm đặc biệt cho sứ vụ truyền giáo của thời đại chúng ta.

Cũng vậy, khóa họp của Thượng Hội Đồng Giám mục do Đức Phaolô VI triệu tập tháng 10 năm 1977 đã chọn môn giáo lý làm chủ đề phân tích và suy nghĩ cho các Giám mục. Hội nghị đã thấy "trong việc canh tân giáo lý có một ơn ban quý báu của Chúa Thánh Thần cho Giáo hội ngày nay"[3].

 Đức Gioan Phaolô II đã tiếp nhận gia sản này năm 1978 và ngài đã hình thành các hướng đi đầu tiên của ngài trong huấn dụ tông đồ mang tên "Catechesi tradendae" (Dạy giáo lý) vào 16.10 1979. Huấn dụ này làm thành một tổng thể ăn khớp với huấn dụ "Evangelii Nuntiandi"( Loan báo Tin mừng) và phục hồi đầy đủ ngành giáo lý trong khung cảnh Phúc-âm-hóa.

Trong triều đại giáo hoàng của mình, Đức Gioan Phaolô II đã kiên trì thực hiện quyền dạy dỗ mang giá trị lớn lao về phương diện giáo lý. Trong các bài diễn văn, trong các thông điệp, các giáo huấn của người, nổi lên mười hai tông huấn, tính từ Redemptor Hominis (Đấng cứu chuộc loài người) đến Ut unum sint (Để họ nên một). Mười hai tông huấn này làm thành một bộ giáo lý có tính tổng hợp và cơ học, áp dụng sự canh tân đời sống Giáo Hội mà Công Đồng Vaticanô II mong muốn.

Trong các tài liệu thuộc huấn quyền của Đức Gioan Phaolô II, một số có giá trị giáo lý đặc biệt : đó là Tông huấn Đấng Cứu Chuộc loài người (4.3 1979), Thiên Chúa giàu lòng xót thương (Dives in misericordia 30.11.1980 ), Người là Chúa, là đấng ban sự sống (Dominum et vivificantem 18.5.1986) và để xác tín lại tính hợp thức thường hằng của sứ mệnh truyền giáo, có thông điệp Redemptoris Missio (Sứ vụ Đấng Cứu Thế 7.12.1990).

Thế rồi các đại hội nghị bình thường và ngoại thường của Thượng Hội Đồng giám mục đã có những vang dội riêng trên vấn đề giáo lý. Điển hình là các Thượng Hội Đồng năm 1980 và 1987 về sứ vụ gia đình và về sứ vụ ơn gọi của giáo dân. Công việc của hai Thượng Hội Đồng này được tiếp theo bởi các Tông huấn của Đức Gioan Phaolô II : Tông huấn familiaris consortio (về gia đình 22.11 1981) và Christi fideles laici (Tông huấn Kitô hữu giáo dân 30.12.1988 ). Cũng vậy hôi nghị Thượng đỉnh bất thường năm 1985 đã đánh dấu một cách dứt khoát cả hiện tại lẫn tương lai của giáo lý. Một bản tổng kết 20 năm áp dụng Công Đồng Vaticanô II đã được trình bày vào dịp này và các nghị phụ của Thượng Hội Đồng đã trình lên Đức Thánh Cha bản soạn thảo một cuốn giáo lý phổ quát cho Giáo Hội công giáo. Đức Gioan Phaolô II không những rất ưng thuận đề nghị này mà còn coi đó là công việc của ngài. Thời gian làm việc kiên nhẫn và phức tạp kết thúc, cuốn "Giáo lý của Giáo Hội công giáo" đã được trao cho các Giám mục, các Giáo Hội địa phương dưới hình thức tông hiến Fidei Depositum ( kho Trữ Đức Tin) ngày 11. 10 .1992.

Năm 1997 Thánh bộ Giáo sĩ ban hành cuốn Chỉ dẫn tổng quát việc dạy giáo lý, nhằm cập nhật hóa cuốn 1971.

Nói chung, các sách giáo lý ngày nay đều theo sát những chỉ dẫn của Giáo Hội. Tuy nhiên mỗi Giáo Hội địa phương có thể tìm những phương pháp và những cách diễn tả phù hợp với văn hóa, với truyền thống dân tộc, để Tin mừng của Chúa được đón nhận cách có hiệu quả.

VII. SÁCH GIÁO LÝ TẠI VIỆT NAM :

Giáo Hội Việt nam có nhiều sách giáo lý.

-  Cuốn đầu tiên là "Phép giảng tám ngày" của cha Đắc Lộ.(1651)

-  "Thánh Giáo yếu lý quốc ngữ" của Đức cha Bá Đa Lộc (1774)

- Yếu lý chung (1959)

- "Thánh giáo Yếu lý" dành cho các giáo phận miền Trung và Nam do các cha Thừa Sai Paris điều khiển.

- "Sách dạy những lẽ cần cho được rỗi linh hồn" dành cho các giáo phận miền Bắc do các cha Thừa Sai Paris điều khiển.

-  "Sách Bổn" dành cho các giáo phận do dòng Đa Minh điều khiển.

- " Sách Bổn" của Đức cha Hồ Ngọc Cẩn, dành cho địa phận Bùi Chu.

- Trước và sau năm 1975, nhiều sách giáo lý của các địa phận và các dòng tu ra đời, nhằm phục vụ nhu cầu mục vụ của các giáo xứ.

Hiện nay Giáo hội Việt Nam có nhiều nỗ lực mới trong việc soạn thảo sách giáo lý và huấn luyện giáo lý viên, nhưng hình như chưa có một nỗ lực chung và đồng loạt. Nhiều nơi vẫn còn chuộng kiểu giáo lý từ chương (hỏi thưa), vì chỉ học những công thức và không giúp học viên tiến xa hơn. Đây mới là mức độ 1 của việc giáo dục đức tin cho người tín hữu mà thôi.

Kết luận: Việc Huấn giáo ngày nay đang đứng trước tình hình một văn hóa mới chưa từng có trong lịch sử Giáo Hội. Vì thế, Huấn giáo phải nhìn lại lịch sử của mình mà rút ra những bài học quý báu từ những kinh nghiệm cụ thể qua mọi thời đại. Dù bất cứ dưới hình thức nào, khoa Huấn giáo cũng luôn nhắm tới việc giúp người ta sống đức tin cách thích hợp. Đức tin không phải là một lãnh vực tách biệt, nhưng phải nối kết được các khía cạnh trong cuộc sống và giúp cho chúng ăn khớp với nhau. Mặt khác Huấn giáo cũng phải đảm nhận mọi đòi hỏi của công bình xã hội và tuân thủ chặt chẽ những quy luật đạo đức trong việc giao lưu giữa con người.

________________________

[1] DGL 9

[2] ĐTC Gioan Phaolô II, Tông huấn Dạy giáo lý số 2

[3] DGL 3

Tu viện Dòng Mân Côi Chí Hoà 2009

TRANG QUỚI CHỨC

SỐNG ĐỨC TIN

Lần trước chúng ta đã nói chúng ta sống nhờ tin. Nhưng tin như thế nào để có thể sống, đó lại là vấn đề cần phải bàn.

Trước hết chúng ta cần xác định cho rõ ràng tin là gì ?

Tin, nói một cách nôm na là nhận và theo.

Nhận: là chấp nhận điều người khác thông truyền cho chúng ta là đúng, là thật.

Theo: là làm, là hành động đúng với nội dung mà chúng ta đã nhận được.

Ví dụ: khi thấy trong người không được ổn, anh đến bác sỹ. Sau khi khám, bác sỹ cho anh một toa thuốc và dặn hãy uống thuốc theo toa đã kê.

Người không tin vào bác sỹ thì sẽ không mua thuốc và uống theo toa, còn người tin và bác sỹ thì sẽ mua thuốc và uống theo liều lượng và cách thức mà bác sỹ đã dặn.

Như vậy, tin đúng nghĩa là chấp nhận hoàn toàn thực tại mà mình đang đối diện, nhưng chừng ấy chưa đủ bởi nó vẫn còn ở trong nhận thức, trong ý tưởng, nó chỉ mới giúp chúng ta lựa chọn để quyết định mà thôi, vì thế cần phải có hành động (theo) để minh chứng ra bên ngoài, để sự thật mà chúng ta nhận được đó phát huy hiệu quả.

Trong đời sống thường ngày, chúng ta tin một cách dễ dàng và đúng nghĩa, thế nhưng trong đời sống đạo, chúng ta tin một cách què quặt, thường là chúng ta không nhận đủ và không theo hoàn toàn.

Một số người biết (nghe nói vậy) rồi để đó. Họ cũng học giáo lý đầy đủ, cũng nghe Lời Chúa qua những bài Kinh Thánh, Phúc Âm, cũng nghe giáo huấn của Giáo hội. Thế nhưng, nhe cho biết chứ không làm theo.

Cón những người thậm chí không cần nghe, họ chỉ lựa một số điều mà họ thấy thích để lấy làm thỏa mãn rồi họ làm theo ý của họ, bất chấp Chúa nói gì, Giáo hội khuyên gì.

Đó đâu phải là tin, tin như thế làm sao sống được ? Một công thức chứa nhiều nội dung, nhiều chi tiết, nếu chúng ta coi thường bỏ qua dù chỉ một chi tiết nhỏ thôi cũng không thể thành công. Chúa Giêsu đã từng nói: không phải ai nói với ta Lạy Chúa, Lạy Chúa là được vào Nước Trời, chỉ người nào thực hiện ý Cha Ta, đấng ngự trên trời mới được vào Nước trời, và Người còn nói thêm: dù trời đất này có qua đi nhưng một chấm một phẩy trong bộ luật cũng không qua đi; không được làm việc này mà bỏ việc kia.

Sống đức tin là phải học cho rõ, làm cho đúng những gì Chúa dạy với tất cả tình yêu dành cho Thiên Chúa.

SỐNG ĐẸP

ĐTC Phanxicô: Không Thay Đổi Mà Thay Đổi Thật Nhiều

Vũ Văn An - Vietcatholic 14/3/2013

Đúng như nhận định của linh mục Matt Malone, S.J., chủ bút tạp chí America, phát biểu vào ngày đầu tiên của Cơ Mật Viện, các hồng y của Giáo Hội đã chọn một vị giáo hoàng với ba đặc điểm: quản trị, truyền giảng Tin Mừng và trên hết thánh thiện. Ngài là một hồng y càng ngày càng nổi tiếng về tâm linh và tài lãnh đạo mục vụ tại một vùng có số tín hữu Công Giáo đông đảo nhất thế giới. Từ năm 1998, ngài là tổng giám mục của Buenos Aires, nơi tác phong của ngài khá khiêm nhường và gần gũi dân. Ngài sử dụng xe buýt, thăm viếng người nghèo, sống trong một căn hộ đơn giản và tự nấu lấy các bữa ăn. Với nhiều người tại Buenos Aires, ngài đơn giản chỉ là "Cha Jorge".

Ngài từng thành lập nhiều giáo xứ mới, tái tổ chức các văn phòng quản trị, đưa ra nhiều sáng kiến phò sự sống và khởi sự nhiều chương trình mục vụ mới như một ủy ban cho người ly dị. Ngài từng đóng vai đồng chủ tịch Thượng Hội Đồng Giám Mục năm 2001 và được bầu vào ủy ban thường trực của thượng hội đồng, nên không xa lạ gì với các giám mục thế giới.

Ngài cũng soạn tác nhiều cuốn sách về linh đạo và suy niệm và là người mạnh dạn lên tiếng chống phá thai và hôn nhân đồng tính. Năm 2010, khi Argentina trở thành quốc gia Châu Mỹ Latinh đầu tiên hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính, ngài khuyến khích hàng giáo sĩ toàn quốc thúc giục tín hữu biểu tình chống lại luật này vì nếu đem ra thi hành, nó sẽ trấn thương gia đình một cách trầm trọng. Ngài cũng cho rằng việc các cặp đồng tính được nhận con nuôi sẽ "tước đoạt khỏi trẻ em quyền được lớn lên một cách nhân bản, quyền mà Thiên Chúa muốn chúng được hưởng qua một người cha và một người mẹ".

Năm 2006, ngài chỉ trích một dự luật của Argentina nhằm hợp pháp hóa việc phá thai trong một số hoàn cảnh, cho đó là bất kính đối với các giá trị được đa số người Argentina tôn trọng, và nhằm thuyết phục Giáo Hội Công Giáo "dao động trong việc bảo vệ phẩm giá con người".

Vai trò của ngài cũng buộc ngài phải công khai nói tới kinh tế, các vấn đề xã hội và chính trị mà xứ sở ngài đang phải đối phó. Các bài giảng và diễn văn của ngài luôn nhắc tới sự kiện: mọi người đều là anh chị em với nhau và Giáo Hội cũng như xứ sở phải làm hết sức sao cho mọi người cảm thấy mình được chào đón, kính trọng và chăm sóc. Dù không quá chính trị, Đức HY Bergoglio không tránh né tác động chính trị và xã hội của sứ điệp Tin Mừng.

Không thay đổi mà thay đổi thật nhiều

Từ lúc được bầu làm giáo hoàng và trong suốt ngày đầu tiên, Đức Phanxicô gây hết từ ngạc nhiên thú vị này tới ngạc nhiên thú vị khác mà theo Giám Đốc Tin Tức của EWTN, thì chẳng có gì thay đổi đối với ngài nhưng là thay đổi rất nhiều đối với người khác, và những người lo lắng hơn cả đối với sự thay đổi này là đa số chức sắc trong Giáo Triều.

Ngạc nhiên đầu tiên, như lời Đức Hồng Y Dolan của New York kể lại là việc ngài đứng để nhận sự "thần phục" của các hồng y anh em, chứ không "ngự" trên ngai tại Nhà Nguyện Sistine, một việc mà ngài nhận thấy rất bình thường. Thái độ tự nhiên quay qua quay lại ngay trên bancông đầy nghi lễ của Vatican, trước hàng nửa triệu tín hữu và "quân cách" phía dưới cũng là một hình thức lạ với nhiều người, nhưng với ngài, thì chẳng có gì lạ cả. Hình như nửa triệu tín hữu kia cũng vẫn chỉ là anh chị em của ngài, như những anh chị em của ngài tại Buenos Aires. Ngoài bộ áo chùng trắng ra, chưa có gì khác chứng tỏ ngài ra khác, không biết chiếc nhẫn ra sao, nhưng cây thánh giá trên ngực thì, theo Cha Lombardi, vẫn là cây thánh giá khi còn là Tổng Giám Mục Buenos Aires. Không ai không chú ý tới cử chỉ cuối cùng trước khi ngài tạm biệt đám đông tại Công Trường Nhà Thờ Thánh Phêrô khi ban phép lành đầu tiên cho họ: các chức sắc nghi lễ nhắc ngài rời khỏi khán đài, nhưng ngài quay qua phụ tá đòi mang micro tới để ngài chúc họ ngủ ngon và hứa cầu nguyện cho họ vào ngày hôm sau. Với người khác, đó là phá lệ, nhưng với ngài, đó là việc bình thường, không có gì thay đổi.

Người ta nhắc đến chuyện ngài "bông đùa" trên bancông Vatican về việc các hồng y anh em phải lặn lội vượt trùng dương, tới tận chân trời góc bể, để tìm ra ngài. Nhưng chuyện "bông đùa" còn vui hơn, được Đức Hồng Y Dolan kể lại, là lúc trở lại Nhà Thánh Marta, bằng minibus quen dùng lúc dự cơ mật viện chứ không phải "limousine" của giáo hoàng, ngài nói với các hồng y anh em: "Xin Chúa tha tội cho anh em (vì đã dại chọn tôi làm giáo hoàng)!" Vẫn như xưa, chẳng có gì thay đổi.

Nhưng sự không thay đổi này hiện đang làm đau đầu nhiều giới chức Vatican, cụ thể là các người có nhiệm vụ tháp tùng ngài và các nhân viên an ninh. Về việc này, có người so sánh ngài với Đức Gioan Phaolô I, vị giáo hoàng là chính mình đến độ một mình ra khỏi khuôn viên Vatican. Quả tình nụ cười của Đức Phanxicô không khác bao nhiêu so với nụ cười của vị Giáo Hoàng Mỉm Cười. Giám Đốc Tin Tức của EWTN phúc trình rằng Đức Phanxicô muốn đi đâu thì đi, đi thế nào thì đi, ngài là người của chính ngài, khiến giới chức an ninh không biết đâu mà mò. Về điểm này, phát viên ngôn viên Tòa Thánh Là Cha Lombardi xác nhận: các nhân viên an ninh đang tìm cách thích ứng với phong cách đi đứng hết sức đặc trưng của Đức Phanxicô. Ngài vẫn là ngài, không thay đổi. Nhưng sự không thay đổi này đang làm thay đổi nhiều người.

Ngài không theo cửa chính của Đền Thờ Đức Bà Cả, vì lúc đó, chưa mở cửa, thì "ta" vào theo lối phòng áo, rất tự nhiên, không thắc mắc, tay tự mang bó bông "con thảo" từ ngoài, vòng hết gian chính nhà thờ, tới tượng Mẹ, bằng một nhịp bước không cần chờ ai, tự đặt bó bông đơn giản trước tượng Mẹ để cầu cho anh chị em mình. Nếu để ý, thì đây là một bó bông hết sức tầm thường, một bó bông mà bất cứ bà nội trợ nào cũng có thể ngắt từ thửa vườn sau nhà.

Điều gây ngạc nhiên hơn cả là sau một đêm ngủ ngon, như ngài nói với các hồng y anh em, mọi sự xem ra cũng vẫn không có gì thay đổi đối với ngài. Rời Vatican lần đầu tiên trong tư cách giáo hoàng, ngài vẫn không dùng "limousine" giáo hoàng, mà dùng một trong các xe của cảnh sát Vatican để kính viếng Đền Thờ Đức Bà Cả. Lúc đến cũng như lúc đi, chỉ vỏn vẹn mấy chức sắc tháp tùng. Trên đường trở về, ngài làm mọi người ngạc nhiên khi gửi lời chào tới các trẻ em của một ngôi trường gần đó, rồi bắt tài xế dừng lại Domus Internationalis Paulus VI, gần Piazza Navona, nơi ngài cư ngụ trước khi tham dự cơ mật viện, để lấy đồ đoàn gửi tại đó và nhất là trả tiền trọ! Điều này không biết có phá bỏ mọi nghi thức liên quan tới vị giáo hoàng tân cử hay không, nhưng nhất định đánh đổ câu trả lời của linh mục Matt Malone, S.J., chủ bút tạp chí America khi ngài trả lời một câu hỏi của độc giả rằng: khi được bầu, đức giáo hoàng có đi lấy đồ đoàn của mình và mang tới Rôma hay không? Linh mục Malone nói như "đinh đóng cột" rằng: vị tân giáo hoàng sẽ ở lại Vatican, mọi đồ đoàn sẽ được mang tới cho ngài bằng bất cứ giá nào! Câu trả lời này ít nhất không đúng đối với Đức Phanxicô.

Con đường dẫn tới Phục Sinh

Sự thay đổi mà Đức Phanxicô, trong những ngày tới sẽ mang lại, chắc chắn rất sâu xa không phải chỉ là cung cách bề ngoài mà còn cả trong tư duy con người nữa. Sự thay đổi này đã được ngài vạch ra cho anh chị em ngài ở Buenos Aires nhân dịp đầu Mùa Chay vừa qua (cách nay mới có một tháng thôi). Trong sứ điệp này, Đức tổng giám mục Bergoglio khẩn khoản nói với anh chị em của ngài rằng: "Nước Thiên Chúa cần trái tim anh chị em bị xé nát bởi ý nguyện hồi tâm và yêu thương, ngập tràn ơn thánh và các cử chỉ hữu hiệu để thoa dịu nỗi đau của anh chị em vốn đang cùng đồng hành với chúng ta".

Sứ điệp ấy khẩn thiết kêu mời mọi người chống lại tác phong dửng dưng và cái ác xã hội do tội lỗi tạo nên. Chính tội lỗi tạo ra sự suy đồi trong xã hội, một suy đồi đang phá hoại các gia đình, khu xóm, cộng đồng và nói chung toàn bộ nền văn hóa của ta. Chống lại thứ văn hóa lạnh lùng với người yếu thế hơn cả, ta phải để thân phận của anh chị em ta đâm thấu trái tim ta bằng cách trở về với Thiên Chúa. Ta không thể gần gũi Chúa Kitô mà lại dửng dưng trước cảnh thối nát và tha hóa xã hội mà tội lỗi đã gây ra trên bình diện cơ bản nhất của xã hội là gia đình, liên hệ vợ chồng, liên hệ giữa cha mẹ và con cái.

Cái vết thương do tội lỗi gây ra trên sâu đến độ không thể chữa chạy bằng những hành vi và cử chỉ bên ngoài. Nếu ta biết quan tâm tới xã hội, thẳm sâu tâm hồn ta phải tan nát vì sự kiện ta phạm tội. Tội lỗi làm trái tim ra ra cứng cỏi. Chính cái trái tim ra cứng cỏi ấy khiến ta coi trẻ chưa sinh, hôn nhân truyền thống, người già, người bệnh và người nghèo như những bất tiện cần tránh né. Ta không bảo vệ và yêu thương người yếu thế nhất trong xã hội đủ vì ta không đếm xỉa gì tới thực tại tội lỗi trong đời ta. Hãy xé nát trái tim, đừng xé nát quần áo. Hãy trở về với Thiên Chúa, Đấng từ bi nhân hậu, chậm nổi giận và thật giầu xót thương (Ge 2:13).

Chỉ khi nào trở về với tình yêu Thiên Chúa, ta mới bắt đầu thực sự yêu thương nhau, trong gia đình, chòm xóm, cộng đồng và xa hơn thế. Sự hồi tâm này là đường dẫn tới sự sống, dẫn tới Phục Sinh. Ta diễm phúc có được một nhà truyền giảng như thế trên Ngai Tòa Phêrô.

CHUYỆN THƯỜNG NGÀY

Đường Đời

Đường đời vòng quanh như một con rắn tự ngoặm lấy đuôi mình. Con người trần trụi từ lúc bắt đầu mở mắt, năm này qua năm khác, đi lên cho tới giữa cuộc đời, vào tuổi trung niên, rồi dần dần đi xuống. Rốt cuộc, với tấm hình hài trần trụi, con người lại trở về vị trí khởi hành.

Dần dần, con người tăng trưởng, tầm vóc cao lên. Rồi một ngày, lưng thêm còng, gối thêm mỏi, thân hình như lụn dần, cuối cùng thì nghiêng mình cúi xuống cát bụi.

Dần dần con người khai triển ngũ quan, mở rộng tầm nhìn tầm nghe, những quan năng khác cũng tăng tiến hoàn chỉnh như thể buổi sáng mở toang các cánh cửa sổ. Rồi mỗi ngày, mắt thêm mờ, tai thêm lãng, khép dần các ngũ quan như thể đóng cửa về đêm.

Mỗi ngày một chút, kiến thức đủ loại tích lũy trong trí nhớ. Đến lúc về già, nói trước quên sau, để đâu quên đấy.

Mỗi ngày một chút, chân thêm vững, tay thêm khéo, miệng thêm lưu loát. Tới ngày xế bóng, tay chân run rẩy vụng về, nói năng chậm chạp lung túng.

Một ngày trước kia bắt đầu tập nói. Một ngày sau này lại nói chẳng ra hơi.

Một ngày trước kia rời vòng tay mẹ, chập chững biết đi. Một ngày sau này không còn sức xê dịch, phải vịn cánh tay con cháu.

Thuở còn nằm nôi, mẹ cho bú mớm, thay lót đổi tã. Rồi sẽ tới ngày phải nằm liệt, con cháu chăm nom, lau mặt thay áo, xúc cơm đổ thuốc.

Một ngày trước kia mở mắt chào đời, làm quen với thế giới chung quanh. Rồi sẽ tới ngày nhắm mắt buông xuôi, vĩnh biệt dương thế.

Một ngày trước kia lần đầu hô hấp, con người sinh ra. Rồi sẽ tới ngày thở hắt ra lần cuối, đi vào cõi chết.

Một ngày xa xưa, trước khi ra đời, chín tháng mười ngày nằm trong dạ mẹ ấm áp, thêm thịt thêm xương mà hình thành cơ thể. Tới ngày cuối cùng đi vào lòng đất giá lạnh, hình hài dần dần phân hóa, thịt xương trở về với tro tàn.

Một ngày xa lắm, con người xuất phát từ người cha mình như một hạt giống truyền sinh. Tới ngày chấm hết cuộc đời trần thế, con người trở về trong Cha của mọi người cha phàm trần, để rồi được tái sinh nơi cõi trường sinh bất tử. Tới lúc đó, trong một bản thể mới, tất cả lại bắt đầu...

MARIE NOEL (1883 - 1967), trích từ "Notes intimes"

Nguồn: gxdaminh.net

HỎI ĐÁP MỤC VỤ

THỂ THỨC  MẬT NGHỊ CONCLAVE BẮT ĐẦU ÁP DỤNG TỪ BAO GIỜ TRONG GIÁO HỘI ?

Chiều 12-03-2013, các hồng y cử tri đã tiến hành vòng bỏ phiếu đầu tiên bầu chọn người kế vị thánh Phêrô, Giáo hoàng thứ 266. Qua truyền hình trực tiếp của Trung tâm truyền hình Tòa Thánh Vatican CTV, khán giả được chứng kiến nghi thức đặt tay trên sách Phúc Âm để tuyên thệ của từng vị hồng y. Sau lời công bố "Extra omnes!" (Yêu cầu mọi người không phải là hồng y cử tri ra ngoài!) của Đức ông Guido Marini, Chưởng nghi Tòa Thánh, chỉ còn lại các hồng y cử tri trong Nhà nguyện Sistine, và cửa Nhà nguyện đóng lại. ...Và sau  5 vòng bỏ phiếu, Đức Hồng Y  Jorge Mario Bergoglio, Tổng Giám Mục Buenos Aires, người Ác-hen-tina, Nam Mỹ, đã được chọn lên ngôi Giáo Hoàng với tước hiệu Giáo Hoàng Phan-xi-cô.

Nhân các Hồng Y sẽ họp Mật nghị (Conclave) ngày mai thứ ba 12 tháng 3  để bầu Tân Giáo Hoàng cho Giáo Hội, xin được giải thắc mắc của nhiều đọc giả về nguồn gốc  truyền thống này như  sau:

Trước hết về từ ngữ,  "Conclave"  bắt nguồn từ tiếp ngữ Latin "Con" có nghĩa là  "với=with" và Clave xuất phát từ La ngữ Clavis  có nghĩa là "chìa khóa=key".. Từ nguyên ngữ Latinh này, Conclave được dùng để chỉ việc các Hồng Y họp mật  để chọn Tân Giáo Hoàng cho Giáo Hội (đóng cửa khóa các ngài lại trong phòng kín  cho đến khi bầu xong).  Đó là tất cả ý nghĩa của từ Mật Nghị=Conclave đã được áp dụng từ năm 1274 dưới triều  Đức Giáo Hoàng Gregory X (1272-1276)  cho đến nay , nhằm để ngăn chặn những can thiệp, hay áp lực từ bên ngoài muốn khuynh đảo việc chọn Giáo Hoàng trong những thập niên trước năm 1274.

Ngoài ra, Biện pháp "khóa cửa để bầu" cũng nhằm tiến hành mau chóng việc bầu tân Giáo Hoàng vì có thời ngôi Giáo Hoàng (papacy) đã phải bỏ trống đến gần 3 năm vì chưa có thể bầu xong ai lên ngôi kế vị Thánh Phêrô.

Đó là trường hợp đã xảy ra khi Đức Giáo Hoàng Clement IV mất năm 1268, nhưng mãi  ba năm sau,  18 Hồng Y họp tại Viterbo mới bầu được Đức Gregory X  lên kế vị  (1271-1276).

Được biết,  trong thời kỳ sơ khai của Giáo Hội, khi chưa có các Hồng Y,  thì việc chọn Giáo Hoàng được thực hiện qua việc bầu Giám Mục Rôma của các giáo sĩ và giáo dân Rôma dưới sự chứng kiến của các Giám mục  khác trong Giáo Tỉnh ( Province). Nhưng theo thời gian, giáo hữu và giáo sĩ gia tăng  thì lại xảy ra những tranh chấp giữa các  ứng viên thuộc gia cấp cao  (patricians)  và giai cấp thấp (plebeians), phe nào cũng muốn tiến cử người ra tranh ngôi Giáo Hoàng. Cụ thể là đã có lúc một Giáo Hoàng được bầu lên  (Thánh Giáo Hoàng Damasus I  (366-384. A. D) và một ngụy Giáo Hoàng (antipope) Ursinus  cũng được bầu lên năm 366 để tranh ngôi với Giáo Hoàng Damasus. Cuộc tranh dành này đã đi đến bạo động khiến Toàn Quyền (Prefect) Rôma phải can thiệp để giúp ổn định.

Mặt khác, lại có thời  các Hoàng Đế Rôma  muốn can thiệp vào nội bộ của Giáo Hội, đưa đến sự tranh giành giữa  các thế lực trần thế dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau, mà trong giới hạn của một bài viết,  không thể nói hết chi tiết được.Tuy nhiên, phải  nói một  chi tiết quan trọng  là Ngôi vị  Giáo Hoàng, - từ đầu cho đến nay -  không những là địa vị tối cao của người kế vị Thánh Phê rô trong chức năng và sứ mệnh cai trị  Giáo Hội thay mặt cho Chúa Kitô trên trần gian, mà còn là tước vị được các thế lực thế quyền (secular powers) dòm ngó và muốn không chế. Đó là thời kỳ đen tối  của Giáo Hội khi  thế quyên  (secular power)  muốn chi phối   thần quyên (divine power) và ngược lại.

Nhưng với ơn soi sáng, dẫn dắt của Chúa Thánh Thần , Giáo Hội đã thoát ra khỏi thời kỳ đen tối đó để càng ngày  càng trở  nên xứng đáng là Thân Thể Nhiệm Mầu của Chúa Kitô trên trần gian với sứ mệnh được trao phó là  tiếp tục Sứ Vụ rao giảng và làm chứng cho Tin Mừng cứu độ của Chúa Cứu Thế Giêsu trên khắp trần gian  cho đến ngày  cánh chung tức tận cùng của thời gian.

Liên quan đến việc bầu Giáo Hoàng,  cũng cần nói thêm là trước năm 1917, thường dân (lay people) cũng có thể được chọn làm Hồng Y để có thể được bầu làm Giáo Hoàng. Nhưng Giáo luật năm 1917  đã ngăn cấm việc này và từ đó đến nay tước Hông Y chỉ được chọn trong hàng ngũ Giám mục và linh mục xuất sắc mà thôi.Vì linh mục có thể được chọn làm Hông Y,  nên Giáo Luật mới ban hành năm 1983 qui định là " nếu Tân Giáo Hoàng chưa có chức Giám mục thì phải được truyền chức Giám mục trước khi nhậm chức Giáo Hoàng. (x Giáo luất số 351& 1, 355 & 1)

Như đã nói ở trên, năm 1272 Đức Thánh Cha Gregory X đã đê trình Công Đồng Lyons thứ hai những  thay đổi trong luật bầu cử  nhằm tiến hành nhanh chóng việc bầu cử  với phương thức Mật Nghị (Conclave) để đảm bảo sự vô tư và bí mật của việc chọn lưa Tân Giáo Hoàng.. Những thay đổi này được áp dụng cho đến ngày 1 tháng 10 năm 1975 khi Đức Thánh Cha Phaolô VI ban hành Hiến Chế Romano Pontifici Eligendo với  một số thay đổi về luật  bầu cử  Giáo Hoàng, theo đó chỉ có các Hồng Y dưới 80 tuổi  mới được quyền bỏ phiếu bầu  (elector)  mà thôi,  và giới hạn số Hồng Y được bầu là 120 vị.

Nhưng Luật  bầu cử  trước sau đều  đòi buộc các Hồng Y  tham dự Mật Nghị phải tuyệt đối giữ bí mật và không được chịu bất cứ ảnh hưởng nào từ bên ngoài trong khi thi hành nhiệm vụ chọn Tân Giáo Hoàng cho Giáo Hội. Theo truyền thống đã có từ lâu, thì  Nhà Nguyện Sistine được dành làm nơi diễn ra những cuộc bỏ phiếu kín của các Hồng Y. Hiện nay, ngoài khu vực Nhà Nguyện Sistine, toàn thể khu vực nơi các Hông Y ăn nghỉ trong thời gian có Mật Nghị cũng đều được ngăn cách hoàn toàn với bên ngoài , kể cả việc cắt đứt mọi phương tiện liên lạc như điện thoại và internet.

Tóm lại, truyền thống họp mật nghị (Conclave) mới có từ thời Đức Giáo Hoàng Gegory X áp dụng từ năm 1274 cho đến nay nhằm bảo đảm sự tuyệt đối giữ kín tiến trình bầu cử khi các Hồng Y cử tri ( electors) và cũng là các ứng viên có thể được bầu ( potential candidates) nhưng không ra tranh cử khi vào Mật Nghị. Nghĩa là  bất cứ Hồng Y đủ điều kiện  nào khi vào Mật Nghị, cũng có thể được bầu lên ngôi Giáo Hoàng, nhưng không ai ra tranh cử và được bỏ phiếu cho chính mình.

Chúng ta sốt sắng cầu xin Chúa Thánh Thần để các Hồng Y bắt đầu Mật Nghi ngày thứ ba 12-3  sớm chọn được Tân Giáo Hoàng cho Giáo Hội đúng với ý muốn và chương trình của Thiên Chúa, chứ không phải là mong ước của bất cứ ai bên ngoài Giáo Hội.

Lm  Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

Nguồn: conggiaovietnam.net   

MỘT CHÚT TÂM TÌNH

KHẨU HIỆN VÀ HUY HIỆU CỦA ĐỨC THÁNH CHA PHAN-XI-CÔ

Đức Giáo Hoàng Phanxicô quyết định rằng Ngài sẽ giữ cả hai phương châm và huy hiệu như cũ, nghiã là dùng những huy hiệu và phương châm mà Ngài đã sử dụng trong suốt thời gian làm Tổng Giám mục Buenos Aires, chỉ với một chút thay đổi, thay vì mũ và dây cuả Hồng Y thì là Mão và Chià Khoá tượng trưng cho chức vụ Giáo Hoàng.   

 

Khẩu hiệu và huy hiệu ĐTC Phan-xi-cô                 Khẩu hiệu-huy hiệu khi ngài làm TGM Buenos Aires

Câu Phương Châm "miserando atque eligendo" có một ý nghĩa đặc biệt trong cuộc sống và hành trình tâm linh của Đức Giáo Hoàng, theo lời tuyên bố từ văn phòng báo chí Vatican ngày 18 tháng 3 năm 2013  

* Bố cục: Huy hiệu có nền xanh được treo trên các biểu tượng chỉ tước phẩm Giáo hoàng tương tự như vị tiền nhiệm Bênêđictô XVI (gồm có: mũ mitra giữa hai chìa khóa giáo hoàng đặt chéo nhau, một vàng một bạc, và được nối lại bởi một sợi dây đỏ) . Bên dưới là dòng khẩu hiệu: "Miserando atque eligendo".

* Chi tiết huy hiệu:

- Ở giữa:  là ấn triện của Dòng Tên: mặt trời cháy rực bao quanh chữ đỏ IHS -Danh Thánh Chúa Giê-su, chữ H được treo trên Thánh Giá, và bên dưới là ba mũi đinh màu đen ghim vào chính giữa. Mang ý nghĩa: Chúa Giê-su vác thập giá chịu đóng đinh là trung tâm đời sống và sứ mạng của ngài.

- Bên dưới: Ngôi sao, theo truyền thống cổ xưa, là biểu tượng Đức Maria Đồng Trinh, Mẹ Chúa Ki-tô và Mẹ Giáo Hội. Bên cạnh, chùm hoa cam tùngchỉ thánh Giuse, bổn mạng Giáo Hội hoàn vũ. Thật vậy, theo truyền thống ảnh tượng của các nước nói tiếng Tây Ban Nha, Thánh Giuse được vẽ với một nhành cam tùng trên tay. Đặt trong huy hiệu những hình ảnh như thế, Đức Thánh Cha muốn bày tỏ lòng kính mến Đức Mẹ và Thánh Giu-se cách đặc biệt.

* Khẩu hiệu của Đức Thánh Cha Phanxicô: "Miserando atque eligendo" (tạm dịch: dù bất xứng nhưng được chọn), được lấy từ bài giảng của thánh Beda đáng kính, linh mục (Om. 21; CCL 122, 149-151), nơi đó ngài chú giải đoạn Tin Mừng về ơn gọi của Matthêu, ngài viết: "Chúa Giê-su thấy anh thu thuế, và nhìn anh với lòng yêu mến, Ngài đã chọn anh và nói: hãy theo Ta". Bài giảng này, vốn nói lên lòng thương xót của Thiên Chúa và được đọc trong Các Giờ Kinh Phụng Vụ trong ngày Lễ Thánh Matthêu, mang một ý nghĩa đặc biệt trong đời sống và hành trình thiêng liêng của Đức Thánh Cha.

Thật vậy, vào ngài Lễ Thánh Matthêu năm 1953, chàng thanh niên trẻ 17 tuổi Jorge Bergoglio đã được lòng thương xót của Thiên Chúa chạm đến và ngài đi theo tiếng gọi vào đời sống dâng hiến theo bước chân thánh Inhaxiô Loyola trong Dòng Tên.

Khi được chọn làm Giám mục, để nhớ lại biến cố đánh dấu sự khởi đầu dâng hiến trọn vẹn cho Thiên Chúa và cho Giáo Hội, đức cha Bergoglio đã quyết định chọn khẩu hiệu và chương trình sống theo diễn tả của thánh Beda "Miserando atque eligendo". Và bây giờ, ngài cũng lấy lại làm chính huy hiệu Giáo hoàng của ngài.

Nguồn: vietcatholic.net