1. Tên cũ: Bãi Ngao
  2. Ấp:, Xã: An Thủy và Tân Thủy, Huyện: Ba Tri, Tỉnh: Bến Tre
  3. Đt:
  4. Bổn mạng:
  5. Chầu lượt:
  6. Giáo dân: trên 1500 người

1. Họ đạo Bãi Ngao: 

Nằm trên địa bàn của hai xã An Thủy và Tân Thủy, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre . Xã An Thủy nằm dọc bờ biển Ba Tri, phía Nam, từ cửa sông Hàm Luông, phía Bắc giáp với xã Bảo Thuận. Nhà thờ Bãi Ngao cách Thị Trấn Ba Tri 9 km, về mạng Đông Nam, và cách thị xã Bến Tre 44 km.

Trước năm 1975, An Thủy và Tân Thủy là chung một xã. Hai xã này mới tách ra vì dân số đông, từ năm 1998... Xã An Thủy vì năm dọc theo bờ biển Ba Tri, nên có tiềm năng về hải sản khá cao, dù hiện nay việc khai thác không được đồng đều và lợi nhuận không cao cho lắm. Hơn nữa ngành nuôi trồng hải sản ở An Thủy và Tân Thủy chủ yếu về ba mặt: Nuôi tôm, nuôi nghêu, nuôi sò huyết. Ngoài ra cũng còn có việc nuôi cá: Cá tra, cá tai tượng, cá điêu hồng, cá lóc và cá rô cũng hấp dẫn về kinh tế, nhưng kết quả cũng chưa khả quan lắm... mấy năm nay, ngành nuôi trồng tôm cũng rất hấp dẫn, nhưng kết quả khá bấp bênh; ngược lại việc nuôi nghêu dễ dàng hơn, vì chỉ nuôi thiên nhiên mà thôi. Hai năm nay nghêu có giá cao, nên sân nghêu lúc nào cũng được giữ gìn cẩn thận. Các sân nghêu hầu hết cũng mang danh của cơ quan này, tổ chức nọ; chưa thấy đâu là của người dân cả ???

Xã An Thủy có mấy địa danh đáng để ý:

Bãi Ngao: khu vực bờ biển thuộc ấp..., trải dài từ cửa sông Hàm Luông đến giáp ranh xã Bảo Thuận. Khu vực này trước năm 1975, bờ biển đầy nghêu thiên nhiên, nên khi đó chẳng ai có ý nghĩ đến việc nuôi nghêu. Các chợ huyên Ba Tri, huyện Giồng Trôm, cả chợ Thị xã Bến Tre, đều bày bán đầy nghêu. Thời đó người dân cho nghêu là món ăn quá bình dân, nên các lễ giỗ chạp không bao giờ có món nghêu trên bàn ăn cả. Ngược lại hôm nay, nghêu là món ăn khoái khẩu lại có giá trị cao nữa.

Tiệm Tôm: Khu vực chợ của xã An Thủy, dân cư khá đông đúc, cũng là nơi có Cảng Cá Tôm, ghe tàu đi đánh bắt trở về. Cảng Cá tuy quy mô chưa lớn, nhưng sinh hoạt khá sầm uất, đem lại kinh tế cho người dân khá tốt.

Lăng Ông: Vừa là miếu thờ, vừa là Lăng mộ, giữ các bộ xương của Cá Ông. Theo tính ngưỡng dân gian, Cá Ông là thần hộ mệnh của dân đi biển; vì thế, dân chài lưới rất tôn trọng loái cá này với tên gọi cung kính: "Ông". Nơi đây hàng năm có hội hè, cúng bái rất lớn.

Nguồn gốc:

- Trong sổ rửa tội họ đạo Giồng Giá, được kể là quyển số I, từ 1875- 1915, trang 175: Phanxicô Trần Văn Vân, sinh năm 1898, con của Giuse Trần Văn Nuôi và Catarina Nguyễn Thị Tươi, tại An Thủy Bảo Trị Tổng, RT ngày 4/11/1898. Tại trang: 173, có: Maria Đặng Thị Giỏi, sinh năm 1894, tại An Thủy, Bảo Trị Tổng, con của Phaolô Đặng Văn Bích và Anna Nguyễn Thị Sử, RT ngày 27/11/1898. Cho đến năm 1915, hai gia đình trên còn có con rửa tội hai ba người nữa. Ngoài ra còn có mấy người RT toàn tòng. Như vậy, từ trước năm 1900, đã có mấy gia đình Công giáo sinh sống ở tại làng An Thủy. Cho đến năm 1954, khi người Bắc Phát Diệm đến định cư tại An Thủy (Bãi Ngao), đã có ít nữa mười gia đình Công giáo cư ngụ tại đây (sẽ nói ở phần dưới), dù chắc chắn lúc đó chưa có nhà thờ.

Trong sổ Hôn Phối họ đạo Giồng Giá, từ năm 1871-1972, hiện nhà thờ Ba Tri đang giữ, có đôi hôn phối: Phaolô Đặng Văn Bích, gốc ở An Thủy Anna Nguyễn thị Sử, 25/11/1907 do cha Phêrô Nguyễn Phước Khánh chứng hôn. Tại đâu? sổ cũ không ghi rõ nơi chứng hôn. Từ đó cho đến năm 1952, còn có vài đôi hôn phối của Bãi Ngao nữa. Ngoài ra ta không còn biết thêm gì  khác.

- Năm 1945, Cha Benađô Phạm Văn Qui, cùng Cha Bình, Cha Nhu, dẫn 300 gia đình giáo dân, quê Phát Diệm di cư, đến xin định cư trong tỉnh Bến Tre. Chính quyền lúc bấy giờ cho họ định cư tại khu vực Bãi Ngao, phía trường Đảng và phía trước quanh Nhà thờ hiện nay. Từ đó trở đi, có tên là Họ Đạo Bãi Ngao, Nhà thờ Bải Ngao (đôi khi cũng gọi là nhà thờ Tân Thủy, Ba Tri. Tân Thủy là tên xã) (trong sổ Rửa tội và Hôn phối ghi xưa lại gọi là làng An Thủy).

2. Các ngôi nhà thờ:

Nhà thờ đầu tiên: ngay sau khi định cư tại Bãi Ngao, Cha Bên, Cha Qui cho dựng ngay ngôi nhà thờ đầu tiên, sáu căn, bằng cây bần và mắm, vách lá, mái lá, Nhà thờ này nằm trên chính nền nhà xứ Bãi Ngao hiện nay (năm 2007); cửa chính quay ra trước lộ. Đất thổ cư Nhà thờ là của ông Bầu Ca, người lương đã dâng cho Nhà thờ thời Cha Bên và Cha Qui; phía trước giáp lộ phía sau ruộng; bề ngang khu đất rộng có cả 150m (theo lời bà Ba Phái kể lại), vì thế nên ngoài Nhà thờ ra, còn có nhà xứ, nhà Dì và nhà giáo lý...

Nhà thờ thứ hai: sau hai năm định cư tại đây, Cha Bên, Cha Qui và giáo dân đã xây dựng nên ngôi nhà thờ mới có chín căn; bên trong có bốn hàng ghế, mái lợp xi-măng, vách xây, chân móng bằng xi-măng và miễn nghêu (ngày nay ta vẫn còn thấy vẫn tồn tại các dãy móng). Nhà thờ mới này nằm phía bên kia lộ trước Nhà thờ, phía sau chạy ra tới bờ kinh; diện tích có thể lên đến mấy mẫu tây. Hôm nay không còn sổ sách và đã bị chiếm giữ, hoặc đã bán sang tay nhiều chủ. Sau năm 1962, khi giáo dân bỏ đi hết, nhà thờ bị dỡ xuống và bị tàn phá bình địa.

Nhà thờ thứ ba: Cha Anrê Nguyễn Trung Binh về Ba Tri và chăm sóc cả Bãi Ngao năm 1972. Bãi Ngao lúc đó không còn nhà thờ, nên Cha đi xin tole và vật liệu của Mỹ để cất lên nhà thờ thứ ba. Nhà thờ này kích thước y như trên nhà thờ hiện tại, chỉ khác một điều là nhà thờ làm rất tạm bợ, một mái, lợp tole thiết, đòn tay bằng cây dừa, vách xây gạch không tô. Cuối Nhà thờ một phòng được ngăn ra vừa là phòng khách, vừa là phòng nghỉ của Dì. Sau năm 1975, căn nhà này bị nứt nẻ, tole sét lủn, dột nát. Có mấy lần dông bão, đã rinh cả máy tole nhà thờ bay sang trường Đảng.

Nhà thờ thứ tư; tháng 1/1991, Cha Phaolô Lực khởi công xây dựng lại Nhà thờ Bãi Ngao, với giấy phép của xã. Đây là Nhà thờ thứ tư, chính là Nhà thờ hiện nay. Nhà thờ được xây dựng y trên nền cũ, chỉ đến tháng 6/1991 là hoàn thành. Kinh phí là 5000 USD do hội Eglise en détresse giúp, tương 75 triệu đồng + 50 triệu của các ân nhân khác bằng 125 triệu đồng.

Khi Nhà thờ lợp xong phần mái, có chỉ thị miệng của MT huyện, bảo phải đình chỉ. Hỏi ra là Nhà thờ làm sai, vi phạm nghị định 26, ra ngày 21/3/1991, Nhà thờ đã không xin phép ở tỉnh (đây là Nhà thờ đầu tiên trong tỉnh được xây dựng lại, cái thứ hai có phép là Nhà thờ Rạch Dầu của Cha Tôn). Thực ra Nhà thờ đã làm từ tháng giêng năm này, vậy mà họ vẫn cho là đúng và Nhà thờ là sai. Đúng là miệng nhà quan có gan có thép! Sự việc dần co đến hai năm sau mới kết thúc. Trong thời gian đó, việc đọc kinh, thánh lễ vẫn bình thường...

Đầu năm 2006 có vài ân nhân và Chú Phạm Trọng Nhân (con của bà Ba Phái), có dâng cho Nhà thờ 300 triệu đồng để cơi  nới lại nhà thờ, xây thêm cánh bên phải cho ban hát, đóng bàn ghế mới, làm lại toàn bộ Cung Thánh... công trình hoàn thành như đã thấy hiện nay.

3.  Giáo dân:

Họ đạo Bãi Ngao, ngoài số 1500 người Bắc di cư còn có một số ít đã cư ngụ tại đây từ trước. Có thể nói ít nữa độ trên 10 gia đình với 40 hoặc 50 giáo dân là người Nam, đã sinh sống tại đây như gia đình ông Bảy Nhì (Bãi Ngao), Ông Ba Cảnh (Ba Cha Matthêu Liên, Cần Thơ ở xóm Lăng), bà Mười Điện, Ông Mười Hơn, Ông Bảy Hồng (xóm Lăng), ông Tư Kinh, ông Bảy Bầu, ông Ba Đót, ông Sáu Lục (Tiệm Tôm) và bà Ba Trương (chợ Tân Bình...).

Năm 1960, phong trào đồng khởi nổi lên, các gia đình người Bắc di cư của Bãi Ngao vì sợ, đã lần lược bỏ đi. Đến năm 1962, họ ra đi hết, chỉ còn lại một gia đình duy nhất là Bà Ba Phái cho đến hôm nay.

4. Nhà xứ + tháp chuông + Đất Thánh:

Nhà xứ hiện nay mới được xây dựng năm 2004, gồm có 3 căn; hai căn làm phòng sinh hoạt chung và một căn làm văn phòng + phong ngủ (cho Thầy hoặc Dì). Cùng một lược xây dựng nhà xứ, có xây dựng cả tháp chuông.

Họ Bãi Ngao có một phần Đất Thánh ở Xóm Lăng, gần bên đất của ba Cha Liên, chưa được một công đất, đã chôn chật ních giữa lương và giáo...

Phía sau nhà thờ ở mạng Tây Nam, họ đạo có mua một phần đất ruộng độ 240m2 , giá 25 triệu đồng.

5. Các linh mục giúp Bãi Ngao qua các thời kỳ:

+ Từ 1901- 1905: thuộc sở Cái Bông: Cha J. Việc.

+Từ 1905- 1922:  Cha Phêrô Nguyễn Phước Khánh.

+ Từ 1922- 1930: Cha GBt Nguyễn Linh Nhạn.

+ Từ 1930- 1956: Cha Luca Nguyễn Văn Sách. 

Trong thời kỳ này có các Cha ngụ tại Giồng Giá:

+ Philipphê Phan Văn Tuyền: 1944- 1947.

+ Phêrô Nguyễn Văn Chính:   1948- 1950.

+ Phaolô Nguyễn Văn Mừng:   1950- 1956.

6. Ba Tri, sở chính thức

+ Từ 1956- 1961: Cha Đôminicô Lê Minh Tỏ Cha sở đầu tiên.

+ Từ 1961- 1966: Cha Micae Văn Công Nghi.

+ Từ 1966- 1972: Cha Phêrô Nguyễn Văn Vỡ.

+ Từ 1972- 1976: Cha Anrê Nguyễn Trung Binh.

+ Từ 1977- 1989: Thuộc sở An Điền: Cha Antôn Nguyễn Văn Lệ.

+ Từ 1989- 2004:                                 Cha Phaolô Trương Tấn Lực.

+ Từ 2004- 2007: Thuộc sở Ba Tri: Cha Phaolô Trương Tấn Lực.

+ Từ 200-           : Thuộc Giồng Giá: Cha Phêrô Lê Hoàng Lâm.

7. Hướng tương lai:

Hiện tại, Họ đạo Bãi Ngao còn chậm phát triển, mặt đạo cũng như mặt đời, vì hai nguyên do: Vì là họ nhỏ nên, nên các cha còn ở quá xa (cả 10 km), khi có nhu cầu mục vụ, hoặc thăm viếng, các Cha mới đến được. Kế đến, cũng phải nói, vì giáo dân ở quá xa nhà thờ, không được qui tụ, nên các sinh hoạt khó chia ra để người giáo dân cộng tác tham dự tích cực... dù vậy, đa phần đời sống kinh tế của giáo dân Bãi Ngao tương đối thoải mái hơn các họ đạo khác nhiều; hy vọng nhờ đó từ từ Họ đạo sẽ đi lên, nếu các Linh mục biết nâng đỡ đời sống đức tin cho họ.

Họ đạo cũng ước mong mua được một phần đất phía sau, kế bên phần đất đã mua năm nay, cho liền đất, nhất là vừa mở rộng khuôn viên Nhà thờ, vừa giúp cho các nhu cầu sinh hoạt họ đạo sau này. Một khi cầu Rạch Miểu hoàng thành, nhu cầu biến khu Bãi Ngao thành khu du lịch, tắm biển, thì nhu cầu truyền giáo của họ đạo Bãi Ngao cũng là điều đáng quan tâm...

   Người tường thuật: Bà Vũ Thị Ro (Bà Ba Phái).