II. Thời Kỳ Cũng Cố (1862 -1938)

Các niên biểu cần lưu ý:

  1. 1862: hòa ước Nhâm Tuất nhường ba tỉnh miền Đông Nam Bộ cho Pháp. Pháp chiếm luôn ba tỉnh miền Tây Nam Bộ.
  2. 1867: phong trào Văn Thân ở Bắc Kỳ
  3. 1868: Vua Tự Đức ra chỉ dụ tha đạo.
  4. 1874: phong trào Văn Thân lan rộng. Hòa ước Giáp Tuất: triều đình nhượng lục tỉnh cho Pháp.
  5. 1883: Vua Tự Đức (1847 - 1883). Hòa ước Quý Mùi: triều đình nhận sự bảo hộ của Pháp. Loạn trong hoàng cung về việc phế phong. Văn Thân hoạt động mạnh.
  6. 1885: Văn Thân nổi tiếng lên khắp nước. Vua Hàm Nghi xuất Bôn và ra Hịch Cần Vương.
  7. 1888: Vua Hàm Nghi bị phản bội và bị Pháp đài đi Algerie.
  8. 1915: thành lập hội thiện tử.
  9. 1924: đổi tên các giáo phận thành địa danh của nước Việt Nam.
  10. 1932: Đấng Bản Quyền chuẩn y điều lệ Hội Thiện Tử.
  11. 1933: Giám Mục tiên khởi Việt Nam: Đức Cha GBt Nguyễn Bá Tòng Giám Mục Tông Tòa Phát Diệm.
  12. 1935: Đức Cha Dominic Hồ Ngọc Cẩn Giám Mục phó Tông Tòa Bùi Chu.
  13. 1938: thành lập giáo phận Vĩnh Long do Đức Cha Phêrô Ngô Đình Thục đảm nhận Tông Tòa.

Trong thời kỳ này có các cha sau đây đảm nhận trách nhiệm mục vụ tại họ Mặc Bắc:

1. Cha Montmayeur (1865 - 1874)

Qua các thời kỳ bách hại Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức, họ Mặc Bắc chưa có nhà cha sở vì phải trốn tránh ẩn mình trong nhà bổn đạo. Tới thời cha Công và cha Trí mới cất một nhà ở bên Nhà thờ làm nơi cư trú và đi làm phước cho các họ xung quanh từ mấy nhà đó. Đến đời cha Montmayeur mới có chỗ lưu trú thật sự. Cha Montmayeur là một cha cao niên nhất trong các thừa sai địa phận. Nhờ ơn Chúa cha đã ăn mừng kim khánh (50 năm) thụ phong linh mục vào năm 1910.

Cha Montmayeur đến Mặc Bắc thì cha Trí còn ở lại với Người 3 năm rồi sau đó mới đổi qua họ Ba Xuyên. Còn cha Montmayeur thì sau đó dời Nhà thờ lại chỗ bây giờ (đất bổn đạo dâng). Cha cũng cất nhà cha sở kế đó. Nhà này bị bão năm 1874 nên bị sập. Cha lo cất nhà khác là nhà cha sở bấy giờ (1874 - 2005). Cha Noisberne đã khởi công làm nhà này và mãi đến đời cha Fougerouse mới hoàn thành.

Các họ đạo trong vùng Mặc Bắc được thành lập dưới trào cha Fougerouse là: Tân Thành (1866), Bông Bót (1870), Xoài Rùm (1867), Gò Xoài (Trà Ôn), Ba Phố (1869), Kinh Long Hội (1872) và Rạch Lọp (1887). Hầu hết bổn đạo những nơi này tiên khởi đều là người Mặc Bắc tới tìm kế sinh nhai. Ngày nay chỉ còn các họ Tân Thành, Bông Bót, Kinh Long Hội và Rạch Lọp là còn tồn tại và phát đạt. Còn các họ đạo khác là Xoài Rùm, Gò Xoài và Ba Phố rày đã mai một và không biết chừng nào mới phục hồi được.

2. Cha Noisberne (1874)

3. Cha Fougerouse (1874 - 1875)

Năm 1874 một cơn bão lớn làm nhà lá của cha Montmayeur (Minh) làm nhà ở đã bị sập nên cha Noisberne và cha Fougerouse định làm nhà cha sở vững bền cho chắc chắn định xây gạch ngói để chống bão. Công việc chưa xong thì cha Simon (Sĩ) đổi lại.

4. Cha Simon (1875 - 1878)

Cha Simon cho bớt gạch đã xây vách bốn bên xong rồi thì cho lợp lá mà ở. Trong trào cha Simon có dịch thiên thời dữ dằn làm cho nhiều người chết. Bấy giờ cha Simon và Cha Genibrel (Thượng) ngày đêm lo đi làm phước xức dầu cho kẻ liệt đến nỗi không có giờ làm lễ đọc kinh. Cha Simon ở Mặc Bắc mấy năm rồi đổi về Tha La và Tây Ninh.

5. Cha Delpech (1878 - 1884)

Việc thứ nhất cha Delpech (định lo khởi công làm Nhà thờ mới theo họa đồ của cha Boutier (Thiết). Ngài lo đào hầm xây nền, đá gạch chôn dưới nền sâu trót 100 thước vuông, chắc chắn vững bền lắm.

Nhà mồ côi tại Tiểu Cần. Nhờ biệt tài, cha Delpech mua được một miếng đất tại Tiểu Cần của Phó Tổng Chu (người Khmer) cùng lập một nhà mồ côi tại đó. Một ít bổn đạo cũng đến đó cất nhà ở nên cha cũng cất một Nhà thờ tại đó. Mỗi năm các bà rửa tội hơn 100 trẻ em gần chết. Vì không có đất chôn xác hài nhi nên năm 1903 Phó Tổng Chu đã bán thêm cho nhà chung một miếng đất nữa rộng lớn chừng bảy tám trăm thước. Vậy nhà mồ côi, nhà thờ và Đất thánh đã lập tại chỗ đất ấy.

6. Cha Fougerouse về Mặc Bắc lần thứ II (1885 - 1899)

Việc cha Fougerouse (Phụng) quan tâm nhứt vào thời này là tiếp làm Nhà thờ lớn Mặc Bắc cho đến hoàn thành. Thợ đứng coi xây dựng là cha Errard. Mọi việc đều vững chắc mà ít hao tốn. Cha Errard là thợ giỏi và lành nghề nên nhờ có cha mà Nhà thờ mới xong vì tiền bạc trong họ và của bổn đạo dâng thì không bao nhiêu. Bổn đạo phần nhiều chỉ đủ ăn mà thôi. Vì thế cha Fougerouse ráng lo hết sức hầu cho xong việc. Cha phải mượn của nhà chung tiền bạc mà làm và trong mười năm sau cha đã trả hết cho nhà chung. Bổn đạo nghèo không tiền bạc thì mỗi người lo làm công quả: hầm gạch, hầm vôi tại đó. Hai lò vôi có hoài trong khi xây dựng Nhà thờ. Giáo dân già cả lớn bé đều thí công mà lo phụ giúp. Còn cha Fougerouse thì giục bảo khuyên lơn. Bổn đạo ai nấy đều hớn hở mà làm chẳng ai phàn nàn gì hết, bởi thấy cha sở chịu cực khổ nên ai nấy phấn chấn mà làm mọi việc. Công cáng của cha Fougerouse thật là to lớn âu là nay Chúa đã thưởng công cha trên trời. Trong việc lớn lao ấy thì cha nhờ các chức việc trong họ làm và nhất là ông trùm Nhiên, con Thánh Giuse Trùm Lựu. Ông Trùm túc trực suốt ngày và được coi như thể là tay mặt của cha vậy. Năm 1887 Nhà thờ hoàn thành và Đức Cha Colombert (Mỹ) đến làm lễ khánh thành có đông giáo dân thập phương đến dự.

Cha Fougerouse sức lực mạnh mẽ vừa xây dựng cơ sở vừa lo việc mục vụ cho hơn 3000 giáo dân nên sức cha sút kém. Năm 1895 Đức Cha Depierre (Để) cho cha Soulard (Sáng) giúp cha Fougerouse coi họ. Năm 1899 cha Fougerouse đi dưỡng bệnh bên Hồng Kông và cha Soulard làm cha sở đến tháng 2/1900. còn cha Fougerouse thì qua đời tại Hồng Kông năm 1899.

7. Cha Eugène Soulard (1898 - 1900)

Năm 1899, cha Eugène Soulard (Sáng) làm cha sở Mặc Bắc, cha cất thêm hai dãy nhà trường nam và nữ hai bên nhà thờ bằng gỗ lợp lá gọi là trường họ và rước các Dì MTG Cái Mơn đến dạy trường nữ. Còn trường nam thì nhờ người biết chữ hoặc học trò Latinh dạy học vần, đọc chữ chạy thì lên sách phần. Sau khi chịu phép thêm sức và rước lễ bao đồng thì thôi học về giúp việc nhà. Trong số các em này, có em được chọn đi Chủng Viện hoặc đi tu Nhà Dòng.

8. Cha Felix Frison (1900 - 1938)

Cha làm cha sở Mặc Bắc lâu đời nhất, 38 năm. Cha đã sửa lại trần Nhà thờ, sửa lại hai tháp chuông lên cao và chắc chắn. Ngài gìn giữ đất nhà chung, bênh vực bổn đạo với chính quyền Pháp và bảo vệ con chiên triệt để.

Năm 1908 cha Frison (Hoàng) sửa hai ngôi trường họ bằng gạch lợp ngói. Đến 1925 ông GBt Nguyễn Văn Ứng (gọi là thầy giáo Hiện) được cha sở Hoàng chỉ định làm Hiệu Trưởng cả hai trường và dạy học theo chương trình của nhà nước bấy giờ.

Lúc làm sở Mặc Bắc có lần bổn đạo báo tin cho cha hay là có cọp về trên mé rừng Đồng Lác. Cha mang súng hai nòng đi bắn cọp. Mặc dù đi đâu cha vẫn mặc áo dòng bằng xuyến. Bắn cọp phát thứ nhất cọp bị thương. Cọp phóng tới chụp cha. Cha bắn phát thứ hai đạn không nổ. Cha phải dí đầu súng vào họng cọp. Cọp cào cha rách áo dòng. Khi ấy bổn đạo đi theo có sẵn mác thông cầm tay nhào vô đâm cọp chết. Cha không bị thương tích gì hết. Cha sống rất đơn sơ giản dị trầm tĩnh tắm ao hồ trong đêm khuya, uống nước lã trong cái bình con gà rất cỗ. Năm 1935 họ Mặc Bắc tổ chức mừng lễ kim khánh cha hết sức long trọng ngày 20/11/1935. Khi chia địa phận thì cha đổi về Thủ Dầu Một (20/10/1938) lại cất nhà thờ và qua đời tại đó.

III. Thời kỳ chuyển biến (1938 - 1960)

Các niên biểu cần lưu ý:

Năm 1938 thành lập giáo phận Vĩnh Long (8/1) gồm ba tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre và một phần của tỉnh Đồng Tháp (Sa đéc). So với giáo phận mẹ Sài Gòn thì giáo phận Vĩnh Long thật nhỏ bé. Sau này giáo phận còn tế phân ra: Giáo phận Cần Thơ 1955; Giáo phận Đà Lạt 1960; Giáo phận Mỹ Tho 1960; Giáo phận Long Xuyên 1960; Giáo phận Phú Cường 1965; Giáo phận Xuân Lộc 1965; Giáo phận Phan Thiết 1975

Năm 1945 cách mạng tháng 8 thành công (19/8). Tuyên ngôn độc lập và thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (2/9). Nam Bộ kháng chiến (25/8).

Năm 1954 cuộc di cư vĩ đại đưa gần 800000 giáo dân Miền Bắc vào Nam làm thay đổi cục diện Công giáo cả Nam lẫn Bắc.

Năm 1960 thành lập hàng giáo phẩm Việt Nam với ba Tòa Tổng Giám Mục: Hà Nội, Huế, Sài Gòn (24/11).

  1. Đức Cha Phêrô Ngô Đình Thục ra Tòa Tổng Giám Mục Huế.
  2. Đức Cha Antôn Nguyễn Văn Thiện (1960 - 1968) kế vị Đức Cha Thục.

Trong thời gian này Mặc Bắc có các cha sở sau đây:

1. Cha Phanxicô Nguyễn Văn Binh (1938 - 1941)

Sau khi chia địa phận Tòa Giám Mục Vĩnh Long đặt cho Phanxicô Nguyễn Văn Binh, linh mục bản gốc làm cha sở đầu tiên tại Mặc Bắc. Cha Binh là người rất nhân đức. Ngài đã soạn sách tháng Thánh Giuse. Thấy bổn đạo ngày càng đông, thánh đường chật chội, cha cho mở rộng hai hông Nhà thờ. Vì không chuyên ngành kiến trúc, cha chỉ làm đơn sơ. Ngay tại nhà chung, cha cho xây một cái hồ chứa nước mưa (1940). Hồ bị phá vỡ (2006) ra thay thế bằng một hồ ngầm dưới phòng cơm bây giờ, rộng 26m2. Cha làm cha sở không đầy 3 năm.

2. Cha GBt Nguyễn Văn Hưỡn (1941)

Cha Binh đi cha GBt Hưỡn đến. Cha là người có phong cách quân tử, rộng rãi, đầy bác ái và dịu dàng. Tính tình điềm đạm, văn hoa tao nhã có thể cảm hóa những người ngang ngạnh nhất. Có lẽ người dự định làm nhiều việc lớn, nhưng tiếc thay người chỉ mới bắt đầu làm hàng rào Đất Thánh và trồng cây vú sữa xung quanh nhà thờ, nhà chung thì có lệnh đổi đi. Cha chỉ ở Mặc Bắc có 6 tháng.

3. Cha Giuse Nguyễn Văn Bạch (1941 - 1948)

Cha Hưỡn đổi đi, cha Giuse Bạch đến thay. Cha có một óc kiến trúc nên đã xây dựng cho họ Mặc Bắc rất nhiều và rất đẹp. Xưa kia (1937) cha đã xây cất Nhà thờ Giồng Rùm (Phước Hảo) lộng lẫy, lầu chuông cao vút (37m) và đẹp đẽ. Cha đã sửa lại trong và ngoài nhà thờ Mặc Bắc: cửa lớn cửa sổ, trong và ngoài. Cha làm thêm bàn thờ Đức Mẹ và bàn thờ Thánh Giuse. Đặc biệt cha đã đặt mua ở Nam Định 20 tượng Thánh và Thần rất đẹp. Trên vách trong cung thánh sau bàn thờ chính đặt 4 tượng Thánh sử, một tượng trái tim Chúa Giêsu bổn mạng Nhà thờ, cao khoản 4m, tại mỗi cột hai bên nam nữ đều có tượng thánh đứng trên bệ.

Ngoài Nhà thờ, cha còn dựng núi Calvariô và hang đá Đức Mẹ Lộ Đức sau khi đã lấp hai hồ ao trong sân và lót gạch tại sân Nhà thờ. Năm 1942 dịp lễ lục tuần, ông Clêmentê Nguyễn Văn Huỳnh tức Mười Huỳnh còn gọi là ông Cống Huỳnh hiến dâng tượng Chúa Giêsu Kitô Vua cao 4m và dựng đài giữa sân Nhà thờ. Cha Giuse Bạch còn có công sửa sang Nhà thờ Mặc Bắc, xóa mờ những nét thô sơ của nó. Họ Mặc Bắc ghi ơn cha mãi mãi.

4. Cha Giuse Đặng Phước Hai (1948 - 1965)

Cha Giuse Hai kế nhiệm cha Giuse Bạch vào tháng 9/1948. Thuở nhỏ cha học rất giỏi. Thời ở Chủng Viện anh em chủng sinh đã gọi nể nang những người học giỏi trong lớp thứ nhất là Khánh (cháu nội ông Trương Vĩnh Ký). Thứ nhì phải là Hai. Tính người ít hoạt động. Ngài biết rõ Mặc Bắc sau khi đã làm phó cha sở Frison Hoàng 3 năm (1933 - 1936).

Tháng 4/1936 bổn đạo xóm Ngọn (Định Quới A) quá đông và xa Nhà thờ lớn nên cha Giuse lo cất một nhà nguyện tại cuối ấp Định Quới A để tiện bề cho bổn đạo ngoài này đọc kinh. Công việc xây dựng chưa xong thì ngày 10/10/1956 một trận bão dữ dội làm sập nhà nguyện. Cha phó Anrê Hớn đã thu lượm những vật dụng còn có thể dùng được đem về cất nhà trường ở giữa xóm và sau này (1975) có lúc phải mượn nhà trường để làm lễ cho bổn đạo.

IV. Thời kỳ tăng trưởng (1960 - 2007)

Các niên biểu cần lưu ý:

  1. Năm 1960 thành lập hàng giáo phẩm Việt Nam. Đức Cha Antôn Nguyễn Văn Thiện (1960 - 1968).
  2. Năm 1963 Công Đồng Vaticanô II (1959 - 1964). Chế độ đệ nhất cộng hòa (1956 - 1963) bị lật đổ (1/11/1963). Tiếp theo là những xáo trộn về mọi mặt ở toàn Miền Nam Việt Nam.
  3. Năm 1969 Đức Cha Nguyễn Văn Mầu (1969 - 2001) kế vị Đức Cha Thiện.
  4. Năm 1974 Tổng Giám Mục phó Hà Nội Giuse Maria Trịnh Văn Căn lần đầu tiên tham dự Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới.
  5. Năm 1975 thành lập giáo phận Phan Thiết (31/1). Giám Mục phó Raphae Nguyễn Văn Diệp (1975 - 2000).
  1. Năm 1993 sửa đổi điều lệ hội Thiện Tử.
  2. Năm 1998 tuột mái Nhà thờ lớn (19/3).
  3. Năm 2000 Giám Mục phó Tôma Nguyễn Văn Tân (2000 - 2001).
  4. Năm 2001 Giám Mục Chánh Tòa Tôma Nguyễn Văn Tân.
  5. Cha Phêrô Lê Công Rạng hoàn thành Nhà thờ khu vực Ngọn. Cha Giuse Nguyễn Văn Nha hoàn thành Nhà thờ khu vực Lộ Mới.
  6. Năm 2003 năm Thánh giáo phận Vĩnh Long (2003 - 2004).
  7. Năm 2004 cha Tôma Nguyễn Văn Thành hoàn thành Nhà thờ khu vực Ba Giồng và sửa chữa nhà thờ Bàu Hoang.
  8. Năm 2006 kiến thiết nhà chung (nhà cha sở). Cha Dominic Nguyễn Văn Trung hoàn thành Nhà thờ khu vực Định Thuận.
  9. Năm 2007 phục hồi hai tháp Nhà thờ.

Thời kỳ này có các cha sở sau đây:

1. Cha Micae Lê Văn Sinh (1965 - 1971)

Cha Micae Lê Văn Sinh đến Mặc Bắc như đi vào vườn nho của Chúa đang cần cắt tỉa cho sum xuê. Cha giúp bổn đạo giải tỏa các ngôi mộ trước Nhà thờ mà khi xưa cha Giuse Bạch chưa thực hiện nổi. Cha vận động các ban hành sự khu xóm san bằng sân trước Nhà thờ cho sạch sẽ. Năm 1969 cha đứng ra xây cất trường trung học với bản hiệu "Trung học tư thục Thăng Tiến" để cho con họ trong họ nhà khỏi phải đi xa đến 8 cây số mới đến trường trung học Tiểu Cần. Trường này cha đang làm lỡ vỡ khoản 50% thì có lệnh đổi đi. Thời kỳ này cha đã có công lãnh đồ viện trợ cho người nghèo và bánh mì cho các học sinh ở các trường tư thục. Thời kỳ này giàn chuồng cối lầu chuông bị mối mọt xuống cấp. Cha trình với cha quản lí địa phận cho thợ đang xây cất nhà thờ Chánh Tòa Vĩnh Long đem 5 cái chuông xuống và treo tạm ở chuồng cối đặt trên mặt đất.

Vì những đường hướng mới do Công Đồng Vaticanô II đề xướng chưa được sát lập, nhất là về khía cạnh lịch sử và phụng vụ trong thời buổi canh tân, Cha Micae có nhiều hành động không hợp lắm với truyền thống đạo đức trong họ. Tuy nhiên cha cũng có sáng kiến được bà con tiếp nhận hồ hởi như đào con kênh sau Nhà thờ dài 1500m để xổ phèn tưới ngọt. Nhưng cũng có những sáng kiến làm cho bà con giáo dân bỡ ngỡ như dẹp bớt các tượng thánh, sửa đổi bàn thờ và ghế quỳ trong Nhà thờ...

2. Cha Giacôbê Nguyễn Văn Tỏ (1971 - 1972)

Tháng 6/1971, cha Giacôbê Tỏ đến thay thế cha Micae Sinh. Ngài hiền lành và nhân đức. Cha dạy chở bàn thờ đồng mà vị tiền nhiệm đem gởi ở Định Thuận về nhà thờ lớn và định sửa nhà lại. Nhưng bản thân cha mang nhiều bệnh tật, dầu có thiện chí bao nhiêu cũng không làm gì được. Sau 13 tháng cha đổi về Cù Lao Dài.

3. Cha Đỗ Minh Tâm (1972 - 1975)

Tháng 7/1972 cha Tôma Tâm đến Mặc Bắc. Ngài rất có thiện chí, nói là làm. Trong 3 năm ở Mặc Bắc cha làm nhiều công việc:

  1. Hoàn tất phần trên trường trung học Thăng Tiến mà cha Micae Sinh đang làm dỡ dang.
  2. Năm 1973, cha cất lại Nhà thờ Lộ Mới, cũng do cha Micae Sinh khởi sự. Cha cất thêm một dãy trường học 4 lớp bên Nhà thờ Lộ Mới và lo cho có Dì Phước dạy.
  3. Cũng trong năm 1973 cha sửa lại Nhà thờ Ba Giồng. Đoạn cha cho Nhà thờ Lộ Mới và Nhà thờ Ba Giồng hai chuông tư và năm của Nhà thờ lớn Mặc Bắc.
  4. Năm 1974 sửa nhà nguyện và cất thêm trường ở Định Thuận.
  5. Cũng năm 1974 khởi công xây cất Nhà thờ Ngọn theo họa đồ đã vạch sẵn nhưng vì thời cuộc nên chỉ hoàn tất khoản 60%.
  6. Cha cho xây hàng rào vững chắc quanh đồi Calvariô, tượng đài Chúa Kitô Vua và núi Đức Mẹ Lộ Đức.
  7. Cha phá vỡ hai tháp chuông và tiền đường Nhà thờ vì trong quá khứ bị chiến tranh và thiếu bảo quản. Gạch ngói cha đem xây Nhà thờ khu vực Ngọn.
  8. Cha Tôma Tâm còn dự trù và vận động kiến thiết ngôi Nhà thờ lớn.

4. Cha Anrê Nguyễn Bá Hớn (1975 - 1993)

Do thời cuộc đòi hỏi, Đức Cha Giacôbê đã đưa cha Anrê Hớn từ Mai Phốp về Mặc Bắc. Ngài vốn hiền lành và có kinh nghiệm về Mặc Bắc vì ngài đã làm phó tại đây từ 1956 - 1961. Lúc bấy giờ sau cơn bão tháng 10/1956 cha Anrê đã thu góp những vật liệu của Nhà thờ Ngọn vừa bị sập về dựng nên trường học để dạy con em trong xóm Ngọn.

Năm 1986 chính quyền cách mạng mượn sườn nhà mà cha Tôma Tâm đã làm Nhà thờ dang dỡ để xây trường học. Cũng chính cha Anrê xây cất lại Nhà thờ khu vực Ngọn và Đức Giám Mục địa phận đã thân hành đến làm phép Nhà thờ này. Nhà thờ này được thay thế bằng Nhà thờ hiện tại (2001).

Thuở còn làm phó xứ Mặc Bắc cha đã dựng nhà máy xay lúa cho nhà chung và nay cha đến tiếp tục phát triển, đến nay (1987) vẫn còn.

Sau tiếp thu họ Mặc Bắc chỉ còn có 12 công ruộng để canh tác...

Về phụng vụ, năm 1986 cha Anrê đóng một bàn thờ dài 3m cùng với giảng đài và giá đọc sách bằng gỗ cẩm lai rất đẹp. Đây là một kỳ công của cha trong thời gạo châu củi quế.

Cha còn hoàn thành một tháp chuông (1990) với dự tính sẽ hoàn thành ngôi Nhà thờ sau, phù hợp với tháp chuông mới.

5. Cha Phêrô Nguyễn Phước Lợi (1993)

Tháng 6/1993 cha Phêrô Lợi được điều về Mặc Bắc với lời van xin không làm gì ngoài mục vụ thiêng liêng. Nhưng do nhu cầu các khu vực Nhà thờ nên:

  1. Nhà thờ Ngọn được cha Phêrô Lê Công Rạng hoàn thành (2001).
  2. Dịp năm Thánh giáo phận Vĩnh Long (2003 - 2004) họ Mặc Bắc mừng lễ giỗ Thánh Giuse Trùm Lựu, được chính quyền tỉnh Trà Vinh cho phép tổ chức trọng thể khắp liên tỉnh và được tiếp tục mãi hàng năm.
  3. Nhà chung do cha Montmayeur khởi công (1874) với thời gian đã xuống cấp trầm trọng và nhất là mối mọt đụt phá nên đã được Hội Đồng Quới Chức phá dỡ và dựng lại ngôi nhà mới (2006) với đầy đủ tiện nghi.
  4. Nhà thờ Định Thuận đã được cha Dominic Huỳnh Văn Trung trùng tu (2006).
  5. Tháp Nhà thờ Mặc Bắc cũ đã được tháo gỡ vì chiến tranh và thiếu bảo trì (1965 - 1974) thì nay được một người thiện chí như ông Tư Hưng, anh Tám Hoàng...hội ý với Hội Đồng Quới Chức phục hồi lại như xưa, đúng 120 năm sau khi nhà thờ lớn được hoàn thành (1887 - 2007).

Viết theo:

  • Tuần báo Nam Kỳ Địa Phận (Sài Gòn) các số từ 438 - 444 ngày 28/6 - 9/8/1917
  • Sưu tầm lịch Công giáo (giáo phận Sài Gòn) từ năm 1924 của các ông trùm Giacôbê Tống, trùm nhất Mặc Bắc. Phêrô Trịnh Văn Trơn, trùm nhất Cái Nhum
  • Tìm tòi của giới trẻ Mặc Bắc (1996)

VÀI ĐẶC ĐIỂM CỦA HỌ MẶC BẮC

Là một họ lớn nhất nhì của giáo phận, Mặc Bắc như là cái nôi của Đoàn Thể Phạt Tạ (1941), Hội Đoàn Thanh Niên Thánh Nghiệp (1955)...nhưng có hai tổ chức đáng được quan tâm vì sự phát triển của nó.

1. Trường họ (École confessionnelle)

Trường họ là tổ chức thông thường vừa văn hóa vừa giáo dục và đào tạo người giáo dân do các thừa sai thiết lập tại các họ đạo nhỏ cũng như lớn.

Thường thì trường họ dạy miễn phí và với các em ở xa trường, trường họ còn cho ăn cơm trưa. Trường họ còn được các nhà giáo dục, tu sĩ và giáo dân, dạy giáo lý và văn hóa cho các em. Giáo lý từ cấp vỡ lòng đến thêm sức và bao đồng. Song song với giáo lý và văn hóa theo chương trình trường làng. Xong, các em về phụ giúp gia đình. Các em xuất sắc sẽ được chọn đi vào Chủng Viện hay các dòng tu. Thời đó đa số ơn gọi làm linh mục và tu sĩ đều xuất phát từ trường họ.

Trường họ của các họ đạo thường trở thành trung tâm văn hóa nơi các vùng nông thôn. Sau này hệ thống trường tư thục, bằng nhiều cách dụ dỗ, tiền bạc, cấp bằng... đã giết chết tổ chức trường họ 1955.

Riêng trường họ Mặc Bắc, năm 1925 cha sở Frison Hoàng đã chọn thầy giáo Hiện (tên thật là GBt Nguyễn Văn Ứng) làm Hiệu Trưởng điều hành trường họ, còn các tu sĩ chỉ đóng chân giảng dạy. Kế tục thầy Hiện là các thầy: Hai Tửu, Ba Keo, Giáo Lân.

Vào thời buổi mà ơn gọi tu sĩ ngày càng thưa thớt, có lẽ phải xem xét lại tổ chức trường họ để đào tạo con em bổn đạo về mọi mặt.

2. Hội Thiện Tử:

Hội đã được một nhóm giáo dân có học và cầu tiến (HĐND, Cả Vẹn...) thành lập đầu tiên tại họ Mặc Bắc để lo tương thân tương trợ trong việc tống táng. Hội lo về hết mọi mặt thiêng liêng và vật chất.

Hội được thành lập vào năm 1915 và được Đấng bản quyền chuẩn y năm 1932 và hoạt động đến nay không ngơi nghỉ gần 100 năm (1915 - 2007). Xuyên qua các giai đoạn 30 năm Pháp thuộc, 30 chiến tranh và gần 40 năm XHCN, Hội ngày càng vững mạnh. Giai đoạn nào, hoàn cảnh xã hội nào Hội Thiện Tử cũng đồng hành với người giáo dân, đặc biệt là những người nghèo. Xét về tính chất cố cựu thì Hội Thiện Tử có mặt tại Mặc Bắc 2 năm trước khi Đức Mẹ hiện ra tại Fatima. Ngày nay, Hội Thiện Tử quy tụ hơn 90% gia đình Công giáo tại Mặc Bắc nếu tính chung trong tỉnh Trà Vinh thì Hội Thiện Tử qui tụ khoản 6000 gia đình. Theo thiển kiến, nếu Hội Thiện Tử được phát triển trên toàn cõi giáo phận thì người Công giáo nhất là ở những họ nhỏ, được hưởng lợi rất nhiều về các mặt đạo đức, vật chất và cả việc truyền giáo nữa.