TÊN CŨ: Thị trấn Cầu Quan
XÃ: Long Thới
HUYỆN:
TỈNH:
ĐT:
BỔN MẠNG:
CHẦU LƯỢT:
GIÁO DÂN:

I. ĐỊA LÝ:

Họ đạo Mặc Bắc nằm bên tả ngạn Sông Hậu gồm 5 nhà thờ. Đông: giáp xã Phú Cần, huyện Tiểu Cần. Tây: giáp xã Ninh Thới, huyện Cầu Kè. Nam: Rạch Cần Chong, huyện Tiểu Cần. Bắc: giáp xã Phong Thạnh, huyện Cầu Kè; Cách thị xã Trà Vinh 34km về hướng Tây, trên quốc lộ 60.
Long Thới + Cầu Quan = Họ Mặc Bắc
Diện tích 4.900 ha 514 ha 5.414 ha
Dân cư 12.096 12.461 24.737
Công giáo 6.444 7.550 13.994

II. VỀ HÀNH CHÁNH:

Họ đạo Mặc Bắc gồm toàn bộ thị trấn Cầu Quan và 4 ấp xã Long Thới. Họ đạo Mặc Bắc còn gọi là họ Cầu Quan vì vào năm 1925 ở Rạch Cần Chong có đúc một cây cầu bêtông cho tàu La Cigogne cập bến đưa khách đi tuyến Mặc Bắc - Sóc Trăng.

III. Ý NGHĨA ĐỊA DANH MẶC BẮC:

Trước tiên Mặc Bắc là địa danh của một cái vàm của sông Hậu cách vàm Cần Chong khoản 1km về phía hạ nguồn và cách vàm Rạch Đùi 3km về phía thượng nguồn.

Theo truyền thuyết của bà con người Hoa (cộng đoàn người Hoa hiện diện tại xóm Chệc ngày nay có trước thế Kỷ XX hàng trăm năm) thì Mặc Bắc có nghĩa là "ĂN MẶC THEO KIỂU NGƯỜI PHƯƠNG BẮC" (Tàu).

Theo truyền thuyết người Khmer, Mặc Bắc đọc trại tiếng Moot Batt mà Moot có nghĩa là cái bến ghe, cái tuyến đường và Batt là bị bẻ gãy. Như vậy, phải chăng ở đây xưa kia có cuộc tranh hùng dữ dội giữa một bên là người Khmer địa phương còn bên kia là nhóm người Việt di dân trong cuộc Nam tiến. Cũng có thể là liên minh Việt-Hoa! Lý do là trong quần thể các dân tộc Kinh-Hoa và Khmer không có người lai "đầu gà đít vịt" theo Cha Trương Bá Cần, tổng biên tập báo Công Giáo và Dân Tộc thì truyền thuyết sau có khả năng hơn.

Gần đây, năm 2006 cơ quan Giao Thông vận tải thi công mặt đập trên Rạch Mặc Bắc cung cấp thêm một chi tiết nhỏ "Cống Mặc Xẫm". Có phải đây cùng nghĩa với "Mặc Đầm, Mặc Xẫm" không? Phán đoán dành cho hậu thế.

LƯỢC SỬ HỌ ĐẠO MẶC BẮC: (1777-2007)

Cũng như cả vùng truyền giáo Đông Dương, họ đạo Mặc Bắc biến chuyển theo các mốc lịch sử sau đây:

Thế Kỷ XV cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam từ Miền Bắc xuống phía Nam.

- 1659: Tòa Thánh thành lập 2 giáo phận tại Việt Nam: Đàng Trong và Đàng Ngoài cùng với các cuộc bắt bớ leo thang của các triều Chúa Nguyễn, nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn.

- 1691: Chúa Minh Nguyễn Phúc Chu áp dụng chính sách chống đạo.

- 1777: triều đại Tây Sơn theo tuần báo Nam Kỳ Địa Phận số 438 ngày 28/6/1917 xuất bản tại Sài Gòn thì Mặc Bắc đã có từ đó với số giáo dân là 30.

- 1782: Vua Tây Sơn Nguyễn Nhạc cùng Nguyễn Huệ đem quân tiến chiếm Gia Định. Đức Cha Bá Đa Lộc lưu giữ các chủng sinh tại Mặc Bắc.

- 1825: Vua Minh Mạng ra chỉ dụ cấm đạo.

- 1833: Thánh Giuse Marchand Du bị ngụy Khôi cưỡng bức về Chợ Quán và sao đó bị bá đao tại Huế (30/11/1835).

- 1840: Minh Mạng duy trì cấm đạo tàn khốc vào cuối đời mình.

- 1844: giáo phận Đàng Trong chia thành 2 giáo phận: Tây Đàng Trong (Sài Gòn) và Đông Đàng Trong.

- 1847: Pháp bắn phá cảng Đà Nẵng. Vua Thiệu Trị ban hành lệnh chống Công giáo.

- 1848: Vua Tự Đức ra chỉ dụ cấm đạo lần thứ nhất.

- 1853: Cha Phil. Phan Văn Minh, cha sở Mặc Bắc bị trảm quyết tại Đình Khao (3/7).

- 1854: Thánh Giusse Trùm Lựu chết rũ tù tại trại Tuyển Phong, Vĩnh Long (2/5).

- 1862: hòa ước Nhâm Tuất có khoản quy định về tự do tôn giáo nhưng Vua Tự Đức vẫn duy trì lệnh cấm đạo.

Dưới nhãn quan đó, lược sử họ đạo Mặc Bắc có thể chia ra làm 3 thời Kỳ:

I. THỜI KỲ HÌNH THÀNH VÀ THỬ THÁCH (1659-1862)

Trong thời kỳ này có các Cha sau đây trách nhiệm Họ đạo Mặc Bắc:

1. Cha Giacôbê Phướng

Đời Đức Cha Bá Đa Lộc thì có Cha Giacôbê Phướng coi họ Mặc Bắc đầu tiên. Cha này gốc ở Bình Định. Bổn đạo gọi theo tên Thánh là Cha Giacôbê. Người lo lắng giúp Cả Dương và Cả Sách trong công việc lập Họ đạo. Ban đầu thì tại họ không có Nhà thờ nên Cha Giacôbê làm các bí tích trong nhà bổn đạo, thường là trong nhà mấy chức việc. Sau đó thấy việc đạo được yên, vì có lệnh cấm đạo mà Vua Minh Mạng không có dạy bắt bớ dữ dằn nên bổn đạo xin phép cha cất một Nhà thờ tại Giồng Giữa bằng cột cây lợp lá. Chỉ cất Nhà thờ mà thôi chớ không có làm nhà cho cha ở vì cha phải đi làm phước cho các họ cha coi chớ không có ở được một nơi nào lâu.

2. Cha Lân

Khi cha Giacôbê qua đời rồi thì cha Lân kế tiếp coi họ Mặc Bắc và mấy họ xung quanh. Cha này còn một người cháu sống ở tại đây và làm chức việc họ (1917). Khi cha Lân tới Mặc Bắc thì bổn đạo mừng rỡ lắm, trong họ có một bài chúc. Lại mỗi khi cha đi các họ mà đáo lại họ Mặc Bắc thì bổn đạo tựu lại mừng. Lúc Vua Minh Mạng cấm đạo nhặt hơn, cùng dạy phá hết các Nhà thờ, họ Mặc Bắc sợ quân lính tới làm dữ nên bổn đạo đã hiệp nhau dỡ Nhà thờ và đem cây cột ngâm dưới "Bàu Xía" trước đất Thánh hiện nay. Đến sau bổn đạo cất lại Nhà thờ như cũ và tại đây sau này chôn xác Thánh Giuse Lựu và xác Đội Lý (cả hai đã qua đời tại khám Vĩnh Long). Về sau cũng đã chôn trong Nhà thờ này xác cha Abonnel bị quân dữ giết tại miệt Cầu Kè khi cha dẫn chủng sinh học tại Sài Gòn trở về.

3. Cha Thánh Giuse Marchand Du (+1835)

Sau cha Lân thì Cha Marchand coi họ Mặc Bắc. Có kẻ nói rằng Cha Marchand đi viếng các họ như cha Bề Trên, mà bởi thời ấy số các Cha hy hữu lắm nên Cha Marchand phải ngồi tòa làm phước, cử hành các bí tích trong mỗi họ, người viếng như là cha sở vậy.

Tương truyền rằng khi họ Mặc Bắc được tin cha Marchand đến thì bổn đạo hiệp nhau làm một cái nhà vuông chỗ khuất tịch trên rừng, gọi là "Sẫm Đền", gần bên Rạch Vồn. Hễ lần nào Cha tới thì ở tại đó làm lễ ngồi tòa, rửa tội, dạy giáo lý và có ban phép thêm sức nữa. Nơi rừng bụi ấy cọp ở nhiều nên có kẻ hỏi cha: ở vậy mà cha có sợ không? Cha trả lời: cha không sợ cọp 4 chân nhưng cha chỉ sợ cọp 2 chân mà thôi! Dầu Cha nói vậy chớ cũng có 4, 5 người giúp việc ở với cha luôn và khi có ai tới rước cha đi kẻ liệt, thì các chức việc phải đi trước dẫn đường.

Bổn đạo nói Cha Marchand tánh vui vẻ lắm, lại biết làm nhiều trò ảo thuật nữa. Bài ca "Cái vè" của bổn đạo đặt ra mừmg cha Marchand khi mới đến tại nhà vuông "Sẫm Đền" thì một bà già còn sống, tuổi hơn bảy mươi ở tại họ Mặc Bắc còn nhớ (1917).

Cha Marchand qua lại coi họ Mặc Bắc thì đến năm 1833, tướng ngụy Lê Văn Khôi cho quân đến ép người về Chợ Quán.

4. Cha Nhơn

Kế đó thì có cha Nhơn tới coi họ. Cha đau yếu hoài nên lo lắng các việc không phỉ nên Cha chỉ ở Mặc Bắc độ 3 tháng rồi đổi đi nơi khác.

5. Cha Thiên

Cha Thiên tiếp thế cho Cha Nhơn. Cha cũng không ở hoài một chỗ vì phải đi họ này họ kia luôn. Khi ấy họ Mặc Bắc số bổn đạo ba bốn trăm. Lúc này có lệnh bắt đạo nên bổn đạo phải chung tiền với nhau mà chịu cho quan phủ Lạc Hóa mỗi năm 300 quan và cho cai tổng 150 quan hầu bổn đạo khỏi bị bắt bớ. Lúc nầy số bổn đạo tăng lên nhiều vì những bổn đạo ở các nơi khác như Cái Hưu, Rạch Nhà, cà Mau .....rủ nhau tới Cần Chong và ở và lập nên ấp Định Tấn. Trong số các bổn đạo di dân này có ông Trùm Sang dắt một đoàn bổn đạo ở họ Sa Keo về Mặc Bắc vì yên ổn hơn.

6. Cha Hiển

Cha thứ sáu coi họ Mặc Bắc là Cha Hiển. Bổn đạo nói cha nầy nhát lắm vì sợ bị bắt. Mỗi khi có ai rước cha đi kẻ liệt thì cha mặc áo cũ mèm vá bậy bạ, đầu đội nón lá như nông dân đi ruộng vậy. Còn đồ lễ, dầu thánh thì bỏ trong thúng, trên chất cau trầu và cho một người phụ nữ đội đi trước giả như là kẻ buôn bán vậy.

Không rõ bổn đạo đã cất Nhà thờ lại hồi nào nên khi Cha Hiển đến Mặc Bắc thì đã có Nhà thờ mới gần Nhà thờ cũ. Vì sợ quan quân biết cho nên bổn đạo cất trại kê vách để đồ và tơ lụa cùng đồ ươm kén để tầm hầu qua mắt quan lính từ xa tới. Dù vậy Cha hiển cũng bị cáo tại Vĩnh Long nên quan sai đội lính tới bắt. Thời may có kẻ hay tin cho cha biết, cha lật đật chạy trốn mà bởi ban đêm trời tối mịt nên sụp xuống cái giếng và nhờ ẩn mình tại đó nên cha khỏi bị bắt. Cha Hiển ở Mặc Bắc độ 33 tháng thì đổi đi nơi khác.

7. Cha Tùng

Khi cha Hiển đổi đi, thì cha Tùng tiếp coi họ Mặc Bắc và cha chỉ ở đó một tháng rưỡi thì có cha Lựu đổi lại. Người ta nhớ về cha Tùng có một việc nầy là hễ Cha đi đâu thì có đem theo một hủ dầu gió (giả như thầy lang đi bán thuốc vậy). Ngày kia có động dụng cha Sở phải bắt nên đi trốn ở rừng rậm lúc yên rồi bổn đạo đi kiếm Cha mà không biết ở chỗ nào nhờ có mùi dầu gió bay ra mà biết cha đang ẩn mình.

8. Cha Thánh Phêrô Nguyễn Văn Lựu (+1861)

Cha Lựu coi họ Mặc Bắc cho tới năm 1853. Khi cha ở đó, thì có Cha Pernot tới viếng mấy họ miệt ấy. Lúc nầy tại họ có Nhà thờ, mà cha Lựu thường thì ở tại mấy nhà hương chức, nhất là nhà ông Trùm Lựu. Tưởng là Cha đã bị bắt tại đó, mà sau thì cha Minh tiếp kế người mới phải bắt. Chuyện như vầy: khi ấy cha Lựu đang lo coi dọn nền đặng dời Nhà thờ lại chỗ mới (sau là chỗ nhà ông thôn Thân); bổn đạo đem cây cột tới đó để dựng lên; kế đó Bếp Nhẫn tới xớ rớ làm bộ như là muốn phụ giúp vô, và lấy cây đo chỗ nền coi lòng kèo, lòng trính có vừa không, rồi nó lại gần cha Lựu mà than thở túng rối, cùng xin cha giúp nó 300 quan tiền. Cha Lựu biết danh tánh nó rõ lắm, nên cha đoán nó đi đo, giả chước xin tiền đặng mà nộp cha. Vậy cha trả lời cho nó như vầy: "Mầy là đạo dòng đạo dõi, mầy muốn bán tao như Giudà sao? Mầy muốn cáo tao thì cáo đi, tao ham mũ triều thiên tử đạo lắm". Bếp Nhẫn nghe cha quở mấy lời nhằm tâm mình, nên hổ thẹn và lui ra, cùng quyết đi cáo cha mà thôi. Vậy nó bèn tuốt qua tỉnh Vĩnh Long, đâm đơn cáo cùng quan, rằng có đạo trưởng Lựu ở tại mặc Bắc.

Song quan tỉnh không chấp đơn, trả lại cho nó và biểu phải cho có ba người đứng đơn cáo, thì quan mới chịu sai quân lính đi bắt, vì một người đứng đơn thì không chắc sự vào đâu. Cho nên bếp Nhẫn phải trở về mà lòng quyết một, thế nào cũng làm cho cha Lựu phải bị bắt mà thôi. Vậy nó mới bàn tính với tên Xã Hiệp và một tên lính cựu là Lý Vấp, cả ba đứng vào đơn mà cáo cha Lựu. Bởi đó cho nên khi các việc tính toán xong; ba tên ấy đem nhau qua tỉnh Vĩnh Long mà vô đơn, thì đã cách lâu ngày với phen bếp Nhẫn đã vô đơn cáo cha lần trước; và trong lúc đó thì cha Lựu đổi đi Ba Giồng, Cha Minh ở Cái Mơn qua thế tại Mặc Bắc.

9. Cha thánh Philipphê Phan Văn Minh(+1853)

Cha Minh gốc ở Cái Mơn, đã tới coi họ Mặc Bắc trong một tháng và mười tám ngày mà thôi, kế cha phải bị bắt tại nhà ông trùm Lựu. Quan quân dẫn cha qua ở Vĩnh Long, và Cha phải chịu chém vì đạo Chúa (xin xem trong hạnh cha Minh và ông trùm Lựu tử đạo).

Cùng bị bắt với cha Minh còn Thánh Giuse Trùm Lựu, người gốc ở họ Cái Nhum nhờ cố công làm ăn và đã trở thành phú nông. Ông bị giải về Vĩnh Long, bị giam và chết rũ tù tại trại Tuyển Phong (2/5/1854).

10. Cha Tôma Nguyễn Biểu Đoan (1855-1859)

Cha Tôma Nguyễn Biểu Đoan là người sinh quán tại Mặc Bắc, sinh 1826 và chịu chức năm 1853. sau khi ông trùm Lựu và cha Minh bị bắt rồi, thì trong sáu tháng Mặc Bắc không có Cha. Sau đó, cha Đoan được Đức Cha Ngãi phong chức và cuối năm 1853 được Đức Cha sai về coi họ Mặc Bắc. Nhưng cha Đoan cũng không dám ở lâu; độ 6 tháng mới đến một lần. Ở vài ngày giải tội, làm phước rồi đi nơi khác. Cách 2 năm sau thì Cha Đoan cất Nhà thờ tại nơi khác: ba căn một chái (nơi nhà Biện Cần) vì Nhà thờ trước, khi quân lính đến bắt cha Minh thì đã phá hủy rồi.

Vậy Nhà thờ mới này bề ngoài cũng ngụy trang làm như nhà để nuôi tằm và dệt tơ lụa. Khi có cha đến thì dọn trống cho cha làm lễ. Sáng ra dọn lại như cũ. Cha cất nhà Dì phước lại. Nhà này trước kia cha Phêrô Lựu đã lập số tu sĩ được 15 Dì, bà Nhất Trang và bà nhì Rậm coi sóc nhà phước nầy.

Cha Đoan coi họ Mặc Bắc đến 1859 thì đổi đi, cha Công lại thế.

11. Cha Công (1859-1862)

Khi cha Công đến Mặc Bắc thì nhân số bổn đạo được 1000 tới 1500 người . Cha cũng phải dự phòng luôn kẻo phải bị bắt; cho nên tối thì bổn đạo mới tựu lại Nhà thờ mà xem lễ, đọc kinh, cùng phải đặt nhiều người canh giữ nhiều chỗ, kẻo quan quân tới thình lình mà không hay. Khi Cha công ở đó được 4 tháng, thì có bếp Nhẫn với hai ba tên nữa một bọn với nó, ùa vào Nhà Phước mà phải nạp đạo trưởng. Mấy Dì phước điều sợ chạy trốn hết, ẩn mình tại nhà trùm Sang; cha Công cũng đi trốn nữa. Đầu bếp Nhẫn với tên Xã Hiệp không có lịnh quan dạy, mà nó bắt Đội Lý là cựu bổn đạo họ Cái Bông, mới về ở họ Mặc Bắc được vài năm, người có một gái tên là Tiếng cho đi nhà phước.

Mấy tên hung hoan gặp một khúc chuỗi lần và một miếng giấy có viết chữ quốc ngữ tại nhà Đội Lý, trối người lại mà dẫn qua Vĩnh Long, nộp người cho quan cùng mấy đồ tang vật ấy, cáo rằng người oa trữ đạo trưởng. Quan liền giam Đội Lý, người ở trong ngục mà phải thiếu thốn mọi bề, lại phải những quân lính hành hà đánh khảo, cho nên người mới hết sức mà phải chết tại khám năm 1859.

Cha Công cứ ở coi sóc họ Mặc Bắc và thêm lo sợ nữa, vì lúc ấy là lúc bắt đạo dữ dằn lại bất kỳ là ai cũng đều có phép bắt các đạo trưởng mà giải nạp cho quan, quan bỏ vô khám liền, giam đó sau mới tra hỏi.

Cha Công hưởng sự vui vẻ bình an ấy trong chừng 5 tháng, rồi thì đã đổi đi Bà Rịa.

12. Cha Trí (1862)

Cha Công đổi đi thì cha Trí tới coi họ Mặc Bắc, đâu đó đều đặng bằng an, không lo sợ gì nữa; nên cha đã cất một Nhà thờ mới xứng đáng hơn, chỗ nền Nhà thờ của cha Giacôbê cất đầu tiên, trước nhà bà Câu Đều. Tuy trên lợp lá chớ phía ngoài và phía trong xem vào thì liền biết là một Nhà thờ, không phải như nhà ở thường (Nhà thờ trước gọi là nhà thầy Ba, là ông già của Hương Chơn); những đồ nghề dệt tơ lụa và giàn để tằm không để trong Nhà thờ mới nữa; và cho ai nấy đặng biết rõ là Nhà thờ thì trên mặt tiền có đính một Thánh Giá bằng cây; sau kế Nhà thờ thì cha Trí cất một nhà đặng ở. Khi cha Colombert (Đức Cha Mỹ) tới đó đặng học tiếng An Nam, thì cha Trí cũng cất một nhà khác nữa cho Người ở. Và khi Người biết tiếng An Nam vừa đủ thì qua ở họ Cái Nhum, và đang khi cha Colombert coi sóc họ Cái Nhum thì Đức Cha Gioang (Mgr. Miche) đã đòi Người về Sài Gòn mà phong làm Giám Mục phó.

Khi ấy họ Mặc Bắc nhân số bổn đạo đã ra đông lắm, cách không đầy 100 năm, số 30 người tới Mặc Bắc đầu tiên trong năm 1776, mà khi cha Montmayeur (cha Minh) làm cha sở kế tiếp cha Trí thì số bổn đạo đã tới 3000 người.