Chúa Giêsu và nhóm các môn đệ đến Giêrikhô trong chuyến đi lên Giêrusalem. Giêrikhô được gọi là thành phố cây chà là, cách Giêrusalem 23 km về phía Đông Bắc, nằm ở 250m dưới măt biển, tại một ốc đảo trong vùng trũng bên sông Giođan.

Khác với trình thuật của Thánh Luca (Lc 18,35–19,10), ở đây ta thấy Chúa Giêsu và đoàn người đã không dừng lại Giêrikhô; cả đoàn đang đi ra khỏi thành thì gặp anh hành khất mù Báctimê. Vị trí của hai bên là hai vị trí không thể gặp nhau: Chúa Giêsu và các môn đệ cùng đám đông thì đang di chuyển trên đường; anh mù thì đang ngồi ở vệ đường.

Có biết bao người cùng khổ như anh chàng Batimê trong trang Tin Mừng hôm nay. Anh bị mù, không làm được việc gì để sinh sống, nên đành phải đi ăn xin. Đời anh thật khốn khổ, nên khi nghe tin Chúa Giêsu – người nổi tiếng chữa lành bằng phép lạ – sắp đi qua, anh kêu to lên xin Ngài cứu chữa. Đó quả là nhu cầu vô cùng chính đáng của anh. Nhưng những người Pharisêu – những kẻ không muốn Chúa Giêsu có ảnh hưởng trong xã hội vì lời giảng dạy và những phép lạ của Ngài – đã dọa nạt anh, bịt miệng anh để anh im đi.

Ta thấy chính đám đông là trở ngại cho đức tin của anh: họ quát nạt bắt anh im đi. Trước lời quát nạt đó anh càng kêu to hơn. Và Chúa Giêsu đã dừng lại, truyền gọi anh lại. Đám đông thấy Chúa Giêsu chiếu cố đến anh, liền “đổi giọng”.

Chúa Giêsu làm gì?  Làm thế nào mà Thiên Chúa nghe thấy tiếng kêu xin này? Chúa Giêsu dừng lại và truyền gọi người mù đến.  Những kẻ muốn bịt miệng anh ta, muốn làm im tiếng kêu khó chịu của người ăn xin, giờ đây, theo lệnh truyền của Chúa Giêsu, họ thấy mình bị bắt buộc phải đem người ăn xin đến với Chúa Giêsu như thế.  Người mù Bartimê đã bỏ lại tất cả và đi theo Chúa Giêsu.  Của cải của anh ta không có nhiều, chỉ có chiếc áo choàng.  Đó là tất cả những gì anh ta có để đắp và làm áo che thân.  Đó là sự an ninh của anh ta, nơi nương tựa của anh ta!    

Đến đây ta thấy xảy ra sự cắt đứt cuộc hành trình, Chúa Giêsu đứng lại (c. 49): chính thái độ này đã làm thay đổi thái độ của đám đông và đưa lại cho anh mù sự di động và sự gần gũi. Lối xử sự của Chúa Giêsu (đứng lại, truyền) đã làm cho hai bên có sự gặp nhau: anh ta có hướng đi tới. Sự việc anh vất áo choàng có nghĩa là đã chấm dứt sự cố định, để đạt sự di động. Hành vi “đến” (c. 50) đưa anh mù di chuyển mà gặp Chúa Giêsu, và đưa anh vào “con đường” Người đang đi. “Chúa Giêsu” và “con đường” là một; nói cách khác, sự gần gũi và di động phối hợp với nhau: con đường đã mở ra cho anh mù.

Họ sợ Ngài có thêm cơ hội làm phép lạ khiến Ngài nổi tiếng và có ảnh hưởng trên dân chúng nhiều hơn. Họ muốn độc quyền ảnh hưởng trên dân chúng. Đáng lẽ anh mù phải sợ những người Pharisêu này, vì họ có quyền thế về tôn giáo.

Đáng ngạc nhiên là đức tin của anh mù “ngồi ở vệ đường”, tức lâu nay không “đi theo” Chúa Giêsu, lại có phần sâu sắc (“Con vua Đavít”) hơn đức tin của đám đông dân chúng (“Giêsu người Nadarét”). Anh cứ kêu to hướng về Chúa Giêsu, bởi vì anh muốn gặp Chúa Giêsu mà anh lại không biết hướng. Kế đến ta thấy với niềm tin của mình anh mù được chữa lành và trở thành môn đệ (51-52).

Cái nhìn cho phép gần gũi dù ở xa, và bảo đảm cho có sự an toàn trong khi di động. Từ đó, ta mới hiểu tình trạng mù loà thật sự là tình trạng của đám đông và các môn đệ, một đám đông đang đi đường với Chúa Giêsu: họ ở gần mà thật ra họ ở xa, vì họ chỉ có thể thấy đây là “Giêsu Nadarét”. Nay đã được “thấy” bằng lòng tin, Báctimê phải di động, phải theo Chúa Giêsu trên đường. Công thức này thường được Mc (và Mt) sử dụng trong khung cảnh một sứ vụ do Chúa Giêsu giao phó cho người môn đệ (Mc 1,44; 5,19; 10,21; 14,13).

Qua Trang Tin Mừng này, ta nhận thấy rằng ta cần được Chúa Giêsu mở mắt tâm hồn để hiểu bản thân và sứ mạng của Ngài, cũng như để ta có thể sẵn sàng bước theo Ngài, làm môn đệ Ngài. Và khi đã nghe tiếng Chúa Giêsu kêu gọi trong cuộc sống, cần mau mắn dứt khoát bỏ đi mọi sự, như bốn môn đệ đầu tiên đã tức khắc bỏ tất cả để đi theo Ngài. Phải chấp nhận liều lĩnh, để từ đây cuộc sống của người Kitô hữu sẽ là một sự hiệp thông thân tình với Ngài.