1. Lời Chủ Chăn
  2. Tự Sắc Porta Fidei
  3. Diễn Giải
  4. Lời Nguyện Chung
  5. Áp Dụng Thực Hành
  6. Học Kinh Thánh
  7. Tìm Hiểu Giáo Luật
  8. Trang Linh Mục
  9. Trang Tu Sĩ
  10. Trang Sống Ơn Gọi
  11. Trang Thiếu Nhi
  12. Trang Giới Trẻ
  13. Trang Gia Đình
  14. Trang Giáo Lý Viên
  15. Trang Quới Chức
  16. Sống Đẹp
  17. Chuyện Thường Ngày
  18. Hỏi Đáp Mục Vụ
  19. Một Chút Tâm Tình

 

LỜI CHỦ CHĂN

TOÀ GIÁM MỤC VĨNH LONG
103 đường 3/2, P.1
Vĩnh Long

29.05.2013

                   V/v  Tin trong lòng và tuyên xưng ngoài miệng

"Cứ xem quả thì biết cây " (Lc 6,43). Đức tin là động lực của tín hữu. Ta không thấy đức tin bằng đôi mắt thể xác, nhưng  qua cách sống của một con người trong các sinh hoạt tôn giáo, trong Phụng Vụ, trong những cách sống với đồng loại, ta có thể nhận định về lòng tin con người nầy.

Tin và tuyên xưng Đức Giêsu Kitô: gương Thánh Phaolô

Thánh Phaolô, người trước kia rất nhiệt thành với Đạo Do Thái, nay một mực rao giảng Đức Giêsu Kitô: "Chúng tôi rao giảng  một Đức Kitô bị đóng đinh Thập Giá, cớ vấp phạm cho người Do Thái, sự điên rồ đối với dân ngoại, nhưng đối với những ai được kêu gọi dù là Do Thái hay Hy Lạp, thì lại là chính Đức Kitô quyền năng của Thiên Chúa, và sự khôn ngoan của Thiên Chúa" (1 Cor 1,23-24; x.1 Cor 2,2).

Chúa Giêsu chớ không phải Lề luật; lòng tin vào Chúa Giêsu Kitô chớ không phải những việc làm do Lề luật truyền dạy có thể làm cho chúng ta nên công chính: "Người đã cứu ta, không phải do tự các việc ta làm trong đàng công chính, nhưng là chiếu theo lòng thương xót của Người, nhờ Phép Rửa tái sinh và sự canh tân đổi mới của Chúa Thánh Thần"  (Tit 3,5).

Tin là ơn Chúa ban: Nếu Chúa không đến với Saulô trên đường đi Đamas, Hội Thánh sẽ không có được một Phaolô hăng say làm Tông Đồ cho Lương dân.

Ơn đức tin đã liên kết Phaolô với Chúa Kitô cách mật thiết như thế nào để  trở thành động lực thúc đẩy Thánh Tông Đồ không ngừng rao giảng, bất chấp mọi hiểm nguy: "Năm lần tôi bị người Do Thái đánh đòn ba mươi chín trượng; ba lần tôi đã bị tra tấn; một lần tôi đã bị ném đá; ba lần tôi đã đắm tàu, và đã phải qua một ngày một đêm chơi vơi trong lòng biển " (2 Cor 11,24-25).

"Vì Người (Chúa Kitô), tôi đành thua lỗ mọi sự, và coi là phân bón cả, để lợi được Đức Kitô, và được thuộc về Người, không có sự công chình riêng của tôi, sự công chính nại vào Lề Luật, song là sự công chình nhờ lòng tin vào Chúa Kitô, sự công chính do tự Thiên Chúa ban xuống cho lòng tin"  (Phil 3,8-9).

Tin là hy sinh, hy sinh mọi sự, nhưng trên hết ơn Chúa mới làm cho lòng  tin vào Chúa Kitô Phục Sinh có hiệu quả: "Có tin thật trong lòng, mới được nên công chính; có xưng ra ngoài miệng, mới được ơn được cứu chuộc" (Roma 10,10).

Lòng tin của Thánh Tông đồ biểu hiện qua những nỗ lực xây dựng Hội Thánh  hợp nhất: "Anh em không còn là người xa lạ, khách kiều cư, mà là những người đồng hương với các Thánh, và là người nhà của Thiên Chúa, được xây cao lên trên nền móng là các Tông đồ và Tiên Tri, mà đỉnh góc là chính Đức Kitô Giêsu" (Êph 2,19-20).

Để trở thành Tín Hữu Kitô:

Không biết Chúa Kitô, không ở với Chúa Kitô, không thể yêu mến mà cũng không thể trở thành môn đệ của Người. Thế nên, không biết Giáo lý, không biết Thánh Kinh, không cầu nguyện, thì làm sao có thể thân thiết với Chúa Giêsu, để làm môn đệ của Người .

Chúa Giêsu Kitô đã sẵn sàng hy sinh mọi sự, hy sinh mạng sống mình vì chúng ta, thì đối lại Người muốn cho môn đệ sẵn sàng từ bỏ mọi sự vì Chúa. Mến Chúa trên hếtmọi sự.

Hội Thánh hôm nay, muốn được tín nhiệm, phải cho thấy sự liên kết mật thiết (la cohérence) giữa lời giảng và lối sống, là phải loại bỏ những ngẫu tượng (les idoles) của tham vọng, coi trọng thành tích, đặt tin tưởng trên khả năng tự nhiên  của bản thân, muốn được coi trọng hơn những người khác (ĐGH Phanxicô, Giảng trong Thánh Lễ tại Vương Cung Thánh Đường Thánh Phaolô ngoài Thành, ngày 14.04.2013) .

Phải  trở thành Tín hữu Công Giáo:

Có người nói: Chúa Kitô thì Được. Hội Thánh thì không. Làm sao có thể tách biệt Hội Thánh khỏi Chúa Kitô ?

Chính Hội Thánh đem Chúa Kitô đến cho chúng ta và dẫn chúng ta đến với Chúa; Hội Thánh là đại gia đình con cái Thiên Chúa. Trong gia đình của Thiên Chúa, trong Hội Thánh, có một nhựa sống (la sève) là lòng mến Chúa được thể hiện bằng tình mến Chúa trên hết mọi sự và lòng bác ái đối với mọi người, không trừ ai. Hội Thánh là gia đình trong đó mọi người thương nhau và mọi người được mến thương.

Chúng ta hãy cầu xin Chúa, trong Năm Đức Tin nầy, thương ban cho các cộng đoàn chúng ta, cho toàn thể Hội Thánh, ngày càng trở nên gia đình thực sự  luôn sống và mang đầy hơi ấm tình yêu Chúa (ĐGH Phanxicô, Buổi tiếp kiến ngày 29.05.2013).

+ Tôma Nguyễn Văn Tân
       Giám Mục của Anh Chị Em

TỰ SẮC PORTA FIDEI

CHỦ ĐỀ:TIN TRONG LÒNG VÀ TUYÊN XƯNG RA NGOÀI MIỆNG

Có sự thống nhất sâu xa giữa hành vi thể hiện đức Tin và những nội dung chúng ta tán đồng. Thánh Phaolô Tông đồ giúp đi vào bên trong thực tại này khi ngài viết: "Có tin thật trong lòng, mới được nên công chính; có xưng ra ngoài miệng, mới được ơn cứu độ" (Rm 10,10). Con tim mách bảo chúng ta rằng chúng ta có được đức Tin vì trước hết đó là quà tặng của Thiên Chúa, và ân sủng Chúa tác động và biến đổi tận nơi sâu thẳm trong con người....

Thánh Luca dạy, việc hiểu biết những nội dung để tin thì không đủ, nếu cõi lòng, cung thánh đích thực của con người, không được ơn Chúa mở cho, nhờ đó mới có được đôi mắt để nhìn sâu xa và hiểu ra điều được loan báo chính là Lời Chúa.

Tiếp đến, việc tuyên xưng ngoài miệng cho thấy đức Tin gồm cả việc làm chứng và dấn thân công khai. Người Kitô hữu không bao giờ được nghĩ rằng tin là chuyện riêng tư. Tin, là quyết định ở lại với Chúa để sống với Người. Một khi "ở lại với Chúa", ta sẽ hiểu được tại sao ta tin. Chính vì đức Tin là một hành vi tự do, nên cũng đòi phải có trách nhiệm xã hội về những điều đã tin. Giáo hội, trong ngày lễ Hiện xuống, rõ ràng đã cho thấy chiều kích công khai ấy của việc tin tưởng và loan báo không chút sợ hãi về niềm tin của mình cho mọi người. Chính ơn Chúa Thánh Thần giúp chúng ta đảm đương sứ mạng, thêm sức để chúng ta làm chứng một cách trung thực và can đảm (Porta fidei, số 10).

DIỄN GIẢI

Trong cuộc thăm dò ý kiến mới đây do đài BBC tổ chức, người dân Nigeria được đánh giá là một dân tộc sùng đạo nhất trên thế giới. Dân chúng Nigeria đón nhận tin này với những cảm nhận mừng-lo lẫn lộn. Họ nói: "Phải rồi, chúng tôi là một dân tộc sùng đạo nhất trên thế giới khi đông đảo dân chúng đi dự lễ tại nhà thờ, cầu nguyện và tự nhận mình là những kẻ có lòng tin. Thế nhưng niềm tin tôn giáo nơi chúng tôi lại chẳng được thể hiện ra qua một lối sống ngay thẳng và cả trong những việc buôn bán kinh doanh nữa". Bạn biết đấy, Nigeria được đánh giá là một trong những nước tham ô hối lộ nhất trên thế giới. Phải chăng "một tôn giáo thật" chỉ là chuyện trong lòng và trên môi trên miệng mà thôi? Tôn giáo đó liệu có thể điều hướng cuộc sống chúng ta một khi chúng ta tin trong lòng và tuyên xưng ngoài môi miệng?

Trong bối cảnh lúc bấy giờ hoàng đế Rô-ma, Julius Xê-da-rê, tự cho mình là thần thánh và bắt dân chúng - trong đó có các Ki-tô hữu tiên khởi - bái lạy dâng hương cho mình khi qua đời, Thánh Phao-lô đã khích lệ các ki-tô hữu kiên vững trong niềm tin vào Đấng Phục Sinh và tuyên xưng Ngài là Chúa, dẫu họ phải trả giá bằng mạng sống, vì đó là con đường để đạt tới ơn cứu độ: "Quả thế, có tin thật trong lòng, mới được nên công chính; có xưng ra ngoài miệng, mới được ơn cứu độ" (Rm 10,10).

Ngày nay, nhiều người vẫn cho rằng niềm tin ki-tô giáo chỉ là chuyện riêng tư, ở trong lòng. Tại nhiều nơi, họ không dám công khai xưng mình là ki-tô hữu, hoặc cá nhân hay tập thể. Thánh Phao-lô hôm nay vẫn thúc bách chúng ta suy tôn Chúa trong lòng, tuyên xưng Chúa ngoài môi miệng và đem ra thực hành trong đời sống hằng ngày.

(Dựa  theo Văn Chính, SDB)

Người đời thường nói: sống sao, chết vậy! Sống lành, chết lành; sống dữ, chết dữ. Sống như thế nào thì tùy mỗi người quyết định phần số của mình, nhưng có một điều chắc chắn không thay đổi đó là ai cũng phải chết. Còn sống thì còn nhiều cơ hội để  sửa đổi, nhưng khi đã chết rồi thì dù một chút cơ hội để làm lại cuộc đời cũng không còn. Thánh Phao-lô xác quyết ai cũng phải một lần chết: "Phận con người là phải chết một lần, rồi sau đó chịu phán xét" (Dt 9:27). 

Thế nhưng Thiên Chúa, "vì quá yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài để những ai tin vào Người Con ấy sẽ không phải chết nhưng được sống muôn đời"  (Ga 3, 16). "Được sống muôn đời" nghĩa là "được cứu độ". Vì "nếu miệng bạn tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa và lòng bạn tin rằng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại từ cõi chết thì bạn sẽ được cứu độ (x.Rm 10,10).

Đối với người Ki-tô hữu chết chưa phải là hết, là mất tất cả, bởi vì, chúng ta được dựng nên để sống cho Thiên Chúa và chết cho Thiên Chúa (x. Rm 14, 7). Một khi thân xác chết đi là chúng ta bước vào cuộc hiệp thông muôn đời với Thiên Chúa, Đấng yêu thương dựng nên chúng ta, chỉ với một điều kiện là tin vào Đức Giê-su Ki-tô: "Ai tin vào Ta sẽ không chết bao giờ" (Ga 11, 26). Cái chết không còn là nổi ám ảnh hãi hùng nhưng là một ơn phúc: "Phúc thay những kẻ chết trong Chúa" (Kh 14, 13). Qua cái chết,  Chúa đưa chúng ta đến nơi an nghỉ muôn đời, đến miền ánh sáng vô tận. Tin là dấn thân sống trọn vẹn cho Chúa, là gắn bó ân tình với Chúa là chính sự sống đời đời, nhờ đó, chúng ta không bao giờ chết, nhưng được sống muôn đời với Chúa (x. Ga 11,26; 1Ga 3,14).

Suy gẫm về sự chết giúp chúng ta biết quan tâm hơn đến cuộc sống đời đời;  nhờ đó biết sống cuộc đời nầy trong niềm tín thác yêu thương, phụng sự Thiên Chúa,  phục vụ tha nhân theo ý Chúa muốn và tìm cách xa lánh tội lỗi. Vì như Đức Giêsu nói: "Được lời lãi cả thế gian mà mất sự sống đời đời thì ích lợi gì?" (Lc 9,25). Nhưng muốn được sự sống đời, thì phải tin vào Thiên Chúa, vào Đức Giêsu-Kitô, như một điều kiện không thể không có: "Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ; còn ai không tin, thì sẽ bị kết án" (Mc, 16,16).

Ngay trong cõi đời nầy, nếu chúng ta tin Chúa, sống gắn bó với Chúa, thì chúng ta cũng sẽ vĩnh viễn thuộc về Chúa trong hạnh phúc vĩnh hằng đời đời: sống sao, chết vậy !

Nhưng thế nào mới là "tin trong lòng và tuyên xưng ra ngoài miệng ?"  (x.Rm 10,10).

Tin trong lòng

Là xác tín rằng có Chúa Cha ở với chúng ta và Người luôn yêu thương chúng ta, vì như Chúa Giê-su đã dạy: "Hễ ai tin Tôi, thì không phải là tin Tôi, nhưng là tin Đấng đã sai Tôi" (Ga 21,44). Có Thiên Chúa là Cha đối với người tín hữu là hạnh phúc lớn nhất đời như lời thánh Phi-lip-phê: "Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện" (Ga 14,8).

Là tin rằng Đức Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa, là Đấng cứu độ duy nhất của chúng ta. Nhờ đó, chúng ta quyết tâm sống gắn bó với Chúa, bám chặt vào Chúa, chứ không phải một thế lực nào  khác. Vì chỉ trong Chúa chúng ta mới thực sự hạnh phúc và bình an.

Là bỏ mình, vác Thập giá hàng ngày theo Chúa,  đặt Chúa làm trung tâm cuộc đời mình, chứ không phải là "tôi' hay ai khác, việc gì khác. Vì Chúa Giê-su nói: "Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy" (Mc 8,24-35).

Là xác tín rằng Chúa đã thắng thế gian, như thế ai tin vào Chúa cũng sẽ chiến thắng: "Như Chúa Giêsu, là Đấng đã được vinh hiển trên Thập Giá ; chúng ta sẽ luôn luôn gặp khó khăn trong cuộc sống ! Nhưng đừng nản lòng:  chúng ta có sức mạnh của Thần Linh giúp chiến thắng các khổ đau khốn khó ấy" (ĐTC Phan-xi-cô trong buổi tiếp kiến Chúa Nhật 28.4.2013).

Tuyên xưng ngoài miệng

Niềm vui thì muốn được chia xẻ. Hạnh phúc vì được có Thiên Chúa là Cha, được Chúa yêu thương, nâng đỡ và sau cùng  được sống vinh phúc muôn đời với Đấng đã mời gọi chúng ta tôn thờ yêu mến Người, thôi thúc chúng ta không ngừng giới thiệu về Chúa cho anh em mình để họ cũng được hạnh phúc như chúng ta. Niềm tin vào chân lý ấy thúc bách chúng ta tuyên xưng đức tin của mình ra bên ngoài, bất chấp những nghịch cảnh, khó khăn, đôi khi nguy hiểm đến tính mạng "Ai chấp nhận Thầy trước mặt người đời, Thầy sẽ chấp nhận kẻ đó trước mặt Cha Thầy ở trên trời. Còn ai chối Thầy trước mặt người đời, Thầy cũng sẽ chối kẻ đó trước mặt Cha Thầy ở trên trời" (Mt 10,32-33 ).  Đức Thánh Cha Phan-xi-cô khích lệ:  "Chúng ta phải có lòng can đảm ra đi loan báo Chúa Kitô Phục Sinh, bởi vì Ngài là sự bình an của chúng ta..." (ĐTC Phan-xi-cô trong buổi tiếp kiến Chúa Nhật 28.4.2013).

Thánh Phao-lô căn dặn Ti-mô-thê-ô: "Con hãy sống gương mẫu về đức tin" (1 Tm 4,12). Còn  Thánh Gia-cô-bê nhấn mạnh: "Đức tin không việc làm thì quả là Đức tin chết"  (Giac 2,17). Sống đời Ki-tô hữu không chỉ là đọc, kinh, cầu nguyện, dự lễ và thi hành một số lề luật phải giữ...nhưng còn là giữ luật Chúa với tất cả tâm hồn, vì yêu Chúa và yêu người như Chúa muốn.

Đức tin  đòi hỏi sự kiên trì, tín thác suốt đời.  Kiên trì "làm việc thiện, không sờn lòng nản chí" (2Tx 3,13); kiên trì giới thiệu Chúa cho anh chị em mình... đó chính là bí quyết giúp chúng ta được ơn cứu độ.

LỜI NGUYỆN CHUNG

Kêu mời: Anh chị em thân mến,

Đức tin vào Thiên Chúa mang tính cách cá nhân, được diễn tả bằng hai phương diện: bên trong và bên ngoài. Tin trong lòng và tuyên xưng ra ngoài miệng. Chúng ta cùng hiệp ý cầu nguyện cho được ơn tăng trưởng đức tin:

1. Chúa phán: "Ai tin và chịu phép rửa sẽ được ơn cứu độ". Chúng ta cầu nguyện cho mọi thành phần Hội Thánh, vừa tin thật trong lòng, vừa tuyên xưng ra ngoài môi miệng tất cả những gì Chúa đã mạc khải cho Hội Thánh.

2. Chúa phán: "Các con hãy đi trình diện với các tư tế, thì sẽ được khỏi bệnh". Chúng ta cầu nguyện cho các Kitô-hữu luôn thật lòng tin vào những Lời Chúa hứa, để luôn cao rao những lời ngợi khen Chúa giữa mọi người.

3. Chúa phán: "Đức tin của con đã cứu chữa con". Chúng ta cầu nguyện cho các kitô-hữu luôn tín thác vào tình yêu và quyền năng Chúa, để tìm đến với Chúa mà sống nhờ Chúa, với Chúa, và trong Chúa luôn mãi.

4. Thánh Giacôbê viết: "Đức tin không việc làm là đức tin chết". Chúng ta cầu nguyện cho mọi người trong họ đạo chúng ta, biết sử dụng các phương tiện thánh, mà làm tăng trưởng đức tin trong lòng và lớn tiếng tuyên xưng ngoài miệng.

Kết thúc: Lạy Chúa, Chúa muốn chúng con tin vào Con Chúa để được sống đời đời. Xin cho chúng con vừa vững tin trong lòng và vừa lớn tiếng tuyên xưng đức tin nơi môi miệng, để chúng con đáng được hưởng sự sống Nước Trời. Chúng con cầu xin... Amen.

ÁP DỤNG THỰC HÀNH

SỐNG VÀ LOAN BÁO TIN MỪNG

Trong nghi thức phong chức phó tế, khi Đức Giám Mục trao Phúc âm cho tân chức, ngài nói: "Con hãy nhận lấy Phúc âm Đức Kitô mà con đã trở thành người rao giảng, và con hãy biết là phải tin điều con đọc, dạy điều con tin và thi hành điều con dạy".

Như vậy, Thầy phó tế đã trở thành người chính thức rao truyền tin mừng của Chúa khi nhận Sách Phúc âm từ tay Đấng Bản Quyền. Trong lời này ta thấy có ba giai đoạn rõ rệt: Con phải tin điều con đọc, dạy điều con tin, thi hành điều con dạy.

Con phải tin điều con đọc. Đọc ở đâu? Đọc ở sách Phúc âm, như vậy đức tin được nuôi dưỡng, được lớn lên là nhờ liên kết, gặp gỡ Lời Chúa. Đọc, suy niệm tin mừng làm cho người rao giảng được vững tin vào Thiên Chúa, tin vào sự hiện diện của Chúa nơi vũ trụ vạn vật, nơi tha nhân và chính bản thân mình. Tin là một ơn ban, nhưng ơn ban này cần phải được nuôi dưỡng bằng Lời Chúa. Nhờ Phúc âm ta gặp gỡ Chúa, nhờ Phúc âm ta lớn lên trong tình yêu Thiên Chúa và nhờ Phúc âm ta tin Chúa mạnh mẽ hơn.

Dạy điều con tin. Công giáo không phải là tôn giáo của giáo điều, của luật lệ nhưng là sự hiệp thông và tôn thờ Đấng Tạo Hóa là Thiên Chúa. Vì thế, việc dạy đức tin không phải chỉ là dạy cho người khác biết giáo lý, hay một mớ giáo điều mà là giới thiệu cho người ta biết Chúa, tin vào Chúa. Thầy phó tế từ nay trở đi sẽ trở thành người giới thiệu khuôn mặt đầy yêu thương của Thiên Chúa một cách chuyên biệt trong chức vụ mình lãnh nhận.

Thi hành điều con dạy. Chúa Giêsu nói: "Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: "Lạy Chúa ! lạy Chúa !" là được vào Nước Trời cả đâu ! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi. (Mt 7, 21). Nói tin thôi thì chưa đủ mà còn phải sống đức tin ấy bằng đời sống nữa. Cũng giống như "Dò sông dò biển dễ dò, nào ai lấy thước mà đo lòng người", tôn tin nhưng đức tin của tôi như thế nào, Chúa của tôi ra làm sao thì chính đời sống đức tin trả lời cho những câu hỏi ấy. Đành rằng Chúa không cần những hành vi bên ngoài mang tính hình thức nhưng cách thức thể hiện niềm tin là điều phải có của những ai đầy niềm tin. Thầy phó tế là người rao giảng tin mừng Chúa sẽ chẳng ai tin vào Thiên Chúa thầy rao giảng nếu không nhận ra thầy đang sống và kết hợp với Đấng ấy.

Mượn những sứ mạng trên đây của các thầy phó tế để nói về sứ mạng của tất cả mọi người chúng ta. Hành trình ba bước của các phó tế cũng sẽ là hành trình của mỗi người chúng ta: Tin nơi Chúa, sống với Chúa và loan truyền tình yêu của Chúa.

Khi lãnh nhận bí tích Rửa tội, chúng ta được trao cho sứ mạng loan báo tin mừng. Ngày ấy, ta được gieo vào lòng chúng ta một hạt giống niềm tin và được trao cho sứ mạng làm cho hạt giống ấy lớn lên và sinh hoa kết quả. Như thế, một cách nào đó có thể nói các thầy phó tế có nhiệm vụ rao giảng tin mừng cách chuyên biệt hơn còn chúng ta được mời gọi loan báo tin mừng cách cộng đồng hơn nhưng sứ mạng vẫn là một, đó là làm cho anh chị em nhận biết, tôn thờ và yêu mến Chúa.

Đặc biệt nơi bí tích Thêm Sức, chúng ta cũng là người được sai đi. Được sai đi cùng với người khác, được sai đi với ơn sức của Chúa. Đối tượng mà chúng ta cần nói cho biết về Chúa, không ở đâu xa mà ngay trong gia đình, gia tộc và họ đạo của mình. Họ là những người thân thích, là bà con lối xóm của ta. Họ là những người đồng hương với ta, cùng nghề nghiệp với ta...

Lạy Chúa, xưa Chúa đã lệnh truyền cho các tông đồ ra đi loan báo tin mừng cho muôn dân để họ nhận biết và tôn thờ Chúa nhờ đó họ được đón nhận ơn cứu độ. Xin cho chúng con ngày nay là những được đã được phúc đón nhận ơn đức tin biết làm cho đức tin được vững mạnh bằng Lời Chúa, và xin cho chúng con biết sống sao để khuôn mặt đầy từ ái yêu thương của Chúa được rạng rỡ bằng một đời sống đầy tình bác ái yêu thương nơi mỗi người chúng con với những ai chưa nhận biết Chúa.  

HỌC KINH THÁNH

BÀI 29. THƯ THỨ I CỦA THÁNH PHÊRÔ (I Pr)

1/ Ai là tác giả của lá thư này? Tác giả đã tự giới thiệu mình trong phần đầu bức thư như sau: " Phêrô Tông đồ của Chúa Giêsu Kitô" (1,1) ngài còn viết: "Nhờ tay Silvanô, người anh em trung tín, tôi viết ít điều cho anh em" (5,12).

2/ Lá thư thánh Phêrô viết cho ai?    Thư viết cho các tín hữu bị lưu đày rải rác ở Pontô, Galatia, Cappađôcia, Tiểu Á và Bithynia, vì là thư luân lưu nên còn có thể được gửi tới nhiều miền khác nữa.

3/ Thư được viết ở đâu vào lúc nào?  Theo đa số ý kiến thì thư được viết từ La mã, còn Babylon được nhắc tới trong 5,13 có mục đích bảo mật nơi chốn lá thư được phát xuất, vì lúc đó đang bị bách hại. Thánh Phêrô bị tử đạo thời hoàng đế Nêron, nên thư phải được viết trước thời đại Nêron cấm đạo, tức năm 64.

4/ Thánh Phêrô viết thư này nhằm mục đích gì? Thư được viết cho các Giáo hội đang bị bách hại "Ưu phiền giữa trăm chiều thử thách" (1,6) "Tha hương giữa đất người" (2,12) còn được khích lệ hầu đứng vững trong niềm tin, can trường theo gương Đức Kitô (3,13-22; 4,1-13). Nói tóm lại, lá thư là một toát yếu về đức tin hăng say của một người Kitô hữu trung kiên anh dũng sống chết vì Đức Kitô.

5/ Thánh Phêrô khuyên tín hữu đang bị bách hại như thế nào? "Hãy ở khiêm tốn dưới bàn tay uy nghi của Thiên Chúa, ngõ hầu khi thời giờ đến, Người nhắc anh em lên. Mọi nỗi âu lo anh em hãy trút cả cho Người vì Người lo đến anh em". ( 5, 5-7)

Lời Chúa: "Hãy yêu mến tôn trọng mọi người, yêu mến anh em, hãy kính sợ Chúa, hãy tôn trọng vua" (2,17).

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, thử thách gian truân đó là thân phận kiếp người. Xin cho chúng con đừng sờn lòng nản chí trước mọi thách đố của cuộc sống để vẫn luôn tin tưởng dấn bước theo Chúa đến cùng. Amen.

TÌM HIỂU GIÁO LUẬT

NƠI THÁNH (tt)
(Đ.1205-1243)

8. Các Thánh Điện - Đền Thánh

Bên cạnh nhà thờ, nhà nguyện và phòng nguyện, Bộ giáo luật còn thêm một chương nói về các thánh điện hay là đền thánh mà các tín hữu thường xuyên tới lui hành hương kính viếng vì một lý do đạo đức đặc biệt. Thánh điện hay Đền thánh được hiểu là một nhà thờ hay là một nơi thánh nào khác (x.đ.1230).

Dĩ nhiên lý do của sự kính viếng ấy phải được Bản quyền sở tại chuẩn nhận nhằm kiểm chứng xem có hữu lý hay không, hoặc chỉ dựa trên sự mê tín lệch lạc hoặc tin đồn vô căn cứ như là một sự thật là đã xảy ra.

Giáo luật phân biệt các thánh điện thành ba hạng, tuỳ tầm mức quan trong của nó. Chẳng hạn như:

  1. Thánh điện Giáo phận, do Bản quyền sở tại thiết lập;
  2. Thánh điện quốc gia do Hội đồng Giám mục thiết lập;
  3. Thánh điện quốc tế, do Toà thánh phê chuẩn (x.đ.1231).

Thẩm quyền thiết lập cũng sẽ châu phê quy chế của thánh điện. Trong quy chế phải xác định nhất là về mục đích, quyền hạn của vị quản đốc (quản nhệm), tài sản và việc quản trị (đ.1232).

Thẩm quyền thiết lập thánh điện cũng có thể ban các đặc ân khi nào xét trong hoàn cảnh cụ thể, có nhiều khách hành hương, và nhất là ích lợi của tín hữu đòi hỏi (đ.1233). Các đặc abn ấy có thể là một số ân xá, hoặc năng quyền giải vạ dành cho cha giải tội, hoặc là việc cử hành lễ ngoại lịch...

Về phương diện mục vụ, điều 1234 khuyến khích nên để ý đến việc cung cấp dồi dào các phương thế cứu rỗi cho các tín hữu, như: rao giảng Lời Chúa, cử hành phụng vụ, nhất là bí tích Thánh thể và Hoà giải, cũng như duy trì việc thực hành lòng sùng đạo bình dân đã được giáo quyền phê chuẩn.

Ngoài ra, những kỷ vật dâng cúng có giá trị nghệ thuật bình dân và đạo đức được trưng bày trong các đền thánh hoặc trong các nơi kề cận phải được bảo tồn và gìn giữ an toàn (1234§2).

TRANG LINH MỤC

LINH MỤC,  NGƯỜI GIEO RẮC NIỀM TIN

Khi suy gẫm luật Chúa, con hãy chú tâm tin các điều con học, dạy điều con tin và thi hành điều con dạy. Đấy là lời  Đức Giám Mục ân cần khuyên nhủ các tiến chức trong nghi thức phong chức linh mục và các linh mục phải coi đó như kim chỉ nam hướng dẫn đời sống mình.

Trong đời sống xã hội , người ta có thể học điều này điều nọ để có được bằng cấp hay một chỗ đứng trong xã hội, nhưng chưa hẳn họ đã tin như vậy. Nhưng trong đời sống tâm linh, người linh mục không những phải nằm lòng mà còn để cho những điều mình đã học in sâu vào trong tâm hồn của mình, trở thành máu thịt của mình. Hay nói cách khác người linh mục phải tin những điều mình đã học mà không chút hoài nghi. Tôi tin như thế, tôi thề như thế...

Người linh mục không chỉ tin những điều mình học mà còn truyền thụ niềm tin đó cho nguòi khác qua lời nói, cách ứng xử và việc làm của mình. Nói mà không xác tín thì khó thuyết phục người khác. Dạy mà không tin thì chẳng khác gì cái máy thâu băng lập di lập lại.  Nhiều giáo dân đã chẳng than phiền rằng: Cha giảng không có hồn ! Cha là cái máy gây mê! Dĩ nhiên Chúa ban cho mỗi người một khả năng , nhưng người linh mục phải luôn cố gắng trau giồi mỗi ngày qua việc đọc sách, thăm viếng giáo dân để hiểu biết họ và nhất là sống thân tình với Chúa để có thể giảng tốt hơn

Người linh mục không chỉ nói và truyền thụ niềm tin mà còn bày tỏ đức tin trong chính cuộc sống của mình. Chúng ta nhớ lại câu chuyện trong thánh kinh thuật lại việc dân Do Thái đi theo các tư tế khiêng Hòm Bia Giao Ước để vượt qua sông Giođan tiến vào Đất Hứa theo lệnh Chúa truyền. Trước mặt các tư tế là dòng sông nước chảy cuồn cuộn gió thổi mạnh và khi bàn chân các tư tế đặt xuống nước thì Chúa cho nước rẽ làm hai để dân có thể qua sông. Nước sông Giođan sẽ không rẽ ra, nếu các tư tế không có niềm tin và can đảm bước tới. 

Linh mục là người của Chúa, dẫn dắt đoàn chiên của Chúa hướng về vùng Đất Hứa , trên đường đi không thiếu những khó khăn và thử thách, người linh mục nhưng không được tháo lui mà phải bước tới trong khiêm tốn và tin tưởng.  Nếu không dám bước tới, chúng ta cứ đứng bên này sông mà than: Thiếu khả năng, thiếu tiền, thiếu nhân sự .... Hãy can đảm bước vào vùng nước nguy hiểm để có thể kinh nghiệm được quyền năng của Thiên Chúa và giúp củng cố đức tin của nguòi khác.
Lạy Chúa xin giúp con luôn tin tưởng những gì Chúa dạy con và can dảm bước đi trong niềm tin vào Chúa .

KHÔNG THỂ THIẾU  LINH MỤC TRONG ĐỜI

Thánh lễ truyền chức Linh Mục vừa chấm dứt, ở khu nhà vòm bên hông nhà thờ bắt đầu xôn xao chờ các tân chức ra để chào đón. Ai nấy đều nôn nao để xem thử "ông thầy xứ mình hôm qua, nay làm cha ra sao?"

Rồi... cha mới cũng xuất hiện. Với vòng hoa trên cổ, trông cha nhỏ bé quá giữa đám đông vây bủa chung quanh. Cha như một diễn viên lừng danh giữa các fan hâm mộ và những ánh đèn flash nháy lên hồi.... mỗi người ai cũng đều mong chụp với cha mới một tấm hình, ai cũng muốn bắt lấy tay cha nói một lời chúc tụng... và Cha như bị sâu xé giữa những cánh tay lúc thì kéo về bên này lúc lại bị kéo về bên kia. Có một câu bông đùa nghe thật thấm thía "Không có gì mau cũ cho bằng... cha mới" và mọi người ai cũng hối hả như sợ rằng cha sẽ "cũ" khi chưa "mới" được bao lâu. Và bỗng dưng, cha trở thành ngôi sao sáng giữa đám đông chung quanh.

Ôi! Chức Linh Mục!

Chức Linh Mục là gì mà sao biến đổi một con người bình thường nên cao trọng nhanh như vậy? Như một phép mầu biến con vịt xấu xí thành con thiên nga kiêu sa lộng lẫy, thiên chức Linh Mục đã khoác vào con người ngày hôm qua một hào quang rực sáng .

Linh Mục là ai và Linh Mục là gì ?

Đã có người bạn hỏi tôi "Linh Mục là gì mà người ta quý trọng như vậy? "Có bạn khác thì lại nhất quyết "Linh Mục là một cái nghề - rất ngon"

Có thể những người bạn ấy đã thấy Linh Mục trong những ngày lễ Phong Chức được tổ chức trọng thể với kèn tây, đoàn rước dài và những bông hoa cùng những lời chúc tụng.

Có thể những người bạn ấy chỉ thấy Linh Mục trong những cuộc lễ lớn, những bữa tiệc tùng khi thấy Linh Mục đi giữa hai hàng chào, được người ta kính trọng và dành cho Linh Mục quá nhiều những đặc ân mà chỉ có những vị tai to mặt lớn giữa đời mới nhận được

Nhưng Linh Mục đâu chỉ có những ngày được "tung hô vạn tuế" như thế mãi... mà Linh Mục còn có những đêm Thứ Năm Tuần Thánh trong đời khi mọi người bỏ rơi, khi bị hiểu lầm về những công tác mục vụ, những chiều Thứ Sáu Tuần Thánh Linh Mục chết giữa những đau buồn và tủi nhục.

Linh Mục là hình ảnh của một Chúa Giêsu vác thập hình trên đường đi Núi Sọ... đơn độc và lặng lẽ.

Chỉ có thể là Linh Mục khi Linh Mục biết hy sinh.

Chỉ có thể là Linh Mục khi Linh Mục biết quên mình .

Chỉ có thể là Linh Mục khi làm cho Chúa lớn lên còn Linh Mục thì nhỏ lại.

 Linh Mục như thế thì liệu những người bạn đã hỏi tôi có còn ham thích nữa không?

Có người bạn đã ví ngày thụ phong kế đến là những ngày vui Tạ Ơn trong những thánh lễ mở tay, Linh Mục như cô dâu trong ngày cưới, tiếng pháo nổ đì đùng và Linh Mục bước đi hân hoan tràn trề hạnh phúc trên thảm hồng đầy xác pháo. Rồi những ngày kỷ niệm năm sau, Linh Mục gom những mảnh xác pháo hôm nay làm thành viên pháo mới. Pháo lại nổ, xác pháo bay tung tóe trên đường hoa.... rồi năm sau nữa, viên pháo bé hơn, tiếng nổ nhỏ hơn nghe không còn âm vang như ngày xưa nữa và cứ như thế, tiếng pháo cứ nhỏ dần.

Con người Linh Mục là một chiến trường khốc liệt giữa những sâu xé nghịch lý không tưởng.

Linh Mục sống giữa đời nhưng không thuộc về đời.

Linh Mục yêu mọi người nhưng lại không yêu riêng một ai.

Linh Mục là một con người - như mọi người nhưng lại khác với mọi người.

Linh Mục đi giữa đám đông nhưng vẫn là kẻ cô độc, nắm được bàn tay nhưng không được cầm giữ, cho đi tất cả khi mình chẳng được nhận lãnh điều gì.

Linh Mục là có và Linh Mục là không.

Thật là một nghịch lý sâu xé trên thân phận con người yếu hèn của Linh Mục. Nhưng cũng chính sự yếu hèn ấy, Linh Mục trở thành một trung gian giữa con người và Thiên Chúa - vừa gần gũi để có thể đến với những tâm hồn đang đói khát - lại cao sang để có thể thay mặt toàn dân tế lễ .

Nếu không có Linh Mục, những khi tôi thất bại té ngã trên đời, ai mang Chúa đến cho tôi với những phút giây êm đềm bên Thánh Thể để tôi có thể tìm được sự ủi an?

Nếu không có Linh Mục, tòa giải tội trống vắng, ai trả lại cho tôi cuộc đời bình yên?

Nếu không có Linh Mục, trước phút lìa đời, ai sẽ làm cho tôi được yên ủi để thanh thản bước vào cõi vĩnh hằng?

Sưu Tầm

Lạy Chúa , xin ban cho chúng con những Linh Mục có trái tim thuộc về Chúa nên cũng thuộc về con người .

Xin ban cho chúng con những Linh Mục có trái tim biết yêu bằng tình yêu hiến dâng, một trái tim đủ lớn để chứa được mọi người và từng người, nhất là những ai nghèo khổ và bị bỏ rơi.

Xin ban cho chúng con những Linh Mục biết cầu nguyện, có tình bạn thân thiết với Chúa để các Ngài giới thiệu Chúa cho chúng con.

Xin cho chúng con những Linh Mục thánh thiện, có thể nuôi chúng con bằng tấm bánh thơm tho, tấm bánh Lời Chúa và Mình Chúa.

Cuối cùng, xin Chúa ban cho chúng con những LinhMục có trái tim của Chúa, say mê Thiên Chúa và say mê con người, hy sinh đời mình để bảo vệ đoàn chiên và dẫn đưa chúng con đến với Chúa là TÌNH YÊU , là NGUỒN SỐNG THẬT. Amen!

ĐHY Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn
Nguồn: ngonnennho.conggiaoviet.net

TRANG TU SĨ

VÌ CHÚNG TA CÓ ĐỨC TIN.

Buổi tập hát vừa kết thúc, đang sửa soạn ra về thì thấy các bà mẹ trong nhóm ca viên thuộc hàng U50 còn đứng dưới sân bàn bạc chuyện gì đó có vẻ quan trọng lắm, tôi vui vẻ nhập cuộc:

- Chuyện gì? Chuyện gì vậy?

- Ah, Dì Sáu! Hôm nay mình ghé nhà ông Bảy đi!

Ông Bảy là một giáo dân trong Họ, ông bị sơ gan cả hai năm nay, mỗi ngày trôi qua trong tình trạng « chờ án tử! » Dì Trưởng của tôi vẫn đều đặn đem MTC cho ông mỗi tuần như điều an ủi cho ông vững niềm tin.

Khoảng 4 giờ chiều chúng tôi đến thăm nhà, để đọc kinh cầu nguyện cho ông Bảy và khích lệ tinh thần của gia đình. Căn nhà đơn sơ lợp mái tôn thấp lè tè, không khí trong nhà ngột ngạt giữa những cõi lòng cũng tan nát thương đau, ba cái quạt máy bật hết công suất mà vẫn thấy nóng nực, chắc có lẽ vì tiết trời oi mưa. Người con gái lớn đang giúp cho cha mát và dễ chịu hơn bằng tấm khăn ướt mềm, nhưng ông Bảy vẫn rên rỉ: "Đau quá! Đau đớn quá! Chúa ơi!!".

Thấy chúng tôi, bà Bảy vội đốt đèn trên bàn thờ rồi gọi con cháu tạm ngưng công việc để cùng chúng tôi dâng lời kinh nguyện. Nằm trên giường, gom chút sức tàn ông Bảy cũng nhép miệng theo, tiếng được tiếng mất: "Kính...Mừng...Mari..a!". Giờ kinh kết thúc, đến bên giường bệnh, tôi nhẹ nhàng cầm lấy bàn tay ông, mu bàn tay đen và gầy gò như que củi cháy xém. Ông ngước đôi mắt thâm đen nhìn tôi thều thào:

- Tui đau quá Dì Sáu ơi! Dì Sáu cầu nguyện cho tui với! Cho tui tử đạo nghen Dì Sáu!

Tôi đã lắng nghe ông với lòng kính phục sâu xa, câu nói của ông Bảy chan chứa một niềm tin mãnh liệt vào tình yêu và giá trị cứu độ của Thập Giá Chúa Kitô, tôi mỉm cười an ủi ông:

- Dạ, ông Bảy có Chúa mà, càng đau ông Bảy càng kêu Chúa nhiều lên nha!

Bà Bảy đứng bên tôi cũng nghẹn ngào:

- Hơn tuần nay, cơn đau hành hạ...làm ông nhà con không ăn được gì cả Dì Sáu ơi, chỉ thỉnh thoảng vô được chút sữa, chút nước. Suốt ngày đêm ông ấy cứ thiếp đi rồi tỉnh lại trong tiếng rên rỉ, làm con cháy ruột quá...mà đâu dám bỏ ông ấy một mình đâu, nhà con thì toàn dân lao động, kiếm đủ bữa ăn từng ngày thôi. Nhưng có Chúa nâng đỡ qua Dì Hai, Dì Sáu đây và mọi người nữa, con rất cảm ơn!

Tôi trầm ngâm nhìn ông Bảy nằm thoi thóp rồi nhìn đôi mắt mòn mỏi tràn nước mắt của Bà Bảy mà thương quá. Cái chết đang đến rõ ràng từng ngày một, nhưng nó kéo dài lâu quá đối với những ai đã quá đau thương, nay đau thương càng nhân lên từng khắc từng giờ khi thời gian cứ nặng nề trôi đi trong sự bất lực của những người thân yêu. Tôi kéo đứa cháu nội của ông Bảy ra ngoài, chỉ cho em đoạn phúc âm và dặn mỗi ngày em cố gắng đọc cho ông nghe nhiều lần như nguồn khích lệ đức tin để ông chịu đựng cơn đau đớn. Có lẽ Chúa cho ông Bảy nằm đó để ông có thể hưởng được hạnh phúc con cháu thảo hiếu sum vầy, và còn rất nhiều điều cho tôi cảm phục nữa, hy vọng ông và gia đình nhận ra điều ấy mà cảm tạ ơn Chúa vô vàn thương yêu.

Tôi chào cả nhà rồi ra về. Trên đường những dòng suy nghĩ miên man làm tôi thêm trầm lặng, cuộc sống là vậy, kiếp con người sinh lão bệnh tử, mấy ai hiểu được giá trị của khổ đau. Khi chúng ta quyết định hoàn toàn phó thác cho Thiên Chúa với tất cả tự do để chấp nhận khổ đau của chính chúng ta và thốt lên được những lời an ủi nhau bằng lời lẽ đức tin cho tất cả những đau thương đó, là chúng ta đã có sự thống nhất sâu xa giữa hành vi thể hiện Đức Tin và nội dung chúng ta tán đồng. " Có tin thật trong lòng mới được nên công chính, có xưng ra ngoài miệng mới được ơn cứu độ" (Rm10,10). Đòi hỏi này là một lời mời gọi mãi mãi, được ghi khắc không thể xóa nhòa trong tâm hồn con người, để bắt đầu một cuộc hành trình về với Đấng đã yêu thương chúng ta vô cùng.

Chính đức tin đã khiến cho ông Bảy và gia đình đón nhận rồi đến chấp nhận được nỗi đau và nhận ra khuôn mặt Đức Kitô nơi chúng tôi là những người đến để chia sẻ lời an ủi. Chính Đức Tin mời chúng ta đến gặp Thiên Chúa và mở cho chúng ta bước vào cuộc gặp gỡ cách trọn vẹn ngang qua chính những tan nát của cuộc sống chúng ta. Có lẽ bài học khổ đau là bài học phải trả một giá rất đắt.  Chẳng phải chính Chúa Giêsu cũng đã nếm trải mọi khổ đau mới học được thế nào là vâng phục đó sao?! Xin Người trở nên vị lãnh đạo thập toàn và là nguồn ơn Cứu Độ dẫn đưa ông Bảy và gia đình vượt qua được cơn giông tố này.

MTG Cái Nhum

SỐNG NIỀM TIN

Tin không chỉ là hành vi của lý trí, của con tim mà còn là một ân ban của Thiên Chúa, là chiếc chìa khoá vàng mở ra cánh cửa sự sống.

Khi gia nhập vào Hội Thánh Chúa, được Chúa Thánh Thần ghi ấn tín Đức Tin vào tâm hồn qua Bí Tích Rửa tội và trở thành người kitô hữu. Đức Tin đó mỗi ngày phải được tôi luyện, nuôi dưỡng và lớn lên bằng việc tuyên xưng nơi môi miệng cũng như công khai dấn thân làm chứng cho Tin Mừng.

Đức tin cũng không là chấp nhận suông một số tín điều hoặc tuyên xưng những tín điều ấy ra một cách thật mạnh mẽ, rao giảng những tín điều ấy thật hùng hồn. Đức tin đích thật phải là một lực mạnh mẽ từ nội tâm, thúc đẩy người tin phải hành động, bất chấp hy sinh hay đau khổ. Thánh Giacôbê nói: "Đức tin không có việc làm là đức tin chết" (Gc 2,26). Nghĩa là đức tin đích thực thì tự nó phải hướng đến hành động, nếu không có hành động thì đó chỉ là thứ đức tin giả hiệu. Nếu có đức tin đích thực, đức tin ấy sẽ làm đời sống mình thay đổi lớn lao, sẽ bộc lộ ra trong đời sống qua từng hành vi, cử chỉ, lời nói.

Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Roma chương 10, câu 10 đã quả quyết: "Có tin thật trong lòng mới được nên công chính; có tuyên xưng ngoài miệng mới được ơn cứu độ".

Như thế, những hành vi đức tin của người kitô hữu phải được thể hiện qua đời sống cầu nguyện, cử hành các Bí Tích, sống và thực thi những điều Chúa dạy bằng đời sống bác ái yêu thương, bao dung, tha thứ, nhẫn nại, công bình chính trực ...

Tôi hay có dịp đi lên tỉnh và thường được các chị trong nhà nhờ mua dùm vật nọ cái kia. Nhớ có một lần chị phụ trách nhà may nhờ mua dùm 50m keo hột. Tôi vui vẻ làm ngay và cũng phấn khởi trong lòng vì mình mua nhiều hàng như vậy mà tiền quá ít, quá rẻ (50m mà chỉ trả có 80.000 đồng). Thú thật tôi không biết gì về giá cả, nhưng các chị thì quá ngạc nhiên vì số tiền chỉ bằng 1/10 so với các chị đã mua. Và chúng tôi kết luận là người bán hàng đã tính sai.

Bẳng đi một thời gian khá lâu (trên 2 tháng) tôi mới có dịp trở lại chổ đó, gặp lại chị chủ tiệm... và thật đúng như vậy. Sau khi đã tính toán và trả thêm tiền thiếu, người bán hàng thật sự vui mừng, chị cảm ơn rối rít cũng như đã không ngại nói với tôi: "Đúng là chúng tôi may mắn gặp được người đạo Chúa".

Và hôm ấy, tôi thật vui vì hành động của mình đã nói lên được niềm tin cũng như làm chứng cho người chưa biết Chúa nhận ra được đức tính trung thực của người con cái Chúa.

MTG Cái Mơn

TRANG SỐNG ƠN GỌI

CHO và NHẬN

"Không ai nghèo đến nỗi chẳng có gì mà trao tặng và không ai giàu đến nỗi không cần đón nhận một cái gì " (Mẹ Tê-rê-sa Calcutta).

Cho và nhận là hai từ dường như mang ý nghĩa trái ngược nhau. Bởi vì, cho là mất đi một điều gì đó và nhận là được thêm một điều gì đó. Theo ngữ nghĩa của từ thì điều đó rất đúng. Nhưng xét trong thực tế thì nó lại hoàn toàn khác. Có thể nói hai từ này liên hệ chặt chẽ với nhau hơn bao giờ hết, từ này bao hàm từ kia và ngược lại, như hai mặt của một đồng tiền. Đến nỗi chỉ cần thực hiện một hành động "cho" thì sẽ phát sinh ra nơi chủ thể cùng một lúc hai tác động cho và nhận. Và khi thực hiện hành động "nhận" thì cũng sẽ phát sinh ra nơi chủ thể cùng một lúc hai tác động nhận và cho. Điều đó cũng có nghĩa: "Cho là nhận và nhận là cho". Nghe có vẻ như vô lý phải không?

Thật vậy, khi ta cho ai một sự gì đó mà được họ đón nhận một cách trân trọng, hồ hởi, thì tâm hồn ta nhận được ngay cảm giác trào dâng niềm vui, tâm hồn phấn khởi. Cảm giác này phát sinh ngay khi ta thực hiện việc cho. Vì ta đã làm được một việc thật có ích cho anh em mình. Đó chính là điều ta nhạn được khi cho. Cũng vậy, khi ta nhận một sự gì đó từ người khác, với thái độ ân cần, biết ơn thì làm cho người cho được vui sướng hân hoan. Đó cũng là một cách ta đã cho họ lại món quà khi ta nhận của họ. Món quà phát sinh từ việc cho và nhận là món quà tinh thần. Mặc dù ta không thể cân đo đong đếm, nhưng đó lại là những món quà vô giá. Có lẽ ai trong chúng ta cũng đã từng có những kinh nghiệm đó khi cho hoặc khi nhận phải không?

Bởi vậy, nên người ta nói: "Con tim giàu lên nhờ những gì nó cho đi". Càng cho đi nhiều thì lại càng nhận lại nhiều, và càng nhận nhiều thì lại càng cho đi nhiều. Cho đi món quà vật chất, ta sẽ nhận lại món quà tinh thần. Đón nhận món quà vật chất, ta sẽ cho đi món quà tinh thần. Đó là chưa kể đến phương diện thiêng liêng nữa, cho mà không mất. Chính Chúa Giêsu đã nói: "Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại. Người sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc và đầy tràn, mà đổ vào vạt áo anh em. Vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy" (Mc 6, 38). Hay : "Ai cho anh em uống một chén nước vì lẽ anh em thuộc về Đấng Ki-tô, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu" (Mc 3, 41). Cho nên, ngoài những món quà tinh thần ta nhận được khi cho, ta còn nhận được món quà của Chúa nữa.

Tuy nhiên, cho và nhận cũng phải có nghệ thuật, nghĩa là: "Cho làm sao để người ta nhận và nhận làm sao để người ta cho". Đừng tưởng khi ta có, thì muốn cho làm sao thì cho. Của cho không bằng cách cho. Món quà quý nhất không phải là món quà đắt tiền nhưng là món quà được cho với tình yêu lớn. Cũng vậy, cách nhận cũng rất quan trọng. Nếu ta biết nhận với thái độ trân trọng, với tấm lòng biết ơn, thì cho dù người cho có mất nhiều bao nhiêu đi chăng nữa, họ cũng vẫn vui

Như thế, mỗi người hãy biết cho đi một cách rộng lượng, nhưng cũng hãy biết đón nhận một cách khiêm tốn. Đón nhận mà không biết cho đi là ích kỷ, cho đi mà không biết đón nhận là kiêu căng.

Chắc chắc trong đời chúng ta rất nhiều lần nhận được từ người khác, đặc biệt là những người đi tu được cho là dễ thương "tội nghiệp" độc thân không người lo lắng nên nhận được rất nhiều. Người này cho, kẻ kia biếu. Người ta không tiếc với người tu bất cứ thứ gì. Chính vì thế mà đôi khi chúng ta quên đi bổn phận cũng phải biết cho đi. Nhiều khi chúng ta quen nhận mà không quen cho. Điều đó sẽ dẫn tới một đời sống mất quân bình, thậm chí ích kỷ. Chỉ thâu gom tích luỹ cho mình đến nỗi dư thừa mà không biết cho đi. Có khi quá quen nhận nên nghĩ là mình xứng đáng được như vậy. Mình làm việc cho Chúa thì người khác phải cho mình chứ mình đâu phải cho ai. Hoặc có cho thì đôi khi cũng khó khăn, cau có, nhỏ giọt, luyến tiếc và cả "mắng mỏ" hoăc cho như một người có uy quyền ban phát. Đúng ra chúng ta phải là cầu nối để nhận và để cho như Chúa Giêsu đã dạy: "Nhận nhưng không thì hãy cho nhưng không" (Mt 10, 8 ). Nhận của người giàu, cho người nghèo. Nhận trong hân hoan, cho trong vui vẻ. Nhận vào mau mắn, cho đi nhanh lẹ. Nhiều khi chúng ta chỉ là nhịp cầu trung chuyển chứ không phải chính của mình. Nhờ của người này giúp cho người kia, hay nói đúng hơn Thiên Chúa dùng bàn tay của mình để chuyển đến cho người nghèo, người thiếu thốn. Do đó, không có lí do gì mà chúng ta "tự kiêu" vì chính mình hôm qua "nhận nhưng không" thì hôm nay tôi chuyển lại "nhưng không"

Chúng ta hãy học cách cho và cách nhận từ nơi Chúa Giêsu. Ngài dám cho đi mạng sống để cứu chuộc loài người. Ngài đã nhận một món quà bé xíu - hai xu của bà goá với một sự trân trọng, và Ngài đã đánh giá rất cao món quà đó.

TRANG THIẾU NHI

LỜI NÓI BIỂU LỘ NIỀM TIN

Những gì con người có thể cảm nhận được qua các giác quan được Đấng Tạo Hóa ban cho. Vì con người được dựng nên gồm có xác và hồn. Xác và hồn là một thể thống nhất tạo nên một con người. Do đó, con người chỉ cảm nhận được nhau do những gì được biểu lộ ra bên ngoài bằng lời nói hay việc làm.

Chúa Giêsu đã nói: "Cứ xem họ sinh hoa quả nào, thì biết họ là ai. Ở bụi gai, làm gì có nho mà hái? Trên cây găng, làm gì có vả mà bẻ? Nên hễ cây tốt thì sinh quả tốt, cây xấu thì sinh quả xấu. Cây tốt không thể sinh quả xấu, cũng như cây xấu không thể sinh quả tốt".(Mt  7, 16 -18).

Dầu vậy, con người ta cũng có thể biểu lộ ra bên ngoài bằng những lời nói và việc làm không như tâm hồn mình cảm nhận: "Dân này kính Ta ngoài môi miệng, nhưng lòng chúng ở xa Ta" (Mc 7, 6b).

Trong năm đức tin này, những vị có trách nhiệm trong Giáo hội muốn cho toàn thể thành phần dân Chúa ý thức về những gì ta tin trong lòng. Để rồi những gì ta tin trong lòng được biểu lộ ra bên ngoài một cách thống nhất.

Lời nói bộc lộ nhân cách của con người. Ông bà chúng ta dạy: "Học ăn, học nói, học gói, học mở" "Lời nói chẳng mất tiền mua lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau" "Chim khôn kêu tiếng rảnh rang. Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe". Quả thật, lời nói có một sức ảnh hưởng quan trọng trong đời sống hằng ngày. Một lời nói có thể cứu sống một con người nhưng một lời nói cũng có thể làm cho con người ta ra tan nát.

Một người có đức tin vào Thiên Chúa không thể nào nói ra những lời độc địa hay dơ bẩn. Trong kinh thương người có 14 mối Giáo hội đã dạy chúng ta mối thứ nhất lấy lời lành khuyên người. Những lời nói an ủi, khích lệ, động viên hay chia sẻ sẽ làm cho cuộc đời bớt đi những căng thẳng. Những lời nói ấy làm cho con người xích lại gần nhau hơn. Những lời nói ấy cũng có thể đem người ta đến gần với Thiên Chúa hơn. Và như vậy những lời nói ấy chính là những lời nói biểu lộ niềm tin của mình một cách đầy ý nghĩa nhất.

TRANG GIỚI TRẺ

Bài Giáo Lý VIII của ĐTC Bênêđictô XVI về Năm Đức Tin

Thiên Chúa Mặc Khải "Kế Hoạch Yêu Thương Nhân Lành"

Dưới đây là bản dịch Bài Giáo Lý thứ tám của ĐTC Bênêđictô XVI về Năm Đức Tin, được ban hành tại Sảnh Đường Phaolô VI hôm thứ tư ngày 5 tháng 12, 2012. 

Anh chị em thân mến,

Ở đầu thư gửi tín hữu Êphêsô (x 1:3-14) Thánh Tông Đồ Phaolô đưa ra một kinh nguyện chúc tụng Thiên Chúa, Cha của Đức Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, ngài đưa chúng ta vào sống Mùa Vọng trong bối cảnh của Năm Đức Tin.  Chủ đề của bài thánh thi ngợi khen này là kế hoạch của Thiên Chúa dành cho con người, được xác định bằng những thuật ngữ đầy vui mừng, kinh ngạc và tri ân, như một "Kế hoạch Yêu Thương Nhân Lành" (câu 9), của lòng thương xót và tình yêu.

Tại sao Thánh Tông Đồ lại cầu nguyện với Thiên Chúa từ tận đáy lòng mình bằng lời chúc tụng này?  Bởi vì ngài chiêm ngắm hoạt động của Thiên Chúa trong lịch sử cứu độ, đạt đến tột đỉnh trong sự Nhập Thể, Cái Chết và Sự Sống Lại của Chúa Giêsu, và chiêm niệm việc Cha Trên Trởi đã chọn chúng ta trước khi tạo thành vũ trụ, để trở nên dưỡng tử, trong Con Một của Ngài, là Đức Chúa Giêsu Kitô (x. Romans 8:14; Galatians 4:4tt).  Chúng ta đã có trong tâm trí của Thiên Chúa từ thuở đời đời, trong một kế hoạch cả thể mà Thiên Chúa đã giữ riêng cho Ngài và đã quyết định thực hiện và mặc khải "vào thời viên mãn" (x. Ephesians 1:10).  Như thế, Thánh Phaolô giúp chúng ta hiểu làm sao tất cả tạo vật, và đặc biệt là những người nam nữ không phải là kết quả của sự ngẫu nhiên, nhưng là của việc thực hiện một kế hoạch yêu thương của lý trí vĩnh cửu của Thiên Chúa, là Đấng, với quyền năng sáng tạo và cứu độ của Lời Ngài, đã tạo thành vũ trụ.  Lời xác quyết đầu tiên này nhắc nhở chúng ta rằng ơn gọi của chúng ta không chỉ đơn thuần là sống trên thế gian, được bao gồm trong một lịch sử, hoặc chỉ là một tạo vật của Thiên Chúa; nhưng là một cái gì cao quý hơn: đó là được Thiên Chúa chọn, ngay cả trước khi tạo thành vũ trụ, trong Chúa Con, là Đức Chúa Giêsu Kitô.  Như thế trong Người chúng ta đã hiện hữu, có thể nói là từ muôn thủa.  Thiên Chúa nhìn ngắm chúng ta trong Đức Kitô, như những nghĩa tử.  "Kế hoạch nhân lành" của Thiên Chúa được Thánh Tông Đồ xác định là một "kế hoạch yêu thương" (Ephesians 1:5), được gọi là "mầu nhiệm" của Thánh Ý Thiên Chúa (câu 9), được che giấu và giờ đây được tỏ lộ trong Con Người và việc làm của Đức Kitô.  Sáng kiến của Thiên Chúa đi trước bất kỳ đáp ứng nào của con người: đó là một món quà nhưng không của tình yêu Ngài, là tình yêu bao bọc và biến đổi chúng ta.

Nhưng mục tiêu cuối cùng của kế hoạch mầu nhiệm này là gì?  Trọng tâm của Thánh Ý của Thiên Chúa là gì?  Thánh Phaolô nói với chúng ta rằng là để "kết hợp mọi sự dưới một Thủ Lãnh duy nhất, là Đức Kitô" (câu 10). Trong cách diễn tả này, chúng ta tìm thấy một trong những công thức chính của Tân Ước giúp chúng ta hiểu được kế hoạch của Thiên Chúa, kế hoạch yêu thương của Ngài dành cho toàn thể nhân loại, một công thức mà Thánh Irenê thành Lyon, trong thế kỷ thứ hai, đã đặt làm cốt lõi của Kitô học của ngài: "thâu tóm" toàn thể thực tại trong Đức Kitô.  Có lẽ một số anh chị em nhớ công thức được sử dụng bởi Đức Thánh Giáo Hoàng Piô X để thánh hiến thế giới cho Thánh Tâm Chúa Giêsu: "Instaurare omnia in Christo (phục hồi mọi sự trong Đức Kitô)", một công thức có liên quan đến cách diễn tả này của Thánh Phaolô, và nó cũng là phương châm của vị Thánh Giáo Hoàng này.  Tuy nhiên, Thánh Tông Đồ nói một cách cụ thể hơn về việc thâu tóm vũ trụ trong Đức Kitô, và điều này có nghĩa rằng, trong chương trình cả thể của việc tạo dựng và của lịch sử, Đức Kitô đứng như trung tâm của cuộc hành trình của toàn thế giới, như trục gánh đỡ tất cả, thu hút toàn bộ thực tại về Mình, để thắng vượt sự phân tán và những giới hạn, cùng dẫn tất cả đến sự viên mãn mà Thiên Chúa mong muốn (x. Ephesians 1:23).

Có thể nói rằng "Kế hoạch yêu thương nhân lành" đã không ở mãi trong sự thinh lặng của Thiên Chúa, ở thượng giới của Thiên Đàng của Ngài, nhưng Ngài đã làm cho chúng ta biết đến nó bằng cách bước vào một liên hệ với con người, là những kẻ mà Ngài đã không những chỉ tiết lộ một điều gì đó, nhưng Chính Ngài.  Ngài không chỉ đơn thuần truyền đạt một mớ chân lý, nhưng tự thông truyền Chính Mình cho chúng ta, đến độ làm một người trong chúng ta, trở thành Nhập Thể.  Công Đồng Chung Vaticanô II trong Hiến Chế Tín Lý Dei Verbum nói, "Trong sự tốt lành và khôn ngoan của Ngài, Thiên Chúa đã chọn tỏ lộ Chính Mình, chứ không phải chỉ một điều gì đó về Mình, và làm cho chúng ta biết mầu nhiệm Thánh Ý của Ngài, là nhờ Đức Kitô, Ngôi Lời làm người, mà con người có thể đến cùng Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần và do đó trở thành những người thông phần vào bản tính Thiên Chúa" (số 2). Thiên Chúa không chỉ nói điều gì đó, nhưng Ngài tự truyền thông Chính Mình, lôi kéo chúng ta vào bản tính Thiên Chúa để chúng ta được tham gia vào bản tính ấy, được trở nên thần thánh. Thiên Chúa mặc khải kế hoạch yêu thương cao cả của Ngài bằng cách bước vào sự liên hệ với loài người, lại gần họ đến nỗi trở thành một người.  Công Đồng nói tiếp: "Thiên Chúa vô hình (x. Colossians 1:15 ; 1 Timothy 1:17) trong sự phong phú của tình yêu Ngài nói với con người như bạn hữu (x. Xh 33:11, Ga 15:14-15) và sống giữa họ (x. Baruch 3:38) để mời họ và đón nhận họ vào sự hiệp thông với Ngài" (ibid.).  Chỉ với trí thông minh và khả năng của mình con người không thể đạt đến sự mặc khải rõ ràng như thế về tình yêu của Thiên Chúa.  Chính Thiên Chúa, là Đấng đã mở Thiên Đàng của Ngài và hạ Mình xuống để đưa con người vào vực thẳm của tình yêu Ngài.

Thánh Phaolô cũng viết cho các tín hữu thành Côrintô: "Điều mà mắt chưa hề thấy, tai chưa hề nghe, lòng người chưa hề nghĩ đến, là điều mà Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai mến yêu Người.  Còn chúng ta, chúng ta đã được Thiên Chúa mặc khải cho, nhờ Thần Khí. Thật vậy, Thần Khí thấu suốt mọi sự, ngay cả những gì sâu thẳm nơi Thiên Chúa." (2:9-10). Thánh Gioan Kim Khẩu, trong một trang thời danh chú giải phần đầu của Thư gửi tín hữu Êphêsô, mời chúng ta thưởng thức tất vẻ đẹp của "kế hoạch yêu thương nhân lành" này của Thiên Chúa được mặc khải trong Đức Kitô, bằng những lời này: "Bạn còn thiếu gì? Bạn đã trở nên bất tử, bạn đã trở nên tự do, bạn đã trở nên một người con, bạn đã trở nên công chính, bạn đã trở nên em, bạn đã trở nên một người đồng thừa tự, với Đức Kitô bạn cai trị, với Đức Kitô bạn được vinh quang.  Mọi sự đã được ban cho chúng ta, và như có lời chép rằng, làm sao Ngài (Thiên Chúa) lại sẽ không ban mọi sự cho chúng ta với Người?" (Romans 8:32.  Những của lễ đầu mùa của bạn (x. 1 Cr 15:20,23) được các thiên thần trang điểm [...]: vậy bạn còn thiếu gì?" (PG 62,11)

Sự hiệp thông này trong Đức Kitô nhờ Chúa Thánh Thần, được Thiên Chúa ban cho tất cả mọi người với ánh sáng của Mặc Khải, không phải là một cái gì có thể chồng lên trên nhân tính của chúng ta, nhưng là việc thỏa mãn những khát vọng sâu thẳm nhất của con người, ước mong sự vô hạn và sự viên mãn ở tận đáy lòng con người, và mở lòng họ ra cho một hạnh phúc, không phải tạm bợ và bị hạn chế, nhưng đời đời.  Thánh Bonaventura, khi đề cập đến Thiên Chúa, Đấng tỏ Mình ra và nói với chúng ta qua Thánh Kinh để dẫn chúng ta đến với Ngài, nói như sau: "Thánh Kinh là [...] cuốn sách mà trong đó viết những lời về sự sống đời đời để chúng ta không những chỉ tin, nhưng cũng chiếm hữu được sự sống đời đời, trong đó chúng ta sẽ thấy, chúng ta sẽ yêu mến và tất cả những mong ước của chúng ta sẽ được thực hiện" (Breviloqum, Prol. ; Opera Omnia v, 201s).  Cuối cùng, Chân phước Giáo hoàng Gioan Phaolô II nhắc lại rằng "Mặc khải đặt vào trong lịch sử một điểm tham chiếu mà chúng ta không thể coi thường nếu chúng ta muốn biết mầu nhiệm về đời sống con người.  Nhưng sự hiểu biết này lại liên tục quy chiếu về mầu nhiệm của Thiên Chúa, là điều trí tuệ không thể hiểu thấu, mà chỉ có thể cảm nhận và đón nhận được trong đức tin" (Thông điệp Fides et Ratio, 14).

Vậy, theo quan điểm này thì hành vi đức tin là gì?  Nó là sự đáp trả của con người đối với Mặc Khải của Thiên Chúa, Đấng tỏ Mình ra, Đấng bày tỏ kế hoạch nhân từ của Ngài cho nhân loại.  Nghĩa là, như mượn cách diễn tả của Thánh Augustinô, chúng ta hãy cứ để cho Chân Lý là Thiên Chúa nắm bắt lấy mình, một Chân Lý là Tình Yêu.  Đó là lý do tại sao Thánh Phaolô nhấn mạnh rằng Thiên Chúa, Đấng đã mặc khải mầu nhiệm của Ngài, chúng ta phải "vâng phục của đức tin" (Romans 16:26; 1,5; 2 Corinthians 10:5-6), thái độ mà qua đó "con người tự do phó thác toàn thân cho Ngài, dâng lên Thiên Chúa, là Đấng mặc khải, sự tuân phục hoàn toàn của cả lý trí lẫn ý chí của mình" (Hiến Chế Tín Lý Dei Verbum, 5).  Tất cả những điều này dẫn đến một sự thay đổi cơ bản trong cách chúng ta liên hệ với toàn bộ thực tại; tất cả mọi sự xuất hiện trong một ánh sáng mới, do đó nó là một sự "hoán cải" thật sự, đức tin là một "sự thay đổi não trạng" bởi vì Thiên Chúa, Đấng đã tự tỏ Mình ra trong Đức Kitô, và đã tỏ cho chúng ta biết chương trình yêu thương của Ngài, bắt được chúng ta, lôi kéo chúng ta lại với chính Ngài, trở nên ý nghĩa nâng đỡ cuộc sống, đá tảng trên đó nó có thể tìm thấy sự ổn định.  Trong Cựu Ước, chúng ta thấy một cách diễn tả súc tích về đức tin, rằng Thiên Chúa trao phó cho ngôn sứ Isaia phải truyền thông cho Aha, vua Giuđa.  Thiên Chúa phán: "Nếu ngươi không tin - nghĩa là, nếu ngươi không tiếp tục trung thành với Thiên Chúa - ngươi sẽ không đứng vững được" (Isaiah 7:9 b).  Cho nên, có một sự liên kết giữa việc sống và sự hiểu biết, là điều được diễn tả làm sao đức tin là một sự đón nhận vào cuộc đời mình quan điểm của Thiên Chúa về thực tại, để cho Thiên Chúa hướng dẫn chúng ta qua Lời và các Bí tích của Ngài, ngõ hầu hiểu được chúng ta phải làm gì, và phải theo con đường nào, phải sống cách nào.  Tuy nhiên, đồng thời, nó là sự hiểu biết theo Thiên Chúa, nhìn với đôi mắt của Ngài, là điều làm cho cuộc đời được vững chắc, cho phép chúng ta "tiếp tục đứng", mà không ngã.

Các bạn thân mến, Mùa Vọng, mùa phụng vụ mà chúng ta mới vừa bắt đầu và chuẩn bị chúng ta cho Lễ Giáng sinh, đặt trước mặt chúng ta một mầu nhiệm ánh sáng của việc Con Thiên Chúa đến, trước "Kế hoạch nhân lành" cao cả mà Ngài muốn thu hút chúng ta đến với Ngài, để làm cho chúng ta sống trong sự hiệp thông trọn vẹn của niềm vui và sự bình an với Ngài.  Mùa Vọng một lần nữa mời gọi chúng ta, giữa nhiều khó khăn, để nhắc lại sự đảm bảo rằng Thiên Chúa hiện diện: Ngài đi vào thế gian, trở nên một con người như chúng ta, để mang kế hoạch yêu thương của Ngài đến hoàn thành.  Và Thiên Chúa cũng yêu cầu chúng ta trở nên một dấu chỉ của hành động của Ngài trên thế gian.  Qua đức tin, đức cậy và đức mến của chúng ta, Ngài muốn bước vào thế gian một lần nữa, để ánh sáng của Ngài lại chiếu tỏa trong đêm đen của chúng ta.

Nguồn:giaoly.org
Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

TRANG GIA ĐÌNH

BÀI 11. HOÀ HỢP VỢ CHỒNG: GIẢI QUYẾT NHỮNG XUNG ĐỘT

"Chúa Giêsu giáng sinh trong hoàn cảnh sau đây: Mẹ Ngài là Maria đính hôn với Giuse, trước khi về chung sống với nhau, đã thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần. Giuse, bạn của bà là người công chính, không muốn tố cáo bà, định tâm lìa bỏ bà cách kín đáo."  (Mt 1, 18-19)

Cuộc sống không phải lúc nào cũng bằng phẳng, êm ả. Có những lúc trời quang mây tạnh, nhưng cũng có những lúc bão táp mưa sa. Cuộc sống gia đình cũng vậy. Có những lúc êm ấm hạnh phúc, nhưng cũng có những lúc bất hoà, cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt. Chính Thánh gia ngày xưa cũng đã trải qua những kinh nghiệm đó. Chẳng hạn trước khi về chung sống với nhau, thánh Giuse phát hiện Đức Maria có thai, mà bào thai đó lại không phải là của mình. Rồi khi lạc mất Chúa Giêsu trong lần hành hương lên đền thờ Giêrusalem, thánh Giuse và Đức Maria đã phải lo lắng chạy đôn chạy đáo đi tìm con ròng rã ba ngày...

Dù vợ chồng có yêu nhau thắm thiết, thì nhiều lúc vẫn xảy ra những bất hoà. Những bất hoà đó có thể làm cho tình yêu bị sói mòn và có thể đưa đến những đổ vỡ tai hại. Tuy nhiên, nếu biết cách giải quyết, chúng sẽ là cơ hội giúp hai vợ chồng hiểu nhau hơn và tình yêu mỗi ngày một thêm triển nở.

1. Những nguyên nhân gây xung đột

Những xung đột giữa vợ chồng xảy ra thường là do:

- Sự khác biệt về tâm sinh lý giữa nam - nữ. (Xem bài 9: Hoà hợp vợ chồng - Sự khác biệt giữa nam và nữ)

- Sự khác biệt về cá tính của mỗi người: Người thì nhanh nhẹn và tháo vát, người thì chậm chạp và ù lì.

- Sự khác biệt về cách nhận thức, về quan điểm, về sở thích đối với các vấn đề trong cuộc sống, nhất là về bậc thang giá trị: Người thì coi trọng tình nghĩa, người thì đặt nặng vật chất.

- Sự khác biệt về nền giáo dục mà mỗi người đã nhận được, nhất là nền giáo dục trong gia đình.

- Những trục trặc trong đời sống chăn gối.

- Những lầm lỗi: Ngoài những nét đáng yêu, ai cũng có những yếu đuối, lỡ lầm và cả những thói hư tật xấu.

- Thiếu tổ chức trong gia đình: thiếu phân công, thiếu chia sẻ, thiếu quan tâm đến nhau, thiếu trật tự.

- Bất đồng trong việc quản lý và chi tiêu: Người thì tiết kiệm dè xẻn, người thì hoang phí đua đòi.

- Bất đồng về giáo dục con cái: Người thì quá nghiêm khắc, người thì quá chiều chuộng.

- Bất đồng trong cách cư xử với họ hàng hai bên: bên trọng bên khinh!

Những xung đột trên có thể dẫn đến nhiều hậu quả tai hại:

- Về tâm lý tình cảm: làm mất hạnh phúc trong gia đình, tình yêu bị sứt mẻ, vợ chồng lạnh nhạt với nhau.

- Về đạo đức: dễ rơi vào những tệ nạn xã hội, ngoại tình, mất phẩm chất con người.

- Về gia đình: lơ là chăm sóc, giáo dục con cái; tình nghĩa vợ chồng bị sứt mẻ, đưa đến ly thân, ly dị, gia đình tan vỡ...

2. Những nguyên tắc giúp giải quyết xung đột trong gia đình

2.1. Biện pháp ngăn ngừa:

- Trước khi kết hôn, đôi bạn cần tìm hiểu nhau kỹ lưỡng để tránh những ảo tưởng về nhau. Mặt khác, hôn nhân cần có tình yêu thực sự, đừng biến hôn nhân thành một cuộc mua bán, đổi chác.

- Đôi bạn cần học hỏi, trang bị những kiến thức nuôi dưỡng tình yêu và bàn hỏi với những người khôn ngoan có kinh nghiệm, để biết cách sống hoà hợp và giải quyết những bất hoà trong gia đình.

- Đôi bạn cần sửa đổi những thói hư tật xấu và cố gắng mỗi ngày một nên hoàn thiện hơn.

2.2. Khi xảy ra xung đột:

+Thái độ của mỗi người:

- Tự chủ: Kìm hãm tính nóng nảy và tự ái. Tránh phản ứng vội vàng, làm cho tình hình thêm căng thẳng.

- Có thiện chí muốn giải quyết:

- Vợ chồng tranh cãi là nhằm tìm ra điều tốt hơn để đi đến chỗ hợp nhất, chứ không phải để ăn thua nhau hoặc để hạ nhục nhau, đi đến chia rẽ xa cách nhau. Trong cuộc tranh cãi, đừng vì tự ái mà trở nên cố chấp khư khư bảo vệ sai lầm của mình.

+ Phương cách giải quyết:

- Đối thoại:

. Biết trình bày và lắng nghe nhau. Đừng bắt người khác phải tuyệt đối tuân theo ý riêng của mình, nhưng biết lắng nghe và tìm hiểu ý kiến, quan điểm của người kia.

. Nhắm mục tiêu chính: Giới hạn chuyện nào vào chuyện đó, không nhắc lại chuyện cũ, không "bới lông tìm vết".

- Chấp nhận khuyết điểm của mình: Can đảm nhận ra những lỗi lầm, sai phạm của mình để cố gắng sửa đổi.

- Hàn gắn, làm lành: Sau khi tranh cãi, xung đột với nhau, vợ chồng cần tìm cách làm hòa ngay. Đừng để bầu khí lạnh lùng hờn giận kéo dài, chỉ gây thêm đau khổ cho mọi người và cho chính mình.

- Nhờ trung gian hoà giải. Cần chọn người có uy tín, biết phân xử hợp tình hợp lý, hiểu cả hai bên để đưa ra lời khuyên bảo chân tình giúp hai người chấm dứtmâu thuẫn.

- Cầu nguyện. Nếu hai vợ chồng biết cầu nguyện chung với nhau, chắc chắn họ sẽ có được sự bình tĩnh để ngồi thảo luận ôn hoà với nhau, đồng thời sẽ dễ nhận ra được ý muốn của Chúa đối với vấn đề đang tranh cãi.

Giải quyết những xung đột trong gia đình là một công việc khó khăn, đòi hỏi sự cố gắng và thiện chí của cả hai. Nếu khi mới bước vào cuộc sống hôn nhân và gia đình, hai vợ chồng tập thói quen ngồi lại với nhau để giải quyết các vấn đề nho nhỏ thì sau này sẽ có nhiều kinh nghiệm để giải quyết những vấn đề to lớn hơn. Những dịp như thế sẽ giúp hai vợ chồng hiểu nhau hơn, đồng thời cũng giúp mỗi người gọt giũa cái "tôi" nhiều tự ái và vị kỷ, hầu cuộc sống gia đình được hài hòa, êm ấm và hạnh phúc.

4 GHI NHỚ :

1. H. Vợ chồng cần có thái độ nào khi xảy ra xung đột?

T. Vợ chồng cần giữ những nguyên tắc này :

-       Một là tự chủ.

-       Hai là có thiện chí muốn giải quyết.

-       Ba là đối thoại với nhau.

-       Bốn là chấp nhận khuyết điểm của mình.

-       Năm là cố gắng hàn gắn và làm lành.

-       Sáu là nhờ người làm trung gian hoà giải.

-       Bảy là cầu nguyện để biết cách giải quyết theo tinh thần của Chúa.

......................

Nihil Obstat : Tp. Hồ Chí Minh, ngày 25.08.2004
Lm. Augustinô Nguyễn Văn Trinh

Imprimatur : Mỹ Tho, ngày 03.09.2004
+ Phaolô Bùi Văn Đọc, Giám Mục Mỹ Tho
   Chủ tịch Ủy Ban Giáo lý Đức tin

Nguồn:  UB Giáo Lý Đức Tin, HĐGMVN, giaoducconggiao.net

TIN TRONG LÒNG VÀ TUYÊN XƯNG NGOÀI MIỆNG

Một anh bạn trẻ tân tòng đến xin tôi dạy đạo để kết hôn với một thiếu nữ Công giáo. Anh hỏi tôi: "Thưa ông Cha, học đạo lâu hay mau?" Tôi hỏi lại anh: "Anh học hay tôi học?" Anh đáp: "Con học đạo với ông cha. Ông cha dạy đạo cho con". Tôi nói: "Nếu tôi dạy đạo cho anh thì mau, vì tôi rành giáo lý, tôi tuyên xưng đức tin trước mặt anh, cho anh thì lẹ thôi. Còn anh tiếp thu giáo lý như một kiến thức, một hiểu biết thì mau, nhưng để anh đón nhận Chúa Giêsu Kitô, thấu hiểu Người và sống gắn bó với Người thì không mau".

Đúng vậy, Đức tin là hồng ân Chúa thương ban nhưng không, đồng thời cũng là sự đáp trả nhiệt tình của con người: mở rộng lòng đón nhận ơn Chúa ban. Nói cụ thể, Chúa sẵn sàng tỏ mình ra cho con người, Ngài chủ động đến với con người. Gặp gỡ và chuyện trò thân mật với con người . Phầncon người cần lấy hết sự thành tâm, thiện ý đến với Chúa, tìm gặp gỡ Chúa cho bằng được, đối thoại với Chúa để hiểu Chúa, biết chúa rõ hơn, tin Chúa phó thác trọn cuộc đời cho Chúa, nghe lời Chúa dạy, làm theo ý Chúa sống đẹp lòng Chúa, cộng tác gắn bó với Chúa. Đây quả là một quá trình kiến tạo giữa Chúa và ta, giữa ta và Chúa, cây cầu thông thương này có Chúa và ta cùng làm. Đức tin được lý trí đón nhận, đưa vào trong tim, biến đổi cả con người cả cuộc sống bằng ơn thánh của Chúa. Đón nhận Chúa Kitô, để Chúa Kitô biến đổi ta nên giống người tín hữu (người tin Chúa), là Kitô hữu (là người có Chúa Kitô ở cùng, sống cùng, mang vác Chúa Kitô nơi mình), là Chúa Kitô sống trong tôi (Thánh Phaolô viết trong thư Galata 2.20: "Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi. Hiện nay tôi sống kiếp phàm nhân trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi).

Tin trong lòng

Đây là thái độ đón nhận đức tin trước lời rao giảng về Chúa Kitô, về Thiên Chúa của nhân chứng. Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã trưng ra cho chúng ta gương của bà Lydia quê ở Thy-a-ti-ra nghe thánh Phaolô giảng tại Philipphhê "Vào ngày thứ bảy thánh Phaolô rao giảng Tin Mừng cho vài phụ nữ, trong số họ có bà Lydia, và Chúa mở lòng cho bà tin lời thánh Phaolô" (Cvtđ 16, 14). Đức Thánh Cha giải thích" Ý nghĩa cô đọng trong câu này thực là quan trọng. Thánh Luca dạy rằng việc hiểu biết nội dung đức tin  không đủ nếu con tim  - vốn là cung thánh đích thực của con người - không cỡi mở đối với ơn thánh, giúp ta có đôi mắt để nhìn sâu xa và hiểu rằng điều được loan báo chính là Lời Chúa". (Ttcc đức tin số 10).

Tôi kể lại cho bạn trẻ này 2 câu chuyện tin Chúa Giêsu nơi Tin Mừng Gioan:

Philipphê giới thiệu vị đại ngôn sứ Giêsu cho Nathanaen: "Ông Philipphê gặp ông Nathanaen và nói: "Đấng mà sách luật Môisen và các ngôn sứ nói tới, chúng tôi đã gặp: đó là ông Giêsu, con ông Giuse, người Nazareth". Ông Nathanaen bảo: "Từ Nazareth, làm sao có gì hay được". Ông không tin, không đón nhận. Ông Philipphê trả lời: "Cứ đến mà xem". Khi đã gặp gỡ và chuyện trò với Chúa Giêsu rồi, Nathanaen nói: "Thưa Thầy, chính Thầy là Con Thiên Chúa, là via Israel". (Ga 1, 45-51).

Người phụ nữ Samari và Chúa Giêsu ở bờ giếng Giacóp tại Sy-kem. Buổi trưa nắng, Chúa Giêsu đi đường mệt mỏi, Người ngồi ngay bờ giếng. Một phụ nữ Samari đến lấy nước. Đức Giêsu xin nước uống khai mào cho cuộc đối thoại. Cuối cùng, người phụ nữ thưa: "Tôi biết Đấng Messia, gọi là Đức Kitô sẽ đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự". Đức Giêsu nói: "Đấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây". Chị vào thành thuyết phục mọi người. Họ ra khỏi thành và đến gặp Người. Kết thúc, họ bảo người phụ nữ: "Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng Người thật là Đấng cứo độ trần gian". (Ga 4, 5-42). Tối nói với bạn trẻ xin tôi dạy giáo lý: "bạn cũng vậy, việc bạn mở lòng đón nhận đức tin phải có thời gian, phải do thiện chí và phải hành động cụ thể chứng minh lòng xác tin của bạn. Bạn nên nhớ "đức tin không có việc làm là đức tin chết" (Jac 2,27). Tin trong lòng là tin bằng cả cuộc đời. tin luôn luôn, tin mãi mãi, tin không ngừng nghỉ, tin cho đến chết. Bây giờ anh học giáo lý lâu hay là mau?" anh không trả lời, mà nói: "Xin cha chứng dám lòng tin của con mỗi ngày. Mỗi ngày con đi dự lễ, rồi học với cha".

Tuyên xưng ngoài miệng

Sau khi bạn đã nắm bắt, thấu hiểu nội dung đức tin , để Chúa Thánh Thần biến đổi con người toàn diện của bạn, bằng miệng bạn tuyên xưng đức tin. Đức tin không phải là điều riêng tư của bạn mà là của Hội Thánh. Vào lễ ngũ tuần Chúa Thánh Thần hiện xuống, Hội thánh được tung vào thế gian. Các tông đồ được tràn đầy Thánh Thần, đã công khai loan báo Chúa Giêsu đã chết và sống lại không run sợ khiếp hãi, mời gọi mọi người sám hối để được ơn tha tội. Tôi đã nói với người đến học đạo như vậy.

Thật vậy, tin là quyết định đứng về phía Chúa, sống thân mật với Người, chấp nhận toàn bộ mầu nhiệm cứu độ mà Chúa mạc khải. Tin rồi, ta có bổn phận chia sẻ cho mọi người, đây là là việc tuên xưng đức tin ngoài miệng. Công khai dấn thân làm chứng cho Chúa như các tông đồ và các tín hưu thời Giáo hội sơ khai đã làm. Họ làm chứng mạnh mẽ bất chấp bị đe doạ, tù đày, đòn bọng và bị giết chết.

Người xin học đạo nói: "Ông cha ơi! Xin ông vui lòng dạy đạo cho con để con tin, con sống và con rao truyền đức tin cho mọi người. Con không sợ lâu hay mau, con sẵn sàng học, ông cha thương dạy con". Tôi mĩm cười gật đầu. Con đã tin trong lòng, dạy đạo là tuyên xưng ngoài miệng. Chúa ơi! Vui quá! Chúa có vui không?

TRANG GIÁO LÝ VIÊN

HUẤN LUYỆN SƯ PHẠM

Mục tiêu của huấn giáo là giáo dục lòng tin sống động vào CHÚA GIÊSU KITÔ vì đối tượng của đức tin chính là Mầu Nhiệm Thiên Chúa và Chúa Kitô. Vậy nhiệm vụ của huấn giáo hay của giáo lý viên là giúp cho người thụ huấn tin tưởng và say mến Chúa Kitô, Đấng đã chết vì yêu con người và được sống lại nhờ quyền năng Thiên Chúa. Chính Đức Kitô là điểm hội tụ duy nhất cho mọi sinh hoạt kitô giáo. Chính Ngài cho biết : Ngài là Đường, là Sự Thật, là Sự Sống, và không có đường nào khác để đến với Chúa Cha. Và cũng chính nơi Ngài, mọi tiên báo và mọi lời hứa được thực hiện. Vậy việc dạy giáo lý chỉ thành công khi làm cho các tâm hồn tiếp xúc với Ngài, quyết định sống cho Ngài.

Nhưng trước hết chúng ta cần xác định : không có một cách thức duy nhất và cố định nào cho việc loan báo Tin Mừng. Đọc Kinh Thánh, đặc biệt là Tân Ước, chúng ta thấy ngay điều đó. Đức Giêsu đã dùng nhiều hình ảnh và những kiểu cách khác nhau để loan báo Tin Mừng Nước Trời tùy theo đối tượng nghe.

Do đó, khả năng sư phạm là một trong 4 trục cần thiết cho việc dạy giáo lý có hiệu quả. Bất cứ việc huấn luyện nào cũng cần phải có phương pháp, đó là những kỹ năng giúp ta đạt được dễ dàng và nhanh chóng những mục tiêu đã đề ra. Sư phạm vừa là một kỹ thuật vừa là một nghệ thuật. Sư phạm mở ra một con đường tắt làm tăng hiệu quả truyền đạt của người dạy và sự tiếp thu của người nghe. Do đó trong lãnh vực huấn giáo, người ta không ngừng tìm ra những nguyên tắc cụ thể, những phương pháp sinh động để đạt được chủ đích là giúp khơi rộng và đào sâu đức tin, đồng thời giúp người tín hữu càng ngày càng thể hiện trung thực một đời sống mới trong Đức Kitô.

Hiện nay có rất nhiều phương pháp sư phạm giáo lý, mỗi phương pháp có những đặc điểm và sự thích ứng riêng biệt. Có những phương pháp tùy theo tuổi và trình độ hiểu biết. Nhưng ngay trong một lớp giáo lý, người ta cũng không sử dụng một phương pháp nào nhất định. Có thể mỗi phần trong giờ giáo lý họ sử dụng một phương pháp khác nhau với mục đích là giúp học viên thích học và học có hiệu quả.

Tuy nhiên trong sự nở rộ của các phương pháp huấn giáo, chúng ta thấy có một phương pháp căn bản, là điểm tựa cho mọi phương pháp khác. Đó là phương phápcủa Đức Kitô.

PHƯƠNG PHÁP SƯ PHẠM CỦA ĐỨC KITÔ

Đức Kitô là một người Thầy tuyệt vời của những người thầy về cuộc sống và trong cách xử sự. Ta có thể nói, trong lịch sử, chưa có ai qua mặt được Vị Thầy Giêsu trong cách Ngài sống những mối tương quan với Thiên Chúa và với con người. Vậy, là một giáo lý viên, chúng ta có suy tư, có cảm nhận và có ước mong gì trước mỗi mẫu gương của Chúa Giêsu ? Hy vọng khi khám phá ra một số mẫu gương của Chúa Giêsu, giáo lý viên được thôi thúc vun trồng mỗi ngày càng sâu đậm hơn mối tương giao thân thiện với Thiên Chúa, và đây chính là nền tảng cho mọi tương giao với con người.

Dựa vào Kinh Thánh, chúng ta nêu lên ở đây một số trong muôn vàn mẫu gương của Chúa Giêsu, làm kim chỉ nam cho giáo lý viên trong sứ mệnh rao giảng Tin Mừng. Qua các mẫu gương này, ta thấy :

- Chúa Giêsu luôn hướng về Cha : Đấng sai đi ;

- Chúa Giêsu luôn trung thành với con người : đối tượng sai đến

- Chúa Giêsu dùng những phương pháp giảng dạy mang tính mô phạm phù hợp với mọi thời đại.     

CHÚA GIÊSU VỚI CHÚA CHA

Đức Giêsu luôn ý thức mình được Chúa Cha sai đến, vì thế Ngài luôn hướng về Cha bằng sự thông hiệp liên lỉ :từ ý nghĩ đến lời nói và hành động. Người chỉ nói những gì lãnh nhận từ nơi Cha và chỉ làm những gì đẹp lòng Cha. Sự trung thành này còn được thể hiện cách sâu sa qua việc Ngài sống kết hợp mật thiết với Cha trong đời sống cầu nguyện. Đối với Ngài, cầu nguyện là hơi thở, là sức mạnh, là nguồn lực cho tất cả mọi hoạt động giảng dạy và loan báo Tin Mừng.

1. Đức Giêsu và Chúa Cha chỉ là một

Bốn Tin Mừng ghi lại nhiều kinh nguyện của Đức Giêsu, trong đó Ngài xưng hô với Thiên Chúa là Cha. Marcô ghi lại lời thân thưa của Đức Giêsu với Thiên Chúa tại vườn cây dầu bằng nguyên ngữ Aram "Abba", Cha ơi !(Mc14, 36). Khi rao giảng, Chúa Giêsu không chỉ nghĩ đến dân chúng và các tông đồ, nhưng Ngài luôn gắn bó với Cha và ý thức mình là người Con được Cha sai đến trong thế gian : "Như Cha đã sai Con đến thế gian..."(Ga 17,18), vì thế Ngài luôn nhất trí với Cha. Ngài chỉ nói những gì đã nghe nơi Cha : "Tôi nói lại cho thế gian điều tôi đã nghe Cha nói"(Ga 8,26), và làm những gì Cha đã làm : "Tôi không tìm cách làm theo ý riêng tôi, nhưng theo ý Đấng đã sai tôi"(Ga 5,30). Như vậy, suốt cuộc sống trần gian, Chúa Giêsu luôn gắn bó với Cha và tìm cách làm đẹp ý Cha : "Đấng sai tôi vẫn ở với tôi, Người không để tôi cô độc vì tôi hằng làm những điều đẹp ý Người"(Ga 8,29).

Tin mừng Gioan cho ta thấy thái độ sâu xa của Người đối với Thiên Chúa thật cảm động : Thái độ làm con, sống phó thác, lệ thuộc và tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa là Cha (Ga 6, 57 ; 12, 28 ; 11, 41 ; 7, 16 ; 8, 38 ; 12, 49 ; 14, 31 ; 8, 49 ; 8, 29 ; 8, 55).

Rồi một lần, khi người Do Thái yêu cầu Chúa Giêsu nói rõ về sứ mệnh của mình, Ngài đã trả lời : "Tôi nói rồi mà các ông không tin. Các công việc mà tôi làm nhân danh Cha tôi, chính các công việc đó làm chứng về tôi"(Ga 10,25). Và sau đó Chúa đã tuyên bố một điều vô cùng quan trọng : "Cha và Con chỉ là một(Ga 10,30).

"Nên một với Chúa" là tương giao nền tảng làm mẫu mực cho mỗi giáo lý viên, cũng là người được Chúa Giêsu sai đi tiếp tục sứ mạng của Ngài. Để công việc được hoàn thành tốt đẹp thì người sai và kẻ được sai phải rất ăn ý với nhau. Cũng như Chúa Giêsu cần đến Chúa Cha, giáo lý viên cũng cần sống gắn bó và nên một với Chúa Giêsu trong ý nghĩ, lời nói và hành động trong khi thi hành sứ vụ của mình.

Trong thực tế, giữa một bối cảnh xã hội mà trong đó hình như con người đang mất dần cảm thức về Thiên Chúa, họ thích sống hưởng thụ, vui vẻ với những tiện nghi vật chất, thì việc sống gắn bó và nên một với Chúa Giêsu quả không đơn giản chút nào. Nhưng một khi mang trong mình khát vọng muốn đem Chúa Giêsu đến cho người khác, muốn chia sẻ niềm vui, hạnh phúc và sự bình an cho tha nhân thì giáo lý viên sẽ không để mình bị cuốn vào những đòi hỏi thỏa mãn nhất thời nhưng luôn biết dựa vào ơn Chúa, biết tỉnh thức cầu nguyện và để Chúa làm chủ mọi tư tưởng, lời nói việc làm của mình. Nhờ đó giáo lý viên sẽ dễ dàng vượt qua những khó khăn trắc trở trong nhiệm vụ, luôn biết đặt ý Chúa trên tất cả mọi sự, biết đối chiếu cái "ý tôi" với " Ý Chúa" và sẵn sàng để những gì là "của riêng tôi" được tan biến trong những gì là " của Chúa " như lời Thánh Phaolo đã nói: " Tôi sống nhưng không phải tôi sống mà là chính Đức Kitô sống trong tôi."(Gl 2,20)

Là giáo lý viên, ta có thể sống như thế không ? Ta có thể chân thành nói rằng : đối với tôi, sống là Chúa Kitô được không ? Và việc làm của ta có phải là ta đang làm cho Chúa không ?

2. Chúa Giêsu luôn qui hướng về Cha và dựa vào kinh nghiệm cầu nguyện của mình để dạy các môn đệ cầu nguyện.

Chiêm ngắm đời sống của Chúa Giêsu, ta thấy Ngài luôn quy hướng mọi sự về Cha : Khi một thanh niên đến hỏi Ngài : "Lạy thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sống đời đời". Chúa đáp ngay : "Chỉ mình Thiên Chúa là tốt lành..."(Lc 18,19).

Các môn đệ thấy nhiều lần Ngài cầu nguyện, kết hiệp thân tình với Thiên Chúa, có những lần thức trắng đêm để cầu nguyện, chẳng hạn như lần tuyển chọn nhóm Mười Hai (Mc 1, 35 ; 6, 46 ; Lc 5, 16 ; 6, 12-16 ; 9, 18-21 ; 11, 1). Người hướng về Thiên Chúa bằng những lời hân hoan chúc tụng (Mt 11, 25-26 ; Lc 10, 21), khi gặp thử thách (Mc 14, 36 ; Mt 26, 39.42 ; Lc 22, 42 ; Ga 12, 27-28), trên thập giá (Lc 23, 34.46). Thái độ cầu nguyện của Chúa Giêsu khi thì trong chiêm ngắm và thinh lặng, khi thì cất tiếng ngợi khen, đã thúc đẩy các môn đệ khao khát được biết cầu nguyện như Thầy : "Lạy Thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện"(Lc 10, 21-24 ; 11, 1-13).

Để nhận biết thánh ý Cha, Chúa Giêsu đã không ngừng gặp gỡ Cha trong cầu nguyện. Khi làm bất cứ một phép lạ nào trước mặt dân chúng, Ngài cũng giơ hai tay hướng về Chúa Cha. Trong cơn hấp hối ở vườn dầu, hay trên chặng đường khổ nạn, và trên thánh giá, Ngài luôn nghĩ đến Cha và cầu nguyện cùng Cha.

Cầu nguyện đóng một vai trò rất quan trọng trong việc loan báo Tin Mừng. Giáo lý viên là người làm việc cho Chúa, nhưng cũng phải bận rộn với bao công việc sinh sống hằng ngày cho mình cũng như cho người khác. Vì thế không phải tự nhiên lúc nào ta cũng có thể sống với Chúa và cho Chúa. Nhưng nếu chúng ta hiểu thế nào là cầu nguyện và biết lợi dụng mọi cơ hội để cầu nguyện, ta sẽ có thể biến mỗi giây phút trong ngày sống thành một lời kinh nguyện. Các Thánh và các nhà tu đức đã cho chúng ta một số kinh nghiệm về cầu nguyện như sau :

- Cầu nguyện là nhịp thở (Thánh Âu Tinh).

- Cầu nguyện là hướng lòng lên với Chúa (Thánh Gioan Đamaxênô).

- Cầu nguyện là trao đổi tình yêu, là nói chuyện với Chúa mà chúng ta biết là Ngài đang yêu chúng ta (Thánh Têrêsa Avila).

- Cầu nguyện là đơn sơ nhìn lên trời, là tiếng kêu của lòng tri ân (Thánh Têrêsa Hài Đồng).

- Cầu nguyện là lắng nghe (Hồng y Suenens).

- Cầu nguyện là tín thác, là cởi mở, là trao trọn, là chia sẻ, là trải lòng mình trước ánh sáng mặt trời của Chúa (Vua Baudouin).

- Có những lời cầu nguyện bằng nước mắt, bằng thinh lặng, bằng chiêm ngưỡng. Cầu nguyện là chu toàn bổn phận, là giúp đỡ người đau khổ, là mỉm cười với kẻ làm chúng ta đau buồn (G. Castelot)

-       v.v...

Như vậy, ngoài những giờ phút dành riêng cho giờ kinh nguyện mỗi ngày, giáo lý viên có thể cầu nguyện bất cứ lúc nào. Buổi sáng thức dậy, ta có thể chúc tụng Chúa với tia nắng của mặt trời, với tiếng chim líu lo, với làn gió mát... Trong ngày, cho dù quá bận rộn, ta cũng có thể dâng những bận rộn ấy lên Chúa. Thí dụ khi làm việc, khi đi đường, khi học tập, khi vui chơi, gặp gỡ... ta có thể biến những cơ hội này thành những lời kinh liên lỉ... và xin Chúa chúc lành cho tất cả những công việc đó. Chiều về, ta hướng lòng lên Chúa qua những thành công, thất bại, những niềm vui nỗi buồn của một ngày đã qua và múc lấy nguồn ân sủng từ những giây phút trầm lặng bên Chúa trước khi kết thúc một ngày.

Muốn gắn bó với Chúa và muốn lớn lên trong kinh nguyện, chúng ta đừng chờ tới giờ mới cầu nguyện hay chờ tới lúc có nhu cầu xin điều gì mới nhớ đến Chúa. Cầu nguyện là tiếng nói của tâm tư, nên không phải chỉ những lúc vui vẻ hạnh phúc ta mới cầu nguyện, nhưng cả những lúc đau buồn, bất lực và thất vọng. Như thế, cầu nguyện không phải chỉ đóng khung trong các kinh quen đọc, mà còn cả những tâm tình bộc phát của cá nhân. Cầu nguyện thật là đắm mình trong sự hiện diện với Chúa. Sống được như thế, giáo lý viên sẽ triển nở trong đời sống thiêng liêng và sẽ chuyển thông được cho người khác một cách tự nhiên những kinh nghiệm về Tình Yêu Chúa.

3. Chúa Giêsu dạy những gì đã lãnh nhận nơi Cha

Thời thơ ấu, Chúa Giêsu đã nhận sự dạy bảo của Chúa Cha qua Đức Mẹ, Thánh Giuse (Lc 2,51) và qua những tập tục, những truyền thống của tôn giáo và xã hội Do Thái (Lc 2,46). Trong đời sống công khai, Ngài luôn để Thánh Thần Chúa hướng dẫn (Lc 4,1-13). Ta có thể nói : mọi lời giảng dạy của Chúa Giêsu đều được kín múc từ nơi Chúa Cha : "Lời tôi rao giảng không phải tự mình tôi nói ra, nhưng là chính Chúa Cha, Đấng đã sai tôi, truyền lệnh tôi phải nói gì và tuyên bố những gì"(Ga 12,49). Như vậy, Chúa Giêsu không tự làm theo cách thức của mình nhưng làm theo những gì Chúa Cha muốn : "Lương thực Ta là thi hành ý của Cha"(Ga 4,34).

Nếu lương thực của Đức Giêsu là làm theo ý Chúa Cha thì giáo lý viên cũng được kêu gọi dùng thứ lương thực mà chính Chúa Giêsu đã dùng bằng cách trung thành với Tin Mừng và giáo lý của Ngài. Để trung thành với Lời Chúa, Giáo lý viên phải năng học hỏi Lời Chúa dưới sự soi sáng của Chúa Thánh Thần và qua sự chỉ dẫn của Giáo Hội. Nói cách khác, phải đón nhận Lời Chúa trong lòng Giáo Hội theo gương Chúa Giêsu đã đón nhận ý Chúa Cha qua gia đình, qua truyền thống Do Thái và qua sự hướng dẫn của Thánh Thần. Khi yêu ai, ta thường muốn đem những gì tốt đẹp của người ấy chia sẻ cho người khác. Khi đã yêu mến Đức Kitô, giáo lý viên cũng muốn tìm mọi cách để nói về Chúa, nghĩa là nói làm sao để giáo lý viên có thể áp dụng cho mình câu nói của Chúa Giêsu : "Đạo lý Ta dạy không phải là của Ta mà là của Đấng đã sai Ta"(Ga 7,16).

Tóm lại, Đức Giêsu có một đời sống tôn giáo thật sâu xa. Ngài không là một người cuồng tín. Ngài cũng không giống như những người biệt phái. Ngài không đạo đức theo kiểu họ. Ngài không dậy một loại "kỹ thuật tôn giáo" hay các luật về luân lý ứng dụng. Nhịp sống của Ngài là cầu nguyện. Ngài múc lấy sức sống trong nguyện cầu, mỗi buổi sáng tinh sương và khi chiều đến, đi vào trong thinh lặng sau một ngày "nộp mình" cho đám đông.

Ngài nhắc lại cho người thông luật kinh Shema (hãy nghe ! Đnl 6, 4) là nền tảng của niềm tin Do thái. Người gắn bó với luật hành hương, mừng Lễ Vượt qua (Ga 2, 13-25), lễ Lều (Ga 7, 1-13). Ngài tôn trọng Đền thờ, nhưng muốn người ta trả lại cho Đền thờ ý nghĩa thực sự của nó.

Tình yêu của Ngài đối với Chúa Cha vượt mọi khuôn khổ, làm cho Ngài trở nên một con người tự do, không băn khoăn lo lắng về ngày mai (Mt 6, 25-34).

(còn tiếp)

Tu Viện Mân Côi Chí Hòa

TRANG QUỚI CHỨC

VUN TRỒNG ĐỨC TIN

Đức tin rất cần để được cứu độ, nhưng đức tin chết thì cũng chẳng ích gì!

Đức tin, trước hết đó là một ơn ban, không phải bất cứ ai cũng được ơn đó mà chỉ những ai được Chúa thương tuyển chọn thì mới được.Chúa Giêsu đã từng nói: " Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha." (Lc 10,21b).

Hiệu quả của đức tin là gì ? Chúa Giêsu đã nói: "Ai tin vào người Con thì được sự sống đời đời; còn kẻ nào không chịu tin vào người Con thì không được sự sống, nhưng cơn thịnh nộ của Thiên Chúa đè nặng trên kẻ ấy." (Jn 3,36).

Thế nhưng, đức tin không phải là một cái gì đó bất động, bất biến, đức tin mà Thiên Chúa ban cho chúng ta khi nhận lãnh bí tích rửa tội đựơc ví như hạt giống, như một vốn ban đầu để chúng ta gầy dựng sự nghiệp về sau cho chính bản thân mình. Chính vì thế mà đức tin cần được vun trồng, cần được vận dụng để nó sinh lợi. Nếu hạt lúa giống không được mang đi gieo trồng, chăm sóc để nó phát triển thì nó không thể mang lại một mùa bội thu; nếu vốn ban đầu không được dùng để sinh lợi nhưng lại bị tiêu xài phung phí thì người ta cũng bị túng nghèo mà thôi.

Thánh Giacôbê tông đồ đã nói : "Thưa anh em, ai bảo rằng mình có đức tin mà không hành động theo đức tin, thì nào có ích lợi gì ? Đức tin có thể cứu người ấy được chăng?" (Jac 2,14); "Thật thế, một thân xác không hơi thở là một xác chết, cũng vậy, đức tin không có hành động là đức tin chết." (Jac 2,26).

Nhưng làm sao để đức tin có thể lớn lên ?

Đức tin chỉ có thể lớn lên, trưởng thành nhờ vào những thử thách mà chúng ta vượt qua khi hết lòng tuân giữ luật lệ, giáo huấn của Phúc âm. Có thể nói đó là thứ phân bón tuyệt vời nhất để hạt giống đức tin phát triển. Những ai gặp thử thách vì Chúa mà bỏ cuộc thì dần dẫn sẽ mất đức tin, bởi vì đức tin đã không được nuôi dưỡng bằng thứ dinh dưỡng mà nó cần.

Chính vì thế bổn phận của chúng ta, những người được may mắn nhận được "vốn trời ban" ấy có bổn phận phải làm sau cho cái "vốn" ấy sinh lợi chứ không phải ngồi chờ nó tự động sinh lợi cho chúng ta. Đừng để cho hạt giống bị mai một hay xài thâm vốn, bởi vì Thiên Chúa sẽ đòi lại những gì người đã ban nếu như chúng ta không biết dùng nó để sinh lợi, còn những ai biết làm lợi thì Người sẽ cho thêm.

Nói tóm lại, đức tin là một lời mời gọi của Chúa đối với những ai người chọn để dự phần vào sự sống và hạnh phúc đời đời của Ngài, nhưng nó sẽ hết giá trị đối với những ai không cộng tác.

SỐNG ĐẸP

TẠI SAO TÔI CHỌN CHÚA

10 khuyết điểm tuyệt vời của Chúa Giêsu

 Những chia xẻ "10 khuyết điểm tuyệt vời của Chúa Giêsu" do ĐTGM Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, tại Strasbourg, Pháp trong cuộc họp mặt "Niềm Vui Sống Đạo" của các bạn trẻ Việt Nam Công Giáo sống tại Âu Châu.

 9 - Chúa Giêsu phiêu lưu

Một chương trình cứu chuộc toàn nhân loại, một dự tính gửi người đi rao truyền Phúc âm cho mọi dân nước, mọi thế hệ, thế mà lại chọn và đặt hết tín nhiệm, quyền hành cho Phê-rô, một người chài lưới bộp chộp, ít học rồi còn sợ sệt chối mình nữa!

Và về phương cách truyền bá, rao giảng nước Thiên Chúa, thì Chúa Giêsu lại dạy các môn đệ: "Anh em đừng mang gì đi đường, đừng mang gậy, bao bị, lương thực, tiền bạc, cũng đừng có hai áo" (Lc. 9, 3).

Phiêu lưu trong việc tuyển lựa các môn đệ, Chúa Giêsu còn bị ngay các môn đệ Ngài nghi ngờ là quá phiêu lưu. Khi Chúa Giêsu loan báo chương trình Ngài sẽ bị bắt nạp, bị giết chết và sẽ sống lại trong ngày thứ ba, thì "Các môn đệ buồn phiền lắm" (Mt. 17, 23). Khi Chúa nói với họ: "Nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con người, các ông không có sự sống nơi mình" (Gioan 6, 53), thì "nhiều môn đệ của Ngài liền nói: "Lời nầy chướng ta quá! Ai mà nghe nổi" (Gioan 6, 60). Và, vì thấy lời giảng dạy của Chúa Giêsu khó nghe và phiêu lưu quá, nhiều môn đệ rút lui. Nên Chúa quay hỏi nhóm 12 tông đồ "Cả anh em nữa, anh em cũng bỏ đi sao?" (Gioan 6, 67).

Có lần khác, có người lại muốn đi theo Ngài làm môn đệ, nên hỏi: "Thưa Thầy, Thầy đi đâu, tôi cũng xin đi theo". Người trả lời: "Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng con người không có chỗ tựa đầu (Lc. 9, 58).

Và cuộc phiêu lưu tột đỉnh của Yêu thương nơi Chúa Giêsu được diễn tả cô động nơi bài ca trong thư của Thánh Phaolô gửi giáo đoàn Phi-líp-phê:

"Đức Giêsu Kitô
Vốn dĩ là Thiên Chúa
mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì

địa vị ngang hàng với Thiên Chúa,

nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang

mặc lấy thân phận nô lệ,

trở nên giống phàm nhân

sống như người trần thế

Người lại còn hạ mình,
vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết,

chết trên cây thập tự (Phl. 2, 6-8).

(còn tiếp)

Đức Hồng Y Px.  Nguyễn Văn Thuận

CHUYỆN THƯỜNG NGÀY

Bà Nội Của Cháu Ngoại Tôi

Người ta nói "bà con ngày một xa, sui gia ngày một gần" quả không sai. Khi hai bên gia đình bỏ bớt những điều tiếng, thông cảm, chia sẻ với nhau thì dâu, rể dễ sống, thuận hòa, con cái hạnh phúc.

Nói thật lòng thì lúc đầu tôi và chị sui cũng không "xuôi chèo mát mái" gì cho lắm. Cũng là người mẹ nên tôi hiểu nỗi niềm của chị. Chị đã lao tâm khổ tứ thế nào để lo cho con cái nên người. Nhưng khi con trai chị lấy vợ xong, người sống chung, gần gũi với con lại là tôi chứ không phải chị. Chị cảm thấy mình bị mất mát quá nhiều.

Hoàn cảnh của chị thật đáng để cho người khác kính trọng. Cha mẹ mất cùng một lúc vì chiến tranh khi chị là con đầu vừa tròn 18 tuổi. Một mình chị phải bươn chải nuôi 5 người em. Chị làm đủ thứ việc để lo cho các em, rồi dựng vợ, gả chồng. Cũng may, chị gặp được người đàn ông tốt, đã nghiêng vai gánh vác gia đình cùng chị.

Xong bổn phận với đàn em thì tới lượt lo cho 4 người con. Gánh nặng đó đâu phải ai cũng chu toàn được. Cả 4 con của chị được ăn học nên người rồi ra riêng, đi khắp nơi để lập nghiệp. Khi con cái đã yên bề, chị vẫn phải vất vả đồng áng, vẫn phải "bán mặt cho đất bán lưng cho trời" để dành dụm lo cho gia đình các con. Ở cái tuổi thất thập rồi mà chị vẫn phải ra đồng, lên rẫy, chi li, tằn tiện từng chút, chỉ để lâu lâu có chút gạo gửi cho đứa này, phụ chút tiền cho đứa kia. Lòng mẹ thật vô bờ bến.

Đáng tiếc là các cô con dâu của chị, trong đó có cả con cái của tôi, trẻ người non dạ không nghĩ đến tấm lòng của mẹ chồng, còn than thở, trách móc không thương cháu, không bỏ ruộng làng đề vào Sài Gòn  giữ con dùm. Tôi nói với con gái tôi: "Ông bà không có bổn phận đó. Đã lớn, có chồng, con rồi thì hãy tự lo liệu chuyện gia đình mình. Mẹ chồng con nuôi con khôn lớn đã quá vất vả, giờ có nhờ cậy được đứa nào? Mẹ chồng đã không bắt lỗi, bắt phải thì thôi, sao còn trách móc".

Tôi cũng từng cảm thấy mất mát như chị khi con gái duy nhất của mình lấy chồng. Nhưng nhìn lại mình, tôi cũng biết ơn chị. Nhờ chị nuôi dạy mà tôi có được con rể biết điều, con gái tôi có người chồng tốt, các cháu tôi có người cha sống có trách nhiệm.

Ăn trái phải nhớ kẻ trồng cây. Khi tôi bệnh, con rể một tay ra vào bệnh viện chăm sóc. Trong suy nghĩ của tôi vụt lên hình ảnh chị, đáng lẽ chị phải là người được chăm sóc chứ không phải tôi.

Năm tháng đi qua, có thêm cháu, chúng tôi đã hiểu nhau hơn, biết chia sẻ, bỏ bớt cho nhau. Từ cuộc hôn nhân bằng mặt mà không bằng lòng, chúng tôi trân trọng những gì mình đang có.

Tôi ước mong các con tôi có điều kiện lo cho chị để tuổi già chị không còn phải vất vả. Tôi cũng mong tất cả các nàng dâu thương yêu mẹ chồng, biết đối nhân xử thế để vun vén hạnh phúc. Đó là đạo lý. Con người sống không biết đạo lý làm sao dạy con được, làm sao xứng đáng làm cha, làm mẹ?...

Bảo Minh Anh
Nguồn: nld.com.vn

HỎI ĐÁP MỤC VỤ

THẾ NÀO LÀ NGƯỜI THỰC SỰ CÓ ĐỨC TIN ?

Năm Đức tin đã được mở ra trong Giáo Hội từ ngày 11 tháng 10 năm 2012 cho đến ngày 24 tháng 11 năm 2013.Mục đích là để mọi người trong Giáo Hội nhìn lại đời sống đức tin của mình để trước hết cảm tạ Thiên Chúa đã ban quà tăng đức tin vô giá cho chúng ta và từ đó thêm quyết tâm sống đức tin cách cụ thể và có chiều sâu hơn nữa để thích nghi với những thách đố của thời đại tục hóa, trống vắng mọi niềm tin này, và cũng để phúc âm hóa người khác, tức là mời gọi thêm nhiều người nữa nhận biết và tin yêu Chúa Kitô, Đấng Cứu Chuộc nhân loại.

Đó là tất cả ý nghĩa và mục đích của công cuộc "Tân phúc âm hóa để loan truyền đức tin Kitô-Giáo=New Evangelization for the transmission of Christian faith) mà Giáo Hội thi hành trong Năm Đức Tin này

Thực vậy, chúng ta đang sống trong hoàn cảnh tục hóa của thời đại tôn thờ vật chất (Materialism) chuộng khoái lạc (hedonism) vô thần (atheism) và phi luân vô đạo (amoralism).

Do đó, hơn bao giờ hết, là người tin có Thiên Chúa là Đấng tạo dựng con người và muôn vật hữu hình và vô hình, tin Chúa Kitô là Đấng cứu chuộc nhân loại, tin Chúa Thánh Thần là Đấng ban sự sống và là Thần Chân Lý, hiệp nhất cùng một bản thể với Chúa Cha, và Chúa Con trong Mầu Nhiệm Ba Ngôi một Thiên Chúa duy nhất. Tin Mẹ Maria là Mẹ thật của Chúa Kitô và cũng là Mẹ Thiên Chúa (Theotokos) trọn đời đồng trinh và được về trời cả hồn xác. Tin Hội Thánh Công Giáo là Thân Thể mầu nhiệm của Chúa Kitô trong sứ mệnh bảo vệ kho tàng đức tin và rao giảng Tin Mừng Cứu Độ của Chúa Kitô cho đến ngày mãn thời gian và tin xác loài người ngày sau sẽ sống lại.

Đó là nội dung căn bản của Đức Tin Công Giáo mà chúng ta hãnh diện tuyên xưng, sau khi được lãnh nhận qua Phép Rửa để trở thành tạo vật mới và được phép gọi Chúa là Cha (Abba).

Như thế "đức tin là bảo đảm cho ta những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không thấy. Nhờ đức tin ấy, các tiền nhân đã được Thiên Chúa chứng giám." ( Dt 11 : 1-2)

Trước hết, Đức tin là điều kiện tiên quyết cho ta được cứu độ nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô, Đấng đã đến trần gian làm Con Người để " phục vụ và hiếm nạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người." ( Mt 20; 28).

Do đó, phải có đức tin để tin Chúa Kitô là Đấng Cứu Chuộc để nhờ Người mà ta được cứu rỗi nếu ta thực sự cộng tác với ơn cứu rỗi đó bằng quyết tâm sống theo đường lối của Chúa trong suốt cuộc đời trên trần thế này.

Phải sống cách nào cho xứng đáng là người thực sự có đức tin?

Có đức tin là điều tối cần thiết nhưng quan trọng hơn là phải sống đức tin ấy bằng hành động cụ thể từ trong tâm hồn ra đến mọi hành động bên ngoài giữa bao người không có đức tin để minh chứng mình khác với họ ở điểm then chốt là có động lực nội tâm hướng dẫn mọi tư tưởng, tình cảm và hành động của mình về Thiên Chúa là đích điểm của mọi sự thiện hảo, sự lành và trong sạch giữa thế gian ô uế vì tội lỗi, vì gian ác và đầy bất công, vô nhân đạo. Động lực đó là niềm tin có Chúa là Đấng trọn tốt trọn lành, uy quyền vô song, rất công bình và giầu tình thương.

Như vậy, người có đức tin phải sống đức tin ấy sao cho phản ảnh trung thực những đặc tính của Đấng mình tin yêu tôn thờ đểnhờ sống niềm tin như vậy, ta sẽ giới thiệu Chúa cho người khác chưa biết Chúa để họ được thấy Chúa hiện diện trong ta và đem lòng tin yêu Người như Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ xưa:

"Chính anh em là ánh sáng cho trần gian.... Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em Đấng ngự trên trời." (Mt 5: 14-16)

Nói rõ hơn, trong khi những người không có niềm tin Chúa, nên làm những việc sai trái như thề gian, nói dối, bất công bóc lột người khác, trộm cắp, nhất là giết người, gian dâm, cờ bạc, thay vợ đổi chồng, tiếp tay với kẻ cầm quyền vô đạo để đàn áp, triệt hạ những ai chống đối đòi quyền sống và công bình xã hội... thì người có đức tin phải nêu cao những giá trị của niềm tin là ngay thẳng, lương thiện, công bình, bác ái, yêu thương, tha thứ và trong sạch để nên nhân chứng đích thực cho Chúa trước mặt những người không có niềm tin và đang làm những sự xấu, sự dữ nói trên, để mong thức tỉnh họ từ bỏ con đường dẫn đến hư mất đời đời.

Như thế, sống đức tin cách hoàn hảo và cụ thể không những góp phần phúc âm hóa người khác mà còn nói lên chính mình là người thực sự tin có Thiên Chúa là Cha toàn năng, Đấng tạo dựng muôn loài, mọi vật và đặc biệt tạo dựng con người" giống hìnhảnh Thiên Chúa" (St 1 : 27) Đấng "muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý." (1Tm 2: 4), vì "Thiên Chúa là tình yêu..." (2 Ga 4: 8).

Nói khác đi, đức tin phải được chứng minh bằng hành động cụ thể để cho thấy sự trung thực giữa lý thuyết và thực hành, giữa lời nói suông là có đức tin khác biệt với hành động được đức tin thúc đẩy, soi dẫn và qui chiếu về Thiên Chúa là nguồn mạch chân lý, và thiện hảo như Thánh Gia-cô-bê Tông Đồ đã dạy như sau:

"Hỡi người đầu óc rỗng tuếch : bạn có muốn biết rằng đức tin không có hành động là vô dụng không? ông Ap-bra-ham tổ phụchúng ta đã chẳng được nên công chính nhờ hành động, khi ông hiến dâng con mình là I-Xa-ac trên bàn thờ đó sao? Bạn thấy đó, đức tin hợp tác với hành động của ông, và nhờ hành động mà đức tin nên hoàn hảo." (Gc 2: 20-22)

Nghĩa là, vì có đức tin mạnh mẽ và lòng mến Chúa thâm sâu, nên ông Abraham đã dám hy sinh con một của ông là Issac theo lời đòi hỏi của Thiên Chúa nhằm thử thách đức tin và lòng mến của ông. Nếu Chúa không sai Sứ thần đỡ lấy tay ông đang cầm dao vung lên, thì chắc chắn con ông đã bị giết. Thiên Chúa đã can thiệp để cứu mạng sống của Issac, vì đã nhìn thấy rõ đức tin phi thường của ông Apbraham, nên Chúa đã phán bảo ông như sau qua Sứ thần của Người:

"Sứ Thần của ĐỨC CHÚA từ trời gọi ông Abraham một lần nữa và nói:" Đây là sấm ngôn của Đức Chúa, Ta lấy danh Ta mà thề: bởi vì ngươi đã làm điều đó, đã không tiếc con của ngươi, con một của ngươi, nên Ta sẽ thi ân giáng phúc cho ngươi, sẽ làm cho dòng dõi ngươi nên đông, nên nhiều như sao trên bầu trời, như cát ngoài bãi biển...chỉnh bởi vì ngươi đã vâng lời Ta." ( St 22: 15- 18)

Sự kiện trên cho thấy là ông Abraham đã thể hiện cách cụ thể lòng tin yêu Thiên Chúa qua việc ông dám hy sinh con một của mình để tế lễ Chúa như Người đã truyền cho ông. Hành động cụ thể của ông đã đủ minh chứng đức tin mạnh mẽ và hoàn hảo của ông khiến ông trở nên người cha của những ai tin và yêu mến Thiên Chúa cách cụ thể và đầy thuyết phục như Thánh Gia-cô-bê nói trên đây.

Cũng phải kể thêm gương đức tin sáng chói nữa là của các Thánh Tử Đạo- đặc biệt là các anh hùng Tử Đạo Viêt-Nam, cha ông chúng ta đã can đảm và anh dũng chịu mọi cực hình để tuyên xưng niềm tin sắt son của mình trước bạo quyền bách hại. Chính nhờ máu các ngài đổ ra mà hạt giống đức tin đã nẩy sinh ra nhiều tin hữu cho Giáo Hội Việt-Nam.

Ngày nay, chúng ta không có cơ hội đổ máu mình ra để tuyên xưng đức tin như các anh hùng Tử Đạo xưa kia. Nhưng chúng ta vẫn có nhiều cơ hội khác để minh chứng đức tin của mình trước bao người không có đức tin và đang làm những sự dữ như giết người, giết thai nhi, bóp nghẹt lương tâm để lường gạt người khác, hoặc làm những việc có chủ đích mời gọi người khác phạm tội như mở sòng bạc, nhà mại dâm, buôn bán ma túy, hoặc phụ nữ cho kỹ nghệ dâm ô dưới chiêu bài "hôn nhân nước ngoài" khiến biết bao phụ nữ, vì nghèo đói, phải cam chịu đem bán mình làm thú vui cho kẻ vô luân vô đạo ở trong và ngoài nước.

Trước thực trạng ghê tởm này, người tín hữu Chúa Kitô- đều được mong đợi sống niềm tin của mình cách cụ thể là không những phải xa tránh những lối sống vô luân vô đạo nói trên mà còn phải can đảm lên án những tụt hậu thê thảm về luân lý, đạo đức của xã hội mình đang sống, theo gương Chúa Kitô, Người đã lên án tội lỗi của thế hệ đương thời như sau :

"Thế hệ gian ác và ngoại tình này đòi dấu lạ. Nhưng chúng sẽ không được dấu lạ nào, ngoài dấu lạ ông Giô-na.."(Mt 16: 4)

Dấu lạ ông Giô-na là dấu dân thành Ni-ni-vê, nghe lời cảnh cáo của ngôn sứ Giô-na để ăn chay, sám hối, xin Chúa tha thứ không đánh phạt và Chúa đã nhậm lời xin tha không trừng phạt họ như Người đã ngăm đe. (Gn 3: 1-10)

Như vậy, gương đức tin của ông Abraham và của các Thánh Tử Đạo phải là những khuôn vàng thước ngọc cho chúng ta ngày nay noi theo để minh chứng cụ thể trước thế gian chúng ta thật sự tin yêu Chúa, Đấng chúng ta không được xem thấy, nhưng vững lòng tin có Người là Cha toàn năng. Người yêu thương mọi con cái loài người đến mức đã hy sinh chính Con Một của mình là Chúa Kitô, Đấng cũng vui lòng hiến mạng sống mình cho chúng ta được tha thứ tội lỗi và có hy vọng được cứu độ để sống hạnhphúc muôn đời với Chúa tình thương trên Nước trời mai sau.

Phải nói là có hy vọng thôi chứ không phải là bảo đảm chắc chắn ngay từ bây giờ vì tất cả còn tùy thuộc một phần nơi thiện chí của mỗi người chúng ta trong cuộc sống đức tin trên trần thế này.

Thực vậy, chúng ta phải sống đức tin có Chúa ở mọi chiều kích như đức tin đòi hỏi. Đó là -trước hết- phải thực tâm yêu mến Chúa trên hết mọi sự, và cương quyết từ bỏ ma quỷ là kẻ gây ra mọi tội lỗi để mong đẩy xa con người ra khỏi tình thương của Chúa. Đó là hành động cụ thể để chứng minh hùng hồn đức tin hoàn hảo vì " đức tin không có hành động thì quả là đức tin chết." như Thánh Gia-cô-bê Tông Đồ đã dạy. (x. Gc 2: 17)

Kinh nghiệm phổ biến trong cuộc sống ở khắp mọi nơi cũng cho ta thấy là người nào chỉ nói, nói nhiều, nói hay, mà không thực hành điều mình nói thì chắc chắn sẽ không thuyết phục được ai tin những gì mình nói. Thí dụ hô hào, kêu gọi người khác làm việc bác ái, giúp đỡ thiết thực cho người đang nghèo đói, nhưng bản thân mình lại không hề bỏ ra một đồng nào để giúp các nạn nhân trong khi mình có dư khả năng làm việc đó, thì làm sao lời kêu gọi của mình được ai hưởng ứng nữa ?

Lại nữa, khuyên người khác sống hòa thuận vợ chồng mà mình lại ly dị vợ hay chồng để lấy người khác trẻ, đẹp hơn thì lời khuyên của mình còn thuyết phục được ai nữa ?

Cũng vậy, mang danh người tín hữu Chúa Kitô mà tham gia vào những việc làm ăn bất lương, bất công, bóc lột người khác, dửng dưng trước sự khó nghèo của người khác, có dư thì giờ đi hu hí, nhẩy nhót mất nết, vui chơi thâu đêm suốt sáng, nhưng lại không có giờ đi dự lễ ngày Chúa Nhật cách trọn vẹn, cũng như không hề cầu nguyện và năng xưng tội, rước Mình Thánh Chúa, thì đức tin kia còn sống hay đã chết?

Lại nữa, miệng nói tôi tin Chúa Kitô, mà chân lại bước vào những con đường dẫn đến các sòng bạc lớn nhỏ, đến những nơi mua bán dâm ô, hoặc những nơi giải trí tội lỗi để thỏa mãn thú vui xác thịt, và nhất là thú ấu-dâm ( child prostitution) rất khốn nạn thì mang danh Công giáo và tuyên xưng đức tin ngoài môi miệng có ích lợi gì cho ai?

Khi lời nói không đi đôi với việc làm thì sẽ trở thành người đạo đức giả, giống bọn biệt phái và luật sĩ mà Chúa Giêsu đã nặng lời chỉ trích xưa kia.

Những ai sống kiểu này cần nghe lại lời Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ xưa như sau: "Không phải bất cứ ai thưa với Thầy, Lạy Chúa, Lạy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu, nhưng chỉ ai ai thi hành ý muốn của Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi." (Mt 7: 21)

Thi hành ý muốn của Cha trên Trời có nghĩa là phải sống đức tin thực sự từ trong tâm hồn ra đến hành động bên ngoài sao cho phản ảnh trung thực những giá trị của Tin Mừng Cứu Độ mà Chúa Kitô đã rao giảng và không hổ thẹn phải xưng danh Chúa và sống những đòi hỏi của Phúc Âm sự sống trước mặt người đời, trước mặt những kẻ đang sống theo "văn hóa của sự chết" đểlàm những điều gian ác vô luân vô đạo ở khắp nơi.

Người tín hữu nào không có can đảm sống đức tin như vậy thì hãy nghe lời Chúa cảnh giác sau đây: "giữa thế hệ ngoại tình và tội lỗi này, ai hổ thẹn vì Ta và những lời Ta dạy, thì Con Người cũng sẽ hổ thẹn vì kẻ ấy, khi Người ngự đến cùng với các thánh thiên thần, trong vinh quang của Cha Người." (Mc 8: 38).

Tóm lại, Năm Đức Tin mời gọi mọi tín hữu không những dâng lời cảm tạ Chúa về quà tặng đức tin quý giá đã nhận được , mà cần thiết phải nhìn lại cách sống đức tin của mình trong bao năm qua, để từ đó - với ơn Chúa Thánh Linh soi sáng - biết chuyển hướng đời sống đức tin của mình cho thêm cụ thể và sống động để sống xứng đáng là nhân chứng cho Chúa Kitô trước mặt người khác trong hoàn cảnh tục hóa, phản Kitô-giáo của thế giới ngày nay.

Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn
Nguồn: conggiaovietnam.net

MỘT CHÚT TÂM TÌNH

Tùy Vào Ban Tay Của Ai

Trái bóng rổ trong đôi tay tôi chỉ giá chừng 19 đô la.
Nhưng trong đôi tay Michael Jordan giá những 33 triệu đô.
Tất cả tùy thuộc vào bàn tay của ai...

Trái bóng dã cầu trong đôi tay tôi chỉ chừng 6 đô.
Nhưng trong tay của Mark McGuire giá trị của nó lên tới 19 triệu đô.

Tất cả tùy thuộc vào bàn tay của ai...

Một cái chày đánh gôn trong đôi tay tôi thì hầu như vô dụng,
Chứ trong đôi tay Tiger Wood,

Nó sẽ là chiếc cầu vươn lên Chức Vô Địch.

Tất cả tùy thuộc vào bàn tay của ai...

Một chiếc gậy trong đôi tay tôi,
cùng lắm cũng chỉ xua đuổi được một con thú rừng nào đó.

Nhưng trong bàn tay của Mô-sê,

chiếc gậy ấy có sức mạnh phân rẽ làn nước biển cả.

Tất cả tùy thuộc vào bàn tay của ai...

Chiếc ná trong tay tôi chỉ là một món đồ chơi.
Trong tay của Đa-vít,

Món đồ chơi ấy bỗng trở nên vũ khí mạnh mẽ vô song.

Tất cả tùy thuộc vào bàn tay của ai...

Hai con cá và năm chiếc bánh trong tay tôi
cùng lắm chỉ dọn được một, hai phần bánh mì kẹp cá.

Thế nhưng trong đôi tay Chúa Giêsu,

chúng làm cho hàng ngàn người no nê.

Tất cả tùy thuộc chúng nằm trong bàn tay của ai...

Những chiếc đinh nhọn trong đôi tay tôi
chỉ đủ đóng một cái chuồng chim nhỏ.

Nhưng trong đôi tay Chúa Giêsu,

những chiếc đinh ấy,

sẽ làm nên ơn cứu độ cho toàn thế giới.

Tất cả tùy thuộc vào bàn tay của ai...

Như bạn thấy đấy,
Tất cả mọi chuyện đều tùy thuộc vào bàn tay của ai...

Thế nên, mọi chuyện trong đời:

những mối quan tâm và khắc khoải,

những lo âu và sợ hãi, những ước mơ và hy vọng,

mọi người thân trong gia đình,

mọi mối quan hệ gần xa của bạn,

cứ trao phó trong tay Thiên Chúa,

vì chưng mọi sự đều tùy thuộc vào bàn tay của Người.

GF FLORESCA, Jesse S. J.