TRUYỀN THÔNG CÔNG GIÁO VIỆT NAM 50 NĂM QUA


DẪN NHẬP

Truyền thông càng ngày càng có nhiều ảnh hưởng quan trọng trong cuộc sống con người và ngay cả trong đời sống của Giáo Hội. Trên quê hương Việt Nam, do rất nhiều yếu tố đặc thù, lãnh vực hoạt động truyền thông của Giáo Hội còn những giới hạn nếu không muốn nói là quá chậm chân và nhiều vấn đề... Tuy nhiên cũng phải nhìn nhận rằng đã có rất nhiều cố gắng của các thành phần dân Chúa, để góp phần làm cho sứ điệp Tin Mừng của Đức Kitô được truyền thông đến với con người hôm nay. Nhân dịp Năm Thánh 2010 kỷ niệm 50 thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, chúng ta cùng nhìn lại đôi nét chính yếu về các họat động truyền thông Công Giáo của Giáo Hội Việt Nam trong dòng lích sử, để có một định hướng tốt đẹp hơn cho tương lai...

Ngược dòng thời gian trở về với thời kỳ Giáo Hội Việt Nam mới hình thành, ai trong chúng ta cũng đều cảm động tri ân khi biết sứ điệp Tin Mừng và những câu chuyện về Đức Giêsu đã được các vị thừa sai nước ngoài đem đến kể lại cho những người dân Việt đơn sơ chất phác, giúp hình thành nơi họ niềm tin vào Thiên Chúa. Năm 1533, nhà truyền giáo nước ngoài đầu tiên được đề cập trong lịch sử của Việt Nam là I-Nê-Khu, đến loan truyền Tin Mừng Đức Kitô tại Nam Định, miền Bắc Việt Nam. Từ năm 1550 đến 1615, các tu sĩ dòng Đa-minh và Phanxicô đặt chân đến những vùng đất khác nhau để khai mở các hoạt động truyền giáo. Đó là những họat động truyền thông công giáo đầu tiên trên quê hương. Ngày 18 tháng 01 năm 1615, ba linh mục Thừa sai Dòng Tên đầu tiên đến Cửa Hàn - Đà Nẵng, chính thức mở ra trang sử mới cho công cuộc loan báo Tin Mừng tại Việt Nam, trong đó có Alexandre de Rhodes (cha Đắc Lộ), là người đã góp phần làm nên bộ chữ quốc ngữ để chuyển tải đức tin vào nền văn hóa Việt Nam...[1]

Các vị thừa sai tiên khởi đã vượt qua bao rào cản về văn hóa, ngôn ngữ, tập quán... để gầy dựng niềm tin mạnh mẽ trên quê hương thân yêu. Đó là bước đầu của công cuộc truyền thông ánh sáng Tin Mừng tại Việt Nam với những "phương tiện truyền thông truyền thống" như kể chuyện, rao giảng, chia sẻ, thăm viếng... giúp chuyển tải những kinh nghiệm cuộc sống và nhất là những kinh nghiệm niềm tin. Đó cũng là một chặng đường phong phú thành quả, với bóng mờ không tránh khỏi của biết bao khó khăn, chông gai, gian khổ; nhưng cũng tuyệt đẹp với nhiều chứng tá can đảm hào hùng, mà bằng chứng tuyệt vời là các vị Tử đạo Việt Nam đã được Giáo Hội tôn phong lên bậc Hiển Thánh! Song hành với lịch sử dân tộc, các yếu tố của nền truyền thông công giáo rõ nét dần từ việc hình thành và phát triển những cách diễn đạt Tin Mừng phong phú qua ngôn ngữ, hình ảnh, âm nhạc, vũ điệu, lối sống và rất nhiều những hình thức độc đáo khác mang đậm nét văn hóa dân tộc Việt Nam.

Đối với Giáo Hội toàn cầu, Sắc lệnh Inter Mirifica (1963của Công Đồng Vatican II được xem là văn kiện tiên phong liên quan đến các hoạt động Truyền Thông, mở ra một cái nhìn mang tính đối thoại với nhân loại và ngỏ lời muốn dấn thân cộng tác với xã hội. Văn kiện này là nền tảng cho các văn kiện khác của Giáo Hội về Truyền Thông, khi mà các phương tiện truyền thông ngày càng trở nên một khả thể vạn năng như hiện nay. Sắc lệnh mời gọi: "Mọi con cái Giáo Hội phải đồng tâm hiệp lực, chẳng những không ngần ngại mà phải hết sức hăng say, sử dụng ngay những phương tiện Truyền thông xã hội một cách đắc lực vào các công việc Tông Đồ khác nhau tuỳ theo những đòi hỏi cụ thể của hoàn cảnh và thời gian..." (IM, 13). Giáo Hội cũng ý thức mình được thiết lập để tiếp tục việc truyền thông của Chúa Giêsu Kitô bằng lời nói, việc làm và cách sống. Thông điệp mà Giáo Hội đang nắm giữ cần đến được với con người hôm nay bằng mọi phương cách. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI khẳng định trong Tông Huấn Evangelii Nuntiandi (1975): "Giáo Hội sẽ có lỗi trước mặt Chúa nếu không tận dụng các phương tiện truyền thông mạnh mẽ hôm nay mà tài năng con người đang làm cho ngày càng hoàn hảo hơn. Nhờ các phương tiện này, Giáo Hội rao giảng thông điệp mà mình nắm giữ trên các mái nhà..."[2]

Dưới ánh sáng những hướng dẫn của Giáo Hội toàn cầu và Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu trong lãnh vực Truyền thông xã hội, Giáo Hội tại Việt Nam đã cổ võ những hoạt động khác nhau trong lãnh vực này, cho dù còn đó những hạn chế nhất định do hoàn cảnh xã hội. Nhìn lại quá trình hình thành, tầm quan trọng và những thành quả của Truyền thông công giáo tại Việt Nam, đặc biệt trong 50 năm qua, chúng ta có thể rút ra những kinh nghiệm quý giá, những ưu khuyết điểm từ các bài học lịch sử, để tìm ra những phương cách thích hợp cho hiện tại và hoạch định cách hữu hiệu trong tương lai. Nhờ đó, Giáo Hội có thể sử dụng các phương tiện truyền thông hiện đại cách hiệu quả để công bố sứ điệp cứu rỗi của Đức Giêsu Kitô trong bối cảnh đa văn hoá và đa tôn giáo, toàn cầu hoá và kinh tế thị trường tự do, khủng hoảng đạo đức và niềm tin hôm nay.

I. TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI TRONG ĐỜI SỐNG CỦA GIÁO HỘI

1. Định nghĩa Truyền Thông, Truyền Thông XH và Truyền Thông Công Giáo

Trong cách dùng thông thường, thuật ngữ Truyền thông chỉ về mọi phương tiện nối kết con người với nhau, đặc biệt qua việc truyền đi thông tin bằng các phương tiện đại chúng như phát thanh, truyền hình, sách báo, phim ảnh... Theo nghĩa triết học, truyền thông có nghĩa là tiến trình trao đổi tri thức giữa các cá thể hay tập thể, dẫn tới việc truyền đạt và trao đổi thông tin, kinh nghiệm, tình cảm, hàng hoá, và dịch vụ. Theo nghĩa rộng nhất, truyền thông bao gồm tất cả những gì đưa con người lại gần nhau hơn, ràng buộc và kết hợp họ với nhau bằng cách này hay cách khác.[3]

Thuật ngữ truyền thông có thể được hiểu một cách đơn giản là sự truyền đạt một thông điệp từ một người sang một người khác hay một nhóm khác bằng một số phương tiện nào đó. Nhưng tiến trình truyền thông có thể diễn ra ở các cấp độ khác nhau. Ở cấp độ cá nhân, tiến trình truyền thông nội tại diễn ra trong mỗi cá nhân nhờ suy niệm và suy tư, gồm suy nghĩ, đánh giá, lập chương trình và trải nghiệm đời sống. Ở cấp độ giao tiếp, truyền thông liên vị diễn ra giữa hai hay nhiều người hơn. Ở cấp độ rộng hơn của truyền thông nhóm và truyền thông đại chúng, thông điệp được hướng tới nhiều người; tuỳ theo các phương tiện, cấu trúc và tiến trình truyền thông.[4]

Truyền thông Xã hội là một lãnh vực nghiên cứu chủ yếu các cách thức mà thông tin có thể được truyền đi, nhận ra, hiểu biết, và tác động trên đời sống xã hội. Thuật ngữ Truyền thông Đại chúng (Mass Media) chỉ mọi phương tiện truyền thông hướng đến công chúng; trong tiếng Anh thuật ngữ này tương đương với communications (danh từ số nhiều), còn ở số ít,communication có nghĩa là truyền thông nói chung. Thuật ngữ Truyền thông Xã hội, ngoài nghĩa chung của nó, đã trở thành thuật ngữ được ưa thích trong các văn kiện của Giáo Hội Công Giáo Rôma để chỉ về Truyền thông (Media) hay Truyền thông Đại chúng (Mass Media). Tuy nhiên trên thực tế hai thuật ngữ này thường được dùng đồng nghĩa. Thuật ngữ này được Công Đồng Vatican II dùng lần đầu tiên trong Sắc lệnh Inter Mirifica, được ĐTC Phaolô VI công bố ngày 4 tháng 12 năm 1963.[5] Sắc lệnh giải thích "...giữa những phát minh này, trổi vượt hơn cả là những phương tiện tự bản tính không những có liên hệ và ảnh hưởng đến từng người, mà còn đến chính đại chúng và toàn thể xã hội nhân loại như báo chí, điện ảnh, phát thanh, vô tuyến truyền hình và những thứ khác tương tự. Do đó những phương tiện này đáng được gọi là những phương tiện truyền thông xã hội" (IM 1).

Truyền thông Công Giáo là một thuật ngữ được dùng nhiều trong bài viết này và trong một số bài viết của giới công giáo Việt Nam, chỉ nhằm nhấn mạnh khía cạnh "Công Giáo" của các hoạt động việc truyền thông trong đời sống Giáo Hội. Mục đích của Truyền thông Công Giáolà truyền đạt đức tin và các giá trị Tin Mừng, và đó chính là truyền thông Đức Kitô cho thế giới nhờ các hình thức truyền thông do người Công Giáo thực hiện, bắt đầu bằng chứng tá đời sống của họ. Như thế truyền thông Công Giáo có thể là các hoạt động truyền thông do các thành phần trong Giáo Hội đứng ra tổ chức hoặc điều hành, cũng có thể là sự cộng tác của giới công giáo trong các chương trình truyền thông hữu ích, hoặc là sự dấn thân đơn lẻ của người Kitô hữu trong các hoạt động truyền thông ngoài xã hội... Nói cách khác, Truyền thông Công Giáo nhắm đến việc sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội trong tầm tay cho việc rao giảng Tin Mừng và phổ biến các giá trị của nền văn hóa Kitô giáo, làm cho sứ điệp Tin Mừng phù hợp với não trạng và tình cảm của con người hôm nay.

2. Quan điểm của Giáo Hội toàn cầu về truyền thông

Do tầm quan trọng của các hoạt động truyền thông trong việc loan báo Tin Mừng và những ảnh hưởng mạnh mẽ của các sứ điệp truyền thông trong đời sống con người, Giáo Hội quan tâm rất nhiều đến việc tiếp cận với lãnh vực quan trọng này. Các tài liệu về truyền thông của Giáo Hội được ban hành nhằm giúp người tín hữu có một sự hiểu biết đúng đắn và rộng mở, nhờ đó họ có thể sử dụng tốt các phương tiện và kỹ thuật truyền thông. Các giáo huấn khác nhau ở nhiều cấp cũng giúp hướng dẫn, đào luyện lương tâm và khả năng biện biệt của người tín hữu trước những nguy cơ của các loại truyền thông sai lệch và độc hại.

Ngay từ trước Công Đồng Vatican II, các Đức Giáo Hoàng đã đưa ra những hướng dẫn cho Giáo Hội toàn cầu liên quan đến các phương tiện truyền thông. Từ năm 1936, Đức Thánh Cha Piô XI đã ban hành Thông Điệp Vigilanti Cura về phim ảnh. Đến năm 1957, Đức Thánh Cha Piô XII đã ban hành Tông Thư Miranda Prorsus về phim ảnh, truyền hình và truyền thanh trong thế kỷ 20. Tông thư nêu bật vai trò song đôi của truyền thông, vì truyền thông chia sẻ vào quyền năng sáng tạo và tiến trình tự mặc khải (self-communication) của Thiên Chúa. Bản tính tự nhiên của những vai trò này là "quà tặng từ Thiên Chúa" và là "sự chia sẻ trong cách diễn đạt về Thiên Chúa", nhờ đó giúp chúng ta hiểu rõ ràng hơn về cách thức sử dụng chúng.

Trong Công Đồng Vatican II, các Nghị phụ đã bàn thảo và đưa ra rất nhiều ý kiến cho hoạt động truyền thông của Giáo Hội và việc tham gia của người tín hữu. Đây là lãnh vực gây nhiều bất đồng ý kiến nhất trong suốt Công Đồng. Cuối cùng vào năm 1963, Công Đồng quyết định ban hành Sắc Lệnh Inter Mirifica (IM - Giữa Những Điều Kỳ Diệu) về Truyền Thông Xã Hội, với những hướng dẫn căn bản cho những ai sử dụng phương tiện truyền thông, đồng thời đề nghị nhiều phương pháp cụ thể nhằm bảo đảm rằng Giáo Hội không được chậm trễ đưa các phương tiện truyền thông vào những hình thức phục vụ đa dạng phù hợp cho việc mục vụ tông đồ.

 Sau Công Đồng, với đòi hỏi của sắc lệnh Inter Mirifica, Huấn Thị Mục Vụ đầu tiên ra đời năm 1971, có tên là Communio et Progressio (Hiệp Thông và Tiến Bộ), nêu lên những nhận định xác đáng về những đóng góp của truyền thông trong thế giới, từ đó hướng dẫn cụ thể cho việc gây ý thức, định hướng và lên kế hoạch mục vụ để có thể dấn thân hữu hiệu vào lãnh vực truyền thông. Đối diện với sự phát triển quá nhanh của nền kỹ thuật hiện nay, năm 1992, Hội Đồng Toà Thánh về Truyền Thông Xã Hội đưa ra Huấn Thị Mục Vụ thứ hai, Aetatis Novae, nhận định về sự thay đổi bản chất của truyền thông và việc sử dụng gia tăng quá nhanh các phương tiện truyền thông, trong đó có Internet.

Ngoài những văn kiện chính nêu trên, còn có các Tài liệu khác của Hội Đồng Giáo Hoàng về Truyền Thông Xã Hội như Hướng dẫn Huấn luyện các Linh Mục tương lai liên quan đến các phương tiện truyền thông xã hội (1986), hai Tài liệu Phim Khiêu dâm và Bạo lựctrong các phương tiện truyền thông  Các tiêu chuẩn về hợp tác Đại Kết và Liên Tôn trong Truyền thông (1989)Văn kiện Về 100 Năm Phim Ảnh (1995), Văn kiện Đạo đức trong Quảng cáo (1997) Văn kiện Đạo Đức trong Truyền Thông (2000), hai tài liệuGiáo Hội và Internet và Đạo Đức trong Internet (2002). Hội Đồng Toà Thánh về Truyền Thông Xã Hội khi đưa ra hai tài liệu này đã đặc biệt ám chỉ rằng đặc tính hỗ tương của Internet có thể giúp Giáo Hội đạt được viễn ảnh mà Công đồng Vatican II nhắm tới về sự thông hiệp giữa các thành viên trong Giáo Hội. Tông thư Sự Phát Triển Nhanh Chóng do Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II ban hành ngày 24-1-2005 nhấn mạnh rằng truyền thông đại chúng cần được đặt trong khuôn khổ những quyền hạn và nghĩa vụ, dù theo quan điểm trách nhiệm đào tạo và luân lý, hay bởi ràng buộc về luật pháp.

Ngày Thế Giới Truyền Thông cũng đã được Công Đồng Vatican II thiết lập, từ đó hàng năm các ĐGH đều gởi Sứ điệp cho Ngày Thế Giới Truyền Thông đến toàn thế giới với một chủ đề đặc biệt cho mỗi năm. Đây là những giáo huấn rất phong phú và hợp thời cho toàn Giáo Hội, đặc biệt trong khía cạnh mục vụ truyền thông. Các Sứ điệp cho Ngày Thế Giới Truyền Thông là nguồn tài liệu quý giá với những định hướng cụ thể cho từng giai đoạn lịch sử, mời gọi Giáo Hội tại mỗi địa phương - đặc biệt là các Ủy Ban về Truyền Thông Xã hội của các Hội Đồng Giám Mục và các cơ quan Truyền thông Công Giáo - nỗ lực truyền đạt cách rộng rãi và áp dụng trong từng hoàn cảnh cụ thể.

3. Quan điểm của Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu

Á Châu là chiếc nôi của các truyền thống tôn giáo và những nền văn hóa văn minh rất lâu đời. Tuy nhiên những ảnh hưởng của toàn cầu hoá đang đe doạ các giá trị văn hóa truyền thống. Có nhiều dạng văn hoá mới mang tính áp đặt đang xuất hiện do truyền thông, sách vở, báo chí, âm nhạc, phim ảnh, và các loại giải trí khác. Mặc dù truyền thông có tiềm năng trở thành sức mạnh lớn lao và lâu dài, nhưng chủ nghĩa tiêu thụ, chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa duy vật chất đang đánh vào trọng tâm các nền văn hoá Á Châu, vào đạo đức cá nhân, gia đình và toàn xã hội. Nhiều giá trị truyền thống khác đang bị đe dọa nặng nề bởi truyền thông và kỹ nghệ giải trí trên lục địa Châu Á. Một hiện trạng như vậy đang đưa ra những thách thức nghiêm trọng cho sứ điệp Tin Mừng của Giáo Hội.

Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu (FABC) là một tổ chức được thành lập từ năm 1970, nhằm liên kết Hội Đồng Giám Mục của các quốc gia tại Á châu trong tình hiệp thông, để chia sẻ với nhau những suy tư và nỗ lực trong công cuộc loan báo Tin Mừng cho các dân tộc tại Á châu. Đây là một Hiệp hội được thành lập với sự chuẩn nhận của Tòa Thánh, và Việt Nam là một trong các thành viên sáng lập của FABC. Để thực hiện mục đích của mình, FABC có nhiều Văn Phòng đặc trách các lãnh vực khác nhau trong các sinh hoạt mục vụ đa dạng của Giáo Hội. Hoạt động của các Văn phòng này giúp đẩy mạnh việc trao đổi thông tin và hợp tác giữa các Giáo Hội địa phương và các Giám Mục ở Á Châu, nghiên cứu các vấn đề về lợi ích chung cho Giáo Hội ở Á Châu, và xem xét các khả năng giải quyết và hợp tác. Trong số đó, Văn phòng Đặc Trách Truyền Thông Xã hội (FABC - OSC) đặt tại Manila, Philippines, chuyên nghiên cứu và phổ biến các tài liệu về truyền thông công giáo cho toàn vùng, tổ chức và điều phối các Hội nghị và các hoạt động truyền thông công giáo cấp miền và Châu lục.

Các hướng dẫn Mục vụ về truyền thông của Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu chỉ ra rằng sự thống nhất giữa tính đa dạng của các nền văn hóa khác nhau, các truyền thống và ngôn ngữ khác nhau đã trở thành một dấu chỉ mang tính ngôn sứ làm chứng tá cho sự hiện diện của Nước Chúa. Bên cạnh các cơ sở về giáo dục, y tế, xã hội, các Giáo Hội Á Châu có rất nhiều trung tâm truyền thông như truyền thanh, truyền hình, phát hành sách, luận báo, báo chí, tuần báo và tạp chí phổ thông... Như thế FABC đã nỗ lực khích lệ các hoạt động về Truyền thông Công giáo tại Á Châu, và tạo nhịp cầu cho những liên lạc thường xuyên; thông tin, chia sẻ và đổi mới, không chỉ giữa các Giám mục Á Châu, mà còn giữa các Giáo Hội và các quốc gia trong vùng (x. FABC Papers 69: 30).

Vào năm 1998, Thượng Hội Đồng Giám Mục đặc biệt dành cho Á Châu qui tụ về Roma 252 nghị phụ. Đây là biến cố nền tảng xây dựng các giáo hội địa phương tại Á Châu trong thời điểm toàn Giáo Hội chuẩn bị bước vào một thiên niên kỷ mới. Nhiều vấn đề khác được thảo luận và đề nghị để trình lên; và được đưa vào trong Tông Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Giám Mục Á Châu Ecclesia In Asia (Giáo Hội tại Á Châu), do Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II ban hành tại New Delhi (Ấn Độ) vào ngày 6 tháng 11 năm 1999, đưa ra chương trình cho Giáo Hội Á Châu đón mừng ngàn năm thứ ba Kitô giáo, tập trung vào những thách đố của công cuộc Phúc Âm hoá mới. Vì thế, Giáo Hội Việt Nam cần khám phá những cách thế hội nhập truyền thông đại chúng vào kế hoạch và hoạt động mục vụ của mình, để nhờ hiệu năng của chúng, quyền năng của Tin Mừng có thể tác động tới từng cá nhân và toàn dân tộc, từ đó những giá trị Nước Trời có thể thấm nhập vào nền văn hoá của chính mình.

4. Quan điểm của Giáo Hội Việt Nam

Giới Công Giáo tại Việt Nam tiếp cận khá nhanh với những phương tiện kỹ thuật mới mẻ trong lãnh vực truyền thông. Ngay khi vừa có những phát minh mới về truyền thanh, truyền hình, phim ảnh hoặc Internet trên thế giới, thì tại Việt Nam các ứng dụng của các phương tiện truyền thông này đã được tiếp cận và sử dụng, nhờ đó rất sớm hình thành các hoạt động hữu hiệu và đem lại nhiều kết quả tốt đẹp. Nhìn lại tiến trình 50 năm qua, các hoạt động truyền thông công giáo tại Việt Nam còn nhiều hạn chế nhưng đã có một bước tiến khá rõ nét.

Ngày 24 tháng 11 năm 1960, Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII thiết lập hàng giáo phẩm Công Giáo tại Việt Nam, chia thành ba tổng giáo phận là Hà Nội, Huế và Sàigòn, với 17 giáo phận trên cả nước. Từ đó Giáo Hội Việt Nam đã có những bước phát triển nhanh chóng và nề nếp sống đạo tốt đẹp. Riêng về mặt truyền thông có nhiều Nhà In và Toà soạn nổi tiếng, có Đài Truyền hình Công giáo, các Đài Truyền Thanh, các loại phim ảnh và ấn phẩm Công giáo được phổ biến rộng rãi. Tuy nhiên sau năm 1975, Việt Nam trở thành một đất nước xã hội chủ nghĩa, Giáo Hội Việt Nam bước vào giai đoạn âm thầm chuyển mình, các hoạt động truyền thông xã hội có nhiều giới hạn. Năm 1980, Hội Đồng Giám Mục Công Giáo toàn quốc (HĐGMVN) lần đầu tiên được triệu tập tại Hà Nội với sự hiện diện của 33 Giám Mục. Thư chung của HĐGMVN trong thời kỳ mới của đất nước đã công khai nêu rõ các đường hướng mục vụ cụ thể của mình: "Sống và rao giảng Tin Mừng trong lòng dân tộc; tích cực góp phần bảo vệ và xây dựng đất nước và xây dựng Giáo Hội, bằng một cách sống và diễn tả đức tin hợp với truyền thống dân tộc."[6] Đây là một đáp ứng mang tính tiên tri cho những nhu cầu của thời đại, là hướng dẫn xuyên suốt cho mọi tín hữu nhằm đáp ứng nhiều thách đố trong tiến trình hội nhập vào xã hội.

Trong thư Mục Vụ năm 1980, HĐGMVN cũng đã phác thảo một đường lối rõ ràng để người Công Giáo thể hiện sứ mạng truyền giáo trong giai đoạn khó khăn: "Chúng ta phải làm hết sức mình để sống đời sống Tin Mừng, yêu thương và trung thành với Giáo Hội, trước hết bằng chính đời sống chúng ta."[7] Giáo Hội tại Việt Nam nhận thức được vai trò quan trọng của giáo dân trong sứ mạng rao giảng Tin Mừng. Mọi người Công Giáo được mời gọi chia sẻ Tin Mừng với những người khác bằng những cách thức khác nhau. Mãi cho đến thập niên 90, khi đất nước Việt Nam bắt đầu thời kỳ mở cửa và đổi mới, người Kitô hữu mới có thể tham gia dần dần vào một số lĩnh vực truyền thông như xuất bản sách báo, làm phim, truy cập các nguồn thông tin từ mạng Internet hoặc lập các websites với sự cho phép của chính quyền.

Ngày nay, khi tình hình xã hội cởi mở hơn, Giáo Hội tại Việt Nam không ngừng chứng tỏ sức sống của mình trong việc phục vụ và làm chứng cho niềm tin qua những dấn thân của mình trong mọi lãnh vực. Đến những năm Việt Nam chuyển đổi từ kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường, có biết bao nguy cơ do đất nước mở cửa cho đầu tư nước ngoài, phát triển và du lịch. Làm thế nào để truyền thông các giá trị Tin Mừng, kêu gọi người tín hữu nỗ lực sống chứng tá niềm tin trong một xã hội đầy biến động này? Thư Mục Vụ của HĐGMVN năm 2001 là một lời khuyến cáo và nhắc nhở người Công Giáo về sự nguy hiểm của chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa tiêu thụ: "Trong bối cảnh kinh tế thị trường, tiền bạc, địa vị và danh vọng có khuynh hướng trở thành mục tiêu của đời sống với nguy cơ phá vỡ cả những mối quan hệ thánh thiêng nhất; canh tân thực sự mời gọi chúng ta làm chứng cho sự hiệp thông và hiệp nhất mà Chúa Giêsu đã đem đến nhờ cái chết và sự phục sinh của Người."[8] Hàng Giáo phẩm Việt Nam đã hiệp nhất trong quan điểm sống Tin Mừng và truyền thông cho người tín hữu những hướng dẫn cụ thể cho việc sống đạo.

Từ tình hình lịch sử và kinh nghiệm, Giáo Hội tại Việt Nam hiểu sâu hơn về ý nghĩa của sứ mạng truyền giáo theo bối cảnh riêng của mình. Sự hiểu biết này đang được canh tân và gia tăng thêm sinh lực mới, phù hợp với những định hướng của Giáo Hội Á Châu và Giáo Hội toàn cầu. Điều hạn chế xét về phương diện hội nhập, là Việt Nam tuy thuộc về lục địa Á Châu, nhưng vì nhiều lý do khác nhau làm cho đời sống Giáo Hội Việt Nam vẫn mang nặng tính "Tây phương", và suốt một thời gian dài ít giao lưu với các Giáo Hội địa phương khác tại Châu Á. Tuy nhiên hiện nay việc hội nhập trên mọi bình diện của Việt Nam với khu vực Đông Nam Á và toàn vùng Á Châu đang được cải thiện ngày càng tốt hơn. Thời gian gần đây, Giáo Hội Việt Nam đã có sự tham gia đều đặn hơn trong các cuộc họp của vùng và có nhiều đóng góp năng động được đánh giá cao. Nhờ đó Giáo Hội Việt Nam có thể nắm bắt và hướng dẫn người tín hữu đi vào các đường hướng chung của Giáo Hội Á Châu và Giáo Hội toàn cầu.

II. CÁC HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG CÔNG GIÁO TẠI VIỆT NAM

1. Các phương tiện Truyền thông truyền thống

Tại Việt Nam từ thời các vị Thừa sai đến loan báo Tin Mừng, đã có rất nhiều hình thức diễn tả niềm tin và lòng đạo đức bình dân sinh động, phong phú. Có thể kể đến các hình thức truyền thông truyền khẩu như ca vè, vãn nguyện, tuồng kịch... Trong cuộc Hội Thảo về Kinh nghiệm Hội nhập Văn hóa trong nếp sống Kitô giáo tại Việt Nam năm 2003, thi sĩ Đình Bảng trong bài thuyết trình Từ Ngắm Nguyện, Vãn Nguyện đến Ca Vè gọi đó là "kho tàng ngôn ngữ nhà đạo" trong "con đường tơ lụa văn hoá - đức tin" để sống "tâm tình văn hóa lễ hội" của người dân Việt.[9] Đó là những cách vận dụng đầy sáng tạo và thích nghi, để từ những trang kinh sách đạo niềm tin bước vào mọi ngõ ngách của đời sống, để người tín hữu mở toang cách cửa nhà đạo mà đi ra với xóm thôn, phố chợ. Tùy từng vùng miền, ngôn ngữ của kinh sách được xướng đọc hoặc ngâm ngợi bằng nhiều cung giọng khác nhau, sinh sôi nảy nở trên mảnh đất quê hương thân yêu và hóa thân thành những vần thơ, truyện tích, những bài hát, tuồng chèo, cải lương, diễn nguyện...

Hình thức truyền thông Tin Mừng này đi vào ngôn ngữ cửa miệng, tỏa lan vào đời thường, khiến người ta có sẵn một hạng mục ngôn từ phong phú để diễn đạt ở bất cứ nơi đâu, lúc nào, việc gì... Từ câu "Đức Bà chữa" cho một cái hắt hơi, "Giêsu Maria" hay "Lạy Chúa tôi" cho một phản xạ tự nhiên, từ câu thề bồi "nói dối phải tội", "có Chúa làm chứng", lối ví von "yếu tin như Tôma", "hiền như ma-sơ", cho đến lối gọi "ông cố", "bà trùm"... Những cách nói đó phổ biến rộng rãi giúp cho người ta cảm nhận Chúa ở khắp mọi nơi! Tin Mừng cũng được vần điệu hóa, thi ca hóa và khi lên đến cao trào đã trở thành một kịch bản sân khấu có chương hồi, xen cảnh, có diễn xuất ca ngâm theo các cung điệu nhạc Việt Nam cổ truyền. Những thứ văn chương sống động thường trực đó, dù chỉ là bình dân và truyền khẩu, nhưng đã diễn tả tình ý một cách đại đồng và nhanh chóng đi sâu vào lòng người.[11]

Trong từng giai đoạn lịch sử, đời sống đạo của người giáo dân Việt Nam còn được nâng đỡ bởi các hình thức cử hành phụng vụ và các việc sùng kính khác nhau để thông truyền niềm tin. Lòng đạo bình dân đặc biệt ấy bộc lộ một sự đói khát Thiên Chúa mà chỉ những người nghèo hèn mới cảm nhận được. Chính lòng đạo đức bình dân giúp họ có tâm hồn quảng đại và dám hy sinh tới mức anh hùng để làm chứng cho đức tin, đồng thời bày tỏ những thuộc tính ưu việt của Thiên Chúa: tình Cha, sự quan phòng, sự hiện diện yêu thương của Người (x. EN 48). Giáo Hội tại Việt Nam cũng khuyến khích việc đọc kinh trong gia đình, chia sẻ và học hỏi Kinh Thánh, sinh hoạt hội đoàn, các cuộc tĩnh tâm (cá nhân hay theo nhóm)... Các đền thờ và trung tâm hành hương ngày càng thu hút nhiều người, đặc biệt vào các dịp lễ. Đây là những nơi qui tụ và là phương tiện tốt đẹp để người Công giáo Việt Nam biểu dương và truyền thông đức tin cho nhau, cũng như cho những người chưa biết Chúa. Các Kitô hữu sốt sắng thường đến viếng các nơi có di tích của các Thánh Tử Đạo Việt Nam, các đền Đức Mẹ như Lavang, Trà Kiệu... và đền các Thánh. Nhiều người cho biết đã nhận được các phép lạ, kể cả những người ngoài công giáo.

Hội Nghị Giám Mục về truyền thông của FABC-OSC năm 2006 nói về vấn đề này như sau: "Không nên bỏ qua các phương tiện truyền thống như nghệ thuật dân gian, văn nghệ, ca múa, âm nhạc và kịch tuồng, nhưng phải coi chúng là những phương tiện truyền thông xã hội thay thế và phải phát triển chúng" (x. FAPA IV, 233). Việc truyền giáo hôm nay cũng được xem như là kể câu chuyện về Chúa Giêsu đang diễn ra tại Châu Á. Các giáo lý viên được khuyến khích sử dụng các câu chuyện xảy ra trong đời sống hằng ngày để liên kết với sứ điệp Tin Mừng và giúp cho sứ điệp này trở nên dễ hiểu. Hội Nghị Giám Mục Á Châu về truyền giáo năm 2007 còn nêu thêm: "Cần có những sáng kiến trong việc làm nổi bật những gương thành công điển hình của những con người bình thường nhưng làm những việc phi thường trong và ngoài Giáo Hội" (FAPA III, 159).

Như thế các phương cách truyền thông mang tính truyền thống của Giáo Hội Việt Nam như chuyện kể, ca vè, vãn nguyện, tuồng kịch, những vần thơ, bài hát, diễn nguyện, các hình thức cử hành phụng vụ và các biểu hiện khác nhau của lòng đạo đức bình dân ngày hôm nay vẫn còn giữ nguyên giá trị. Đó là những phương tiện dân gian truyền khẩu, đơn sơ giản dị, vừa tầm tay với mọi người, có khả năng chuyển tải cách nhẹ nhàng các nội dung đức tin vào cuộc sống. Chính nhờ những phương tiện và thể loại đó mà sứ điệp tình thương của Thiên Chúa không ngừng được truyền thông trên quê hương và được tiếp nhận trong lòng dân chúng, giữa biết bao gian nan thử thách của các thời kỳ khác nhau trong lịch sử. Đức tin của người tín hữu Việt Nam dựa nhiều trên những gì họ cảm nhận được hơn là những gì họ biết. Giáo Hội cần cổ võ và khích lệ các cách thức sáng tạo của người giáo dân trong việc tôn vinh Thiên Chúa, kiện cường đức tin, nuôi dưỡng tinh thần hoà hợp và niềm vui trong đời sống đạo giữa thế giới hôm nay.

2. Các loại Tài Liệu và Sách Báo Công Giáo

Tại Việt Nam từ thời còn các vị Thừa sai đến loan báo Tin Mừng, nhờ có hệ thống chữ quốc ngữ nên nội dung đức tin được lưu truyền dễ dàng qua các ấn phẩm trong nền Văn hóa Công giáo. Quyển "Phép giảng Tám ngày" trở nên Cẩm nang Giáo lý nhập đạo; và sau đó nhiều tập kinh sách, tài liệu đạo khác nhau ra đời. Trên cả nước đều có những cơ sở in ấn để truyền bá các loại tài liệu, sách báo đạo. Điều này rất ích lợi cho đời sống niềm tin của người giáo dân, vì thời đó toàn thể phụng vụ của Giáo Hội vẫn sử dụng tiếng Latinh và các loại sách Kinh thánh không được phổ biến rộng rãi. Có thể nói báo chí Công Giáo ngoài việc thông tin như báo chí nói chung, lại xuất phát từ một động cơ thuần túy tôn giáo và phải đóng một vai trò rõ rệt làtruyền giáo, là truyền bá đức tin, là rao giảng Phúc âm, là loan báo Tin Mừng Cứu Độđến tận cùng trái đất.[12] Sau thế chiến thứ hai, đất nước chia đôi hai miền Nam-Bắc, nhưng Giáo hội Công giáo Việt Nam không hề phân cắt. Sau khi Đức Gioan XXIII thiết lập hàng Giáo Phẩm Công giáo Việt Nam đánh dấu bước trưởng thành của Giáo hội, Giáo hội toàn cầu cũng chuyển biến với Công đồng Vatican 2 (1962-1965). Giữa bao biến cố đó, báo chí tha hồ tung hoành. Riêng với báo chí Công giáo miền nam Việt Nam, đây là chặng đường tập hợp đông đảo nhất, chuyên nghiệp nhất, đa dạng nhất, mà cũng sôi nổi, phức tạp, đáng suy nghĩ nhất. Người giáo dân đang từng bước trưởng thành, dám nói lên tiếng nói riêng mình. Giáo hội cũng can đảm nhập cuộc với những dông bão cuộc đời, ngước cao đầu nói lên tiếng nói người Kitô hữu; và đôi khi cũng chới với giữa những vòng xoáy chính trị đảo điên.[13]

Trước 1975 Giáo Hội Việt Nam đã có nhiều nhà in Công giáo nổi tiếng trên cả nước, ở miền Nam có một vài cơ sở in lớn của Công giáo như Nguyễn Bá Tòng Ấn loát công ty, nhà in Tân Định, hoặc do người Công giáo quản lý nhà in như Kim Châu, sau đó được Nhà nước tiếp quản và một số nhà sách tự đứng ra in ấn và phát hành các sách báo Công giáo như nhà sách Đa Minh, Thánh Gia... ở Tp. Hồ Chí Minh.[14] Bảng Mục lục Báo chí Công giáo Việt Namđăng trên tờ tuần báo Công giáo và Dân tộc số 862, phát hành nhân kỷ niệm Ngày Báo chí Việt nam, ghi nhận được trên dưới 60 tờ báo Công giáo.[15] Nhưng sau 1975 báo chí Công giáo như dừng lại, chỉ còn vài tờ báo Công giáo được phép xuất bản chính thức với số lượng xuất bản khá khiêm tốn. Miền Bắc có tuần báo Người Công giáo Việt Nam với số lượng in khoảng 2.500 bản. Miền Nam có tuần báo Công giáo và Dân tộc với số lượng phát hành từ 13.000-15.000 bản và Nguyệt san Công giáo và Dân tộc với số lượng phát hành 3.500 bản. Cả hai tờ báo này do Ủy ban Đoàn kết Công giáo chịu trách nhiệm. Hội đồng Giám mục Việt Nam cũng có một bản tin chính thức với giấy phép của Cục Báo chí, gọi tên là Bản tin Hiệp Thông, phát hành hai tháng một kỳ với số lượng in 3.000 bản.[16] Riêng các đầu sách Công giáo được phép chính thức xuất bản cũng rất hiếm hoi. Hầu hết các loại sách đạo chỉ được in chui và phát hành nội bộ để khỏi gặp rắc rối. Kể từ khi thành lập Nhà Xuất bản Tôn giáo thuộc Ban Tôn giáo Chính phủ, ngày 29-4-1999, các sách kinh, tác phẩm, giáo trình giảng dạy, văn hoá phẩm thuần tuý tôn giáo của các tổ chức tôn giáo đều qua con đường này để đến với độc giả, tín hữu. Thế nhưng từ năm 1999-2003, Nhà Xuất bản này đã xuất bản tất cả 714 ấn phẩm, 205 văn hoá phẩm với 4, 2 triệu bản in trong đó, Công giáo chỉ có 140 đầu sách xuất bản chính thức.[17] Gần đây việc in ấn và phát hành sách báo đã có nhiều thuận lợi hơn trước.

Ngày nay, khi sự lớn mạnh của "dải thiên hà đa phương tiện" đang bao trùm, sách báo phần nào đang mất dần đi chỗ đứng. Nhiều người còn tiên đoán sự tuyệt chủng của báo in hay ngày tận số của một nền "văn hóa đọc" đang đến. Một yêu cầu cấp bách là cần phải tái tạo báo chí, đổi mới chức năng phê phán của nó, sứ mệnh của nó và các công cụ của nó. Điều đó đòi hỏi một cách nhìn nhận mới mẻ đối với cuộc cách mạng mới về các phương tiện truyền bá tri thức. Chúng ta thấy rằng những biến đổi kỹ thuật và xã hội lớn trong quá khứ đều gắn chặt với những thay đổi triệt để ảnh hưởng đến việc thu nạp, gìn giữ và nhất là lưu thông tri thức. Việc sáng chế ra chữ viết đã dẫn đến những biến đổi lịch sử. Kỹ thuật in đã sản sinh ra không biết bao nhiêu phát triển kỳ diệu và đã dẫn đến cuộc cách mạng công nghiệp. Thế nhưng cuộc cách mạng về nhận thức do kỹ thuật truyền số sinh ra hiện nay sẽ đưa chúng ta đến những bến bờ nào đây? Lâu dài, nó sẽ đem lại những thay đổi văn hoá nào? Đó là những điều mà nhà báo Federico Mayo đã ưu tư đặt ra.[18]

Tuy nhiên, ai cũng phải nhìn nhận rằng cho dù có nhiều hình thức truyền thông khác nhau, nhưng các ấn phẩm Công Giáo vẫn giữ được giá trị của chúng. Giáo Hội cần mở thêm các nhà sách và thư viện Công Giáo ở mọi cấp độ, và đưa các thông tin viết lên mạng để giúp người Công Giáo, đặc biệt là giới trẻ, có thể dễ dàng tiếp cận các thông tin hiểu biết về Thiên Chúa, về các giá trị Tin Mừng, về các giáo huấn của Giáo Hội, về đời sống đạo... hầu giúp họ kiện cường đức tin và có khả năng đối diện với các vấn đề của thế giới hiện đại.