Các gia đình Công Giáo được dạy dỗ phải yêu thương nhau nên tình trạng đạo đức ở các thành viên tương đối tốt. Không có tình trạng con cái ngược đãi cha mẹ hay cha mẹ ruồng bỏ con cái. Nếu có xích mích, bất hòa thì cả cộng đồng sẽ đến khuyên bảo và tìm cách giúp đỡ vì mọi người coi đó là nhiệm vụ của mình. Các chức sắc khi thấy trong cộng đồng có nguy cơ tôi phạm cũng lập tức cảnh báo, ngăn chặn như việc uống rượu ở Tây Nguyên hay nạn nghiện ma túy ngày nay. Hồng Y Phạm Đình Tụng, trong Thư chung ngày 22-10-1996 đã mời gọi:

“ Tôi khẩn thiết kêu gọi mọi người hãy chung tay, góp sức chặn đứng và tẩy sạch tệ nạn này ra khỏi gia đình và làng xóm chúng ta. Tôi đề nghị các Cha rao giảng về tác hại của tệ nạn này để mọi người hiểu rõ. Mỗi xứ họ cần có kế hoạch điều tra và phát hiện kịp thời số người nghiện hút. Các bậc cha mẹ phải thường xuyên theo dõi con em, không để chúng đi lại những nơi có nguy cơ bị lôi cuốn hay giao tiếp với những con nghiện.

Đối với những người đã trót nghiện, chúng ta hãy lấy tinh thần bác ái khuyên bảo và làm mọi cách giúp đỡ họ cai nghiện càng sớm càng tốt, nếu không bệnh của họ sẽ lây sang người khác một cách nhanh chóng như vết dầu loang”.

Tuy nhiên, giáo lý Công Giáo cũng ràng buộc người tín hữu không được dùng các biện pháp tránh thai nhân tạo. Thông điệp Humanae Vitae (Sự sống con người):

“Cần phải loại trừ tất cả mọi hành động nhằm mục đích hoặc dùng như phương tiện để làm cho không thể sinh sản được như hành động trước khi giao hợp, hoặc đang lúc giao hợp hoặc trong lúc kết quả tự nhiên của việc giao hợp đang tiến triển. Cần phải loại từ việc trực tiếp vô hiệu hóa khả năng sinh sản nơi người nam hay người nữ, bất cứ tạm thời hay vĩnh viễn” (số 14).

Giáo Hội chỉ chấp nhận phương pháp tránh thai tự nhiên theo Ogino-Knauss hay Billings. Nhưng đây là phương pháp cũng không đơn giản, đòi hỏi một quyết tâm rất cao vì vậy nhiều đứa bé vẫn được sinh ra và được gọi là “con của Ogino” và cũng là vấn nạn thường xuyên được gửi đến các tờ báo Công Giáo hay các linh mục và ở các vùng giáo, đây là vấn đề nan giải cho chính quyền khi thực hiện kế hoạch hóa gia đình. Chính quyền đã dùng đủ mọi cách như phạt hành chính, không cấp giấy khai sinh, cắt chỉ tiêu thi đua nhưng đối với người Công Giáo, luật đạo quan trọng hơn luật đời.

Cũng có người Công Giáo nhất là công chức liều mạng phá thai, điều hòa kinh nguyệt. Thế là họ bị vạ giết người. Mà tội thì có thể tha chứ vạ rất khó tha và không phải giáo sĩ nào cũng được quyền tha vạ khiến họ và gia đình (những người biết sự vụ này mà không can ngăn hay đồng thuận) phải đau khổ suốt đời vì không còn được hiệp thông với Giáo Hội nữa.

Theo nguyên tắc, hôn nhân Công Giáo không cho ly dị, nhưng nếu có tình trạng vợ chồng không thể sống chung được với nhau thì Giáo Hội cho ly thân, nhưng không được phép kết hôn nếu người phối ngẫu với mình vẫn còn sống.Những vợ chồng đã ly dị có thể nộp đơn xin tòa án Giáo Hội tiêu hôn nếu có lý do chính đáng. Có người ly than, chẳng giữ được độc thân, họ đi bước nữa và lập tức bị kết án và không được sống trong ấn sủng của Giáo Hội. 

Để giảm thiểu những nỗi đau này, Giáo hoàng Phanxicô mới đây đã cho phép mọi linh mục trong năm Thánh Lòng Thương xót Chúa 2016 đều được quyền tha vạ phá thai và cũng đang xem xét đơn gỉan thủ tục tuyên bố tiêu hôn và thông thoáng hơn đối với người ly dị, tái hôn. Trong Tự sắc Misis Judex Duminus Jesus (Chúa Giêsu thẩm phán nhân từ) mới công bố đầu tháng 8-2015 viết:

“Vì vai trò làm mẹ, Giáo Hội cần thấy có bổn phận, vì sự thiện phải thể hiện sự biện phân thận trọng. Giáo Hội biết rõ tình huống người ly dị tái hôn đi ngước lại Bí tích Hôn phối của Kitô giáo. Tuy nhiên, cái nhìn của Giáo Hội nên xuất phát từ trái tim người mẹ, là trái tim, nhờ được Chúa Thánh thần sinh động hóa, luôn tìm kiếm điều cứu rỗi người ta…Thật vậy, những người này không hề bị vạ tuyệt thông và tuyệt đối họ không bị đối xử như thế: họ vẫn là thành phần của Giáo Hội” (7).

2.2- Ảnh hưởng của giáo lý Công Giáo với hôn nhân , gia đình ra ngoài xã hội

Bị chi phối bởi giáo lý Công Giáo nên nhiều tín hữu có lối sống khiến người ngoại đạo cảm phục. Bác sĩ Trần Hữu Ngoạn- Giám đốc trại phong Quy Hòa, người đã trực tiếp tiêm trực khuẩn Hansen vào người để chứng minh rằng, bệnh phong cùi không lây trực tiếp khi tiếp xúc, giúp xóa đi mặc cảm của cả người bệnh và cộng đồng lúc gặp gỡ với nhau. Ông được đề nghị làm hồ sơ để được phong anh hùng lao động và nhận giải Ghandi với số tiền khá lớn nhưng ông từ chối vì cho rằng, mình là Giám đốc, lại là đảng viên nên phục vụ là trách nhiệm, trong khi đó các nữ tu dòng Phaolô ở trại không lương mà họ còn tận tụy hơn ông, nên họ xứng đáng được khen thưởng hơn ông. Ông nói:

“Họ chấp nhận cuộc sống khổ hạnh, tự nguyện làm những việc thiện một cách âm thầm để phục vụ những người bất hạnh. Họ không muốn những lời ngợi ca tụng. Cuộc sống của họ tuân theo một nguyên tắc thật đơn giản: bàn tay trái không được biết việc làm của bàn tay phải và ngược lại. Nhiều tấm gương của các nữ tu này được bệnh nhân truyền tụng. Họ kể về soeur Charles Antoine, nguyên là Giám đốc trại có lần đến thăm nơi ăn ở của bệnh nhân, thấy hố xí tắc mà không ai dám dọn. Bà liền thọc tay xuống và moi lên những mảnh giẻ mà họ đã vô ý vứt xuống”(8).

Chính vì vậy, sau khi nghỉ hưu, bác sĩ Ngoạn do cảm phục lối sống của các nữ tu mà đã âm thầm trở lại đạo vào năm 2012. Cũng theo giáo huấn của đạo nên người Công Giáo cũng có cách ứng xử khác với những người bình thường. Trường hợp Nam Phương hoàng hậu là một ví dụ. Bà đã sinh cho vua Bảo Đại 5 người con nhưng vua quen kiểu sống đế vương phóng túng nên vẫn đi lại với những người phụ nữ khác. Bà sống ly thân với cựu vua nhưng vẫn luôn quan tâm đến nhà vua. Bà viết thư cho cô Lý Lệ Hà- một hoa khôi xứ Bắc đang chung sống với vua với lời lẽ rất tôn trọng chứ không hề ghen tuông. Thư viết: “Chị ở xa Đức Cựu hoàng hàng mấy vạn dặm trường nhưng chị biết em hết sức chăm sóc Cựu hoàng đế ở Hồng Kông. Chị cầu mong lịch sử mai đây không buông Cựu hoàng. Đức Từ cung Thái hậu và chị trọn kiếp nhớ thương em” (9). Có lẽ cảm kích về hành động này của Nam Phương Hoàng hậu mà về cuối đời, Bảo Đại đã gia nhập đạo Công Giáo với tên thánh là Jean Robert.

Do hôn nhân và gia đình Công Giáo có những ưu thế là bền vững trong khi hôn nhân, gia đình bên ngoài xã hội mỏng giòn dễ vỡ nên có một xu hướng là không ít gia đình bên ngoài Công Giáo tìm kiếm người Công Giáo để kết hôn mặc dù thủ tục để kết hôn với người có đạo khá phiền hà và mất nhiều thời gian phải kiên trì như học hỏi về đạo (lớp tân tòng), học về giáo lý hôn nhân và gia đình (lớp chuẩn bị kết hôn). Đấy là chưa kể đến sự phản đối của gia đình những người trở lại. Giáo sư Nguyễn Khắc Dương, xuất thân từ dòng dõi Nho gia ở Nghệ Tĩnh, đã kể lại việc mình sau khi gia nhập đạo về quê năm 1948 như sau:

“ Vừa trông thấy tôi, bà gần như chồm tới và gần như ngã quỵ ôm lấy chân tôi khóc nức nở mà than rằng: Cháu ơi, cô hỏi cháu, cha ông cháu có tội tình chi, mà cháu cúi đầu cho họ dội nước để rửa sạch tội Tổ tông. Thật là nhục mạ đến tổ tiên họ Nguyễn Khắc nhà ta. Chớ cái tội cháu bỏ đạo ông bà, không thờ cúng tổ tiên, thì nói thật, lấy cát chà, dao cạo cũng không sạch, nói gì đến dội nước” (10).

Một trường hợp khác mà Giám mục Allys ở Huế đã kể lại, đó là sự phản ứng của gia đình cô Nguyễn Thị Ngọc năm 1916. Ông viết:

“Khó mà tưởng tượng được sự tức giận của người cha và sự đau khổ của bà mẹ, khi biết rằng con mình đã bỏ trốn. Họ liền cùng với bạn bè đi tìm con. Trong nhiều ngày, họ chạy hỏi nơi này nơi khác và nhất là rình quanh các tu viện mà họ nghi là có con mình đang lẩn trốn. Cuối cùng, họ được thư của Nguyễn Thị Ngọc cho biết mình đang ở trong dòng kín Huế và sẽ không ra khỏi đó cho đến khi thành Kitô hữu…Trước lời tuyên bố đó, bà mẹ nổi giận, gào thét và đe dọa khi thấy con mình không lay chuyển, bà chồm tới, nắm lấy tóc con lôi ra khỏi nhà khách của đan viện. Để chống lại, Nguyễn Thị Ngọc liền nằm xuống đất và làm cho tất cả mọi nỗ lực của người mẹ nóng giận trở thành vô ích” (11).

Số liệu của Giáo Hội Công Giáo cho biết, năm 2006, cả nước có 147.716 người gia nhập đạo thì có 31.576 người lớn xin gia nhập đạo để kết hôn với người Công Giáo, chiếm 1/5. Năm 2000 có 30.096 người lớn rửa tội thì đến năm 2010 số xin nhập đạo là 42.272 người. Tại các giáo xứ, nhất là các nhà thờ ở thành phố, do lượng người di dân đi học tập, công tác, lao động từ nông thôn về đông nên liên tục phải mở các lớp tân tòng và số thanh niên theo học rất đông.

Giáo lý Công Giáo coi phôi thai được hình thành từ sự giao hợp đã là con người nên khi nghe có trường hợp phá thai dù chỉ là điều hòa kinh nguyệt, người Công Giáo cũng tìm gặp những bà mẹ lỡ mang thai đó khuyên bảo giữ cái thai lại. Nếu đương sự không có điều kiện, họ đưa về các nhà mở để chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi mẹ tròn, con vuông. Nhiều nhà mở này được lập ra khắp nơi do các giáo xứ, dòng tu tổ chức. Thậm chí một số cá nhân người Công Giáo cũng làm như vậy. Nước ta được xếp vào một trong 5 nước có tỷ lệ phá thai cao nhất thế giới với khoảng 300.000 vụ/năm thì những hoạt động trên của người Công Giáo rất ý nghĩa. Một số cá nhân người Công Giáo còn đi thu gom những thai nhi từ các bệnh viện, phòng khám tư nhân về khâm liệm, chôn cất tử tế như bà Nguyễn Thị Nhiệm (Sóc Sơn, Hà Nội), ông Nguyễn Văn Bao (Nghĩa Thắng, Nam Định), ông Tống Phước Phúc (Nha Trang, Khánh Hòa)… đã chôn cất cả vạn thai nhi được dư luận khen ngợi vì những cử chỉ nhân văn và chỉ riêng đạo Công Giáo mới có việc làm này.

Giáo Hội cảnh báo xã hội ngày nay là “một nền văn hóa sự chết”, chiết tự từ “Death” (D: Divorce- Ly dị; E: Euthanasia- Chết êm dịu; A: Abortion- Phá thai; T: Total Birth Control: Kiểm soát sinh sản; H: Homosexual union- Kết hôn đồng tính). Một đặc điểm của nền văn hóa sự chết đó là phá vỡ cân bằng tự nhiên về giới tính, lao động mà nhiều nước đang đối mặt khi hàng chục triệu thanh niên không thể lấy được vợ, khi mà số sinh ít hơn số tử gây thiếu hụt lao động trầm trọng như Trung Quốc, Đức , Nhật và cả nước ta nữa. Chính những thách đố này, khiến nhiều xã hội phải quay lại sự cân bằng tự nhiên trong sinh sản. Ngay dự thảo luật về dân số nước ta hiện nay cũng cho phép các cặp vợ chồng tự lựa chọn số con và khoảng cách giữa các lần sinh. Dự thảo này rất giống với quan niệm “sinh sản có trách nhiệm” của Giáo Hội Công Giáo.

Như vậy có thể thấy giáo lý của đạo Công Giáo không chỉ ảnh hưởng đến hôn nhân và gia đình cộng đồng Công Giáo mà càn ảnh hưởng sang cả cộng đồng xã hội nữa. Mặc dù lối sống đó cũng có những điểm gây khó khăn cho tín hữu nhưng ưu điểm nhiều hơn và là điểm sáng của tôn giáo này. Nó chứng minh nhận định của Nghị quyết 25 “Về công tác tôn giáo” của Đảng năm 2003 là đúng đắn: “Đạo đức tôn giáo có nhiều điểm phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới”.

 

Phạm Huy Thông
Hà Nội, tháng 9-2015

 

Chú thích:

1-Bùi Văn Đọc: Sống niềm tin, Giáo xứ Bùi Chu xuất bản 1992, tr.46

2-TGM Nha Trang: Giáo lý vào đời, tập 1, Nxb Tôn giáo 1999, tr.118

3-Thánh Công đồng Vatican 2, Giáo hoàng học viện Đà Lạt ấn hành 1972, tr.82-803.

4-Báo Văn Nghệ số 30 ngày 27-7-1996.

5-Kỷ yếu Tọa đàm “Thờ cúng tổ tiên” ở Huế, TGM Huế ấn hành năm 1998, tr.68

6, 11- Phạm Huy Thông: Ảnh hưởng qua lại giữa đạo Công Giáo và văn hóa Việt Nam, Nxb Tôn giáo 2012, tr.81; tr.152

7- Vietcatholic. News ngày 3-8-2015

8-Giám mục Nguyễn Văn Sang: Đối thoại tôn giáo, tập 2, Nxb Tôn giáo 2007, tr.327

9-Lý Nhân Phan Thứ Lang: Vua Bảo Đại- vị vua cuối cùng của triều Nguyễn, Nxb Đà Nẵng 2004, tr.192