PHẦN HUẤN GIÁO


Phần III: GIÁO DÂN TRONG CHIẾU KÍCH THÁNH HÓA CỦA HỘI THÁNH


GIÁO DÂN TRONG HỘI THÁNH THÁNH THIỆN

 

Thánh thiện trong Hội Thánh là gì?

Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo trong số 823 có viết: “Chúng tôi tin Hội Thánh … mãi mãi thánh thiện. Thật vậy, Chúa Kitô, Con Thiên Chúa, Ðấng cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, được ca tụng là ‘Ðấng Thánh duy nhất,’ đã yêu dấu Hội thánh như Hiền thê của mình và đã hiến thân để thánh hóa Hội thánh. Ngài kết hiệp với Hội thánh như Thân thể mình, và ban cho dư đầy ơn Thánh Thần để làm vinh danh Thiên Chúa’ (x. LG 39). Vì thế Hội thánh là ‘Dân thánh của Thiên Chúa’ (x. LG 12) và các thành viên của Hội thánh được gọi là ‘thánh’. Thực vậy, Thánh Phao-lô trong các thư gửi các giáo đoàn, điển hình là 1 Cr 1,1-9 và Ep 1:1, đã không ngừng gọi các tín hữu là ‘Hội Thánh’, tức ‘những người đã được hiến thánh trong Đức Ki-tô Giê-su, được kêu gọi làm dân thánh… được trở nên phong phú về mọi phương diện, phong phú vì được nghe Lời Chúa và hiểu biết mầu nhiệm của Người…

 

Thánh thiện của Tân Ước mang một ý nghĩa thần học đặc biệt (xem Thils, G. , Existence et sainteté in Jésus-Christ, Paris, 1982). “Thánh” là biệt hiệu đặc trưng của Thần Khí : “Thánh Thần.” Nếu không được Thần Khí thánh hóa, thì chẳng có gì và không một ai là “thánh” cả. Như ở tại sông Gio-đan, Ngài xuống trên Ðức Giê-su để khai mở sứ mạng, thì ngày Lễ Ngũ tuần, Thần Khí cũng đã xuống trên Hội Thánh sơ khai (x. Cv 2: 3-4). Mục đích của sứ mạng của Thánh Thần là thông truyền cho loài người sự sống thánh thiện của Ngôi Cha và Ngôi Con. Bởi Thiên Chúa là tình yêu (x. 1Ga 4: 8), nên Thần Khí đổ tình yêu của Thiên Chúa vào lòng các tín hữu (x. Rm 5: 5), làm cho họ trở nên con cái Thiên Chúa (x. Rm 8: 14). Vì Thiên Chúa là chân lý (x. 3 Ga 12; Ga 14: 16), và Thánh Thần là “Thần Khí của chân lý” (Ga 14: 17; 15: 26 v.v.), nên Người thánh hóa các môn đồ trong chân lý (x. Ga 17: 17.19). Vì Thiên Chúa là ánh sáng (x. 1 Ga 1: 5), nên Thần Khí soi lòng mở trí các tín hữu cho họ hiểu mầu nhiệm của Thiên Chúa (x. Ep 1: 17-18). Thế thì nhận biết Cha và Con chính là sự sống đời đời, tức là sự sống thánh của Thiên Chúa (x. Ga 17: 3).

 

Ngày nay người ta thích sử dụng công thức sau đây: Hội Thánh bao gồm tất cả những ai tham dự vào ba chức vụ cơ bản của Chúa Giê-su Nhập thể là vương đế, tiên tri và ngôn sứ. Nếu giáo sĩ là những người tham gia vào ba chức năng này của Đức Ki-tô nhờ một bí tích đặc biệt là Truyền Chức Thánh, thì Ki-tô hữu Giáo dân cũng tham gia vào ba yếu tính tư tế, ngôn sứ và vương đế qua Phép Rửa ban Thánh Thần, Bí tích Thêm Sức.. và bí tích hôn phối.

 

Như vậy sự thánh thiện của Hội Thánh có nguồn gốc từ Thiên Chúa chứ không do sự thánh thiện của các phần tử tạo thành. Ngay cả khi một số phần tử của Hội Thánh xa ngã hay phạm tội, Hội Thánh cũng không vì thế mà mất đi sự thánh thiện đã được chính Chúa bảo đảm.

 

Sống thánh trong một Hội Thánh thông công

Ðã được tuyên xưng qua kinh tin kính ít nhất từ thế kỷ thứ năm, tín điều ‘Hội Thánh thông công’ là dấu chứng cho sự thánh thiện của Giáo hội. Trong công thức này, từ các thánh có nghĩa chỉ về vừa những điều thánh, vừa những người thánh. Còn ý nghĩa đầu tiên mà từ thông công muốn chỉ về, không phải là chia sẻ, song là hiệp thông nhờ một nguyên tắc thánh, nói cách khác là nhờ sợi dây liên đới siêu việt nối kết các chi thể sống động của Hội Thánh trong Thánh Thần. Nhưng thực trạng thông phần vào của cải siêu việt của nhau, đòi hỏi phải có việc chia sẻ của cải hiện sinh cho nhau. Cuối cùng thì chia xẻ của cải thiêng liêng, phải đưa đến chia xẻ của cải vật chất, như Vaticanô II đã lưu ý: “Các thành phần khác nhau của Giáo hội liên kết với nhau bằng mối dây hiệp thông mật thiết về của cải thiêng liêng, về nhân sự tông đồ và về sự trợ giúp vật chất”. Quả thực, mọi phần tử Dân Thiên Chúa được kêu gọi chia xẻ của cải mình có, và lời nói sau đây của vị tông đồ cũng ứng nghiệm đối với mỗi Giáo dân: “Ơn riêng Thiên Chúa đã ban, mỗi người trong anh em phải dùng mà phục vụ kẻ khác. Như vậy anh em mới là những người khéo quản lý ân huệ thiên hình vạn trạng của Thiên Chúa” (LG 13c; x. GS 69). Điều này đã được Tông Huấn “Người Ki-tô hữu Giáo Dân” số 28 dùng lời nói của thánh Grê-gô-ri-ô Cả mà mô tả như sau: “Trong Hội Thánh mỗi người nâng đỡ các người khác, và các người khác nâng đỡ lại họ”.

 

Thông công có thể làm cách cá thể hay tập thể.

Cá thể:

Nếu Tông Huấn về Người Ki-tô hữu Giáo Dân dùng lời Công Đồng Va-ti-can II mà khẳng định rằng: “Mỗi người Ki-tô hữu là một chi thể của Hội Thánh, được trao phó một nhiệm vụ độc đáo, không thể thay thế được” (x. CFL số 28), thì mỗi người Giáo dân luôn có bổn phận thánh hóa bản thân và tham gia vào việc thánh hóa Hội Thánh cách cá thểđặc biệt trong các hoàn cảnh mà chỉ có chỉ có cách sống này mới thích hợp và mới thể hiện được. Nhờ đó Tin Mừng mới có thể chiếu giãi cách rộng rãi, đến tận các môi trường đang diễn ra cuộc sống thường nhật cụ thể của người giáo dân giữa lòng nhân loại. Đó là một đời sống theo sát với Tin Mừng, tức gắn bó mật thiết với Thiên Chúa và phục vụ tha nhân. Trong Tông Huấn Loan Báo Tin Mừng, Đức Phao-lô VI khẳng định: “Vốn người hôm nay sẵn sàng lắng nghe các nhân chứng hơn là lắng nghe các thầy dạy. Nếu họ có nghe thầy dạy, thì chỉ vì các thầy dạy cũng là các chứng nhân”. Thánh Phê-rô cũng diễn tả rõ ràng điều này khi ngài đề cao một nếp sống trong sạch và đáng kính. Chính nếp sống này, chứ không phải lời nói, đã chinh phục được cả những người từ chối tin vào Tin Mừng”.

 

Tập thể:

Trong lịch sử Giáo Hội, các hiệp hội giáo dân như các hội đoàn, hội dòng và các hiệp hội khác nhau đã tạo nên những đường lối sống Tin Mừng vững chắc kéo dài cho tới ngày nay, và mang lại nhiều kết quả đáng kể. Ở thời đại chúng ta, các hiệp hội, các nhóm, các cộng đoàn, các phong trào cũng đang vươn lên mạnh mẽ. Có người cho rằng chúng ta đang bước sang một giai đoạn mới trong lịch sử Giáo Hội, giai đoạn của các hiệp hội giáo dân.

 

Những hiệp hội này rất đa dạng, và có những đường lối huấn luyện, những phạm vi hoạt động rất khác nhau,; tuy thế tất cả chúng đều theo đuổi một mục đích chung là tham gia cách có trách nhiệm vào sứ mạng thánh hóa của Hội Thánh, là sống và loan báo Tin Mừng cho tất cả mọi người cả trong và ngoài Giáo Hội. Và vì con người là một tạo vật mang tính xã hội cao, nên việc kết hiệp với nhau để cùng thánh hóa, để sống và làm chứng cho Tin Mừng là một việc dễ hiểu và nên làm. Ngoài ra, việc làm tông đồ tập thể cũng dễ thành công hơn vì dựa trên sức mạnh của tập thể, đồng thời dễ dàng trở thành dấu chỉ hữu hình của sự thông công trong Hội Thánh nhất.

 

Giáo dân có nên thành lập hiệp hội không?

Sắc lệnh Tông Đồ Giáo Dân (AA) số 19 của Công Đồng Va-ti-can II đã dành cho giáo dân quyền quyết định thành lập các hội đoàn Công Giáo, điều khiển hội đoàn, và tham gia hội đoàn, miễn là các hội đoàn đó giữ được mối hiệp thông với Hội Thánh. Ta phải hiểu: quyền tự do lập hội đoàn phát xuất từ Bí Tích Thánh Tẩy ban Thánh Thần, chứ không phải do sự nhân nhượng hay cho phép nào của giáo quyền. Bộ Giáo luật 1983, ở điều 215 còn nói rõ hơn rằng: các tín hữu có quyền thành lập và điều khiển các hiệp hội từ thiện, các hội đạo đức và tông đồ, nói chung tất cả các tổ chức nhằm cổ vũ ơn gọi của người Ki-tô hữu sống Tin Mừng trong thế giới. Họ có quyền hội họp lại với nhau mà không bị ai ngăn cản hay chống đối.

 

Riêng việc tham gia các hội đoàn Công Giáo, Giáo hội khuyến khích các giáo dân nên ghi tên vào các hội đoàn hay đoàn thể đã được Giáo hội (cấp toàn cầu hay địa phương) phê duyệt, đánh giáo cao và tích cực giới thiệu, vì chúng đáp ứng được các nhu cầu cấp thời của các địa phương đó. (xem GL 298/2)

 

Tóm lại, người giáo dân có quyền và có bổn phận tham gia vào các hoạt động thánh hóa của Hội Thánh. Bình thường việc tham gia cá nhân là cần thiết và hữu ích, nhưng nhiều khi việc tham gia cách tập thể lại mang về những kết quả to lớn và bền vững hơn. Điều quan trọng là, tuy giáo dân có toàn quyền tham gia vào các hội đoàn, nhưng quyền này “phải luôn luôn và chỉ được thực thi trong sự thông hiệp trọn vẹn với Hội Thánh” (CFL số 29)

Câu hỏi gợi ý:

1.            Hãy liệt kê một vài việc Giáo dân, trong tư cách cá thể, có thể làm sao cho Hội Thánh được trở nên thánh thiện hơn.

2.            Theo bạn, vào chính lúc này, lãnh vực hay công việc nào bạn cho là cấp thiết nhất để vun đắp sự thánh thiện của Hội Thánh địa phương của bạn?

3.            Bạn có biết về các hội đoàn hiện có trong giáo xứ của bạn không? Bạn có biết mục đích của chúng là gì không? và khả năng bạn tham gia vào một trong số đó?

 

 

 

 

 

Lm Gioan Nguyễn Văn Ty SDB

 

PHẦN MỤC VỤ

Bài 8: NÓI LỜI SỰ SỐNG

Lời mở

Chúng ta vừa mừng lễ Chúa Giáng Sinh. Nhiều nơi trên khắp thế giới người ta tổ chức Lễ hội Giáng Sinh, trưng bày những cây thông Noel với đèn sao rực rỡ, trao gửi thiệp mừng và quà tặng cho nhau để biểu lộ niềm vui. Nhiều tín hữu Công giáo cũng hoà theo niềm vui đó. Nhưng ít người hiểu biết và cảm nhận được “niềm vui trọn vẹn” (x. 1Ga 1,4) của người tín hữu vì “Ngôi Lời sự sống” (x. 1 Ga 1,1) mặc lấy thân xác con người, hoà nhập vào vũ trụ để biến đổi tất cả và cho tất cả được tham dự vào sự sống Thiên Chúa của Người. Kể từ đó lời nói của Kitô hữu không chỉ là những âm thanh, tiếng nói của con người mà có thể biến thành lời sự sống kỳ diệu của Thiên Chúa.

 

1. Tiếng nói trong lịch sử con người

Xét theo lĩnh vực thông tin, người ta chia lịch sử văn minh của loài người thành 4 thời kỳ: tiếng nói (40.000 TCN – 4.000 TCN), chữ viết (4.000 TCN– 1000), ấn loát (1000-1900), tin học (thế kỷ XX – nay). Thời kỳ sau bổ túc cho thời kỳ trước và mỗi thời kỳ tiếp tục tồn tại và phát triển, như chúng ta đang ở trong thời kỳ tin học nhưng vẫn dùng tiếng nói, chữ viết, sách báo in để truyền thông tin cho nhau[xii].

 

Con người, ngay từ khi xuất hiện trên mặt đất, đã biết kêu hú, la hét như nhiều sinh vật khác. Tiếng kêu chỉ trở thành lời nói nhờ những con người biết suy tư (homo sapiens) xuất hiện cách đây khoảng 40.000 năm trước Công nguyên. Ngày nay nhiều sắc dân trong các vùng rừng rậm ở Nam Mỹ, châu Phi, châu Úc vẫn còn sống trong giai đoạn tiếng nói sơ khai như đồng bào Rục ở Việt Nam. Ngôn ngữ của họ, với khoảng 500 – 1000 từ, chỉ đủ diễn tả những sinh hoạt bình thường chứ không thể bày tỏ những cảm tình sâu xa và tư tưởng cao đẹp như tiếng nói của một số dân tộc văn minh khác[xii].

 

2. Tiếng Việt trong lịch sử dân tộc

Dân tộc Việt gồm các bộ tộc sống trong những hang động ở miền núi phía Bắc cách đây hơn 4000 năm, từ thời Hồng Bàng cho đến 18 đời Vua Hùng, đã có tiếng nói và chữ viết riêng[xii]. Trước bạo lực và thủ đoạn đồng hoá của người Trung Quốc, dân tộc Việt vẫn giữ nguyên được tiếng nói của mình trong suốt hơn 1000 năm bị đô hộ và đã phát triển thành một ngôn ngữ phong phú với trên 41.000 từ như hiện nay[xii].

 

Người Việt luôn nhắc nhở nhau bảo tồn quốc ngữ vì “tiếng Việt còn là nước ta còn”, dạy bảo con cháu “Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”, cần phải “học ăn, học nói, học gói, học mở”, “biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe”…[xii].

 

Nhiều người Việt chưa ý thức tầm quan trọng của tiếng Việt trong việc gìn giữ và bảo vệ đất nước, trong việc hun đúc tinh thần dân tộc, trong việc phát triển tiếng Việt và chữ Việt giữa cộng đồng nhân loại. Có những đứa trẻ Việt sống trên đất nước mà phải dùng tiếng Anh, tiếng Pháp để nói với cha mẹ. Có những người Việt ở nước ngoài không nói được tiếng Việt vì cha mẹ chúng không còn biết đến quê hương. Rất nhiều người trẻ Việt Nam đang dùng những kiểu nói lai căng, lố lăng, sống sượng để thông tin cho nhau qua những dòng tin nhắn, mà không ngờ đang phá huỷ, hạ thấp tiếng nước mình.