Bài huấn luyện hàng tháng của Ủy ban Giáo Dân

3/1/2019 6:56:21 PM

 
Tháng 03.2019

UBGD.jpg

UBGD-HĐGM. VN

Ban Nghiên Huấn

 

PHẦN TU ĐỨC

 

SANG BỜ BÊN KIA: TẦM NHÌN CỦA NGƯỜI LÃNH ĐẠO MỤC VỤ (Mc 4,35-41)

 

Lòng quyến luyến của cải đã cản bước hành trình của người thanh niên (Mc 10,17-22). Lòng quyến luyến ấy cũng có thể cản bước hành trình của tôi, trên bước đường yêu Chúa-theo Chúa, bởi “của cải” không chỉ là tiền bạc, nhưng còn là những gì lòng tôi quyến luyến nơi “bờ bên này”, nơi việc phục vụ đang thành công, khiến tôi không sẵn sàng “sang bờ bên kia”, khiến tôi không sẵn lòng thay đổi.

 

Câu chuyện “Sang Bờ Bên Kia” xảy ra trong những ngày Đức Giêsu đang thành công trong sứ vụ rao giảng Tin mừng, tại bờ phía Tây của biển hồ Galilê: Người chữa lành rất nhiều bệnh nhân, trừ khử nhiều thần ô uế; danh tiếng Người đã lan xa khắp vùng; dân chúng đông đảo tuôn đến với Người, say sưa nghe Người rao giảng. Đang khi dân chúng không muốn Người rời bỏ họ, Đức Giêsu nói với các môn đệ: “Chúng ta sang bờ bên kia đi!” (Mc 4,35). Tại sao phải sang bờ bên kia trong lúc việc phục vụ đang thành công? Vì sao phải sang bờ bên kia, trong khi ở bờ bên này biết bao con người đang khao khát Người?... Hẳn là nhiều câu hỏi được đặt ra và chỉ có thể tìm thấy câu trả lời nơi tầm nhìn về “bờ bên kia”. Đức Giêsu muốn các môn đệ sang bờ bên kia cùng với Người. Thầy trò cùng thực hiện hành trình vượt biển, nhưng tầm nhìn khác nhau, hai thế giới khác nhau.

 

Biển hồ Galilê là đất làm ăn của các môn đệ, nên hẳn là, cuộc hành trình sang bờ bên kia phải xuôi chèo mát mái. Tuy nhiên, thực tế lại phũ phàng và bi đát hơn các ông tưởng. “Một trận cuồng phong nổi lên, sóng ập vào thuyền, đến nỗi thuyền đầy nước”; và dù đã nỗ lực chèo chống, các ông cũng đành bó tay trong nỗi sợ hãi. Các ông phải đánh thức Thầy mình dậy và thảm thiết cầu xin: “Thầy ơi, chúng ta chết đến nơi rồi, Thầy chẳng lo gì sao?”; Thiên Chúa vẫn luôn đồng hành với chúng ta, nhưng trong những hoàn cảnh thách đố, nhiều lúc ta cũng than trách như vậy.

“Người thức dậy, ngăm đe gió và truyền cho biển: ‘Im đi! Câm đi!’ Gió liền tắt và biển lặng như tờ.” Chứng kiến sự can thiệp của Thầy mình, các tông đồ rơi vào một nỗi sợ hãi khác, kinh hoàng hơn, lớn hơn sự sợ hãi trước sóng gào biển thét. Trước mắt các ông vẫn là Thầy Giêsu, tuy đã từng sống với Người, từng chứng kiến nhiều phép lạ Người làm, nhưng các ông vẫn chưa thực sự biết Người. Có lẽ các ông quá phấn khởi trước những phép lạ Chúa làm cho đám đông dân chúng, khiến đám đông không ngớt lời ca tụng, tán dương. Và niềm phấn khởi thích thú vì sự ồn ào náo nhiệt ấy, khiến các môn đệ chẳng còn tâm trí, thời giờ tìm hiểu sâu xa hơn về Thầy mình; dường như các môn đệ đang tự mãn và ngủ quên trong hào quang thành công, như nhiều người chúng ta ngày nay.

“Người này là ai mà cả đến gió và biển cũng tuân lệnh?” Các môn đệ đã thấy đích đến, đã thấy “bờ bên kia”. Giữa sóng gió mưa bão, Đức Giêsu vẫn ngủ yên bình. Ngay từ bây giờ, nơi Đức Giêsu đã hừng lên ánh sáng Phục Sinh. Sau này, nơi cuộc thương khó, Đức Giêsu đi vào cái chết như một giấc ngủ an bình, rồi Người thức dậy, vinh thắng sự dữ và sự chết.

Là thành viên Hội đồng mục vụ giáo xứ, tôi cũng được mời gọi sang bờ bên kia với Người; tôi cũng cần trải qua một tiến trình, một kinh nghiệm thiêng liêng, để có thể nhận thấy bàn tay quyền năng và yêu thương của Thiên Chúa luôn che chở đời tôi. Dù cuộc đời của tôi có muôn vàn khó khăn, dù việc phục vụ của tôi gặp nhiều thách đố, tôi vẫn luôn được mời gọi vững tin vào Đức Giêsu. Cùng Người, tôi sẽ đến “bờ bên kia”.


Lm. Toma Vũ Ngọc Tín SJ.

 

PHẦN QUẢN TRỊ MỤC VỤ

CON NGƯỜI SẼ BỊ NỘP...

“Lúc sắp lên Giê-ru-sa-lem, Đức Giê-su đưa Nhóm Mười Hai đi riêng với mình, và dọc đường, Người nói với các ông: ‘Này chúng ta lên Giê-ru-sa-lem, và Con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế và kinh sư. Họ sẽ kết án xử tử Người, sẽ nộp Người cho dân ngoại nhạo báng, đánh đòn và đóng đinh vào thập giá và, ngày thứ ba, Người sẽ trỗi dậy”. (Mt 20,17-19)

 

Dẫn vào

Nếu xuân hạ thu đông hàm ý tứ thời bát tiết vần xoay thì hẳn là mùa xuân chúng ta đang vui hưởng cũng chính là khung thời gian báo trước mùa hè sẽ đến.
[1] Cũng vậy, nếu ơn cứu độ được hiểu là tất yếu cần thiết cho nhân loại được vào hưởng hạnh phúc vĩnh cửu, thì chắc chắn những sự việc như “... chúng ta lên Giê-ru-sa-lem...”, “Con Người sẽ bị nộp...” cũng là những “hữu sự” đương nhiên trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa giàu lòng xót thương dành cho nhân loại chúng ta.

 

Theo đó, những ngỡ ngàng, chưng hửng, ngộ nhận… ban đầu sẽ dần dần được nghiệm ra trong cái nhìn cánh chung. Một tầm nhìn xa, trông rộng là cần thiết cho tất cả những ai ở vào vị trí có trọng trách phải thi hành. Dĩ nhiên, cái nhìn đó luôn phải hướng về “cánh chung” (trong tình yêu xót thương của Thiên Chúa Quan Phòng). Tại các giáo xứ, nguyên tắc quản trị như thế không chỉ áp dụng đặc biệt đúng cho các vị linh mục chánh xứ (proper pastors), nhưng rõ ràng cũng áp dụng đúng cho cả các vị quý chức hội đồng mục vụ giáo xứ. Vâng, tại một giáo xứ nào bất kỳ, các vị này đều là những người hữu trách.

 

Chúng ta lên Giê-ru-sa-lem…

Biết mình sẽ bị nộp cho các thượng tế và kinh sư, biết mình sẽ bị kết án tử: bị nhạo báng, bị đánh đòn, bị đóng đinh vào thập tự giá, Đức Ki-tô Giê-su vẫn cương quyết đi Giê-ru-sa-lem và ngỏ lời mạnh mẽ, dứt khoát, mời các môn đệ cùng đi.
[2] Điều này không chỉ tiên vàn vì “... ngày thứ ba, Người sẽ trỗi dậy” mà còn làm chúng ta nhớ lại một nguyên tắc vàng trong quản trị học:

Quản trị viên ra sức làm mọi việc cho đúng cách; nhà lãnh đạo cố gắng làm những việc đúng, việc phải…; vị mục tử riêng không chỉ nỗ lực làm những việc đúng, việc phải mà còn cần nỗ lực làm những việc ấy sao cho đúng cách nữa.[3]


Thật vậy, việc đúng, việc phải mọi nhà lãnh đạo đều phải cố gắng làm trước. Theo đó, linh mục chánh xứ trong tư cách là mục tử riêng của giáo xứ, và quý chức hội đồng mục vụ giáo xứ – những người được tham gia cách đặc biệt vào cùng một trách nhiệm duy nhất trong vườn nho của Chúa – cũng phải cương quyết đi Giê-ru-sa-lem. Bởi lẽ, đó là việc đúng, việc phải, việc tất yếu cho chương trình cứu độ. Không ngỡ ngàng, chưng hửng, ngộ nhận….


Chuyện minh họa về “ngộ nhận”

Một người nọ kể chuyện: “Giả như có ai đó hỏi chúng ta: ‘Nếu anh chị em biết một người phụ nữ kia đang mang thai, đã là mẹ của bảy người con rồi, trong đó có ba đứa bị điếc, hai đứa bị mù, một đứa thiểu năng trí tuệ, mà người phụ nữ này lại đang mang bệnh giang mai, thì anh chị em sẽ đưa ra đề nghị gì cho cô ấy; có nên khuyên cô ta phá thai không?’” Tuy nhiên, ngay khi ai đó trong chúng ta vừa định trả lời, thì người kể chuyện lại tiếp tục hỏi luôn câu thứ hai:

 

“Còn nếu bây giờ, anh chị em được bầu chọn một vị lãnh đạo, và những phiếu bầu của anh chị em chắc chắn sẽ đóng vai trò quyết định; anh chị em sẽ chọn ai trong số những ứng viên sau đây: (1) Người này thường qua lại với những chính trị gia gian xảo, tin vào chiêm tinh. Ông ta có tới hai người tình, và lại là một người nghiện thuốc lá rất nặng, mỗi ngày có thể uống từ tám đến mười ly rượu Martin. (2) Người này là người từng bị đuổi việc hai lần, hay ngủ nướng đến trưa. Khi còn là sinh viên, anh ta đã từng hút thuốc phiện, và cũng như người thứ nhất, mỗi tối anh ta có thể tự thưởng cho bản thân cả lít rượu Whisky. (3) Người này rất “can đảm”, từng bị thương, từng được nhận hai huân chương chiến đấu anh dũng, thường có thói quen ăn chay, không bao giờ hút thuốc, thỉnh thoảng mới uống rượu, có uống bia nhưng không nhiều. Thời trai trẻ, người này chưa từng làm gì phạm pháp. Trong ba ứng viên trên, anh chị em nghĩ nên chọn ai”.

 

Cứ sự thường, cuộc thảo luận nổ ra sôi nổi và rất mau chóng có kết quả: “người thứ ba xứng đáng nhất”. Khi biết kết quả như thế, người kể chuyện mới cho biết: Người thứ nhất nói trên chính là vị tổng thống thứ 32 của Hoa Kỳ, Franklin Delano Roosevelt (1882-1945), người từng đảm nhận liên tiếp bốn nhiệm kỳ tổng thống.[4] Còn vị thứ hai chính là Sir Winston Leonard Spencer-Churchill (1874-1965), vị thủ tướng nổi tiếng và tài ba nhất trong lịch sử Anh Quốc.[5] Còn người thứ ba lại chính là Adolf Hitler (1889-1945), lãnh tụ của Phát-xít Đức, kẻ đã gây ra cái chết của hàng chục triệu người dân vô tội.

 

Vậy trở lại với câu hỏi thứ hai, có phải anh chị em đã chọn người thứ ba là Adolf Hitler? Còn nếu trở lại câu hỏi thứ nhất về chuyện người phụ nữ mang thai, có phải anh chị em đã tư vấn “phá thai” chăng? Nếu đúng là vậy, thì xin hãy biết rằng, người con thứ tám của người phụ nữ ấy chính là Beethoven, một thiên tài âm nhạc của thế giới.

 

Để kết: Câu hỏi giúp thảo luân

1/ Là quý chức các hội đồng, hội đoàn giáo xứ, khi phải tham gia ý kiến vào những quyết định mục vụ, bạn chọn tiêu chí nào để thực hiện: làm mọi việc sao cho đúng cách hay cố gắng làm những việc đúng trước, hay cả hai?

2/ Hình thức và nội dung, cái nào quan trọng hơn, tại sao? Làm thế nào để nhận định đúng các giá trị đích thực về con người, về công việc phục vụ? Tại sao phải “... lên Giê-ru-sa-lem...”?


20-02-2019

GTHH

 

PHẦN HUẤN GIÁO

GIÁO DÂN TRONG CHIẾU KÍCH RAO GIẢNG TIN MỪNG CỦA HỘI THÁNH CHO THẾ GIỚI

GIÁO DÂN TRONG VƯỜN NHO CỦA CHÚA

 

 

“Nước Trời giống như chuyện gia của kia, vừa tảng sáng đã ra mướn thợ làm trong vườn nho của mình” (Mt 20:1)

Phần bốn của loạt bài tín lý này nhằm xác định rõ vai trò chuyên của Giáo Dân trong vườn nho của Đức Ki-tô, tức là Hội Thánh. Trước khi triển khai các khía cạnh khác nhau của công tác rao giảng Tin Mừng của Hội Thánh trong thế giới, tưởng cũng nên trước hết khẳng định, qua bài 10 này, rằng: ‘làm trong vườn nho’ là sứ vụ dành cho mọi thành phần tín hữu, cách riêng các Ki-tô hữu giáo dân như một tác vụ chuyên của họ.

 

1/ Vườn nho Đức Ki-tô là sứ vụ rao giảng Tin Mừng cho toàn thế giới

 

Vì phận vụ chính của Hội Thánh là rao giảng Tin Mừng của Đức Ki-tô nhập thể và cứu chuộc cho toàn thế giới (chứ không chỉ nhằm thánh hóa các phần tử mình, như trong một tổ chức đóng kín), nên việc lên đường đem Tin Mừng vào thế giới là một sứ vụ mà mọi phần tử của Hội Thánh đều cần và phải chu toàn. Do đó Tông Huấn ‘Người Ki-tô Hữu Giáo Dân’ đã xác định rất rõ: đã là Ki-tô hữu, mọi người chúng ta đều có vai trò tích cực trong vườn nho này: “Mọi người và mỗi người chúng ta đều làm việc cho vườn nho duy nhất của Thiên Chúa, vườn nho chung cho mọi người, với những đoàn sủng và những tác vụ khác nhau bổ túc lẫn nhau” (số 55-56). Dù thuộc thành phần nào trong Hội Thánh, linh mục, tu sĩ hay giáo dân, tất cả mọi người chúng ta đều được kêu gọi vào làm việc trong vườn nho của Chúa, tức tham dự vào sứ mệnh rao giảng Tin mừng cứu độ cho thế giới. Tuy nhiên nếu căn cứ vào tác vụ chuyên của từng thành phần dưới góc cạnh rao giảng này, chúng ta có thể thấy nổi bật vai trò hay tác vụ của người Ki-tô hữu giáo dân, vì trong Hội Thành họ là thành phần sống giữa lòng thế giới, và có nhiều dịp ảnh hưởng trên các thực tại nhân loại hơn cả.

 

2/ Thi hành công tác trong vườn nho: hiệp nhất trong đa diện

 

Nếu trong sức sống nôi bộ, mọi phần tử của Hội Thánh đều phải gắn kết bền chặt với Đức Ki-tô như các cành phải gắn liền với thân nho để có được sức sống mãnh liệt (xem Ga 15:1-8), thì mọi Ki-tô hữu trong mỗi bậc sống đều phải kết hiệp chặt chẽ với nhau… Nếu mọi người đều bình đẳng về phẩm giá Ki-tô hữu, và sống ơn gọi phổ quát phải nên thánh trong đức ái hoàn hảo của Tin Mừng, thì vẫn có một sự khác biệt nơi nét chân dung độc đáo của mỗi bậc trong tương quan bổ túc với các thành phần khác. Nếu linh mục thừa tác là bảo chứng cho sự hiện diện bí tích của Đức Ki-tô, nếu đời sống tu trì làm chứng cho Nước Trời cánh chung, thì nét đặc trưng của bậc giáo dân là tính trần thế trong lối sống và hiện diện của họ. Họ làm cho thế giới đón nhận các giá trị Tin Mừng, và làm cho các thực tại trần thế tìm ra ý nghĩa đúng đắn trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa.

 

Sự khác biệt trên đây không phá vỡ tính duy nhất của Hội Thánh, vì tất cả đều nhắm phát triển Thân Thể Chúa Ki-tô bằng nhiều cách thế năng động và phong phú. Riêng người giáo dân, khi đáp trả tiếng Chúa kêu gọi trong bậc sống mình, họ đã đóng góp những cánh hoa mới cho vườn nho Hội Thánh thêm khởi sắc. Hãy nói theo kiểu nói của thánh giáo phụ Am-brô-si-ô rằng: người Ki-tô hữu giáo dân khai thác những kho lẫm bao la của thế giới, và làm cho bàn ép nho của Đức Giê-su tràn trề những trái nho mọng chín.

 

3/ Đa diện để rao giảng Tin Mừng trong một thế giới đa diện

 

Thế nhưng thánh Phê-rô lại nhắn nhủ cách riêng các Ki-tô hữu giáo dân rằng: “Ơn riêng Thiên Chúa ban, mọi người phải dùng mà phục vụ kẻ khác. Như vậy anh em mới là những người khéo quản lý ân huệ thiên hình vạn trạng của Thiên Chúa” (1 Pr 4:10). Nói khác đi, ngoài ơn gọi của mỗi bậc sống, mỗi cá nhân Ki-tô hữu giáo dân còn có ơn gọi riêng, tùy theo hoàn cảnh của mình, giữa lòng thế giới bao la và đa diện. Tuy tất cả đều phải trổ sinh hoa trái trong tình yêu, nhưng mỗi người đều có hoàn cảnh sống và môi trường khác nhau trong xã hội, với một không gian và thời gian nhất định, nơi Đức Ki-tô đặt để bạn ở đó để làm lan tỏa các giá trị của Tin Mừng.

 

Có thể bạn là kỹ sư, công nhân hay nông dân, bạn cũng có thể là thương gia, chủ nhân hay người giúp việc..., thì bạn vẫn có một vị trí riêng biệt và những cơ hội chu toàn sứ vụ làm chứng và rao giảng Tin Mừng Đức Ki-tô cho trần thế; vị trí và cơ hội mà không có linh mục hay tu sĩ, hay bất cứ ai có thể thay thế được. Có vô số hình thức khác nhau để mỗi Ki-tô hữu giáo dân trở nên thợ chuyên trong vườn nho của Chúa; và Chúa mời gọi đích danh từng giáo dân…, và bạn không có quyền từ chối Ngài vì bất cứ lý do gì!

 “Cả các anh nữa, hãy đi vào làm trong vườn nho cho ta!” (Mt 20:7).

Câu hỏi gợi ý:

·   Nếu nhìn vào vườn nho Chúa, hay nhìn vào sứ mạng rao giảng Tin Mừng cho thế giới, bạn có tin rằng Ki-tô hữu Giáo dân có một tác vụ chuyên mà một linh mục hay tu sĩ không thể nào có? Bạn có bao giờ nghe nói về ơn gọi giáo dân chưa?

·   Và sứ vụ này người Ki-tô hữu giáo dân được trực tiếp trao cho trong ngày lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy và Thêm Sức do chính Đức Ki-tô ban cho qua lời mời gọi rõ ràng ‘hãy vào làm vườn nho cho Ta’. Bạn có xác tín điều đó không?