Thánh Bênađô, Gmtsht

Ed 24:15-24; Đnl 32:18-19,20,21; Mt 19:16-22

BÁN TẤT CẢ ĐỂ THEO CHÚA

Thánh Bênađô, qua đời ngày 20 tháng 8 năm 1153 tại Claivaux, phong thánh năm 1174 và được tuyên bố là tiến sỹ Hội thánh năm 1830, đã ảnh hưởng mạnh mẽ lên một phần lớn thế kỷ XII mà người ta mệnh danh cách chính đáng là "thời kỳ thánh Bernard ". Vì thánh nhân thực sự là một trong những nhân vật chính của phương Tây Kitô giáo và mãi tới nay, vẫn thuộc số những vị thánh được yêu mến nhất.

Bênađô người Clairvaux sinh năm 1090 tại Fontaine-lès-Dijon, trong một gia đình lãnh chúa quyền quí. Thân phụ, ông Tescelin, là lãnh chúa Fontaine hiệp sỹ của quận công Bourgogne và thân mẫu, phu nhân Alets de Montbard, có nhiều con và con thánh. Bà Aleth sẽ được tôn phong là chân phước. Hai mươi ba tuổi, Bênađô quyết định trở thành tu sỹ dòng Xi-tô lúc ấy đang dưới quyền điều khiển của thánh Etienne Harding tu viện trưởng. Bề trên tu viện đang buồn bã vì thiếu thỉnh sinh tu dòng thì Bênađô tới, kéo theo ba mươi thanh niên quí tộc, trong đó một số là anh em. Ông bố và các anh em khác sẽ tiếp theo sau..

Sau ba năm tu tại Xi-tô, năm 1115, Bênađô được sai đến làm tu viện trưởng, thành lập dòng tại Clairvaux và sẽ làm bề trên tại đó cho đến lúc chết. Người chăm chú cuộc đời trong chiêm niệm nhưng đồng thời cũng chuyên tâm giảng thuyết và hoạt động, bương chải khắp các nẻo đường nước Pháp, nước Đức và nước Ý, giảng rao về an bình, nhưng cũng tuyên truyền cho cuộc thập tự sinh thứ hai (Véjelay 1146) theo yêu cầu của Đức giáo hoàng Eugène III từng là tu sỹ Clairvaux.

Suốt thời làm tu viện trưởng, thánh Bênađô chỉ chuyên trách về toàn dòng Xitô và đã thành lập sáu mươi tám nhà dòng mới. Cùng thời gian đó, trên hầu khắp châu Au xuất hiện nhiều nhà dòng mới, đến nỗi năm 1153 khi thánh nhân qua đời, đã có tới ba trăm bốn mươi ba nhà. Vậy nên người ta có lý khi gọi Người là vị sáng lập thứ hai Dòng Xitô.

          Trang Tin Mừng hôm nay là một câu chuyện thực tế về Nước Trời Triều Đại Thiên Chúa đang đến gần, đó là nội dung chính của công cuộc rao giảng Tin Mừng của Chúa Giêsu. Chúng ta cũng thấy những thái độ đáp trả khác nhau của mỗi người khi nghe Tin Mừng này. Người thanh niên trong Tin Mừng cũng là hình ảnh của chúng ta trong đời sống thường ngày hôm nay.

Trong xã hội, nhất là trong xã hội hiện tại. giá trị con người được đánh giá qua đia vị, danh vọng. Nói đúng hơn, lương bỗng ai cao, người đó có giá trị. Họ trở thành đại gia và được mọi người kính nể.

Đức Giêsu gặp một học trò hiếu học, thao thức mơ mộng tiến đức đến hỏi: “Thưa Thầy, tôi phải làm điều gì tốt để được hưởng sự sống đời đời?” Mừng mừng vì anh này nhận biết và tín nhiệm mình, Đức Giêsu tỏ vẻ ngạc nhiên. Mới hỏi qua Ngài đã nghe anh trả bài thật suôn sẻ, anh cũng “tốt lành” từ bé ! Anh thảo hiếu với cha mẹ, không làm hại ai, không lấy gì của ai (công bằng tuyệt đối), nói gì đến giết người với cả ngoại tình ?

Đức Giêsu  đòi hỏi thêm : “Nếu anh muốn nên hoàn thiện, thì hãy đi bán tài sản của anh và đem cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi."  Đi bán rồi cho ? để nên trọn lành và theo làm môn đệ của Ngài?  Nghe cái điều kiện cực kỳ khó khăn này, anh giật mình thất vọng ngán ngẩm và chạy…mất dép : “người thanh niên buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải.” Anh thì buồn rầu bỏ đi, còn Đức Giêsu thì buồn rầu nhìn theo bóng anh, mất khách!

Thật thế, cái sung sướng của anh là có nhiều của cải, bây giờ an thân rồi thì “phú quý sinh lễ nghĩa” thôi, chứ muốn tiến đức mà phải bỏ toàn bộ cái anh có, anh đang yêu thích ôm chặt lấy mà đem chia cho người khác thì còn gì để mà vui sướng vinh thân? Gia tài sản nghiệp hạnh phúc của anh chứ phải đâu chuyện đùa ? Làm sao anh lại dại dột mà vứt đi để theo làm môn đệ Ngài được ? anh không thể…Vậy mà muốn theo Đức Giêsu thì phải bỏ, phải quên, phải coi thường, phải sống như không có những thứ đó, mới thanh thoát lòng mà bước theo Ngài. Bước theo Ngài là sẵn sàng chia sẻ cho anh em những gì mình có mà không tiếc xót.

“Thưa Thầy, tôi phải làm điều gì tốt để được hưởng sự sống đời đời?”. Một câu hỏi xuất sắc, có giá trị đã nói lên điều anh thao thức đi tìm, đó là “ sự sống đời đời”. Anh đã hỏi về điều tốt, điều lành không phải thêm giàu sang, phú quí, nhưng để có sự sống đời đời. Sống trên đời này mà lòng anh đã mơ ước, nghĩ về đời sau. Nhưng Chúa Giêsu đã đưa anh tới cốt lõi vấn đề: “ Sao anh lại hỏi tôi về điều lành, điều tốt ? Chỉ có một Đấng tốt lành mà thôi.” (c.17).

Nói đến đây, Ngài bỏ lửng. Ngài chẳng chỉ rõ ai là Đấng tốt lành hoặc giải thích thêm Đấng Tốt lành ở điểm nào. Chúng ta có thể nghĩ như vậy. Nhưng thực ra, người Do Thái nào cũng biết chỉ có Thiên Chúa là Đấng Tốt lành và điều tốt lành lành là chỉ được tìm kiếm nơi một mình Ngài mà thôi. Anh đang hỏi về điều tốt, vậy anh nghĩ gì vế Ngài. Ngài đặt vấn đề và gợi ý cho anh suy nghĩ.

Sau đó Ngài giúp anh trở về các giới luật mà theo đạo Do Thái là đủ tiêu chuẫn vào Nước Trời: “ Nếu anh muốn vào cõi sống hãy giữ các điều răn”. Và Ngài dẫn chứng một “lô” luật Môsê, những điều phải làm và những điều cấm làm, đã trích trong sách Xuất Hành chương 20 và Đệ Nhị Luật chương 5.

Khi nghe Chúa Giêsu nói về luật, anh nhanh nhảu đáp : Tưởng gì, chứ những điều ấy tôi đã giữ tốt, giữ trọn vẹn từ khi có trí khôn. Thật là một con người toàn vẹn cả đạo lẫn đời. Đây là mẫu gương mà nhiều người trong chúng ta mong ước. Xem như anh ta được cả phần xác lẫn phần hồn. Có lẽ khi trả lời Chúa Giêsu như vậy, lòng anh đã dâng trào niềm tự hãnh diện. Một bậc Thầy trong Israel đã nói lên những điều cẩn giữ, cần theo  vẻ luật, anh ta không sai sót điều nào. Anh ta vẫn bám sát tư tưởng của Chúa Giêsu, đòi nằng nặc  xem có còn điều gì mà anh thiếu sót không . “ .... tôi còn thiếu điều gì ?” (c. 20b).

Cuộc đối thoại đã đạt đến đỉnh điểm. Cái nút cần được tháo gỡ. Chúa Giêsu dẫn anh đến luật Môsê, đến các điều răn, một phần Ngài muốn khích lệ anh, phần khác Ngài muốn anh hiểu rằng: đó là điều căn bản anh đã giữ, bây giờ anh cần bước cao hơn, ngước lên cao mới đi tới cuộc sống đích thực. Sông luật là điều căn bản, nhưng để nên kiện toàn cần phải có lòng tin : “ Nếu anh muốn hoàn thiện, hãy bán tài sản đem cho người nghèo. Anh sẽ có kho tàng trên trời. Đến theo tôi” (c.21) . Đây là lệnh lên đường, lệnh dứt khoát triệt để. Đã đến lúc Chúa Giêsu muốn anh ta cắt bỏ mọi dây tơ vướng lòng.

Hơn nữa, có thể khi anh bán của cải là phần dư thừa và không cần thiết cho đời sống mai hậu, anh sẽ giúp một số người nghèo thoát cảnh bần cùng đói khổ; như thế anh góp phần xây dựng sự bình đẳng , lấp đầy hố ngăn cách giữa người giàu và nghèo trong xã hội. Công việc của anh khiến cho nhiều thế giới này thêm vui tươi, con người xích lại gần nhau hơn, vũ trụ nở hoa tình đại đồng ấm áp.

Và rồi ta nghe thánh sử Matthêu kết luận : “Nghe lời đó, anh ta buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải” (c.22). Một câu kết luận ngắn gọn nhưng nói lên quan điểm của việc chọn lựa của anh thanh niên “ không thể làm tôi Thiên Chúa lẫn tiền tài” (Lc 16,13).

Với Thiên Chúa anh có một khoảng cách. Anh chỉ đi đến đó và không muốn tiến xa hơn, không muốn nên hoàn thiện khi phải từ bỏ của cải mà anh đang bám víu, mà anh xem như là cứu cánh đời mình. Giờ đây của cải là “cái anh có”, anh đang biến nó thành “ cái là” của anh. Anh sẵn sằng khước từ lời mời cộng tác của Thiên Chúa, chỉ vì anh đã là nộ lệ cho của cải đời này.

Thái độ của người thanh niên cho thấy, của cải như một thứ keo dính đeo bám vào con người khiến họ không thể rời xa được “đồng tiền đi liền khúc ruột” là thế. Của cải tự nó không có gì là xấu, nhưng vì con người bị mê hoặc và tôn thờ nó như một thứ thần thánh, nó có sức lôi cuốn mãnh liệt, là vật cản vô hình khiến người ta không đến được với sự sống đời đời. Của cải có sức trói buộc khiến người ta mất ăn mất ngủ, mất cả mạng sống và linh hồn.

Có hai điều kiện để đạt đến sự sống đời đời là tuân giữ những lời Chúa dạy và từ bỏ mọi của cải vật chất trần gian. Thực hiện được hai điều kiện này quả là điều khó vì chúng ta còn mang thân phận yếu đuối. Chúng ta không đủ khiêm tốn và tin tưởng để trao phó cuộc đời cho Thiên Chúa lo liệu nên chỉ lo tìm sự bảo đảm nơi tiền bạc vật chất. Xin Chúa thêm ơn cho mỗi người chúng ta để chúng ta bán đi tất cả và chỉ đi tìm Nước Thiên Chúa mà thôi.