Từ 1975 đến nay, ngưòi Việt Nam phải bỏ xứ ra đi, hàng hàng lớp lớp. Cuộc thoát hiểm bằng ghe thuyền đã tạo cho văn học thế giới một từ ngữ mới: boat-people, thuyền nhân. Thuyền nhân Việt Nam ngày nay có mặt khắp năm châu bốn bể: Âu Châu thì từ Ý đến Anh, từ Na Uy đến Thụy Điển; Á Châu thì hiện diện ở Phi Luật Tân, Đại Hàn, Nhật Bản; Úc Châu, Mỹ Châu thì đã đành mà ngay Phi Châu cũng có, Do Thái cũng có.

Nhiều lớp thành công nhưng cũng nhiều lớp ít thành công hơn; nhưng cái quan trọng đề cập ở đây là gia đình. Gia đình Việt Nam bị một cơn bão lốc thổi vào dữ dội: chồng đi cải tạo, con chết trên Kampuchia, vượt biên chết, được các nước nhân đạo giúp đỡ thì phải hội nhập với một nền văn hoá xa lạ, từ ngôn ngữ đến cư xử . Sau vài chục năm định cư, ngưòi Việt cũng gặp phải các vấn nạn xã hội như trong xã hội Tây phương đủ mọi cám dỗ, khác nhau về phong tục, đủ mọi thử thách về ngôn ngữ, về học hành, về công việc. Các vấn nạn liên hệ đến gia đình như li dị, li thân, sống chung hoà bình không hôn thú, gia đình tái cấu trúc, đó là chưa nói đến con cái lớn lên không nói được tiếng Việt, bạo hành, băng đảng,  rồi đến chuyện bảo trợ cha mẹ qua nhưng cha mẹ không thích nghi đòi về lại Việt Nam .Thật vậy, đó là truyện dài ‘ngàn lẽ một đêm’, kể không hết vì trong các báo xuất bản hàng tháng, hàng tuần luôn luôn có các mục ‘gỡ rối tơ lòng’, ‘nhỏ to, to nhỏ’ khi nào cũng có thư hỏi và lời giải đáp đề cập đến các vấn nạn về tình yêu, về gia đình v.v..  

Đại học hè năm nay đề nghị chủ đề: Tình yêu, gia đình và hội nhập rất hợp thời.  Đây là một chủ đề nóng bỏng của thời đại, liên quan đến nhiều nhân tố khác nhau: xã hội, kinh tế, tâm linh, giáo dục, định chế, các nhân tố này có tương quan nhiều chiều vì chúng đan xen,  lồng ghép và ảnh hưởng quan hệ với nhau rất phức tạp.

 Muốn phân tích vấn đề cho kỹ, ta cần sử dụng  quan điểm hệ thống, nhìn gia đình như một hệ thống chịu tác động cả bên trong lẫn bên ngoài. Và ta phải phát hiện được các mối tác động bản chất quyết định sự phát triển của hệ thống thì mới điều khiển được sự hoạt động của nó .

 

  1. Quan điểm hệ thống là gì ?

 

Ta vẫn thường nghe và sử dụng hầu như quen thuộc các danh từ như hệ thống tuần hoàn, hệ thống tiêu hoá, hệ thống thần kinh (thần kinh hệ), hệ thống học đuờng, hệ thống y tế, hệ thống giáo dục, hệ thống thái dương (thái dương hệ).

Trong khoa học nhân văn như tâm lý học, ngôn ngữ học, phân tâm học, càng ngày các học giả càng sử dụng  các quan niệm về hệ thống như tính toàn bộ (globalité), sự tương tác (interaction), cấp độ (niveau) . Vài ví dụ :

Hệ thống xã hội bao gồm: dân số, phong tục tập quán, chuẩn mực đạo đức, thể chế và cơ cấu xã hội ; các yếu tố này ảnh hưởng lẫn nhau

Hệ thống kinh tế bao gồm: công việc làm ăn, sự thất nghiệp, tiền tệ, lạm phát, giàu nghèo và các yếu tố này cũng có ảnh hưởng lẫn nhau.. 

Các hệ trên tương tác với nhau, trao đổi năng lượng (energy), vật chất (matter) và thông tin(information).

Vậy hệ thống là gì ? Hệ thống là một tập hợp những mối tương tác giữa các bộ phận theo thời gian. Hệ thống gồm nhiều yếu tố, nhưng nhiều yếu tố không phải là hệ thống khi chúng chỉ là một tập hợp hỗn loạn, mất trật tự. Hệ thống có 4 điểm cơ bản sau đây:

 

– sự tương tác. Có nghĩa là sự tương quan giữa hai yếu tố không phải chỉ theo đường một chiều, do A tác động trên B mà nó có thể  do B tác động trên A nữa . Các tương quan giữa các hiện tượng là những tương tác có ảnh hưởng qua lại. Sự tương tác có thể đa dạng và tế nhị giữa hai cá nhân như : thầy-trò, vợ chồng, ông-cháu. Trong các khoa học truyền thông, sự tương tác ấy có thể là một ánh mắt, một nụ cười, một lời nói, một gợi ý v.v . Một dạng đặc biệt của tương tác là thông tin phản hồi (feedback)

 

–  tính toàn bộ. Bản thân hệ thống không phải là con số cộng của các bộ phận mà các bộ phận cùng hoạt động, tương tác với nhau để sinh ra một cái toàn thể (holisme) mà cái toàn thể là cái gì lớn hơn số cộng của các bộ phận.  Người Tây Phương nói là ‘ The whole is more than the sum of its parts’. Khái niệm toàn bộ dẫn ta đến nguyên tắc cấp bậc (hierarchy) giữa các hệ thống. Các vấn đề gặp phải không phải là một sự cộng lại các sự cố mà là một toàn thể có đặc tính riêng.

 

– sự tổ chức. Tổ chức là một sự sắp xếp các tương quan, các quan hệ giữa các thành phần để tạo ra một hình thức mới có những đặc tính riêng mà các thành phần tự nó không có. Tổ chức còn là một tiến trình theo đó  vật chất, năng lượng và thông tin chúng kết hợp lại nhau để có một chức năng. Tổ chức cũng hàm nghĩa  có sự điều tiết (regulation).

 

sự phức tạp (complexity). Một hệ thống bao giờ cũng phức tạp, do nhiều nguyên nhân nội tại (do nhiều quan hệ giữa các thành phần) cũng như ngoại tại (vì có may rủi, ngẫu nhiên, duyên may ..)

 

Giữa hệ thống này với hệ thống kia và ngay giữa các yếu tố trong cùng một hệ thống, có những dòng chảy : dòng chảy năng lượng, dòng chảy thông tin, dòng chảy tiền tệ, dòng chảy vật chất. Các dòng chảy này chạy qua các kho dự trữ của hệ thống và chịu các chuyển hoá để tạo ra các sản phẩm và các phế phẩm .

Các tương quan giữa hệ thống với môi trường xung quanh là các đầu vào (input) và đầu ra (output).

Sử dụng tư duy hệ thống giúp ta hiểu là mọi việc có tương quan nhiều chiều, phi tuyến tính, do tác động nhiều yếu tố xã hội, văn hoá, kinh tế, nhân văn.. vậy cần có cái nhìn toàn bộ chứ không phải cục bộ; ta cần phân tích toàn hệ thống thì mới tìm được giải pháp hữu hiệu

 

3       Ứng dụng quan điểm hệ thống vào gia đình

 

        3-1     Gia đình ngày xưa bị chi phối bởi những điều kiện khác xa  ngày nay vì

-có một hệ thống giá trị khác (hệ thống Nho giáo giáo điều một chiều, trọng nam khinh nữ, tam tòng tứ đức, tam cương, ngũ thường v.v. ). Cũng không phải ngẫu nhiên mà Hội nghị Phụ Nữ Thế Giới của Liên Hiệp Quốc đã họp ngay tại Bắc Kinh cách đây vài năm, mục đích để thay đổi nhận thức và đánh dấu vai trò ngang hàng của phụ nữ trong một xã hội vốn coi trọng nam giới của xã hội Trung Hoa

– hệ thống kinh tế khác (hệ thống nông nghiệp, phần lớn ở nông thôn).  Vì vậy, gia đình phải đông con để có người lo việc đồng áng.

– hệ thống y tế khác (thấp kém, tin vào bùa phép, ma qủy ..). Vì vậy, tỷ lệ chết sơ sinh nhiều,   tuổi thọ thấp. Cái này kéo theo cái kia, do đó muốn tái lập cân bằng, phải lập gia đình sớm, sinh ra tục tảo hôn.

Xưa kia, tình cảm đôi lứa bị đặt xuống hàng thứ ba, sau hai chữ hiếu, trung:

 

Câu thơ ba chữ rành rành

Chữ trung, chữ hiếu, chữ tình là ba

Chữ trung thì để phần cha

Chữ hiếu phần mẹ, đôi ta chữ tình

 

Cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy: ‘con gái mười hai bến nước, trong nhờ, đục chịu’ và gả con căn cứ vào giai cấp, địa vị, quan hệ thâm tình, môn đăng hộ đối, toan tính tiền bạc:

 

 Mẹ em tham thúng xôi rền

Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh Hưng

Em đã bảo mẹ rằng đừng

Mẹ hấm, mẹ hứ, mẹ bưng ngay vào

Bây giờ kẻ thấp người cao

Như dôi đủa lệch, so sao cho bằng.

 

Đũa lệch có nghĩa là chênh lệch qúa nhiều về tuổi tác,

-có thể chồng già như:

 

Vô duyên lấy phải chồng già

Ra đường người hỏi rằng cha hay chồng

Nói ra đau đớn trong lòng

Cái nợ truyền kiếp,  phải chồng em đâu

 

-có thể chồng trẻ như:

 

Mang danh thân gái có chồng

Chín đêm trực tiết, nằm không cả mười

Nói ra sợ chị em cười

Má hồng bỏ qúa thiệt đời xuân xanh

 

Hoặc chênh lệch về chân giá trị của mỗi bên như các câu ca dao sau:

 

-Tiếc thay hạt gạo tám xoan

Thổi nồi đồng điếu lại chan nước cà

             -Cổ tay em trắng như ngà

Răng đen rưng rức, chồng xa kém người

Khốn nạn thay, thân nhạn ở với ruồi

Tiên ở với cú, người cười với ma

Con công ở lẫn con gà

Rồng kia rắn nọ coi đà sao nên ?

 

3.2    Gia đình ngày nay bị chi phối bởi nhiều hệ thống khác xưa:

 

-hệ thống giá trị khác:   ngày nay, phụ nữ chiếm những địa vị trước kia dành cho nam giới,   nam nữ bình quyền nên người phụ nữ cũng có thể làm Tổng Thống, Thủ Tướng như nam giới (Phi luật Tân, Anh, Tích Lan, Hồi quốc, Ấn độ là các chứng cớ gần đây). Xã hội ở hải ngoại đã có các qui chế hưu bổng, dưỡng lão nên trai hay gái cũng không quan trọng như xưa.

Trai mà chi, gái mà chi

Con nào có nghĩa, có nghì là hơn

 

Trai hay gái không quan trọng bằng chất lượng: chỉ cần đứa con nào biết cách ăn ở đối xử với cha mẹ, làm tròn hiếu thảo với cha mẹ là hơn hết .

Thực vậy, nếu chỉ thích đẻ con trai thì tình trạng nam thiếu, gái thừa sẽ lại là một vấn nạn về nhân khẩu học. Nhiều xứ, đặc biệt là Trung Quốc, tình trạng không cân đối này diễn ra ở mức độ đáng ngại và cán cân nghiêng về phái nam: tỷ lệ bé trai/gái duới 5 tuổi ở Trung Quốc là 118/100 và tình trạng này tương tự ở Đài Loan. Phụ nữ càng ít thì tỉ lệ sinh sản càng thấp. Chính vì vậy, có tình trạng buôn gái sang Trung Quốc, gả chồng Đài Loan. Đã có tiên đoán là vào năm 2020, số ‘thặng dư’ thanh niên Trung Quốc ở độ tuổi 20 sẽ vượt quá toàn bộ số phụ  nữ Đài Loan !

– hệ thống kinh tế  khác: thương mãi được xem trọng, sự đô thị hoá và toàn cầu hoá khiến lưu thông hàng hoá và dịch vụ nhiều hơn trưóc, không phải giới hạn chỉ trong nông nghiệp với tầm nhìn giới hạn ở lũy tre xanh, cái cổng làng

-hệ thống y tế phát triển mạnh với khoa học và dụng cụ tân tiến, trẻ em sơ sinh chết rất ít. Tại các xứ tiền tiến, tỷ lệ em bé sơ sinh chết chỉ  là 9 trên 1000 em và ngay cả tại những xứ kém mở mang như Mexique trước kia năm 1960, tỷ lệ chết trẻ em sơ sinh là  87 em trên 1000  nhưng ngày nay chỉ 26 em (chỉ có vài xứ chậm tiến mới có tỷ lệ trẻ sơ sinh chết còn cao như Haiti (105 tức một bé trên 10), Bolivie (88), Perou (65), Nicaragua (58).Trai cũng như gái chủ động được sự sinh đẻ vì có phương tiện.   

– hệ thống xã hội cũng đổi thay: ở thành thị thì các giây liên kết xã hội không còn chặt chẽ như ở nông thôn; trinh tiết thì thông thoáng hơn, bớt khắt khe hơn. Giới tính không  còn đặt ra vì con gái đi học đông và còn giỏi hơn con trai; vì trình độ giáo dục của phụ nữ ngày càng cao nên phụ nữ chủ động được sự sinh đẻ và dễ tự túc về kinh tế, không bị lệ thuộc vào ông chồng như xưa . Xã hội ngày nay có quan điểm tự do và cá nhân chủ nghĩa hơn.

– hệ  thống truyền thông chuyển tải  cực nhiều, loan truyền cực nhanh qua các phương tiện hiện đại như Internet, thâm nhập cực sâu (đến mọi nơi ), tác động cực mạnh có ảnh hưởng hoặc tích cực xây dựng hoặc tiêu cực đến tâm trạng, ý thức . Ngày nay, nhờ công nghệ Internet, kết nhau qua mạng, nói chuyện trên phone, không cần môi giới, không cần những bức thơ tình nồng cháy dài, không cần bông hồng trao tay, chỉ click bông hồng trên máy là người yêu có ngay trên màn máy tính!

 

Vì toàn bộ các hệ xã hội, hệ kinh tế, hệ giáo dục đều khác xa ngày xưa dưới chế độ phong kiến nên cũng có ảnh hưởng đến hệ phụ gia đình:

-gia đình ngày nay nhỏ hơn, lập gia đình muộn hơn, ngại sinh con sẽ phổ biến hơn do đó số con thường 1 đến 2 con mà thôi .. Gia đình càng nhỏ đi, một phần vì đời sống kinh tế, một phần vì chủ động đuợc sự sinh đẻ nên số con của mỗi phụ nữ lấy chồng cũng quãng 1.8 con, có nghĩa là 1000 phụ nữ sinh ra 1800 con. Đó là số liệu ở Viet Nam gần đây. Riêng trung bình phụ nữ Đài Loan và Hàn Quốc hiện chỉ sinh 1.4 con; HongKong 1.25 .Trung Quốc thì chỉ cho phép đẻ một con. Tỷ lệ sinh sản ở Âu Châu cũng thấp, thấp hơn mức cần có để tạo ra thế hệ thay thế. Ở Bresil, năm 1960, số con cho mỗi phụ nữ là 6, ngày nay chỉ còn 2 và Mexique cũng vậy, do đó số di dân lậu qua Mỹ cũng giảm đi..

-tuổi thọ cũng tăng lên, ngày nay, tuổi thọ trung bình các nước tiền tiến là 73 tuổi, thay vì 55 tuổi như xưa .

-gia đình ngày nay thì tỷ lệ li dị rất lớn .Tỷ lệ li hôn ngay tại các nuớc châu Á cũng càng ngày càng cao: từ vài % cho đến dưới 20% tuy còn xa tỷ lệ 50% của Mỹ, 37% của Pháp nhưng cũng là hồi chuông cảnh báo về sự phân rã gia đình, tế bào của nền tảng xã hội .

Hiện nay, tại nhiều xứ ,  có một cặp trên 3, có xứ  một cặp trên 2 cuối cùng đi đến ly dị (50%), trong khi đó, cách đây 30 năm, chỉ một cặp trên 10 mới li dị (10%).

-vì ly dị nên nhiều gia đình ngày nay chỉ có cha hoặc chỉ có mẹ (familles monoparentales); ly dị thì con cái phần lớn tòa án cho bà mẹ giữ, cha  chỉ có thể đến thăm  con vào những ngày giờ nhất định, do đó trẻ  mất định hướng.

 

Con chung, anh để tôi nuôi

Tình chung anh nỡ để xuôi mặc đời

 

Ở Mỹ, năm 1991, chỉ có 50.8% trẻ em Mỹ dược sống trong gia đình truyền thống bên cạnh cha mẹ đẻ . Ngưòi Mỹ gốc Hispanic thì tỉ lệ đó giảm xuống 38%, gốc châu Phi lại càng đáng ngại: 27%

 Mà các trẻ em sống trong các gia đình này thường không ai dạy dỗ, con không cha như nhà không nóc và dễ  hư hỏng, dễ trở thành đối tượng của cần sa, ma túy, bỏ học, phạm pháp. Và hậu qủa là xã hội gánh vác.

-từ 1986 đến 1996, số người Canada sống chung không cưới hỏi (union libre) tăng lên xấp đôi.

-nhiều ‘bà mẹ trẻ độc thân’ (teenager mothers)  nghĩa là các thiếu nữ ở tuổi vị thành niên  có con không biết cha là ai, nói nôm na là đẻ con hoang : các thống kê cho thấy năm 1960, chỉ có 5.3% trẻ em ở Hoa Kỳ là con hoang. Năm 1990, tỉ lệ là 28%. Nhiều  thiếu nữ này có con cái với các bạn trai khác nhau .

Như vậy, cưới hỏi ít hơn, còn đã kết hôn thì lại ly dị nhiều hơn và sớm hơn thời trước. Hệ luận là dân số thấp xuống

 

Vài thống kê ở Quebec (dân số quãng 7 triệu), một tỉnh bang của Canada cho thấy:

.Số li dị (1998): 16 916

.Số cưới hỏi (1998): 23 756

.Cặp sống không cưới hỏi: (1991): 305 920

.Cặp sống không cưói hỏi (1996) :400 270

.Thu nhập trung bình một gia đình có con, ở Canada: 65 000$ (1 Can$= 0.65 US$)

.Thu nhập trung bình một gia đình chỉ có một mẹ/ một cha ở Canada: 22 000$

.Trung bình số con trong mỗi gia đình*: 3,85 (1951) và 1,4 (1981)

Số gia đình một cha hoặc một mẹ*: 85 000 (1951) và 208 435 (1981)

Số con từ các bà mẹ độc thân*: 638 (1951) và 27 530 (1981)

*: theo Robert Vallerand trong sách Les fondements de la psychologie sociale, trang 90

 

Tóm lại gia đình vừa nhỏ lại, vừa nổ tung (rapetissement-éclatement). Các nhà dân số học cũng không biết diện mạo tương lai của gia đình  trong 50 năm nữa sẽ ra sao. Không có dấu hiệu là tỷ lệ sinh đẻ sẽ cao hơn trong những thập niên sắp đến . Thực vậy, phụ nữ lập gia đình càng ngày càng trễ, nên không thể sinh đẻ nữa; nhiều cặp vợ chồng đi làm cả hai và không muốn có con, được gọi dưới danh từ DINK nghĩa là double income, no kids.

 Xã hội hoá già nhanh chóng; chỉ vài chục năm nữa thôi, các thế hệ baby boom (sinh trong khoảng 20 năm sau đệ nhị thế chiến) sẽ già hết; lúc đó trên toàn thế giới sẽ có 20% dân số là trên 65 tuổi. Vì dân số đông nhất ở Á Châu, nên người ta sẽ chứng kiến lão hoá rõ ràng nhất ở Châu Á. Sẽ có danh từ papy-boom để chỉ hiện tượng xã hội này. Tháp dân số trước kia thì lớn ở đáy, nhỏ ở trên; trong tương lai gần vì trẻ con ít, người già nhiều nên tháp dân số sẽ là tháp đảo ngược.