Trong những năm gần đây, có một thực tế đáng âu lo là mỗi năm có hàng trăm ngàn tín hữu Công Giáo chính thức làm đơn lên tòa án tuyên bố bỏ đạo, và như thế khỏi phải đóng thuế 9% thu nhập cho Giáo Hội. Theo các dữ liệu được Hội Đồng Giám Mục Công Giáo Đức công bố 216,078 tín hữu Công Giáo đã bỏ đạo trong năm 2018. Trong khi đó, Giáo Hội Tin Lành Đức cho biết 220,000 tín hữu Tin Lành đã rời bỏ hàng ngũ của họ.

ChadPecknold.jpg

Một nghiên cứu được công bố bởi Đại học Freiburg vào tháng 5 đã kết luận rằng nếu tình hình vẫn tiếp tục như hiện nay, số các tín hữu của Giáo Hội Công Giáo tại Đức sẽ giảm chỉ còn một nửa vào năm 2060.

Khó khăn hiện nay tại Đức là trước nguy cơ trầm trọng này, các Giám Mục không tìm ra được hướng đi, và đang tìm cách thay đổi các giáo huấn và kỷ luật của Giáo Hội theo hướng Tin Lành hóa đạo Công Giáo.

Chad C. Pecknold, giáo sư Thần Học Hệ Thống trường Đại Học Công Giáo Mỹ Châu tại Washington DC có bài nhận định sau được đăng trên Catholic Herald ngày 13 tháng 9 vừa qua, sau đó trên nhiều cơ quan truyền thông Công Giáo khác. Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây: 
The German bishops are proposing a counterfeit mercy. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt ngữ.


The German bishops are proposing a counterfeit mercy

Các Giám Mục Đức đang đề xuất một lòng thương xót giả

Chad Pecknold


Họ muốn thay đổi giáo huấn không phải để giải thoát con người khỏi tội lỗi, nhưng nói rằng tội lỗi không còn là tội lỗi nữa

 

marx.jpg

Bất cứ ai đã từng nghiên cứu cuộc tranh cãi giữa Thánh Augustinô với Pelagiô đều biết rằng đôi khi ta có thể sử dụng một từ với một ý nghĩa ngược lại. Pêlagiô đã sử dụng từ ‘grace’ - ‘ân sủng’ khá thường xuyên, và luôn thừa nhận ‘sự cần thiết của ân sủng’. Kết quả là, nhiều Giám Mục đã bán tín bán nghi. Thánh Augustinô không dễ bị lừa. Ngài truy cho tới cùng những gì Pêlagiô muốn nói qua từ ‘ân sủng’. Ngài không tuyệt vọng trước việc bao nhiêu người ủng hộ cho dị giáo này. Ngài chỉ đơn giản là tiếp tục với câu hỏi về ân sủng, và cuối cùng đã phơi bày sự thật rằng Pêlagiô dùng từ ân sủng với ý nghĩa không gì khác hơn là ‘những năng lực tự nhiên’ của chúng ta. Nói cách khác, Thánh Augustinô đã sử dụng lý trí để giúp tất cả các Giám Mục anh em của mình thấy rằng khi Pêlagiô sử dụng từ ‘ân sủng’, ông ta có ý nói về một điều hoàn toàn ngược lại. Nhờ Thánh Augustinô mà giờ đây chúng ta có thể thấy một ý kiến nhiều người cho rằng có thể chấp nhận được, thật ra, lại là một dị giáo đáng nguyền rủa.

Trong thời đại của chúng ta cũng vậy, rất nhiều từ đang được sử dụng với ý nghĩa ngược lại, và vì vậy, nhiệm vụ của chúng ta, trong một số khía cạnh nhất định, khó khăn hơn. Nếu ai đó nói về “phước lành của tự do”, bạn có thể cảm thấy một nỗi xúc cảm dành cho tự do đang chạy rần rần trên đôi chân yêu nước của bạn. Nhưng nếu xem xét kỹ hơn bạn có thể phát hiện ra rằng ý nghĩa của ‘tự do’ người ta đang nói đây thực sự chỉ có nghĩa là ‘giấy phép’ – đó là sự lừa dối suy đồi biện minh cho thứ lựa chọn muốn làm gì thì làm không bị ràng buộc [bởi bất cứ trách nhiệm nào và như thế là giết chết tự do đích thực] - bạn nên cảnh giác hơn và quan tâm đến việc người nói thường sử dụng chữ tự do để nói về điều ngược lại như thế nào.

Chúng ta cũng thấy cùng một năng động như thế khi người ta nói về lòng thương xót, và những thứ lòng thương xót giả mạo. Lòng thương xót là một loại cảm thông dành cho kẻ có tội, nhưng lòng thương xót giả mạo hầu như luôn là một hình thức cảm thông với chính tội lỗi. Trong mớ bòng bong những thuật ngữ của nền văn hóa trị liệu của chúng ta, thương xót đang có ý nghĩa là một cái gì đó giống như “đồng tình”. Để thể hiện sự đồng cảm với một tội nhân, người ta cho rằng cần phải thể hiện sự đồng cảm rất lớn với chính tội lỗi. Với một ý nghĩa giả mạo như vậy, lòng thương xót dành cho kẻ có tội không giúp giải phóng kẻ có tội khỏi một tội lỗi thực sự, nhưng chỉ là khoác cho những tội lỗi thực sự ấy một ý nghĩa ngược lại – “Khốn thay những kẻ bảo cái tốt là xấu, cái xấu là tốt, những kẻ biến tối thành sáng, sáng thành tối” (Is 5:20).

Thoáng một cái, ngôn ngữ về lòng thương xót có thể trở nên tế nhị, bắt đầu có nghĩa ngược lại mà ta không cảm nhận được. Nó ngay lập tức trở nên vô lý khi nó được làm rõ. Không ai có thể khẳng định một cách nghiêm túc rằng thời gian Chúa dành để khuyên bảo các cô gái mại dâm thực sự là một sự đồng hành mục vụ với “các công nhân ngành tình dục” đang phải lao động dưới một hệ thống bất công! Quá vô lý! Nhưng những điều phi lý tương tự đang được đề xuất thường xuyên trong Giáo hội, và chúng phát sinh khi chúng ta không chú ý đến ý nghĩa thực sự của những từ ngữ. Ân sủng không phải là sức riêng tự nhiên của một người. Tự do không phải là giấy phép. Lòng thương xót không phải là sự thông cảm với tội lỗi.

Ở Đức, trái với ý muốn của Đức Thánh Cha, các Giám Mục đã và đang theo đuổi một chương trình thương xót giả. Các vị muốn tự do hóa cuộc sống độc thân linh mục không phải để thánh hóa chức tư tế, nhưng là xóa bỏ một quy luật dẫn đến sự thánh hóa ấy. Các vị muốn thay đổi giáo huấn về đồng tính luyến ái không phải vì thương xót cho gánh nặng tội lỗi nặng nề, nhưng để nói rằng tội lỗi không còn là tội lỗi nữa. Các vị muốn chấp nhận quan hệ tình dục ngoài hôn nhân không phải để cổ vũ cho “quan hệ tình dục tích cực”, nhưng vì muốn phủ nhận hôn nhân là định chế duy nhất cho phép hành vi tình dục diễn ra như mong muốn của Thiên Chúa.

Đức Hồng Y Rainier Woelki, Tổng Giám mục Köln, là một ngoại lệ rất đáng chú ý. Giáo hội ở Đức cần nhiều Giám Mục dám đứng lên như ngài. Mùa xuân vừa rồi, Đức Hồng Y lưu ý rằng những người đang thúc đẩy những thay đổi này chưa bao giờ thậm chí quan tâm đến việc tự hỏi bản thân mình những câu hỏi có tính chất xã hội học cơ bản nhất: “Tại sao các Kitô hữu Tin Lành ở Đức không phát triển?” Họ là những người đã thực hiện tất cả các đề xuất này nhưng đã không tìm thấy chút triển vọng nào, thậm chí còn đau khổ hơn nữa. Đức Hồng Y Woelki viết rằng mặc dù đã thực hiện tất cả những gì các Giám Mục Công Giáo ở Đức hiện đang đề nghị, người Tin Lành “không khá hơn chút nào – có thể nhìn thấy nơi cách thực hành đức tin của họ, cách họ chỉ tuyển dụng được rất ít các thừa tác viên mục vụ, và số lượng các tín hữu rời khỏi giáo hội của họ còn ồ ạt hơn. Chẳng nhẽ những điều đó không chỉ ra rằng vấn đề thực sự nằm ở chỗ khác, và toàn bộ Kitô Giáo đang phải đương đầu với một cuộc khủng hoảng về đức tin và sự hiểu biết, hơn là thích nghi với một ‘thực tế mới của cuộc sống’ được trình bày như thể là không thể cưỡng lại được?” Chính xác là như thế.

Cảm nhận của tôi là các Giám Mục khác ở Đức không hỏi câu hỏi tuyệt vời của Đức Hồng Y Woelki vì các vị không có hứng thú với câu trả lời. Các ngài thao tác trên một định nghĩa giả về lòng thương xót, là một định nghĩa đang lừa dối chính các vị và đàn chiên của các vị. Tuần vừa qua, Vatican nói rằng các Giám Mục Đức đang lên kế hoạch cho một tiến trình công nghị “có hiệu quả ràng buộc” mà, trên thực tế, “là vô giá trị về mặt giáo hội học”. Đó là một lời thẳng thắn, không quanh co.

Tháng Sáu vừa qua, chính Đức Giáo Hoàng cảnh báo các Giám Mục Đức: “Mỗi lần các cộng đồng giáo hội đã cố gắng để giải quyết vấn đề của nó một mình, tin tưởng và tập trung hoàn toàn vào lực lượng của nó hoặc các phương pháp của nó, sự thông minh của nó, ý chí hoặc uy tín của mình, cuối cùng nó chỉ làm gia tăng và kéo dài tệ nạn nó đã cố gắng giải quyết.” Đó là một lời thẳng thắn, không quanh co.

Các Giám Mục ở Đức nên bắt đầu lắng nghe Đức Giáo Hoàng hơn là những người muốn làm giáo hoàng. Đức Thánh Cha đã ban cho họ một đề nghị chú tâm đến việc truyền giáo. Đáng buồn thay, như với tất cả các thứ giả mạo, ân sủng giả, tự do giả và lòng thương xót giả các Giám Mục Đức dường như đang bước trên một con đường tự hủy diệt. ‘Ưu tiên truyền giáo’ mà Đức Thánh Cha kêu gọi các vị chấp nhận cho tiến trình công nghị của các vị có thể cần phải bắt đầu với chính các Giám Mục ở Đức.

 

J.B. Đặng Minh An dịch