3. Ăn theo văn hoá Công giáo

Trong tinh thần hội nhập văn hoá được Đức thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đề ra  trong Tông huấn Giáo Hội tại châu Á (năm 1999), người Công giáo Việt Nam hiểu rằng ăn là hoà nhập vào sự sống và tình yêu của Thiên Chúa với muôn loài.

 

Ăn là hoà nhập vào một cộng đồng hay một gia đình: từ gia đình riêng tư có cha mẹ, ông bà, con cháu, đến gia đình rộng lớn hơn là dân tộc, nhân loại, vũ trụ và lớn hơn cả là gia đình Thiên Chúa. Mỗi thành phần trong cộng đồng đều có trách nhiệm xây dựng và hy sinh cho nhau như những tế bào sống trong cùng một thân thể vĩ đại, nhiệm mầu. Khi đưa lương thực vào hệ tiêu hoá để chuyển đổi chúng thành dòng máu  nuôi sống mình, là con người liên kết với vạn vật trong vũ trụ và mọi người trên trái đất. Cơm bánh, rau củ, hoa trái, thịt cá… được hoà trộn thành một chất liệu chung tạo nên sự sống. Sự hiệp thông như mời gọi mỗi cá nhân, mỗi thành phần bỏ đi những cái riêng tư ích kỷ để hoà nhập vào cuộc sống chung và đón nhận trách nhiệm đối với muôn loài.

 

Việc hoà nhập vào sự sống phải dẫn chúng ta tôn trọng tuyệt đối sự sống của tha nhân. Vì thế, ta không thể trở thành những kẻ “giết người” khi bán những thứ hàng độc hại hay sản xuất những nông sản còn tồn đọng chất độc, khi ướp cá tôm, hoa trái bằng hoá chất nguy hiểm. Thánh Phaolô đã diễn tả sự hoà nhập đó: “Khi ta nâng chén chúc tụng mà cảm tạ Thiên Chúa, há chẳng phải là chúng ta dự phần vào máu Đức Kitô ư? Và khi ta cùng bẻ Bánh Thánh, đó chẳng phải là dự phần vào Thân Thể Người sao? Bởi vì chỉ có một tấm bánh và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể” (1Cr 10,16-17).

 

Việc hoà nhập này dẫn mỗi “người ăn” tham gia vào một “giao ước thiêng liêng”, một hợp đồng tinh thần mà mỗi bên cam kết sẽ thực hiện vì họ mắc nợ lẫn nhau. Khi ăn là ta mắc nợ với cha mẹ, ông bà, tổ tiên và cả nhân loại: nợ mồ hôi, nước mắt, sức lực, máu xương, trí tuệ và cả sinh mạng nên ta phải trả nợ cho con người, cho đất nước và nhân loại bằng đời sống tích cực học hành, làm việc thay vì chỉ ăn để sống cho mình.

 

Ta mắc nợ với muôn loài về sự sống, tình yêu chúng dành cho ta: bao nhiêu ngọn rau, tôm cá chết đi để ta được sống, trong khi chúng cũng yêu quý sự sống chẳng thua kém con người. Như thế, mỗi giây phút ta sống đều quý giá, linh thiêng, nên ta phải trân trọng, bảo vệ và phát huy để biểu lộ lòng biết ơn đối với muôn loài.

 

Người Công giáo không tin rằng những sinh vật là tiền kiếp của con người và phải chịu trách nhiệm theo luật nhân quả. Một con kiến đốt ta, một con chó cắn ta chỉ hành động theo bản năng và chúng không có ý thức và ý chí khi thực hiện hành động ấy, nên chúng không thể chịu trách nhiệm về việc làm của mình. Hơn nữa, người Công giáo khi ăn chúng để tạo nên sự sống cho mình thì cũng là giúp chúng được chia sẻ sự sống vĩnh hằng và phi thường với con người. Như thế, ăn là cứu độ muôn loài!

 

Ăn còn là hoà hợp trong tình yêu. Để tạo nên sự sống cho ta, nhiều người phải mòn mỏi vất vả làm việc, thậm chí đón nhận cả cái chết. Họ đổ biết bao giọt mồ hôi, nước mắt, sức lực ở chợ đời để đem về cho ta con cá, bát cơm. Có người phải vùi thân trên biển vì cơn bão bất ngờ. Có người phải cụt tay chân vì quả mìn còn sót lại trên đồng ruộng. Bao chiến sĩ đã hy sinh thân mình để bảo vệ từng tấc đất quê hương để dân tộc ta mới có được vườn rau, ruộng lúa. Động lực khiến tất cả hy sinh cho ta chính là tình yêu. Muôn loài, muôn vật, muôn người đều yêu ta.

 

Đó chẳng phải là thứ tình cảm yêu đương giữa nam nữ như người ta thường hiểu, nhưng là tình yêu trong sáng, quảng đại làm thành bản chất thiêng liêng của muôn loài. Những bông hoa khoe sắc, toả hương mà chẳng đòi một đồng xu nhỏ, cũng chẳng cần biết ai là người tốt hay kẻ xấu. Những ngọn rau, tôm cá hy sinh sự sống mà chẳng cần biết ai là người công chính hay kẻ gian tà. Chúng bắt chước “Cha Trên Trời cho mặt trời mọc lên soi sáng cho kẻ xấu cũng như người tốt và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất lương” (Mt 5,45). Hiểu được và cảm nhận được tình yêu đó, ta mới sẵn sàng chia sẻ tiền bạc, tài năng, tình yêu, sự sống cách quảng đại và vô vị lợi cho bất cứ ai. Sống như thế ta mới đáng ăn như những người con của Trời và anh em ruột thịt của muôn loài.

 

Trong lịch sử nhân loại, dân tộc Do Thái đã nhận được lương thực từ trời mà họ gọi là “manna” trong suốt 40 năm khi họ đi trong sa mạc Sinai để tìm về Đất Hứa. Đó chỉ là hình ảnh báo trước về “tấm bánh trường sinh từ trời xuống” (Ga 6,51) là Đức Giêsu Kitô, Ngôi Lời Thiên Chúa làm người, để muôn loài có thể đón nhận Người và đạt được sự sống vĩnh hằng, kỳ diệu của Thiên Chúa.

 

Đức Giêsu đã nhiều lần làm các phép lạ hoá bánh và cá ra nhiều, chữa lành bệnh tật, cho kẻ chết sống lại, chia sẻ cho tất cả tông đồ và môn đệ quyền năng ấy nếu họ tin tưởng, đón nhận, kết hợp với Người và “ăn” Người để làm nên một thân thể nhiệm mầu, có chung một sự sống phi thường của Thiên Chúa. Những người tín hữu Công giáo cũng đã ăn theo “giao ước mới” được Đức Giêsu thiết lập (x. Mc 14,22-24; Dt 9,11-15) để thực hiện bữa ăn “agape” (bác ái) khi cùng bẻ bánh ăn chung với nhau (x. Cv 2,42.46; 20,7). Tuy nhiên, nhiều người vẫn chỉ đón nhận tấm bánh theo hình thức bên ngoài của bí tích Thánh Thể, nên họ chưa thật sự phát huy hiệu quả phi thường của tấm bánh Giêsu trong đời sống.

 

 Lời kết

Trong nền văn minh tình yêu và văn hoá sự sống, con người  không còn chỉ đạt tới điểm “ăn ngon, mặc đẹp”, nhưng “ăn thần, mặc thánh”, nghĩa là ăn để phát huy đời sống tinh thần, để trở nên thần thánh, vượt ra khỏi vật chất, không gian và thời gian cho những giá trị vĩnh hằng. Như thế, niềm mơ ước của Tần Thuỷ Hoàng tìm được của ăn trường sinh bất lão đã được chúng ta biến thành hiện thực nhờ Đức Giêsu Kitô, vì Người thật sự là “bánh hằng sống từ trời xuống” (Ga 6,51). Lịch sử của Giáo hội Công giáo đã và đang làm chứng về điều đó. Bạn có bao giờ mơ ước ăn được tấm bánh đó không?

 

Câu hỏi gợi ý

1. Bạn có những suy tư gì về việc ăn của con người và của chính mình?

2. Bạn dự tính thay đổi bữa ăn của gia đình mình như thế nào để thể hiện việc hoà nhập vào sự sống và tình yêu?

 

Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn

 

PHẦN HUẤN GIÁO

Phần IV: GIÁO DÂN TRONG CHIẾU KÍCH RAO GIẢNG TIN MỪNG CHO THẾ GIỚI

TÍNH TRẦN THẾ CỦA GIÁO DÂN TRONG SỨ MỆNH HỘI THÁNH RAO GIẢNG TIN MỪNG CHO THẾ GIỚI

 

“Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần. Họ không thuộc về thế gian cũng như con đây không thuộc về thế gian… Như Cha đã sai con đến thế gian, thì con cũng sai họ đến thế gian. Vì họ, con xin thánh hiến chính mình con, để nhờ sự thật họ cũng được thánh hiến.” (Ga 17:14-19)

 

Trong bài 11 ở trên, chúng ta đã minh định rằng: việc rao giảng Tin Mừng là một trong các nhiệm vụ chính mà Hội Thánh của Đức Ki-tô phải thực hiện. Để chu toàn được nhiệm vụ này, tương tự như trong nhiệm cục cứu độ của chính Đức Giê-su, nhập thể là một đòi hỏi không thể thiếu của Hội Thánh. Lời cầu nguyện của Đức Giê-su cho các Tông Đồ trước hết, và cho toàn thể Hội Thánh nói chung, đã được thánh sử Gio-an ghi lại trong chương 17, sẽ mãi mãi là kim chỉ nam cho sự hiện diện của mọi phần tử Hội Thánh sống trên trần thế. Nếu các linh mục và tu sĩ làm toát lên yếu tố ‘không thuộc về thế gian’ của Hội Thánh, thì nơi các Ki-tô hữu giáo dân sẽ đề cao như nòng cốt yếu tố ‘không cất họ khỏi thế gian… con sai họ đến thế gian’. Chính vì thế mà Tông Huấn Người Ki-tô Hữu Giáo Dân số 15 đã mạnh dạn minh xác: “Phẩm giá của bí tích Thánh Tẩy có một dạng thức khác, làm cho người giáo dân khác biệt với linh mục và tu sĩ nam nữ, nhưng không tách biệt khỏi họ. Công Đồng Va-ti-can II đã chỉ ra rõ dạng thức đó là tính cách trần thế như sau: “Tính cách trần thế chính là tính cách riêng và đặc thù của các Ki-tô hữu giáo dân” (xem LG số 32)” (CFL 15)

 

1/ Tính cách trần thế là gì?

 

Để có thể hiểu được ý mà Công Đồng muốn nói khi đề cập tới ‘tính cách trần thể’, ta không nên chỉ đơn giản hình dung đó là việc ‘sống đạo ở giữa đời’, nhưng phải được hiểu trong ánh sáng của mầu nhiệm nhập thể, như Đức Giê-su đã từng sống khi còn ở trần gian. Trước hết, dầu hoàn toàn thuộc về Chúa Cha và sống trong tác động của Chúa Thánh Thần, Ngôi Hai đã nhập thể để trở thành một con người giống chúng ta mọi đàng, đồng thời Người cũng đã lãnh nhận và sống cách tròn đầy và sung mãn nhất tất cả những gì là tính nhân bản và xã hội tốt đẹp của cuộc sống nhân loại. Kinh thánh cho ta biết rằng: Người đã sống giống chúng ta mọi đàng ngoại trừ tội lỗi. Còn hơn thế nữa, việc nhập thể của Người không dừng lại ở việc mặc lấy xác phàm để sống giống chúng ta mọi đàng, nhưng còn mang một sứ mệnh vô cùng quan trọng và cao quí, là đem các giá trị Tin Mừng của tình yêu Thiên Chúa vào mọi thực tại trần thế của nhân loại, để cứu chuộc và thăng hoa nó tới giá trị vĩnh cửu.

Cũng tương tự như thế, Hội Thánh, trong tư cách là chi thể của nhiệm thể Đức Ki-tô, không bao giờ tách mình ra khỏi các thực tại trần gian. Trần thế là một phần không thể thiếu của Hội Thánh hữu hình, một phần cấu tạo cơ bản của Hội Thánh trong chính bản chất thánh thiện tự tại nhất của mình. Trước hết ta biết rằng: trần thế, trong đó có các thực tại đa diện của nó, là công trình do chính Thiên Chúa sáng tạo, cho nên nó rất cao đẹp; ngay từ khi được tạo dựng, nó đã hàm chứa rất nhiều giá trị chân chính. Tuy nhiên, lịch sử đã cho thấy: nó đồng thời cũng là một thực tại đổ vỡ, bị nhấn chìm trong tội lỗi và cần được cứu chuộc. Thế cho nên, Hội Thánh, tuy sống giữa và sống bằng các thực tại trần thế, nhưng vẫn không thể nào để mình bị chìm ngập trong trần gian, và bị hoàn toàn đồng hóa với nó. Ta có thể lấy câu ca dao Việt Nam bình dân để ví von kiếp sống các Ki-tô hữu với bông hoa sen mọc lên giữa đầm lầy: ‘gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn’. Bông sen rực rỡ, tuy sống trong bùn và hút các chất dinh dưỡng từ bùn, nhưng lại không hề bị lây nhiễm mùi tanh hôi và vẻ nhơ bẩn của vũng bùn đen.

Rồi còn hơn thế nữa, trong sứ mệnh cao cả mà Hội Thánh đảm nhận từ Đức Giê-su trước khi về trời là lên đường loan báo Tin Mừng cho toàn thể nhân loại khắp tứ phương thiên hạ, Hội Thánh hiểu rằng mình chỉ có thể chu toàn mệnh lệnh này nếu, mình không tự tách khỏi các thực tại trần gian. Hội Thánh thấy mình được sai đi vào trong trần thế, mình phải đồng hành với những bước đi gập gềnh của con người qua các thế hệ, và tiếp nhận những gì là giá trị chân thực của thực tại này như một phần của sức sống mình, hầu cứu chuộc nó. Yếu tố ở giữa ‘đời’ và đồng hành với cuộc sống nhân loại là một đòi hỏi không thể thiếu (sine qua non) cho sự tồn vong của Hội Thánh. Chính điều này đã là nền tảng cho thái độ mục vụ tích cực mà Công Đồng Va-ti-can II muốn cho Hội Thánh dấn bước, khi gọi Hội Thánh chính là Lumen Gentium – Ánh Sáng Muôn Dân.

 

2/ Ki-tô hữu Giáo Dân sống tính trần thế

 

Trong Hội Thánh của Đức Ki-tô, tất cả mọi phần tử đều là chi thể của một Đức Ki-tô – Thiên Chúa thật và người thật - nên đều phản ảnh nơi mình cả hai diện ‘thánh thiện’ và ‘trần thế. Tuy nhiên, nếu thánh hiến tính là đặc điểm được giới giáo sĩ và tu sĩ nhấn mạnh hơn, thì trần thế tính chính là điểm nhấn của các phần tử Ki-tô hữu giáo dân, khi mà đời sống họ được dìm sâu trong các thực tại trần thế. Đương nhiên, họ luôn phải là con cái Thiên Chúa, là đền thờ của Chúa Thánh Thần và là chi thể sinh động của Nhiệm Thể Đức Ki-tô, thế nhưng họ sống và làm lớn lên tất cả các thiên chức ấy ngay giữa các thực tại trần thế. Như đã từng xảy ra cho Ngôi Hai Thiên Chúa khi nhập thể làm người, các yếu tố trần thế, không những không hề làm giảm thiểu địa vị cao quí của các Ki-tô hữu giáo dân, mà còn làm cho họ thể hiện được tất cả sức mạnh Tin Mừng nơi mình ngay giữa lòng nhân loại hôm nay. Và còn hơn thế nữa, như Ngôi Hai đã cứu chuộc nhân loại bằng cách sống và sử dụng các phương tiện trần thế như thế nào, thì Ki-tô hữu giáo dân cũng tham gia vào công trình cứu độ và thánh hóa loài người như thế; nghĩa là họ sống giữa đời, và sử dụng ngay các phương tiện trần thế để thánh hóa thế gian. Như thế, nhờ dấn mình vào trần thế, yêu mến và sống sâu xa các giá trị của nó, Ki-tô hữu giáo dân làm cho thế gian được cứu độ và thăng hoa, khi chính họ sống và thể hiện các giá trị Tin Mừng của Đức Giê-su nhập thể ngay trong đời sống hàng ngày của mình.

 

3/ Sống Tin Mừng giữa đời

 

Từ nhiều năm trước Công Đồng Va-ti-can II (đặc biệt trong thế kỷ 17 với các trước tác lừng danh của Thánh Phan-xi-cô Sa-lê), người ta đã bắt đầu đề cập tới khái niệm ‘người giáo dân sống thánh giữa đời’. Khởi đầu, quan niệm này có thể chỉ hàm ý cho rằng: sự thánh thiện (đồng nghĩa với việc sống trong sạch, giữ các bổn phận tôn giáo, và làm tông đồ bác ái), thay vì chỉ dành riêng cho giới giáo sĩ và tu sĩ, cũng có thể được người giáo dân thực hiện ngay trong cuộc sống bận rộn giữa đời của họ. Ngày nay, khi Công Đồng nói tới ‘nên thánh’, từ ngữ này đã mang nội dung Tin Mừng nguyên thủy rõ nét hơn (như đã từng được Phao-lô và các Tông Đồ sử dụng trong các cộng đoàn tín hữu sơ khai), đó là: sự thánh thiện và ơn gọi nên thánh được đặt nền tảng trên bí tích Thánh Tẩy, và được sinh động nhờ các bí tích khác, nhất là bí tích Thánh Thể. Thật vậy, khi lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, mọi tín hữu trở thành Ki-tô, tức được tham dự vào sự thánh thiện của chính Đức Giê-su. Thánh Âu-tinh còn nói cách mạnh mẽ hơn rằng: “hãy ngạc nhiên và vui mừng vì chúng ta trở thành Ki-tô hữu”, đã trở thành các thánh trong cộng đoàn dân thánh (xem 1 Cr 1:1-9). Và để hiện thực được sự thánh thiện Tin Mừng này, ‘trần gian’ chính là nơi mà mỗi Ki-tô hữu và đoàn dân thánh này sống và thực hiện ơn gọi nên thánh của mình; và điều này là đặc biệt đúng, và cần được nhấn mạnh cách riêng cho các Ki-tô hữu giáo dân. Thực vậy, Tông Huấn Christi Fideles Laici số 17 đã minh định như sau: “Giáo dân phải tự thánh hóa bản thân trong cuộc sống thường ngày, với nghề nghiệp và giữa lòng xã hội. Để có thể đáp ứng được ơn gọi, giáo dân phải coi cuộc sống hàng ngày của họ như một cơ cấu để kết hiệp với Thiên Chúa và chu toàn thánh ý Ngài, đồng thời coi đó như cơ hội phục vụ tha nhân bằng cách đưa họ về hiệp thông với Thiên Chúa trong Đức Ki-tô”. Cũng chính trong ý thức này mà Hội Thánh đã mạnh dạn lên tiếng kêu gọi: “Ước mong các Hội Thánh địa phương, nhất là các Giáo Hội trẻ, hãy lưu tâm tìm ra, trong số các thành viên của mình, những người nam và nữ đã cống hiến những chứng tá về việc nên thánh giữa các hoàn cảnh như thế (giữa đời và trong bậc hôn nhân), để có thể làm gương mẫu cho người khác. Và khi có cơ hội, đề nghị phong chân phước và hiển thánh cho những người ấy” (CFL số 17).

 

Thế cho nên Hội Thánh luôn nhắn nhủ các Ki-tô hữu giáo dân rằng: “Các hình ảnh trong Phúc Âm nói về muối men và ánh sáng, mặc dầu được Đức Giê-su sử dụng để nói về mọi môn đệ của Người không trừ một ai, thế nhưng chúng được ứng dụng một cách hoàn toàn đặc biệt cho các người giáo dân sống giữa đời” (CFL số 15). Và thực hiện được điều này chính là việc canh tân chân chính nhất mà Công Đồng Va-ti-can II mong muốn được chứng kiến Hội Thánh sớm thể hiện nơi các giáo dân chân chính của mình.

 

Câu hỏi gợi ý:

 

  • Bạn có hiểu, tại sao Thánh Phao-lô lại gọi các tín hữu của ngài, ngay cả khi họ còn vướng mắc nhiều lỗi phạm và nết xấu, là ‘các thánh’không? (xin xem chương I thư gửi giáo đoàn Cô-rin-thô).
  • Bạn hãy thử xác định, có khác biệt nào giữa việc nên thánh của các ‘giáo sĩ’ và ‘tu sĩ’ với việc nên thánh của các giáo dân?
  • Tình trạng sống giữa đời của giáo dân cản trở hay trợ giúp họ nên thánh? Tại sao?
  •  

Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty SBD

 


[1] (1) “Âm” (): bên trái là bộ “phụ” () (núi đất); bên phải phía trên là “kim” () (hình nóc nhà); bên phải phía dưới là “vân” () (bị che khuất). Theo đó, “âm” chỉ phía mặt trời bị che khuất, nên tối tăm, cây cối không phát triển. (2) “Dương” (): bên trái là bộ “phụ” () (núi đất); bên phải phía trên là “nhật” () (mặt trời đã lên khỏi đường chân trời; bên phải phía dưới là “vật” () (mang hình các tia sáng rọi xuống). Theo đó, “dương” chỉ phía có ánh sáng mặt trời chiếu vào, nên sáng rỡ.

[2] Thuyết âm dương trình bày hai mặt của một thực tại, đối lập nhau nhưng lại hòa quyện và thống nhất với nhau trong muôn vật, không loại trừ nhau mà tạo điều kiện tồn tại cho nhau, là động lực của tiến hóa và phát triển.

[3] Thuyết âm dương cũng cho rằng đàn ông là “dương”, đàn bà là “âm”. Trong hữu thể người, phía trên là dương phía dưới là âm, phía sau lưng là dương phía trước bụng là âm, phía tay trái là dương phía tay phải là âm.

[4] Mt 20,21.

[5] X. BGL 1983, đ. 537.

[6] Ta, “Điều 11: Nhiệm vụ của hội đồng mục vụ giáo xứ” trong Thần học mục vụ, Tập 1 (Hà Nội: Nxb. Tôn Giáo, 2015), 761-2.

[7] X. Ga 3,13; Cv 1,9-11; 2 Cr 12,1-4; 1 Tx 4,17; Kh 4,1; Tv 14,2; 103,11; G 26,7; Is 14,13.

[8] Ta, “Điều 11: Nhiệm vụ của hội đồng…”, 761-2.

[9] Ibid.

[10] “Vai trò phục vụ này được trình bày qua các từ ngữ: mục vụ (pastoral)thừa tác vụ (ministry), thừa tác viên (minister)phục vụ (service)lãnh đạo (leadership)và quản trị (management). Theo đó, các thuật ngữ chuyên ngành quản trị kinh doanh có thể sẽ là: đại diện, lãnh đạo, liên lạc, hòa giải, thu thập và tiếp nhận thông tin, phổ biến thông tin, cung cấp thông tin, quyết định, giải quyết xáo trộn, phân phối tài nguyên, đàm phán…. Tóm lại, tuy có không ít những điểm tương đồng, quản trị mục vụ và quản trị kinh doanh có sự khác biệt rất căn bản về lý do, mục đích (và thường khi cả phương thế) của việc phục vụ” (Ta, Mục vụ tổng quát..., 7).

[11] X. A.Roberts, Atlas Giải phẫu Cơ thể Người, NXB Y học, 2015, tr.78.

[12] X. A.Roberts, Atlas Giải phẫu Cơ thể Người, NXB Y học, 2015, tr.350-361.

[13] X. Bài Thẻ Tre 2000 năm, gọi là “Tần giản”, khai quật vào năm 2002 ở cổ thành Lý Da, Hà Nam, có niên đại 222 TCN – 208 TCN tiết lộ mật lệnh tìm tiên dược của Tần Thuỷ Hoàng, Internet, ngày 12/3/2018, Sơn Tùng

Tác giả bài viết: UBGD trực thuộc HĐGMVN