1. LỜI CHỦ CHĂN

2. DIỄN GIẢI THƯ MỤC VỤ

3. LỜI NGUYỆN CHUNG

4. ÁP DỤNG THỰC HÀNH

5. TÌM HIỂU GIÁO LUẬT

6. TRANG LINH MỤC

7. TRANG TU SĨ

8. TRANG SỐNG ƠN GỌI

9. TRANG THIẾU NHI

10. TRANG GIỚI TRẺ

11. TRANG GIA ĐÌNH

12. TRANG GIÁO LÝ VIÊN

13. TRANG QUỚI CHỨC

14. SỐNG ĐẸP

15. HỎI ĐÁP MỤC VỤ

16. SỐNG LỜI CHÚA

17. THẦN HỌC KINH THÁNH

18. MỘT CHÚT TÂM TÌNH

 

 

1. LỜI CHỦ CHĂN

 Vĩnh Long ngày 25.09.2015

Kính gửi: Quý Cha

              Quý Tu sĩ nam nữ

              Và tất cả anh chị em Gp. Vĩnh Long

 

THÁNG MƯỜI

Kinh Lạy Cha, kinh Kính Mừng là những kinh thông dụng của người có đạo, ngay cả trẻ em cũng thuộc lòng. Kinh Lạy Cha là kinh Chúa Giêsu đã dạy nhằm tôn vinh Chúa là Cha. Kinh Kính mừng vừa nhắc đến:

Lời Thiên Thần chào mừng Đức Trinh nữ Maria: “kính mừng Maria đầy ơn phúc, Đức Chúa Trời ở cùng Bà.

Vừa lời nhận định của bà Ysave: “Bà có phước lạ hơn mọi người nữ và Giêsu, con lòng Bà đầy phước lạ”.

Vừa lời cầu xin của cả Hội Thánh: “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời cầu cho chúng con là kẻ có tội …” Trong thời gian hiện tại và tương lai, đặ biệt trong giờ lâm tử (khi mà thân xác yếu ớt và linh hồn cũng yếu đuối).

Hội thánh thường đọc những kinh này, quy tụ trong việc lần chuổi Môi Khôi (“Môi”, “Mai” mai quế là bông hồng. Môi Khôi là những bông hồng tươi đẹp được kết thành tràng hoa (rosarium). Đọc kinh Môi Khôi, Hội Thánh kết những kinh Lạy Cha, Kính Mừng làm thành tràng hoa tươi đẹp, hợp với Mẹ vừa tôn kính Chúa là Cha trên trời, vừa chúc tụng Mẹ là Mẹ của Chúa Giêsu, là Mẹ Đấng cứu chuộc chúng ta, vừa là Mẹ chúng ta, theo thánh ý của Chúa Giêsu, lúc chịu treo trên cây thánh giá.

Tháng 10, trước khi mừng lễ Chúa giáng sinh, chúng ta thương mến và kính cẩn nhớ đến Mẹ Maria là Mẹ Chúa Giêsu, tương tợ như trước khi sống một năm mới, chúng ta kính Đức Mẹ là Mẹ Chúa Giêsu làm chủ thời gian và ban cho chúng ta một năm mới sống trong ơn sủng của Chúa, trong ơn cứu độ của Chúa.

Lm. Phêrô Dương Văn Thạnh

Giám Quản GP. Vĩnh Long

 

2. DIỄN GIẢI THƯ MỤC VỤ

Tháng 10/2015

 

TÂN PHÚC-ÂM-HOÁ GIÁO XỨ VÀ CỘNG ĐOÀN:

CANH TÂN ĐỜI SỐNG HÔN NHÂN

 

“Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả,

chịu đựng tất cả” (Ep 5,7)

Trong buổi tối canh thức cầu nguyện tại quảng trường thánh Phêrô ngày thứ bảy 04 tháng 10 năm 2014 để chuẩn bị cho Thượng Hội Đồng về gia đình, Đức Thánh Cha Phanxicô đã khơi gợi, cách đơn sơ mà cụ thể, kinh nghiệm gia đình là trung tâm của đời sống mọi con người, ngài nói như sau: “Giờ đây chiều đã buông xuống trên toàn thể đoàn chúng ta. Đây là giờ khắc ai nấy sẵn sàng trở về nhà mình để quây quần gặp gỡ nhau quanh bàn ăn với bao tình cảm ấm áp, tạ ơn vì bao điều tốt đẹp đã xảy ra và đón nhận, vì những gặp gỡ làm ấm lòng và làm gia tăng tình nghĩa, vì rượu ngon khai vị trước các cuộc lễ vô tận những ngày của đời người. Nhưng đây cũng là thời gian rất nặng nề đối với những người đơn độc cô thân, đang trong tình trạng xuống dốc, cay đắng vì vỡ mộng tan trình. Bao nhiêu người đang kéo lê những ngày dài trong ngõ cụt của thất nghiệp, bị bỏ rơi, có khi của thù hận. Bao nhiêu gia đình thiếu vắng tiếng cười vui và hương vị – mà cũng là sự khôn ngoan – của cuộc sống... Chiều hôm nay chúng ta hãy cùng nhau cất tiếng cầu nguyện, dâng lời cầu nguyện cho tất cả mọi người”[1].

 1. Lắng nghe những thách đố về gia đình ngày nay

Để lắng nghe các thách đố, trước hết cần nhận ra những giá trị tích cực của nền văn hóa xã hội hôm nay, đó là: sự tự docủa con người được biểu lộ nhiều hơn, quyền của phụ nữ và trẻ em được nhìn nhận nhiều hơn, ít là tại một số khu vực trên thế giới. Nhưng, xã hội ngày nay cũng có nguy cơ ngày càng tăng về một chủ nghĩa cá nhân bất ổn làm biến dạng các mối liên kết gia đình và kết cục coi mỗi thành viên gia đình như một ốc đảo cô lập, đôi khi còn nổi lên tư tưởng cho rằng con người tạo nên chính mình bởi các ước muốn riêng tư vốn được xem như tuyệt đối. Thêm vào đó, cuộc khủng hoảng đức tin ảnh hưởng đến rất nhiều người Công giáo, và thường nằm ở đầu nguồn của cuộc khủng hoảng hôn nhân và gia đình. Gia đình, cộng đoàn nhân loại cơ bản, chưa bao giờ như hôm nay phải chịu nhiều khốn khổ và trở nên yếu đuối mỏng manh, phải đối diện với các thách đố:

– Các cuộc hôn nhân, dù đạo hay không có đạo, đang giảm dần; và số các cuộc ly thân và ly dị đang tăng dần. Trẻ nhỏ lớn lên vắng bóng thường xuyên cha hoặc mẹ, hoặc cả cha và mẹ.

– Người trẻ sợ hãi không dám dấn thân dứt khoát trong việc xây dựng gia đình. Bên cạnh đó, bầu khí cá nhân chủ nghĩa triệt để nhằm trọng tâm thỏa mãn vui thú, dục vọng thiếu tôn trọng nhân vị, lan rộng. Gia tăng hưởng thụ dục tính tách biệt khỏi tình yêu, hôn nhân và truyền sinh.

– Phá thai và ngừa thai, hay truyền sinh vô trách nhiệm ngày nay ở Việt Nam trở thành một hiện tượng không còn là tiềm ẩn nữa. Hoặc hiện tượng ngày càng gia tăng: có con bằng mọi giá như một phương thế khẳng định bản thân.

 

– Hiện tượng yêu sách đòi xã hội nhìn nhận kết hợp đồng tính như quan hệ hôn nhân bền vững.

– Trong nhiều gia đình, nạn bạo hành bằng hành động và cả lời nói, gia tăng do những hành xử thiếu kiên nhẫn của lòng yêu mến.[2]

Trước tình cảnh đó, Hội Thánh địa phương, đặc biệt các giáo xứ, Gia đình của các gia đình, cần phải giúp ý thức và sống ơn gọi hôn nhân trong mục vụ chuẩn bị hôn phối lẫn trong mục vụ đồng hành với các gia đình, nhất là trong những năm đầu sau kết hôn, và với các “gia đình gặp khó khăn”.

2. Ơn gọi và sứ mệnh của gia đình

“Tu thân. Tề gia. Trị quốc.” Mọi sự luôn bắt đầu từ cá nhân nhưng là một cá nhân trong tư thế luôn gắn chặt với một gia đình, cái nôi của sự sống. Nhằm để “chứng thực bước đường của ta đi trên mảnh đất đầy những thách đố hiện nay, điều kiện quyết định là luôn nhìn chăm chú lên Chúa Giêsu Kitô, dừng lại chiêm ngắm và thờ lạy dung nhan Người [...] Thực vậy, mỗi khi ta trở về với nguồn mạch của kinh nghiệm Kitô giáo, nhiều ngả đường mới và những khả năng chưa ai nghĩ tới mở ra” (ĐGH Phanxicô, Diễn văn ngày 04.10.2014). Chúa Giêsu nhìn những người nam và nữ Người gặp bằng một cái nhìn đầy yêu thương và dịu dàng, luôn đồng hành với họ bảo đảm bước đi trong chân lý, trong kiên nhẫn và nhân từ, trong khi vẫn công bố các đòi hỏi của Nước Thiên Chúa.[3] Chính Chúa Giêsu, khi nói về ý định nguyên thủy của Thiên Chúa cho đôi vợ chồng con người, khẳng định lại sự kết hợp bất khả phân ly giữa hai người nam và nữ, nói rằng “chính vì sự cứng lòng của các ông mà Môsê đã cho phép các ông ly dị vợ, nhưng thuở ban đầu không có như thế” (Mt 19,8). Tính bất khả phân ly của hôn nhân (“sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, con người không được phân li” Mt19,6), trước hết không nên hiểu như một “cái ách” áp đặt lên con người, nhưng như là một “hồng phúc” dành cho chồng và vợ kết hợp với nhau trong hôn phối. Bằng cách đó, Đức Giêsu cho thấy Thiên Chúa đoái thương luôn đồng hành với con người trên bước đường lữ thứ trần gian, Ngài chữa lành và biến đổi trái tim cứng cỏi bằng ân sủng Ngài, bằng cách hướng con người trở về với ý định thuở ban đầu của Ngài, ngang qua con đường thập giá.

3. Tân Phúc-âm-hóa bắt đầu từ Gia đình

– Tân Phúc-âm-hóa đời sống giáo xứ bắt đầu từ các gia đình, vì như lời dạy của thánh Gioan-Phaolô II, “tương lai của Hội Thánh ngang qua các gia đình”[4]. Hội Thánh là một phúc lành cho các gia đình, các gia đình là phúc lành cho Hội Thánh. Việc gìn giữ ơn huệ bí tích của Chúa một mặt thuộc trách nhiệm của đôi vợ chồng Kitô hữu và mặt khác là của cộng đoàn, mỗi bên tùy theo cách thế của mình. Trước những khó khăn nặng nề về việc gìn giữ sự hiệp nhất hôn nhân, việc phân định nghĩa vụ của mỗi bên và cả những thiếu sót của họ cần được tìm hiểu cách sâu xa và chân thành từ hai vợ chồng với sự giúp đỡ của cộng đoàn, nhằm hiểu biết, đánh giá và sửa chữa những gì đã thiếu sót hoặc bị bỏ quên của cả hai bên. Về việc này, vai trò của các cộng đoàn nhỏ, các hội đoàn hay hiệp hội trong giáo xứ và giáo họ thật quan trọng và rất ý nghĩa.

– Qua các gia đình vẫn trung thành với giáo huấn Tin mừng, vẻ đẹp của hôn nhân bất khả phân ly và trung thành mãi mãi trở nên đáng tin cậy. Thật vậy, chính trong gia đình, “Hội thánh tại gia” (LG, 11), kinh nghiệm đầu tiên về sự hiệp thông hội thánh giữa người với người, nhờ thánh ân mà phản chiếu mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, được phát triển dần cho đến trưởng thành. “Chính nơi đây người ta học biết sự lao nhọc và niềm vui của lao động, học yêu thương với tình nghĩa anh em, biết tha thứ bao dung, mỗi ngày mỗi khác, và nhất là học biết thờ phượng Chúa qua cầu nguyện và hy sinh hiến dâng chính cuộc sống mình”[5]. Thánh Gia Nazareth là mẫu mực tuyệt vời, là trường dạy chúng ta “hiểu tại sao ta phải duy trì một kỷ luật tâm linh, nếu ta muốn tuân theo các giáo huấn Tin mừng và trở thành môn đệ của Đức Kitô”[6].

Câu hỏi thảo luận

1. Cộng đoàn Giáo xứ đã và đang làm gì để đồng hành với các bạn trẻ chuẩn bị ơn gọi hôn nhân gia đình, và với các gia đình trẻ, nhất là các gia đình đang ở hoàn cảnh khó khăn?

2. Các gia đình trong giáo xứ hay giáo họ của anh chị em liên kết với nhau thế nào để loan báo Tin mừng cho những người chưa biết Chúa, những người tín hữu xa Chúa, xa Hội Thánh?

3. Các gia đình trong giáo xứ, các cộng đoàn nhỏ, cầu nguyện với Lời Chúa và Thánh Thể như thế nào?

–––––––––––––

[1] Tài liệu làm việc cho THĐ 2015 Instrumentum laboris, 1.

[2] Ibid. 6-10.

[3] Ibid., 37.

[4] Familiaris Consortio, 86.

[5] GLHTCG, 1657.

[6] Chân phước GH Phaolô VI, Diễn văn tại Nazareth ngày 5.01.1964.

 

Lm.  Luy Nguyễn Anh Tuấn

Nguồn: ubmvgiadinh.org

 

3. LỜI NGUYỆN CHUNG

Kêu mời: Anh chị em thân mến,

Khi dâng lên Chúa và xin Chúa thánh hoá đời sống cộng đoàn sống đời thánh hiến, thì Hội Thánh cũng muốn xin Chúa thánh hoá đời sống cộng đoàn sống đời hôn nhân, gia đình. Chúng ta cùng hiệp ýý cầu nguyện:

1.       Thiên Chúa chúc phúc cho con người: “Hãy hãy sinh sôi nẩy nở cho đầy mặt đất”. Chúng ta cầu nguyện cho những ai sống đời hôn nhân, nhận biết ơn gọi độc đáo của mình là tìm Nước Thiên Chúa ngay trong cuộc sống trần gian.

2.       Trong tiệc cưới ở Cana, khi Chúa Giêsu biến nước thành rượu, Chúa đã chúc phúc cho hôn nhân này. Chúng ta cầu nguyện cho các gia đình sống đời hôn nhân, biết trân trọng sự hiện diện của ơn Chúa trong gia đình mình.

3.       Chúa phán: “Ai thi hành ý muốn Thiên Chúa, người đó là mẹ Tôi, là anh chị em Tôi”. Chúng ta cầu nguyện cho các cộng đoàn gia đình, luôn biết siêng năng lắng nghe và thực hành lời Chúa trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống mình.

4.       Chúa phán: “Nơi nào có hai hoặc ba người tụ họp nhân danh Thầy, thì có Thầy ở giữa họ”. Chúng ta cầu nguyện cho các gia đình Kitô-hữu siêng năng và sốt sắng cùng nhau tụ họp trước bàn thờ Chúa trong nhà mình để đọc kinh chung.

Kết thúc: Lạy Chúa, Chúa cũng muốn những người sống đời hôn nhân được cứu rỗi. Xin cho những người sống đời hôn nhân, gia đình, biết tận dụng mọi phương thế mà nuôi dưỡng ơn thánh cho tới ngày hưởng phước thiên đàng. Amen.

 

4. ÁP DỤNG THỰC HÀNH

ƠN GỌI NÊN THÁNH CỦA BẬC HÔN NHÂN

Nên thánh là ơn gọi và là nghĩa vụ của tất cả những ai đã chịu phép rửa. Nhưng với tư cách là vợ chồng, những người tín hữu Kitô có một cách thức riêng để sống và thực hiện ơn gọi nên thánh. Do một thành kiến từ lâu đời, nhiều người đề cao đời sống tận hiến trong dòng tu hoặc chức vụ linh mục, nhưng lại xem thường đời sống gia đình. Mỗi bậc sống đều là ơn gọi của Chúa, và ơn gọi nào cũng đều cao đẹp và có giá trị riêng của nó. Thế nào là ơn gọi làm vợ làm chồng? Đâu là sứ mệnh của các bậc làm cha mẹ? Tại sao gia đình là một Giáo Hội thu hẹp? Trả lời cho những câu hỏi đó tức là chân nhận rằng, có một con đường nên thánh dành riêng cho những người sống bậc vợ chồng.

 

Công Đồng Vaticanô II đã đề cao ơn gọi sống đời gia đình như sau: “Để có thể kiên trì chu toàn nghĩa vụ ơn gọi làm người Kitô hữu như thế, tức là sống đời vợ chồng, cần phải có một nhân đức phi thường. Chính vì thế mà vợ chồng được ơn Chúa củng cố để sống thánh thiện sẽ ân cần nuôi dưỡng và cầu xin cho được một tình yêu kiên vững, một tâm hồn đại lượng và tinh thần hy sinh”. Những dòng trên đây của Công Đồng xác quyết rằng: Giáo Hội luôn đề cao và coi trọng đời sống hôn nhân. Thánh thiện không còn là độc quyền của những người tận hiến, hôn nhân không phải là một bậc sống thấp hèn hay chỉ là hạng hai trong Giáo Hội. Công Đồng lại khẳng định: Cần phải có một nhân đức phi thường, cần phải có những đức tính anh hùng mới có thể chu toàn bổn phận đời sống vợ chồng.

Đâu là những bổn phận của đời sống vợ chồng? Đâu là những trợ giúp của niềm tin Kitô trong việc chu toàn những bổn phận ấy?

 

Trong Tông Hiến Đời Sống Gia Đình do Đức Gioan Phaolô II ban hành khoảng đầu thập niên 80 đã xác định như sau: “Gia đình nhận lãnh trách nhiệm bảo toàn, nâng cao và thông truyền tình yêu là một phản ảnh sống động và thông dự thực sự vào tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại”. Một cách cụ thể, gia đình đảm nhận bốn trách vụ sau:

-        Xây dựng cộng đồng tình yêu

-        Phục vụ sự sống

-        Tham dự vào việc phát triển xã hội

-        Tham dự vào đời sống và sứ mệnh của Giáo Hội.

Cơ bản và quan trọng nhất trong 4 trách vụ trên đây chính là xây dựng cộng đồng tình yêu. Tông Hiến giải thích: gia đình được thiết lập và sinh động bởi tình yêu là một cộng đồng gồm những con người: vợ chồng, cha mẹ, con cái, bà con thân thuộc.

Sự cao cả của gia đình chính là xây dựng một cồng đồng yêu thương trước tiên trong ranh giới của chính nó. Và từ đó trải dài tình yêu ấy đến với mọi người chung quanh. Phải tu thân, tích đức, tề gia rồi mới có thể trị quốc và bình thiên hạ. Gia đình là tế bào nguyên thuỷ của xã hội. Nếu tế bào ấy không được lành mạnh; nếu gia đình chưa là một cộng đồng yêu thương, làm sao có thể nói đến xây dựng xã hội.

Người ta không cần phải ra khỏi nhà để làm công tác xã hội từ thiện. Không ai cần được yêu thương giúp đỡ cho bằng chính những người thân trong gia đình. Khi gia đình trở thành một mái ấm thực sự, khi gia đình trở thành một cộng đồng tình yêu thực sự, hơi ấm của tình người sẽ toả lan đến những người bên ngoài gia đình.

Thực thế, để có sự thông hiệp giữa các phần tử trong gia đình, cần phải có sự sẵn sàng và quảng đại cao độ của tất cả và của từng người để cảm thông với nhau, khoan dung với nhau, tha thứ cho nhau, hoà giải với nhau.

Ngay từ những trang đầu của Kinh Thánh, chân lý về cuộc sống hôn nhân đã được hé mở với tất cả vẻ đẹp và những đòi hỏi của nó. Thật thế, Kinh Thánh nói: người đàn ông luyến ái với vợ mình và cả hai nên một thân xác. Nên một mà vẫn là hai, còn gì cao đẹp bằng; nhưng cũng không gì đòi hỏi bằng. Do đó, cuộc sống lứa đôi là một cố gắng không ngừng để trưởng thành trong nhân cách, nghĩa là trở thành chính mình hơn mà vẫn nên một với người khác. Hay đúng hơn, chính khi vượt qua những dị biệt, vượt qua khỏi chính mình để nên một với người khác mà con người đạt được sự trưởng thành.

Một tiến trình trưởng thành như thế đòi hỏi một sự hy sinh cao độ. Nhưng người tín hữu Kitô nhờ hồng ân của phép rửa và nhất là của bí tích Hôn Phối, sẽ đi vào tiến trình ấy với tất cả hân hoan và yêu thương. Họ biết rằng, khi sống yêu thương là họ ở trong Thiên Chúa.

Các tu sĩ được phong thánh không phải vì những hành động phi thường của họ, mà chính vì đức ái họ thực thi trong đời sống chung, hoặc cho những người khác. Cách tương tự, các đôi vợ chồng cũng đạt được sự trọn lành trong đời sống vợ chồng của mình nhờ những cố gắng thực thi đức ái cho nhau và cho mọi người trong gia đình.

5. TÌM HIỂU GIÁO LUẬT

BA LỜI KHUYÊN PHÚC ÂM

Trong Nguyệt San tháng 9, chúng ta đã nói đến : “Đời sống thánh hiến là bước theo sát Chúa Giêsu Kitô”. Việc theo sát Chúa Giêsu Kitô là bắt chước và họa lại hình ảnh của Ngài nơi đời sống của người tu sĩ. Nguyệt San tháng 10 và những tháng kế tiếp, chúng ta sẽ tìm hiểu cách thức để theo sát Chúa Giêsu Kitô. Đó là việc tuyên giữ   ba lời khuyên Phúc Âm: khiết tịnh, khó nghèo và vâng lời. Lần lượt chúng ta sẽ đi vào từng lời khuyên đó.

A.      Khiết tịnh

a. Giáo luật

Điều 599 của Bộ giáo luật đề cập trực tiếp đến lời khuyên Phúc Âm về đức khiết tịnh cũng như những tiết chế của thân xác nơi người tu sĩ:

Lời khuyên Phúc Âm về đức khiết tịnh được đảm nhận vì Nước Trời là dấu chỉ của thế giới sẽ đến, là nguồn sinh lực phong phú hơn trong một con tim không chia sẻ, và bao hàm nghĩa vụ tiết dục hoàn toàn trong bậc độc thân (đ.599).

Điều luật trên nêu ra cho chúng ta hai phương diện cơ bản trong việc giữ đức khiết tịnh là:

1/ Độc thân: nghĩa là không lập gia đình;

2/ Tiết dục hoàn toàn (continentia perfecta): nghĩa là kiêng cữ những hành vi ái ân của vợ chồng.

Cũng vậy, khi nói đến việc giữ luật độc thân khiết tịnh của giáo sĩ, Giáo hội dạy:

Các giáo sĩ buộc phải giữ đức khiết tịnh hoàn toàn và vĩnh viễn vì Nước Trời, vì vậy, họ phải sống bậc độc thân là một hồng ân của Thiên Chúa, nhờ đó, các thừa  tác viên có chức thánh có thể kết hợp với Đức Kitô dễ dàng hơn bằng một con tim không chia sẻ và được thong dong hơn để hiến thân phụng sự Thiên Chúa và nhân loại (đ.277§1).

Tiếp theo đó, Giáo hội cũng mời gọi hãy thận trọng cần thiết đến những nguyên cớ có thể gây nguy hại cho việc giữ sự khiết tịnh: 

Các giáo sĩ phải hết sức thận trọng khi giao tiếp với những người mà việc năng lui tới có thể gây nguy hại cho nghĩa vụ giữ đức khiết tịnh của mình hoặc sinh gương xấu cho các tín hữu (đ.277§2).

Và:

Trong việc sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội, phải giữ sự phán đoán cần thiết và phải tránh những gì có hại cho  ơn gọi riêng và nguy hiểm cho đức khiết tịnh của một người đã được thánh hiến (đ.666).

Giáo luật chỉ đưa ra những yếu tố căn bản cần phải giữ và những khuyết cáo cần phải cảnh giác để sống luật độc thân khiết tịnh trong đời tu. Thần học sẽ giúp cho chúng ta hiểu sâu ý nghĩa của bậc sống nầy.

b. Thần học

Trong các văn kiện của Giáo hội, sự khiết tịnh được đề cập tới không những trong các văn kiện dành cho các tu sĩ, (Sắc lệnh Đức ái trọn hảo, của CĐ Vat. II, số 12; tông huấn Chứng tá Tin Mừng, của GH Phaolô VI, số 13-15; tông huấn Hồng ân cứu độ, của ĐGH Gioan Phaolô II, số 11), mà còn trong các tài liệu về sự độc thân linh mục nữa, như: Sắc lệnh “ Presbyterorum Ordinis”, Vat.II, số 16; Thông điệp “Sacerdotalis Caelibatus”, ĐGH Phaolô VI; Tông huấn “Pastores dabo vobis”, ĐGH Gioan Phaolô II, số 29.44. Trong tất cả những văn kiện đó cho chúng ta nhận ra rằng: sự khiết tịnh trong đời tận hiến là một hồng ân của Chúa.

Hồng ân của Chúa và quyền tự do đáp lại của con người được diễn tả trong khung cảnh của một giao ước tình yêu. Tuy nhiên, giao ước nầy không dừng lại ở chiều kích riêng tư và cá nhân, mà là một thiện ích dành cho toàn Giáo hội và nhân loại; nó có giá trị dấu chỉ và chứng tá. Vì vậy, chúng ta lướt qua một vài khía cạnh của sự khiết tịnh xét trong tương quan với Chúa Giêsu Kitô, với Nước Thiên Chúa, với Hội Thánh, và với giá trị nhân bản.

1/ Tương quan với Chúa Giêsu Kitô

Cũng như các lời khuyên Phúc Âm khác, sự khiết tịnh của người tận hiến lấy Chúa Giêsu làm khuôn mẫu. Nghĩa là lời khuyên nầy không chỉ dựa vào lời mời gọi của Ngài mà còn dựa trên chính đời sống của Ngài: Chúa Giêsu đã không lập gia đình bởi vì Ngài muốn dành hết tâm lực cho việc phục vụ Nước Thiên Chúa. Ngày nay, khi tuyên giữ khiết tịnh vì Nước Trời, người tu sĩ cũng muốn bắt chước Chúa Giêsu, dâng trót cuộc đời mình để mang tình yêu Chúa đến cho tha nhân. Việc bắt chước Chúa Giêsu không phải chỉ nhằm họa lại một bức tranh tuy đẹp nhưng bất động. Không phải như vậy. Việc đi theo Chúa Giêsu ngày nay cũng không phải chỉ giới hạn vào việc diễn lại cuộc sống lịch sử của Ngài ở Palestina, cho bằng thông hiệp với những tâm tình sống động của Ngài, với Chúa Giêsu tử nạn và phục sinh. Lời khuyên khiết tịnh diễn tả lại tình yêu của Ngài đến nỗi hiến mạng cho người mình yêu. Lời khuyên khiết tịnh diễn tả điều kiện phục sinh khi thân xác được Thánh Thần biến đổi. Hiểu như vậy, ta thấy tầm quan trọng của việc cử hành bí tích Thánh Thể trong đời sống của tu sĩ: chính nơi đây, mà họ tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống dâng hiến, hy sinh, giao ước của sự tuyên giữ lời khuyên khiết tịnh.

2/ Tương quan với Nước Thiên Chúa

 

6. TRANG LINH MỤC

Truyền Giáo: Dễ Hay Khó

 Người truyền giáo, tự bản thân, là người có đời sống cầu nguyện chuyên cần, gắn bó với Lời Chúa, nhạy bén với thánh ý Thiên Chúa, tình bạn thân thiết với Chúa Kitô...

 Trên bước đường loan báo Tin Mừng, tôi thường bắt gặp một số người có lòng khát khao đi truyền giáo nhưng không biết phải bắt đầu từ đâu, truyền giáo như thế nào. Vì lẽ đó, trong bài viết này, tôi muốn chia sẻ một chút kinh nghiệm bé nhỏ của bản thân cho những ai ước ao lao tác trên cánh đồng của Chúa với ước mong chúng ta trở thành những cộng sự đắc lực của Chúa Thánh Thần và của nhau.

 Trước tiên, tôi thiết tưởng người khát khao làm việc truyền giáo đã có sự chuẩn bị tốt nhất về mặt nội tâm, hay còn gọi là đời sống thiêng liêng, hoặc nói theo kiểu ở đời là sự đối nội vững chắc. Nghĩa là, người truyền giáo, tự bản thân, là người có đời sống cầu nguyện chuyên cần, gắn bó với Lời Chúa, nhạy bén với thánh ý Thiên Chúa, tình bạn thân thiết với Chúa Kitô, cộng tác với Chúa Thánh Thần, để Chúa Thánh Thần dẫn dắt, yêu mến chinh phục các linh hồn về với Chúa và để họ trở thành chiến sĩ của Chúa Kitô, v.v..

 Bên cạnh chiều kích đối nội như thế, người truyền giáo nên thủ đắc một số kỹ năng cơ bản, tạm gọi là kỹ năng đối ngoại hoặc phương thức truyền giáo. Với kinh nghiệm nhỏ bé của bản thân, tôi xin phép chia sẻ “năm kỹ năng cơ bản trong ơn gọi truyền giáo” hay “năm bước truyền giáo” như sau:

 1. Thiết lập và phát triển tình bạn giữa tôi và đối tượng cần được truyền giáo

 Nhiều người khi vừa đặt chân đến mảnh đất truyền giáo đã vội vàng lo ngại về sự khiếm khuyết ngôn ngữ bản địa của bản thân. Thực tế, có một thứ ngôn ngữ mà mọi người trên thế giới này đều có thể hiểu và câu thông với nhau, đó là ngôn ngữ của tình yêu. Khi bạn có tình yêu chân thực dành cho người bản địa, hầu chắc bạn có thể dễ dàng kết bạn với họ. Vì lẽ đó, người truyền giáo không nên e ngại về ngôn ngữ câu thông, nhưng nên khôn ngoan thiết lập mối tương quan tình bạn với bà con đang cần được nghe biết Tin Mừng. Tất nhiên, việc thông thạo ngôn ngữ và văn hóa của người bản địa là điều cần thiết, nhưng không phải là điều kiện tiên quyết để truyền giáo. Một lần nữa, chúng ta nên nhớ rằng bước đầu tiên của việc truyền giáo là thiết lập Tình Bạn, chứ không phải là nói về Chúa cho “dân ngoại” nghe ngay tức khắc. Nếu vừa gặp bà con đã vội vàng giới thiệu Chúa cho họ, thì e rằng hành động ấy sẽ khiến cánh cửa tâm hồn của bà con cũng vội vàng khép kín. Như thế, việc truyền giáo vô tình bị chặn đứng bởi chính người truyền giáo, chứ không phải bởi người bắt hại Đạo. Nói cách khác, một khi cánh cửa tâm hồn của người cần được nghe biết Tin Mừng bị đóng chặt, thì khó lòng khiến nó mở ra. Do đó, việc thiết lập tình bạn rất quan trọng và là nhịp cầu giúp chúng ta khởi sự việc truyền giáo. Thế nhưng, làm thế nào để thiết lập tình bạn, và giai đoạn này cần bao nhiêu thời gian? Thiết lập tình bạn tùy thuộc vào kỹ năng và phong thái riêng của mỗi người. Nếu bạn tiếp xúc với một người mới gặp, bạn tạo nên một không gian cởi mở, vui vẻ, thân thiện, chân thành…, thì khả năng kết bạn trở nên dễ dàng hơn. Bạn cũng không nên quá vồn vã khi vừa mới quen biết người khác và môi trường khác. Cần kiên nhẫn và quan sát. Cần tìm hiểu văn hóa và thói quen của đối phương. Có khi bạn chỉ cần hai hoặc ba lần gặp gỡ là có thể trở nên thân quen với người mới. Nhưng có khi bạn tốn khoảng một vài tháng mới có thể thân thuộc với đối tượng cần được kết bạn. Nói chung, kiên nhẫn và hài hòa là hai điều cần thiết trong việc thiết lập tình bạn. Thiết lập được tình bạn rồi, bạn cần xây dựng một mối tương quan đáng tin cậy cho người bạn của mình. Đây là bước thứ hai.

 2. Xây dựng lòng tin qua việc chia sẻ cuộc sống của nhau

 Để có thể mở cửa tâm hồn của người bạn mới, bạn cần gõ cửa tâm hồn của họ trước. Để gõ cửa tâm hồn của họ, bạn cần xây dựng lòng tin tưởng. Nghĩa là, bạn hãy chứng minh cho họ thấy bạn là người đáng tin cậy, là chỗ dựa tinh thần của họ. Như thế, công việc bạn cần làm để xây dựng lòng tin chính là sự quan tâm của bạn dành cho họ. Bạn nên biết họ đang cần gì, họ thiếu thốn điều gì, gia đình và hoàn cảnh sống của họ ra sao, con cái họ ăn học thế nào, công việc mưu sinh của họ có bảo đảm không, sức khỏe của họ có ổn định không, v.v.. Có thể bạn không giúp họ các trực tiếp, nhưng bạn có thể làm trung gian giúp họ có một cuộc sống tốt đẹp hơn, san sẻ tất cả những gì bạn có với mọi khả năng của bạn. Làm được điều này, bạn đang xây dựng lòng tin với họ cách vững chắc, bền lâu… như một câu ngạn ngữ của nước ngoài diễn tả về tình bạn: “Một người bạn đích thực là một người luôn có mặt trong những nhu cầu của bạn mình” (A friend in needs is a friend indeed). Một khi họ tin tưởng bạn, bạn có thể gõ cửa tâm hồn của họ và họ sẵn sàng mở cửa để bạn bước vào mảnh đất thánh của con người họ.

 3. Đối thoại đức tin

 Khi tình bạn trở nên tin tưởng và gần gũi, việc đối thoại đức tin ắt sẽ diễn ra cách tự nhiên. Dù bạn của bạn là một người chưa theo tôn giáo nào, hoặc đã là Phật tử, hoặc đã theo đạo Tin Lành…, thì việc đối thoại đức tin cũng sẽ rất cởi mở, một khi đã có một tình bạn chân thành với nhau. Tôi xin đưa ra một dẫn chứng cụ thể để minh họa cho việc đối thoại này. Một ngày nọ, bạn đến thăm người bạn mới quen thân. Người này mời bạn dùng bữa cơm gia đình. Trước khi ăn cơm, bạn làm dấu thánh giá và âm thầm cầu nguyện, thậm chí khá sốt sắng cầu nguyện, người kia hầu chắc sẽ chú ý hành động kỳ lạ của bạn. Cứ tự nhiên, họ sẽ thắc mắc và hỏi bạn về ý nghĩa của hành động ấy. Khi bạn giải thích cho họ nghe về niềm tin của bạn trong việc bày tỏ thái độ biết ơn với Đấng đã ban cho bạn có hạt gạo như một hạt ngọc làm lương thực nuôi sống thân xác bạn, khi đó bạn đang thực hành bước thứ ba này là đối thoại đức tin. Có thể họ sẽ hỏi bạn nhiều điều về niềm tin của bạn. Có thể họ không hỏi nhiều, không chú ý về hành vi cầu nguyện trước bữa ăn của bạn. Tuy thế, bạn cứ kiên nhẫn, rồi họ sẽ thắc mắc và hỏi bạn nhiều điều khi bạn duy trì bước thứ hai trong mối tương quan tình bạn, khi bạn luôn sống tốt, sống Lời Chúa giữa mối tương quan này. Mặt khác, nếu họ không thắc mắc gì về đức tin của bạn, thì bạn nên chủ động thắc mắc về đức tin của họ. Sự thắc mắc của bạn chính là khởi điểm của việc đối thoại đức tin. Khi sự đối thoại đức tin ngày một sâu rộng và hài hòa, bạn có thể nghĩ đến giai đoạn thứ tư của việc truyền giáo.

 4. Mời gọi cùng nhau cầu nguyện và tìm hiểu đức tin của nhau

 Bạn có thể kết thúc việc đối thoại đức tin bằng lời mời gọi người bạn của mình tham gia một giờ cầu nguyện của bạn, hoặc của một nhóm bạn nào đó, hoặc tham dự Thánh Lễ, hoặc tham dự một dịp đại lễ của Đạo Công Giáo. Lúc này không còn một mình bạn là người truyền giáo nữa, mà là một cộng đoàn, là cả Giáo Hội đang cùng bạn truyền giáo, giới thiệu Chúa cho người bạn mới đến. Phần bạn, bạn hãy xin Chúa Thánh Thần làm việc mạnh mẽ trên người anh em này để họ có thể chia sẻ đức tin của họ và tìm hiểu đức tin của bạn. Nếu họ là người chưa đi theo tôn giáo nào, bạn có thể mời họ đến cộng đoàn cầu nguyện thường xuyên, hoặc gia tăng đối thoại đức tin với họ, để có thể tiến tới giai đoạn cao trào của việc truyền giáo, giai đoạn thứ năm.

 5. Chào mừng gia nhập Hội Thánh qua các Bí tích Khai tâm Kitô giáo

 Đây là bước cuối cùng của sứ mạng truyền giáo, là hoa trái của quá trình truyền giáo, là giai đoạn chuẩn bị cho người bạn của mình gia nhập cộng đoàn những người tin theo Chúa. Như thế, bạn nên có những người cộng tác nhiệt thành, những cộng tác viên trong việc giảng dạy Giáo lý, để bàn giao công việc này cho họ. Nhờ đó, bạn có thời giờ để tiếp tục lên đường tiến tới những biên cương mới, gặp gỡ những người bạn mới, nhưng cũng không quên dành thời gian đồng hành với những người mới biết Chúa và quan tâm tới sự trưởng thành trong đời sống đức tin của họ, củng cố đức tin cho họ vào những dịp thuận tiện.

 Tóm lại, truyền giáo không dễ và cũng chẳng khó. Khó hay dễ là tùy thuộc vào bản thân của bạn. Bạn đã chuẩn bị kỹ lưỡng những hành trang cần thiết để lên đường hay chưa, như con người của Mẹ Maria được diễn tả trong trình thuật Truyền Tin và thăm viếng bà Isave (Lc 1:26-56) – mẫu gương của người truyền giáo sống động – luôn biết lắng nghe và suy đi nghĩ lại Lời Chúa, được tràn đầy Thánh Thần, mau mắn thi hành ý Chúa, sống đơn giản và lẹ làng lên đường đem Chúa đến với người khác. Nói cách khác, để chuẩn bị lên đường truyền giáo và trở thành một người thợ lành nghề trên cánh đồng truyền giáo, thiết tưởng mỗi người chúng ta cần có một đời sống nội tâm trưởng thành và lành mạnh, một đời sống cầu nguyện chuyên cần, không cậy dựa vào sức riêng nhưng bám vào Chúa và để Chúa Thánh Thần dẫn dắt, kinh nghiệm thâm sâu về Đức Kitô, học hỏi và tuân thủ các kỹ năng truyền giáo để có thể giới thiệu Chúa cho những người bạn chưa bao giờ nghe biết Tin Mừng. Đây chính là phong thái cần có của người truyền giáo và là điều kiện cũng như phương tiện giúp chúng ta lao tác trên cánh đồng của Chúa mà không e ngại thành công hay thất bại, vì chúng ta chỉ là cộng tác viên của Chúa Thánh Thần, là khí cụ để Thiên Chúa dùng phục vụ cho thánh ý của Người, là người tiếp nối sứ vụ còn dang dở của Chúa Giêsu. Do đó, không có thành công hay thất bại trong việc truyền giáo, chỉ có lòng tín thác và kinh nghiệm của Chúa khi lao tác trên cánh đồng truyền giáo mà thôi.

 LỜI NGUYỆN CỦA NGƯỜI TRUYỀN GIÁO

 Lạy Chúa Giêsu, khi xưa Chúa phán rằng “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về” (Lc 10:2). Giờ đây, chúng con đặt mình trước Chúa, xin Chúa hãy sai chúng con đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Chúa.

 Để chúng con không cậy dựa vào sức riêng của mình, xin Thánh Thần của Chúa dạy chúng con cầu nguyện, giúp chúng con thấm nhuần Lời Chúa, biết kín múc Lời Hằng Sống của Chúa làm nguồn thần lương nuôi sống linh hồn chúng con, làm nguồn thần lực giúp chúng con nương tựa nơi Ngài để ra đi rao giảng Tin Mừng, giúp chúng con có đủ sức mạnh và tình yêu dành cho Chúa để chúng con làm việc không tìm nghỉ ngơi, để chúng con truyền giáo với tâm hồn quảng đại, với tình yêu dâng hiến, với sự hy sinh quên mình.

 Lạy Chúa Giêsu, khi nào chúng con tính toán hơn thiệt, hèn nhát, không dám lên đường truyền giáo, thì xin Chúa hãy nhắc nhớ chúng con rằng chúng con đang quên Chúa, đang lười biếng cầu nguyện, đang dựa vào sức riêng của bản thân, đang thiếu tình yêu dành cho Chúa.

 Lạy Chúa Giêsu, khi nào chúng con chia rẽ, xung đột, chán nản…, thì xin Chúa hãy nhắc nhớ chúng con rằng chúng con đang thiếu cầu nguyện, đang hành động và suy nghĩ theo xác thịt, chứ không phải theo Thần Khí.

 Lạy Chúa Giêsu, chúng con khát khao được cộng tác với Chúa, tiếp nối công trình tái tạo và cứu chuộc còn dang dở của Chúa. Xin Chúa giúp chúng con hăng say cầu nguyện và kết hiệp với Chúa như gương của Mẹ Maria, để chúng con nhiệt thành lên đường đến với lương dân, vì chúng con sẽ trở nên những kẻ vô dụng và khốn khổ nếu chúng con ngại ngùng lên đường truyền giáo, như Thánh Phaolô đã từng thổ lộ: “Khốn thân tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1Cr 9:16) và “Đẹp thay bước chân những sứ giả loan báo Tin Mừng!” (Rm 10:15).

 Xin Mẹ Maria cùng đồng hành với chúng con trên bước đường truyền giáo như Mẹ đã từng đồng hành với Chúa Giêsu khi xưa vậy. Amen.

 Giuse BCD

Nguồn: conggiao.info

 

7. TRANG TU SĨ

CHẮP CÁNH YÊU THƯƠNG

Tôi ghé thăm gia đình anh Hồng và chị Thu vào buổi trưa nắng hè tháng bảy. Tổ ấm của anh chị là căn nhà mái lá có hàng rào dâm bụt kéo dài khoảng 2 mét vuông, bên trong khuôn viên là những dãy bông dừa xen lẫn bông móng với đủ màu sắc sặc sở càng tô thêm vẻ đẹp cho ngôi nhà xinh xắn. Bước vào nhà, tôi thấy hai anh chị đang loay hoay sắp xếp lại những bức hình ngày xưa khi vợ chồng mới cưới. Thấy tôi, anh Hồng vội vàng lấy ghế mời tôi:

-        Chào Dì Năm. Hôm nay Dì Năm đến thăm nhà con.

Nhìn thấy những bức ảnh cưới còn nằm trên bàn nên tôi chọc anh chị:

-        Ngày xưa anh chị đẹp đôi quá hé!

Anh Hồng phì cười:

-        Ngày xưa Ba Má con không cho con lấy Thu vì khác Tôn Giáo. Má con đạo Cao Đài nên không muốn con cưới vợ Đạo Thiên Chúa. Con phải năn nỉ suốt hai năm má con mới đồng ý cho hai đứa cưới nhau

Chị Thu tiếp lời:

-        Anh kể cho Dì Năm nghe sao anh muốn cưới em đi.

Đôi mắt chăm chú nhìn những bức hình anh kể tiếp:

-        Ngày xưa, gia đình vợ con ở ngoài đầu hẻm cách nhà con vài căn. Tuy gia đình nghèo nhưng con thấy anh chị em của Thu rất hòa thuận thương yêu nhau, còn Thu thì dịu dàng thùy mị, mỗi Chúa Nhật gia đình đưa nhau đến Nhà Thờ tham dự Lễ. Thật hạnh phúc! Con thích lắm, và từ đó con theo đuổi Thu, rồi xin hai bên gia đình cho tụi con được cưới nhau. Lúc đầu, cả hai bên đều phản đối vì không cùng Tôn Giáo, Má con nhất định không cho nhưng hai đứa kiên trì chờ đợi, cùng nhau vượt qua những trở ngại từ phía gia đình. Hơn hai năm chờ đợi không uổng công, cuối cùng chúng con đã kết hôn với nhau và có bốn mặt con: ba trai và một gái như Dì Năm thấy đó.

-        Anh chị đã khó khăn lắm mới cưới nhau được. Vậy, từ đó tới bây giờ anh chị có từng to tiếng với nhau không?

-        Dạ, cũng có Dì ơi – Chị trả lời giọng ỉu xìu, rồi tiếp:

-        Hồi mang thai đứa con út, đời sống gia đình khó khăn quá, hơn nữa đã sinh ba đứa con trai rồi, nếu đứa này sinh ra cũn là con trai thì… làm sao có thể chăm lo chu đáo cho các con được. Lúc đó con nghĩ quẩn không muốn giữ đứa nhỏ nữa, nhưng anh Hồng không đồng ý, ảnh nói nếu con làm vậy anh sẽ bỏ nhà thờ, vì làm như vậy là phạm tội giết người, mà giết chính con của mình…. Nghe anh nói vậy con thấy sợ quá, suýt nữa là con đã phạm phải một lỗi lầm lớn sẽ ân hận suốt đời. Con thấy mắc cở vì mình Đạo gốc mà không bằng anh Đạo theo, nhưng con luôn biết ơn chồng con đã giúp con tránh được cái tội đáng sợ đó, và bây giờ vợ chồng con có được đứa con gái thật dễ thương. Đây là món quá quý giá mà Chúa đã ban cho vợ chồng con.

Cũng như bao gia đình tôi đã từng gặp gỡ tiếp xúc, hầu như gia đình nào cũng có những cái khó của gia đình ấy: có những gia đình cự cãi nhau chỉ vì quá nghèo, lại cũng có những gia đình rất giàu nhưng mọi người lại không được hạnh phúc vì thiếu sự quan tâm cảm thông cho nhau….Gia Đình anh chị Hồng – Thu được xem như một gia đình tương đối hạnh phúc, vì họ biết chọn Chúa là trung tâm đời sống của họ, họ biết sống những giáo huấn của Giáo Hội.

Thật ra trong bậc sống nào cũng vậy, cũng có những chuyện không hoàn toàn theo ý mình muốn. Vợ chồng dù có thương yêu nhau đến mấy thì cũng vẫn có lúc không tránh khỏi những tranh cãi giận hờn, nhưng chính tình yêu thương giúp chúng ta vượt qua tất cả những rào cản bên ngoài, như Thánh Phaolô đã khẳng định “Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hi vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (Ep 5,7).     

MTG Cái Nhum

 

BẺ NỬA TẤM BÁNH CUỘC ĐỜI

 Trong năm Tân Phúc âm hóa, tháng 10 được mở ra với đề tài: “Canh tân đời sống hôn nhân”; đầu óc tôi hoàn toàn trống rổng, biết viết gì khi bản thân mình sống ơn gọi thánh hiến, không một chút trãi nghiệm về ơn gọi bậc sống gia đình. Đang ngồi miên man nghĩ ngợi, thì hình ảnh thật đẹp và đầy cảm động của một gia đình đã đậm nét trong trang ký ức tôi lại được mở ra.

Cách đây nhiều năm, khi được sai đến phục vụ một họ đạo vùng duyên hải; tôi quen biết với một gia đình đạo đức và có tấm lòng quảng đại với Nhà Chúa; đó là gia đình cậu mợ Tư. Cậu Tư thường dùng thời gian rảnh rỗi, đến chăm sóc hoa kiểng Nhà thờ, mợ Tư phụ giúp việc nhà trẻ với các Dì, hai cô con gái đi học ở Thành phố, mỗi lần về thăm cha mẹ đều có bó hoa tươi dâng kính Đức Mẹ. Những khi Nhà thờ có việc, thì cậu mợ mau mắn phụ giúp. Nhìn cậu mợ vui vẻ phục vụ mà lòng tôi khâm phục. Gia đình đang sống ấm êm, thì cậu Tư bị cơn bạo bệnh, hậu quả là liệt nửa thân người. Sau 3 tháng điều trị ở Bệnh viện, cậu vẫn không phục hồi và trở về nhà với tấm thân tàn phế. Chồng là phế nhân không lo được gì cho bản thân, mợ Tư hy sinh gánh vác mọi việc trong ngoài để hai đứa con an tâm học hành. Ngoài việc chăm sóc cho cậu Tư, mỗi ngày mợ Tư còn đẩy xe lăn đưa chồng đến Nhà thờ dự Lễ và cầu nguyện trước núi Đức Mẹ, mỗi tối cậu mợ Tư cùng ngồi trước bàn thờ lần chuỗi cầu nguyện. Hình ảnh người thiếu phụ tuổi trung niên, không nghĩ đến bản thân mình; ngày ngày chỉ biết lo lắng cho chồng, hy sinh cho con; lo lắng cho người bạn đời với lòng kính trọng khiến cho nhiều người thán phục.

Khi nhận được bài sai đổi đi, tôi đến thăm cậu Tư, cậu than thở với tôi:

     -  Sống mà không làm ích lợi gì, chỉ làm khổ vợ con. Em muốn chết để vợ em khỏi khổ cực.

Tôi ôn tồn khuyên cậu Tư:

     - Cậu đừng nghĩ vậy mà có lỗi với Chúa. Khi Chúa gởi cho cậu căn bệnh ngặt nghèo, Chúa cũng trao cho cậu một món quà thật quý giá là mợ Tư, người bạn đời tốt lành bên cạnh cậu đó.

         - Dì nói đúng. Em biết ơn vợ em lắm, một người bạn đời thật quý giá. Mấy năm nay, em nằm một chỗ, tất cả cực nhọc trong gia đình một mình vợ em gánh vác, nhưng chưa hề nghe lời nặng nhẹ than trách em.

        - Bây giờ nằm trên giường bệnh, cậu Tư phải cám ơn Chúa vì được chia sẻ chén đắng với Chúa, cám ơn Chúa đã trao ban cho cậu người bạn đời quý giá. Vậy cậu phải sẵn sàng chấp nhận ý Chúa nha. Cậu dâng lên Chúa những đau đớn để cầu nguyện cho họ đạo, cầu nguyện cho mợ Tư có sức khỏe để lo cho cậu nữa chứ.

         - Cám ơn Dì nhiều lắm. Xin Dì cầu nguyện cho gia đình em.

Sau một thời gian dài, được tin Cậu Tư về với Chúa, tôi đến chia sẻ niềm đau với gia đình. Nhìn nước mắt ràn rụa trên gương mặt tiều tụy của mợ Tư. Tôi nói:

Chúa đã cất khỏỉ gánh nặng cuộc đời rồi hả mợ Tư?

Mợ nắm chặt tay tôi, thổn thức nhiều hơn và nghẹn ngào nói:

Cực khổ bao nhiêu… em cũng chịu được, miễn là Ông còn sống… với mẹ con… em.

“Đức mến… hy sinh tất cả, chịu đựng tất cả”(Ep5,7). Mợ Tư đã bẻ nửa tấm bánh cuộc đời cho chồng. Mợ đã sống giây phút hiện tại đong đầy yêu thương, đã trân quý vẻ đẹp bất khả phân ly của hôn nhân và trung thành với lời thề hứa khi hai người nhận lãnh Bí tích hôn phối..

Giữa bối cảnh niềm tin đang bị khủng hoảng, chủ nghĩa cá nhân và quyền tự do được đề cao thì đời sống hôn nhân cũng khá nhiều rạn nứt. Có những hoàn cảnh Bí tích hôn phối cũng không còn giá trị bất khả phân ly. Người đời hôm nay yêu chuộng tiền bạc, tài sắc hơn tình nghĩa, họ không dễ dàng sống chữ thủy chung vì khi gặp cảnh khổ đau thì hôn nhân cũng dễ đổ vỡ. Người sống bậc gia đình cần ý thức hôn nhân là một ơn gọi, phải được xây trên nền tảng tình yêu. Hôn nhân không tình yêu là hôn nhân giả hiệu. Hôn nhân cũng cần xây dựng trên sự kính trọng, nhờ sự kính trọng tình yêu mới bền vững. Đã nói tình yêu thì phải có sự hy sinh. Tình yêu đích thực là tình yêu hướng đến người khác, tìm hạnh phúc cho người khác. Khi tình yêu càng quên mình thì càng được yêu thương. Nếu mọi cuộc hôn nhân được xây dựng trên nền tảng theo khuôn mẫu của Chúa Ba Ngôi thì đời sống gia đình sẽ bền vững, sinh hoa kết quả, làm tươi sáng xã hội và nâng cao phẩm giá con người.

MTG Cái Mơn

 

8. TRANG SỐNG ƠN GỌI

TU TRIỀU HAY TU DÒNG ?

“Tu Triều” và “Tu Dòng” đều là “đi tu”, nghĩa là bước theo Chúa Kitô và sống độc thân trong bậc sống của mình. Nói cách khác, “Triều và Dòng” là sự phân biệt về hai lối sống tu trì khác nhau trong Giáo Hội. Ta có thể dựa trên vài tiêu chuẩn như: Chương Trình Huấn Luyện; Trực Thuộc và Công Việc Mục Vụ; Lời Khấn; và Đời Sống, để giúp ta nhận ra sự khác biệt giữa tu triều và tu dòng.

Trước tiên, ta cùng tìm hiểu thế nào là lối sống Tu Triều hay còn gọi là các cha Giáo phận (Diocesan priests). Ta có thể nhận ra nét chính yếu của chương trình huấn luyện trở thành linh mục Triều, là đào tạo về các khía cạnh nhân bản, tri thức, đạo đức và mục vụ để các linh mục sau này trở thành những cộng tác viên của Giám Mục Giáo Phận trong công việc mục vụ Giáo Phận, cụ thể là coi sóc và quản trị Xứ Đạo.

Thời gian huấn luyện tùy theo Giáo Phận, thường được tuyển chọn các ứng sinh sau khi tốt nghiệp Đại Học hoặc cao đẳng được ở dự tu chung và học các môn cần thiết khoảng 3 năm. Sau đó được tuyển vào Đại Chủng Viện học khoảng 9 năm: 1 năm tu đức, 2 năm triết học (philosophy), 1 năm giúp xứ sau đó học tiếp 4 năm Thần Học (theology) và thực tập tiếp 1 năm ở Giáo Xứ,  rồi sẽ được thụ phong linh mục và được gọi là linh mục Giáo Phận hay linh mục Triều.

Các linh mục Triều trực thuộc Giáo Phận, trực tiếp dưới quyền Đức Giám Mục Giáo Phận, vâng lời và thi hành chức vụ linh mục, đảm nhận những công tác do Đức Giám Mục chỉ định. Sau khi được truyền chức, linh mục đó chính thức “nhập tịch” (incardinated) vào Giáo Phận, là thành viên của linh mục đoàn.

Các linh mục Triều không bắt buộc khấn ba lời khấn: Vâng Lời, Khó Nghèo và Khiết Tịnh như các tu sĩ, nhưng phải giữ lời hứa vâng lời Đức Giám Mục và hứa sống trinh khiết độc thân và sống một cuộc sống giản đơn giữa anh chị em giáo dân của mình.

Về đời sống, linh mục Triều thường thi hành việc mục vụ tại các Giáo Xứ trong phạm vi Giáo Phận của mình. Tại các giáo xứ, các linh mục triều thường sống độc lập và được làm chủ, tiền bạc được sử dụng theo ý của mình.

Thứ đến ta tìm hiểu về ơn gọi “Tu Dòng” hay Tu Sĩ là những phần tử của các dòng tu thường sống trong một cộng đoàn, gọi là Đan Viện hay Tu Viện.

Chương trình huấn luyện khoàng 10-14 năm, dài ngắn là tuỳ theo mỗi Dòng. Thường là qua giai đoạn thử sinh (thời gian học đại học), tập sinh để học về hiến pháp, tôn chỉ của Dòng (2 năm), sau đó là;

Khấn lần đầu, Khấn tạm và Khấn trọn đời.

Sau khi Khấn trọn đời, Tu Sĩ đó chính thức “nhập tịch” nhà Dòng và có bổn phận trực tiếp vâng lời bề trên Dòng trong mọi sự việc và đảm nhận những công tác do bề trên chỉ định.

Các Tu Sĩ phải khấn giữ các lời khuyên Phúc âm (còn gọi là ba lời khấn): Khó nghèo, Khiết tịnh và Vâng lời; rồi chuyên cần cầu nguyện và liên kết sống chung với nhau trong tình huynh đệ, theo từng đặc sủng riêng của mỗi hội dòng. Mỗi hội dòng có những khuynh hướng phục vụ trong các lãnh vực chuyên biệt như: giáo dục, giảng dạy nơi các đại học, các trung tâm; cầu nguyện, chiêm niệm và lao động; hướng dẫn tĩnh tâm, đại phúc; truyền giáo trong những vùng đất mới, phục vụ người nghèo, người bệnh tật, các nhóm người đặc biệt nào đó tùy theo nhu cầu của xã hội, Giáo hội… Các Tu Sĩ vẫn có thể trở thành Linh Mục, nếu hội dòng đó là hội dòng giáo sĩ, và thỉnh thoảng bạn cũng thấy các linh mục Dòng cũng coi sóc xứ đạo, nếu giám mục giáo phận nhờ hội dòng cộng tác.

Các Tu Sĩ sống chung với cộng đoàn của mình và tất cả tài sản đều để chung, bề trên trực tiếp sẽ chu cấp những nhu cầu vật cần thiết cho cuộc sống và mục vụ.

Tóm lược, về danh xưng giữa những người Tu Triều và Tu Dòng có khác nhau, nhưng nội dung vẫn như nhau. Vì họ là những người nghe theo tiếng Chúa kêu gọi ra đi sống làm việc tinh thần đạo giáo, việc của Chúa, việc do Giáo Hội trao. Tuy được gọi và chọn như vậy, họ vẫn là những con người như bao con người được Chúa tạo thành với thân xác, trí tuệ tinh thần, thần kinh cảm giác cùng ý chí lòng muốn. Chúa chọn Họ với cả niềm vui, nụ cười, và cũng có cả nỗi buồn phiền đau khổ cùng dòng nước mắt.

Chúng ta cùng tiếp tục tạ ơn Thiên Chúa đã gọi và chọn “họ”. Đồng thời, ta tiếp tục giúp đỡ bằng những khuyến khích, cầu nguyện và nâng đỡ khi “họ” vấp ngã để “họ’ tiếp tục bước đi theo Chúa và phục vụ Giáo Hội. Xin Ơn Thánh của Chúa Giêsu, vị mục từ nhân lành tiếp tục biến đổi, thánh hóa, và nâng đỡ các vị Linh Mục, Tu Sĩ của Chúa trong mọi hoàn cảnh với niềm xác tín: “Thiên Chúa là niềm vui, niềm hy vọng cùng sức mạnh đời tôi. Ngài là khởi đầu và cùng đích đời tôi.”

LM. Phanxicô Xavier Trần Quốc Tuấn Hưng

  

9. TRANG THIẾU NHI

GIÁ TRỊ CỦA SỰ YÊN LẶNG

Sự yên lặng có một giá trị lớn lao ít ai hiểu thấu. Hôm nay chúng ta hãy cắt đứt tiếng ồn ào thế tục để lắng nghe tiếng lòng, trở vào căn phòng nội tâm, hầu tìm kiếm giá trị sự yên lặng.

Giá trị yên lặng trong đời sống xã hội

Yên lặng: dấu chỉ của khôn ngoan

Không thể tìm được một người khôn ngoan trong số những kẻ ba hoa bép xép. Lý do là vì họ chưa kịp suy nghĩ kỹ trước khi nói. Họ cũng ít có thời giờ để suy nghĩ về bất cứ điều gì. Trái lại, người khôn ngoan luôn đắn đo trong từng lời.

Nhà hoạt động xã hội Larry Eisenbery đã từng nhận xét: “Nếu bạn muốn được tiếng là người khôn ngoan, hãy cứ nín thinh”. Ý ông muốn nói: khi trí óc lẩm cẩm thiếu sáng suốt thì người ta hay nói bừa. Ông lập luận vì sao người ta nên nói ít? Vì 2 lý do:

-        Nhiều hỗn loạn trong thế giới này gây nên bởi một khối óc hẹp hòi kết hợp với một cái miệng rộng.

-        Người ít lời sẽ không phải rút lời nhiều, ít nói ít sa sẩy, nên ít phải đính chính.

Yên lặng: bớt cãi cọ, tranh chấp, chia rẽ

Cứ nhìn vào một cộng đoàn, ta sẽ thấy những người nhiều chuyện thường gây bất thuận và xáo trộn cộng đoàn. Ông bà ta có câu: “Chồng giận thì vợ bớt lời, cơm sôi bớt lửa có đời nào khê”.

Có một bà nội trợ đến xưng tội và trình bày gia cảnh lục đục cho cha giải tội nghe. Cha chỉ cho bà một cách thế là dùng một chai nước lã. Ngạc nhiên, bà hỏi: Con sẽ làm gì với chai nước này?”. Cha ôn tồn đáp: “Đây không phải là nước thánh, cũng không phải là nước uống đâu. Con cứ đem về nhà và nhớ thực hành đúng lời cha dạy đây: mỗi khi chồng con nổi nóng, con hãy hớp một ngụm nước, nhưng đừng uống, cứ ngậm trong miệng”.  Bà ta về nhà và thi hành đúng như vậy. Ít lâu sau, bà tới xưng tội và cảm ơn cha: “Từ ngày làm theo phương pháp của cha, gia đình con khỏi hẳn gây lộn. Lý do là vì chỉ có một mình ông xã con nói. Ông nói mây câu không thấy con phản ứng gì, vì miệng con ngậm nước, nên ông cũng chán rồi thôi luôn”.

Chúng ta thử áp dụng phương pháp ấy trong gia đình mình chắc sẽ có hiệu quả!

Giá trị yên lặng trong tu đức

Khi nói đến đời sống tinh thần thì ta phải nói đến sự yên lặng.

Yên lặng và bình an

Yên lặng là hình ảnh của an bình, nó là điều kiện giúp tâm hồn lắng đọng, để nghe tiếng Chúa nói và sống đúng theo ý Ngài.

Chúa Giêsu luôn kết hợp mật thiết với Chúa Cha trong mọi giây phút, thế mà Ngài cũng làm gương cho chúng ta trong việc tìm thầm lặng. Trước khi bắt đầu đi rao giảng, Ngài đã vào sa mạc 40 đêm ngày để sống thinh lặng.

Yên lặng, sẽ có đủ thời giờ nghĩ đến Chúa

Rất nhiều người phàn nàn: con vất vả quá, làm việc suốt ngày chẳng có thời giờ để cầu nguyện, chẳng có giờ để nghĩ đến Chúa… Nói như thế là họ đã không vận dụng sự yên lặng, chưa biết dành thời giờ để âm thầm sống với Chúa.

Nếu chúng ta bớt những chuyện tò mò, bớt những câu nói dư thừa, bớt xem những tin tức vô bổ…thì chắc chắn chúng ta sẽ có thời giờ để cầu nguyện.

Yên lặng, chuẩn bị tâm hồn kết hợp với Chúa

Nếu một người chuẩn bị rước lễ mà còn đang nói chuyện với bạn bè thì làm sao họ có thể cảm ơn Chúa cách sốt sắng được?

Người ta không thể cùng một lúc nói chuyện tâm tình thân mật với hai người khác nhau, ngồi hai nơi khác nhau.

Nếu chúng ta dành quá nhiều thời giờ cho tạo vật thì lấy giờ đâu để lắng đọng và nghe tiếng Chúa?

Hai thứ yên lặng

Có hai thứ yên lặng: yên lặng bên ngoài và yên lặng bên trong.

Một tâm hồn bình an là một tâm hồn có sự yên lặng bên trong, không bị những dục tình, đam mê chi phối.

Yên lặng bên ngoài là không nói lời vô ích, khuyết điểm, tiêu cực, không ham lui tới những chỗ ồn ào, náo loạn… tất cả những điều này cũng rất cần để giúp tâm hồn có sự yên lặng bên trong.

 

Tóm lại, nếu ý thức được giá trị của yên lặng, chúng ta có thể kìm hãm được cái lưỡi và bảo vệ được linh hồn luôn sống trong bình an.

 

HÔN NHÂN DIỄN TẢ TÌNH YÊU THIÊN CHÚA

Cũng như phần nhiều con người trên thế giới thì đại đa số người tín hữu đều sống đời hôn nhân. Trai lớn lên lấy vợ và gái lớn lên lấy chồng là lẽ thường. Tình yêu dẫn họ đến với nhau và tình yêu cũng sẽ nuôi dưỡng đời hôn nhân của họ. Hôn nhân này diễn tả tình yêu giữa Thiên Chúa và con người.

Ngay từ thuở ban đầu tạo dựng, Thiên Chúa dựng con người có nam có nữ. Chúa cho họ đến với nhau thành vợ chồng và chúc phúc cho họ. Nhờ đó, họ trở nên một xương một thịt cùng nhau suốt đời (St 2, 18 – 25).

 

Tình yêu đúng nghĩa là biết đem hạnh phúc đến cho người mình yêu. Hạnh phúc mà người nam và người nữ đem đến cho nhau trong hôn nhân là niềm vui, nụ cười, sự quan tâm chăm sóc và những gì tốt đẹp nhất. Thực hiện được những điều này đòi hỏi họ biết hy sinh, nhịn nhục, chịu đựng, tin tưởng và tha thứ cho nhau.

Nhìn vào Chúa Giêsu, ta thấy Chúa đã hy sinh cho con người đến tận cùng. Chúa lập nên Bí tích Thánh Thể để trao ban chính mình làm lương thực cho con người. Cùng với việc lập nên Bí tích Thánh Thể là Chúa đã hy sinh chịu chết cách cay đắng nhục nhã đền thay vì tội lỗi của con người. Bao nhiêu roi đòn, bao nhiêu lời sỉ vả vào mình,  Chúa đã đón nhận mà không một lời trách móc hay giận dữ. 

“Lạy Cha xin tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm” (Lc 23, 34).  Lời nói cuối cùng của Chúa trên thánh giá cho biết Người hoàn toàn tha cho những xúc phạm của con người đã chạm đến Người.

Chúa Giêsu bảo với người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình: “Ta cũng thế! Ta không kết tội chị ! Vậy chị hãy đi và từ nay đừng phạm tội nữa!”  (Ga 8, 11b). Lời nói này nói lên sự tin tưởng của Chúa vào chị cũng như vào những tội nhân.

Mục đích của Bí tích hôn phối chính là Chúa Kitô cho nhau. Nghĩa là cả hai vợ chồng nhìn vào gương của Chúa để sống cho nhau và sống vì nhau.

“Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau." (Ga 13, 34). Đúng vậy, ước gì những tín hữu Công giáo đang sống đời hôn nhân sống được như Chúa Kitô. Chính đời sống ấy diễn tả sống động tình yêu Thiên Chúa dành cho con người.

 

10. TRANG GIỚI TRẺ

Bài Giáo Lý Của ĐTC Phanxicô

Về Vai Trò Truyền Giáo Của Gia Đình

Dưới đây là bản dịch bài Giáo Lý của ĐTC Phanxicô được ban hành ngày 02 tháng 9 năm 2015 trong buổi Triều Yết Chung tại Quảng trường Thánh Phêrô.  Hôm nay ĐTC tiếp tục chu kỳ Giáo Lý về Gia Đình.  Ngài giải thích về tầm quan trọng của việc truyền giáo qua tình yêu trong gia đình.

 Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Trong phần cuối của cuộc hành trình giáo lý của chúng ta về gia đình, chúng ta hãy mở rộng tầm nhìn của mình về cách gia đình sống trách nhiệm truyền đạt đức tin và truyền thụ đức tin, cả trong lẫn ngoài gia đình ra sao.

Trước hết, người ta có thể nghĩ đến một số cách diễn tả của Tin Mừng dường như chống lại những mối dây liên hệ giữa gia đình và việc theo Chúa Giêsu.  Thí dụ như những lời cứng cỏi mà tất cả chúng ta đều nghe biết: “Ai yêu cha mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy.  Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng với Thầy.  Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy.” (Mt 10:37-38).

Đương nhiên là với những lời này Chúa Giêsu không muốn xóa bỏ điều răn thứ tư, là điều răn thứ nhất đối với con người.  Ba điều răn đầu là về liên hệ với Thiên Chúa, điều răn này liên quan đến con người.  Chúng ta cũng không thể nghĩ rằng, sau khi làm phép lạ cho cặp vợ chồng mới cưới tại Cana, sau khi thánh hóa mối liên hệ hôn nhân giữa người nam và người nữ, sau khi trả lại những người con trai và con gái cho đời sống gia đình, Chúa lại bắt chúng ta không được nhạy cảm với những liên hệ này!  Đây không phải là cách giải thích.  Đàng khác, khi Chúa Giêsu khẳng định tính ưu việt của đức tin vào Thiên Chúa, Người không tìm thấy một so sánh nào có ý nghĩa hơn tình yêu thương trong gia đình.  Và, mặt khác, cũng những mối liên hệ gia đình này, trong cảm nghiệm về đức tin và tình yêu của Thiên Chúa, được biến đổi, trở nên “tràn đầy” một ý nghĩa lớn hơn và có khả năng vượt trên chính mình, để tạo ra một chức năng làm cha làm mẹ rộng lớn hơn, và để chào đón như anh chị em ngay cả những người đang ở bên lề mọi liên hệ.  Một hôm, có kẻ thưa Người rằng có Mẹ và anh em Người, đang ở ngoài, tìm Người, Chúa Giêsu trả lời trong khi chỉ vào các môn đệ, “Đây là mẹ Tôi và anh em Tôi!  Bất cứ ai thi hành thánh ý của Thiên Chúa, đều là anh em, chị em và mẹ Tôi” (Mc 3:34-35).

Sự khôn ngoan về tình yêu thương không thể mua bán được, và là khả năng lớn nhất của thiên tài thuộc về gia đình.  Chính nơi gia đình chúng ta học lớn lên trong một bầu không khí khôn ngoan của tình yêu thương.  Chúng ta học “văn phạm” của nó ở đó, nếu không thì rất khó mà học được nó.  Và đó là ngôn ngữ mà qua đó Thiên Chúa làm cho tất cả mọi người hiểu được Ngài.

Lời mời đặt những liên hệ gia đình trong bối cảnh vâng phục của đức tin và giao ước với Thiên Chúa không hạ thấp chúng; trái lại, lời mời gọi ấy bảo vệ chúng, giải phóng chúng khỏi sự ích kỷ, giữ gìn chúng khỏi bị suy thoái, cứu chúng an toàn cho cuộc sống không còn sự chết.  Sự lưu thông của một kiểu gia đình qua các liên hệ của con người là một phúc lành cho các dân tộc: nó mang lại hy vọng trên trái đất.  Khi chúng ta để tình yêu thương gia đình biến thành chứng từ của Tin Mừng, chúng trở nên có khả năng làm những điều không tưởng, làm cho người ta có thể chạm vào những công trình của Thiên Chúa, những công trình mà Thiên Chúa thực hiện trong lịch sử, như những việc Chúa Giêsu đã làm cho người những nam nữ và các trẻ em mà Người đã gặp.  Chỉ một nụ cười cũng có thể thần kỳ kéo một đứa trẻ bị bỏ rơi ra khỏi tình trạng tuyệt vọng, để lại bắt đầu sống, nó cắt nghĩa hành động của Thiên Chúa trong thế gian tốt hơn một ngàn khảo luận thần học.  Chỉ một người nam và một người nữ, có khả năng chấp nhận rủi ro và hy sinh bản thân cho một đứa con của người khác, chứ không chỉ cho con mình, giải thích những điều về tình yêu hay hơn các nhà khoa học không hiểu chúng.  Và ở đâu có tình thương yêu gia đình, ở đó phát sinh những cử chỉ từ con tim, là những cử chỉ hùng hồn hơn những lời nói.  Những cử chỉ của tình yêu….  Điều này khiến cho người ta phải suy nghĩ.

Gia đình, đáp lại lời mời gọi của Chúa Giêsu, ký thác việc quản lý thế giới lại cho giao ước giữa người nam và ngưởi nữ với Thiên Chúa.  Anh chị em hãy nghĩ đến việc phát triển chứng từ này hôm nay.  Hãy tưởng tượng rằng bánh xe lịch sử (xã hội, kinh tế, chính trị) cuối cùng, được trao lại cho giao ước của người nam và người nữ, để họ chăm sóc cho nó với một cái nhìn hướng về những thế hệ tương lai.  Các chủ đề về đất đai và nhà ở, về kinh tế và việc làm, chắc đã được trình bày với một nhạc điệu rất khác!

Nếu bắt đầu từ Hội Thánh, chúng ta chú tâm vào việc gia đình lắng nghe và thực hành Lời Chúa, chúng ta sẽ trở nên giống như rượu ngoan của tiệc cưới Cana, chúng ta sẽ dậy men như men của Thiên Chúa!

Quả thực, ngày nay, giao ước của gia đình với Thiên Chúa được mời gọi để chống lại việc sa mạc hóa cộng đồng thành thị hiện đại.  Nhưng các thành phố của chúng ta đã bị sa mạc hóa vì thiếu tình yêu và thiếu nụ cười.  Có biết bao trò tiêu khiển, biết bao điều để lãng phí thì giờ, để làm cho người ta cười, nhưng thiếu tình yêu.  Nụ cười của một gia đình có thể chinh phục việc sa mạc hóa này của các thành phố chúng ta.  Và đây là chiến thắng của tình yêu gia đình.  Không có thiết kế kinh tế và chính trị nào có thể thay thế đóng góp này từ gia đình.  Dự án Babel xây những tòa nhà chọc trời không có sự sống.  Trái lại, Thần Khí của Thiên Chúa làm cho sa mạc nở hoa (x.  Isaiah 32:15).  Chúng ta phải ra khỏi những tháp ngà và những căn phòng bọc sắt của giới ưu tú, để lại thường xuyên thăm viếng những ngôi nhà và không gian rộng mở của đám đông và mở lòng ra cho tình yêu của gia đình.

Sự hiệp thông các đặc sủng – các đặc sủng được ban cho Bí Tích Hôn Phối và những người được thánh hiến cho Nước Thiên Chúa – có mục đích biến Hội Thánh thành một nơi hoàn toàn có tính gia đình qua việc gặp gỡ Thiên Chúa.  Chúng ta hãy tiến bước trên con đường này, chúng ta đừng mất hy vọng.  Nơi nào có một gia đình với tình yêu, thì gia đình ấy có thể sười ấm trái tim của toàn thể thành phố bằng chứng từ tình yêu của mình.

Anh chị em hãy cầu nguyện cho tôi, chúng ta hãy cầu nguyện cho nhau, để chúng ta trở nên có khả năng nhận biết và hỗ trợ các cuộc thăm viếng của Thiên Chúa.  Chúa Thánh Thần sẽ mang sự xáo trộn hạnh phúc đến các gia đình Kitô hữu, và các thành phố của con người sẽ thoát ra khỏi tình trạng trầm cảm của nó!

Phaolô Phạm Xuân Khôi  chuyển ngữ

Nguồn: giaoly.org

 

11. TRANG GIA ĐÌNH

LÀM THẾ NÀO ĐỂ SỐNG HẠNH PHÚC

Điều đầu tiên tôi muốn nói, đó là tôi chẳng phải là một chuyên gia về “hạnh phúc học” hay gì cả. Tôi chỉ đơn giản chia sẻ với bạn cách tôi đi tìm hạnh phúc, bởi vì tôi tin rằng, có thể nó cũng sẽ giúp bạn được ít nhiều.

Một sự thật đơn giản mà mọi người ai ai cũng biết, tất cả chúng ta đều mong muốn được hạnh phúc, và đối với chúng ta, hạnh phúc gần như là một mục tiêu to lớn trong cuộc sống. Tuy nhiên, có một điều mà ít ai trong chúng ta biết được, đó là hạnh phúc không hề và không thể là một mục tiêu. Bạn sẽ chẳng bao giờ vươn tới được hạnh phúc, lấy được nó, hay nắm giữ nó, bởi đơn giản nó không hề tồn tại bên ngoài bản thân bạn.

Có thể bạn thấy hơi khó hiểu, nhưng sự thật là thế, bạn chắc chắn không thể vươn tới, lấy được hay nắm giữ hạnh phúc, bởi vì đơn giản hạnh phúc vốn đã là một phần của bạn, nó là một cảm xúc của chính bạn.

Bạn cảm thấy đây là một tin vui hay không vui? Đối với tôi, đây thật sự là một tin tốt lành, bởi vì khi hạnh phúc là một cảm xúc tồn tại bên trong chính bản thân bạn, nó là thứ bạn luôn luôn sở hữu, chính vì thế, bạn luôn luôn có một sự lựa chọn: hạnh phúc hay là không.

Bạn có thể cảm thấy điều này thật khó tin. Bạn có thể nói với tôi rằng, bạn chỉ cảm thấy hạnh phúc khi bạn tìm được một công việc tốt, mua được một chiếc xe đắt tiền, có được một căn nhà lớn, tìm được một người yêu tuyệt vời, hay bắt đầu xây dựng tổ ấm riêng,… Dĩ nhiên là bạn hoàn toàn đúng, và cũng như bạn, tôi biết rằng những sự kiện đó mang lại cho chúng ta những giây phút tuyệt vời khó quên và cả niềm hạnh phúc tức thời.

Bạn có để ý thấy rằng tôi gọi đó là những “hạnh phúc tức thời” không? Tại sao lại là như thế? Bây giờ, bạn hãy thử hỏi chính bản thân mình một câu hỏi đơn giản: “Những cảm giác hạnh phúc như thế tồn tại trong bao lâu?”, và hãy trả lời cho chính mình câu hỏi ấy một cách thành thật nhất…

Bạn có vừa nhận ra một sự thật phũ phàng rằng, cảm giác hạnh phúc từ những giây phút như thế không thật sự tồn tại lâu dài?

Tôi xin lỗi, nhưng có lẽ tôi lại phải chia sẻ thêm với bạn một sự thật còn phũ phàng hơn thế nữa. Đó là phần lớn chúng ta tiêu tốn không biết bao nhiêu thời gian, công sức để tìm kiếm những giây phút như thế trong sự căng thẳng, lo lắng, thất vọng, buồn bực và đôi khi cả giận dữ. Tệ hơn thế, cho dù chúng ta có cố gắng đến mức nào đi nữa để theo đuổi những giây phút hạnh phúc tức thời đó, chẳng có gì có thể đảm bảo rằng chắc chắn ta sẽ có được chúng.

Công thức bên dưới đây diễn tả con đường đó. Chú ý là ngay cả khi bạn nỗ lực thế nào đi nữa, bạn vẫn không chắc đạt được thành quả bạn mong muốn. Có thể rất nhiều lúc bạn sẽ phải loay hoay mãi ở bậc đầu tiên hoặc phải bỏ cuộc giữa chừng trước khi đến được cái đích “hạnh phúc”.

Ngay cả khi bạn “trèo” được đến “hạnh phúc” thì bạn sẽ không ở đó lâu. Một trong những điểm mạnh của loài người chúng ta là khả năng thích nghi rất nhanh. Khi bạn đã bắt đầu “thích nghi” với những gì mình có, bạn sẽ bắt đầu cảm thấy cuộc đời trôi qua nhàm chán, bạn sẽ lại mong muốn đạt được những thành quả to lớn hơn. Thế là một lần nữa, bạn lại thấy mình bắt đầu từ bậc đầu tiên – cố gắng phấn đấu. Và cứ thế, 3 bậc thang này sẽ xuất hiện đi xuất hiện lại trong cuộc đời bạn như một chuỗi dài vô tận trên con đường tìm kiếm hạnh phúc.

Cố gắng phấn đấu => Đạt được thành quả => Hạnh phúc

Cho nên, cách tốt nhất để có được hạnh phúc thật sự lại rất đơn giản, đó là tự tạo ra hạnh phúc ngay trong chính bản thân bạn. Vâng, đúng thế, hạnh phúc không thật sự nằm ở chiếc xe bạn lái, ngôi nhà bạn ở, hay công việc bạn đang có,… bởi vì có những người đã đạt được rất nhiều thứ họ mong muốn, nhưng rốt cuộc, họ vẫn không cảm thấy thật sự hạnh phúc. Đơn giản là vì hạnh phúc nằm trong chính bản thân mỗi chúng ta, nó nằm ở ngay trong chính bạn.

Bạn tạo ra hạnh phúc bằng cách trân trọng tất cả những gì bạn đang có, cũng như chấp nhận và yêu quý chính bản thân bạn. Đó chính là “bí quyết” hạnh phúc mà tôi muốn chia sẻ với bạn.

Bạn có biết rằng, những việc tưởng chừng như rất đơn giản tầm thường như mỗi ngày khi bạn có 3 bữa ăn đầy đủ, hoặc mỗi tối bạn được ngả lưng trên chiếc giường êm ấm của mình, bạn đã hạnh phúc hơn 3 tỉ người khác trên thế giới này. Bạn có biết rằng, nếu mỗi ngày bạn đơn giản thức dậy vào buổi sáng, bạn đã hạnh phúc hơn 150.000 người sẽ không bao giờ thức dậy nữa từ ngày hôm đó.

Cuộc sống và hạnh phúc đôi khi chỉ đơn giản như thế. Nhưng bất kì lúc nào, chúng ta dường như cũng có thể tìm ra lý do để cảm thấy không vui. Vậy thì sao chúng ta không đơn giản làm ngược lại? Chọn vui vẻ và hạnh phúc bằng cách sống hết mình. Bạn có thể chưa đạt được những gì bạn mong muốn nhưng bạn sẽ không bao giờ phải hối tiếc vì đã không cố gắng hết sức. Và đó là lý do tôi đang cảm thấy hạnh phúc, cũng như bạn, hãy đơn giản bắt đầu hạnh phúc khi bạn đọc hết những dòng này…

Nếu bạn vẫn chưa cảm thấy thuyết phục thì tôi xin cam đoan với bạn rằng không chỉ có tôi nghĩ như thế, mà trên thế giới có rất nhiều người nghĩ như thế. Trong số đó, có cả một người mà có thể bạn cũng đã biết, người “không có” quá nhiều thứ nhưng vẫn biết cách sống hạnh phúc – chàng trai không tay không chân kỳ diệu Nick Vujicic.

“Bạn có thể ngập chìm trong những thứ tiền có thể mua được, và bạn vẫn sẽ đau khổ như nhân loại vẫn thế. Tôi biết những người có cơ thể hoàn hảo mà không có được một nửa hạnh phúc mà tôi tìm thấy. Trong những chuyến đi của tôi, tôi thấy nhiều niềm vui ở những khu ổ chuột ở Mumbai hay nhà tế bần ở châu Phi hơn ở những khu dân cư kín cổng cao tường giàu có và những điền trang rộng ngút ngàn triệu đô. Vì sao vậy? Bạn sẽ tìm thấy sự thỏa mãn khi tài năng và đam mê của bạn được sử dụng hoàn toàn. Hãy nhận ra sự tự thỏa mãn tức thời. Hãy chống lại cám dỗ trong việc giành được một vật chất nào đó như ngôi nhà hoàn hảo, những bộ quần áo cá tính nhất hay chiếc xe hợp thời nhất. Hội chứng ‘Nếu tôi có X, tôi sẽ hạnh phúc’ là một sự ảo tưởng lớn. Khi bạn tìm hạnh phúc ở những món đồ, chúng không bao giờ là đủ. Hãy tìm hạnh phúc ở quanh mình. Hãy tìm hạnh phúc trong chính bản thân mình.” – Nick Vujicic

Hy vọng rằng, những gì tôi chia sẻ với bạn đã bắt đầu hình thành trong bạn những ý tưởng giúp bạn thật sự đạt được hạnh phúc trong cuộc sống. Một lần nữa, tôi không khẳng định điều này đúng với tất cả mọi người. Nó sẽ không giúp gì được cho bạn, trừ khi bạn chọn tin vào nó, và từ đó tạo ra một “công thức hạnh phúc” riêng của bạn.

Tuy nhiên, tôi xin được phép tạm thời chưa kết thúc chủ đề này ở đây, bởi vì trong phần tiếp theo, tôi sẽ chia sẻ với bạn thêm về những “cạm bẫy” mà bạn có thể sẽ vô tình vấp phải trên con đường trở nên hạnh phúc hơn bằng cách tạo ra hạnh phúc trong chính trái tim mình. Còn bây giờ, hãy đơn giản cảm thấy hạnh phúc bạn nhé.

Trước khi bạn đọc tiếp, cho phép tôi được nhấn mạnh lại lần nữa rằng, những gì tôi chia sẻ có thể có ích với bạn hoặc có thể chưa có ích ngay, bởi vì cách sống và niềm tin của mỗi người chúng ta khác nhau. Nhưng thông qua những trải nghiệm của mình, tôi cảm thấy điều này tốt rất hữu ích cho bản thân mình. Vì thế, tôi muốn chia sẻ với bạn và hy vọng rằng nó cũng sẽ giúp ích cho bạn.

Trong phần trước, tôi đã chia sẻ với bạn rằng những giá trị vật chất (tiền tài, nhà cửa, xe cộ, chức quyền,…) không thể mang lại hạnh phúc bền vững. Và hạnh phúc nhiều khi đơn giản chỉ là trân trọng và tận hưởng những gì bạn đang có, cũng như chấp nhận bản thân mình.

Tuy nhiên, có một cạm bẫy nguy hiểm ở đây mà bạn cần phải biết. Đó là nếu bạn trở nên “quá bằng lòng” với mọi thứ thì chuyện gì sẽ xảy ra?

Câu trả lời là bạn sẽ ngừng vươn lên như một con người. Thậm chí, bạn có thể làm thui chột dần những tiềm năng bên trong mình. Đó không phải là hạnh phúc, đó là sống mà không biết ý nghĩa của cuộc đời mình. Cùng với thời gian, khi thời cuộc thay đổi, bạn sẽ có ngày càng ít lý do có thể giúp bạn nuôi dưỡng hạnh phúc bên trong mình, bởi vì đơn giản, có thể những điều mà bạn trân trọng sẽ biến mất dần theo năm tháng, trong khi không có gì mới đến với bạn một khi bạn đã quên mình phải nỗ lực. Khi không còn nhiều điều để trân trọng trong cuộc sống, bạn không còn cái nguyên liệu cần thiết để tự tạo ra hạnh phúc bạn mong muốn.

Điều tôi muốn nhấn mạnh ở đây là bạn không nên bao giờ lẫn lộn giữa “trân trọng những gì mình đang có” với “bằng lòng với những gì mình đang có mà quên vươn lên”. Chúng ta hiểu rằng, thế giới luôn phát triển, nếu chúng ta không ngừng vươn lên, chúng ta sẽ bị bỏ lại phía sau.

Có thể bạn đang ở vào một thời điểm trong đời mà bạn cảm thấy hoàn toàn bằng lòng với cuộc sống hiện tại và đơn giản là bạn… hạnh phúc. Điều ấy thật sự rất tốt. Bên cạnh đó, bạn cũng cần phải nghĩ đến một “hợp đồng bảo hiểm” cho hạnh phúc của mình. Hãy tranh thủ những lúc bạn đang cảm thấy hạnh phúc và chuyển nó thành năng lượng để vươn lên không ngừng bởi vì cuộc sống không phải lúc nào cũng thuận buồm xuôi gió.

Tôi đã từng rơi vào cái bẫy của “hài lòng với hiện tại” và tôi đã phải trả giá. Sau khi tốt nghiệp đại học, tôi tìm được một công việc ổn định với mức lương khá cao. Thế là tôi dành nhiều thời gian vào những việc vô bổ như chơi game online chẳng hạn. Cho đến một ngày, tôi mất việc vì công ty tôi phá sản. Chưa hết, công ty còn nợ tôi đến tận 3 tháng lương. Trong khi bạn tôi, nhờ tập trung phấn đấu dù xuất phát sau tôi đã làm ở những tập đoàn hàng đầu, ở những vị trí tốt với mức lương hấp dẫn.

Đang từ một người có công ăn việc làm ổn định, có mức lương tốt, có thú vui hàng ngày (game online),… Bỗng nhiên, tôi thấy mình đang tiêu hết những đồng tiết kiệm cuối cùng trong khi tiền thuê nhà thì vẫn cứ phải đóng, cùng với bao nhiêu chi phí khác của cuộc sống. Lúc đó, tôi chỉ mong rằng, phải chi mình đã sống có ích hơn, dành thời gian rảnh rỗi trước kia để đọc sách, học thêm cái này cái kia, tìm cách phấn đấu vươn lên (thay vì chơi game), thì bây giờ đâu đến nỗi. Nhưng hối cũng đã muộn, tôi đã hoài phí gần một năm cuộc đời mình vì quá bằng lòng với những gì mình đang có (thay vì trân trọng những gì mình đang có).

Sau khi tôi khó khăn lắm mới thoát khỏi hoàn cảnh ấy và lựa chọn từ bỏ lối sống cũ để sống xứng đáng hơn, tôi thề với bản thân mình rằng, tôi sẽ làm tất cả trong phạm vi đạo đức và pháp luật để trở nên thành công và giàu có. Và đó cũng là lúc tôi vô tình để mình rơi vào cái bẫy thứ hai.

Cái bẫy này hoàn toàn trái ngược với cái bẫy đầu tiên. Nó là cái bẫy của mong muốn thành công đến thật nhanh và kiếm thật nhiều tiền. Tôi chẳng làm gì vi phạm đạo đức hay pháp luật, nhưng vì cố gắng quá sức, tôi đã “đốt” đi sức khỏe và hạnh phúc của mình để chạy theo những điều tôi nghĩ sẽ làm tôi… hạnh phúc.

Tôi trở nên vội vã để vươn đến thành công. Tôi đạt được một vài mong muốn nhưng tôi cảm thấy mình ít hạnh phúc hơn bao giờ hết. Tôi cố tạo ra hạnh phúc từ bên trong mình và tôi làm được, nhưng rồi tôi lại nhanh chóng “đốt” chúng đi để tạo năng lượng… làm việc. Chỉ đến khi cảm thấy cuộc sống sao mà bế tắc, tôi mới nói với bản thân mình rằng: “Được rồi, chạy chậm lại. Đời là một cuộc ma–ra–tông. Muốn nhanh thì phải từ từ”.

Tôi chọn kiên định tiến đến mục tiêu của mình từng ngày một cách kiên trì như một vận động viên chạy bộ. Không quá chậm để trở nên tầm thường, nhưng cũng không quá nhanh để phải hụt hơi. Tôi chợt hiểu ra rằng, không chỉ thành công mà còn cả hạnh phúc, đều nằm trên chặng đường tôi vượt qua chứ không phải là một đích đến.

Nói cho cùng, tôi tìm ra bí quyết hạnh phúc của mình trong một từ: CÂN BẰNG. Để thật sự hạnh phúc, bạn cần phải biết tạo ra hạnh phúc bên trong mình. Cùng lúc đó, bạn cũng phải biết vươn lên để đạt được những thành quả để có thêm “nguyên liệu” để xây dựng hạnh phúc của mình. Nếu bạn chỉ tập trung quá nhiều vào việc tạo ra hạnh phúc bên trong, bạn có thể không bao giờ đạt được những thành quả mà bạn mong muốn trong đời. Ngược lại, nếu bạn sống vì những thành quả thì bạn có thể đang “đốt” hạnh phúc của mình trước khi xây được hạnh phúc.

Cho dù từ CÂN BẰNG nghe có vẻ đơn giản và dễ dàng, nó thật ra là cả một nghệ thuật sống. Chúng ta đều biết điều đó, nhưng liệu bao nhiêu người trong chúng ta thật sự sống như thế? Chính vì thế, mỗi người chúng ta đều phải trả một cái giá nào đó để hiểu được nó, và thật ra, nó sẽ rất khác nhau trong suy nghĩ và trải nghiệm của mỗi người .

Hạnh phúc có cái giá của nó. Tôi đã trả cái giá của mình để thật sự tìm thấy hạnh phúc trong cuộc sống. Và khi tôi viết những dòng này, tôi thật sự hy vọng nó có thể giúp bạn tìm được hạnh phúc mà không cần phải trả giá quá cao. Chúc bạn những điều tốt lành nhất… Chúc bạn lựa chọn hạnh phúc.

(Trích từ chương “Suy ngẫm” – sách Sống và Khát Vọng)

Trần Đăng Khoa

 

12. TRANG GIÁO LÝ VIÊN

25 Bài Giáo Lý Về Thánh Phaolô

Bài 20: Lên Giêrusalem lần thứ hai

Lần thứ hai lên Jerusalem, theo Phaolô kể trong thư Galata, là dịp đại hội Jerusalem nhóm họp để giải quyết vấn nạn về những người ngoại gia nhập giáo hội, khoảng năm 49 (Gal 2:1).

Theo Công Vụ Tông Đồ, khi Phaolô ngụ lại ở Antioch sau chuyến hành trình đầu tiên (khoảng năm 46-49), có nhiều dân ngoại tin theo Chúa Kitô, một số đến từ vùng Judea (Cvtd 15:1-3). Khi những người ngoại gia nhập hội thánh, vấn nạn được đặt ra là họ có phải giữ những luật mà người Do Thái đang giữ hay không: luật cắt bì và luật kiêng khem trong ăn uống.

Bối cảnh hội thánh lúc đó là đa số những Kitô hữu tiên khởi là người Do Thái. Những người này, dù tin vào Đức Giêsu Kitô nhưng họ không tách mình ra khỏi Do thái giáo. Họ nhìn Đức Giêsu Kitô là Đấng được Thiên Chúa xức dầu (Messiah) và sai đến để giải phóng dân họ. Nói cách khác, theo Chúa Giêsu Kitô lúc đó chưa hẳn là theo một tôn giáo mới, nhưng là tin rằng những gì Thiên Chúa đã hứa cho dân Israel giờ đây được thực hiện.

Với niềm tin đó, họ (những người Do thái tin vào Chúa Kitô) không có lí do gì để từ bỏ lề luật Môisê. Họ giữ phép cắt bì, kiêng ăn những thức ăn bị xem là dơ bẩn (như thịt còn dính máu) và giữ luật thanh tẩy trước khi ăn v.v…

Vì thế, khi những người ngoại (Hi lạp, Roma…) gia nhập hội thánh, một số những người gốc Do thái đòi hỏi dân ngoại giữ những luật trên.

Khi vấn nạn còn đang tranh cải, chưa được giải quyết, Phaolô và vài người khác lên Jerusalem để tham khảo ý kiến của các tông đồ.

Chi tiết của đại hội được kể trong sách Cvtd (15:1-20) và trong thư Phaolô viết cho Galata (2:1-10) có phần khác nhau về diễn biến của buổi họp, nhưng quyết định cuối cùng của đại hội thì hoàn toàn giống nhau: là dân ngoại theo Chúa Giêsu Kitô không cần phải chịu cắt bì. Ta có thể tóm hai diễn biến trong hai nguồn liệu như sau:

Trước hết, theo Công Vụ Tông Đồ, sau khi một vài người theo phái Pharisiêu thắc mắc việc cắt bì của người ngoại theo Chúa Giêsu, cộng đoàn Antiokia gởi Phaolô và Barnaba cùng đem theo Titô (một người ngoại tin theo Chúa Kitô) lên Jerusalem để tìm câu trả lời. Tại đại hội, sau khi nghe Phêrô trình bày đừng tạo thêm gánh nặng không cần thiết cho anh em (Cvtd 15:7-10), đến Phaolô và Barnaba trình bày những thành quả truyền giáo với dân ngoại (Cvtd 15: 12), thì Giacôbê, nhân danh người lãnh đạo cộng đoàn Jerusalem, đã quyết định là dân ngoại theo Chúa Giêsu không phải chịu phép cắt bì (Cvtd 15: 20). Về việc kiêng khem thịt và thức ăn cúng, Giacôbê khuyên: “viết thư bảo họ kiêng những thức ăn ô uế vì đã cúng cho ngẫu tượng, tránh gian dâm, kiêng ăn thịt loài vật không cắt tiết và kiêng ăn tiết.” (Cvtd 15:20).

Trong thư gởi Galata, Phaolô kể là Ngài và Barnaba cùng đem Titô lên Jerusalem. Phaolô đã gặp riêng với các tông đồ. Ngài cũng cho biết rằng việc đòi hỏi dân ngoại chịu cắt bì là do một số thành phần quá khích đòi hỏi (Gal 2:4). Sau khi gặp những vị hữu trách có thế giá (lúc đó là Phêrô, Giacôbê và Gioan) và trình bày sự việc, không có vị nào bắt Titô (một người ngoại) phải chịu cắt bì. Phaolô còn xác nhận rằng quyết định của các vị đó là tôn trọng việc Phaolô được Thiên Chúa chọn đi truyền giáo cho dân ngoại, và Phêrô truyền giáo cho người Do Thái (Gal 2:1-10).

Đại hội Jerusalem là một ví dụ điển hình về hình thức sinh hoạt của giáo hội khi gặp những khúc mắc về luân lí hay đức tin. Các vị hữu trách (các tông đồ ngày xưa, và các giám mục ngày nay) họp lại để tìm ra thánh ý Thiên Chúa mặc khải trong giáo hội qua các công đồng.

Đại hội Jerusalem còn là một bước ngoặt quan trọng nhất trong lịch sử truyền giáo của giáo hội khi tin mừng được giới thiệu đến với dân ngoại vì (a) mở cửa để hình thành một tôn giáo mới, tách biệt khỏi Do thái giáo, là Kitô giáo ngày nay, và (b) tạo điều kiện cần thiết để Tin Mừng thật sự được rao giảng “trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất” (Cvtd 1:8).

Mt. Nguyễn khắc Hy, S.S.

Nguồn: liendoanconggiao.net

 

13. TRANG QUỚI CHỨC

SỰ MÂU THUẪN DỄ THƯƠNG

Tình yêu  là một bí mật không bao giờ con người có thể khám phá hết. Bởi thế người ta nói nó xưa như trái đất nhưng mới như chưa có bao giờ.

Điều lạ lùng trong tình yêu là nó vừa ích kỷ lại vừa vị tha. Hai điều này trái ngược nhau hoàn toàn nhưng lại cùng tồn tại trong một thực thể mà lại không mâu thuẩn.

Bản chất của tình yêu là chiếm đoạt. Khi người ta thích một điều gì đó, một đối tượng nào đó, tự nhiên người ta muốn gần nó, muốn sở hữu nó và một khi cảm giác thích đó lên đến tột đỉnh thì tính ích kỷ của con người đối với đối tượng đó cũng phát triển ngang theo, điều đó thể hiện ở thái độ bất khả nhượng đối với bất cứ ai muốn chia xẻ đối tượng mà mình yêu thích. Khi bất đắt dĩ phải chia xẻ đối tượng minh yêu thích cho một người khác thì đó là một nỗi bất hạnh. Người yêu tiền có thể chết hay điên vì của, người si tình có thể chết vì thất tình.

Nhưng thật lạ lùng trong tình yêu hôn nhân là khi muốn chiếm trọn đối tượng mà mình yêu thích người ta lại có thế tự nguyện cho đi tất cả những gì là của mình cho đối tượng ấy. Có ai trên đời vừa là người có tính tham lam muốn vơ vét hết tiền của trần gian lại là một người rộng lượng mang tiền của đi bố thí ? Có ai dùng hết sức mình để tìm tiền bạc rồi khi bệnh hoạn giữ tiền vàng trong tủ rồi chết vì sợ tiền của bị hao mòn ? Thế nhưng trong hôn nhân người ta sẳn sàng hy sinh mạng sống cho người mình yêu. Người ta sống và chết vì người mình yêu. Chính vì yếu tố này nó đã làm cho sự ích kỷ của con người trong tình yêu trở nên cao thượng. Cái tôi lúc này không còn đáng ghét nữa nhưng trở nên dễ thương hơn lúc nào hết.

Thế nhưng thực tế xã hội ngày nay, nhiều người đã không cân bằng được hai chiều cho và nhận trong đời sống gia đình. Đó là những người chủ trương sống chung, sống thử. Khi chọn đời sống như thế, họ chỉ quan tâm tới cái tôi của mình mà thôi, họ chỉ muốn nhận nơi người kia những gì có lợi cho mình mà không muốn bị thiệt thòi, họ chỉ nghĩ đến cái lợi cho mình mà không cần quan tâm tới người khác, họ sống mà không muốn ràng buộc. Thế nhưng một khi cái tôi là tất cả thì làm gì có tình yêu chân chính, làm gì có sự hy sinh cho tha nhân, làm gì có trách nhiệm với người thứ hai. Một khi mọi người đều thủ lợi cho mình thì đến một lúc nào đó quyền lợi sẽ bị đụng chạm không khoan nhượng thì kết quả sẽ là đường ai nấy đi, hạnh phúc chỉ là bong bóng xà phòng. Thử tưởng tượng một gia đình được xây dựng như thế thì có ai cố hết sức mình để vun đắp, ai có thể nghĩ đến chuyện sinh con đẻ cái ? tương lai sẽ đi về đâu ?

Tình yêu hôn nhân gia đình chỉ có thể là một bí mật cho các đôi vợ chồng khám phá khi nó giữ được sự cân bằng giữa sự ích kỷ và vị tha, nếu mất sự cân bằng đó thì đời sống hôn nhân gia đình chỉ là một môi trường đễ mỗi người tìm lợi cho bản thân mình mà thôi

Cái tôi thì đáng ghét nhưng hãy làm cho nó dễ thương bằng tình yêu chân chính trong gia đình bạn.

 

14. SỐNG ĐẸP

TẦNG 80

Có hai anh em nhà nọ sống ở tầng thứ 80 của một tòa cao ốc. Một ngày nọ, khi đi làm về, họ phát hiện thang máy bị hỏng và họ phải leo cầu thang bộ để về căn hộ. Leo lên tới tầng 20 dù có mỏi chân đôi chút, nhưng điều khiến họ khó chịu nhất là những chiếc túi phải mang theo. Họ quyết định để lại chúng và sẽ quay lại lấy vào ngày hôm sau.

Cảm thấy nhẹ nhàng, vui vẻ, hai anh em hăm hở lên tới tầng 40. Nhưng từ đây người em bắt đầu thấy hai đầu gối rã rời và buồn hơn hai anh em bắt đầu to tiếng với nhau vì một chuyện vặt. Tuy vậy, họ vẫn cố gắng leo được thêm 20 tầng nữa.

Khi nhìn thấy biển báo tầng 60, cả hai đều mừng rỡ bởi chỉ còn 1/4 quãng đường nữa là họ tới đích. Họ dường như bớt cáu gắt và không “lời qua tiếng lại” để leo nốt quãng đường còn lại. Hai người cố gắng nhích từng bước một. Cuối cùng, họ đã lên đến nơi. Đứng trước cửa nhà mình, hai anh em thật vui sướng nhưng họ phát hiện ra là chìa khóa căn hộ nằm ở trong những cái túi đã bỏ lại ở tầng 20.

Cuộc đời chúng ta dường như cũng tương tự như thế. Tất cả mọi người đều phải tự mình leo lên những “nấc thang” của cuộc sống. Một số thì được đến 80 tầng còn số khác ít hơn.

Thời gian đầu, chúng ta học hành, sống dưới áp lực trong sự kỳ vọng của cha mẹ, thầy cô giáo và bạn bè. Chúng ta ít khi được làm những việc mình thích và mong muốn. Cũng ở tuổi đó, bao nhiêu những ấp ủ, ước mơ được hình thành, tuy nhiên để thực hiện được ta phải đổ mồ hôi, phải tích lũy kiến thức và kinh nghiệm sống, thậm chí đôi khi còn phải biết hy sinh.

Vào tuổi 20, hân hoan với sự tự do vừa có được, chúng ta cảm thấy “vướng víu” với những ước mơ của quá khứ và chỉ muốn rũ bỏ để thỏa chí thực hiện những ý thích “chợt đến chợt đi”, tận hưởng những niềm vui thoáng qua mà cuộc đời mang tới.

Ở tuổi 40, chúng ta bỗng cảm thấy không thỏa mãn, thích than phiền và chỉ trích người khác. Đến năm 60, nhận ra rằng quỹ thời gian không còn đủ cho những muộn phiền và trách móc, con người thành ra lại bình tĩnh hơn và cứ thế đi nốt những năm tháng còn lại trong im lặng.

Thế rồi, khi chúng ta nghĩ rằng không còn gì trên đời này có thể làm cho mình buồn phiền, thì mỗi người lại đâm ra hối tiếc, bởi những giấc mơ chưa thành hay đã bị bỏ lại lúc 60 năm trước.

Hãy nắm lấy ước mơ của bạn và hành trang quý báu mà mình có ở tuổi 20. Luôn mang theo nó trong suốt cuộc đời, để sau này bạn không bao giờ phải hối tiếc với bất cứ những gì mình đã làm. Hãy học cách tha thứ thay vì luôn chỉ trích và than phiền người khác. Giúp đỡ mọi người và cảm ơn cuộc sống khi cho chúng ta cơ hội có mặt trên cuộc đời này

Nguồn: songdep.net

 

15. HỎI ĐÁP MỤC VỤ

Việc Kết Hôn Và Vấn Đề Tự Do Tín Ngưỡng

Vấn đề: Tại sao người lương muốn kết hôn với người bạn trai hay gái công giao đều phải cải đạo rồi mới được kết hôn tại nhà thờ ? Phải chăng như vậy là vi phạm quyền tự do tín ngưỡng ?

Giải đáp: Những đám cưới mà hai người nam nữ cùng theo đạo công giáo thì không có vần đề. Tuy nhiên những đám cưới mà cô dâu chú rể khác tín ngưỡng. Chẳng hạn: người Công Giáo lấy người Phật Giáo, đạo ông bà, người không tôn giáo… thì ngoài các thủ tục theo phong tục tập quán giữa hai gia đình đàng trai đàng gái và thủ tục làm giấy công nhận kết hôn của chính quyên, giáo luật còn đòi đôi thanh niên nam nữ phải học giáo lý hôn nhân như điều kiện bắt buộc để được cử hành hôn phối tại nhà thờ. Vậy tại sao Giáo Hội công giáo lại buộc đôi dự hôn phải học giáo lý dù một bên không theo công giáo? Giáo Hội có buộc người lương phải cải đạo để theo đạo công giáo trước khi cử hành hôn lễ tại nhà thờ không?

 1) Việc buộc học giáo lý hôn nhân trước khi kết hôn tại nhà thờ:

 a) Chứng chỉ giáo lý hôn nhân là điều kiện để được kết hôn tại nhà thờ:

 Giáo Luật đòi các đôi thanh niên nam nữ cùng đạo công giáo hoặc khác đạo (công giáo và không công giáo) muốn cử hành hôn lễ tại nhà thờ thì ngoài các giấy tờ liên quan khác, còn phải xuất trình chứng chỉ giáo lý hôn phối do linh mục chính xứ hay giám đốc trung tâm giáo lý hôn nhân có uy tín cấp.

 Muốn được cấp giấy chứng chỉ giáo lý hôn phối, học viên phải làm đơn đăng ký và tham dự các tiết học. Thời gian mỗi khóa giáo lý hôn nhân kéo dài từ ba đến sáu tháng tùy theo số tiết học nhiều ít mỗi tuần. Cuối cùng học viên còn phải làm bài thi đủ điểm đậu vào cuối khóa học.

 - Lý do phải học giáo lý hôn nhân:

 Trước khi làm việc gì, muốn đạt kết quả thì người thực hiện phải có đủ kiến thức và trình độ chuyên môn về công việc sắp làm. Chẳng hạn: Một người muốn lái xe hơi mà thiếu kiến thức luật giao thông và thiếu kinh nghiệm thực tế lái xe sẽ có nguy cơ gây ra tai nạn hoặc vi phạm luật đi đường. Cũng vậy muôn xây dựng được một gia đình hòa hợp hạnh phúc, giáo luật đòi các đôi dự hôn phải xuất trình giấy chứng chỉ giáo lý hôn nhân cũng là điều đúng đắn hợp lý.

 - Nội dung giáo lý hôn nhân:

 Nội dung khóa giáo lý hôn nhân gồm các đề tài liên quan đến kiến thức cơ bản về giáo lý công giáo và việc thực hành đức tin trong đời sống hôn nhân gia đình, về các phương cách duy trì và thăng tiến tình yêu vợ chồng, về tình dục và sinh con có trách nhiệm, về việc “nuôi con khỏe dạy con ngoan” và về hôn lễ mà đôi tân hôn sẽ cử hành tại nhà thờ…

 2) Việc phải cải đạo để theo công giáo khi kết hôn với người công giáo:

 a) Ý muốn của các phụ huynh công giáo: Hầu như cha mẹ công giáo nào khi con cái tới tuổi trưởng thành cũng đều muốn cho chúng chọn được một người chồng hay người vợ cùng đạo để bảo toàn đức tin công giáo truyền thống của gia đình.

 b) Về quyền tự do tín ngưỡng: Một người lương khi quen biết với bạn trai hay gái công giáo vẫn có quyền tự do theo hay không theo đạo công giáo: Nếu người lương không có đức tin, hoặc vì hoàn cảnh là con trai trưởng, con trai duy nhất trong gia đình phải lo cúng giỗ ông bà cha mẹ qua đời… thì không nên kết hôn với người công giáo, nhưng nên chọn kết hôn với người đồng tín ngưỡng.

 c) Các giải pháp người lương có thể tự do chọn khi kết hôn với người công giáo: Nếu đã quen biết với người bạn công giáo lâu ngày và hai người đã có tình yêu thương sâu đậm không thể chia tay, hoặc đã lỡ có thai với nhau… thì người lương có thể chọn một trong các giải pháp sau:

 Một là thuyết phục người bạn công giáo tiến hành đám cưới nhưng không vào nhà thờ.

 Hai là ý thức đây là duyên phận trời định nên cần đăng ký học khóa giáo lý dự tòng và hôn nhân để dễ dàng sống hòa hợp hạnh phúc lâu dài với người công giáo về sau.

 Ba là khi có lý do chính đáng, đôi dự hôn sẽ xin phép chuẩn hôn phối khác đạo với lời hứa sẽ tôn trọng đức tin của nhau và đồng ý cho con cái được giáo dục theo đức tin công giáo.

 d) Trình tự theo học khóa giáo lý dự tòng: Việc xin chịu phép rửa tội để gia nhập đạo công giáo không dễ dàng, mà đòi người lương phải có đức tin thể hiện qua bốn bước như sau:

 -       Một là đôi dự hôn sẽ đến xin linh mục chính xứ bên nam nữ công giáo hướng dẫn thủ tục xin theo đạo công giáo.

-        Hai là phải thực tập sống đức tin bằng việc tham dự thánh lễ Chúa Nhật hằng tuần tại nhà thờ và tập thói quen cầu nguyện sớm tối và trước khi dùng bữa.

-        Ba là đăng ký theo học khóa giáo lý dự tòng và chăm chỉ nghe giảng bài và thảo luận các đề tài, học thuộc câu Lời Chúa và dâng lời nguyện tự phát cuối mỗi bài. Ngoài ra còn phải học thuộc một số kinh cần để cùng đọc kinh chung gia đình sau này.

-        Bốn là vào lúc cuối khóa còn phải viết đơn xin chịu các bí tích khai tâm là Thánh Tẩy, Thêm Sức và Thánh Thể để được gia nhập đạo, tham dự tĩnh tâm và tập lễ nghi rửa tội nữa.

 e) Về sự tự nguyện: Việc học giáo lý để theo đạo là một hành vi tự nguyện chứ không bị ép buộc. Nếu một người bị ép buộc theo đạo mà không có đức tin và không thực tâm theo thì phép thánh tẩy sẽ không thành sự. Do đó nếu sau một thời gian học giáo lý mà học viên không thực lòng muốn theo, thể hiẹn qua việc không đến nhà thờ dự thánh lễ Chúa Nhật, không cầu nguyện sớm tối, không thuộc các câu Lời Chúa quan trọng và các kinh thường đọc… thì không nên viết đơn xin gia nhập đạo, để tránh tình trạng chịu phép bí tích không thành, mà còn mắc tội phạm sự thánh nữa. Người ta cũng thường phê phán những người theo đạo thiếu thành tâm này như sau: “Cúi đầu lạy Chúa Ba Ngôi. Cho tôi được vợ tôi thôi nhà thờ! ”

 g) Về phép chuẩn hôn phối khác đạo: Trường hợp một người lương muốn kết hôn với người công giáo mà vì hoàn cảnh không thuận lợi. Chẳng hạn: là con trai trưởng phải lo cúng giỗ ông bà cha mẹ, hoặc đã lỡ ăn ở với nhau mang bầu mà không đủ thời gian học giáo lý dự tòng để theo đạo, thì tùy theo sự khôn ngoan và đức bác ái mục tử, linh mục chính xứ sẽ cho đôi dự hôn tiến hành thủ tục xin phép chuẩn hôn phối khác đạo, nghĩa là hai người được phép kết hôn tại nhà thờ theo thỏa thuận “đạo ai nấy giữ”.

 Đôi hôn phối khác đạo phải làm đơn xin cử hành phép chuẩn hôn phối khác đạo gửi về tòa giám mục với lời cam kết: Hai bên hứa sẽ tôn trọng tự do tín ngưỡng thể hiện qua việc tránh xúc phạm đến đức tin của nhau, đồng ý cho bên công giáo quyền lo cho các con trai con gái sẽ sinh ra được chịu phép thánh tẩy sau khi sinh một tháng và được học các lớp giáo lý theo lứa tuổi. Bên công giáo thành tâm sống đạo để làm chứng cho Chúa, hầu sau này khi có điều kiện người chồng hay vợ bên lương sẽ gia nhập đạo công giáo để gia đình được hòa hợp trọn vẹn.  

 h) Về thủ tục giấy tờ khi xin kết hôn theo giáo luật: Cũng như muốn xin việc làm tại cơ quan hay xí nghiệp, ứng viên phải có đủ giấy tờ theo yêu cầu của nhà tuyển dụng, thì việc người lương muốn kết hôn với người công giáo, cũng phải nộp đủ các loại giấy tờ như sau:

 + Về phạm vi đời: Phải nộp giấy công nhận kết hôn do chính quyền dịa phương cấp, giấy chứng nhận chồng hay vợ trươc đã chết, giấy tòa án chứng nhận hai vợ chồng trước đã ly hôn, giấy xác nhận của người chồng hay vợ lương trước đây không muốn sông chung với người chồng hay vợ theo đạo công giáo để đủ điều kiện hưởng đặc ân thánh Phao-lô.

 + Về phạm vi đạo: phải có giấy chứng chỉ giáo lý hôn nhân của 2 người dự hôn, giấy giới thiệu của LM chánh xứ xác nhận người này là giáo dân trong xứ đã chịu phép rửa tội, Thêm sức và còn độc thân; Giấy chứng rửa tội do nơi đã ban phép rửa tội mới cấp không quá sáu tháng, nhằm truy gốc về tình trạng độc thân; Giấy đã rao hôn phối không có trở ngại kết hôn; Giấy tự khai điều tra nhân thân…

 Tóm lai: Việc người lương xin theo đạo công giáo để kết hôn với người công giáo hay xin cử hành nghi thức phép chuẩn hôn phối khác đạo tai nhà thờ (với nhưng điều kiện kèm theo) là một việc làm hoàn toàn tự giác và tự nguyện chứ không bị ai ép buộc.

  LM ĐAN VINH

 

16. SỐNG LỜI CHÚA

CHÚA NHẬT 28 THƯỜNG NIÊN

LẤY CỦA TẠM THỜI ĐỔI LẤY KHO TÀNG BỀN VỮNG

Mc 10, 17 – 30

Chàng thanh niên trong bài Tin Mừng hôm nay là người nhìn xa thấy rộng. Tuy là người có đầy đủ điều kiện vật chất nhưng tâm hồn anh khắc khoải vì có một khao khát chưa được lấp đầy: khao khát được sống đời đời. Vì thế anh tìm đến với Chúa Giê-su mà anh xem như một bậc Tôn Sư lỗi lạc, “quỳ xuống trước mặt Người và hỏi: "Thưa Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?”       

Chúa Giê-su dạy anh phải giữ các giới răn. Anh đáp: "Thưa Thầy, tất cả những điều đó, tôi đã giữ từ thuở nhỏ".

"Bấy giờ Đức Giê-su nhìn anh và đem lòng yêu mến, Người bảo: "Anh chỉ còn thiếu có một điều: là hãy về bán những gì anh có mà bố thí cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Sau đó, hãy đến theo tôi." 

Qua lời dạy nầy, Chúa Giê-su đề nghị anh đánh đổi của cải phù du đời nầy để chiếm hữu kho tàng vô giá trên trời, nhưng khi "nghe lời đó, anh sa sầm nét mặt, và buồn rầu bỏ đi, vì anh có nhiều của cải."         

Lời đề nghị với người thanh niên giàu có năm xưa lại được Chúa Giê-su gửi đến mỗi người chúng ta hôm nay. Chúa Giê-su mời gọi chúng ta phải khôn ngoan dùng những của cải tạm bợ đời nầy để đổi lấy kho tàng vững bền trên thiên quốc; hay nói một cách bình dân là "bỏ con tép bắt con cá", mà cá đây lại là cá voi, vì phần bỏ ra rất nhỏ nhưng phần thu lại thật lớn lao.      

Phần thu lớn lao nầy đã đượcChúa Giê-su xác nhận với thánh Phê-rô và các tông đồ: "Thầy bảo thật anh em: Chẳng ai từ bỏ nhà cửa, anh chị em, cha mẹ, con cái hay ruộng đất vì Thầy và vì Tin Mừng mà không được gấp trăm và được sống đời đời."    

Vào khoảng năm 1975-80, thời điểm kinh tế Việt Nam gặp khủng hoảng trầm trọng, vật giá leo thang từng ngày, giá vàng nhích lên liên tục, đồng tiền mỗi ngày một mất giá. 

Rồi lâu lâu lại có vụ đổi tiền, tiền cũ phải được đổi sang tiền mới nội trong một ngày với một số lượng hạn chế. Số tiền cũ không đổi kịp sẽ hoàn toàn mất giá trị và chỉ còn việc đem đốt đi. Sau mỗi lần đổi tiền, giá trị đồng tiền lại giảm sút thêm, đang khi vàng ngày càng tăng giá. Vì thế, không ai dại dột giữ tiền trong tủ. Khi có chút ít tiền dư, người ta đua nhau sắm vàng. Kẻ có nhiều tiền thì sắm cả cây vàng, người ít tiền thì sắm nửa chỉ hoặc một hai phân. Thế mới an lòng chắc dạ.    

Những người khôn lúc đó đều có một chọn lựa sáng suốt là đổi tiền giấy lấy vàng. Thế nhưng vàng cũng không còn giá trị đối với người đã nhắm mắt xuôi tay, chẳng còn ích chi cho người đã lìa cõi thế. Do đó, một chọn lựa cũng rất sáng suốt cho chúng ta hôm nay là phải đổi tiền, đổi vàng, đổi tất cả của cải ta có đời nầy để lấy thứ “quý kim” muôn đời có giá, đó là công phúc. Ai có nhiều công phúc là có cả một kho báu trên trời không bao giờ mai một, hư hao. 

Mai đây, cái chết sẽ thình lình chụp xuống. Nếu hôm nay không kịp chuyển đổi những gì ta có thành công phúc, thì lúc đó ta sẽ trở thành người trắng tay, chẳng còn gì tồn tại với mình khi bước qua thế giới bên kia. Đến lúc ấy, có hối tiếc thì cũng đã quá muộn màng!         

Lạy Chúa Giê-su,

Xét về một vài khía cạnh nào đó, mỗi người chúng con đều là những người giàu có, không giàu của cải thì cũng giàu thời giờ, giàu sức lực, hay giàu khả năng, trí tuệ...      

Xin dạy chúng con biết đem những thứ của cải tạm bợ nầy đổi lấy thứ tài sản không bao giờ hao vơi.

Xin cho chúng con biết dùng thời giờ Chúa ban để tôn vinh Chúa và phục vụ con người. Đó là cách chuyển của cải phù du thành công đức bền vững cho mai sau.

Xin cho chúng con biết cống hiến sức lực, tài năng, trí tuệ... để gánh vác việc đời, để góp phần xây dựng xã hội và phụng sự Hội Thánh. Đó là những cách biến gia sản chóng qua đời nầy thành công phúc, thành của cải không bao giờ hư nát dành cho mai sau.

 

CHÚA NHẬT 29 THƯỜNG NIÊN

HIẾN THÂN CỨU ĐỜI

Mc 10, 35 - 45

Chúa Giêsu đã được cả một thời cựu ước và đặc biệt các ngôn sứ loan báo, Ngài được cựu ước và các ngôn sứ phác hoạ bằng nhiều nét khác nhau : thuộc dòng dõi Abraham, Môsê mới, Con vua Đavít, Con Người, Người tôi tớ của Giavê. Ngôn sứ Isaia trong bốn bài ca của Người đã đồng hoá Chúa Giêsu như Người Tôi Tớ đau khổ của Giavê. Người Tôi Tớ tự hiến mình để cứu vớt loài người, cứu độ con người. Bài Tin Mừng của thánh Marcô 10, 35-45 xác nhận lại lời tiên báo của ngôn sứ Isaia:” Chúa Giêsu hiến mạng sống của mình trên thập giá để cứu rỗi muôn người, cứu độ loài người “.      

Đức Kitô đã nói:” Khi Ta bị treo lên khỏi mặt đất, Ta sẽ kéo mọi người lên cùng Ta “ hoặc “ Không có tình yêu nào cao vời cho bằng tình yêu của người hiến mạng sống vì người mình yêu”( Ga 15, 13 ). Cái chết của Chúa trên thập giá là cái chết tự hiến. Chết mới nói lên tất cả. Chỉ nơi thập giá của Chúa mới có ơn cứu độ. Do đó, con người muốn được ơn giải thoát, muốn được ơn tha thứ phải chạy tới thập giá của Chúa Giêsu. Tin Mừng của thánh Marcô trong trích đoạn 10,35-45 đã làm nổi bật hai ý nghĩa rất quan trọng : cả hai ý đều liên quan tới ơn cứu độ của Chúa. Đức Kitô đã cứu độ con người, loài người bằng phục vụ và Ngài dùng việc phục vụ để cứu độ :” Con Người đến không phải để được phục vụ, nhưng là để phục vụ và thí mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người “ (Mc 10, 45 ). Chúa đã làm gương phục vụ. Nên, các môn đệ và mọi người Kitô hữu cũng được mời gọi sống phục vụ và uống chén đắng như Ngài. Chúa Giêsu đã chẳng trả lời cho bà mẹ hai môn đệ: Giacôbê và Gioan, đồng thời Ngài cũnng trực tiếp trả lời cho hai môn đệ Gioan và Giacôbê cũng như mọi môn đệ khác:” Chén của Thầy các con có uống nổi chăng ?”. Chén đắng là sự thống khổ và thập giá, tức cái chết.Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Do Thái 4, 14-16 đã nói rất rõ :” Chúa Giêsu là vị thượng tế đã hiến mình chịu chết để cứu mạng sống cho muôn người qua cái chết trên thập giá. Duy cái chết một lần của vị thượng tế siêu phàm: Đức Kitô, Ngài đã trở nên” nguồn ân sủng và là nguyên nhân ơn cứu độ cho muôn người “.     

Theo Đức Kitô mới đầu các môn đệ vẫn chưa hiểu thế nào về sứ mạng và ơn gọi của mình. Các Ngài vẫn mơ hồ, ờ ờ cạp cạp về con đường đi theo Chúa. Các Ngài vẫn mơ ước một cuộc sống sung túc, giầu sang, phú quí, các Ngài vẫn ước mơ làm lớn trong vương quốc của Chúa Giêsu. Các Ngài đều muốn ngồi bên tả, bên hữu Chúa trong vương quốc của Ngài theo như ý nghĩ trần tục của các Ngài. Tuy nhiên, giầu sang, vinh dự, thế giá không phải là con đường Chúa chọn. Con đường của Chúa Cha vạch ra cho Chúa Giêsu là con đường hy sinh, tự hiến và chấp nhận khổ hình như Người tôi tớ, rồi chịu thanh tẩy trong sự chết mà là cái chết trên khổ giá: “ yêu cho đến cùng” ( Ga 13, 1 ). Chúa thật là Đấng cao cả nhưng Ngài đã tự hạ, tự hủy mình ra không như thư thánh Phaolô gửi tín hữu Philip.2, 6-11 đã diễn tả. “ Ai muốn làm lớn thì hãy tự làm đầy tớ anh em mình. Ai muốn làm đầu giữa anh em thì phải làm đầy tớ mọi người”( Mc 10, 43 ). Chúa đã sống tận cùng qui luật Ngài vạch ra và Ngài đã làm gương tuyệt đối về vấn đề này. Chính vì thế, cả cuộc đời của Chúa Giêsu là “…đến không phải để được phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người “ ( Ga, 45 ). Các môn lúc đầu chưa thể nào hiểu nổi ý định của Chúa, chưa thể nào nhận ra con đường cứu độ của Chúa. Nhưng, Chúa Giêsu luôn kiên nhẫn, uốn nắn và từ từ vạch ra con đường Ngài sẽ phải trải qua và các môn đệ cũng sẽ phải lãnh nhận :” Tôi tớ không lớn hơn chủ “. Các môn đệ vẫn mơ hồ về những lời giáo huấn của Chúa Giêsu, nhưng phải đợi đến ngày Chúa Thánh Thần đến, mắt các Ngài được mở ra, các Ngài từ từ nhận ra con đường họ sẽ phải trải qua:” đau khổ và thập giá”.        

Con đường của Chúa Giêsu và của các môn đệ xưa đã đi, phải chăng vẫn luôn là con đường Giáo Hội và mọi người Kitô hữu chúng ta hôm nay đang tiến bước ?       

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết chấp nhận con đường của Chúa đã đi qua và xin cho chúng con biết phục vụ anh em như Chúa đã phục vụ. Amen.

 

CHÚA NHẬT 30 THƯỜNG NIÊN

THẾ GIỚI CỦA CHÚA GIÊSU

Mc 10, 46 - 52

Đọc Tin Mừng của Chúa Giêsu, nhân loại và mọi người có lòng tin như được cuốn hút bởi vô số phép lạn kỳ diệu mà Đức Kitô đã thực hiện trong cuộc đời truyền giáo của mình. Những phép lạ tuyệt vời của Chúa Giêsu khơi lại lòng tin và lời cầu xin của con người đặt vào lòng thương xót của Chúa, do đó, những phép lạ đã xẩy ra trong lịch sử cứu độ. Nếu chỉ nhìn vào các phép lạ của Chúa Giêsu mà thôi để hân hoan, thoả mãn vì Đấng cứu thế có uy quyền đã ra tay cứu vớt con người khỏi tật nguyền, bệnh hoạn thì quả thật chưa đủ, nhưng phép lạ luôn đòi hỏi sự cộng tác và lòng tin sâu xa của con người.

Ngôn sứ Giêrêmia đã đánh tan mọi ảo vọng của những người đương thời với ông về sự bất khả xâm phạm của Sion. Giêrêmia quả quyết, vì tội bất trung với Thiên Chúa Giavê, thành Giêrusalem sẽ bị thất thủ, rơi vào tay kẻ thù. Lời của vị ngôn sứ Giêrêmia đã được ứng nghiệm vì vào năm 587 trước công nguyên, sự việc đã xẩy ra đúng như lời ngôn sứ này đã loan báo trước. Tuy nhiên, khi đánh tan những mơ ước, ảo vọng của người đương thời, ngôn sứ Giêrêmia cũng đã loan báo những lời đầy hy vọng, đầy tin tưởng :” Thiên Chúa sẽ ra tay cứu dân do lòng thương xót của Ngài đồng thời Thiên Chúa sẽ thiết lập một giao ước mới với dân. Dân sẽ được Thiên Chúa giải thoát và họ sẽ sống trong hòa bình, hạnh phúc”. Chính sự giải thoát của Thiên Chúa về mặt xã hội, chính trị cũng sẽ là sự giải thoát tâm hồn và những ân huệ của Thiên Chúa tuôn đổ trên dân do giao uớc mới này đem lại: “Chúa đã cứu dân Người, cứu phần còn lại của Israen” và “trong bọn chúng có kẻ đui mù, có kẻ què quặt, có kẻ mang thai, có người ở cữ, chúng trở về, cả một đoàn người đông đảo”. Ngôn sứ Giêrêmia đã tiên báo về dấu chỉ của Đấng thiên sai khi Ngài tới. Và trong trích đoạn Tin Mừng của thánh Marcô 10, 40 - 46 ghi lại việc phép lạ Chúa Giêsu chữa cho anh mù Bactimê thấy được. Thánh Marcô đã nhấn mạnh vì tin sâu xa vào Chúa Giêsu nên người mù đã được thấy và khi thấy được mọi người, thấy được vũ trụ vạn vật, nhất là thấy được Chúa Giêsu, Đấng cứu chữa mình, người mù đã đi theo Chúa Giêsu. Bài đọc 2, thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Do Thái 5, 1-6 đã so sánh tư tế Melchisêđê, nói lên tính ưu việt vĩnh cửu của chức tư tế và Đức Kitô quả thực là tư tế muôn đời. Chúa Giêsu là vị tư tế muôn đời đã hiến mạng sống mình trên thập một lần và chỉ một lần thôi đã cứu rỗi muôn người. Chính vì vậy, lời tiên báo của ngôn sứ Giêrêmia về Đấng thiên sai đã được thực hiện trong thời Tân Ước, chính Chúa Giêsu đã làm nhiều phép lạ để xua trừ ma quỉ, chữa lành bệnh hoạn tật nguyền cho nhiều người, đem lại bình an cho con người và đem lại hạnh phúc cho biết bao nhiêu người. Chúa Giêsu đã làm cho kẻ điếc được nghe, kẻ câm nói được, kẻ mù loà lại thấy, kẻ què quặt đi được, kẻ chết sống lại. Đức Kitô là Đấng thiên sai, là Đấng cứu thế đã đến trong nhân loại, đã đến nơi thế giới con người. Đức Giêsu đã cho anh Bactimê được thấy, đã đem lại ánh sáng cho anh, đã giải thoát anh. Chính ánh sáng đã đem anh vào cuộc sống lạ lùng, mới mẻ mà chỉ có ai mang cảnh mù loà mới hiểu được tâm trạng của anh. Đời anh đã được đổi mới hoàn toàn từ đây. Trong ánh sáng chan hòa nhận được nơi Chúa Giêsu, anh mù Bactimê đã thấy tất cả, đã hiểu mọi sự. Anh đã được sống lại từ trong cõi mù loà. Anh hoàn toàn đi vào một cuộc sống mới từ đây.

Không phải bất ngờ mà Phêrô và Phaolô đã được đổi mới, đã được đổi đời. Phêrô cương quyết đi theo Thầy Giêsu, nhưng trước khi gà gáy, Phêrô đã chối Thầy ba lần. Tội của Phêrô quả thực nặng nề, nhưng từ trên pháp đình, chúa Giêsu nhìn xuống Phêrô. Chúa biết tất cả, Ngài thấu suốt tâm hồn Phêrô. Phêrô quay lại nhìn Chúa. Anh mắt nhân từ, tha thứ của Chúa đã hoán cải Phêrô. Phêrô ăn năn khóc lóc, sám hối, chừa cải và đời Phêrô đã được đổi mới. Còn Phaolô, kẻ bắt bớ Giáo Hội, đồng lõa với những kẻ ném đá Stêphanô. Phaolô bị Chúa đánh cho té ngựa, mắt như bị mù loà hoàn toàn. Ông nghe tiếng Chúa gọi và sẵn sàng đi theo chúa:” Lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì ?”. Phaolô đã trở về với Chúa. Đời Phaolô được Chúa đổi mới từ đây. Ông đã trở nên vị tông đồ dân ngoại rất nhiệt thành. Người Kitô hữu nhờ đức tin, Chúa Giêsu đã đưa họ vào cuộc sống mới, đi vào một thế giới hoàn toàn mới, thế giới của Đức Kitô. Thế giới của tình yêu và lòng nhân từ. Đức tin của người tín hữu là một cái nhìn của người đã được đổi mới. Qua đức tin người Kitô hữu nhận ra thế giới của Chúa Giêsu là thế giới của hòa bình, yêu thương và hiệp nhất. Do đó, họ nghiệm ra rằng họ như ở trong sự mù loà nhận ra ánh sánh chan hòa của niềm tin, của yêu thương và hạnh phúc. Như anh mù Bactimê khi đã được thấy, cả cuộc đời anh như được thay đổi hoàn toàn. Chính nhờ đức tin tuyệt đối, một đức tin hết sức sâu xa đặt vào quyền năng của Thiên Chúa mà anh mù Bactimê đã thấy được tất cả. Anh thấy Đức Kitô, vị cứu tinh của anh. Anh đã hết sức vui mừng đi theo Đức Kitô. Người Kitô hữu cũng vậy, nhờ đức tin kiên vững, họ không thể nào không theo Đức Kitô vì họ đã được thấy và nhận ra Chúa, đồng thời nhận nơi Ngài biết bao ân sủng tuyệt vời. Không bước theo Chúa, người Kitô hữu sẽ càng ngày càng lùi dần vào bóng tối như kẻ bị mù loà không thấy gì được. Như thế, đòi hỏi theo Chúa hoặc khước từ Chúa là một sự lựa chọn hết sức gay gắt. 

Lạy Chúa Giêsu, xin đánh tan cái dằm nơi con mắt của mỗi người chúng con để chúng con biết nhận ra hình Chúa đang sống động nơi mỗi người anh em chúng con. Amen.

 

LỄ CÁC THÁNH NAM NỮ

XIN ĐƯỢC LÀM THÁNH VÔ DANH

Có lẽ trong suốt cả năm Phụng vụ không có thời điểm nào mà mầu nhiệm hiệp thông được Giáo Hội đề cao một cách sống động khác thường như là thời gian đầu tháng 11 này. Ngày hôm nay, Giáo hội hướng chúng ta về các thánh, tức là Giáo Hội chiến thắng. Ngày mai Giáo Hội hướng chúng ta về các đẳng linh hồn, tức là Giáo Hội đang thanh luyện. Hướng nhìn như thế để cho chúng ta, những người đang sống trong Giáo hội tại thế, tức là Giáo Hội chiến đấu, biết tìm cho mình một hướng đi, để mai sau chúng ta cũng đạt được vinh quang như các thánh mà chúng ta mừng kính hôm nay.         

1. Các thánh là những ai ?      

Sách khải huyền cho ta câu trả lời: “Các ngài là những người từ đau khổ lớn lao mà đến và đã giặt áo mình trong máu con chiên”. Rõ ràng các thánh không phải là những con người của quá khứ, cũng không phải là những nhân vật thần thiêng, siêu phàm, bẩm sinh đã là thánh, càng không phải là những con người lập dị. Các ngài cũng là những con người như chúng ta, đã giữ đạo, đã sống đạo và đã phản chiếu được sự thánh thiện của Thiên Chúa khi sống triệt để các mối phúc Chúa dạy, tức là “đã giặt áo mình trong máu con chiên”. Các ngài dám sống đức tin, dám dấn thân vì đức tin, dù có phải gặp “đau khổ lớn lao”. Các ngài có thể là những người thuộc gia đình, gia tộc của chúng ta; có khi là những người hàng xóm láng giềng của chúng ta nữa.    

Nếu chúng ta được lên trời để thăm các thánh, chắc hẳn chúng ta sẽ không khỏi ngỡ ngàng trước sự đa dạng của các ngài. Các Ngài thuộc đủ bậc đủ hạng (Tông đồ, tử đạo, hiển tu, đồng trinh; là giáo hoàng, giám mục, linh mục, phó tế, giáo dân….), thuộc đủ màu da, tiếng nói, nghề nghiệp, tuổi tác, hoàn cảnh, giới tính… (có thánh già, có thánh trẻ; có thánh nam, có thánh nữ. Có người còn nói là có cả thánh pêđê nữa kìa. Tại sao không ?) Đại đa số các thánh là vô danh. Bởi chưng con số được Giáo hội tôn phong là rất ít. Còn con số chưa được tôn phong là vô cùng lớn, như sách Khải Huyền đã nói: “Tôi thấy một đoàn người thật đông không tài nào đếm nổi, thuộc mọi nước mọi dân và mọi ngôn ngữ” (Kh 7,9). Trong số đó chắc chắn là có những người thân yêu của chúng ta. Chúng ta hãnh diện vì có các ngài cầu bầu cho chúng ta trước tòa Chúa.   

2. Sứ điệp ngày Lễ Các Thánh muốn nói điều gì với chúng ta ?

Thiết tưởng ngày lễ Các Thánh muốn nói với chúng ta 2 điều. Thứ nhất, lời mời gọi nên thánh không dành riêng cho một ai, hay một nhóm người nào. Chúng ta thường nghĩ rằng nên thánh là chuyện cao siêu dành cho một thiểu số đặc biệt nào đó, như các đấng, các bậc trong Hội Thánh. Nên thánh không có chuyện độc quyền. Mọi Kitô hữu đều được mời gọi nên thánh, và nên thánh là là bổn phận của hết mọi người chúng ta, như lời Chúa Giêsu đã dạy: “Anh em hãy nên thánh như Cha anh em trên trời là Đấng Thánh”. Thứ hai, nên thánh là bổn phận của hết mọi người. Vì sao? Bởi vì tất cả những ai được lên thiên đàng thì đều là thánh, ít là cũng thánh vô danh. Nói cách khác, muốn lên thiên đàng, phải sống thánh. Mọi Kitô hữu dù sống trong chức phận nào, địa vị nào cũng được mời gọi sống thánh, sống thánh ngay giữa đời. Được lãnh nhận bí tích rửa tội, được làm con cái Chúa, con cái của Giáo hội. Mà con cái Chúa, con cái của Giáo hội là con cái của sự sáng; con cái của sự sáng, nghĩa là phải trở nên thánh.    

3. Cách thế nào để nên thánh ?        

Tâm lý thường tình ai cũng muốn được phong thánh, nhưng lại sợ, lại ngại sống thánh. Thế nhưng, nên thánh không hệ tại ở nỗ lực sống luân lý, hay tuân giữ lề luật như quan niệm của những người Luật sĩ và Biệt phái Do thái.    

Nên thánh là để cho tình yêu chi phối toàn bộ cuộc sống, là ra khỏi cái tôi hẹp hòi ích kỷ của mình để sống hết tình cho Thiên Chúa và sống hết mình cho tha nhân. Nên thánh là luôn lắng nghe tiếng Chúa và nỗ lực đáp trả trong từng giây phút hiện tại. Nên thánh là yêu mến cuộc sống mà Chúa đã tặng ban, là để cho Chúa yêu mình, nắm lấy tay mình dắt mình vào tình yêu diệu huyền của Ngài. Tắt một lời, nên thánh hệ tại ở việc thuộc trọn về Chúa, kết hiệp với Chúa là Đấng Thánh, đồng thời trung thành sống giới răn của Ngài là mến Chúa và yêu người.

Vậy mừng lễ các thánh hôm nay, chúng ta hãy cầu xin với các ngài cầu bầu cùng Chúa cho chúng ta, để chúng ta có thêm sức mạnh và lòng can đảm sống đức tin như các ngài đã sống, hầu mai sau cũng được hưởng vinh phúc với các ngài trên thiên quốc. Amen.

17. THẦN HỌC KINH THÁNH

CÁC MẦU NHIỆM SỰ SÁNG TRONG KINH MÂN CÔI

Toàn bộ Kinh Mân Côi là kinh nguyện phát xuất từ Kinh Thánh, là lời cầu nguyện của Tân Ước. Không những chỉ vì Kinh Lạy Cha và một phần của Kinh Kính Mừng là kinh nguyện phát xuất trực tiếp từ Phúc Âm, nhưng còn vì hầu hết các “mầu nhiệm” được  suy niệm trong kinh Mân Côi cũng là những sự kiện trong Phúc Âm. Các mầu nhiệm Vui suy niệm về cuộc đời thơ ấu của Chúa Giêsu, trích từ hai chương đầu của Phúc Âm theo thánh Luca. Các mầu nhiệm Thương dựa trên trình thuật về cuộc khổ nạn của bốn Phúc Âm. Các mầu nhiệm Mừng suy niệm về các biến cố sau cùng trong Phúc Âm và việc mở ra kỷ nguyên mới của Chúa Thánh Thần và của Giáo Hội.

 Tuy nhiên, Kinh Mân Côi vẫn còn thiếu sót, các mầu nhiệm Vui chỉ suy niệm đến việc Chúa Giêsu trong Đền thờ khi ngài lên mười hai tuổi. Các mầu nhiệm Thương bắt đầu với biến cố trong vườn Giếtsêmani. Không có “mầu nhiệm” nào suy niệm về các sứ vụ công khai của Chúa Giêsu! Hiển nhiên là không thể hiểu được cách trung thực cái chết của Chúa Giêsu nếu không đặt nó trong bối cảnh của cuộc sống Ngài. Cái chết của Ngài không đơn thuần – Ngài bị giết chết. Ngài bị lên án chết chính vì chứng từ của Ngài, vì những gì Ngài sống, những gì Ngài làm trong suốt sứ vụ của mình. “Các con bảo thầy là ai?” là một thách đố của Chúa Giêsu cho chúng ta trong Phúc âm theo thánh Marcô (Mc 8:29).

Câu trả lời không chỉ qua cái chết của Ngài mà thôi nhưng còn qua những gì đưa đến cái chết này. Việc Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thêm vào – hay nói đúng hơn là lồng vào - những mầu nhiệm Sự Sáng đã tạo cho kinh Mân Côi thành kinh nguyện cân xứng hơn.

 Trong các mầu nhiệm Sự Sáng: Chúa chịu Phép Rửa, Tiệc cưới Cana, Rao giảng Nước Trời, Biến Hình, và Lập Phép Thánh Thể ở nhà Tiệc Ly, Chúa Giêsu là trung tâm điểm. Trong khi các Phúc Âm trình bày về Ngài phản ánh việc gặp gỡ với Chúa Phục Sinh, nhưng thực sự Ngài còn là Giêsu người Nazarét. Ngài là đấng “được sinh ra bởi người nữ, và sống dưới lề luật” (Gl 4:4), đấng “giống như  anh chị em mình trong mọi sự” (Dt 2:17). Đây là sự thật cần được nhấn mạnh. Nó rất quan trọng để có được một Kitô học quân bình. Các mầu nhiệm Sự Sáng tỏ lộ Sự Sáng là sự sáng cho thế gian, là sự sống cho thế gian. Các mầu nhiệm này mạc khải Ngôi Lời nhập thể. Tự bản chất Kinh Mân Côi là một suy niệm về Con của Mẹ Maria, đấng là mạc khải và là sự hiện diện của Thiên Chúa giữa loài người.

 

MẦU NHIỆM

 Chúng ta cũng cần quan tâm đến từ “mầu nhiệm” ở đây. Theo cách dùng chung chung, “mầu nhiệm” có nghĩa là những gì ẩn dấu chưa hiểu thấu được. Trong sách giáo lý cũ, mầu nhiệm được định nghĩa là ‘chân lý đã được mạc khải nhưng chúng ta chưa hiểu thấu’. Trong cách dùng của KinhThánh - là cách chúng ta theo ở đây - mầu nhiệm (misterion) không còn có nghĩa huyền bí! Một “mầu nhiệm” là một chương trình hay mục đích mà Thiên Chúa ẩn dấu trong quá khứ nhưng nay đã được mạc khải (xem Rm 11:15-16). Thư gửi tín hữu Colossê nói về “mầu nhiệm” được Thiên Chúa giữ kín từ lâu nhưng nay đã “biểu lộ cho dân người” (Col 1:26). Điều nổi bật ở đây là ‘mầu nhiệm’ được đồng nhất hóa với con người Chúa Giêsu Kitô. Nói tóm lại, mầu nhiệm là điều được tỏ lộ. Các mầu nhiệm kinh Mân Côi mạc khải về Chúa Kitô cho chúng ta, đưa chúng ta đến việc thấu hiểu sâu xa hơn về ngài.

 

PHÉP RỬA

(Mc 1,9-11; Mt 3,13-17; Lc 3, 21-22; Ga 1,29-34)

 Việc lãnh phép rửa của Gioan Tẩy Giả đã đánh dấu việc khởi đầu sứ vụ ngắn ngủi nhưng sống động của Chúa Giêsu Nazarét. Lúc đầu Ngài là môn đệ của Gioan, nhưng sau đó Ngài thi hành sứ vụ đặc biệt của Ngài. Mục đích của Ngài là canh tân Israel: đưa Israel về lại những gì mà Chúa muốn cho dân Ngài. Trong khi lãnh phép rửa, Chúa Giêsu được long trọng tuyên bố là Con Thiên Chúa, người lãnh đạo Dân Chúa trong thời sau hết, là Chúa của dân

Khởi đầu sách Tin Mừng của mình – “Khởi đầu Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa” (Mc 1,1) – thánh Marcô đã cho người đọc biết về căn tính của Chúa Giêsu. Trong trình thuật phép rửa, tiếng nói từ trời (tiếng của Thiên Chúa) tuyên bố: “Con là con yêu dấu của Cha” (1, 11). Khi Chúa Giêsu bắt đầu sứ vụ công khai của mình, Thiên Chúa đã xác định về địa vị và ơn gọi của Ngài. Cũng vậy, trong trình thuật biến hình Thiên Chúa Cha cũng tuyên bố cho ba môn đệ hiện diện: “Đây là con yêu dấu của ta, hãy nghe lời người” (9:7). Trong phép rửa và biến hình, Thiên Chúa Cha đóng vai chính trong diễn tiến trình thuật. Trong hai trình thuật Ngài không chỉ tuyên bố Chúa Giêsu là “Con”,  nhưng tuyên bố này còn là  sự xác nhận. Tuyên bố trong phép rửa xác nhận đầu đề của Tin mừng, tuyên bố trong trình thuật biến hình xác nhận sự thật mà Phêrô tuyên tín Chúa Giêsu là đấng Messia (8,29) - vượt quá những hiểu lầm của Phêrô (cc 32-33). Sau cùng, trong giây phút tuyệt đỉnh của cái chết của Chúa Giêsu lại xuất hiện tước vị Con Thiên Chúa: “Thực người này là Con Thiên Chúa” (15,39).

 Viên đội trưởng là người đầu tiên trong Tin Mừng Marcô thấu suốt được bí nhiệm về căn tính của Chúa Giêsu – vì ông là người đầu tiên nhìn nhận ý nghĩa của thánh giá.

 Trong Tin Mừng nhất lãm, liền sau phép rửa là trình thuật về cám dỗ. Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, nhưng giống anh chị em mình trong mọi lãnh vực. Ngài bị thử thách, và ngài đã đưa ra những quyết định cho suốt cuộc đời. “Dù là Ngôi Con, ngài đã học biết vâng phục trong mọi việc ngài chịu đựng” (Dth 5,8). Ngài đã học biết phải trả giá thế nào khi thưa tiếng “xin vâng” với Thiên Chúa, và tiếng xin vâng này đã đưa Ngài đến thập giá.

 Thánh Phaolô đã tìm được nguồn linh hứng và an ủi nơi Chúa Giêsu: “Cuộc sống mà tôi đang sống trong thân xác này là sống bằng niềm tin vào Con Thiên Chúa, đấng yêu tôi và trao hiến mạng sống ngài cho tôi” (Gal 2,20). Chúa Con trung thành là nguồn nâng đỡ cho chúng ta trong cơn thử thách.

 

TIỆC CƯỚI Ở CANA

(Gn 2,1-12)

 Trình thuật trong chương 2, 1-12 là trình thuật được cấu trúc cẩn thận theo phong cách của Phúc Âm thánh Gioan và  giàu những biểu tượng của phúc âm này. Nhân vật đầu tiên trong câu chuyện này là Mẹ Chúa Giêsu, ngài bắt đầu hành động bằng một thỉnh cầu có tính cách ám chỉ: “Họ hết rượu rồi”. Nước “dành cho việc thanh tẩy theo tập tục Do Thái” được biến thành rượu, biểu trưng cho trật tự cũ đã nhường chổ cho cái mới. Theo thánh sử, trình thuật này biểu trưng cho điều sẽ diễn ra suốt  sứ vụ của Chúa Giêsu: sự biểu lộ “vinh quang” của Chúa Giêsu. “Vinh quang” là từ ngữ của Phúc âm Gioan dùng chỉ về mạc khải. Mạc Khải, theo Gioan, là việc tự mạc khải của Chúa Giêsu - sự mạc khải viên mãn về Thiên Chúa Cha. Tất cả những cái khác đều bắt nguồn từ đây. Tiệc cưới Cana đánh dấu khoảnh khắc đầu tiên của doxa, ‘vinh quang’. Sự viên mãn của mạc khải là lúc Con Người được “đưa lên”. Ngài là Đấng Được Sai Đến đấng nói Ta Là với sự hiện diện và quyền năng của Thiên Chúa Cha. Ngài đã nói Lời đó trên thánh giá.

 “Phúc cho bà vì bà đã tin” (Lc 1,45) – bà Elizabét đã xác định được nét đặc thù của Mẹ Maria trong Phúc âm: là người nữ của đức tin. Phúc âm theo thánh Gioan cũng đặc biệt xác nhận điều này. Trong tiệc cưới Cana, Mẹ đã tự mình làm ví dụ, và xin người khác làm, về việc hoàn toàn tín thác vào lời của Con Mẹ. Mẹ trở nên gương mẫu cho mọi tín hữu và là trạng sư cho Con Mẹ. Mẹ đã chỉ vẽ những điều vượt quá chính Mẹ. Trong cách của Mẹ, Mẹ đã chứng thực tuyên bố của Con Mẹ: ‘Ta là cây nho, chúng con là nhánh…Tách biệt khỏi ta các con không làm được gì’ (Gn 15,5). Và Mẹ tiếp tục khuyên chúng ta: “Hãy làm những gì ngài bảo” (2,5).

 Vai trò của Mẹ đuợc tiếp tục xác định trong ‘giờ’ của Con Mẹ. Mẹ và Môn Đệ Yêu Dấu, theo thần học của Phúc Âm Gioan, là những người tin tuyệt vời nhất. Họ là hạt nhân của một gia đình mới của những người tin. Họ là chứng nhân của ‘giờ’: mạc khải dứt khoát của Thiên Chúa. Và Mẹ được trao phó: ‘đây là con Bà’(19,26). Vì trở nên Mẹ của Môn Đệ Yêu Dấu, Mẹ cũng là Mẹ của mọi Kitô hữu.

 

RAO GIẢNG NƯỚC THIÊN CHÚA

 Ý nghĩa căn bản của ‘Nước Thiên Chúa’, như Chúa Giêsu hiểu và muốn nói đến, là sự thống trị của Thiên Chúa trong thời sau hết khi mà, như thánh Phaolô đã viết, Thiên Chúa sẽ là ‘tất cả trong mọi sự’ (1 Cor 15,18). Khi đó lời cầu nguyện của Chúa Giêsu: “Xin cho nước Cha trị đến. Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời” (Mt 6,10) sẽ được thành toàn. Tuy nhiên, Chúa Giêsu nhấn mạnh qua cuộc sống cũng như sứ vụ của mình rằng sự thống trị của Thiên Chúa đã trở thành hiện thực lúc này và tại đây (xem Lc 11,20; 17,21). Vì thế, cách tốt nhất để hiểu được bản chất của nước Thiên Chúa và sự thống trị của Ngài là là thấy nó đang hành động qua việc làm và lời nói của Chúa Giêsu -  trong chính con người của ngài.

 Trong khi loan truyền về Nước Thiên Chúa, Chúa Giêsu đã bao hàm Thiên Chúa là Cha và nhân loại như là con cái Thiên Chúa và là anh chị em với nhau . Đó là lý do cho lối giải thích về quyền bính của Ngài. Bởi vì cộng đoàn của những người theo Ngài được mang dấu ấn của koinonia, sự hiệp thông, không có chỗ cho những cách thức thống trị, ‘còn đối với các ngươi thì khác’ (Mc 10,40). Quyền bính tìm được lối diễn tả trong phục vụ.

 Trong một thế giới đầy bất công và bất bình đẳng, Chúa Giêsu quan tâm đặt biệt đến những người bị áp bức và bỏ rơi. Ngài không muốn và không thể coi ai là ‘mạt hạng’. Ngài biểu lộ sự tôn trọng đặc biệt phụ nữ và trẻ em. Ngài nhạy cảm trước những đau khổ và rộng lòng chữa lành những bệnh tật của con người. Ngài quan tâm đặc biệt đến cơn bệnh tàn phá là tội lỗi,  đến độ Ngài được mệnh danh la ‘bạn của người tội lỗi’. Theo Ngài không phải là một chọn lựa nhẹ nhàng: những môn đệ nam cũng như nữ của Ngài phải từ bỏ tất cả. Đường của Ngài là đường dẫn đến Thập Giá: “Không tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người hiến mạng sống mình vì bạn hữu” (Gn 15,130. Sự thống trị của Thiên Chúa là con đường yêu thương.

 

BIẾN HÌNH

(Mc 9,1-8; Mt 17,1-8; Lc 9,28-35)

 Biến cố biến hình giống như một cảm nghiệm cầu nguyện trong đó Chúa Giêsu chấp nhận cuộc xuất hành, cuộc ‘ra đi’: cái chết của mình. Hiển nhiên là cảm nghiệm này rất sâu đậm, đã để lại một ấn tượng không thể xóa nhòa trong lòng các môn đệ đã chứng kiến biến cố này. Được hồi tưởng lại với ánh sáng của biến cố Phục Sinh, biến cố biến hình là một tiên kiến Chúa Giêsu trong vinh quang của người. Giờ đây nó được viết lại vì lợi ích cho các môn đệ, một mạc khải được ban tặng cho họ. Chóp đỉnh của trình thuật biến hình là lời nói từ trên trời: “Đây là con yêu dấu của Ta, hãy nghe lời người” (Mc 9,7).

 Trong trình thuật, Môisen và Êlia đại diện cho Lề luật và các Tiên tri, cho Thánh Kinh của Israel. Việc thánh Phêrô xin dựng ba ‘lều’, một cho Chúa Giêsu, một cho Môisen và một cho Êlia, đã đặt cả ba ngang hàng với nhau. Thánh Phêrô thực sự ‘không biết mình đang nói gì’. Tiếng nói từ trời đã đặt lại đúng vị trí: chỉ mình Người Con mới nói trọn vẹn lời của Chúa. Trong trình thuật theo Phúc Âm thánh Mátthêu, các môn đệ hoảng sợ đã được Chúa Giêsu xác quyết lại điều đó: “Và khi ngước mắt lên, các ông không còn thấy ai trừ một mình Chúa Giêsu” (Mt 17,8). Môisen và Êlia vẫn còn nói lên lời của Chúa, nhưng chưa là lời dứt khoát. Lúc này Thiên Chúa “nói với chúng ta qua Người Con”.

 

TIỆC LY - LẬP BÍ TÍCH THÁNH THỂ

(Mc 14,12-28; Mt 26,20-29; Lc 22,14-23; 1 Cr 11,17-33)

 Điều thánh Marcô quan tâm trong chương14, 12-25 là nối kết bữa tiệc ly của Chúa Giêsu với lễ Vượt Qua (của người Do Thái) –trong câu 14, rõ ràng muốn mô tả đó là bữa tiệc lễ Vượt Qua. Điều đó muốn nói lên Chúa chịu chết trong lễ Vượt Qua, và Phúc Âm theo thánh Mátthêu và  thánh Luca cũng đã theo cách nói này. Tương tự như thế Phúc Âm theo thánh Gioan  cũng nói cách rõ ràng  (Ga 18,28; 19,14) Chúa chịu chết trong buổi chiều trước lễ Vượt Qua. Trong thực tế dường như bữa Tiệc Ly là bữa tiệc chia tay trọng thể - không phải là bữa tiệc lễ Vượt Qua truyền thống. Đó là tuyệt đỉnh của một loạt các bữa ăn mà Chúa Giêsu cùng chia sẻ với các môn đệ. Chúng ta có thể nói rằng dù ý nghĩa chính xác của bữa Tiệc Ly là gì đi nữa thì nó vẫn được đặt trong bối cảnh bữa tiệc Vượt Qua. Các thánh sử đã khai thác yếu tố này.

 Chúa Giêsu đã làm theo tâp tục của người chủ gia đình trong các bữa lễ tiệc của ngươì Do thái là bẻ bánh và phân chia cho mọi người. Ngài ‘cầm lấy bánh’, ‘chúc tụng’, bẻ ra’, ‘trao’ – cũng là những động tác Ngài làm và những lời Ngài nói trong các câu chuyện Ngài nuôi dân chúng (6,41; 8,6). Rõ ràng là sự  giống nhau ở đây là có chủ ý; những tự vựng ở đó được nhắc lại bằng ngôn ngữ Thánh Thể ở đây. Lúc đó các môn đệ ‘không hiểu về phép lạ bánh’ (6,25). Bây giờ mầu nhiệm đã được mạc khải. Chúa Giêsu là ‘một tấm bánh’ (xem 8,14) cho người Do Thái và cho dân ngoại vì chính Ngài đã nói với họ thân xác Ngài được trao ban, máu ngài đổ ra là cho mọi người (14,23-24).

 Trừ hai đoạn trong thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô (10,16-17; 11,17-34) dường như thánh Phaolô không viết gì về bí tích Thánh Thể. Dù sao đoạn thư 1 Cr 11,23-26 cho biết rõ Tiệc Ly của Chúa đã là một phần trong niềm tin và tập tục của các Kitô hữu sơ thời. Đoạn văn này là đoạn đầu tiên trong Tân Ước nhắc đến Tiệc Thánh Thể. Điều đáng ngạc nhiên là thánh Phaolô không nghĩ về bí tích Thánh Thể và sự hiện diện của Chúa trong đó ở trạng thái tỉnh. Ngược lại trình thuật được diễn tả đầy tính năng động. Đó không chỉ là làm cho thịt máu Chúa Giêsu hiện diện; nhưng còn là lời rao truyền và tưởng nhớ cái chết của Ngài, tưởng nhớ một biến cố. Tương tự như thế, chén là ‘chén giao ước mới trong máu ta’, tức là một biến cố, việc thiết lập giao ước có hệ quả tồn tại và dứt khoát cho đời sống của dân giao ước. Lệnh truyền lập lại hành động của Chúa ‘Hãy làm việc này…’ không những kết buộc cộng đoàn cử hành Tiệc Thánh Thể thường xuyên và vì thế giữ cho sống động ý nghĩa của cái chết của Chúa Giêsu, nhưng qua đó còn đòi buộc loan truyền ý nghĩa cứu độ của cái chết của Ngài.

 “Này là mình Ta..này là máu Ta’. Máu thịt nói lên chính mình Ngài, con người của Ngài: Chúa Giêsu trao ban chính mình, và trao ban chính mình trong cái chết. Thánh Phaolô đã nắm bắt được ý nghĩa của ân huệ:  ân huệ của “Con Thiên Chúa, đấng yêu thương vào trao ban chính mình cho tôi” (Gl 1-20).  Cái chết của Chúa Giêsu là ‘cho’ chúng ta. Và như một lệnh truyền, “Hãy làm việc này để nhớ đến Ta”, bí tích Thánh Thể là một anamnesis, ‘tưởng niệm’, nhớ đến là một hình thức của sự hiện diện. Bí tích Thánh Thể thành toàn lời Thiên Chúa hứa “Hãy nhớ, Ta sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20).

 Thánh Phaolô tuyên bố: “Chén chúc tụng mà chúng ta nâng để chúc tụng không phải là thông phần vào máu Đức Kitô sao?  Tấm bánh chúng ta bẻ ra không phải là thông phần vào thân thể của Đức Kitô sao?”(1 Cr 10,26). Điểm nhấn mạnh của thánh Phaolô không chỉ ở một bánh và một chén, nhưng là sự thông chia cùng một bánh và một chén. Là vì trong cách thế thông chia, họ dự phần vào một tấm bánh, và những người cử hành trở nên ‘một thân thể’ – thân thể của Đức Kitô. “Vì có một tấm bánh, nên chúng ta tuy nhiều nhưng là một thân thể, vì tất cả dự phần cùng một tấm bánh” (10,17). Phép Thánh Thể có nghĩa là mối dây hiệp nhất. Việc cử hành Thánh Thể phải là một chứng cứ tỏ hiện cho hiệp nhất. Quan điểm của thánh Phaolô cho rằng ở đâu không có sự hiệp nhất là không có Thánh Thể (11,20) khiến chúng ta phải suy nghĩ. Việc cử hành Thánh Thể, thánh lễ của chúng ta có là một dấu chứng tỏ tường về sự hiệp nhất chưa? Đó có thực là Tiệc Thánh của Chúa không?

Tác giả:  Wilfrid J. Harrington, O.P.

Chuyển ngư:õ Lm. Antôn Bùi Kim Phong

Nguồn : Gpquinhon.org

 

 18. MỘT CHÚT TÂM TÌNH

KỲ THỊ

Kỳ thị có nhiều cấp độ, đôi khi rất khó có thể nhận ra vì quá tinh vi. Kỳ thị trong xã hội thì đã rõ, nhưng người ta còn kỳ thị vì khác tôn giáo, thậm chí người ta vẫn tỏ ra quan liêu và kỳ thị ngay trong những người cùng tôn giáo vì cho rằng chức vụ này “cao” hoặc “thấp” hơn chức vụ nọ. “Cao” hơn thì có “quyền” hơn. Việt ngữ gọi là “quyền hành”. Hay thật! Cũng chỉ vì có “quyền” nên người ta cậy “thế”, rồi ngang nhiên “hành” người khác!

Kỳ thị là gì?

Kỳ thị là phân biệt cái này với cái khác, nhưng “phân biệt” ở đây thường mang nghĩa tiêu cực, nghĩa xấu, nhất là khi nói về việc phân biệt giới tính, phân biệt người khuyết tật, phân biệt giai cấp, hoặc phân biệt chủng tộc.

Kỳ thị chủng tộc là phân biệt người miền này với người miền khác, dân tộc này với dân tộc khác. Kỳ thị chủng tộc là khi bạn bị coi thường hoặc khinh miệt vì bạn là người thuộc dân tộc nào đó. Đôi khi, sự đối xử bất công này có thể trái ngược với pháp luật, tức là phạm pháp.

Không ai có quyền khinh miệt ai vì ai cũng giống nhau về nhân vị, nhân phẩm, và nhân quyền – nghĩa là hoàn toàn bình đẳng. Vì vậy, trước mặt Thiên Chúa thì ai cũng như ai, mọi người đều là những tội nhân mà thôi, chẳng ai hơn hoặc kém ai, thế nên chẳng ai có lý do gì mà kỳ thị người khác!

Bạn có thể bị kỳ thị nếu bạn không được nhận vào làm việc ở một nơi nào đó vì người ta nói bạn “không thích hợp” chỉ vì lý do nào đó, thậm chí chỉ là lý do “ngoại hình”. Nếu bạn là nạn nhân của việc kỳ thị chủng tộc, bạn có thể đệ đơn lên Ủy ban Chống Kỳ thị Chủng tộc Queensland (Anti-Discrimination Commission Queensland, gọi tắt là ADCQ, đạo luật này có từ năm 1991, có các văn phòng tại Brisbane, Rockhampton, Townsville và Cairns).

Kỳ thị là phạm pháp

Luật ADCQ nói rằng đối xử bất công là phạm pháp. Đôi khi kỳ thị (nói chung) xảy ra không rõ ràng, nghĩa là chỉ gián tiếp. Đồng ý là có người “hợp” với mình, có người không “hợp”, nhưng “không hợp” không có nghĩa là chúng ta có thể đối xử bất công với người đó. Cùng làm một công việc, nếu bạn được trả lương ít hơn người khác, đó là bạn bị kỳ thị.

 

Gièm pha, nói xấu, nói hành người khác là ghét người khác, tức là kỳ thị. Kỳ thị có thể là lời nói, cử chỉ, thái độ, hành động, ánh mắt,… thậm chí có thể là “ngòi bút” khi viết ra những điều nguyền rủa hoặc phỉ báng để làm mất phẩm giá của người khác. Thiếu công tâm trong khi nhận xét người khác cũng là kỳ thị, quấy nhiễu người khác cũng là kỳ thị, coi thường người khác cũng là kỳ thị. Nói chung, kỳ thị có thiên hình vạn trạng.

Kỳ thị là phạm tội

Bất cứ ai cũng có thể là người kỳ thị hoặc bị kỳ thị. Muốn tránh kỳ thị thì phải có lòng yêu thương thực sự.

Trong Mười Điều Răn mà Thiên Chúa truyền tuân giữ, điều răn thứ Năm (chớ giết người) và điều răn thứ Tám (chớ làm chứng dối) có liên quan động thái kỳ thị: Vì thiếu lòng yêu thương nên người ta mới kỳ thị, và vì kỳ thị nên người ta mới “giết người” hoặc “làm chứng dối”. Đó là vi phạm Thánh Luật của Thiên Chúa.

Chúa Giêsu đã cảnh báo: “Anh em hãy coi chừng, chớ khinh một ai trong những kẻ bé mọn này; quả thật, Thầy nói cho anh em biết: các thiên thần của họ ở trên trời không ngừng chiêm ngưỡng nhan Cha Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt 18:10).

Đức Giêsu còn kể một dụ ngôn rất điển hình và khá phổ biến trong chúng ta, nhất là với một số người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê người khác:

Có hai người lên đền thờ cầu nguyện. Một người thuộc nhóm Pharisêu, còn người kia làm nghề thu thuế. Người Pharisêu đứng thẳng, nguyện thầm rằng: “Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia. Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con” (Lc 18:11-12). Đó là lời cầu nguyện kiêu căng, ngạo mạn, và ích kỷ!

Còn người thu thuế thì đứng đằng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi” (Lc 18:13). Đó là lời cầu nguyện khiêm nhường.

Hai con người với hai động thái trái ngược. Nhưng hai dạng này luôn tồn tại trong thế giới loài người xưa nay.

Chúa Giêsu quả quyết: “Tôi nói cho các ông biết: người này (người thu thuế), khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi; còn người kia (người Pharisêu, người giả hình) thì không. Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (Lc 18:14).

Chúng ta đừng tưởng Chúa Giêsu nói tới người Pharisêu chứ không hề nói mình, vì chúng ta vẫn làm những việc đạo đức như đi đọc kinh, tham dự Thánh lễ, tham dự các giờ phụng vụ, đi làm từ thiện,… thế nhưng liệu những việc đó có thực sự vì mến Chúa và yêu người hay không mới là điều quan trọng. Hãy cảnh giác, vì đôi khi chúng ta có thể kỳ thị nhau ngay trong lời cầu nguyện hoặc trong những việc đạo đức!

Khiêm nhường là nền tảng của mọi nhân đức. Nhưng RẤT KHÓ SỐNG KHIÊM NHƯỜNG. Thế nên Thánh Giacôbê nhắc nhở: “Anh em hãy hạ mình xuống trước mặt Chúa và Người sẽ cất nhắc anh em lên” (Gc 4:10). Thánh Phaolô xác định: “Chỉ có MỘT Chúa, MỘT niềm tin, MỘT phép rửa” (Ep 4:5), thế thì không ai có thể viện bất kỳ lý do nào để mà kỳ thị người khác.

Có gì sai trái khi người này không thích người khác?

Có thể bạn đã nghe câu châm ngôn này: “Tôi không phải ưa thích bạn, nhưng tôi phải yêu thương bạn”. Các Kitô hữu không có quyền chọn lựa trong hoạt động yêu thương. Chúng ta phải yêu thương mọi người, kể cả những người khác mình, thậm chí còn phải yêu thương kẻ thù.

“Ưa thích” phải xử lý với sự quý mến ưu tiên, chúng ta thu hút vào một điều, một hoạt động hoặc người này hơn người kia. Thân quen là điều bình thường và tự nhiên của con người. Tuy nhiên, hãy cẩn trọng khi chúng ta cảm thấy KHÔNG THÍCH một người nào đó.

Một người Mỹ gốc Phi đã nhận xét: “Nếu bạn không thích tôi vì tôi ngu dốt, cũng tốt thôi. Tôi có thể đi học. Nếu bạn không thích tôi vì tôi dơ bẩn, cũng chẳng sao. Tôi có thể tắm rửa cho sạch sẽ. Nhưng nếu bạn không thích tôi vì màu da của tôi, thế thì bạn có vấn đề. Vấn đề của bạn là đối với Thiên Chúa, vì Ngài dựng nên tôi như vậy”.

Bạn cần tự hỏi mình: “Tại sao tôi không thích những người khác tôi? Có phải vì tôi có thành kiến? Có phải vì tôi kỳ thị?”. Kỳ thị chủng tộc (racism) là tin tưởng sai lầm rằng một số người vốn dĩ cao cấp và một số người vốn dĩ hạ cấp chỉ vì dân tộc của họ. Đó là một dạng thành kiến (preduce, bias), còn gọi là định kiến hoặc thiên kiến, có tác dụng tiêu cực và nguy hiểm – dùng lời nói hoặc động thái nhằm hạ thấp hoặc kinh miệt người khác, hãy tránh xa những người có óc kỳ thị hoặc dính líu tới bạo lực. Phân biệt đối xử (discrimination) là không chấp nhận các quyền cơ bản của người khác, đó là một hệ lụy khủng khiếp khác của chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc. Tội diệt chủng (genocide) là dạng tồi tệ nhất của chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc. Từ thế kỷ XX, loại tội phạm này len lỏi vào cộng đồng một cách tinh vi hơn.

Kỳ thị chủng tộc là tội trọng. Đó là tội không yêu thương và bất công. Giáo Hội “mạnh mẽ lên án mọi dạng phân biệt đối xử đối với người khác vì sắc tộc, màu da, điều kiện sống hoặc tôn giáo” (Tuyên ngôn về Mối Quan Hệ của Giáo Hội đối với các Tôn Giáo khác, số 5).

Ambrose Bierce, văn sĩ Hoa Kỳ, định nghĩa thành kiến là “ý kiến vớ vẩn không có ý nghĩa rõ ràng về sự ủng hộ”. Hãy kiểm tra xem tại sao bạn không thích người nào đó. Nếu đó là vấn đề của óc thiển cận, bạn có thể thay đổi. Hãy nỗ lực tìm hiểu để nhận biết và hòa đồng với mọi người, nhất là những người không cùng chủng tộc, không cùng tôn giáo, không cùng quan điểm, không cùng trình độ,… Hãy nhớ rõ ràng rằng CHỈ CÓ MỘT CHỦNG TỘC, đó là NHÂN LOẠI, là LOÀI NGƯỜI, là con cái của Thiên Chúa.

Lạy Chúa, xin giúp chúng con sống hòa đồng với nhau trong tình huynh đệ hiệp nhất với Chúa Ba Ngôi, như Chúa Giêsu mong ước cho mọi người hoàn toàn “nên một” (Ga 17:21-23). Chúng con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU