1. LỜI CHỦ CHĂN

2. DIỄN GIẢI THƯ MỤC VỤ

3. LỜI NGUYỆN CHUNG

4. ÁP DỤNG THỰC HÀNH

5. TÌM HIỂU GIÁO LUẬT

6. TRANG LINH MỤC

7. TRANG TU SĨ

8. TRANG SỐNG ƠN GỌI

9. TRANG THIẾU NHI

10. TRANG GIỚI TRẺ

11. TRANG GIA ĐÌNH

12. TRANG GIÁO LÝ VIÊN

13. TRANG QUỚI CHỨC

14. THẦN HỌC KINH THÁNH

15. MỘT CHÚT TÂM TÌNH

16. TIN NỔI BẬT

 

 

1. LỜI CHỦ CHĂN

 

Vĩnh Long ngày 25.11.2015

 

Kính gửi: Quý Cha

              Quý Tu sĩ nam nữ

              Và tất cả anh chị em Gp. Vĩnh Long

 

V/v CHÚA ĐẾN

Chúa chúng ta có thể là một Thiên Chúa vô hình, một Thiên Chúa ẩn khuất, nhưng cũng là một Thiên Chúa đã đến, đang đến và sẽ đến để yêu thương và cứu độ chúng ta. Trong tháng 12 này, chúng ta đứng trước một biến cố vĩ đại: Thiên Chúa đã đến với loài người và ở cùng chúng ta.

 

Chúng ta đã có gặp vị lãnh đạo nào không, có bắt tay tướng lãnh nào không, có trò chuyện ăn uống và đi lại với vị cao cả nào không? Một vị lãnh đạo huyện, tỉnh, nước? Phải trải qua bao nhiêu là lễ nghi, người trung gian, khuôn phép!

 

“Làm người thì khó, làm chó thì dễ”! Làm người cho xứng đáng là một cố gắng khó khăn. Đàng khác, nhiều người không muốn làm người, mà làm tiên ở trên nơi cao nào đó, không vướng bận việc đối xử với con người, thoát khỏi việc lo ăn lo uống. Làm tiên nữ thì càng sướng, vừa xinh đẹp vừa biết múa hát.

 

Thiên Chúa ở trên trời, hạnh phúc vô cùng, không vướng bận chuyện trần gian, nhưng Chúa đã muốn làm người. Có vị vua nào, vị lãnh đạo nào đã vi hành, đã sống nghèo khổ vất vả giữa chúng ta? Vị lãnh đạo nào đã chia sẻ lo toan cuộc sống của con người và thông cảm với kiếp sống trần gian?

 

Đọc truyện cổ tích, ta thấy có những vị tiên xuất hiện để giúp cho người ta thoát khổ, như trong truyện Tấm Cám.

 

Chúa Giêsu là Thiên Chúa, đã làm người và ở cùng chúng ta ba mươi ba năm lao động vất vả, chia sẻ kiếp sống nhọc nhằn ở trần gian. Sauk hi sống lại và lên trời, Chúa Giêsu không cởi bỏ thân xác, Chúa đã mang thân xác ấy về trời. Qua đó, Chúa muốn nói với chúng ta nếu chúng ta yêu mến Chúa, sống gắn bó với Chúa thì ta sẽ về trời, chia sẻ vinh quang với Chúa.

 

Chúa Giêsu về trời, không để chia lìa thân xác và linh hồn của con người, nhưng hưởng hạnh phúc bên Chúa Cha. Điều đó cũng tiên báo nhờ ơn cứu chuộc của Chúa Giêsu, chúng ta được giải thoát khỏi tội lỗi và sự chết, được chia sẻ vinh quang và hạnh phúc vĩnh cửu với Chúa.

 

Chúa còn chia sẻ cho ta tước vị làm con Chúa. Thế nên, không những chúng ta vui mừng vì Chúa đến thăm chúng ta, mà còn được thông phần vào hạnh phúc và vinh quang với Chúa. Quý giá vô cùng !

 

Đứng trước mầu nhiệm Ngôi Hai nhập thể làm người và ở cùng chúng ta, chúng ta không biết phải cảm tạ thế nào cho cân xứng, chỉ biết chia sẻ hạnh phúc ta đang có cho những anh chị em của chúng ta.

Tạ ơn Chúa mãi mãi.

 

Lm. Phêrô Dương Văn Thạnh

Giám Quản GP. Vĩnh Long

 

 

2. DIỄN GIẢI THƯ MỤC VỤ

Tháng 12/2015

 

TÂN PHÚC ÂM HOÁ GIÁO XỨ VÀ CỘNG ĐOÀN:

ĐỒNG HÀNH TRUYỀN GIÁO CÙNG VỚI ANH CHỊ EM DI DÂN

 

“Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ,

loan báo Tin mừng cho mọi loài thụ tạo” (Mc 16,15)

 

1. Mệnh lệnh truyền giáo

 

Lệnh truyền đó của Chúa Giêsu cũng nói với chúng ta ngày hôm nay, trong khi thế giới, dẫu phát triển và tiến bộ nhiều, cũng vẫn khao khát tìm kiếm bình an và niềm vui. Như là Kitô hữu, đây là thời đại để chúng ta làm chứng nhân. Đối với chúng ta, ngày nay sứ vụ truyền giáo là trực tiếp loan báo Tin mừng, lôi kéo người ta đến để được chia sẻ sự sống của cộng đoàn Thánh Thể.

 

Để thực hiện lệnh truyền loan báo Tin mừng đó cho có hiệu quả, chúng ta cần trở nên một dân có một kinh nghiệm thiêng liêng sâu xa về Thiên Chúa, dấn thân trọn vẹn và để cho Thần Khí hướng dẫn vì chỉ trong ánh sáng đức tin và nhờ suy gẫm Lời Chúa mà chúng ta có thể nhận ra được Chúa ở mọi nơi và trong mọi lúc, “trong Ngài chúng ta sống, hoạt động và hiện hữu” (Cv 17,28). Chỉ trong khi tìm kiếm thánh ý Chúa trong mọi biến cố cuộc sống và nhận ra Chúa Kitô nơi mọi người, chúng ta mới có thể thẩm định đúng đắn về ý nghĩa thật và giá trị của các thực tại trần thế, trong bản chất của chúng cũng như trong mối quan hệ với cứu cánh của con người.[1]

Người giáo dân sống giữa đời dễ dàng liên lụy với các việc đời và lãnh lấy nhiệm vụ làm chứng cách cá nhân cho sự thánh thiện và thực tế đã nên một chứng từ thụ động bởi lẽ làm chứng tá còn là gì hơn nữa chứ không chỉ là làm việc lành và đọc kinh. “Việc tông đồ không chỉ giới hạn trong việc làm chứng bằng đời sống; người tông đồ đích thực còn tìm dịp loan truyền Chúa Kitô bằng lời nói, hoặc cho những người chưa tin để đưa họ đến với đức tin, hoặc cho những người đã tin để hướng dẫn, củng cố và thúc đẩy họ sống nhiệt thành hơn; quả thật, “tình yêu Chúa Kitô thúc bách chúng ta” (2Cr 5,14), và hãy để lời Thánh Tông Đồ luôn vang vọng trong tâm trí tất cả chúng ta: “Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1Cr 9,16)”.[2]

 

2. Di dân tích cực loan báo Tin mừng

 

Tình trạng di dân hiện nay trên thế giới cũng như tại đất nước chúng ta “không những tác động trên đời sống kinh tế và xã hội, nhưng cả trên đời sống và sinh hoạt đức tin”.[3]

 

Trong tầm nhìn tích cực, giống như Hội Thánh sơ khai ở Palestine do hoàn cảnh chiến tranh và bách hại mà niềm tin vào Chúa Giêsu Kitô Chịu Chết và Sống lại bành trướng đi khắp nơi, làn sóng di dân ngày nay trên thế giới, trong đó có những đồng bào Công giáo, không phải là dấu chỉ thời đại và cũng là cơ hội loan báo Tin mừng Đức Giêsu Kitô sao? Vì thế, Đức Thánh Cha Phanxicô, cũng như các Đức Giám mục Việt Nam động viên anh chị em Di dân trở thành chứng tá của “Niềm Vui Tin mừng tràn ngập tâm hồn và toàn thể đời sống” (Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng, số 1).

 Chiêm ngắm Dung nhan Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót, được tỏ hiện trọn vẹn nơi Đức Giêsu Kitô; nhờ đó người tín hữu mới cảm nghiệm được lòng Chúa xót thương và niềm vui lan tỏa tự con tim khắp con người, trở thành dấu chỉ cụ thể của lòng thương xót trong cuộc sống.

 

Chỉ có niềm vui tự trong con tim cảm thấy được yêu thương, và “tình yêu Chúa Kitô thúc bách”, anh chị em di dân trong khi “đi ra”, mới loan báo Tin mừng Tình yêu ấy bằng chứng từ, bằng cả lời nói và hành động. Nhưng con tim họ chỉ vui trong khi sống kinh nghiệm gặp gỡ thâm tình với Chúa, Đấng đã chịu chết và sống lại vì họ, trong việc cầu nguyện và sống Lời Chúa thường xuyên trong cộng đồng gia đình, Hội thánh, nơi đi cũng như nơi đến. Từ đó niềm vui Tin mừng ấy lan truyền trong môi trường lao động nghề nghiệp xã hội. Chỉ khi ấy, anh chị em di dân trở thành chủ thể tích cực loan báo Tin mừng và sẽ cảm thấy “khốn” nếu họ không loan báo Tin mừng vốn được họ cảm nghiệm sống động.

 

3. Mục vụ Di dân và Cử hành trong Năm Thánh Lòng Thương Xót

 

Ngày Thế giới Di dân và Tị nạn năm 2016 sẽ được tổ chức vào Chúa nhật, 17 tháng 01 năm 2016, với chủ đề: Người di dân và tị nạn chất vấn chúng ta. Lời giải đáp của Tin Mừng Lòng Thương Xót.

 

Năm 2016 là Năm Thánh Lòng Thương xót nên Hội Đồng Tòa Thánh về Chăm sóc Mục vụ cho người Di Dân và Lưu Động đã lưu ý 5 nội dung cần chuẩn bị để việc cử hành ngày Thế giới Di dân và Tị nạn trong Năm Thánh của Lòng Thương Xót không chỉ dừng lại ở khẩu hiệu hoặc tồn tại như một phong trào thường niên, nhưng trở thành một cử hành đức tin cụ thể:

 

– Việc cử hành ở mỗi giáo phận nên được tổ chức hài hoà tại giáo xứ với sự tham gia của anh chị em di dân và giáo dân địa phương để toàn thể cộng đoàn đức tin được cùng nhau chia sẻ;

 

– Việc cử hành phải trở nên cơ hội đồng hành cùng anh chị em di dân qua những dấu chỉ hữu hình của Lòng Thương Xót: những cách thế vừa mang dấu ấn vừa diễn tả sự gần gũi và nhạy cảm của Hội thánh dành cho anh chị em di dân;

 

– Gây ý thức cho cộng đoàn đức tin về hiện tượng di dân hiện nay vốn vừa mang lại những hệ quả tích cực nhưng đồng thời cũng đối mặt với nhiều hiểm nguy và rủi ro;

 

– Trở thành cơ hội chuyển tải thông điệp của Đức Thánh Cha về Ngày Thế giới Di dân và Tị nạn 2016;

 

– Việc cử hành không chỉ đơn thuần là một biến cố trong ngày nhưng trở thành cơ hội hình thành những kế hoạch thiết thực cho anh chị em di dân trong Năm của Lòng Thương Xót.

 

Để chuẩn bị cử hành Năm Thánh Lòng Thương Xót và Năm Tân Phúc-Âm-Hoá đời sống xã hội 2016, Hội thánh Việt Nam, Hội đồng Giám mục đã quyết tâm đồng hành với anh chị em di dân cách cụ thể hơn qua việc ủy thác cho Ủy ban Mục vụ Di dân nghiên cứu tình hình và soạn thảo “Hướng dẫn mục vụ di dân” để “tất cả chúng ta có một đường lối chung trong việc phục vụ anh chị em di dân” và “giúp họ hội nhập vào đời sống của cộng đoàn giáo hội địa phương” nhằm “trở nên những thành viên tích cực trong việc xây dựng Giáo hội”.[4]

 

Câu hỏi thảo luận

 

1. Cộng đoàn giáo xứ, giáo họ của anh chị em có đón nhận những anh chị em di dân, hay tị nạn, nhập cư vì nhiều lý do khác nhau, như về kinh tế, chính trị, văn hóa và tôn giáo, không? Cộng đoàn của anh chị em có thường xuyên vắng bóng nhiều người trẻ phải ra đi xa quê và xa gia đình không, và điều đó có ảnh hưởng gì trên cuộc sống của cộng đoàn hiện tại không?

 

2. Cộng đoàn của nơi tiếp đón có tiếp đón và giúp anh chị em tạm cư, nhập cư hội nhập đời sống Hội thánh địa phương cách tích cực và hài hòa không? Có xem họ là hồng ân Chúa gửi đến cho Hội thánh địa phương mình không?

 

3. Cộng đoàn của nơi anh chị em ra đi có chuẩn bị từ xa, và gần cho những anh chị em di dân vì kinh tế, chính trị xã hội, học tập,… trở thành những chiến sĩ loan báo Tin mừng không?

––––––––––––

 

[1] Cf. AA 4.

[2] AA 6.

[3] HĐGMVN, Thư Mục Vụ 2014, số 4.

[4] x. HĐGMVN, Thư gửi cộng đồng Dân Chúa, 2015, số 6.

 

Lm.  Luy Nguyễn Anh Tuấn

Nguồn: ubmvgiadinh.org

 

 

3. LỜI NGUYỆN CHUNG

 

Kêu mời: Anh chị em thân mến,

Trong lịch sử Phúc Âm Hoá nhân loại, Thiên Chúa đã dùng nhiều lần nhiều cách, nhiều người và nhiều nơi mà loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo. Chúa dùng việc kỳ thị dân Hy Hoá mà mở rộng Hội Thánh. Chúng ta hãy cùng hiệp ý cầu nguyện:

1.       Chúa phán: “Các con hãy đi khắp tứ phương thiên hạ loan báo Tin Mừng”. Chúng ta cầu nguyện cho mọi thành phần Hội Thánh trên khắp thế giới, biết ý thức trách nhiệm, biết dùng mọi khả năng và mọi cách thế để loan báo Tin Mừng.

2.       Chúa phán: “Này, Thầy sai các con đi như chiên giữa bầy sói”. Chúng ta cầu nguyện cho các anh chị em di dân, dầu phải đương đầu với những hiểm nguy, vẫn biết cầu nguyện và làm chứng cho công cuộc loan báo Tin Mừng.

3.       Chúa phán: “Hãy làm cho mọi người trở nên môn đệ của Thầy”. Chúng ta cầu nguyện cho các anh chị em di dân biết sử dụng sự khắc khổ sống trên đất người, mà làm cho nhiều người tin thờ Chúa và lãnh nhận ơn cứu rỗi.

4.       Chúa phán: “Các con đã nhận cách không công, thì cũng phải cho như vậy”. Chúng ta cầu nguyện cho mọi người trong giáo xứ, trong cộng đoàn chúng ta, biết quảng đại phân phát ơn cứu rỗi Chúa đến cho mọi người ở khắp nơi.

Kết thúc: Lạy Chúa, Chúa muốn mọi người được cứu rỗi. Xin cho chúng con biết cộng tác với ơn Chúa Thánh Thần, biết dùng mọi khả năng và mọi hoàn cảnh mình, mà làm cho mọi người được lên Thiên Đàng. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen.

 

 

4. ÁP DỤNG THỰC HÀNH

 

ĐỒNG HÀNH VỚI ANH CHỊ EM DI DÂN

Có thể nói năm 2015 – mà cao điểm là tháng 8 và tháng 9 – thế giới như lên cơn sốt vì phong trào di dân. Cuộc khủng hoảng di cư tị nạn trầm trọng đã khiến Đức Giáo Hoàng Phanxicô phải thốt lên trong diễn văn trước lưỡng viện quốc hội Hoa Kỳ (ngày 24/9/2015): “Thế giới của chúng ta đang đối mặt với khủng hoảng tị nạn với một con số lớn lao nhất, kể từ sau Đệ nhị Thế Chiến”.

 

Hình ảnh một em bé 3 tuổi người Syria chết thảm trên bãi biển Bodrum: Ngày 02/9/2015, một bức ảnh chụp cậu bé Aylan 3 tuổi chết trên bờ biển gần khu nghỉ dưỡng Bodrum đã làm cả thế giới bàng hoàng, tấm ảnh đã lan truyền cực mạnh, trở thành hình ảnh đại diện cho những hành trình di cư tị nạn đầy khắc nghiệt.

 

Một bé gái 5 tuổi đã vượt hàng rào an ninh để được gặp Đức Giáo hoàng: Trong chuyến viếng thăm Hoa Kỳ, Đức Giáo Hoàng Phanxicô tới thủ đô Washington DC , thì có một bé gái đã vượt hàng rào an ninh và gửi cho ngài một bức thư cảm động về vấn đề di cư. Trong bức thư, cô bé viết: “Cháu muốn nói với ngài rằng trái tim cháu rất buồn. Cháu mong muốn ngài đề nghị với Tổng thống và Quốc hội hợp pháp hóa cha mẹ cháu vì lúc nào cháu cũng lo sợ rằng một ngày nào đó họ sẽ đưa cha mẹ cháu đi mất, rời xa cháu. Cháu tin rằng cháu có quyền được sống cùng cha mẹ, có quyền được hạnh phúc. Tất cả các di dân như cha cháu đề giúp ích cho đất nước này. Họ xứng đáng được sống đàng hoàng và được tôn trọng. Họ xứng đáng được hưởng lợi từ cải cách nhập cư."

 

Quả thật vấn đề di dân từ nhiều năm nay đã trở thành trào lưu càng lúc càng ồ ạt, nên Giáo hội đã nhiều lần triệu tập Đại hội “Mục vụ Di dân Thế giới” với mục đích là xem xét hiện tượng di dân, tìm cách giúp đỡ.  “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo” (Mc 16, 15).  

Trên bình diện toàn cầu, trào lưu di dân đang diễn ra phức hợp, gồm những người tị nạn, di dân nội địa, di dân do biến đổi khí hậu…, cũng như có những khó khăn khi phải phân định những khác biệt giữa các trào lưu này. Việc di dân tiếp tục là dấu chỉ của thời đại, trong đó càng phải lưu tâm coi trọng hơn nữa nhân vị và nhân phẩm con người. Riêng ở Việt Nam thì từ hai thập niên qua, rất đông anh chị em, cách riêng các bạn trẻ Công giáo phải rời xa gia đình và làng quê để đi học và đi làm tại các thành phố lớn.

 

Cũng vì “việc di dân tiếp tục là dấu chỉ của thời đại, trong đó càng phải lưu tâm coi trọng hơn nữa nhân vị và nhân phẩm con người”, nên đã phát sinh nhiều thách đố về xã hội, kinh tế, chính trị, văn hoá và tôn giáo. Trong Sứ điệp Ngày Thế giới Di dân và Tị nạn lần thứ 101, ĐGH Phanxicô đã nhấn mạnh: “Quả thật, vấn đề di dân phải làm cho mọi người quan tâm, không phải chỉ vì hiện tượng này đạt đến tầm cỡ rộng lớn, nhưng còn là vì “nó nêu lên nhiều vấn đề về xã hội, kinh tế, chính trị, văn hoá và tôn giáo và vì nó đặt ra cho các cộng đồng quốc gia và cho cộng động quốc tế những thách đố đầy kịch tính” (Thông điệp Caritas in Veritate, số 62).

 

Những thách đố của xã hội đối với trào lưu di dân

 

Các cộng đoàn và tổ chức Giáo hội làm việc biệt lập: Hiện có một khuynh hướng đáng tiếc là các cộng đoàn và tổ chức Giáo hội làm việc biệt lập với nhau, như vậy sẽ tạo ra khoảng trống có thể khiến các quyền lợi của di dân dễ bị xâm hại và phát sinh những khó khăn trong việc sáng tạo các chương trình mục vụ thích hợp tại Giáo hội nơi đến.

 

Các chính sách đối với di dân có khuynh hướng cá vị hơn là tập thể: Các chính sách hiện nay đối với di dân có khuynh hướng nhấn mạnh đến chiều kích cá nhân của người di dân, tập trung vào khía cạnh việc làm hơn là chú ý đến gia đình của họ. Quả thật, chính sách quốc gia về người di dân thường là một trong những nguyên nhân sâu xa dẫn đến tình cảnh gia đình phân ly, đồng thời có thể dẫn đến sự đổ vỡ các mối quan hệ trong gia đình.

 

Hệ thống chính sách về người di dân không hoàn hảo: Vấn đề gia đình bị phân ly, do hệ thống chính sách về người di dân không hoàn hảo, là vấn đề đáng quan tâm nhất, quan trọng nhất của mục vụ di dân, đặc biệt đối với các quốc gia có đông đảo người tha hương.

 

Khủng hoảng đức tin: Tình trạng di dân “không những tác động trên đời sống kinh tế và xã hội, nhưng cả trên đời sống và sinh hoạt đức tin. Nhiều giáo xứ tại nông thôn không còn đủ nhân lực cho những sinh hoạt của cộng đoàn. Ngược lại, nhiều giáo xứ nơi thành thị lại quá tải trong công tác mục vụ. Nhiều anh chị em di dân cảm thấy lạc lõng ngay trong đời sống đức tin.”

 

Do những thách đố nêu trên, toàn thể Giáo hội – cách riêng các Giáo hội địa phương cần ý thức vấn đề theo Sứ điệp “Ngày Thế giới Di dân và Tị nạn” dẫn giải: “Trước sự toàn cầu hoá của hiện tượng di dân, phải đáp lại bằng sự toàn cầu hoá của đức ái và hợp tác, hầu làm cho các điều kiện của những người di dân được nhân đạo hơn.” Đồng thời đáp ứng lời khuyến nghị của Đai hội “Mục vụ Di dân Thế giới” khóa VII: “Vì thế xin anh chị em, cách riêng các linh mục, mở rộng vòng tay đón tiếp anh chị em di dân, tạo điều kiện cho họ tham gia vào các sinh hoạt của giáo xứ, để họ cảm nhận được mình là thành viên của gia đình giáo xứ. Như thế không những đời sống đức tin của họ được nâng đỡ, mà họ còn trở nên những nhân tố tích cực trong việc Phúc-âm-hóa.”

 

Như vậy thì vấn đề “Đồng hành truyền giáo cùng với anh chị em Di dân”, phải được coi là một sứ vụ được Thiên Chúa và Giáo hội trao phó; từ đó người Kitô hữu đem hết tâm lực ra thực hành. Với phạm vi Giáo xứ – đặc biệt là các Giáo xứ có những di dân không cùng tín ngưỡng – thì vấn đề truyền giáo ở đây phải được hiểu là sống đời sống chứng nhân Kitô giáo một cách cụ thể. Tất nhiên sống đời sống chứng nhân Kitô giáo không phải chuyện dễ. Tuy nhiên, vì “Đức tin hành động qua đức ái” (Gl 5, 6) trở thành một chuẩn mực mới giúp thông hiểu và hành động, làm thay đổi toàn thể cuộc sống con người.

  

Tóm lại, để đồng hành truyền giáo với anh chị em di dân, từ mỗi thành viên đến các nhóm, các hội đoàn, các gia đình trong cộng đồng thừa sai Giáo xứ hãy đem hết tâm lực ra “loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo” (Mc 16, 15), bằng cách đến với anh chị em di dân “chữa lành những vết thương, xoa dịu chúng với dầu an ủi, băng bó chúng với lòng thương xót và chữa lành chúng với tình liên đới và sự chăm sóc chu đáo. Chúng ta hãy mở to mắt và nhìn rõ sự đau khổ của thế giới, và những vết thương của những anh chị em chúng ta là những người đang bị từ chối phẩm giá của họ, và để cho chúng ta nhận ra rằng chúng ta bắt buộc phải chú ý đến tiếng kêu muốn được giúp đỡ của họ!” (Tông sắc Dung Mạo Lòng Thương Xót “Misericordiae Vultus”, số 15).

 

 

 

5. TÌM HIỂU GIÁO LUẬT

 

ĐỘC THÂN KHIẾT TỊNH

 

A.      Đức khiết tịnh

a. Giáo luật

b. Thần học

1/ Tương quan với Chúa Giêsu Kitô (x. Nguyệt san tháng 10)

2/ Tương quan với Nước Thiên Chúa

Theo gương Chúa Giêsu, người tu sĩ sống độc thân khiết tịnh vì Nước Trời, là vì muốn phục vụ kế hoạch tình yêu đại đồng (tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại, nhất là những người nghèo, người bé nhỏ, người bị gạt ra bên lề xã hội). Đời sống của họ là một biểu tượng của tình yêu khi họ khước từ xây dựng một tổ ấm gia đình riêng tư để có thể dành cả tâm sức và cả cuộc đời phục vụ đại gia đình nhân loại. Đây có thể nói được là điểm khác biệt giữa quan niệm tu trì của Kitô giáo với một vài tôn giáo ở Á Châu. Có tôn giáo xem nguồn gốc của mọi khổ ải hệ lụy ở tại “yêu” (vì yêu mà khổ). Nên việc tu trì cũng đồng nghĩa với sự từ bỏ... “yêu”; còn Kitô giáo đặt tình yêu làm trung tâm, và xem đó như là tột đỉnh của hạnh phúc. Điều nầy cũng cần xem lại một quan niệm có trước đây: tuy trong đời tu có dành một chổ đứng cho tình yêu, nhưng chỉ yêu Chúa, yêu những giá trị vĩnh cữu chứ không thể yêu đời; tu đức của đời tu ngày nay, mời gọi người tu sĩ yêu mến Thiên Chúa hết lòng hết sức thì cũng bao gồm việc yêu mến những gì mà Chúa yêu. Chị thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu là một điển hình: cho dù ẩn mình trong bốn bức tường kín, Chị thánh vẫn ôm ấp một tình yêu bao la đến tất cả những người cần hưởng tình yêu của Chúa, và Chị đã tìm cách để phục vụ cho tình yêu đó với những phương tiện trong tầm tay, như lời cầu nguyện và hy sinh.

 

3/ Tương quan với Hội Thánh

Sứ mạng chính yếu của Hội Thánh là phục vụ Nước Chúa. Vì thế người tu sĩ tuân giữ khiết tịnh vì Nước Trời đặt các tu sĩ trong mối liên hệ chặt chẽ với Hội Thánh. Qua lời khấn khiết tịnh, các tu sĩ trở nên hình ảnh của mối tình duy nhất mà Hội Thánh dành cho Chúa Giêsu Kitô, mối tình không chia sẻ mà chỉ dành cho đức Lang Quân (2 Cor. 11,2). Qua lời khấn khiết tịnh, các tu sĩ trình bày hình ảnh của Hội Thánh như một đại gia đình lý tưởng, trong đó các phần tử chỉ có một tấm lòng một linh hồn, vì ý thức rằng tất cả đều là con cái của một Cha.

 

4/ Tương quan đến những giá trị nhân bản

a. Kể từ Công đồng Vat. II, các nhà tu đức không còn xem hôn nhân và sự trinh khiết như là hai thực tại đối chọi nhau như là tối tăm và ánh sang nữa, mà là hai thực tại bổ túc cho nhau: hôn nhân là một thực tại tốt đẹp, do Thiên Chúa thiết lập và được Chúa Giêsu thánh hóa như bí tích biểu hiệu của mối tình chung thủy của Ngài với Hội Thánh; còn sự trinh khiết vì Nước Trời là một thể thức khác để họa lại tình yêu của Đức Kitô, đã chọn đời sống độc thân không cửa không nhà, để làm nỗi bật chiều kích khác của tình yêu: tình yêu trao hiến mạng sống, tình yêu đại đồng.

Ngoài ra, qua đời sống cộng đồng, các tu sĩ trình bày một kiểu mẫu gia đình mới, không xây dựng trên huyết nhục nhưng là trên đức tin: một cộng đồng coi nhau như huynh đệ vì cùng chung một Cha trên trời. Điều quan trọng giữa hai bậc sống nầy cần phải nâng đỡ cho nhau bằng lời cầu nguyện và gương sáng. Xét vì cả hai đều cần làm chứng cho mối tình chung thủy của Đức Kitô và Hội Thánh, sự chung thủy bất chấp những thách thức.

b. Dưới ánh sáng của Chúa Giêsu Kitô phục sinh và cánh chung, sự khiết tịnh cũng làm thay đổi mối tương giao giữa nam nữ. Dĩ nhiên, các tu sĩ không phải là những người á nam á nữ; lời khấn khiết tịnh không tiêu diệt đi nam tính hay nữ tính của họ. Họ vẫn còn mang trong mình những khuynh hướng phái tính, kể cả khuynh hướng làm cha hay làm mẹ. Duy có điều là như chúng ta đã thấy, những khuynh hướng đó sẽ được hướng tới những chiều kích mới. Khuynh hướng làm cha hay làm mẹ sẽ không được thể hiện qua việc sinh sản trong khung cảnh của hôn nhân, song là trong viễn tượng của một đại gia đình, phục vụ những mầm sống mới, phục vụ những người sống ngoài lề xã hội, phục vụ những ai khao khác tình thương.

Lời khấn khiết tịnh giúp chúng ta hiểu đúng ơn gọi tru trì và làm thay đổi mối tương giao với người khác phái, khi biết vượt lên tình yêu chiếm hữu như trong đời sống vợ chồng, nhưng nhường chỗ cho tình yêu tông đồ, đón nhận người đồng giới hay khác giới như những người đồng hành hay đồng lao trong Nước Chúa.

c/ Thần học về sự khiết tịnh cũng cần được lồng trong khung cảnh tích cực về giá trị thân xác. Trong quá khứ, không thiếu những tác giả tu đức đã xem thân xác như tù rạc, như nguồn gốc tội lỗi; do đó cũng không thiếu những tác phẫm nhấn mạnh đến việc hành hạ chế ngự thân xác. Điều nầy quên đi một trong những tín điều căn bản của Kitô giáo là thân xác nầy sẽ sống lại trong ngày sau hết.

Thực ra, thân xác không phải chỉ là một đống các tế bào và bắp thịt hay chức phận sinh lý. Thân xác còn là biểu hiện của cái tôi ra ngoại giới: nhờ có thân xác mà tôi có thể tiếp xúc với tha nhân, nhờ có thân xác (cử chỉ) mà tôi có thể biểu lộ tư tưởng tâm tình của tôi cho tha nhân. Hiểu như vậy, lời khuyên khiết tịnh có ảnh hưởng rất lớn đối với việc kiện tòan thân xác: khi tâm hồn và con tim trong trắng thì cả khóe mắt và cử điệu cũng trong trắng nữa. Nói cách khác, sự khiết tịnh không tiêu diệt thân xác nhưng thăng tiến thân xác bằng cách giúp cho nó trở thành công cụ bộc lộ những giá trị tinh thần. Đó là lý tưởng mà các sách tu đức ngày nay muốn nói khi dùng tiếng “chế ngự thân xác”, đặt nó dưới sự quy phục của lý trí.

 

 

6. TRANG LINH MỤC

 

Xin Giảng Ngắn Bớt !

Đức Giáo Hoàng Phanxicô Nhắn Nhủ Các Linh Mục

(Breitbart – 10.11.2015)

 

Trong khi cử hành nghi thức tấn phong tân giám mục, Đức Giáo hoàng Phanxicô khuyến khích các linh mục hãy dùng những lời lẽ đơn giản khi giảng dạy và hãy rút gọn bớt bài giảng của mình trong thánh lễ ngày chúa nhật.

 

‘Giảng Lời Chúa theo thời và ngoài thời, nhưng hãy dùng những lời lẽ đơn giản để ai cũng có thể hiểu và tránh đi các bài giảng dài.

 

Đức Phanxicô thúc  các linh mục hãy nghĩ lại về thời thơ ấu của mình và nhớ xem giáo dân mừng thế nào khi các linh mục giảng những bài ngắn gọn. ‘Hãy nhớ cha của các cha và thấy ông hạnh phúc thế nào khi biết có một linh mục gần đó cử hành thánh lễ mà không có bài giảng!’

 

Các bài giảng phải là sự thông truyền ơn Chúa và phải đơn sơ để tất cả mọi người đều hiểu được và khi ra về ai cũng mang theo một khát khao muốn sống tốt hơn.’

 

Các bài giảng ngắn gọn cũng là chủ đề mà Đức Phanxicô đã lặp lại nhiều lần.

 

Tháng 4 năm ngoái, Đức Giáo hoàng truyền chức cho 19 linh mục, và thúc giục họ hãy phục vụ hơn là điều hành đàn chiên và hãy cho dân Chúa của ăn với những bài giảng từ trái tim hơn là những bài thuyết đáng chán.

 

‘Hãy để bài giảng là nguồn nuôi dưỡng Dân Chúa, để cho bài giảng của các cha không đáng chán, để cho bài giảng của các cha vươn đến tâm hồn mọi người, bởi bài giảng đó xuất phát từ tâm hồn các cha, bởi các cha nói ra những gì các cha mang trong tim mình.’

 

Đức Giáo hoàng cũng thúc giục các tân linh mục hãy thực hành những gì mình giảng, để làm gương lành, làm chứng cho sự thật trong những lời mình nói. ‘Một gương lành làm cho mọi người phấn chấn, lời nói mà không có hành động thì là những lời vô nghĩa, chúng là những khái niệm không bao giờ đến được tâm hồn mọi người, và sẽ gây hại hơn là tốt.’

Trong thánh lễ ngày thường ở Nhà nguyện nhà trọ thánh Marta, nơi ngài sống, Đức Giáo hoàng Phanxicô thường giảng các bài ngắn gọn, không bao giờ vượt quá 10 phút và thường là ngắn hơn nhiều.

 

J.B. Thái Hòa chuyển dịch

 

 

 

7. TRANG TU SĨ

 

CON ĐƯỜNG YÊU THƯƠNG PHỤC VỤ

 

“Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ

 loan báo cho mọi loài thọ tạo…”(Mc 16,9-18)

Sau khi về trời, Chúa Giêsu đã sai các môn đệ ra đi khắp tứ phương tiếp nối sứ mạng của Người qua việc rao giảng Tin Mừng, chữa bệnh và cầu nguyện. Đáp lời mời gọi của Chúa, đã bao thế hệ nối tiếp, người Nữ tu Mến Thánh Giá vẫn luôn mang trong mình lòng nhiệt thành của các môn đệ sơ khai và trái tim cháy bỏng tình yêu của Chúa Giêsu vào đời, bước theo con đường Thầy Chí Thánh đã đi để nối kết, xây đắp tình thương và kiến tạo bình an hạnh phúc cho muôn người.

 

Là một Nữ tu hoạt động trong công tác chăm sóc sức khỏe y tế cho cộng đồng tại địa phương, con đã cảm nhận được những thổn thức và bi đát của người dân trong cảnh bệnh tật, nghèo khổ... nhà thuốc nhỏ bé mà con đang phục vụ vẫn luôn là nơi chào đón những con người đen đúa, gầy còm do nghèo đói, thiếu ăn và lao động quá sức để nuôi sống gia đình, bao nhiêu tuổi đời là bấy nhiêu năm để chạy vạy đắp đổi manh áo miếng cơm. Những đôi chân, đôi tay cứ phải run và co quắp liên hồi vì bệnh Paskinson. Những người bị liệt bán thân do di chứng của một cơn tai biến, phải có người giúp đỡ cả trong những nhu cầu nhỏ nhất của mình…đồng hành với các bệnh nhân trong quá trình trị liệu đã là một chuyện không nhỏ, nhưng người Nữ tu với sứ mạng làm cánh tay nối dài của Chúa Giêsu để xoa dịu đau khổ của tha nhân đòi buộc con luôn phải cầu xin ơn trợ lực của Chúa.

 

Khi một ngày trôi qua, sau những giờ tất bật phục vụ con lại quay về với Chúa trong âm thầm lặng lẽ, để kể cho Chúa nghe bao điều xảy ra trong ngày sống hôm nay của con. Chỉ trong tĩnh lặng tâm hồn con mới có thể nhận ra khuôn mặt của Chúa Giêsu nơi thân phận của những người con tiếp xúc. Chúa Giêsu đang đau đớn thể xác và mệt nhoài trong nỗi niềm riêng tư của những kiếp người long đong quanh con đây, con thấy mình cần phải cố gắng nhiều hơn để sống tình yêu mến gắn bó với Chúa trong Thánh Thề, để khi đến với Chúa trong tha nhân con có được sức mạnh dấn thân trọn vẹn và vô vị lợi.

Bằng đời sống đơn sơ, khiêm hạ con muốn mình đến với hết mọi người, mọi thành phần, trở thành bạn với hết mọi người để rồi có thể mang đến cho họ niềm Tin, niềm Hy Vọng vào tình yêu Chúa.

 

Con cảm nhận được rằng, mỗi một cuộc đời con người là một trang lịch sử của tình yêu cứu độ. Trang lịch sử ấy được viết nên bởi từng chấm nhỏ của đời thường, có thể ở nhiều khía cạnh, hoàn cảnh khác nhau nhưng vẫn cùng là một cuộc đời cần lao với gánh mưu sinh có thể nhàn hạ, có khi vất vả, với những mối tương quan…con được mời gọi viết nên trang lịch sử đời Kitô hữu bằng những nét chấm phá của lòng thương xót Chúa. Bằng cách làm lan tỏa niềm vui trong công việc phục vụ của mình, mang nụ cười huynh đệ và những cử chỉ bác ái cho mọi người con gặp gỡ. Không phải chỉ khi con làm từ thiện mới là thực thi bác ái nhưng bác ái là một thái độ sống con phải liên tục thực hiện mỗi phút giây trong cuộc đời.

 

Năm thánh lòng Chúa thương xót đang mở ra trước mắt toàn thể dân Chúa một hành trình bác ái, ước mong tình yêu thương xót của Chúa bước vào cuộc đời mỗi người tín hữu, để khi được lấp đầy bởi tình yêu con người dám mở rộng trái tim, giang rộng vòng tay cho anh chị em đồng loại đang cần được sẻ chia, nâng đỡ.

         

MTG Cái Nhum

 

 

CẢM THÔNG VÀ CHIA SẺ

Cộng đoàn Giáo xứ tôi đang phục vụ ở gần Khu công nghiệp mà đa số công nhân là thành phần di dân. Mỗi sáng cha mẹ đưa con đến gởi Nhà trẻ các Dì. Họ đi làm và chiều đến đón con về. Qua những lần trao đổi với Phụ huynh đưa rước con em đi học, thì được biết đa số vì thất mùa nên họ phải xa quê kiếm gạo nuôi sống gia đình.

Mỗi ngày trước 5 giờ chiều là trả trẻ xong hết, nhưng hôm nay đã gần 7 giờ tối rồi mà mẹ bé Thi chưa đến đón con về. Thấy bé Thi đói bụng, tôi cầm ổ bánh mì ngọt và chai nước suối ân cần đưa cho bé và nói:

-        Con ăn bánh, uống nước cho đỡ đói rồi chờ mẹ đón con về. Bây giờ con ở đây với Dì Út. Dì Hai đi dạy giáo lý nha.

-        Sao tối rồi mà mẹ chưa đón con về vậy Dì Hai?

-        Chút xíu nữa mẹ đón con về. Thôi Dì Hai đi dạy nha.

Bước qua khu vực Nhà xứ, phòng giáo lý Hôn nhân đã mở cửa sẳn mà chưa thấy anh chị nào. Trong lúc chờ học viên tới, tôi ngồi đọc sách… Nghe đồng hồ treo tường thong thả gỏ 8 tiếng, gấp sách lại, tôi định đóng cửa đi về thì nghe tiếng xe ngừng trước cổng, bước ra cửa, tôi thấy hai đôi hôn nhân mới tới.

-        Xin lỗi Dì, hôm nay tụi con làm tăng ca mà quên báo trước với Dì. Chắc Di chờ tụi con lâu lắm hả?

-        Không sao đâu. Làm việc thêm đã vất vả, lại chạy về học liền chắc các anh chị mệt lắm phải không? Cũng khá trể rồi. Mời các anh chị vào phòng học.

Tuy trể giờ nhưng thấy sự chăm chỉ lắng nghe của các đôi bạn trẻ, tôi cũng quên mệt, cảm thấy vui vẻ và dễ dàng cảm thông với việc không đúng giờ của các bạn di dân nầy. Xong giờ giáo lý, tôi trở về cộng đoàn hơn 9 giờ tối.

Bước vào nhà thấy Dì Út đang ngồi quạt cho bé Thi ngủ. Tôi nhỏ nhẹ hỏi:

-        Tới giờ nầy mà mẹ vẫn chưa rước bé Thi về sao?

-        Dạ! Lúc 8 giờ chị Thu có gọi điện cho hay chồng chị bị tai nạn giao thông nên gởi Thi lại nhờ các Dì chăm sóc.

-        Bị tai nạn có nặng lắm không?

-        Dạ! Chị Thu nói, anh bất tỉnh và đưa vào cấp cứu ở Bệnh viên nầy.

-        Thật là tội nghiệp.

Trầm tư một chút tôi nói với Dì Út:

-        Trong giáo xứ nầy có những anh chị di dân Công giáo, họ tốt bụng lắm. Để chị cho họ hay, rồi sáng mai chị cùng đi thăm cha bé Thi với họ.

Dì Út ôn tồn kể:

-        Có lần chị Thu tâm sự với con: cha bé Thi là lương dân, anh chị sống chung với nhau mà không có hôn phối. anh cũng tôn trọng đạo lắm. Do nuôi tôm thua lỗ, anh chị phải bán đất mà cũng chưa trả hết nợ nên vợ chồng bỏ xứ đi.

Nhìn Dì Út, tôi thở dài và nói:

-        Gia đình đã khổ mà còn bị tai nạn nữa. Đây là hoàn cảnh đáng thương mà mình cần giúp đỡ, cần chia sẻ gánh nặng với họ. Em phải hy sinh chăm sóc bé Thi thay mẹ nó nha em.

Bước lại gần bên bé Thi, nhìn bé ngủ thật ngon, tôi hôn nhẹ lên trán bé và nói: ngủ ngon nha con. Cầu xin Chúa ban cho cha con tai qua nạn khỏi.

          Tôi ân cần nói với Dì Út:

-        Khi nảy chị về trể là do các đôi hôn nhân không đúng giờ. Những khi cần mình cũng phải cảm thông với hoàn cảnh của họ, làm việc cứ theo đúng nguyên tắc thì tội nghiệp họ lắm phải không em? Thôi! Mình đọc kinh tối rồi đi ngủ.

Di dân là làn sóng đang lan tràn trên thế giới hôm nay và là thành phần được chú ý đến nhiều trong đất nước chúng ta. Họ là những con người đáng thương, cần được quan tâm giúp đỡ. Do nhiều hoàn cảnh khó khăn, người di dân phải rời khỏi quê hương, lìa xa gia đình, xa thân bằng quyến thuộc để tha phương cầu thực. Nơi họ đến tá túc làm sao yên vui bằng mái ấm gia đình, nhất là đời sống họ chưa an cư thì làm sao có thể lạc nghiệp được. Lời Chúa phán: “Anh em hãy đi khắp tứ phương, rao giảng Tin mừng cho mọi loài thụ tạo…” (Mc 15,16). Máu Đức Kitô đổ ra để cứu độ tất cả mọi người. Thế nên trong bối cảnh xã hội hôm nay, đời sống chứng tá là cách rao giảng hiệu quả nhất. Đồng hành truyền giáo với người di dân cần phải hiểu hoàn cảnh sống của họ, cần có sự cảm thông, chia sẻ với họ bằng tấm lòng nhân ái yêu thương. Qua cách sống yêu thương và chân thành phục vụ của chúng ta, thì họ dễ dàng nhận ra dung mạo của Thiên Chúa vì Thiên Chúa là tình yêu.

MTG Cái Mơn

 

 

8. TRANG SỐNG ƠN GỌI

 

Đức Thánh Cha Phanxicô: Tôi muốn nói ba điều với các anh em linh mục, chủng sinh cũng như anh chị em tu sĩ.

 

WHĐ (29.11.2015) – Tối thứ Bảy 28-11, tại Nhà thờ chính tòa Đức Bà của Tổng giáo phận Kampala, Uganda, vào lúc 19g00 (giờ địa phương, tức 23g00 tại Việt Nam), trong ngày thứ hai tông du Uganda, Đức Thánh Cha Phanxicô đã gặp gỡ các linh mục, tu sĩ nam nữ và chủng sinh Uganda.

 

Ngỏ lời với các linh mục, nam nữ tu sĩ và chủng sinh tại buổi gặp gỡ, Đức Thánh Cha không dùng bản văn dọn sẵn mà phát biểu tự nhiên, nói ra những ý nghĩ đang xuất hiện trong tâm trí mình. Ngài trao lại cho các giám mục Uganda bài huấn từ viết sẵn, rồi tiến đến bục giảng, chia sẻ với các linh mục, nam nữ tu sĩ và chủng sinh về ba trụ cột trong đời sống của người linh mục và tu sĩ: ký ức, trung tín và cầu nguyện:

 

* * *

“Tôi muốn nói ba điều với các anh em linh mục, chủng sinh cũng như anh chị em tu sĩ.

 

Trong sách Đệ nhị luật, ông Môsê  nhắc nhở dân mình: “Các ngươi chớ có quên!”

 

Và ông nhiều lần nhắc lại điều đó trong sách này: “Đừng quên! Các người chớ có quên tất cả những gì Chúa đã làm cho dân Người!”

 

Điều trước tiên tôi muốn  nói với anh chị em, chính là điều anh chị em đã và vẫn đang xin, là được ơn biết nhớ - ký ức.

 

Như tôi đã nói với giới trẻ: trong máu của người Công giáo Uganda, có dòng máu của các đấng tử đạo.

 

Đừng để mất ký ức về hạt mầm này, nhờ đó nó mới tiếp tục được lớn lên.

 

Kẻ thù lớn nhất của ký ức là sự lãng quên, nhưng đó không phải là kẻ nguy hiểm nhất! Kẻ thù nguy hiểm nhất của ký ức chính là coi di sản quý báu của tổ tiên là nhàm chán.

 

Giáo hội tại Uganda không bao giờ lại có thể nhàm chán trước ký ức xa xưa về các đấng tử đạo của mình.

 

Tử đạo tức là làm chứng, Giáo hội tại Uganda, để trung thành với ký ức này, cần phải tiếp tục làm chứng. Giáo hội không được sống bằng những thu nhập.

 

Vinh quang quá khứ là sự khởi đầu, còn anh chị em phải tiếp tục kiến tạo vinh quang cho mai sau.

 

Phận sự Giáo hội trao cho anh chị em là làm chứng nhân, như các thánh tử đạo đã là những chứng nhân hiến mạng sống mình cho Tin Mừng.

 

Để làm chứng, thì cần điều thứ hai, cũng là từ thứ hai tôi muốn nói với anh chị em - trung tín. Trung thành với ký ức. Trung tín vớ i ơn gọi. Trung kiên hoạt động tông đồ.

 

Trung tín nghĩa là theo đuổi con đường nên thánh. Trung tín nghĩa là thực hiện điều ngày xưa các chứng nhân đã làm, là trở thành thừa sai.

 

Có lẽ ở Uganda, có những giáo phận đông linh mục, nhưng cũng có những giáo phận ít linh mục. Trung tín, có ý nói sẵn sàng tự nguyện để cho giám mục chuyển mình đến giáo phận khác đang cần những thừa sai (vỗ tay). và điều này không phải dễ.

 

Trung tín, có ý nói phải kiên trì sống ơn gọi. Đến đây tôi xin đặc biệt cảm ơn quý nữ tu dòng Thương xót đã mang lại cho tôi tấm gương về lòng trung tín. Trung tín với người nghèo, với các bệnh nhân, với những người đang gặp khó khăn, vì có Chúa Kitô đang hiện diện nơi đó.

 Uganda đã được tưới bằng máu các vị tử đạo, ngày nay cần phải tiếp tục tưới vì có những thách đố mới, cần những chứng nhân mới và những sứ mạng mới! Nếu không, anh chị em sẽ đánh mất kho báu lớn lao mình đang có, còn hạt ngọc châu Phi sẽ chỉ còn được nhìn thấy trong một viện bảo tàng. Bởi ma quỷ tấn công như vậy đó, từng bước một.

 

Tôi đang nói không những cho các linh mục mà còn cho tu sĩ nữa.

 

Với các linh mục, tôi muốn đặc biệt nói đến vấn đề về “tính chất thừa sai”, các giáo phận có nhiều giáo sĩ nên nhường bớt linh mục cho các giáo phận ít. Nhờ đó Uganda tiếp tục hoạt động truyền giáo.

 

Ký ức, nghĩa là trung tín, và chỉ có thể trung tín nhờ cầu nguyện.

 

Khi một nam tu sĩ, một nữ tu sĩ hoặc một linh mục ngừng cầu nguyện hoặc ít cầu nguyện, vì cho rằng mình nhiều việc quá, thì người ấy đã bắt đầu đánh mất ký ức. Đã bắt đầu đánh mất sự trung tín.

 

Cầu nguyện cũng có nghĩa là hạ mình xuống. Hạ mình để thường xuyên đến gặp cha giải tội, xưng các tội riêng. Người ta không thể khập khiễng cả hai chân. Là linh mục, tu sĩ, chúng ta không thể sống hai mặt. Nếu có tội, tôi phải xin tha tội. Đừng che giấu những điều Chúa không muốn. Đừng giấu mình không trung tín.

 

Đừng giam ký ức trong tủ.

 

Ký ức, những thách đố mới, trung tín với ký ức và cầu nguyện. Cầu nguyện luôn được bắt đầu bằng nhìn nhận mình là kẻ có tội.

 

Với ba cột trụ này, viên ngọc châu Phi sẽ vẫn là ngọc chứ không chỉ là một từ ngữ ở trong từ điển (vỗ tay).

 

Xin các thánh tử đạo hằng ban sức mạnh cho Giáo hội này giúp chúng con tiến bước qua việc luôn ghi nhớ, qua sự trung tín và cầu nguyện.

 

Và xin anh chị em đừng quên cầu nguyện cho tôi”.

 

Theo Zenit, bản tiếng Pháp

Thành Thi chuyển ngữ

 

 

9. TRANG THIẾU NHI

 

10 NÉT ĐẶC SẮC CỦA ĐẠO CÔNG GIÁO

 

Trong tình thân và chân thành, tôi xin chia sẻ với bạn những nét đặc sắc của Đạo Công Giáo, ít thấy nơi các tôn giáo khác:

1.       Đạo Công Giáo Là Đạo Trời

- Đạo Công giáo tôn thờ Thiên Chúa, chính là Chúa Trời, là Thiên Chủ: Chúa trời đất. Hình ảnh Ông Trời rất gần gũi với tâm thức người Á Đông nói chung, dân tộc Việt Nam nói riêng (ta thường nhắc tới Ông Trời: Trời ơi đất hỡi, thấu tai Trời, xin Trời chứng giám, Trời phạt, Trời cứu, Trời phù hộ…), nên dễ giúp ta hiểu được Thiên Chúa.

- Đạo Công Giáo là Đạo từ trời: Chúa Trời sai Thiên Tử xuống thế làm người, vào trần gian để cứu nhân độ thế và dạy cho ta biết Đạo Trời. Vì thế còn gọi là Đạo Mạc Khải.

2.       Tín Hữu Công Giáo Được Phép Gọi Thiên Chúa Là Cha

- Chúa Giêsu là Thiên Tử đã dạy các tín đồ gọi Thiên Chúa là Cha: “Lạy Cha chúng con ở trên trời…”, “Nguyện Danh Cha…”, và mọi người yêu thương nhau như anh em con cùng Cha.

- Theo gương Chúa Giêsu, Thánh Phaolo dạy các tín hữu gọi Chúa là “Abba! Cha ơi, Ba ơi”.

- Thiên Chúa luôn yêu thương và đối xử với mọi người như con, dù họ tội lỗi, và hứa ban thưởng gia tài trên trời.

3.       Giáo Hội: Hiệp Nhất Và Công Giáo Toàn Cầu

- Hiệp nhất về mặt điều hành: Đức Giáo Hoàng ở Rooma hướng dẫn Giáo Hội toàn cầu, các Giám Mục đứng đầu Giáo Phận, và các Linh Mục điều hành Họ Đạo: cấp trên am hiểu và chỉ đạo cấp dưới, cấp dưới thông hiệp và vâng phục bề trên, trên cơ sở thần quyền (Chúa là chủ, và mọi quyền hành điều từ Thiên Chúa ban ra).

- Thống nhất về cơ cấu tổ chức: từ cấp Giáo Phận đến cấp Họ Đạo, từ Giáo Hội trung ương đến Giáo Hội địa phương đều liên kết và đồng nhất với nhau. Ví dụ: tổ chức các Giáo Phận, các Họ Đạo, các Linh Mục, các Giám Mục, sinh hoạt phụng tự, các Chủng Viện đào tạo, các tu viện… Có Giáo Luật áp dụng cho cả Giáo Hội toàn cầu.

- Công Giáo: Chúa thiết lập Giáo Hội dành cho mọi người, mọi thành phần. Đi tới đâu, các tín hữu luôn tìm được sự thân quen và trợ giúp thiêng liêng của các Linh Mục, cũng như giáo dân hiệp thông và liên kết với nhau trong một niềm tin và một nếp sinh hoạt tôn giáo.

4.       Tổ Chức Họ Đạo Trong Giáo Hội Công Giáo

- Họ Đạo là một gia đình, là một thân tộc của  nhóm giáo dân quy tụ chung quanh một Nhà Thờ, dưới sự hướng dẫn của một Linh Mục (Cha sở).

- Họ Đạo nằm trên một địa bàn phân định, bao gồm không chỉ giáo dân Công Giáo cả anh chị em tôn giáo bạn thuộc về một Địa Phận, đứng đầu là Đức Giám Mục với sự cộng tác của Linh Mục đoàn.

- Họ Đạo tồn tại từ thế hệ này đến thế hệ kia, hàng trăm năm, làm thành một tập thể tôn giáo có lịch sử và truyền thống lâu dài.

- Họ Đạo có tài sản vật chất và di sản tinh thần: ruộng đất, nhà cửa, cơ sở kinh tế… nhà thờ, các công trình nghệ thuật, những truyền thống tôn giáo, niềm tự hào chung…

- Các tín đồ trong Họ Đạo là một cộng đồng có tổ chức liên kết nhau bằng mối dây huynh đệ, theo đuổi một đường hướng và tham gia một sinh hoạt thiêng liêng, duới sự hướng dẫn của Linh Mục và sự cộng tác điều hành của Hội Đồng Giáo Xứ hay Hội Đồng Mục Vụ.

5.       Cuộc Họp Mặt Ngày Chúa Nhật

Mọi người công giáo được mời gọi tham dự Thánh Lễ tại nhà thờ mỗi ngày Chúa Nhật. Cuộc họp mặt đó có nhiều ý nghĩa:

- Một sinh hoạt tôn giáo: vì Thánh Lễ là giờ cầu nguyện, là dịp gặp gỡ Thiên Chúa, cùng hiệp thông với anh chị em trong kinh nguyện, là giây phút hồi tâm định thần giúp người tín hữu tồn tâm dưỡng tánh, trau dồi một đời sống nội tâm. Qua sinh hoạt này, tín hữu công giáo còn bày tỏ đức tin và gắn bó với Giáo Hội.

- Một giờ giáo dục đạo đức: Tín hữu nghe Lời Chúa từ trong Kinh Thánh, được Linh mục giải thích chân lý đạo giáo, khuyên răn và hướng dẫn áp dụng vào đời sống luân lý thực tiễn… Một thanh niên công giáo 20 tuổi được hấp thụ khoảng 1000 tiết học đạo đức (50 – 60 ngày đi dự lễ/năm trong 20 năm), ảnh hưởng và ích lợi lớn lao cho chính đương sự, cho gia đình và xã hội! Không đi lễ hàng tuần là một mất mát lớn, không thể bù đắp.

- Một buổi giao lưu thân hữu: mỗi Chúa Nhật các tín hữu công giáo nghỉ ngơi, mặc đồ đẹp, đi nhà thờ, gặp gỡ nhau, cùng đọc kinh hát lễ và tham gia sinh hoạt cộng đoàn, nên không lạ gì họ có tính xã hội cao, thành người dễ tiếp xúc, dễ hòa nhập, hiểu biết… Nhiều ca sỹ, diễn viên nhờ xuất thân từ sinh hoạt nhà thờ thời niên thiếu.

6.       Một Nền Phụng Tự Cộng Đồng – Thống Nhất – Vui Tươi – Trang Nghiêm

- Cộng đồng: việc thờ phượng của công giáo luôn mang tính cộng đồng, cả tập thể cùng đọc và hát kinh chung, có đối đáp, Linh mục cử hành nhân danh cả Giáo Hội, sử dụng tiếng địa phương nên ai cũng theo dõi và hiểu được ý nghĩa việc thờ phượng.

- Thống nhất: tất cả các nghi thức, kinh nghiệm và diễn tiến việc phụng tự đều được quy định theo các sách lễ nghi, nên ai cử hành ở bất cứ đâu cũng đều như nhau.

- Vui tươi: tâm tình tôn giáo của người công giáo được diễn tả qua lời ca tiếng hát, việc thờ phượng luôn có thánh ca và kèm theo các nhạc cụ, nhất là đàn organ. Ngoài ra, còn có chuông, chiêng, trống…

- Trang nghiêm: nhà thờ công giáo luôn có bầu khí trang nghiêm, trong giờ hành lễ mọi người luôn giữ thinh lặng “Thánh”, không di chuyển đi đứng mất trật tự, từ người lớn đến trẻ con không nói chuyện cười đùa trong nhà thờ, nhất là trong giờ hành lễ.

7.       Giáo Lý Công Giáo Trình Bày Một Nhân Sinh Quan Vững Chắc Và Lạc Quan

- Trước nhiều vấn nạn về cuộc sống (nguồn gốc và ý nghĩa đời người, vận mệnh và tương lai cuộc sống, đau khổ, chết, đời sau…), giáo lý công giáo có lời giải đáp thỏa đáng và vững chắc: con người được tạo dựng trong tình yêu, được mời gọi sống hạnh phúc với Thiên Chúa, nhưng do tội lỗi là thái độ chối từ tình yêu, nên gặp đau khổ và chết, Thiên Chúa cứu chuộc bằng cách ban Đấng Cứu Thế, để dẫn con người vào một sự sống vĩnh cửu…

- Giáo lý công giáo trình bày một nhân sinh quan lạc quan: Thiên Chúa là Cha nhân từ, mọi người là anh em, đau khổ có giá trị cứu chuộc, sự sống lại và phúc thiên đàng đời sau là phần thưởng…

- Với niềm tin Chúa Giêsu Phục Sinh, giáo lý công giáo đưa ra hướng dẫn tích cực và phương thế hữu hiệu giúp tín hữu có một cuộc sống tại thế lành thánh, để bảo đảm đạt được hạnh phúc thiên đàng mai sau.

8.       Vấn Đề Thờ Kính Ông Bà Tổ Tiên

- Giáo Lý Công Giáo dạy ta giữ Đạo Hiếu: “Thứ bốn: Thảo kính cha mẹ”, “Hãy tôn kính cha mẹ. Đó là điều răn thứ nhất có kèm theo lời hứa: để ngươi được hạnh phúc và được hưởng thọ trên mặt đất này.” (Eph 6,1-3), “Ai yêu mến cha mình, sẽ đền bù tội lỗi. Ai thảo kính mẹ mình, thì như người thu được một kho tàng”. (Hc 3,3 tt)…

- Các tín hữu được phép thờ kính Ông Bà, vẫn nhớ Tổ Tiên, vẫn nến hương nhan đèn, vẫn giữ ngày giỗ kỵ… nhưng với cách thức riêng của người Công Giáo, nhất là tránh những nghi thức cúng giỗ mang tính cách dị đoan, mê tín (đốt vàng mả, đồ cúng, cúng thức ăn…).

- Giáo hội Công giáo dành  nhiều kinh nguyện và việc phụng tự để tưởng nhớ và cầu nguyện cho người quá cố các dịp đặc biệt trong năm: Mồng 2 Tết, Lễ Các Đẳng, suốt Tháng 11, và hằng ngày trong tháng lễ…

- Niềm tin vào Chúa Kitô Phục Sinh là cho người công giáo đầy tin tưởng và hăng hái cầu nguyện cho Ông Bà Tổ Tiên, và nuôi niềm hy vộng mai này sẽ được tái họp với tiên nhân.

9.       Một Chuẩn Bị Chu Đáo Vào Đời Sống Hôn Nhân

- Giáo hội Công giáo chuẩn bị cho các bạn trẻ bước vào đời sống hôn nhân cách chu đáo bằng một chương trình Giáo lý Vào Đời khi sắp thành niên, và Giáo Lý Hôn Nhân ngay trước khi kết hôn.

- Các Linh mục quản sở phải tạo điều kiện giúp đôi trẻ hiểu biết về tình yêu nam nữ, bổn phạn làm vợ chồng, nghĩa vụ làm cha mẹ, các tương quan xã hội của một gia đình, các phương thế để bảo vệ hạnh phúc hôn nhân, việc sinh sản có trách nhiệm…

- Các thủ tục hôn phối Kitô giáo nhằm bảo đảm về hiểu biết, về sự tự do ưng thuận của các đương sự, về tính nhất phu nhất phụ, việc rao hôn phối để mọi người quen biết cầu nguyện và góp ý nếu cần…

- Nghi lễ Hôn Phối Công Giáo tại Nhà Thờ vừa long trọng vừa vui tươi, luôn là niềm vinh dự cho đôi tân hôn, là niềm hãnh diện cho hai họ, và là niềm vui cho mọi người trong họ đạo.

10.     Sức Sống Và Sự Tồn Tại Của Một Giáo Hội Luôn Bị Bách Hại

- Không một tôn giáo nào bị bách hại khốc liệt và lâu dài như đạo Công giáo, 300 năm thuở sơ khai trên đế quốc Rôma, cũng như hơn 100.000 vị tử đạo buổi ban đầu tại Việt Nam, và nhiều nơi khác…

- Nhưng Giáo Hội Công Giáo vẫn tồn tại và tràn sức sống: vững mạnh khi bị cấm bách, lan rộng khi bị phân tán, phát triển giữa đau thương gian khó… “Máu tử đạo phát sinh nhiều tín hữu”.

 

 Nếu cần giới thiệu với anh chị em tôn giáo bạn một bài hát ý nghĩa và phản ánh tinh thần Kitô giáo, thì không bài hát nào bằng… KINH HÒA BÌNH.

                                               

 

10. TRANG GIỚI TRẺ

 

Những Lời Ứng Khẩu Lay Chuyển Người Nghe

Của ĐTC Phanxicô

 

Đức Giáo hoàng Phanxicô đã lay động hàng triệu người Mỹ bởi ngài nói những lời gắn kết chúng ta lại với nhau. Đôi khi những lời từ trái tim, được viết trước, nhưng thường thì không. Những lời từ trái tim, đột nhiên nảy sinh, ...

 

‘Òa, tuyệt quá.’ Đây là những từ đầu tiên đến trong đầu của ký giả Chris Cuomo, CNN, sau khi Đức Giáo hoàng Phanxicô có bài nói chuyện ứng khẩu về gia đình.

 

Tối thứ bảy, buổi tối cuối cùng trong chuyến công du lịch sử đến Hoa Kỳ, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã dành 2 tiếng đồng hồ, thưởng thức âm nhạc và lễ hội cùng với hàng ngàn người khác đến chung dự Đại hội Gia đình Thế giới ở Philadelphia. Ngài cũng thân mật lắng nghe 6 gia đình nhập cư chia sẻ câu chuyện đấu tranh, tình yêu, đức tin và hi vọng của họ.    

 

Đến lượt mình phát biểu, ngài đã bỏ hẳn bài diễn văn soạn sẵn, và mở lời từ trái tim. Đức Phanxicô không đơn giản là thêm vài câu, nhưng ngài đã bỏ hoàn toàn bài diễn văn dài 2 trang được soạn sẵn, và đã được phát cho các hãng truyền thông. Các nhà bình luận đã đúng khi nhận xét những lời của ngài thật quá say mê, đầy sức sống, và mạnh mẽ đến mãnh liệt. Dấu ấn của một người truyền đạt đầy hứng khởi, chính là việc liệu người đó có thể nói cho thính giả những gì họ cần nghe vào đúng thời đúng điểm, và có sẵn sàng bỏ qua bài soạn sẵn nếu như thấy cần phải nối kết với những người đang lắng nghe mình.         

 

Khi xem bài diễn văn được truyền hình trực tiếp trên CNN, tôi cho rằng đây là bài được soạn sẵn, bởi bài nói chuyện của ngài quá hay, quá đẹp. Tuy nhiên, một vài phút sau, tôi nhận ra đây hẳn phải là một bài nói ứng khẩu, bởi Đức Phanxicô không có tờ giấy hay màn hình chạy chữ nào bên ngài. Ngài mở đầu với một chủ đề ‘Thiên Chúa tốt lành, Thiên Chúa tuyệt đẹp, Thiên Chúa là sự thật’ và rồi dùng óc hài hước, các hình ảnh ẩn dụ, ngụ ngôn, các chuyện đời riêng, và một kết luận đầy nhiệt tình để đem lại sức sống mãnh liệt cho chủ đề của mình. Và đây chỉ là vài câu trong bài nói ứng khẩu của ngài.     

         

- Xã hội mạnh mẽ nếu như xã hội được xây dựng trên vẻ đẹp, tốt lành, và sự thật.     

 - Có lần một em bé hỏi cha, ‘Cha ơi, Chúa làm gì trước khi tạo dựng thế giới?’ Cha nói, trước khi tạo dựng thế giới, Thiên Chúa yêu thương … Tất cả mọi tình yêu Ngài đã ban, đã chia sẻ, và ban xuống trên gia đình. 

 

- Gia đình có nhiều khó khăn. Gia đình hay gây gỗ, đôi khi bay chén bay đĩa, và con cái thì thật là nhức đầu, và cha sẽ không nói về các bà gia đâu nhé.’ Nhưng trong gia đình luôn luôn có ánh sáng.

 

- Gia đình như là một nhà máy của hi vọng. Trong gia đình có các khó khăn, nhưng những khó khăn này sẽ được vượt qua, nhờ tình yêu.    

 

- Hãy chăm sóc đặc biệt cho con cái và ông bà. Con cái là tương lai, là sức mạnh thúc đẩy chúng ta tiến tới. Ông bà là ký ức sống động của gia đình. Chăm sóc ông bà, chăm sóc con cái, chính là biểu hiện của tình yêu.

 

Chris Cuomo của CNN thốt ra khi bài nói chuyện kết thúc. ‘Òa, tuyệt quá. Đây chính là Bergoglio huyền thoại ở Argentina. Đây là sự say mê và cách nói chuyện mà ai cũng biết nơi ngài.’   

 

Một chuyên gia, giáo sư kinh thánh nói rằng, ‘Đức Giáo hoàng Phanxicô không ra khỏi bản văn, ngài vẫn luôn trong bản văn đó chứ. Ngay khi ngài bước lên đài, tôi đã nghĩ, à, ừ. Đây là mục tử. Đây là những ngài làm tốt nhất. Đây là lý do vì sao các hồng y bầu ngài lên.’  

 

Thời khắc ứng khẩu của Đức Giáo hoàng Phanxicô nhắc tôi về một câu chuyện thật đàng sau một trong các bài diễn văn vĩ đại nhất của thế kỷ XX. Nhiều người không biết rằng bài diễn văn nổi tiếng của Martin Luther King, hay còn gọi là ‘Diễn văn Giấc mơ’ là một bài ứng khẩu. Martin Luther King, mở đầu bằng cách đọc bài viết soạn sẵn của mình. Rồi thì Mahalia Jackson, đang đứng gần ông, kêu lên rằng, ‘Martin! Hãy nói với họ về giấc mơ!’         

 

Chỉ người nghe được tiếng kêu này, nhưng King đã nghe thấy. Và ông biết chính xác cô ấy muốn nói gì.        

 

Martin Luther King đã dùng hình ảnh ẩn dụ của giấc mơ trong các bài diễn văn trước đó, nhưng không có ý định dùng lại lần này ở Washington. Và bài diễn văn của ông hôm đó không phài là bài được gởi trước cho báo giới. Clarence Jones, người viết diễn văn cho King, biết chuyện gì đang diễn ra, bởi ông là người viết bài diễn văn cho hôm đó, bài mà King đột nhiên không dùng nữa. ‘Những người ở đây chưa biết đến điều này, nhưng họ đang sẵn sàng đến nhà thờ rồi đấy.’ Clarence thì thầm vào tai người đứng kế bên ngày hôm đó.    

 

Có thể dạy cho một lãnh đạo cách viết và trình bày bài diễn văn sao cho tốt hơn, nhưng chỉ có các diễn giả đầy hứng khởi mới có thể thổi bùng ngọn lửa. Và hứng khởi là đến từ trái tim. Đức Giáo hoàng Phanxicô đã lay động hàng triệu người Mỹ bởi ngài nói những lời gắn kết chúng ta lại với nhau. Đôi khi những lời từ trái tim, được viết trước, nhưng thường thì không. Những lời từ trái tim, đột nhiên nảy sinh, và chính trong những thời điểm ứng khẩu, mà xuất hiện những điều kỳ diệu.

Carmine Gallo (Forbes) - J.B. Thái Hòa chuyển dịch

 

 

11. TRANG GIA ĐÌNH

 

Nếu Chúa Giêsu Là Nhà Tư Vấn Hôn Nhân, Ngài Sẽ Khuyên Bạn Làm Gì?

 

1. PHỤC VỤ

 

Chắc hẳn Chúa Giêsu sẽ khuyên vợ chồng phải phục vụ lẫn nhau, như Thánh Phaolô nói: “Vì lòng kính sợ Đức Kitô, anh em hãy tùng phục lẫn nhau. Người làm vợ hãy tùng phục chồng như tùng phục Chúa, vì chồng là đầu của vợ cũng như Đức Kitô là đầu của Hội Thánh, chính Người là Đấng cứu chuộc Hội Thánh, thân thể của Người. Và như Hội Thánh tùng phục Đức Kitô thế nào, thì vợ cũng phải tùng phục chồng trong mọi sự như vậy. Người làm chồng, hãy yêu thương vợ, như chính Đức Kitô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh; như vậy, Người thánh hoá và thanh tẩy Hội Thánh bằng nước và lời hằng sống, để trước mặt Người, có một Hội Thánh xinh đẹp lộng lẫy, không tỳ ố, không vết nhăn hoặc bất cứ một khuyết điểm nào, nhưng thánh thiện và tinh tuyền. Cũng thế, chồng phải yêu vợ như yêu chính thân thể mình. Yêu vợ là yêu chính mình” (Ep 5:21-28).

 

2. TRAO TẶNG và BIẾT ƠN

 

Hãy trao tặng cả con người của mình, vì “cho thì có phúc hơn là nhận” (Cv 20:35). Mối quan hệ phu thê luôn cần nhiều sự quan tâm, chăm sóc, cả tinh thần và thể lý. Một bữa ăn, một ly cà phê, một lời cảm ơn,… đó là thể hiện tình yêu dành cho nhau: “Thuở ban đầu, Đấng Tạo Hoá đã làm ra con người có nam có nữ. Vì thế, người ta sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” (Mt 19:4-6). Thánh Phaolô nói: “Ở đâu và lúc nào chúng tôi cũng đón nhận những ân huệ ấy với tất cả lòng biết ơn” (Cv 24:3).

 

3. YÊU THƯƠNG và THA THỨ

 

Yêu thương và tha thứ luôn liên quan với nhau. Có yêu thương thì mới khả dĩ tha thứ. Thánh Phaolô nói: “Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái; vì ai yêu người thì đã chu toàn Lề Luật. Thật thế, các điều răn như: Ngươi không được ngoại tình, không được giết người, không được trộm cắp, không được ham muốn, cũng như các điều răn khác, đều tóm lại trong lời này: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Đã yêu thương thì không làm hại người đồng loại; yêu thương là chu toàn Lề Luật vậy” (Rm 13:8-10). Thánh Phaolô phân tích: “Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (1 Cr 13:4-7).

 

4. ĐỪNG ÍCH KỶ

 

Ích kỷ là tính xấu, là hoa trái không tốt lành. Chúa Giêsu muốn mọi người biết tôn trọng nhau và yêu thương nhau, huống chi là vợ chồng với nhau. Ngài biết chúng ta bất toàn, thế nên Ngài ở giữa để lấp đầy khoảng cách đó. Tuy nhiên, chúng ta có thể gieo hạt để có thể thu hoạch trong mối quan hệ phu thê. Thánh Giacôbê nói: “Nếu anh em sống theo tính xác thịt, anh em sẽ phải chết; nhưng nếu nhờ Thần Khí, anh em diệt trừ những hành vi của con người ích kỷ nơi anh em thì anh em sẽ được sống” (Rm 8:13).

 

5. ĐỪNG NÓNG GIẬN

 

Cơn giận khiến người ta mất khôn và khiến xa cách nhau. Do đó, hãy cố gắng làm hòa trước khi đi ngủ. Nóng giận là một trong những điều do tính xác thịt gây ra (Gl 5:19-20), không nóng giận là thể hiện đức mến (1 Cr 13:5). : “Mỗi người phải mau nghe, đừng vội nói, và khoan giận, vì khi nóng giận, con người không thực thi đường lối công chính của Thiên Chúa” (Gc 1:19-20). Không nóng giận sẽ làm cho gia đình ngập tràn niềm vui.

 

TRẦM THIÊN THU (Theo Beliefnet.com)

 

 

 

12. TRANG GIÁO LÝ VIÊN

 

25 Bài Giáo Lý Về Thánh Phaolô

Bài 22 : Đau khổ tinh thần

Còn về mặt tinh thần, thánh Phaolô chịu đựng những gì? Có bốn đối tượng thánh nhân phải chịu đựng: (a) những Kitô hữu sống không đúng với Tin Mừng; (b) những Kitô hữu gốc Do thái luôn gây áp lực bắt dân ngoại phải chịu cắt bì và giữ luật Môisê; (c) những người Do Thái nhiệt tình luôn tìm cách đàn áp sự lớn mạnh của nhóm gọi là Kitô giáo; và (d) chính quyền Roma luôn tìm cách theo dõi để trấn áp những hoạt động chính trị của nhóm tôn giáo mới (Kitô giáo) phát triển nhanh và mạnh này.

 

Trước hết là lo lắng và đau khổ vi Kitô hữu chia rẽ. Trong thư thứ nhất Corinto, Phaolô nhắc nhở: “Tôi khuyên tất cả anh em hãy nhất trí với nhau trong lời ăn tiếng nói, và đừng để có sự chia rẽ giữa anh em, nhưng hãy sống hoà thuận, một lòng một ý với nhau. Thật vậy, thưa anh em, người nhà của bà Khơ-lô-e cho tôi hay tin có chuyện bè phái giữa anh em. Tôi muốn nói là trong anh em có những luận điệu như: “Tôi thuộc về ông Phao-lô, tôi thuộc về ông A-pô-lô, tôi thuộc về ông Kê-pha, tôi thuộc về Đức Ki-tô.” Thế ra Đức Ki-tô đã bị chia năm xẻ bảy rồi ư? Có phải Phao-lô đã chịu đóng đinh vào khổ giá vì anh em chăng? Hay anh em đã chịu phép rửa nhân danh Phao-lô sao?” (1 Cor 1:10-13).

 

Không chỉ chia rẽ, Kitô hữu còn sống buông thả về xác thịt với những trường hợp dâm ô, loạn luân, và còn kiện tụng nhau ở toà án đời. Đây là một gương xấu khi những người ngoại nhìn vào cộng đoàn Kitô hữu (1 Cor 5-6). Một số khác ăn thịt cúng hay ăn những thức ăn đã dâng cúng ngẫu tượng gây hiểu lầm cho nhiều tân tòng (1 Cor 8 và 9). Một số thiếu kính trọng khi đến với Bàn Tiệc của Chúa (tức Thánh Lễ), coi thường và thiếu chuẩn bị phụng vụ, hay biến Thánh Lễ trở thành một dịp ăn uống no say mà quên những người nghèo đói khác (1 Cor 11). Một số tự hào với những đặc sủng được thần khí Thiên Chúa ban cho, như ơn nói tiên tri, ơn chữa lành, ơn nói tiếng lạ, ơn giải thích tiếng lạ v.v…, để vênh vang cá nhân hơn là dùng để làm lợi cho giáo hội (1 Cor 12-13).

 

Tất cả những điều này hợp với lời Phaolô tâm sự trong thư thứ hai Corintô: “Không kể các điều khác, còn có nỗi ray rứt hằng ngày của tôi là mối bận tâm lo cho tất cả các Hội Thánh!29 Có ai yếu đuối mà tôi lại không cảm thấy mình yếu đuối? Có ai vấp ngã mà tôi lại không cảm thấy lòng sôi lên?” (2 Cor 11:28-29).

 

Thứ hai là với những Kitô hữu gốc Do thái đòi hỏi dân ngoại giữ luật Môisê. Trong thư gởi Galata, Phaolô nhắc đến một nhóm Kitô hữu đến từ Judea (Cvtd 15:1), hay những người thuộc nhóm Giacôbê đến từ Jerusalem (Cvtd 15:12) muốn áp dụng luật Môisê cho mọi người. Nhóm lên tiếng mạnh mẽ nhất có lẽ là những Kitô hữu gốc Pharisiêu, vì họ cũng có mặt đế lên tiếng trong dịp đại hội Jerusalem: “Có những người thuộc phái Pha-ri-sêu đã trở thành tín hữu, bấy giờ đứng ra nói rằng: “Phải làm phép cắt bì cho người ngoại và truyền cho họ giữ luật Mô-sê.” (Cvtd 15:5-6). Chính nhóm người này cũng đã vu oan là Phaolô chối bỏ luật Môisê, dẫn đến việc Phaolô bị bắt ở Jerusalem (Cvtd 21:21).

Thứ ba là những tín hữu Do Thái giáo. Họ vừa tìm cách bảo vệ không để cho người Do Thái bỏ Do thái giáo theo Chúa Giêsu, họ cũng áp bức những Kitô hữu gốc Do Thái bằng cách đuổi những người này ra khỏi Hội Đường, không cho phép thờ phượng chung với họ nữa.

 

Ngay sau ngày lễ Ngũ Tuần, khi hàng trăm người nghe lời Phêrô giảng và tin vào Chúa Giêsu, khi Phêrô và Gioan chữa lành cho một người què ở Cửa Đẹp, thì các nhà lãnh đạo Do Thái giáo (gồm các Kinh Sư, Kỳ Mục, Thượng Tế) đã họp bàn để bách hại giáo hội (dĩ nhiên lúc đó Phaolô cũng là một cộng tác viên của Do Thái giáo) (Cvtd 2-4). Kết qủa là Stephanô bị ném đá chết (Cvtđ 7:55-60). Sách Cvtd kể: “Hồi ấy, Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem trải qua một cơn bắt bớ dữ dội. Ngoài các Tông Đồ ra, mọi người đều phải tản mác về các vùng quê miền Giu-đê và Sa-ma-ri.” (Cvtd 8:1).

Thứ tư là nhóm người Roma làm chủ về chính trị. Họ không dính dáng vào những xét xử liên quan đến tôn giáo, nhưng nếu có bất an về chính trị, họ trừng trị ngay. Khi nghe Phaolô gây rối loạn ở Jerusalem với những tín hữu Do Thái giáo, viên đội trưởng Roma đã bắt giam Ngài (Cvtd 22:24), rồi giải Ngài về Ceasarea cho tổng trấn Felix (Cvtd 23:23-35). Hết thời Felix, tổng trấn mới lên thay là Festus cũng xét xử Phaolô. Vì Phaolô dùng quyền công dân Roma để kháng cáo lên hoàng đế Ceasar, nên Festus chuyển giao Phaolô về Roma.

Tóm lại, ngoài những đau khổ về thể lý, Phaolô còn chịu đựng những bách hại về tinh thần đến từ nhiều nhóm, trong giáo hội cũng như ngoài giáo hội.Mt.

Nguyễn khắc Hy, S.S./Nguồn: liendoanconggiao.net

 

 

13. TRANG QUỚI CHỨC

 

II MÙA VỌNG

LÀM CHỨNG VỀ ĐỨC KITÔ

Lc 3, 10 – 18

 

Mùa vọng đã trải dài được quá nửa. Lễ giáng sinh đâu đây như đã gần kề và người ta bắt đầu nô nức nghĩ tới hang đá, máng cỏ, vạch ra dự phóng cho ngày đại lễ. Phụng vụ hôm nay cho ta cái cảm giác Đấng nhân loại đang chờ đợi, đã ở đâu đây và con người có thể đặt vấn đề về Ngài, nêu lên những thắc mắc về Đấng muôn dân hằng mong đợi, chờ trông. Bài Tin Mừng Lc 3, 10 - 18 là bằng chứng hùng hồn về nhữngvấn nạn, thắc mắc về Đấng nhân loại, thế giới bao năm mong đợi: những câu hỏi về lai lịch, tông tích, dung mạo, vai trò của Gioan Tẩy Giả, nhưng thực tế là những vấn nạn những thắc mắc về chính Đức Kitô, Đấng cứu độ, Đấng các ngôn sứ loan báo, Đấng Thiên Sai. Dân chúng ở Giêrusalem như bị rộn lên, bị hút cuốn trong những câu chuyện lạ thường, thần tiên, kỳ diệu. Những vấn nạn đặt ra vẫn luẩn quẩn trong những khuôn mẫu từ trước: là Êlia? là ngôn sứ?... Gioan chỉ có thể trả lời với quần chúng nhân dân vỏn vẹn bằng một ngôn từ: “Không”. Cái không như cụt ngủn nhưng xác quyết rõ ràng chân tướng của Đấng Thiên Sai không nằm trong những khuôn mẫu có sẵn. Bao lâu dân chúng còn sống trong cái luẩn quẩn của những định kiến, những mẫu có sẵn, họ vẫn chưa nhận ra Đấng cứu thế. Sự có mặt của Chúa đã là một sự độc đáo trong lịch sử. Gioan đã phải khó nhọc, vất vả lắm mới đưa dân chúng hướng về Đấng cứu độ đang ở giữa họ mà họ chưa nhận ra, qui chiếu họ về Đấng họ đang tìm kiếm và mong ước gặp Ngài. Gioan quả thực là người chứng đích thực: “Tôi không phải là Đấng Kitô” (Ga 1, 20) vì chính Gioan đã không ngăn cản ánh sáng chiếu tới họ (Ga 1, 7 - 8).

 

Dân chúng ở Giêrusalem sau khi nghe Gioan rao giảng về sự hoán cải, ăn năn, sám hối và sự nổi giận của Thiên Chúa, đã nhao nhao, chao đảo hỏi Gioan họ phải làm gì để tránh cơn lôi đình của Thiên Chúa? Gioan đã đưa ra những đề nghị cụ thể cho từng hạng người: Đối với dân chúng nói chung, Gioan đề nghị sự chia sẻ. Chia sẻ của ăn, của mặc, lưu tâm đến những người thiếu thốn khó nghèo.Với hạng thu thuế, Gioan đề nghị và răn bảo họ đừng lấy quá mức ấn định (Lc 3, 13). Thu thuế hồi đó được liệt vào hạng tội lỗi, cấu kết với ngoại lai, đè đầu bóp cổ người khác. Đối với binh lính, một loại người không được thiện cảm với dân, Gioan dặn họ: “chớ hà hiếp ai, cũng đừng tống tiền người ta, hãy an phận với số lương của mình”(Lc 3, 14). Như thế, theo Gioan: “hối cải” là điều kiện tiên quyết để đi vào thời cứu độ...Thiếu tình huynh đệ anh em, thiếu công bình, bác ái, lòng yêu mến lưu tâm tới người nghèo con người chưa có điều kiện để đi vào nước Chúa.

 

Luca trong đoạn Tin Mừng 3, 10 - 18 trong phần hai của đọan này cũng ghi lại chứng của Gioan về Đức Kitô, Đấng cứu tinh sẽ đến. Ông đã đánh tan ngay những suy nghĩ của chính các môn đệ ông, những người sống gần gũi ông nhưng vẫn lầm tưởng Gioan là Đấng cứu thế, Đấng được Thiên Chúa  xức dầu. Gioan đã gián tiếp trả lời những thắc mắc của họ. Ông đã so sánh công việc của ông làm với công việc của “Đấng quyền năng hơn ông sẽ đến”. Đấng đến làm phép rửa trong lửa và Thánh Thần, Đấng phán xét (Lc 3, 16). Gioan chỉ là con người mở đường, dẫn lối: việc của ông làm là bước dọn đường, là hình bóng. Đấng sẽ đến là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa làm người mà các ngôn sứ loan báo, dân chúng trông đợi mới là Sự Thật: thời mới đang đến mới là thời muôn dân mong đợi đích thực, mới là thời cứu chuộc. Gioan là thời Cựu ước, Chúa Giêsu mới là nhân vật của thời mới, thời cứu chuộc. Hối cải để có thể tiếp tục cuộc hành trình đức tin tìm gặp Chúa Giêsu. Hối cải có nền tảng là lòng thương yêu tha thứ của Thiên Chúa như bài đọc 1, ngôn sứ Sophonia đã nói: “Đấng cứu thoát và ở giữa dân của Người” chính là Đức Giêsu. Chúa Giêsu, Ngôi Lời được Thiên Chúa sai tới để yêu thương nhân loại và dậy con người yêu thương nhau. Ngài đã làm gương bằng cả cuộc đời của Ngài về sự yêu thương và yêu thương đến cùng tận “Không tình yêu nào cao vời bằng tình yêu của người hiến mạng sống vì người mình yêu”( Ga 15, 13).

 

Mùa vọng như thế là mùa hối cải. Hối cải không có nghĩa chỉ làm hòa với Chúa trong tòa giải tội, nhưng hối cải là dấn thân vào cuộc sống, làm hòa với Chúa và với anh em, là thực thi bác ái, công bình và chia sẻ. Mùa vọng trong ý nghĩa đó là tích cực xây đắp tình liên đới huynh đệ, mau mắn chia sẻ của ăn, của mặc với những người nghèo và những người cô thân cô thế.Mùa vọng sẽ là cơ hội giúp con người, nhân loại làm chứng cho Đấng đang hiện diện giữa loài người mà nhiều người tìm mà chưa gặp được.

 

Lạy Chúa Giêsu, xin cho mỗi người chúng con được trở nên chứng nhân đích thực cho Chúa.

 

 

CHÚA NHẬT IV MÙA VỌNG

MẸ MARIA

Lc 1, 39 – 45

 

Chúa nhật IV mùa vọng luôn đề cập đến vai trò của Mẹ Maria. Mà không nói về Mẹ làm sao được khi Mẹ được Thiên Chúa chọn lựa để làm Mẹ của Chúa Giêsu. Mẹ đã biểu lộ tinh thần Giáng Sinh một cách nổi bật. Đó là việc thăm viếng bà chị họ Êlisabeth.

 

Tin Mừng thuật lại Mẹ đã thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần. Điều mà con người xem ra không thể làm được. Tuy nhiên, đối với Thiên Chúa không việc gì mà Người không thể làm được. Để làm nổi bật sự kiện siêu vời này. Thiên Thần đã loan báo cho Mẹ Maria hay bà chị họ của Mẹ Maria là bà Êlisabeth cũng mới thụ thai con trong lúc tuổi già. Mặc dầu cả hai ông bà đều cao niên, tuổi tác đã già vv…Được Chúa Thánh Thần cho biết về bà chị họ của mình, Mẹ đã không chần chừ, Mẹ đã không nghĩ bản thân của mình, nhưng Mẹ đã nghĩ đến việc bà chị họ là Êlisabeth đang cần đến Mẹ trong khi bà thai nghén. Thánh sử Luca đã cho chúng ta hay Mẹ đã lên đường ngay, Mẹ đã vội vã đi đến nhà bà Êlisabeth, Mẹ mong mau đến nhà bà chị họ để giúp đỡ bà đang mang thai con trong lúc tuổi già. Mẹ biết rằng tuổi già yếu luôn cần có người ở bên cạnh để chia sẻ, cảm thông và giúp đỡ. Mẹ Maria đã cho mọi người thấy sự chân thành, tế nhị và tử tế, quảng đại của Mẹ đối với bà chị họ. Mẹ không khư khư ích kỷ chỉ lo cho mình Mẹ, nhưng Mẹ đã chứng tỏ tinh thần Giáng Sinh đối với con người, đối với mọi người. Mẹ đã chứng tỏ Mẹ luôn sẵn sàng, luôn mau mắn phục vụ trong tin yêu mọi người, đặc biệt là phục vụ bà chị họ của mình. Mẹ đã ở lại để giúp đỡ bà chị họ của mình ba tháng.

 

Vậy, những lý do nào đã khiến Mẹ Thiên Chúa vội vã lên đường thăm bà chị họ sau khi Mẹ đã nói lời Xin Vâng làm theo ý của Thiên Chúa. Chúng ta có thể nói lên hai lý do chính yếu sau đây: Đức Mẹ ra đi để chia sẻ niềm vui, một niềm hân hoan lớn lao bởi vì ân huệ cao quí nhất Thiên Chúa dành cho Đức Mẹ. Đây cũng là niềm vui vì Mẹ có dịp cùng bà Êlisabeth ca tụng, ngợi khen Thiên Chúa vì đặc ân quí giá Thiên Chúa tặng ban cho Đức Mẹ và người chị họ Êlisabeth. Đức Mẹ không giữ niềm vui cho riêng mình, nhưng đã chia sẻ niềm vui cứu độ cho những người khác. Đức Mẹ ra đi truyền giáo, đem Đấng Cứu Thế đến cho bà chị họ, gia đình ông Giacaria và đặc biệt cho Gioan Tẩy Giả. Chính vì thế mà Tin Mừng thuật lại Gioan Tẩy Giả đã nhảy mừng trong lòng của bà Êlisabeth. Đức Mẹ đã đem niềm vui cho cả gia đình ông bà Giacaria và một cách nào đó, Đức Mẹ cũng nhận được niềm vui nơi gia đình của ông bà Giacaria. Lý do khác nữa là lòng bác ái yêu thương đã thức đẩy Đức Mẹ đi thăm bà chị họ Êlisabeth. Bà Êlisabeth sống neo đơn vì hai ông bà Giacaria đã già nua cần có người giúp đỡ, đặc biệt trong khi thai nghén. Đức Mẹ đã đóng vai trò người giúp đỡ.

 

Do đó, chúng ta luôn phải noi gương bắt chước Mẹ Maria vì ở đâu, nơi đâu, lúc nào, người khác cũng muốn được an ủi, vỗ về, cảm thông có nghĩa là muốn nhận được niềm vui. Thánh Phaolô đã viết: “Hãy vui với người vui.Hãy khóc với người khóc”. Đem niềm vui cho người khác, cảm thông với người khác là chúng ta đã giới thiệu Chúa Giêsu cho họ và một cách nào đó, chúng ta đã làm việc truyền giáo. Chúng ta cũng noi gương bắt chước Mẹ trong việc thực thi bác ái, trong việc phục vụ mọi người. Vâng, sống trong xã hội là sống liên đới, sống với người khác, nên, gia đình chúng ta, cá nhân chúng ta phải mở rộng, hướng ra ngoài, đừng ích kỷ, đừng cục bộ, hãy thăm viếng, chia sẻ, và cảm thông với người khác, nhiều người đang cần chúng ta, nhiều người đang muốn được chúng ta nâng đỡ, an ủi, cảm thông giúp đỡ, đừng đóng lòng lại mà hãy mở tung cửa lòng để đón nhận, chia sẻ. Đó là việc truyền giáo. Đó là việc loan báo Tin Mừng. Chúng ta đừng làm ngơ giả điếc, đừng giả mù nhưng hãy mở lòng ra để giúp đỡ mọi người. Bác ái không phân biệt bất cứ ai, không phân biệt bất cứ người nào.

 

Mẹ Maria đã nêu gương cho mọi người chúng ta bằng thái độ phục vụ hết mình bà chị họ.

 

Việc thăm viếng của Mẹ đã mở ra một chân trời mới, một tương lai mới mẻ nhất vì nhờ Con Thiên Chúa làm người, Thiên Chúa đã gặp gỡ con người và con người lại được phúc gặp gỡ Thiên Chúa. Maranatha! Lạy Chúa Giêsu xin mau đến.

 

LỄ THÁNH GIA CHÚA GIÊSU, MẸ MARIA VÀ THÀNH GIUSE

GIA ĐÌNH TUYỆT VỜI

Lc 2, 41 - 52

 

Thánh Gia là một gia đình gương mẫu tuyệt vời đã nêu gương cho mọi gia đình noi theo bắt chước và sống lý tưởng của đời sống gia đình. Lễ Thánh Gia cũng là một dịp giúp mọi người tự vấn lương tâm xem mình đã sống lý tưởng thực tế của đời sống gia đình như thế nào! Do đó, hôm nay khi mừng lễ Thánh Gia, chúng ta thử xem lại cách sống của gia đình mình và rồi đem đối chiếu với gia đình của Chúa Giêsu, Mẹ Maria và thánh Giuse để xem mình con thiếu gì, cần bổ túc những gì, cần sửa đổi những gì ?

 

Mừng lễ Thánh Gia trong bối cảnh, chúng ta vừa mừng đại lễ Giáng Sinh. Đây quả thực là cơ hội rất thích hợp, rất thuận lợi để chúng ta soi chiếu gia đình chúng ta với gia đình của Chúa Giêsu. Là Thiên Chúa làm người, Chúa Giêsu đã chọn một gia đình để sinh ra. Sở dĩ, Ngài chọn cách bình thường nhất để sinh ra là để gần gũi con người, gần gũi loài người. Nếu Ngài cứ ở trên cao thì thực ra con người khó lòng gần gũi được Ngài. Do đó, Chúa đã có mẹ, có cha là để hòa đồng với kiếp sống con người.Chúa đã chấp nhận làm người: “Ngôi Lời đã làm người” như thánh Gioan đã viết là để hòa nhập với thế giới con người, ngoại trừ tội lỗi. Thánh Giuse và Đức Mẹ đã tuân theo ý Thiên Chúa để nuôi nấng, dạy dỗ Chúa với tư cách Ngài là con người. Thánh Giuse và Mẹ Maria đã bao bọc, chở che, nuôi dưỡng Chúa với tình yêu bao la. Gia đình của Chúa Giêsu là gia đình đại thánh vì cả Ba Đấng luôn tuân hành ý của Thiên Chúa. Gia đình của Chúa Giêsu cũng như mọi gia đình trần thế luôn sống trọn vẹn về tình yêu phu phụ, về sự cộng tác, về sự hiếu thảo, về sự hy sinh và về niềm tin tưởng sâu xa, tuyệt đối vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Gia đình của Chúa Giêsu luôn sống trên thuận dưới hòa, luôn sống hài hòa giữa nhau và sống hòa hợp, bác ái với mọi người. Gia đình thánh lại luôn nêu gương về đời sống lao động, về tình liên đới, về sự hiệp nhất yêu thương và về sự quảng đại, về sự chia sẻ. Gia đình thánh khác với những gia đình khác về sứ mạng Thiên Chúa trao ban là nuôi dưỡng Đấng Cứu Thế và chỉ cho mọi người, mọi gia đình hay chân trời mới của Thiên Chúa và kế hoạch yêu thương cứu rỗi của Thiên Chúa.

 

Nét đẹp tuyệt hảo của Gia đình thánh là giá trị cao sâu của gia đình bởi vì chính Chúa đã nâng gia đình lên bậc bí tích. Gia đình của Chúa đã nêu cao giá trị tuyệt vời của gia đình. Bởi vì gia đình là ân huệ Chúa trao ban cho mọi gia đình. Bản tính của Chúa là tình yêu như thánh Gioan đã định nghĩa Chúa là tình yêu. Chính khi được sinh ra trong tình yêu mà Chúa Giêsu đã được lớn lên nhờ sự săn sóc đầy tình mẫu tử của Đức Mẹ và sự bảo vệ trung thành tuyệt đối của thánh Giuse. Sống trong gia đình thánh, Chúa Giêsu đã lớn lên đầy khôn ngoan và đầy Thánh Thần của Thiên Chúa.

 

Giá trị là nết đẹp của gia đình. Nên, mọi gia đình hãy bảo vệ, giữ gìn và làm thăng tiến gia đình của mình trong sự tác động của Chúa Thánh Thần và sự khôn ngoan Thiên Chúa tặng ban cho mỗi người, và mỗi gia đình. Hãy làm cho mọi gia đình được hạnh phúc khi các gia đình noi gương bắt chước gia đình thánh Giuse. Chân Phước Gioan Phaolô II khi về thăm quê hương Ba Lan đã làm hai cử chỉ rất ấn tượng là thăm mộ song thân của mình và cử hành lễ hôn phối, kỷ niệm hôn phối cho các đôi hôn nhân được 10 năm, 25 năm hoặc 50 năm. Ngài làm hai cử chỉ đó để nói lên ý nghĩa cao quí của các gia đình. Cây tốt sinh trái tốt. Gia đình là nền tảng của Xã hội và Giáo Hội. Bảo vệ gia đình và thăng tiến gia đình là bổn phận của mọi người vì đó là hồng ân cao quí của Chúa tặng ban cho mọi người.

 

Đức Thánh Cha Bênêđitô XVI trong ngày lễ Thánh Gia đã nói: “Tình yêu và sự âm yếm, sự sẵn lòng và niềm tin tưởng, sự kiên nhẫn và lòng tận tụy kín đáo đã hiện diện trong ngôi nhà của Đức Maria và Thánh cả Giuse. Ngày hôm nay, chúng ta hãy tạ ơn Chúa cho tất cả những gia đình hạnh phúc, và chúng ta hãy dâng lên Chúa tất cả những gia đình đang gặp khó khăn, để họ có thể tìm được sự đón tiếp, giúp đỡ và an ủi”.

 

Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho mọi gia đình sự thuận hòa yêu thương, sự bình an thật sự để cha mẹ, con cái, cháu chắt luôn sống trong sự kính sợ Chúa và quảng đại, chia sẻ, tha thứ, cảm thông với nhau. Amen.

 

LỄ HIỂN LINH

NHŨ HƯƠNG, MỘC DƯỢC VÀ VÀNG

Mt 2, 1 - 12

 

Lễ Hiển Linh là lễ Chúa Giêsu tỏ mình ra cho dân ngoại. Ngày nay trên thế giới, nhiều nước đã mừng lễ Hiển Linh lớn hơn cả lễ Chúa Giáng Sinh. Bởi vì, lễ Hiển Linh là lễ Chúa Giêsu tự tỏ mình ra cho những dân ngoại giáo nghĩa là lễ Của Chư Dân.

 

Đọc đoạn Tin Mừng của thánh Matthêu hôm nay, chúng ta hiểu rõ hơn về ba nhà Đạo sĩ từ Phương Đông đi tìm gặp Hài Nhi theo sự chỉ dẫn của Ngôi Sao lạ. Tuy nhiên, Tin Mừng của thánh Matthêu cho cho chúng ta đối chiếu giữa: Hêrôđê và Hài Nhi Giêsu. Đồng thời đối chiếu giữa các Thượng tế, Kinh sư và Ba nhà Đạo sĩ. Thực tế mà nói, Hêrôđê là một vị vua đầy quyền lực, giầu có và được sự che chở, nâng đỡ của Đế Quốc La Mã. Ông luôn sợ bị Đế Quốc La Mã bỏ rơi. Mặc dầu đầy uy quyền, nhiều người run sợ trước quyền lực của Ông nhưng Hêrôđê tự mình cũng đang run sợ trước một con người : Hài Nhi Giêsu. Hêrôđê dù chưa biết con trẻ này là ai nhưng khi nghe các nhà Đạo sĩ báo tin, Ông mất ăn mất ngủ vì sọ vương quyền của Ông bị lung lay. Nên, Ông và cả thành Giêrusalem xôn xao.

 

 

 

Và rồi ý định điên rồ của Ông được nhen nhóm, Ông ra lệnh tru diệt tất cả các con trai đầu lòng của người Do Thái ở Bê Lem và các vùng phụ cận, Làm như thế, Ông an tâm vì tưởng đã tiêu diệt được Chúa Giêsu. Ông đã hành động khát máu, điên rồ. Chính tại Giêrusalem, nơi đã sát hại các ngôn sứ thì cũng tại Giêrusalem mấy chục năm sau, họ cũng treo Chúa Giêsu trên Thập giá. Vâng, các Thượng tế và các Kinh sư theo lệnh của Hêrôđê đang lật hết sách này tới sách kia, lịc sử này tới lịch sử khác để biện minh cho chính họ vì tại Bêlem đã đản sinh Đấng Cứu Thế mà họ không hay không biết. Té ra Chúa đang hiện diện trước họ nhưng họ không thể nhân ra Ngài vì Ngài quá khó nghèo, không hào nhoáng, không ở nơi cung điện vua, lầu son gác tiếc, nên họ không thể nhìn ra Ngài vì họ không có đức tin, không có đôi mắt tinh tường vv… Đối lập vớ họ, ba nhà Đạo sĩ hay nói kiểu nôm na từ xưa là ba Vua, những người ở phương xa, là khách thập phương, họ cứ đi theo ánh sao, trên đường đi họ đã gặp biết bao gian truân, bao nhiêu khó khăn, họ cứ kiên trì, bền chí vững lòng tiến về phía trước. Cuối cùng họ đã gặp được Hài Nhi Giêsu. Với tấm lòng cung kính mến yêu, họ đã phủ phục thờ lạy Hài Đồng Giêsu. Với lòng tôn kính họ đã nhận ra thần tính của Hài Đồng Giêsu và rồi, họ đã dâng cho Chúa Hài Nhi Vàng, Nhũ Hương và Mộc Dược là những sản vật quí của nước họ. Ba sản vật này vàng để tôn vinh Chúa là vua. Nhũ hương để khẳng định Chúa là Thiên Chúa và Mộc dược để loan báo cái chết và phục sinh của Chúa.

 

Lễ Hiển Linh là lễ Thiên Chúa tỏ mình ra với loài người, tự giới thiệu với loài người. Chúa Giêsu đã rao giảng Tin Mừng, loan báo Tin Mừng là chính Ngài thời Ngài sống, ngày nay chúng ta cũng phải tiếp tục rao giảng, tiếp tục loan báo cho mọi người biết Tin Mừng là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa đã mặc xác phàm, hạ sinh làm người và sống giữa chúng ta. Đức Giêsu đã đi vào lịch sử, đã cứu độ không chỉ người Do Thái vào thời Ngài sinh ra nhưng Ngài cứu độ mọi người, mọi dân tộc, mọi quốc gia trong mọi thời đại.

 

Chúa Giêsu đã đến trần gian ban an bình cho con người. Ngài đã thiết lập Nước Trời tại trần gian, Ngài đã thiết lập một thế giới mới, một thế giới trong đó mọi đau khổ, mọi buồn phiền không còn nữa, thế giới mà ngôn sứ Isaia đã loan báo: sói sống chung với chiên, sư tử sống chung với nai, với cheo, với mang vv… Thế giới mà trẻ nhỏ thọc vào hang rắn độc cũng không sợ rắn độc cắn vv…Đó là viễn tượng của một thế giới hoàn toàn hòa bình. Thế giới trong đó những người nghèo sẽ được quan tâm giúp đỡ, những người đau khổ sẽ tìm thấy những người bạn chân tình, yêu thương. Đây là Tin Mừng mà tất cả chúng ta phải loan truyền cho thế giới. Đó là sứ điệp  của lễ Hiển Linh mà chúng ta phải loan báo, rao giảng.

 

Ngày nay, Thiên Chúa vẫn chỉ đường dẫn lối chúng ta bằng những ánh sao. Những ngôi sao chỉ đường không phải ở trên trời cao. Nhưng là những ánh sao Chúa gieo vào lòng con người. Mọi Kitô hữu phải trung thành đi theo những ánh sáng đó trong cuộc hành trình đức tin đầy cam go thử thách, đầy mạo hiểm như ba nhà Đạo sĩ xưa.

 

Lạy Chúa, xin cho chúng con luôn trung thành với đức tin ngày chúng con lãnh nhận bí tích rửa tội. Xin cho ngôi sao lạ đã dẫn đường ba nhà Đạo sĩ đến Bêlem để gặp Hài Đồng Giêsu, luôn xuất hiện trên đường chúng con đi để dẫn đường chỉ lối cho chúng con đến gặp Chúa.Xin cho chúng con biết thắp lên những ngọn lửa sáng để chiếu sáng mọi người. Xin cho ngọn lửa đức tin chúng con luôn bừng sáng để nhiều người nhận ra Chúa nơi chúng con. Amen.

 

Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

 

 

 

14. THẦN HỌC KINH THÁNH

 

Kinh Thánh Nói Gì Về Tận Thế?

 

Trong những dịp cuối năm vào những lúc rỗi rảnh, người ta thường bàn đến chuyện tận thế.  Cách đây không lâu, rộ lên những đồn đoán rằng theo lịch cổ của người Maya, thế giới sẽ tận tuyệt vào năm 2012. Thời điểm đó qua đã lâu, mọi thứ cứ vận hành và sinh hoạt như thường lệ.  Thế nhưng đến nay vẫn còn những kẻ rỗi sự, tiếp tục bàn chuyện khi nào tận thế đến, mặc cho Lời Chúa đã khuyến cáo  "Về ngày ấy hay giờ ấy, thì chẳng ai biết được, cả thiên thần trên trời, cả Con nữa, trừ phi là Cha!" (Mc 13, 32).

 Tận thế trong Cựu Ước

 

Ngày tận thế có nguồn gốc trong Kinh Thánh, dầu các sách Kinh Thánh cổ xưa nhất không nói đến ngày này. Các tiên tri là những người đầu tiên rao giảng về “Ngày của Chúa”, ngày trừng phạt, khi quốc gia Ít-ra-en đến ngày tận cùng của nó (Êz 7,1-27; Am 5, 18-20; So 1,14-18; 2,2-3). Sau đó, một vài tiên tri đã thấy Ngày của Chúa như thời điểm Chúa xét xử và là lúc tai ương lan tràn cả mặt đất “ Ðất phải cư tang, giẫy chết, dương gian ủ rũ; giẫy chết, ủ rũ tất cả, cao vời với đất thấp…” (Ys 2,9-17; 24:1-6,21,23; Yô 3,4, Só,18; 3,8)  ). Sách tiên tri Đaniel đã nói về  tận thế: “Phần ngươi, hãy đi cho đến mút cùng. Ngươi sẽ được an nghỉ. Và ngươi sẽ đứng lên lãnh phần ngươi vào lúc cùng tận những ngày thời gian" ( Đn 12,13). Thị kiến nổi danh của tiên tri Đaniel về bốn con mãnh thú, về Ðấng cao niên và Con người có thể được cắt nghĩa như thị kiến về khung cảnh Chúa phán xét vào lúc tận thế. (Đn 7,1-27).

 

Tận thế trong Tân Ước

 

 Chúa  Giêsu và các môn đệ tin chắc thế giới sẽ tới ngày tận cùng của nó. Các Tin Mừng Mác-cô và Mát-thêu ghi lại việc Chúa Giêsu đã diễn tả chuyện gì sẽ xảy ra vào lúc tận thế, mặc dầu những biến cố đó đôi khi bị cắt nghĩa lẫn lộn với việc quân La Mã phá hủy thành Giêrusalem vào năm 70 sau Công Nguyên. Nơi Tin Mừng Mác-cô đoạn 13, các môn đệ hỏi Chúa Giêsu về ngày tận cùng của thành Giêrusalem, và trong câu trả lời của Chúa, ta thấy có những chi tiết về thờ thế mạt: "Nhưng trong những ngày ấy, sau cơn khốn quẩn ấy, mặt trời sẽ tối sầm, mặt trăng mất sáng, tinh tú tự trời sa xuống, và các quyền năng từng trời bị lay chuyển" (Mc 13, 24-25). Kế tiếp, Chúa  nhắc đến thị kiến trong sách Đaniel đoạn 7, khi tiên báo rằng Con Người sẽ đến trong đám mây (Mc 13, 26). Đoạn song song nơi Tin Mừng Luca không nói gì đến tận thế (Lc 17, 23-37).  Thế nhưng đoạn song song nơi Tin Mừng Mát-thêu cung cấp nhiều chi tiết hơn về thời điểm này (Mt 24,1 - 25,46). Chúa  tiên báo rằng sau khi Tin Mừng được loan báo khắp thiên hạ, “ bấy giờ cùng tận sẽ đến." Ngài cũng diễn tả tận thế trong hình thức phán xét. (Mt, 25, 31-46). Thánh sử Mát-thêu đã thường nhắc tới “tận thế, buổi tận thế, thời tận thế trong Tin Mừng ngài viết. (Mt 13,39-40; 24,3.6.13-14; 28,20).

Thánh Phaolô cũng nhắc đến tận thế một vài lần, đặc biệt khi ngài giảng dạy các môn đệ về chuyện các kẻ chết sống lại: “Đây tôi nói cho anh em biết mầu nhiệm này: không phải tất cả chúng ta sẽ chết, nhưng tất cả chúng ta sẽ được biến đổi trong một giây lát, trong một nháy mắt, khi tiếng kèn cuối cùng vang lên. Vì tiếng kèn sẽ vang lên, và những kẻ chết sẽ trỗi dậy mà không còn hư nát; còn chúng ta, chúng ta sẽ được biến đổi” (1Co 15, 51-52; xin đọc thêm 1Co 1,8; 10,11; 15,24; 1Th 4,13-17; 2Th 1,8-10). Thánh Phêrô (1P 4,7) và  tác giả thơ Do Thái (Hr 3,14; 6,11; 9,26) cũng nhắc đến “Thời cùng tận “. Sách Khải Huyền có những đoạn viết về các thị kiến về thời cùng tận của thế giới và về trời mới và đất mới (Kh 21,1-22,5)

 

Lm. Timothy A. Lenchak, SVD

Bible Today, Nov/Dec 2015

Luke Quang dịch

Nguồn : Gpquinhon.org

 

 

15. MỘT CHÚT TÂM TÌNH

 

TÂM TÌNH TẠ ƠN

 

“Lời tạ ơn dâng lên Thiên Chúa, vì biết bao công việc Chúa làm…”.

     

Trải qua muôn vạn thời gian, nhân loại đã tận hưởng công trình sáng tạo của Thiên Chúa. Đặc biệt hơn 2000 năm qua, hồng ân cứu độ đến với nhân trần, hồng ân nầy đang được tiếp tục tuôn chảy từng phút giây cho đến ngày Chúa quang lâm.

 

Chu kỳ Phụng vụ năm B đã khép lại và Phụng vụ năm C được mở ra bắt đầu ngày Chúa nhật thứ I Mùa vọng, để chuẩn bị đại lễ Giáng sinh.Toàn thế giới, người người nô nức chuẩn bị đón mừng ngày kỷ niệm Con Chúa sinh ra. Những món quà đầy ý nghĩa, những cảnh thiệp thật dễ thương,chứa đựng những lời chúc tốt đẹp được trao tặng cho nhau. Tiếng nhạc ngân vang, nhiều sắc màu cờ và đèn sao lấp lánh, mạng lưới đèn chớp tắt giăng đầy đường phố là hình thức bên ngoài đón mừng đại lễ thật long trọng. Trong bầu khí tưng bừng nô nức đó, có mấy ai lắng đọng tâm hồn để suy ngắm tình thương của Thiên Chúa mà tạ ơn Ngài không?

 

Tạ ơn Ngôi Hai Thiên Chúa đã cắm lều ở giữa chúng ta. Người đã hiến trao đời mình để cứu nhân loại khỏi án phạt trầm luân. Tạ ơn Chúa đã ban cho chúng ta hồng ân sự sống và luôn quan phòng chăm sóc để chúng ta được sống còn đến hôm nay.

 

Là con chiên của Giáo phận, con vui mừng tạ ơn Chúa vì mùa Giáng Sinh năm nay đoàn chiên Giáo phận thoát cảnh mồ côi. Tạ ơn Chúa đã trao ban cho Giáo phận con món quà cao trọng là Đức Tân Giám Mục Phêrô mà hơn 800 ngày đoàn chiên mòn mỏi nguyện cầu đợi trông. Tạ ơn Chúa đã tuyển chọn ngài, một con người bình dị ở xứ nước mặn đồng chua quê hương Thạnh Phú - Bến Tre. Tạ ơn Chúa đã gieo trồng hạt giống ơn gọi nơi ngài khi còn thơ bé và hằng ấp ủ, vun trồng ơn gọi để rồi ngày 07 tháng 10 Tòa thánh gọi chọn ngài làm Giám mục Chánh tòa Giáo phận Vĩnh Long. Lễ tấn phong sẽ được cử hành long trọng vào ngày 11/12 tới đây.

Tâm tình của đoàn chiên Giáo phận đầy vui mừng hân hoan, nguyện kết chung lời tạ ơn dâng lên Thiên Chúa. Con xin kính dâng lên Chúa và Mẹ nhân lành Đức Tân Giám Mục Phêrô và gần 200.000 con chiên của Giáo phận cùng với cánh đồng truyền giáo mênh mông. Nguyện xin tình yêu và sức mạnh Thiên Chúa luôn ở cùng ngài, để ngài bình tâm mà vững tay lái đưa con thuyền Giáo phận vượt biển đời đầy sóng gió đỗ bến bình an.

Văn phòng Caritas Vĩnh Long

 

 

16. TIN NỔI BẬT

 

Năm Thánh Lòng Thương Xót – Những thông tin cần biết

 

Để giúp chuẩn bị bước vào Năm Thánh Lòng Thương xót, Văn phòng thư ký Hội đồng Giám mục Việt Nam đã biên soạn “Những thông tin cần biết” sau đây:    

 

Ngày 1-7-2015, Đức hồng y Rino Fisichella, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh về Tân Phúc-Âm-hóa, đã gửi đến các Giáo hội địa phương tập sách hướng dẫn việc cử hành Năm Thánh. Chúng tôi xin lược tóm những thông tin cần biết để các linh mục, tu sĩ và anh chị em giáo dân tham khảo.   

 

Tông sắc Dung mạo lòng thương xót (Misericordiae Vultus) 

 

Ngày 13-3-2015, nhân kỷ niệm hai năm được bầu làm Đấng kế vị Thánh Phêrô, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã loan báo Năm Thánh ngoại thường. Ngày 11-4-2015, ngài ban hành tông sắc Dung mạo lòng thương xót, công bố Năm Thánh Lòng Thương Xót, kéo dài từ ngày 8-12-2015, lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, đến ngày 20-11-2016, lễ Chúa Kitô, Vua vũ trụ. Tông sắc thực sự là một tổng hợp thần học về lòng thương xót, đồng thời trình bày hướng đi của Năm Thánh. Lòng thương xót không phải là một từ ngữ trừu tượng, nhưng là từ ngữ diễn tả dung nhan Thiên Chúa cũng như đời sống và hành động của Chúa Giêsu, đồng thời là phương cách thể hiện tính khả tín của Giáo Hội.        

 

Về việc tổ chức Năm Thánh, Đức Giáo hoàng nhấn mạnh rằng Năm Thánh cần được cử hành trước hết trong từng giáo phận như cơ hội thuận lợi để canh tân đời sống mục vụ. Phải quan tâm đặc biệt đến chiều kích thiêng liêng của Năm Thánh, cũng như sự nhất quán giữa việc loan báo Tin Mừng và đời sống của những người mang danh Kitô hữu.        

 

Cửa Thương Xót 

 

Trong Năm Thánh, Đức Giáo hoàng Phanxicô yêu cầu mỗi giáo phận mở Cửa Thương Xót, giúp các tín hữu cảm nghiệm được lòng thương xót của Cha trên trời. Ngài viết: “Vào Chúa nhật III Mùa Vọng, tôi tuyên bố rằng trong mọi Giáo hội địa phương, tại Nhà thờ chính tòa – nhà thờ mẹ của các tín hữu trong miền đó – hoặc, thay vào đó là nhà thờ đồng-chính-tòa hay một nhà thờ khác có ý nghĩa đặc biệt, Cửa Thương Xót sẽ được mở trong suốt Năm Thánh. Theo sự khôn ngoan của đấng bản quyền, cũng có thể mở một cửa như thế tại đền thánh nào có đông khách hành hương lui tới” (Tông sắc Dung mạo lòng thương xót, số 3).  

 

Về nghi thức mở và đóng Cửa Thương Xót, cũng như về những điều kiện lãnh nhận ơn toàn xá trong Năm Thánh, xin tham khảo tại địa chỉ trang web www.im.va

 

 

Khẩu hiệu và logo Năm Thánh

 

 

Khẩu hiệu và logo Năm Thánh đi chung với nhau, cung cấp một tổng hợp nội dung Năm Thánh.       

 

Khẩu hiệu Thương xót như Chúa Cha (x. Lc 6,36) là lời mời gọi sống lòng thương xót theo gương Cha trên trời, dạy chúng ta đừng xét đoán và kết án, nhưng hãy tha thứ và yêu thương vô giới hạn (x. Lc 6,37-38).  

 Logo là công trình của linh mục dòng Tên, cha Marko I. Rupnik. Tự nó, logo là một tổng luận thần học về lòng thương xót. Thật vậy, logo trình bày một hình ảnh rất thân quen với Giáo Hội sơ khai, nghĩa là trình bày tình yêu của Chúa Kitô, Đấng đã đưa mầu nhiệm Nhập thể (hai bản tính, thiên tính và nhân tính) đến chỗ hoàn thành bằng ơn cứu chuộc (những dấu đinh trên hai tay và hai chân). Đấng chăn chiên lành đã chạm đến xác thịt nhân loại cách sâu xa và tràn đầy tình yêu đến nỗi mang lại sự thay đổi tận gốc. Người đã mang nhân loại trên vai Người với tất cả lòng thương xót, cặp mắt của Đấng chăn chiên lành và cặp mắt của Adam trở nên một, để Chúa Kitô nhìn mọi sự bằng cặp mắt của Adam và Adam nhìn mọi sự bằng cặp mắt của Chúa Kitô. Nơi Chúa Kitô, Adam mới, mọi người nam nữ đều khám phá nhân tính của chính mình và tương lai sẽ đến, khi chiêm ngắm tình yêu của Chúa Cha qua cặp mắt của Chúa Kitô.  

 

Nền của hình ảnh trên là ba hình bầu dục đồng tâm, càng đi ra bên ngoài thì mầu sắc càng nhạt đi, diễn tả hành động của Chúa Kitô đưa nhân loại ra khỏi đêm tối của tội lỗi và sự chết. Ngược lại, khi nhìn từ ngoài vào, chiều sâu của mảng màu tối lại diễn tả tính khôn dò của tình yêu Thiên Chúa, Đấng tha thứ tất cả.    

 

Những vấn đề liên quan đến việc sử dụng logo   

 

Hội đồng Tòa Thánh về Tân Phúc-Âm-hóa giữ bản quyền về việc sử dụng logo trong Năm Thánh. Hội đồng cho phép các tổ chức trong Giáo Hội Công giáo sử dụng logo với mục đích mục vụ, nhưng không cho phép làm thương mại. 

Không được phép thay đổi logo, cho dù lấy lý do phải thích nghi với văn hóa địa phương. Tuy nhiên, được phép dịch câu khẩu hiệu từ tiếng La tinh Misericordes sicut Pater, vốn là thành phần gắn liền với logo. Các giáo phận muốn dịch khẩu hiệu trên sang ngôn ngữ khác, xin vui lòng liên hệ với Ban Tổ chức qua địa chỉ email: info@im.va để cung cấp cho Ban Tổ chức biết cách đánh vần chính xác khẩu hiệu trong ngôn ngữ của mình. Sau đó, Ban Tổ chức sẽ lo việc đưa câu khẩu hiệu đã được dịch vào logo và gửi lại cho giáo phận đó. Theo đó, tất cả các câu khẩu hiệu bằng các ngôn ngữ sẽ được liệt kê trên trang web của Năm Thánh.       

 

Câu khẩu hiệu trong tiếng Việt: Thương xót như Chúa Cha.

 

Quy định này cũng được áp dụng cho việc chuyển ngữ Thánh thi chính thức của Năm Thánh và Kinh Năm Thánh do Đức Giáo hoàng Phanxicô soạn.

 

 

Kinh Năm Thánh Lòng Thương Xót

 

Lạy Chúa Giêsu Kitô,

Chúa dạy chúng con phải có lòng thương xót như Cha trên trời,

và ai thấy Chúa là thấy Chúa Cha.

Xin tỏ cho chúng con thấy dung nhan của Chúa

và chúng con sẽ được cứu độ.

Ánh mắt đầy yêu thương của Chúa đã giải thoát ông Zakêu

và thánh Matthêu khỏi ách nô lệ bạc tiền;

làm cho người đàn bà ngoại tình và thánh Mađalêna

không còn tìm hạnh phúc nơi loài thụ tạo;

cho thánh Phêrô khóc lóc ăn năn sau khi chối Chúa,

và hứa ban thiên đàng cho kẻ trộm có lòng hối cải.

Xin cho chúng con được nghe

những lời Chúa đã nói với người phụ nữ Samaria,

như thể Chúa đang nói với mỗi người chúng con:

“Nếu con nhận ra hồng ân của Thiên Chúa!”

Chúa chính là gương mặt hữu hình của Chúa Cha vô hình,

Đấng biểu lộ quyền năng của Ngài

trước hết bằng sự tha thứ và lòng thương xót:

Xin làm cho Hội Thánh

phản chiếu gương mặt hữu hình của Chúa trên trái đất này.

Chúa là Đấng phục sinh vinh hiển.

Chúa đã muốn các thừa tác viên của Chúa

cũng mặc lấy sự yếu đuối

để có thể cảm thông với những người mê muội lầm lạc,

xin làm cho tất cả những ai tiếp cận với các ngài

đều cảm thấy họ đang được Thiên Chúa

quan tâm, yêu mến và thứ tha.

Xin sai Thần Khí Chúa đến

xức dầu thánh hiến mỗi người chúng con,

để Năm Thánh Lòng Thương Xót này

trở thành năm hồng ân của Chúa cho chúng con;

và để Hội Thánh Chúa, với lòng hăng say mới,

có thể mang Tin Mừng đến cho người nghèo,

công bố sự tự do cho các tù nhân và những người bị áp bức,

trả lại ánh sáng cho kẻ mù lòa.

Lạy Chúa Giêsu,

nhờ lời chuyển cầu của Đức Maria, Mẹ của lòng thương xót,

xin ban cho chúng con những ơn chúng con đang cầu xin.

Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị cùng Chúa Cha

và Chúa Thánh Thần đến muôn đời. Amen.

 

Đức Giáo Hoàng Phanxicô

 

 

THÁNG MƯỜI HAI

MỪNG CHÚA GIÁNG SINH