LỜI CHỦ CHĂN

DIỄN GIẢI THƯ MỤC VỤ

LỜI NGUYỆN CHUNG

ÁP DỤNG THỤC HÀNH

TÌM HIỂU GIÁO LUẬT

TRANG LINH MỤC

TRANG TU SĨ

TRANG SỐNG ƠN GỌI

TRANG THIẾU NHI

TRANG GIỚI TRẺ

TRANG GIA ĐÌNH

TRANG GIÁO LÝ VIÊN

TRANG QUỚI CHỨC

SỐNG ĐẸP

HỎI ĐÁP MỤC VỤ

SUY NIỆM

SỐNG LỜI CHÚA

THẦN HỌC KINH THÁNH

MỘT CHÚT TÂM TÌNH

LỜI CHỦ CHĂN

Vĩnh Long ngày 25.05.2015

Kính gửi: Quý Cha

Quý Tu sĩ nam nữ

Và tất cả anh chị em Gp. Vĩnh Long

V/v THÁNG TRÁI TIM CHÚA GIÊSU

Trước tháng Trái Tim Chúa Giêsu, chúng ta đã mừng lễ Đức Mẹ, tháng Đức Mẹ, như đoá hoa tinh tuyền, đẹp đẽ trước mặt Thiên Chúa và con người, yêu thương và phục vụ Chúa, cộng tác vào chương trình cứu độ của Chúa, xứng đáng loan báo tình thương của Ngài.

Thiên Chúa là tình thương:

- Vì thương yêu, Chúa đã tạo dựng con người để con người được ngắm nhìn thế giới tươi đẹp, được tham dự vào sự sống của Thiên Chúa.

- Vì thương yêu, Chúa đã xuống thế làm người, chia sẻ các đau khổ, vất vả của con người và nhất là dám chia sẻ cái chết đau đớn và nhục nhã như Chúa Giêsu đã thể hiện trên thập giá.

- Vì thương yêu, Chúa Giê su đã sống lại, lên trời, ban Chúa Thánh Thần, Đấng ngự đến trong vinh quang. Chúa cũng ban cho chúng ta được chia sẻ tiến trình từ đau khổ đến vinh quang, từ chết và đau khổ đến vinh quang phục sinh của Thiên Chúa.

Như người mục tử tốt lành biết từng con chiên một, hy sinh mạng sống cho từng con chiên: “Người yêu thương ta và đã phó mình chịu chết vì ta”, xin cho chúng ta tin ở tình yêu Chúa, biết đáp lại và đáp lại tình yêu Chúa trong cuộc sống thường ngày của chúng ta.

Lm. Phêrô Dương Văn Thạnh

Giám Quản GP. Vĩnh Long

DIỄN GIẢI THƯ MỤC VỤ

Tháng 06/2015

GIÁO XỨ: CỘNG ĐOÀN HỘI THÁNH HIỆP NHẤT VỚI NHAU TRONG LÒNG THƯƠNG XÓT

Lạy Cha Chí Thánh, Đấng Toàn Năng, Đấng Hằng Hữu, xin thương xót chúng con và toàn thế giới.

1. Gặp gỡ “Thiên Chúa giàu lòng thương xót” (Ep 2,4)

– “Hội Thánh sống thật khi tuyên xưng lòng thương xót, thuộc tính đáng yêu quý nhất của Đấng Tạo Hóa và Cứu Chuộc, khi Hội Thánh dẫn con người đến nguồn của lòng thương xót của Ngài, Hội Thánh vừa là người nhận vừa là người trao... Vì tội lỗi đang hoành hành trên thế gian nên Thiên Chúa đã ban Người Con Một, Thiên Chúa là Tình yêu không thể mạc khải gì khác ngoài lòng thương xót...” (Thánh Gioan Phaolô II, Tông huấn Dives in misericordia). Đức Giêsu, Đấng Chịu Đóng Đinh – Chết – Phục sinh, “là phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa” (Dt 1,3), chính là hiện thân của Lòng Thương Xót vô cùng.

– “Dung mạo của Thiên Chúa là dung mạo của một người Cha đầy lòng thương xót, đầy nhẫn nại với chúng ta. Người thấu hiểu chúng ta, chờ đợi chúng ta và luôn tha thứ cho chúng ta mà không bao giờ mệt mỏi, nếu chúng ta chạy đến với Người với tâm hồn sám hối… Lòng thương xót sẽ biến đổi thế giới. Một chút lòng thương xót thôi cũng làm cho thế giới bớt lạnh lẽo và thêm công chính” (ĐGH Phanxicô, Kinh Truyền Tin, 17-03-2013). Dung mạo hay thương xót của Thiên Chúa trong Năm thánh về Lòng Thương Xót sắp tới, đặc biệt được Phúc âm Luca, “nhà văn mô tả nét dịu hiền của Chúa Kitô” (scriba mansuetudini Christi), mô tả trong các dụ ngôn đồng tiền đánh mất, con chiên đi lạc, dụ ngôn người Cha đầy lòng thương xót.

– Việc đón nhận lòng thương xót của Chúa đòi hỏi chúng ta phải thú nhận tội lỗi của mình: “Nếu chúng ta nói là chúng ta không có tội, chúng ta tự lừa dối mình, và sự thật không ở trong chúng ta. Nếu chúng ta thú nhận tội lỗi, Thiên Chúa là Đấng trung thành và công chính, sẽ tha tội cho chúng ta và sẽ thanh tẩy chúng ta sạch mọi điều bất chính” (1Ga 1,8-9). Và đồng thời đòi hỏi sự tín thác, vì “ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội” (Rm 5,20). “Cần phải trở về tòa cáo giải, nơi cử hành bí tích Hòa giải, nơi chúng ta “thường trú”, để tín hữu thấy được lòng thương xót, lời khuyên nhủ và an ủi, cảm nhận được Tình yêu và Lòng Thương Xót Chúa hiện diện, bên cạnh sự hiện diện của Bí tích Thánh Thể” (ĐGH Bênêđictô XVI, Huấn từ cho các tham dự viên khóa họp XXI của Tòa Ân Giải Tối Cao). Thánh thiện trước tiên là ý thức bản thân như một tội nhân (th. Gioan Thánh Giá). Chính khi ý thức mình là tội nhân, đó là bước đầu cho việc thay đổi và chấp nhận hoán cải nhờ Lòng Thương Xót của Chúa.

2. Thực thi lòng thương xót

– “Ngày nay chúng ta rất cần đến lòng thương xót. Điều quan trọng là các tín hữu sống lòng thương xót ấy và đem vào các môi trường xã hội khác nhau.”[1] Ngay từ Cựu ước đã có những chỉ thị pháp lý đủ mọi loại như: năm tha nợ, cấm cho vay lấy lãi và cầm cố, nghĩa vụ đóng thuế thập phân, trả lương mỗi ngày, quyền được mót ở ruộng lúa và vườn nho. Những việc đó đáp lại lời khuyên: “Vì trong đất của anh em sẽ không thiếu người nghèo. Nên tôi truyền cho anh em: hãy mở rộng tay giúp người anh em khốn khổ, nghèo khó của anh em trong miền đất của anh em” (Đnl 15,11). Chúa Giêsu biến những lời này thành của Người: “Thật vậy, người nghèo thì bên cạnh anh em lúc nào cũng có; còn Thầy, anh em không có mãi đâu” (Ga 12,8). Nói như thế, không có nghĩa là Người làm giảm nhẹ đi lời tiên tri xưa: “Ta sẽ lấy tiền bạc mua đứa cơ bần, đem đôi dép đổi lấy người cùng khổ” (Am 8,6), nhưng Người mời gọi chúng ta nhận biết sự hiện diện của Người nơi những người nghèo là anh em của Người (cf. Mt 25,40).[2]

Đức Thánh Cha Phanxicô, trong sứ điệp Mùa Chay năm nay, cũng đã bày tỏ: “Tôi mong muốn biết bao rằng nơi nào Hội Thánh hiện diện, đặc biệt là các giáo xứ và các cộng đoàn của chúng ta, nơi ấy sẽ trở thành những hải đảo thương xót giữa lòng đại dương vô cảm”. Ngay từ đầu, Hội Thánh đã dành nhiều ưu ái hơn cho những người gặp cảnh khốn cùng, không bao giờ ngưng an ủi, bảo vệ và giải thoát những người đó, bằng vô số công việc bác ái (caritas), những việc này là cần thiết mọi lúc và mọi nơi.[3] Cách đặc biệt, trong khi chăm sóc mục vụ gia đình, “trước tiên, cần phải chăm sóc những người bị thương tích. Hội thánh là Mẹ, Hội thánh phải đi trên con đường của lòng thương xót và tìm cách diễn tả lòng thương xót của Chúa cho mọi người”.[4]

– Ý nghĩa và các việc làm của lòng thương xót: Dạy dỗ, khuyên nhủ, an ủi, khích lệ là những việc từ thiện về tinh thần, cũng như tha thứ và nhẫn nhục chịu đựng. Các việc từ thiện về phương diện vật chất gồm có, ví dụ như: cho kẻ đói ăn, cho kẻ vô gia cư tạm trú, cho kẻ rách rưới ăn mặc, thăm viếng bệnh nhân và kẻ tù đày, chôn xác kẻ chết (cf. Mt 25,31-46).

– Sự khốn cùng của con người biểu hiện qua nhiều hình thức khác nhau: cùng cực về của cải vật chất, bị đàn áp chịu bất công, bệnh tật thể chất và tâm thần, sau cùng là cái chết. Tất cả những sự khốn cùng này của con người là dấu chỉ của một sự khốn cùng thâm sâu hơn: thiếu vắng Thiên Chúa. Đó là tình trạng yếu đuối nguyên thủy, trong đó con người đang sống, sau khi con người phạm tội đầu tiên. Đó cũng là dấu chỉ cho thấy con người rất cần ơn cứu độ. Những nỗi khốn cùng đó lôi kéo lòng thương xót của Thiên Chúa. Chúa Kitô, Đấng Cứu Độ, đã muốn mang lấy xác phàm tội lụy với những nỗi khốn cùng đó, khi Người đồng hóa mình với ‘những người anh em bé nhỏ nhất của Ta đây’ (Mt 25,40.45).

“Ngợi ca lòng thương xót Chúa đã ban tặng con /

Hỡi trái tim từ nhân, con tín thác nơi Ngài /

Chiều đồi núi Canvê năm nào Ngài chết treo thân, /

Thập tự Ngài đã hiến dâng máu đào để cứu chuộc con./

Và dòng suối yêu thương chan hòa từ trái tim thâu tuôn tràn

tẩy xóa đi bao lỗi tội tái sinh đời con” (Lời bài hát).

Câu hỏi thảo luận

1. Hội thánh có thể biểu lộ dung mạo lòng thương xót Chúa như thế nào, qua những hình thức nào tại địa phương mình?

2. Anh chị có thể chia sẻ một kinh nghiệm hoán cải do gặp gỡ lòng thương xót của Chúa ở trong gia đình, hay cộng đoàn giáo xứ hay giáo họ mình hay không?

3. Cộng đoàn nhỏ hay nhóm của anh chị sống sự hiệp nhất như thế nào xuyên qua cùng hiệp công phục vụ trong việc bác ái, đồng hành với những anh chị em, hay gia đình gặp cảnh khốn cùng?

---------------------

[1] ĐGH Phanxicô, Kinh Truyền Tin ngày 11-01-2015.

[2] cf. GLHTCG 2449.

[3] cf. GLHTCG 2448.

[4] ĐGH Phanxicô, trả lời phỏng vấn trên chuyến trở về từ Đại hội Giới trẻ 2013.

Lm. Luy Nguyễn Anh Tuấn

Nguồn: ubmvgiadinh.org

LỜI NGUYỆN CHUNG

Kêu mời: Anh chị em thân mến,

Vì cùng tận hưởng Lòng Thương Xót Chúa, nên Hội Thánh cũng là cộng đoàn hiệp nhất với nhau trong Lòng Thương Xót. Vì thế, Hội Thánh vừa cảm tạ Chúa, vừa diễn tả tình thương lạ lùng ấy. Chúng ta cùng hiệp ýý cầu nguyện:

1. Chúa phán: “Ngươi hãy bán tất cả của cải ngươi có, đem cho người nghèo, rồi đến đây theo Ta”. Chúng ta cầu nguyện cho mọi thành phần Hội Thánh luôn sẵn sàng hy sinh từ bỏ của cải trần gian, mà biểu hiện lòng thương xót người nghèo.

2. Chúa phán: “Hãy đi và làm như người Samaritanô nhân hậu”. Chúng ta cầu nguyện cho mọi người trong giáo xứ và cộng đoàn sống đời thánh hiến, biết quan tâm chăm sóc sức khoẻ và tình trạng tâm hồn của những người bên cạnh mình.

3. Chúa phán: “Các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con”. Chúng ta cầu nguyện cho mọi người trong giáo xứ và cộng đoàn sống đời thánh hiến, luôn vâng nghe lời Chúa: tỏ lòng kính mến Chúa và yêu thương mọi người.

4. Chúa phán: “Các con đã đón nhận cách ‘nhưng không’ thì cũng hãy ‘cho không’ cho anh em mình”. Chúng ta cầu nguyện cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta luôn tận tình giúp đỡ mọi người được hưởng nhận lòng thương xót Chúa.

Kết thúc: Lạy Chúa, Chúa muốn thương xót hết mọi người. Xin cho các cộng đoàn giáo xứ và cộng đoàn sống đời thánh hiến, vừa được hưởng lòng Chúa Thương Xót, vừa biết thương yêu giúp đỡ mọi người được hưởng ơn cứu chuộc. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen.

ÁP DỤNG THỤC HÀNH

HIỆP NHẤT ĐỂ LÀM CHỨNG CHO CHÚA

Mỗi người Kitô hữu chúng ta vì đã được rửa tội, nên ai cũng có trách nhiệm và trách nhiệm phải truyền giáo, nghĩa là có bổn phận phải rao giảng về Thiên Chúa, về Chúa Kitô và nước trời cho những người khác. Trong việc thực thi bổn phận ấy, sống hiệp nhất có một sức mạnh rất đặc biệt.

ậy sự hiệp nhất đó, là sự hiệp nhất nào? Sự hiệp nhất ấy có giá trị đặc biệt như thế nào trong việc truyền giáo? Và người Kitô hữu chúng ta phải sống sự hiệp nhất ra sao, để góp phần vào công việc truyền giáo của Giáo Hội?

Trước khi từ biệt trần gian, Chúa Giêsu đã cầu nguyện một cách tha thiết với Chúa Cha cho các tông đồ và tất cả những ai nhờ lời họ mà tin vào Chúa Kitô, trong đó có chúng ta được ơn hiệp nhất: “Con không chỉ cầu xin cho những người này nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào Con để tất cả nên một”.

Sự hiệp nhất ở đây là một ân huệ của Chúa Cha mà Chúa Giêsu đã tha thiết cầu xin với Cha Ngài cho chúng ta. Do đó hiệp nhất ở đây không thể là giả tạo như sự hiệp nhất của hai cây gậy buộc lại với nhau thành một; cũng không như hai người bạn đi đường cùng nhau, cùng mục đích, cùng mối lợi, nhưng là nhắm lợi ích riêng của mình; càng không phải là sự hiệp nhất rẻ tiền: cố nhịn nói, cố tránh va chạm để người ngoài nhìn vào không biết chúng ta đang chia rẽ. Trái lại, đây là sự hiệp nhất trong tình yêu thương của Thiên Chúa. Sự hiệp nhất đó phải được như là sự hiệp nhất giữa Thiên Chúa Ba Ngôi: “Như Cha ở trong Con, như Con ở trong Cha”.

Như vậy, sự hiệp nhất ở đây không phải là bất cứ sự hiệp nhất nào, mà là sự hiệp nhất giữa Chúa Kitô và Cha trong Thánh Thần. Căn bản của sự hiệp nhất này là tình yêu phát xuất từ Cha và chính trong sự hiệp nhất này là sức mạnh có tính thuyết phục thế gian tin vào Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế và nhận ra tình yêu thương của Chúa Cha đối với nhân loại.

Chắc hẳn, Chúa Giêsu biết rất rõ sự hiệp nhất mà Ngài mong ước thiết tha cho chúng ta có một sức mạnh truyền giáo rất đặc biệt. Sở dĩ như vậy, vì Thiên Chúa và nước trời là những mầu nhiệm, những thực tại vô hình không dễ gì tin, bởi mắt phàm không thấy. Trái lại, khi nhìn thấy đời sống yêu thương hiệp nhất của các tín hữu, người ta sẽ nhận ra có sự hiện diện của Thiên Chúa và nước trời.

Đức cố Giáo Hoàng Phaolô VI cũng đã diễn tả sâu sắc về giá trị tông đồ của sự hiệp nhất, ngài nói: “Lời di chúc thiêng liêng của Chúa Giêsu cho chúng ta hiểu rằng, sự hiệp nhất giữa chúng ta không những là bằng chứng chúng ta là môn đệ Ngài, nhưng còn là bằng chứng Ngài được Chúa Cha sai đến và đó cũng là trắc nghiệm về sự đáng tin của các Kitô hữu và của Chúa Kitô”.

Quả vậy, có hiệp nhất với nhau, các kẻ tin mới tỏ ra mình không phải là những con người bị chia rẽ bởi những tranh chấp, nhưng là những con người có đức tin trưởng thành, có khả năng đối thoại, gặp gỡ nhau nhờ việc cùng tìm kiếm chân lý cách chân thành vô vị lợi. Như vậy sự hiệp nhất minh chứng chúng ta là môn đệ Đức Kitô, là những con người có đức tin vững mạnh và đó là lý do hấp dẫn người ngoài để họ dễ tin vào lời chứng của chúng ta. Hơn nữa, một sự hiệp nhất đến từ Thiên Chúa liên kết chúng ta lại với nhau là biểu hiện sự hiện diện của Thiên Chúa và nước trời ở giữa thế gian, như lời Chúa Giêsu thân thưa cùng Chúa Cha: “Xin cho họ nên một, như vậy, thế gian có thể nhận biết rằng chính Cha đã sai Con và đã yêu thương họ như đã yêu thương Con”.

Sống hiệp nhất nên một cách thân mật như “Cha ở trong Con và Con ở trong Cha” có một sức mạnh rất đặc biệt cho việc loan báo Tin Mừng. Thế nhưng làm sao chúng ta có thể hiệp nhất nên một cách thân mật như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha được? Quả thật, một sự hiệp nhất như thế nằm ngoài tầm tay của chúng ta và sự hiệp nhất này chỉ có thể thực hiện nơi chúng ta nếu chính Thiên Chúa thực hiện trong ta. Đó là điều mà Chúa Giêsu đã nói: “Con đã ban cho họ vinh quang mà Cha đã ban cho Con, để họ được nên một như Chúng Ta là một…” Vinh quang ở đây, chính là sự sống của Thiên Chúa.

Việc chúng ta hiệp nhất vào chính sự sống của Thiên Chúa là cơ sở cho việc chúng ta hiệp nhất với nhau, cho nên phương thế hay nhất để thực hiện sự hiệp nhất giữa chúng ta là mức độ chúng ta thông hiệp vào vinh quang của Chúa Giêsu, vào cuộc sống Thần Linh của Ngài, nhờ việc kết hiệp với Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể, qua rước lễ, viếng Chúa Giêsu Thánh Thể; nhờ việc lắng nghe và thực thi lời Chúa trong cuộc sống; nhờ việc chân thành cầu nguyện cho sự hiệp nhất trong Giáo Hội, giữa các Kitô hữu với nhau và cho một thế giới tốt đẹp hơn. Một khi hiệp nhất với Chúa Giêsu như thế, chúng ta sẽ dễ dàng hiệp nhất và yêu thương nhau, tránh được mọi hận thù, chia rẽ, ghét ghen… Có như thế, chúng ta mới thực sự là dấu hiệu để anh chị em lương dân nhận ra Thiên Chúa là tình yêu và nhận ra Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế được Chúa Cha sai đến để thực hiện chương trình yêu thương của Người, và lúc đó chúng ta sẽ thấy rằng sống hiệp nhất có một sức mạnh rất đặc biệt trong việc truyền giáo.

TÌM HIỂU GIÁO LUẬT

ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN TRONG GIÁO HỘI (TT)

IV. Các hình thức sống đời thánh hiến khác

Trong những tháng vừa qua, chúng ta đã cùng tìm hiểu đời sống thánh hiến trong các Dòng tu, các Tu hội đời và các Tu đoàn tông đồ. Tuy rằng giữa ba loại đời sống tu đó có những đặc điểm khác nhau, nhưng tất cả đều diễn tả một lối sống “theo sát Đức Kitô hơn” (đ.573§1), và tất cả được gọi là sống đời thánh hiến. Đây là những hình thức thông thường mà những ai muốn dâng mình cho Thiên Chúa đều phải là thành viên của các đoàn thể trên.

Tuy nhiên, Giáo hội cũng nhìn nhận những hình thức tu trì trong đời tận hiến mà không thuộc ba loại trên. Đó là đời sống Ẩn tu hay còn gọi là các Ẩn sĩ và các Trinh nữ được Giáo luật đề cập tới ở các điều 603 và 604. Chúng ta lần lượt tìm hiểu hai hình thức tu nầy.

1. Các Ẩn Sĩ (tháng 5/2015)

2. Các Trinh Nữ

a. Lịch sử

Ngay từ buổi đầu hình thức trinh nữ tận hiến đã xuất hiện trong Giáo hội Công giáo. Tuy nhiên, trải qua dòng thời gian, nhất là từ khi hình thức tu trì cộng đoàn lớn mạnh, thì hình thức trinh nữ tận hiến biệt lập sống tại gia không còn nữa. Nghĩa là ai muốn dâng mình cho Chúa thì phải vào nhà dòng. Nhưng tiếc rằng vì lý do nầy hay lý do khác, có những người muốn dâng mình cho Chúa nhưng không thể vào nhà Dòng được; hoặc có những nữ tu muốn dâng mình phục vụ Chúa nhưng không thể tiếp tục sống trong nhà dòng nữa. Do đó, hình thức trinh nữ tận hiến được Giáo hội khôi phục để giúp họ sống đời tận hiến mà không thuộc thành viên của hội đời sống tận hiến nào.

Ở đây, chúng ta nói trên phương diện pháp lý nhìn nhận một bậc sống tận hiến ở trong Giáo hội. Tuy nhiên, cũng có những trinh nữ âm thầm sống khiết tịnh giữa đời, họ cũng muốn sống đời tận hiến cho Chúa và phục vụ anh chị em nhưng một cách âm thầm (lời khấn tư), mà chỉ có Chúa và cha giải tội mới biết họ. Riêng phần nầy, chúng ta chỉ đề cập tới những người được Đức giám mục thánh hiến họ qua một nghi thức phụng vụ quy định.

b. Yếu tố pháp lý

Cũng như các Ẩn Sĩ, nhà lập pháp chỉ dành một điều khoản để qui định tính pháp lý về các trinh nữ, điều luật đó như sau:

Ngoài những hình thức của đời thánh hiến này còn có bậc các trinh nữ là những người nói lên sự quyết tâm lành thánh theo sát Đức Kitô, họ được Gíam Mục giáo phận cung hiến cho Thiên Chúa theo nghi thức phụng vụ được phê chuẩn, họ đính hôn cách huyền nhiệm với Đức Kitô, Con Thiên Chúa,và hiến thân phụng vụ Giáo Hội (604§1).

Các trinh nữ có thể liên kết với nhau để giữ sự quyết tâm của mình cách trung thành hơn và để giúp nhau chu toàn việc phục vụ Giáo Hội thích hợp với bậc mình (604§2).

Điều 604 cho chúng ta thấy những điểm tổng quát và căn bản (thần học và pháp lý) của đời sống trinh khiết tận hiến của các trinh nữ như:

- Quyết tâm lành thánh theo sát Đức Kitô;

- Được Gíam Mục giáo phận cung hiến cho Thiên Chúa theo nghi thức phụng vụ;

- Đính hôn cách huyền nhiệm với Đức Kitô;

- Hiến thân phụng vụ Giáo Hội.

Điều hết sức cần thiết ở đây, chúng ta phân biệt các trinh nữ nầy với các nữ tu trong các hội dòng. Các trinh nữ, họ không phải là những thành viên trong các dòng tu hay là tu hội đời hoặc là tu đoàn tông đồ, nhưng họ là những trinh nữ bình thường, được huấn luyện, và được Đức giám mục thánh hiến họ qua một nghi thức phụng vụ. Vì vậy, trong khoản 2 của điều 604 cho chúng ta biết thêm rằng các trinh nữ có thể sống riêng lẽ hoặc có thể kết họp thành hội. Nếu kết họp thành hội thì hội đó không cần phải được phê chuẩn theo thủ tục của các hội dòng tận hiến hay tu đoàn tông đồ.

Ngoài ra, trong nghi thức thánh hiến họ (Ordo consecrationis virginum – 31/5/1970, phần dẫn nhập có nêu lên vài quy định pháp lý để được thu nhận vào hàng ngũ các trinh nữ, những điều đó như sau :

- Dành riêng cho nữ giới;

- Chưa hề kết hôn (do đó, một người góa chồng có thể xin vào hội dòng tận hiến hay tu đoàn tông đồ nhưng không thể được cung hiến trinh nữ);

- Đời sống không có gì trái nghịch với đức khiết tịnh một cách công khai;

- Đức giám mục giáo phận là người thẩm định các yếu tố về sự bảo đảm của ứng viên cho đời sống nầy (tác phong đạo đức, tuổi tác, sự bền chí...). Bên cạnh đó, ngài cũng có bổn phận soạn thảo một quy chế cho bậc sống nầy trong giáo phận của ngài.

Bên cạnh những yếu tố pháp lý trên, chúng ta cần nhìn sâu hơn trong yếu tố thần học của đời sống trinh khiết: chọn bậc sống đời trinh khiết của các trinh nữ nó không chỉ nhằm hệ tại ở tình trạng thể lý, nhưng phải là một dấu hiệu biểu lộ tình yêu dành riêng cho Đức Kitô và nhiệm thể Ngài. Tuy rằng nghi thức cung hiến trinh nữ chỉ nói tới sự trinh khiết, nhưng khi thực hành phải diễn tả bằng một cuộc sống bao gồm sự khó nghèo (hiểu như một lối sống đạm bạc hoặc giúp đỡ người nghèo), vâng lời (Thiên Chúa và Giáo hội, đại diện nơi Đức Giám mục), và đời sống cầu nguyện.

TRANG LINH MỤC

LINH MỤC:

QUÀ TẶNG THIÊN CHÚA DÀNH CHO CON NGƯỜI

(Bài suy niệm của Thánh Gioan Maria Vianney về Bí tích Truyền Chức Thánh)

Hôm nay, chúng ta suy niệm về Bí Tích Truyền Chức Thánh. Bí tích này mới nghe tưởng chừng như không liên hệ gì đến giáo dân, nhưng là bí tích liên hệ đến hết mọi người.

Bí tích này nâng người ta lên đến Thiên Chúa. Với bí tích này, Linh Mục được giữ vai trò của Thiên Chúa, được nắm giữ mọi quyền phép của Thiên Chúa. “Hãy đi”, Chúa Giê-su đã ra lệnh cho các Linh Mục: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con. Tất cả mọi quyền lực trên trời dưới đất đã được trao cho Thầy. Hãy đi, giảng dạy cho mọi người trên khắp cùng cõi trái đất. Ai nghe các con là nghe Ta, ai coi thường các con là coi thường Ta”. Khi Linh Mục tha tội, ngài không nói: “Thiên Chúa tha tội cho con”, mà ngài nói: “Ta tha tội cho con”. Nơi nghi thức Thánh Thể, ngài không nói: “Này là Mình Chúa”, mà ngài nói: “Này là Mình Ta”. Ôi cao cả thay chức vụ Linh Mục.

Thánh Bernard nói rằng tất cả mọi sự đều đến với chúng ta qua Mẹ Maria, và chúng ta cũng có thể nói rằng tất cả mọi sự: hạnh phúc, ân sủng, và những quà tặng từ trời đều đến với chúng ta qua Linh Mục. Nếu chúng ta không có bí tích Truyền Chức Thánh, chúng ta sẽ không có Chúa Giê-su Thánh Thể. Ai đặt Chúa trong Nhà Tạm? Linh Mục. Ai đón nhận linh hồn chúng ta vào đời sống đức tin? Linh Mục. Ai nuôi dưỡng tăng sức mạnh cho linh hồn trên con đường đời lữ thứ này? Linh Mục. Ai chuẩn bị linh hồn trong giờ lâm tử trước khi ra trước tòa Chúa? Linh Mục. và nếu linh hồn chết trong tội, mất đi sự sống thần linh của Thiên Chúa, ai sẽ làm cho nó sống lại, ai đem lại bình an và niềm vui lại cho nó? Linh Mục, luôn luôn là Linh Mục. Các con không thể nào nhận được phúc lành nào mà không cần đến Linh Mục.

Giả như các con đến xưng tội với Đức Mẹ hay với một Thiên Thần, liệu các ngài sẽ giải tội cho các con hay không? Không! Các ngài sẽ trao ban cho con Mình Máu Thánh Chúa không? Không! Đức Mẹ không thể khiến Con Chí Thánh của mình ngự xuống trong Thánh Thể. Hay có trăm ngàn ngàn Thiên Thần ở đó, nhưng các ngài không tha tội cho các con được. Nhưng đơn giản chỉ có một Linh Mục thì lại khác, ngài có thể làm được các điều đó; ngài có thể nói với con: “Hãy đi bình an, cha tha tội cho con!” Ôi cao quí thay Thánh Chức Linh Mục! Linh Mục sẽ không thể hiểu được Thánh Chức của mình cho đến khi lên Thiên Đàng. Nếu Linh Mục có thể hiểu được khi ở thế gian, ngài sẽ chết mất; không phải vì sợ hãi, nhưng chết vì tình yêu. Còn có rất nhiều ơn lành khác ích lợi cho chúng ta mà Thiên Chúa muốn ban qua tay các Linh Mục. Đứng trước ngôi nhà chứa đầy vàng bạc châu báu mà không ai mở cửa thì nào có ích gì? Linh Mục có trong tay chìa khóa mở các kho tàng trên trời; chính ngài là người mở cửa, là người quản gia cai quản, là người phân phát kho tàng của Thiên Chúa. Không có Linh Mục, cái chết và cuộc khổ nạn của Chúa Giê-su sẽ trở nên vô ích. Hãy nhìn xem những anh chị em lương dân, cái chết của Chúa có đem lại ích lợi gì cho họ không? Tiếc thay! Họ chẳng được dự phần vào ơn phúc cứu rỗi, họ chẳng có Linh Mục đem Mình Thánh đến cho linh hồn họ.

Chức vụ Linh Mục không phải do bản thân mình, vì ngài không thể tha tội cho mình, ngài không thể ban phát các Bí Tích cho mình. Linh Mục không phải cho bản thân, mà là cho mọi người. Sau Thiên Chúa, Linh Mục là cao cả nhất. Cứ bỏ một giáo xứ hai mươi năm vắng bóng Linh Mục mà xem, người ta sẽ thờ lạy các tà thần ngay. Sẽ không có thánh lễ, không có Chúa trong nhà Tạm, vậy người ta sẽ làm gì ở nhà thờ? Lúc đó người ta sẽ nói: thôi, ở nhà cầu nguyện vậy. Khi người ta muốn hủy diệt đạo thánh Chúa, họ chỉ cần tấn công các Linh Mục, vì họ biết rằng không có Linh Mục, thì không có đạo giáo.

Khi chuông nhà thờ gọi con đến, nếu có ai hỏi: “Bạn đi đâu vậy?” Các con có thể trả lời: “Tôi đi nuôi linh hồn tôi”. Nếu ai chỉ vào nhà Tạm và hỏi: “Cái cửa bằng vàng kia là gì vậy?” Các con có thể trả lời: “Đó là kho chứa lương thực nuôi dưỡng linh hồn tôi”. “Thế ai có chìa khóa?” “Linh Mục”, “và lương thực ấy là gì vậy?” “Mình và Máu cao quí của Thiên Chúa”. “Ôi Thiên Chúa, Chúa yêu thương chúng con nhiều quá! Các con đã thấy uy quyền của Linh Mục chưa? Lời nói của Linh Mục làm cho bánh trở nên Chúa thật. Điều đó còn vĩ đại hơn cả việc tạo dựng nên thế giới này nữa. Có người hỏi rằng: “Có phải thánh nữ Philomena vâng lời Cha Xứ họ Ars không?” Thực tế, thánh nữ có vâng lời ngài, và Thiên Chúa cũng vâng lời ngài.

Nếu cha gặp một Linh Mục và một Thiên Thần, cha sẽ chào vị Linh Mục trước Thiên Thần. Vì Thiên Thần là bạn hữu của Thiên Chúa, còn Linh Mục là hiện thân của Thiên Chúa. Thánh Teresa đã hôn lên những dấu chân của Linh Mục đi qua. Các tông đồ vui sướng biết bao sau khi Chúa phục sinh, khi nhìn thấy vị Thầy mà họ rất mực yêu thương. Các Linh Mục cũng phải vui mừng như vậy, khi nhìn thấy Thiên Chúa trong đôi tay của mình trong Thánh Lễ. Khi các con nhìn thấy Linh Mục, các con hãy nói: “Đây là người làm cho tôi trở nên con cái Thiên Chúa, là người mở cửa Thiên Đàng cho tôi qua bí tích Rửa Tội; là người tha thứ cho tôi sau khi tôi phạm tội, là người đem thức ăn đến bồi dưỡng linh hồn tôi”. Khi đến nhà thờ các con có thể nói: “Có gì ở trong đó?” “Thánh Thể Chúa”. “Tại sao Người ngự ở đó?” “Bởi vì Linh Mục đang ở đó dâng lễ tế tạ ơn”.

Các Thánh Tông Đồ vui mừng biết bao về những gì cảm nghiệm được sau biến cố Phục Sinh của Chúa Giêsu, lúc nhìn thấy vị Thầy mà họ hằng thương mến! Linh Mục cũng phải có cảm nghiệm vui mừng ấy lúc nhìn thấy Chúa, Đấng mà ngài đang nắm trong tay. Những vật nào chạm đến ly uống nước của Đức Mẹ và Chúa Giêsu dùng xưa kia, người ta còn coi đó là một bảo vật, nhưng các ngón tay của Linh Mục đã đụng đến Thân Thể đáng kính của Chúa Giêsu, đã nhúng sâu vào trong chén Thánh chứa đựng Máu Thánh Chúa thì còn quí trọng biết bao nhiêu? Mỗi khi các con gặp Linh Mục, các con hãy nghỉ đến Chúa Giêsu, vì Linh Mục chính là hiện thân của Chúa Giêsu.

TRANG TU SĨ

THẮP SÁNG TIN YÊU

Vừa nhận được điện thoại, vị bác sĩ vội vã tới bệnh viện. Ông khoác vội trang phục phẫu thuật và tiến ngay tới phòng mổ. Lúc đó, người cha của cậu bé sắp sửa phẫu thuật đang ngồi đợi tại cửa phòng. Vừa nhìn thấy bóng bác sĩ, người cha nói ngay:

- Tại sao giờ này ông mới đến? Ông không hay biết con trai tôi rất nguy kịch sao? Thực lòng ông có trách nhiệm nghề nghiệp không vậy?

Bác sĩ điềm tĩnh trả lời:

- Thật xin lỗi, lúc này không phải ca tôi trực nên tôi không có mặt tại bệnh viện. Thế nhưng vừa nhận được điện báo tôi đến ngay đây. Và lúc này tôi muốn tịnh tâm một chút để chuẩn bị phẫu thuật.

Người cha giận dữ:

- Tịnh tâm à?! Giả như con của ông đang nằm trong phòng cấp cứu thì ông có tịnh tâm được không? Nếu như con trai ông sắp chết, ông sẽ làm gì?

Vị bác sĩ lại mỉm cười trả lời:

- Tôi sẽ nói điều mà ông Gióp đã nói trong Kinh Thánh: “Thân trần truồng sinh từ bụi đất, tôi sẽ trở về bụi đất trần truồng. Chúa đã sinh ra, Chúa lại lấy đi, xin chúc tụng Chúa”. Những bác sĩ không có khả năng giữ lại mạng sống. Ông hãy đi và cầu nguyện cho con trai ông. Chúng tôi sẽ nỗ lực hết mình và cậy trông vào ân sủng Thiên Chúa.

Cửa phòng phẫu thuật đóng lại. Vị bác sĩ miệt mài vài giờ liền trong phòng mổ. Và ông rời khỏi phòng phẫu thuật trong niềm hạnh phúc:

- Cảm tạ Chúa. Con trai ông đã được cứu. Nếu muốn biết thêm chi tiết, hãy hỏi cô ý tá vừa giúp tôi

Không chờ câu trả lời của người cha, vị bác sĩ tiến thẳng và rời khỏi bệnh viện. Ngay khi nhìn thấy dáng dấp cô y tá xuất hiện, người cha nói ngay:

- Loại người gì mà lại cao ngạo đến như thế kia chứ! Thậm chí ông ta không thèm dành vài giây trả lời cho tôi biết hiện trạng con trai tôi.

Cô y tá cúi xuống, tuôn trào nước mắt, trong xúc động, cô chậm rãi trả lời:

- Con trai duy nhất của bác ấy mới qua đời hôm qua do một tai nạn. Hôm nay bác ấy đang lo tang sự cho cậu. Thế nhưng, vừa nhận được điện báo bác ấy tới ngay để cứu con trai ông. Bây giờ thì bác ấy trở về tiếp tục lo hậu sự cho đứa con yêu quý của mình.

Con người ngày nay thường mắc phải căn bệnh “vô cảm” trước những khó khăn của người chung quanh, ai cũng muốn bảo vệ bản thân trách những rắc rối không cần thiết. Nhưng những cái vô tình xem ra như vô thưởng vô phạt ấy lại là loại virus nguy hiểm có thể giết chết một con người. Vị bác sĩ trong câu chuyện trên thật đáng ngưỡng mộ, ông đã âm thầm thắp lên ngọn lửa tin yêu và hy vọng trong lòng ngươi qua nghĩa cử cao đẹp. Thật vậy, nếu mỗi người chúng ta cũng biết thắp lên một ngọn lửa yêu trong căn phòng tối của xã hội vô cảm hôm nay, thể hiện có một chút lòng thương cảm đối với anh chị em chung quanh thì cuộc sống này sẽ tốt đẹp biết bao: một cái mỉm cười. một cử chỉ quan tâm chào hỏi, một sự san sẻ, tha thứ… Những điều ấy sẽ nâng đỡ giúp ích cho những người mà chúng ta gặp gỡ.

Khi thi hành lòng thương xót là khơi gợi tình yêu đối với Thiên Chúa, cụ thể hóa bằng tình yêu tha nhân, không ai khác chính là anh chị em trong cộng đoàn, trong họ đạo chúng ta. Lòng thương xót là lòng trắc ẩn trong trái tim chúng ta vì sự đau khổ của người khác, lòng trắc ẩn này khiến chúng ta làm những gì có thể đem lại niềm vui, hạnh phúc được lan tỏa trong cộng đoàn.

Tình yêu thương hiệp nhất sẽ giúp mỗi cá thể vượt qua những giông tố cuộc đời, không dừng lại ở sự đồng cảm với nhau, thương hại nhau, hay xót thương nhau mà còn phải thuận tình với nhau và giúp đỡ nhau vượt qua những khó khăn trong cuộc đời, để làm nên tình yêu thương hiệp nhất. Ước mong mỗi người chúng ta biết từ bỏ cái tôi ích kỷ của mình để sống khiêm tốn hơn, nhằm mục đích xây dựng cộng đoàn hiệp nhất yêu thương, xây dựng họ đạo vững mạnh hơn.

(Sưu tầm)

MTG Cái Nhum

TÌNH THƯƠNG BIẾN ĐỔI

Nó được sinh ra trong một hoàn cảnh vô cùng éo le: Mẹ nó trong một lần lầm lỡ đã mang thai và bị đuổi ra khỏi nhà. Đến khi sinh ra nó, cha nó thì biệt tăm, hai bên nội ngoại cũng không ai chấp nhận nên mẹ nó đã đến nương nhờ nơi một mái ấm dành cho phụ nữ cơ nhỡ. Cái tên Hận từ đó được mẹ gán cho nó cũng trở nên quen thuộc với mọi người sống trong mái ấm… Rồi cũng đến lúc mẹ con nó phải rời mái ấm vì nó đã lớn. May mắn sao có một phụ nữ tốt bụng, sống ở xóm đạo kế bên, biết được cảnh ngộ đó đã đón mẹ con nó về nhà. Bà yêu thương chăm lo cho mẹ con nó như con cháu ruột thịt của bà.

Thời gian trôi qua cũng làm cho cơn giận của ông bà ngoại nó nguôi ngoai phần nào, họ sẵn sàng tha thứ và muốn mẹ nó trở về nhà nhưng với điều kiện: không được đem nó về! Rất thương con nhưng mẹ nó vì chữ hiếu nên phải nghe lời. Thế là nó phải ở lại với bà ngoại nuôi. Vì được cưng chìu, tính tình nó ngày càng ngang ngược, mặc cho ngoại nuôi hết lời dạy dỗ, khuyên nhủ. Bà cũng dạy nó về Chúa, dạy đọc kinh, với hy vọng một ngày nó được rửa tội, trở nên con Chúa… nhưng tất cả đều vô hiệu.

Năm 16 tuổi, nó biết được sự thật về bản thân nên âm thầm bỏ nhà ra đi, gia nhập một nhóm bụi đời trên thị xã. Rồi một buổi tối nọ, nó dẫn đầu nhóm bụi đời trở về nhà ông bà ngoại ruột để “trả thù”, vì đã tạo ra thảm cảnh chia cách giữa mẹ con nó. Khi đi ngang qua ngôi nhà của người đã từng cưu mang và nuôi dưỡng nó, bỗng dưng nó chùng bước và bảo đồng bọn đi trước. Qua khe cửa, nó nhìn thấy bà ngoại nuôi đang quỳ gối trước bàn thờ Đức Mẹ, đôi tay run rẩy giang ra, miệng bà mấp máy những lời kinh kính mừng quen thuộc; lúc sau, nó thấy bà nước mắt đầm đìa, cầu nguyện cùng Chúa và Đức Mẹ thương tha thứ và gìn giữ nó được an lành, mạnh khỏe… nước mắt nó bỗng trào ra từ lúc nào nó cũng không hay. Bỗng mẹ nó xuất hiện, bộ dạng thảm thương, báo tin ông bà ngoại nó vừa bị một nhóm côn đồ hành hung. Một chút ân hận trào dâng, không chút suy nghĩ, nó chạy đến đỡ lấy mẹ rồi đi lấy muối, dùng nước thấm ướt, thoa quanh chỗ bầm trên trán mẹ. Bà ngoại nuôi hiểu được tâm tư của nó, bà nhìn vào mắt nó, nhẹ nhàng cầm tay nó và nói rất khẽ: “Vẫn còn kịp đó con!” Một tia sáng lóe lên trong đầu, nó bật dậy, bóng nó vụt đi, xé tan màn đêm…

Ngày hôm sau, nó trở về xin lỗi bà ngoại nuôi. Bà không nói gì, chỉ móm mém cười và nắm lấy bàn tay nó kéo vào bàn ăn đã dọn sẵn, nó ngạc nhiên khi thấy hai cái chén y như lúc còn ở nhà. Thì ra, từ ngày nó bỏ nhà đi, ngày nào bà cũng làm như vậy. Tay nó run run, ôm lấy đôi vai gầy guộc của bà. Hôm đó, nó thật hạnh phúc và quyết định đổi đời. Sau một thời gian học giáo lý, nó được Rửa tội rồi Thêm sức. Cái tên “Thương” được thay thế cho cái tên đầy oán hận mà mẹ nó đã đặt cho nó. Sau đó, nó cũng xin gia nhập nhóm lễ sinh và tham gia nhiều công tác trong họ đạo.

Thế đó, không gì khác ngoài lòng thương xót đã làm thay đổi một đời người. Kitô hữu phải là người luôn biết thể hiện căn tính kitô của mình, đó là sống và yêu thương giống như Chúa Kitô trong cuộc sống thường ngày. Chính tình thương này là mối dây hiệp nhất mọi thành phần trong Hội Thánh và lan tỏa đến mọi người xung quanh. Cũng nhờ tình thương, sự kiên nhẫn, lòng quảng đại và sự tha thứ mà người phụ nữ Công giáo trên đã thu phục một tâm hồn cứng cỏi về với cộng đoàn Hội Thánh.

Thương xót chính là bản tính của Thiên Chúa, diễn tả hình ảnh của một người Cha đầy lòng nhân hậu đối với chúng ta là con cái Người. Đức Thánh Cha Phanxicô, khi đọc kinh Truyền Tin ngày 17. 03. 2013, đã nói với các tín hữu như sau: “Dung mạo của Thiên Chúa là dung mạo của một người Cha đầy lòng thương xót, đầy nhẫn nại với chúng ta. Người thấu hiểu chúng ta, chờ đợi chúng ta và luôn tha thứ cho chúng ta mà không bao giờ mệt mỏi, nếu chúng ta chạy đến với Người với tâm hồn sám hối. Lòng thương xót sẽ biến đổi thế giới. Một chút lòng thương xót thôi cũng làm cho thế giới bớt lạnh lẽo và thêm công chính”.

Hội Thánh dành trọn tháng Sáu để kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, hiện thân lòng thương xót của Chúa Cha đối với nhân loại. Giáo Hội Việt Nam cũng chọn tháng Sáu năm 2015 này để mời gọi giáo dân trong các giáo xứ, cùng thể hiện sự hiệp nhất với nhau trong Lòng Thương Xót của Thiên Chúa. Trong mọi hoàn cảnh, nếu mỗi thành phần trong Hội Thánh đều ý thức trách nhiệm của mình là sống tinh thần yêu thương của Chúa Giêsu: biết quan tâm giúp đỡ, quên mình vì người khác, biết rung cảm trước nỗi đau của đồng loại, … thì mới mong biến đổi bộ mặt đầy thương tích vì hận thù, chia rẽ của thế giới này nên giống khuôn mặt đầy nhân từ, xót thương của Thiên Chúa.

MTG Cái Mơn

TRANG SỐNG ƠN GỌI

NẾU ĐƯỢC CHỌN LẠI ?

Trong đời sống hôn nhân, một trong những câu nói làm cho người bạn đời buồn nhất chính là người chồng hay người vợ khi nói với người bạn đời: “tôi lầm” hay “tôi lỡ” hoặc “hoặc nếu được chọn lại thì tôi không…” lấy anh, lấy em. Một câu nói như hối hận về việc mình đã tự do lựa chọn và lãnh nhận mà hôm nay lại muốn thoái thác trách nhiệm mà mình đã lãnh nhận năm xưa.

Giống như Adam sau khi xơi trái cấm đã nói với Thiên Chúa: “Tại người đàn bà Chúa trao cho con”. Nhưng chúng ta đừng cười cụ tổ chúng ta, vì ngày nay, sau nhiều ngàn năm, chúng ta là hậu duệ, nhưng cũng không tránh khỏi lối đẩy đưa vài ngàn năm trước chúng ta.

Những ngày đầu trong chức linh mục, Lòng nhiệt thành còn mớt mẻ, còn tràn đầy, còn sung mãn. Tuổi còn trẻ, sức còn khỏe, đường còn dài, trách nhiệm còn mới tinh khôi ít khi chúng ta nghe câu “Nếu được chọn lại”. Rồi một ngày nào đó sau mươi năm, hay sau vài mươi năm. Có khi, những giây phút cuối đời. Tôi bổng dưng trách Chúa, như ngày nào Ađam đã trách thẳng Đức Chúa Trời là “tại người đàn bà này, mà…” (xc stk 1,33) hoặc như người chồng nói với vợ: “Tôi lầm…”

Chẳng có gì lạ, chỉ khác đi một chút là tôi không trách, không ân hận với người đời mà là tôi đang than trách với Thiên Chúa: “Tôi ước ao, giá mà ngày ấy tôi không đi tu, nếu tôi biết đi tu như vầy thì ngày đó tôi không dám đi, ngày ấy tôi đừng nhận thánh chức linh mục v.v…” Như thế là tôi đang hối hận, tôi đang oán trách Thiên Chúa, hay ý tôi muốn nói Thiên Chúa chọn lầm tôi mà Thiên Chúa thì sao lầm được. Hay ngược lại, tôi muốn nói tôi chọn lầm Thiên Chúa… Thật sự những lời đó đôi khi tôi đã làm cho Thiên Chúa buồn giống như người bạn đời nói từ “lầm”, như Adam nói “tại người đàn bà này, mà…” vậy.

Nói tóm lại, Khi nếm mùi thất bại, khi tuổi đời xế bóng, rã rời và mệt mỏi, tôi buông xuôi (về thể xác) và có khi tôi oán trách Chúa (dù âm thầm) trong tinh thần. Tôi vẫn xác tín, tôi đã chọn và tôi sẽ làm cho kỳ cùng để đong đầy và tô đậm sự lựa chọn đó. Tôi không thỏa hiệp, tôi không nước đôi, tôi không nửa vời. Tôi đã chọn, chỉ có thế, không đổ qua đổ lại, không tại bị, không giá mà, không nếu.

Thiên Chúa không nước đôi

Thiên Chúa không nửa chừng

Thiên Chúa không vớ vẩn.

Ngài mời gọi, nhưng không ép buộc “nếu anh muốn, hãy bán của cải và theo tôi” (Xc Mt, 19 , 21. Mc 14,5 . Lc 12,33; Ga 12, 5 ; Cv 2, 45; 4,34-37)

Tôi muốn, và tôi đã theo Ngài. Thế là, Ngài đã dẩn tôi đi và sắp đặt cho tôi theo đường ngài. Vâng, chỉ có thế, chỉ tại thế. Bản thân tôi không muốn cách khác lặp lại lời bào chữa của cụ tổ năm xưa: “tại người đàn bà này, mà …” (xc stk 1, 33).

Cơn cám dỗ cho các linh mục ngày nay là cơn cám đỗ đến tận căn của chức linh mục, là phiền trách Chúa, là tiếc nuối điều đã tự nguyện, là bớt lại chút đỉnh điều đã dốc lòng, là cò kè với sự dấn thân, là trách mình dại dột. nói tóm, là không bằng lòng với sự dứt khoát ngày nào. Lúc ấy, Thiên Chúa bị gạt gẫm vì thích chọn, chẳng thích thì chia tay. Người ta vẫn có một câu mỉa mai thế này: “kẻ bằng mặt là kẻ thiệt thòi”. ở đây, phải chăng “kẻ vô hình là kẻ thiệt thòi (?)”. xin đừng để chúng con sa cơn cám dỗ, nhưng nhất là đừng để Thiên Chúa bị việt vị, Ngài chẳng chấp tội, nhưng trong trường hợp này, giữa chúng ta và Thiên Chúa đã không được chúng ta xử sự một cách người lớn và nghiêm túc.

Trong tháng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, có ngày lễ Thánh Tâm cũng là ngày thế giới cầu nguyện cho việc thánh hóa các linh mục, chúng ta cũng tha thiết nài xin Thiên Chúa đã mời gọi những linh mục sống dấn thân, thì các ngài can đảm dấn thân triết để. Vì với loài người thì nhiều sự không thể, nhưng đối với Thiên Chúa thì mọi sự điều có thể (Xc Lc 1,37). Xin Chúa giúp sức để các linh mục ngày càng thánh thiện. Chính đời sống dấn thân và thánh thiện của các linh mục là một dấu chỉ cho thời đại và là một thách đố lớn nhất cho nhân loại. trong cuộc thách đố này, chúng ta hồi hộp chờ đợi kết quả, xin Chúa đừng để chúng con làm Chúa bị hổ ngươi, chỉ vì chúng con thiếu thẳng thắn và tiếc nuối điều chúng con đã chọn.

Sau cùng, Xin Chúa chúc lành điều ngài đã khởi sự, và Ngài cũng thánh hóa điều mà Ngài đã chúc lành.

TRANG THIẾU NHI

Nói Tục, Chửi Thề

Người Bắc gọi là nói tục, người Nam kêu bằng chửi thề. Đó là thói quen lúc nào cũng nói một hai chữ thô lỗ phổ thông đã thành tập quán. Có người khi bực mình thì nói ra cho hả giận; có người đã nói thành thói quen; có người coi đó như một cách chứng tỏ mình sành đời.

Đây là một tội thường phạm trong giới thanh thiếu niên và thiếu nhi thích bắt chước cho có vẻ người lớn. Có những nguyên nhân dẫn đến chửi thề như là:

- Chửi thề vì bực tức

Có người chữa mình: khi bực quá đèo một tiếng cho hả giận. Nói thế cũng giống như người bảo: khi tức giận vợ con, đập phá nhà cửa, ném chén dĩa cho đã tức. Thiết nghĩ, chúng ta cần nhớ nguyên tắc luân lý này: “không thể dùng phương tiện xấu để biện minh cho mục đích tốt”. Chửi thề cho bớt giận là một cách buông xuôi theo đam mê phẫn nộ, chứ không phải là kiềm chế lời nói. Họ giống như trái banh phải nổ tung ra thì mới hết lăn lóc. Chỉ có hạng tầm thường, người nhu nhược mới phải dùng phương thế nói tục, chửi thề cho bớt giận.

- Chửi thề vì tập quán

Đây là một thói quen chứng tỏ thiếu văn hóa. Bằng chứng là những người hiểu biết, những người học thức cao không bao giờ hay họa hiếm lắm mới nói tục.

Cho dù là người có học hành mà trên môi miệng lại có những tiếng tục tĩu, hẵn cũng không gọi là có văn hóa, vì văn hóa phải đi kèm với một nhân cách cao, một đức hạnh vững chãi.

Một điều đáng tiếc là càng ở vùng thôn quê, người ta càng hay nói tục, chửi thề. Thậm chí, có những người nói bất cứ câu gì cũng phải đệm vô một tiếng chửi thề trước rồi mới nói ra những tư tưởng muốn diễn đạt. Theo tâm lý học phân tính, dường như tập quán chửi thề, nói tục cũng do ở sự kiện thiếu ngữ vựng cần có để diễn tả. Khi chửi thề, người ta có đủ thời giờ để tìm ra được ngữ vựng cần thiết kia.

- Chửi thề vì ảnh hưởng xã hội

Những danh từ mới sáng chế rất có ảnh hưởng và dễ lan rộng. Lý do là tâm lý con người thường thích bắt chước, nhất là bắt chước những người hơn mình, hơn tuổi tác, địa vị, tài năng hoặc kinh nghiệm sống ở đời.

Trẻ em, thanh thiếu niên nếu nghe thấy người lớn, cha mẹ nói tục, chửi thề thì nó sẽ bắt chước như con vẹt mà không suy nghĩ gì. Thật là một điều đau lòng khi những đôi môi non dại thơ ngây nói ra những chữ tục tĩu. Không hiểu các bậc cha mẹ sẽ nghĩ gì về vấn đề này?!

Rồi đứa trẻ lớn lên với thời gian, và những chữ tục tĩu thô bỉ kia cũng ăn sâu vào tâm hồn nó, trở thành ngôn ngữ của nó đến nỗi không thể mở miệng ra mà không nói tục.

Phải nghĩ sao: cái miệng sẽ răn dạy con cái, sẽ lên tiếng trong xã hội, sẽ nói năng đon đả với bạn bè, sẽ đọc kinh hát lễ, rước Chúa đó, lại cũng chính là cái miệng thường xuyên chửi thề?!

Tệ hơn nữa, còn có những thiếu nữ, phụ nữ nói tục, chửi thề rất dữ dội… chính điều đó sẽ dần dần tiêu diệt phẩm hạnh của họ.

Ngạn ngữ phương Tây có câu: “Nếu trái tim bạn là một đóa hồng, miệng bạn sẽ nói ra những lời ngát hương thơm”.

Có một linh mục lớn tuổi, tính tình cương nghị nhiều lúc dễ nóng giận. Mỗi khi thấy bực tức điều gì thì ngài chỉ kêu thầm: “Giêsu, Maria, Giuse con mến yêu, xin cứu rỗi các linh hồn”. Theo ngài chia sẻ, phương thế này bao giờ cũng rất hữu hiệu.

Tóm lại, chúng ta là những kitô hữu luôn có Chúa trong mình, chúng ta đừng để cho miệng của mình bị dơ bẩn bởi những tiếng chửi thề, những lời thô tục... Nếu lòng ta trong trắng thì ngôn ngữ của ta sẽ thơm lành và sẽ được Thiên Chúa chúc: “Phúc cho những ai có tâm hồn trong sạch vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa” (Mt 5,8). Xin Chúa thánh hóa môi miệng con để con biết nói những lời hay ý đẹp thay cho những lời thô tục, dơ bẩn mà con thường mắc phải.

GIÁO XỨ LÀ CỘNG ĐOÀN

SỐNG CHỨNG NHÂN LÒNG THƯƠNG XÓT

Có thể nói, mỗi tín hữu Công giáo là một thành phần của toàn thể cộng đoàn xuyên suốt đón nhận lòng thương xót của Thiên Chúa. Vì là con người "nhân vô thập toàn" nên người tín hữu dễ dàng sa ngã phạm tội xúc phạm đến tình yêu của Thiên Chúa.

Chúa Giêsu đã chỉ dạy cho các Tông đồ cũng như chỉ dạy cho con người biết Thiên Chúa chính là Cha của minh. Vì là Cha nên yếu tính lớn nhất nơi Thiên Chúa là sự tha thứ. Dù tội lỗi của con người lớn đến đâu nhưng lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho con người lúc nào cũng rộng lớn hơn.

Lòng thương xót ấy được thể hiện một cách sống động nơi Chúa Giêsu - Ngôi Hai Thiên Chúa. Người đến trần gian như lời thánh Gioan Tẩy Giả giới thiệu: "Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa bỏ tội trần gian " (Ga 1, 29). Tội lỗi của con người được Chúa Giêsu mang lên cây thập tự giá.

Với hy lễ hy sinh và đền tội ấy, Chúa Giêsu mang đến một bảo đảm chắc chắn cho sự yếu đuối của con người. Nhờ lòng thương xót của Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu mà con người được đón nhận và giải thoát mỗi khi phạm tội.

Cuộc sống của người tín hữu hằng ngày phải đối diện với bao nhiêu cám dỗ. Chúa Giêsu đã khuyên răn: "Anh em hãy canh thức và cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ. Vì tinh thần thì hăng hái, nhưng thể xác lại yếu đuối." (Mc 14, 38) Thánh Phêrô cũng dạy: “Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức vì ma quỷ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé. Anh em hãy đứng vững trong đức tin mà chống cự, vì biết rằng toàn thể anh em trên trần gian đều trải qua một loại thống khổ như thế.” (1 Pr 5,8-9).

Được dạy bảo nhắc nhở cẩn thận kỹ lưỡng nhưng vì con người vốn mỏng dòn yếu đuối nên cứ sa đi ngã lại những lỗi lầm của mình. Mỗi lần sa đi ngã lại người tín hữu chỉ còn biết chạy đến với lòng thương xót của Chúa. Không những được thanh tẩy khỏi những lỗi phạm mà người tín hữu còn được tăng thêm sức mạnh để chiến đấu với những cám dỗ.

"Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em" (Ga 15,12). Đây là lời mời gọi cũng là lệnh truyền của Chúa Giêsu cho những môn đệ của Người. Chúa đã thể hiện tình thương của Người cho người tín hữu bằng lòng thương xót. Ước gì các tín hữu cùng một giáo xứ cũng biết sống như Chúa trong cách đối xử của mình với nhau.

TRANG GIỚI TRẺ

Bài Giáo Lý Của ĐTC Phanxicô Về Ba Lời Quan Trọng

Trong Gia Đình: “Xin Phép”, “Cảm Ơn” Và “Xin Lỗi”

Dưới đây là bản dịch bài Giáo Lý ĐTC Phanxicô ban hành ngày 13 tháng 5 năm 2015 trong buổi Triều Yết Chung được tổ chức tại Quảng Trường Thánh Phêrô. Hôm nay ĐTC tiếp tục chu kỳ Giáo Lý về Gia Đình. Ngài giải thích về tầm quan trọng của ba chữ “Xin Phép”, “Cảm Ơn” và “Xin Lỗi” trong Gia Đình.

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Bài giáo lý hôm nay như cánh cửa mở ra cho một loạt những suy tư về đời sống gia đình, đời sống thật sự của gia đình, với những thời điểm và những biến cố của nó. Ở cánh cửa này có viết ba lời, mà tôi đã sử dụng nhiều lần. Và những lời này là: “xin phép”, “cảm ơn” và “xin lỗi”. Thực ra, những lời này mở ra một con đường để sống hạnh phúc và an hoà trong gia đình. Những lời này rất đơn sơ, nhưng không dễ thực hành! Chúng hàm chứa một sức mạnh phi thường: sức mạnh để bảo vệ gia đạo, ngay cả trước hàng ngàn khó khăn và thử thách; ngược lại, việc thiếu chúng sẽ từ từ sẽ gây ra các rạn nứt, thậm chí có thể làm đổ vỡ gia đình.

Chúng ta thường hiểu những lời này như những những lời của “người có giáo dục.” Đúng vậy, một người có giáo dục biết xin phép, biết nói lời cảm ơn hay xin lỗi nếu làm sai. Đúng, giáo dục tốt rất quan trọng. Một đại Giám Mục, Thánh Phanxicô đệ Salê thường nói rằng “giáo dục tốt là một nửa của sự thánh thiện”. Tuy nhiên, hãy thận trọng, qua lịch sử chúng ta cũng biết rằng một hình thức cư xử tốt bề ngoài có thể trở thành một mặt nạ che giấu sự cằn cỗi của tâm hồn và sự thờ ơ với người khác. Người ta thường nói: “Đằng sau nhiều cách cư xử tốt che giấu những thói quen xấu.” Ngay cả tôn giáo cũng không tránh khỏi nguy cơ này, làm cho nó rơi vào việc tuân giữ hình thức theo tinh thần thế tục. Ma quỷ, tên cám dỗ Chúa Giêsu, cũng cư xử tốt với Người và trích dẫn cả Thánh Kinh, có vẻ như một thần học gia! Kiểu cách của nó có vẻ đúng, nhưng ý đồ của nó là làm cho Người đi sai chân lý của tình yêu Thiên Chúa. Ngược lại, chúng ta hiểu giáo dục tốt theo quan hệ thực sự của nó, là nơi mà cung cách của các mối liên hệ tốt đâm rễ sâu trong lòng yêu thích sự tốt lành và lòng tôn trọng người khác. Gia đình sống trong sự tế nhị này của tình yêu thương.

Lời đầu tiên là “xin phép” hay “làm ơn.” Khi chúng ta cẩn thận hỏi một cách lịch sự điều có lẽ chúng ta nghĩ rằng mình có thể mong đợi, chúng ta đưa ra một sự bảo vệ thật cho tinh thần chung sống của hôn nhân và gia đình. Bước vào cuộc sống của một người khác, ngay cả khi người ấy là một phần cuộc sống của mình, đòi hỏi sự tế nhị của một thái độ không xâm lấn, đổi mới niềm tin tưởng và sự tôn trọng. Tóm lại, sự tự tin tưởng không cho phép chúng ta coi tất cả mọi sự như điều đương nhiên. Và tình yêu, càng mật thiết và sâu đậm bao nhiêu thì càng đòi hỏi phải tôn trọng sự tự do và khả năng chờ đợi người khác mở cửa lòng ra cho mình bấy nhiêu. Về điểm này, chúng ta nên nhớ đến lời Chúa Giêsu nói trong sách Khải Huyền: “Này, Ta đứng trước cửa và gõ, nếu ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ ăn tối với người ấy, và người ấy sẽ ăn tối với Ta.”(3:20). Ngay cả Chúa cũng phải xin phép để bước vào! Đừng quên điều đó. Trước khi anh chị em làm điều gì trong gia đình: “Xin lỗi, anh/em có thể làm điều ấy không? Anh/em có muốn em/anh làm như thế không?” Đó là ngôn ngữ lịch sự và đầy yêu thương. Và điều ấy đem lại nhiều sự tốt lành cho các gia đình.

Lời thứ hai là “cảm ơn.” Đôi khi người ta nghĩ rằng chúng ta đang biến thành một nền văn minh của cung cách cư xử tồi tệ và lời nói xấu xa, như thể chúng là dấu chỉ của việc giải phóng. Tất cả chúng ta nghe thấy điều ấy nhiều lần, thậm chí cách công khai. Sự tử tế và khả năng biết cảm ơn bị coi như một dấu chỉ của yếu đuối, đôi khi thậm chí còn gây ra nghi ngờ. Chúng ta phải chống lại khuynh hướng này ngay cả trong lòng của gia đình. Chúng ta phải kiên quyết trong việc giáo dục về lòng nhớ ơn, lòng biết ơn: cả phẩm giá con người lẫn công bằng xã hội đều đi qua đó. Nếu đời sống gia đình coi thường cách sống này, ngay cả đời sống xã hội cũng sẽ mất nó. Còn đối với một tín hữu, lòng biết ơn là trung tâm của đức tin: một Kitô hữu không biết cảm ơn là người đã quên ngôn ngữ của Thiên Chúa. Anh chị em hãy nghe đây. Hãy nhớ lại câu hỏi của Chúa Giêsu, khi Người chữa lành mười người phong cùi và chỉ có một người trong họ trở lại để cảm ơn (Lc 17:18). Có lần tôi được nghe từ một ông cụ, rất khôn ngoan, rất tốt lành, đơn sơ, nhưng với sự khôn ngoan của lòng nhân từ, của đời sống: “Lòng biết ơn là một loại cây chỉ mọc ở vùng đất của những linh hồn cao quý.” Sự cao quý của linh hồn, là ân sủng của Thiên Chúa trong linh hồn thúc giục chúng ta phải nói lời cảm ơn, biết ơn. Nó là loài hoa của một tâm hồn cao quý. Đó là một điều tốt!

Lới thứ ba là “xin lỗi”. Chắc chắn là lời khó nói lên nhưng rất cần thiết. Khi thiếu nó, các rạn nứt nhỏ sẽ mở rộng ra – ngay cả khi vô tình - thành những rãnh sâu. Trong lời kinh Chúa Giêsu dạy, “Kinh Lạy Cha”, là kinh tóm tắt tất cả những vấn đề quan trọng cho cuộc sống của chúng ta, không phải là vu vơ mà chúng ta tìm thấy biểu thức này: “Xin tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con” (Mt 6: 12). Nhìn nhận những thất bại, và mong ước đền trả những gì đã bị lấy đi - tôn trọng, trung thực, yêu thương - làm cho người ta đáng được tha thứ. Vì thế, làm lành các vết thương bị nhiễm trùng. Nếu chúng ta không có khả năng xin lỗi, cũng có nghĩa là chúng ta cũng không có khả năng tha thứ. Trong ngôi nhà không có sự xin lỗi thì không khí bắt đầu ngột ngạt và nước trở nên tù hãm. Quá nhiều vết thương đau khổ, quá nhiều nước mắt trong gia đình đã được bắt đầu chỉ vì thiếu lời “xin lỗi” quý báu này: Trong đời sống hôn nhân có nhiều bất hoà, đôi khi ngay cả “chén đĩa cũng bay,” nhưng tôi muốn tặng anh chị em một lời khuyên: đừng bao giờ kết thúc một ngày mà không làm hòa với nhau! Hãy nghe đây: vợ chồng có bất hoà với nhau không? Con cái với cha mẹ thì sao? Anh chị em có tranh cãi nhiều không? Đó không phải là điểu tốt, nhưng thực sự không phải là vấn đề. Vấn đề là cảm giác ấy vẫn còn hiện diện trong ngày hôm sau. Vì vậy, nếu anh chị em đã có một cuộc tranh chấp, đừng bao giờ kết thúc một ngày mà không làm hoà trong gia đình. Và làm thế nào để làm hòa? Quỳ gối van xin sao? Không! Chỉ cần một cử chỉ nhỏ, cũng như một điều gì nho nhỏ, và sự hòa hợp sẽ trở lại trong gia đình. Chỉ cần một cái vuốt ve! Không cần nói gì cả. Nhưng đừng bao giờ kết thúc một ngày trong gia đình mà không làm hòa với nhau! Anh chị em có hiểu điều ấy không? Nó không phải là điều dễ dàng, nhưng phải làm. Và với điều ấy cuộc sống sẽ tươi đẹp hơn.

Ba lời quan trọng của gia đình là những lời đơn sơ, và có lẽ thoạt đầu làm chúng ta bật cười. Nhưng điều gì sẽ xảy ra khi chúng ta quên mất chúng, thì không còn gì để cười nữa, phải không? Có lẽ nền giáo dục của chúng ta cũng không đếm xỉa đến chúng. Nguyện xin Chúa giúp chúng ta đặt chúng trở lại đúng vị trí, trong tâm hồn chúng ta, trong nhà chúng ta, và ngay cả trong xã hội dân sự của chúng ta.

Và giờ đây tôi xin mời tất cả anh chị em cùng nhau lặp lại ba lời: “xin phép”, “cảm ơn”, “xin lỗi”. Tất cả cùng nhau: “xin phép”, “cảm ơn”, “xin lỗi”. Đó là những lời có thể đem tình yêu vào gia đình, để cho gia đình được tồn tại. Rồi chúng ta hãy lặp lại lời tôi vừa khuyên, tất cả hãy cùng nhau: Đừng bao giờ kết thúc một ngày mà không làm cho hòa với nhau. Tất cả: Đừng bao giờ kết thúc một ngày mà không làm cho hòa với nhau. Cảm ơn anh chị em.

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

Nguồn: giaoly.org

TRANG GIA ĐÌNH

Giáo dục và Gia đình

Giáo dục con người không giống giống như trồng khoai nuôi cá, không giống như làm lúa nuôi heo, cũng không giống như trồng rau nuôi gà. Giáo dục con người cần phải có thời gian, kiến thức, kinh nghiệm, tâm lý, phương pháp, nhẫn nại, tình yêu và lòng đạo đức. Vì con người là một huyền nhiệm và thật khó hiểu. Bởi con người chịu ảnh hưởng bởi tuổi tác, hoàn cảnh, môi trường, thời tiết, giàu nghèo, giáo dục, kiến thức, tôn giáo, xã hội.

Nói về giáo dục, Chúa Giêsu là mẫu gương đào tạo tuyệt vời nhất. 5 trong vô số cách thức Ngài thực hiện mà mỗi gia đình nếu biết quan tâm và khéo léo áp dụng để giáo dục con cái thì sẽ thu được rất nhiều kết quả.

Giáo dục khởi đi từ những sự thật

Chúa Giêsu. Ngài nói: “Không ai thắp đèn rồi đem đặt gầm giường, nhưng đặt trên đế” (Mc 4,21-25; Lc 8,16-18). Không ai đốt đèn rồi lấy thùng úp lên… Người nghe sẽ chấp nhận ngay, vì đó là sự thật. Vâng, rồi từ đây Ngài dẫn người nghe đi xa hơn: đặt trên cao để ai đi thì nhìn thấy ánh sáng. Rồi tiếp, vì chẳng có gì bí ẩn mà lại không trở nên hiển hiện, chẳng có gì che giấu mà người ta lại không biết và không bị đưa ra ánh sáng. Vậy hãy để ý tới cách thức anh em nghe. Vì ai đã có, thì được cho thêm; còn ai không có, thì ngay cái họ tưởng là có, cũng sẽ bị lấy mất. Ngài dẫn từ ánh sáng thường đến ánh sáng chân lý mà chính mỗi người phải thắp lên. Vì thế hãy cẩn thận và chăm chú lắng nghe.

Gia đình. Ví dụ nói về tuổi dậy thì. Ta có thể bắt đầu là: cây trồng, vật nuôi mỗi ngày mỗi tháng sẽ phát triển lớn lên, cành lá sum xuê, thân xác lớn dần. Con người cũng vậy, từ 11 tuổi trở đi, ta sẽ thấy người ta cao to, nặng, rồi tóc, râu mọc nhiều, bắp chân bắp tay nổi to, giọng nói thì ồm ồm, toàn thân phát triển… Như thế người ta gọi là dậy thì. Mẹ thấy con đang lớn nhanh. Đó là chuyện bình thường. Con không có gì phải lo sợ mà hãy vui mừng vì đây là dấu hiệu của người khoẻ mạnh. Con đã đến tuổi dậy thì rồi.

Người con được cha mẹ nói như tâm sự vậy quả thật rất an tâm và sẽ quên hết những lo âu sợ hãi bởi sự thay đổi nhanh của thân xác.

Giáo dục khởi đi từ những dư luận

Chúa Giêsu. Ngài hỏi các môn đệ: “Người ta nói Thầy là ai?” Dạ, “kẻ thì nói là ông Gioan Tẩy Giả, kẻ thì bảo là ông Êlia, có người lại cho là ông Giêrêmia hay một trong các vị ngôn sứ”. Ngài lại hỏi: “Thế anh em bảo Thầy là ai?” Phêrô thưa: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,13-16; Lc 9,18-22).

Nếu hỏi trực tiếp “Anh em bảo Thầy là ai?” chắc chắn các Tông đồ sẽ bỡ ngỡ, ngạc nhiên, hoặc vì tế nhị mà im lặng, hay không dám nói hết sự thật. Với cách của Chúa Giêsu, các Tông đồ nhập cuộc từ xa, rồi lúc đang hào hứng, sôi nổi, Ngài mới hỏi đến các ông. Dĩ nhiên, các ông trả lời một cách tự nhiên, chân thành và trung thực.

Gia đình. Ta cũng dễ dàng áp dụng cách này để không những thăm dò về cha mẹ họ hàng, mà còn trực tiếp đến con cái.

Ví dụ: đi họp phụ huynh học sinh, mẹ nghe thầy cô giáo nói về tình hình của lớp, của từng thành viên, về các bạn cùng lớp trong làng xã của mình thế này thế này… Thế con thì sao?

Người con có thể sẽ chối, sẽ nói khác đi nếu cha mẹ hỏi trực tiếp. Nhưng với cách thức này, người con hiểu rằng bố mẹ biết rồi, không cần phải giấu giếm, phải nói quanh nữa. Và cha mẹ biết rõ sự thật hơn về con mình.

Giáo dục khởi đi từ những câu truyện

Chúa Giêsu. Ngài thường lấy những hình ảnh đời thường liên quan đến nghề nghiệp và cuộc sống con người; hoặc kể chuyện rồi giải thích giúp cho người nghe dễ hiểu, dễ đón nhận.

Ví dụ: dụ ngôn người gieo giống, người cha nhân từ, con chiên lạc, các thợ làm vườn nho, những nén bạc, lễ phục ngày cưới…

Gia đình. Câu truyện sẽ giúp con cái cảm thấy nhẹ nhõm. Coi mình như một khán giả ngồi trước sân khấu. Tâm hồn nhẹ nhàng, nhập cuộc dễ dàng. Áp lực dạy bảo từ trên sẽ giảm nhỏ đến mức tối thiểu. Và khi giải thích, người nghe tưởng đơn thuần là giải thích truyện. Nhưng thực tế lại là bài học mà ta nhắm tới khi dùng truyện để dạy dỗ. Truyện liên quan đến các lãnh vực nhân bản học làm người, đạo đức, khoa học, tâm lý thì rất nhiều. Ta có thể dễ dàng tìm thấy ở tạp chí, sách vở, báo đài...

Giáo dục khởi đi từ những tiền nhân

Chúa Giêsu. Người xưa bảo rằng, luật xưa dạy rằng “chớ giết người, chớ ngoại tình, chớ ly dị, đừng bội thề, mắt đền mắt, răng đền răng, hãy yêu đồng loại và ghét kẻ thù”. Còn Thầy, Thầy bảo rằng: đừng giận, đừng mắng chửi, đừng bất bình với anh em mình. Còn Thầy, Thầy bảo rằng: chớ nhìn người khác phái mà thèm muốn, chớ ngoại tình dù là trong tâm hồn.

Còn Thầy, Thầy bảo rằng: trời là ngai Chúa, đất là bệ dưới chân Người, Giêrusalem là thành của Đức Vua cao cả. Vì thế, đừng có thề. Mà có thì nói có không thì nói không. Thêm điều đặt chuyện là do ma quỷ. Còn Thầy, Thầy bảo rằng: đừng chống cự mà hãy chia sẻ. Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những người ngược đãi mình. Có như vậy ta mới trở thành con cái của Cha anh em Đấng ngự trên trời (Mt 5,21-48).

Chúa Giêsu đủ khả năng và khôn ngoan để hướng dẫn, thế nhưng Ngài vẫn nhắc lại uy tín và công phúc của tiền nhân. Ngài làm thế vừa tạo cảm giác thân quen cho người nghe, vừa để con cháu tránh đi thái độ phủ nhận, coi thường, đả phá. Và tiếp đó, Ngài nâng cấp để cho thấy, tuy các vị này có nhiều điểm hay, nhưng mà cần phải bổ sung, hoàn chỉnh như thế này thế này. Còn Thầy, Thầy bảo rằng… Người nghe đã được chuẩn bị tâm lý trước khi lĩnh hội một điều tốt và cao hơn.

Gia đình. Với kinh nghiệm và kiến thức nuôi dạy con, cha mẹ có thể nói trực tiếp. Nhưng con cái, tâm lý đôi khi không muốn nghe dạy bảo. Đơn giản vì chúng nghĩ mình là người lớn, đủ khôn ngoan, là trưởng thành rồi, là trung tâm của vũ trụ.

Nếu cha mẹ biết dùng những danh nhân nổi tiếng mà người đời cũng như con cái biết đến và thán phục mà khởi sự cho nội dung hướng dẫn của mình thì chắc chắn có nhiều thuận lợi hơn. Bởi con cái biết là ta cũng có kiến thức, có hiểu biết và kinh nghiệm.

Muốn đạt hiệu quả, đầu tiên ta phải gây được sự chú ý của con cái. Tiếp đến là tạo sự tò mò, thắc mắc, tìm hiểu và cảm thấy thích nghe, hay ít là cần nghe. Sau cùng ta nói điều cần nói.

Giáo dục khởi đi từ những mệnh lệnh

Chúa Giêsu. “Hôm nay con đi làm vườn nho cho ta” (Mt 21,28-32). Ngài không cần phải nại đến các tiền nhân, những câu truyện, hay dựa vào một sự thật, hoặc từ dư luận, mà là một áp lực. Vì giáo dục cần thiết phải có sự đòi hỏi và áp lực.

Cách thức này không phải để biểu dương quyền lực, nhưng vâng lời là việc cần có trong tiến trình trưởng thành nhân cách.

Gia đình. Cách thức này xem ra được các bậc phụ huynh thích dùng. Nhưng nếu lạm dụng nhiều quá thì bầu khí gia đình sẽ căng thẳng, sợ hãi. Khiến cho con cái nghĩ rằng cha mẹ chỉ dùng quyền để áp chế, bắt chúng phải thế này thế nọ.

Như con dao, nếu dùng đúng sẽ phục vụ con người, nếu dùng sai sẽ gây nguy hiểm cho bản thân và cộng đồng. Giáo dục kiểu mệnh lệnh cũng vậy. Phải biết cần thận, nghĩa là dùng lúc nào, tuổi nào, việc nào.

Những chuyện thông thường như quét nhà, rửa ly, giặt quần áo… thì không có vấn đề. Nhưng nếu là tình yêu, tình cảm, tiền bạc, tình nghĩa… mà áp dụng cách này thì thật nguy hiểm.

Cha mẹ nào chẳng thương con. Nhưng là thương cách nào. Nếu không thương đúng cách, chúng sẽ hiểu lầm, nghi ngờ, mất lòng tin, hoặc vô hình chung làm cho chúng hư hỏng. Giáo dục con cái là một chặng đường đầy chông gai, đòi hỏi cha mẹ luôn phải để tâm suy nghĩ, cố gắng phấn đấu học hỏi để có được cách thức tốt nhất. Vì:

Con cái là hồng ân Chúa ban, nên cha mẹ cần tạ ơn Chúa, bởi Ngài đã cho làm mẹ làm cha, và được thay Chúa giáo dục để chúng trở thành con người và thành người con Chúa.

Con cái là kết tinh của tình yêu cha mẹ, nên hãy yêu thương giáo dục chúng với tất cả tình thương yêu và hy sinh.

Con cái cần được chăm sóc kỹ lưỡng, cha mẹ cần quan tâm nhiều hơn, để biết được tình tình, tâm tư nguyện vọng, sở thích… để có thể đưa ra cách thức giáo dục kịp thời, hợp tâm lý.

Con cái còn nhiều sai phạm và lỡ lầm, cha mẹ cần có lòng kiên nhẫn và thứ tha để ngay từ nhỏ, con cái đã hiểu và cảm nhận được thế nào là bao dung nhẫn nại.

Con cái là tương lai của Giáo hội và xã hội, cha mẹ hãy vì sự tồn vong lớn lao này mà đầu tư nhiều hơn. Đầu tư về tiền bạc, thời gian, tình thương, tha thứ, kiến thức, kinh nghiệm, kiên trì, quảng đại, hy sinh, nhẫn nhục…

Con cái là người, mà con người thì huyền nhiệm và khó hiểu, nên không những cha mẹ cần có phương pháp và tâm lý, mà cần thiết hơn cả là lòng đạo đức.

Nếu muốn con cái vâng lời, thì ta hãy vâng lời Thiên Chúa trước.

Nếu muốn con cái kính sợ và mến yêu, ta hãy làm như thế với Thiên Chúa.

Hãy bắt chước Thánh Mônica, chính nhờ lòng đạo đức và mến Chúa, Người đã chỉ cho cách thức khôn ngoan giáo dục con cái. Và hoa trái lớn lao là Thánh Augustinô.

Hãy cầu nguyện thật nhiều để mình thêm đạo đức, nhất là xin ơn kính sợ Chúa. Ơn khôn ngoan dẫn đầu các nhân đức, nhưng ơn kính sợ Chúa mới làm cho các nhân đức ấy phát triển, trổ hoa, kết trái.

Thanh Thanh

Nguồn: ubmvgiadinh.org

TRANG GIÁO LÝ VIÊN

25 Bài Giáo Lý Về Thánh Phaolô

Bài 16: Trong hành trình rao giảng Tin Mừng, Phaolô có nhiều bạn đồng hành và cộng tác với Ngài, những ai là người đáng chú ý?

Khi đi rao giảng Tin Mừng, thánh Phaolô không đi một mình mà thường là có những bạn đồng hành. Vì Ngài đi rao giảng nhiều nơi và nhiều lần khác nhau nên con số những người đi theo thánh nhân cũng thay đổi tùy theo chuyến đi.

Có hơn 30 tên của những người có liên hệ đến công việc truyền giáo với thánh nhân được kể lại trong những thư Ngài viết. Họ là những người cùng đi rao giảng với Phaolô, hoặc những người đưa thư đến các cộng đoàn, hoặc những người xây dựng cộng đoàn điạ phương, hoặc thư ký v.v.…

Điều chắc chắn là những người này đã hỗ trợ Phaolô cả tinh thần lẫn vật chất, thăm viếng, an ủi khi bị cầm tù, giúp Phaolô vượt qua những khó khăn trong việc rao giảng tin mừng.

Trong số hơn 30 tên được nhắc đến, một số tên đáng chú ý nhất là: Timôtê, Titô, Barnabas, Silvanus hay Silas, vợ chồng Priscilla và Aquila, và Appôlô. Trong những người này, Timôtê và Titô đóng vai trò quan trọng đặc biệt vì những lá thư nhắc riêng đến họ.

Timôtê: Phaolô gọi “Timôtê, người cộng tác với tôi” (Rom 16:21), và coi ông là “người con yêu quý và trung tín của tôi trong Chúa.” (1 Cor 4:17), và “Timôtê đã chứng tỏ mình là người có giá trị, bởi vì anh ấy đã cùng với tôi phục vụ Tin Mừng, như con với cha.” (Phil 2:22).

Phaolô cũng kể tên Timôtê như một cộng sự viên cùng gởi lời chào thăm đến các tín hữu Côrintô và cho Philêmon (2 Cor 1:1; Phlm 1:1), và nhắc đến những chia sẻ trong tư tưởng và công việc mục vụ với Phaolô. Timôtê trở thành Kitô hữu ở Lystra (Tiểu Á) trước khi gặp Phaolô. Ông là con một người mẹ Do Thái và người cha Hi Lạp. Phaolô có lòng kính trọng đặc biệt đối với bà Eunice, mẹ Timôtê, và Lois, bà ngoại Timôtê vì lòng đạo đức của họ (2 Tim 1:5). Vì cha Timôtê là người Hi Lap nên Timôtê sinh ra không chịu phép cắt bì như những người Do Thái. Khi Phaolô gặp Timôtê và muốn đem ông theo cộng tác trong việc truyền giáo, Phaolô đã cắt bì cho Timôtê, dù không nhất thiết phải làm vì Phaolô là người đấu tranh cho việc người dân ngoại theo Kitô giáo không cần chịu cắt bì ở công đồng Jerusalem, nhưng để tránh những rắc rối cho người Do Thái theo Kitô giáo vì nhiều người vẫn còn giữ luật cắt bì (Cvtd 16:1-3).

Titô: Không như Timôtê, Titô không bao giờ được nhắc đến trong Công Vụ Tông đồ mà chỉ trong thư của thánh Phaolô mà thôi. Titô là người dân ngoại trở lại, và được Phaolô gọi là “người anh em của tôi” (2 Cor 2:13), là “vừa là bạn đường, vừa là người cộng tác với tôi” (2 Cor 2: 23). Công việc của Titô là sứ giả đưa thư đến cho cộng đoàn Corintô, giáo đoàn mà Titô có nhiều quan hệ thân thiện (2 Cor 7:13-14). Titô cũng giúp Phaolô xin tiền dâng cúng từ giáo đoàn Corintô để giúp giáo đoàn Jerusalem (2 Cor 8:1-7). Điều đặc biệt đáng nhớ về Titô là khi Phaolô về Jerusalem để họp chung với các tông đồ khác để quyết định vấn đề người ngoại (không là Do Thái) có cần cắt bì khi theo Kitô giáo không, Phaolô đã đem theo Titô. Nhờ tài tranh biện của Phaolô và sự hiện diện của Titô, các tông đồ đã quyết định qua phán quyết của Giacôbê là dân ngoại không cần phải chịu cắt bì khi gia nhập Kitô giáo (Gal 2:1-3). Titô trở thành trường hợp điển hình cho người theo Chúa Kitô không cần cắt bì như một nghi thức tôn giáo.

Silvanus là một tiên tri ở Jerusalem (Cvtd 15:32), là sứ giả đưa thư của Phaolô đến cho giáo đoàn Thessalonica (1 Thes 1:1; 2 Thes 1:1). Ông còn giúp Phaolô đi truyền giáo ở Corintô (2 Cor 1:19), và đến với dân ngoại. Phaolô chọn Silanus thay thế cho Barnaba để đồng hành với Ngài trong hành trình truyền giáo lần thứ hai (Cvtđ 15:36-40).

Mt. Nguyễn khắc Hy, S.S.

Nguồn: liendoanconggiao.net

TRANG QUỚI CHỨC

TRONG LÒNG THƯƠNG XÓT

Chủ đề mục vụ của tháng sáu này, đó là: “…hiệp nhất với nhau trong Lòng Thương Xót”. Một triết lý mới sao ?

Chúng ta vẫn thường nghe dạy: Hiệp nhất trong tình thương, trong tình mến, hiệp nhất trong Chúa…, nhưng hiệp nhất trong Lòng Thương Xót thì …đúng là mới nghe.

Thế nhưng, suy đi nghĩ lại, đây không phải là một lệnh truyền mới khác với lệnh truyền của Chúa Giêsu, mà là một điểm nhấn về một khía cạnh tạo nên sự hiệp nhất mà Giáo Hội muốn chúng ta phải hiểu.

Hiệp nhất là sự xích lại gần nhau, không chỉ gần mà là sát vào, dính chặt vào từ nhiều cá thể thành một thực thể lớn hơn, mạnh hơn, chắc hơn…

Làm sao những cá thế khác nhau về hình thể tính chất lại có thể liên kết bền chặt với nhau được ?

Có bao giờ bạn quan sát một tổ ong vò vẽ chưa ? bằng những vật liệu rất tầm thường, nhưng chúng được con ong thợ xây nên làm thành một kiến trúc rất kiên cố, chắc chắn.

Nhìn vào tàn ong chúng ta thấy đó là những hình ống lục giác xếp sát lại với nhau chứ không phải xếp kề nhau, vách của nhà này cũng là vách của nhà kia, vì thế nó tiết kiệm được không gian lẫn vật liệu xây dựng, tạo thành một khối có được độ bền chặt đáng nể phục. Điều chủ yếu là chúng biết kết hợp các cạnh của các ổ ong. Đây có thể được coi là biểu tượng của sự hiệp nhất.

Con người chúng ta cũng thế thôi. Nếu chúng ta chỉ thương mến nhau bằng những ưu điểm mà chúng ta nhìn thấy ở nhau thì chúng ta khó có thể sống gần nhau hơn được, vì mỗi thánh mỗi thể và con người thì như ông bà có nói nhân vô thập toàn, mỗi người có những ưu, khuyết điểm riêng, nếu không chấp nhận lấy cái ưu của mình để lấp đầy cái khuyết của người khác và người khác cũng thế thì tình thương đó rất mong manh, giống như những cái ổ ong đơn lẽ chỉ kết nối với nhau ở những cái góc lục giác của mình thôi thì làm gì có sự bền chặt ?

Hợp đoàn gây sức mạnh, đoàn kết là sống. Con người chúng ta ai cũng có lỗi lầm, thiếu sót, nếu không được chia xẻ, cảm thông thì nó sẽ là một gánh nặng, nhưng nếu được những người khác thông cảm, cùng gánh vác thì chắc chắn người đó sẽ cảm thấy nhẹ nhàng hơn rất nhiều. Người ta nói nếu một con khỉ không may bị thương thì vết thương đó rất khó lành, vì những con khỉ khác vì tò mò đến vạch vết thương ra xem mãi cho nên vết thương rất khó liền da.

Trong dụ ngôn người bạn bất lương, Chúa Giêsu su đã dạy, có lời ông chủ nói như thế này: vì ta đã xót thương tha nợ cho ngươi thì tại sao đến lượt ngươi, người không biết thương bạn của ngươi như ta đã xót thương ngươi ?

Hãy biết bỏ qua lỗi lầm của nhau để có thể sống gần nhau, hãy biết đưa vai gánh đỡ với người khác để đến lượt mình cũng được người khác cảm thông chia xẻ.

Sức người có hạn. Cầu mong sức Chúa mới mong sống đời xẻ chia: yêu người như yêu Chúa.

SỐNG ĐẸP

NGƯỜI LỚN TUỔI CÓ THỂ DẠY CHÚNG TA NHIỀU ĐIỀU

1. Sự lãng mạn

Bạn có bao giờ tự hỏi ông nội và bà nội của bạn đã gặp gỡ và yêu nhau như thế nào chưa? Tình yêu và sự lãng mạn của thế hệ trẻ những thập niên trước khác bây giờ lắm! Bạn hãy tìm hiểu điều này, bạn sẽ biết cách lãng mạn hơn...

2. Giá trị gia đình

Khi sống trong gia đình 2 - 3 thế hệ, bạn sẽ hiểu được giá trị gia đình nhiều hơn. Chỉ qua một bữa ăn, bạn sẽ cảm nhận được không khí ấm cúng của gia đình cũng như sẽ học được, với vai trò người con, người cháu, bạn cần phải cư xử sao cho phải phép.

3. Kế hoạch sống

Với kinh nghiệm của mình, những người lớn tuổi sẽ giúp bạn biết cách lên kế hoạch cho đời mình lúc nào, cần những gì, những gì là quan trọng nhất.

1. Nghệ thuật

Một người lớn tuổi sẽ giúp bạn nhận ra những giá trị đích thực của âm nhạc, hội họa... Sự so sánh của những tác phẩm nghệ thuật cách nay vài mươi năm với hiện tại sẽ giúp bạn cảm nhận khách quan hơn, đầy đủ hơn.

5. Cách cư xử

Những bài học kinh nghiệm đối nhân xử thế của những người lớn tuổi luôn là kho tàng không vơi cạn. Với tất cả những gì đã trải nghiệm, họ sẽ giúp bạn có cách cư xử khéo léo trong cuộc sống.

2. Sự hối tiếc

Người lớn tuổi sẽ thường kể về những điều họ không làm được trong quá khứ. Bạn hãy lắng nghe, nhưng đừng rơi mình vào cơn bão hối tiếc ấy, mà xem đó là những bài học cho bản thân.

Theo Báo Tuổi trẻ

HỎI ĐÁP MỤC VỤ

GIÁ TRỊ THIÊNG LIÊNG CỦA THÁNH LỄ MISA

Hỏi: Xin cha giải thích thắc mắc sau đây:

1- Xin lễ với giá tiền cao và có nhiều cha đồng tế thì có lợi ích thế nào so với lễ Chỉ có một linh mục làm và người xin chỉ có ít tiền xin lễ ?

2- Linh mục có được phép đi làm quảng cáo thương mại cho ai, và có nên xưng “con” với mọi người ở nơi công cộng hay không ?

Trả lời:

1- Về câu hỏi thứ nhất, xin được trả lời như sau:

Như tôi đã có đôi lần viết về vấn đề này , nhưng nay xin được nói lại một lần nữa về lợi ích thiêng liêng của Thánh Lễ Tạ Ơn (Eucharist) hay Lễ Misa (Missa ).

Thánh lễ này được dâng trên bàn thờ ở khắp mọi nơi trong Giáo Hội ngày nay để diễn lại cách bí tích Bữa ăn cuối cùng của Chúa Giêsu với Nhóm Mười Hai Tông Đồ và Hy tế đền tội mà Chúa dâng lên Chúa Cha trên thập giá năm xưa để một lần đền tội thay cho toàn thể nhận loại khỏi phải phạt và chết đời đời vì tội.

Vì thế, Thánh Lễ Tạ Ơn hay Thánh Lễ Misa là đỉnh cao của đời sống Giáo Hội và của toàn thể Dân Chúa đang hiệp thông với Giáo Hội, vì Thánh Lễ là nguồn ban phát ơn Cứu Độ của Chúa Kitô cho chúng ta ngày nay cùng thể thức và mục đích của Hy Tế thập giá mà Chúa Kitô đã dâng lên Chúa Cha trên đồi Calvary xưa kia; đúng như Giáo Hội đã dạy trong Hiến Chế Tín Lý Lumen Gentium, là “mỗi lần hy tế thập giá được dâng trên bàn thờ, nhờ đó “Chúa Kitô, Chiên vượt qua của chúng ta chịu hiến tế (1 Cor 5:7) thì công trình cứu chuộc chúng ta được thực hiện.” ( LG số 3)

Nghĩa là qua Thánh Lễ , chúng ta hiệp thông cùng Giáo Hội dâng lời cảm tạ Chúa Cha cùng với Chúa Kitô và được lãnh nhận ơn cứu chuộc của Chúa một lần nữa lại tái diễn và ban phát cho ta ngày nay mỗi khi Thánh Lễ Tạ Ơn được cử hành ở khắp nơi trong Giáo Hội. Vì mục đích cao trọng này của Thánh Lễ nói chung, nên không có sự khác biệt nào giữa Thánh Lễ do một linh mục tầm thường cử hành , hay do Giám mục và cả Đức Thánh Cha cử hành cũng vậy, vì các vị này chỉ là thừa tác viên (ministers) khi dâng Thánh Lễ nhân danh Chúa Kitô (in persona Christ). Nghĩa là chính Chúa Kitô cử hành Thánh Lễ hay ban phát bất cứ bí tích nào qua tay thừa tác viên con người là Linh mục, Giáo mục hay Đức Thánh Cha.

Vì thế, không hề có sự khác biệt nào về mục đích và ơn ích thiêng liêng của Thánh Lễ do một linh mục cử hành hay do chính Đức Thánh Cha dâng trên bàn thờ như đã nói ở trên. Nói rõ hơn, dù Thánh Lễ chỉ có một linh mục tầm thường cử hành hay có giám mục và nhiều linh mục đồng tế thì cũng không có gì khác biệt về mục đích và ân sủng của Thánh Lễ. Phải nói lại điều này để đừng ai lầm tưởng rằng Thánh Lễ có nhiều linh mục đồng tế thì có giá trị thiêng liêng hơn Thánh Lễ chỉ có một linh mục cử hành.

Liên quan đến vấn đền vấn đề bổng lễ (mass stipends) tức là số tiền người xin lễ bỏ ra để xin một hay nhiều lễ cầu cho ai, thì cần thiết phải nói lại rằng: tiền xin lễ chỉ có mục đích trả thù lao cho linh mục cử hành, theo qui định của Giáo quyền địa phương và theo giáo luật.Thí dụ ở Mỹ, số tiền này được ấn định là 5 hay 10 đôla tùy mỗi giáo phận. Số tiền này chỉ có mục đích đãi ngộ cho linh mục cử hành Thánh Lễ theo tinh thần lời dạy sau đây của Thánh Phaolô :

“Anh em không biết rằng người lo các thánh vụ thì được hưởng lộc Đền Thờ, và kẻ phục vụ bàn thờ thì cũng được chia phần của bàn thờ sao?. Cũng vậy, Chúa truyền cho những ai rao giảng Tin Mừng phải sống nhờ Tin Mừng.” ( 1 Cor 9: 13-14)

Nghĩa là linh mục được quyền hưởng bổng lễ của người xin lễ theo qui định của giáo quyền địa phương.

Nhưng nếu giáo dân nghèo túng, không có tiền xin lễ, thì linh mục vẫn được khuyến cáo dâng lễ cho họ (giáo luật số 945&2) nghĩa là không được từ chối dâng lễ chỉ vì người xin không có tiền dâng cúng.

Một điều quan trọng nữa cần nói lại là linh mục không được phép đòi hỏi người xin lễ dâng số tiền cao hơn mức qui định của giáo quyền địa phương. Đòi tiền nhiều mới chịu dâng lễ là phạm tội mại thánh (simony) cần phải tránh.

Mặt khác, cũng cần phải nói lại ở đây một lần nữa là số tiền người xin lễ dâng cúng dù to hay nhỏ, chỉ có 5 đô hay 500 đô do hảo tâm của người xin lễ bỏ ra, thì cũng không hề có ảnh hưởng gì đến việc Chúa ban ơn thánh của Ngài cho ai được hưởng ý lễ. Nghĩa là ơn thánh của Chúa không thể mua được bằng tiền bạc và Thánh Lễ là vô giá (invaluable) vì không thể mua hay đổi trác được bằng bất cứ báu vật nào của con người.Xin nhớ kỹ điều này để đừng ai lầm tưởng rằng hễ bỏ ra nhiều tiền xin lễ, để được rao tên trong nhà thờ , được thắp thêm đèn nến và kéo chuông inh ỏi thì được nhiều ơn ích thiêng liêng hơn là chỉ có 5 đô xin lễ và linh mục âm thầm cử hành không ai biết đến. Số tiền nhiều hay ít chỉ có giá trị đãi ngộ cho một hay nhiều linh mục dâng và đồng tế Thánh Lễ chứ không có giá trị xin ơn thánh của Chúa ban cho người sống hay cho các linh hồn đã ly trần.Xin nhớ kỹ điều này để đừng ai phải áy náy khi không có nhiều tiền bỏ ra xin lễ, và có đông linh mục đồng tế, hay chỉ có ít tiền xin một lễ không ai biết đến.

Nếu người chết mà khi còn sống đã quyết tâm yêu mến Chúa và tuân giữ các giới răn của Chúa thì dù sau khi chết, không được linh mục nào dâng lễ hay đồng tế, và cho dù xác của mình không được phép mang vào trong nhà thờ như đã xảy ra ở một địa phương kía bên nhà, thì cũng không thiệt thòi gì về mặt thiêng liêng. Ngược lại, một người khi còn sống đã xa lìa hay hoàn toàn chối bỏ Chúa bằng chính đời sống của mình cho đến khi chết, thì tang lễ, hay lễ giỗ có cả Hồng Y, giám mục và hàng trăm linh mục đồng tế thì cũng vô ích mà thôi. Chắc chắn như vậy.

Tóm lại, ơn thánh Chúa ban cho ai là hoàn toàn do lòng nhân hậu và công bằng của Chúa chứ không hề dính dáng gì đến số tiền lớn nhỏ của người xin lễ. Và một thánh Lễ do một linh mục dâng cũng có giá trị như Thánh Lễ của Giám mục , Hồng Y hay chính Đức Thánh Cha, vì không phải cá nhân và phẩm chất của người cử hành mà là chính Chúa Kitô dâng lại hy tế thập giá và diễn lại Bữa Ăn sau hết của Người qua tay các thừa tác viên con người là linh mục, giám mục hay Đức Thánh Cha, cũng là giám mục trong chức năng (competence) như mọi linh mục và giám mục khác. Cho nên, không thể nói là tham dự Thánh Lễ của giám mục, hay của Đức Thánh Cha thì được nhiều ơn ích thiêng liêng hơn là tham dự Lễ của một linh mục không tên tuổi. Xin nhớ kỹ điều này mỗi khi đi tham dự Thánh Lễ.

2- Về câu hỏi thứ 2, xin được nói lại một lần nữa là linh mục của Chúa không thể kiêm thêm “nghề thương mại” để đi làm quảng cáo bán hàng cho một cơ sở thương mại nào; như một linh mục kia đã nằm dài trên chiếc ghế đấm bóp để quảng cáo cho công dụng của loại ghế này. Làm như vây là đã hạ giá vai trò và chức năng linh mục của mình, tự đồng hóa mình với những người buôn bán cạnh tranh trên thị trường thương mại, với những thủ đoạn lường gạt, xảo trá để mong bán hàng cho thật nhiều, bất kể hàng hóa của mình tốt hay xấu, cơ lợi hay làm hại người tiêu thụ.

Với chức năng (competence) là linh mục, thì chỗ đứng và nơi trình diễn của mình phải là bàn thánh, (Altar) giảng đài (pulpit) tòa giải tội (confessional) và giường bệnh nhân, chứ không thể là khán đài với micrô cầm tay để kể chuyện tếu, hay hát những bài ca ướt át để giúp vui trong các tiệc cưới hay hội họp công cộng, nhất là đi rao hàng cho người khác trên truyền thanh và truyền hình.

Linh mục của Chúa Kitô không bao giờ được phép làm những việc này của người đời, nếu muốn sống và hành xử đúng cương vị của mình là linh mục.

Một đều đáng nói nữa là linh mục, khi đứng trước công chúng, thì không đươc tự hạ mình (cách giả dối, không xứng hợp) khi xưng “con” với hết mọi người lớn nhỏ.

Mình không được phép xưng “cha” với ai – trừ với mấy trẻ em, nhưng cũng không nên khiêm nhường giả tạo, lễ độ không đúng chỗ khi tự xưng “con” với hết mọi người trước công chúng.

Trong phạm vi riêng tư, như nói chuyện với mấy cụ già đáng tuổi cha mẹ mình thì linh mục có thể xưng “con” với họ theo văn hóa Viêt Nam. Nhưng trước công chúng, với nhiều thành phần nam nữ lớn nhỏ, và thuộc các tôn giáo khác nhau, thì xưng “con” với mọi người là điều không chính đáng với tư cách là linh mục và cũng không phù hợp với lễ phép theo văn hóa Việt Nam. Xưng hô như thế vừa tự hạ giá mình không chính đáng mà còn gây khó nghe cho người khác, trong đó có nhiều người còn nhỏ tuổi hơn mình không phải là tín hữu công giáo. Tại sao không xử dụng cách xưng hô bình thường và không có gì là thiếu lịch sự hay lễ độ như xưng “tôi” hay “chúng tôi” với người nghe, mà phải hạ mình cách không thích hợp khi xưng “con” với hết mọi người như vậy? Đức khiêm nhường (humility) của Kitô giáo không đòi hỏi phải làm như vậy.

Vì ngôn ngữ Việt Nam đặc thù hơn mọi ngôn ngữ khác, nên cách xưng hô cũng cần áp dụng cho đúng nơi đúng chỗ. Nếu người trẻ mà xưng tao gọi mày với người lớn là vô lễ, là thiếu giáo dục , thì linh mục mà xưng “con” với cả những người trẻ tuổi hơn mình thì lại là điều chướng tai, gai mắt xét về mặt văn hóa và theo phép lịch sự thông thường.

Ước mong ai đang vô tình hay hữu ý xưng hô không thích hợp như trên cần sử lại cách xưng hô của mình trước công chúng để không làm phiền cho người nghe nói chung và cho người Công giáo nói riêng.

Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

Nguồn: conggiaovietnam.net

SUY NIỆM

NHỜ MẸ ĐẾN VỚI CHÚA

Các bạn thân mến

Sau khi Đức Giêsu Phục Sinh được cất lên trời trước mặt các môn đệ, họ đã trở về nhà với lòng đầy tràn niềm vui. Vâng lời Thầy, họ ở lại Giêrusalem cho đến lúc nhận được ơn trên bởi trời. Thế nhưng, ngày xưa mọi sinh hoạt đều có Chúa nên giờ thiếu vắng Thầy, các môn đệ cũng cảm thấy bấp bênh và chơ vơ. Trong hoàn cảnh ấy, họ đã tìm đến Đức Mẹ xin lời khuyên. Mẹ đã bảo các ông hãy chuyên cần cầu nguyện như thói quen Mẹ vẫn thường làm trong suốt cuộc đời mình.

Cầu nguyện là thói quen thường hằng của Mẹ nhờ đã luôn ghi nhớ những gì xảy ra với Chúa và suy đi gẫm lại trong lòng. Từ lúc thiên sứ truyền tin, Mẹ đã bắt đầu khởi sự tập hồi kỳ về Chúa ở trong lòng. Mẹ đã gần gũi và đụng chạm Chúa nhiều nhất trong quãng thời gian thơ ấu của Ngài. Những năm Ngài sống đời công khai rao giảng, Mẹ chỉ hiện diện bên Con với lời cầu nguyện và sự lo lắng của từ mẫu. Tất cả những ký ức vui cũng như buồn về Chúa đều được Mẹ ghi khắc vào tận sâu trong tâm khảm mình. Bên cạnh Chúa những giây cuối đời, chẳng thể thiếu vắng sự hiện diện của Đức Mẹ. Bao roi đòn hằn lên nơi thân xác Giêsu cũng để lại những vết thương lòng nơi Mẹ. Con Yêu bị kết án và hành hình như nô lệ, Mẹ cũng trở thành bia miệng cho người đời dèm pha. Mẹ ôm ấp hình hài Con trong tay như một phần thịt xương đớn đau và bầm dập của chính mình. Thanh gươm ngày xưa ông Si-mê-on đã tiên báo đâm nay đã thực sự đâm thấu tâm can Mẹ. Hơn ai hết, Mẹ là người đồng cảm với Chúa sâu xa nhất nên Mẹ luôn biết cách để kết hiệp với Chúa qua cầu nguyện.

Nhờ cầu nguyện nên Mẹ đã sống tinh thần sầu nhưng không thảm, bi nhưng chẳng lụy. Mẹ tin chắc rằng khổ giá và cái chết của Chúa chẳng phải là đích đến và điểm dừng vì đó Ngài đã đến trần gian. Chúa đến để cứu chuộc nhân loại như lời sứ thần truyền tin cho Mẹ thì công cuộc ấy chẳng thể nào đơn giản kết thúc bởi cái chết của Chúa. Mẹ tin chắc Chúa sẽ làm một điều gì đó thật diệu kỳ ngoạn mục như Ngài đã từng hóa nước thành rượu tại tiệc cưới Cana. Đau khổ và thánh giá Chúa đã trải qua, nhưng Mẹ tin Thánh Giá ấy sẽ khơi nguồn sự sống. Chẳng phải Đức Giêsu đã từng tiên báo Ngài sẽ chết nhưng rồi sẽ Phục Sinh, cái chết chẳng làm chi được Ngài nữa, những kẻ giết hại Đức Giêsu rồi sẽ phải hối tiếc. Mẹ tin mạnh vững vàng như thế nên Mẹ cũng động viên các môn đệ phải lạc quan và phấn chấn lên.

Mẹ thích hướng dẫn người khác cầu nguyện vì đó là điều Chúa Phục Sinh mong muốn khi Ngài hiện ra với Mẹ. Mặc dù, cuộc gặp gỡ này đã không được sách sử nào ghi lại nhưng làm sao Chúa Phục Sinh lại không hiện ra với mẹ đẻ của chính mình. Chẳng có ai trên trần gian này đủ xứng đáng để đón nhận tin mừng Phục Sinh giống như Mẹ. Lời đầu tiên Giêsu đã thốt lên khi hiện ra với Mẹ là lời cảm ơn từ sâu thẳm trong tim mình. Mẹ không nghĩ mình sẽ được diễm phúc như bà góa thành Na-im khi được thấy tận mắt, sờ tận tay thân xác Phục Sinh của Con Yêu. Chúa ủy thác cho Mẹ bảo ban và hướng dẫn đám đồ đệ kém tin như Ngài đã từng trối Mẹ cho Gioan. Từ đây, Mẹ sẽ chính thức là mẫu tử của toàn thể nhân loại mà các môn đệ là đại diện. Chính vì lời căn dặn ấy của Chúa nên Mẹ đã thường xuyên cầu nguyện cùng các môn đệ.

Các bạn thân mến

Chẳng biết do nhân duyên nào nhưng người Việt Nam ta lại có lòng sùng kính Mẹ cách đặc biệt. Ngay từ khi còn bé tí, Kinh kính mừng có lẽ là lời kinh đầu tiên ta thuộc lòng. Ở Việt Nam, Đức Mẹ đã hiện ra nhiều lần. Những nơi Mẹ hiện ra luôn tấp nập khách hành hương đến kính viếng. Nghe tin Đức Mẹ hiện ra hay làm phép lạ ở đâu, người người nô nức đua nhau tới đó. Mỗi bữa kinh tối trong gia đình không thể nào thiếu vắng những lời kinh cầu cùng Đức Mẹ.

Mẹ có một vị thế quan trọng trong đời sống đạo của tín hữu. Có khi ta cảm thấy gần gũi và thân thiết với Mẹ hơn cả với Chúa. Không một vị thánh nào lại chẳng yêu mến Đức Mẹ. Ai muốn nên thánh cũng phải chạy đến nài xin để học đòi những nhân đức của Mẹ. Qua tà áo choàng xinh xắn của Mẹ, Chúa đã tuôn đổ biết bao ơn lành cho nhân gian. Nhiều phép lạ đã được Chúa nhậm lời chỉ vì đã nài xin qua trung gian của Đức Mẹ. Ít ai đã xin khấn cùng Đức Mẹ phải ra về tay không. Đứng trước tình cảnh khốn quẫn của đoàn con nơi dương gian, tấm lòng từ mẫu không thể không ra tay làm phúc.

Môn đệ Gioan đã vâng lời Chúa mà rước Mẹ về nhà mình. Ông rước Mẹ về chẳng phải để chăm sóc Mẹ cho bằng được chính Mẹ bảo ban và hướng dẫn. Hãy noi gương Gioan để rước Mẹ vào đời mình. Mẹ sẽ chăm sóc cho ta để chu toàn sứ mạng mà Chúa đã ủy thác. Chưa có ai thực lòng yêu mến Mẹ mà phải sa hỏa ngục. Chẳng ai có Mẹ trong lòng mà lại không sống đạo đức. Ta hãy phó thác toàn thân mình cho Mẹ, để qua Mẹ và nhờ Mẹ, Người sẽ dẫn ta đến với Chúa.

Jos. Nguyễn Huy Mai, SJ

Nguồn: vietvatican.net

SỐNG LỜI CHÚA

CHÚA NHẬT LỄ MÌNH MÁU CHÚA KITÔ

Mc 14, 12 - 16, 22 -26

Buổi chiều ngày Thứ Năm Tuần Thánh, Chúa Giêsu và các môn đệ đã ăn bữa tiệc Vượt Qua. Trong bữa tiệc cuối cùng của cuộc đời Chúa Giêsu, Ngài đã làm một việc để đời. Bởi vì, chỉ mình Chúa mới biết việc Ngài sẽ làm mà thôi. Các môn đệ đã tìm cho Chúa một căn phòng và các Ngài chỉ phải lo những việc bề ngoài cho bữa ăn như bánh không men, rượu nho và rau diếp đắng. Chúa Giêsu đã tiên liệu nhiều việc cho bữa tiệc Vượt Qua này…

Chiều hôm nay trong bữa tiệc cuối cùng với các môn đệ trước khi Chúa Giêsu đi chịu chết ( Lc 22, 15 ), Ngài đã làm cho các môn đệ thật bỡ ngỡ vì cũng những tấm bánh thường xuyên hằng ngày các môn đệ từng ăn, cũng chén rượu nho, Chúa Giêsu và các môn đệ vẫn uống khi Chúa Giêsu bẻ bánh và trao cho các môn đệ, và nói: “Anh em hãy cầm lấy, đây là mình Thầy” (Mc 14, 22 ). Đối với rượu nho cũng thế, Ngài nói: “Đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra vì muôn người” ( Mc14, 24 ). Như thế, qua hành vi tạ ơn Thiên Chúa Cha, Chúa Giêsu đã biến đổi tận căn và biến bánh, rượu thành Mình và Máu mình. Chịu lấy Mình và Máu Chúa là thông hiệp vào cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu. Chúng ta biết rằng, sau buổi chiều đáng ghi nhớ đó, ngày hôm sáu trên đồi Golgotha, Máu của Chúa đã đổ ra trên thập giá… Chúa Giêsu không còn hình tượng gì nữa. Trên Núi Sọ, Chúa Giêsu chỉ chết một lần, nhưng muôn đời sẽ không bao giờ phai nhòa, nó có ảnh hưởng trên suốt lịch sử cứu độ. Hành vi, cử chỉ của Chúa Giêsu trong nhà tiệc ly, Chúa muốn nó được lập lại mọi ngày cho tới ngày cùng tận: “Anh em hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy” (Lc 22, 19).

Hy lễ trên Núi Sọ sẽ được tái diễn hằng ngày cho đến tận thế. Đó là mầu nhiệm tình yêu, mầu nhiệm hiệp thông và là mầu nhiệm đức tin. Mầu nhiệm tình yêu bởi vì qua cái chết và sống lại của Chúa, Chúa đem hạnh phúc, đem lại ơn cứu độ cho loài người, cho con người. Mầu nhiệm thông vì qua sự chết và sống lại của Chúa, chúng con cũng được tham dự vào cái chết của Ngài…Do đó mỗi lần cử thánh lễ, vị linh mục tái diễn lại lễ hy sinh của Chúa Giêsu trên thập giá. Sự chết của Chúa Giêsu xưa trở thành hiện tại để đem lại ơn cứu độ và hạnh phúc, giải thoát cho con người khỏi mọi tội lỗi ngay lúc này và mọi thời. Tham dự thánh lễ là hiệp thông với Chúa Giêsu qua cái chết và sự phục sinh của Ngài. Khi rước mình và máu Chúa là chúng ta được kết hợp với Đấng đã yêu thương chúng ta và yêu thương cho tới cùng, yêu cho đến chết: “Không có tình yêu nào cao vời bằng tình yêu của người hiến mạng sống vì người mình yêu” (Ga 15, 13) hoặc “Khi nào Ta được giương cao khỏi mặt đất, Ta sẽ kéo mọi người đến cùng Ta”.

Chúng ta được tham dự thánh lễ, được hiệp thông với Đấng chết và sống lại vì chúng ta. Do đó mỗi lần rước mình và máu Đức Kitô là chúng ta sống chính đời sống của Chúa. Chúng ta chia sẻ, cảm thông và giúp đỡ mọi người bởi vì đời sống của chúng ta không còn bị giam hãm trong ích kỷ, tham lam và khép kín. Chịu lấy mình và máu thánh của Chúa là sống trong tình yêu, trong sự hiệp nhất của Đấng đã vì yêu thương con người nên đã chết cho con người. Chịu lấy Chúa vào lòng là để chính Chúa biến đổi đời mình và làm cho đời mình trở nên tinh trong hầu mình có thể chia sẻ và quảng đại giúp người khác, để họ cũng được hạnh phúc như mình.

Có Chúa ở trong lòng, chúng ta sẽ muốn đến với anh chị em,chúng ta mới được thúc đẩy đến với anh chị em vì chính Chúa đã đồng hóa với những người nghèo, người đơn côi, neo đơn, vất vả…

Mình Máu thánh Chúa là mầu nhiệm đức tin, nên càng nhận lãnh Chúa vào lòng, chúng ta càng hăng say, can đảm đem hiến lễ đời mình hiệp với cuộc hiến tế của Chúa Giêsu và với hy tế của anh chị em chúng ta.

Lạy Chúa, xin ban thêm đức tin cho chúng con để chúng con luôn yêu mến,tôn kính Bí Tích Thánh Thể. Amen.

CHÚA NHẬT XI THƯỜNG NIÊN

LÚA TRĨU BÔNG

Mc 4, 26-34

Chúa Giêsu trong ba năm đi giảng dạy, Ngài thường dùng những dụ ngôn, những sự việc thực tế diễn ra xung quanh, xẩy ra trước mắt để dạy dỗ dân chúng. Hôm nay, Chúa Giêsu dùng hai dụ ngôn về Nước Thiên Chúa, đó cũng là hai dụ ngôn về hạt giống. Chúa đã trồng hạt giống Nước Trời trong tâm hồn chúng ta. Chúng ta phải vun xới, dưỡng nuôi hạt giống ấy với tâm hồn đạo đức, với lòng trung tín và nhẫn nại.

Bài Tin Mừng của thánh Máccô cho chúng ta thấy sự lạc quan, hai dụ ngôn nói về hạt giống. Dụ ngôn thứ nhất thuật lại chuyện một người nông dân gieo trồng hạt giống. Một số hạt rơi vào đất tốt. Một số hạt rơi vào đất xấu. Nhưng, hạt giống chị nẩy sinh tươi tốt khi nó rơi vào đất tốt. Còn dụ ngôn thứ hai cho hay rằng hạt giống phát triển, lớn lên mau lẹ trong đất mà người nông dân không hề hay biết. Đó là mầu nhiệm, là phép lạ đối với người nông dân này. Dụ ngôn thứ ba diễn tả hình ảnh thật tương phản giữa hạt giống bé tí teo và cái cây to, khỏe, lớn xinh đẹp mọc lên từ hạt giống bé này. Thực tế, cả ba dụ ngôn đều nói về mầu nhiệm Nước Chúa. Dụ ngôn thứ nhất mạc khải cho biết Nước Thiên Chúa chỉ triển nở và lớn lên trong những tâm hồn thành tâm thiện chí, trong những tâm hồn thánh thiện, đạo đức. Dụ ngôn thứ hai cho thấy Nước Chúa tăng trưởng trong tâm hồn mỗi người chúng ta cách mầu nhiệm lạ lùng, huyền nhiệm chúng ta không hề hay biết. Dụ ngôn thứ ba mạc khải cho chúng ta hay tuy hạt giống trong hồn chúng ta bé nhỏ nhưng rồi sẽ phát triển, tăng trưởng trong tâm hồn chúng ta thành một thực tại hoàn hảo, lạ lùng.

Ba dụ ngôn của thánh Máccô cho chúng ta xác tín mạnh mẽ về mầu nhiệm Nước Trời. Hạt giống âm thầm mọc lên trong tâm hồn chúng ta và như thế khi chúng ta tín thác vào Chúa, Ngài đã gieo trồng hạt giống trong ta, Ngài thấu hiểu những gì đang xẩy ra trong tâm hồn chúng ta dù chúng ta không hề nhận biết. Thứ đến, mỗi người chúng ta phải kiên trì, nhẫn nại bởi vì có khi chúng ta chẳng thấy hạt giống tăng trưởng gì nghĩa là chúng ta chẳng thấy mình đạo đức, thánh thiện gì hơn trước nhưng chúng ta đừng nản, đừng thất vọng. Chúng ta cứ kiên trì vun xới hạt trong tâm hồn chúng ta bằng việc hy sinh, hãm mình, cầu nguyện, lãnh nhận các Bí tích.

Chúng ta luôn phải tín trung và phó thác. Ông bà, Cha mẹ của chúng ta là những mẫu gương tuyệt vời giúp chúng ta noi gương bắt chước…Chính thái độ tín trung, kiên nhẫn phó thác trong tin yêu vào Chúa là sức mạnh, là niềm vui và là động lực giúp chúng ta nhận được ơn của Chúa, và giúp chúng ta thành công trong đời sống làm con Chúa. Vâng, cuộc hành trình đi về Nước Trời, là cuộc lữ hành đức tin thật tuyệt vời, mạnh mẽ và sâu xa, chính đức tin giúp chúng ta nhận ra Nước Chúa đang hiện diện giữa chúng ta, đang hiện diện giữa nhân loại này. Thái độ tín trung chờ đợi luôn luôn là thái độ chúng ta phải có bởi vì hạt giống nào cũng phải đòi hỏi được vùi sâu trong lòng đất. Hạt giống nào cũng đòi hỏi phải được gieo vào thửa đất tốt mới nẩy sinh bông trái tốt đẹp. Hạt giống cũng như con người phải đương đầu với những khó khăn, thử thách như thổ nhưỡng, phân bón, gió, bão…Do đó, chúng ta luôn phải vững bền để sống niềm tin: Chúa luôn kiên nhẫn đợi chờ và giang cánh tay đón chờ chúng ta…Nước Thiên Chúa luôn luôn thành tựu giữa thế gian có thuận nhưng cũng đầy nghịch cảnh. Đừng nản lòng, đừng nhụt chí, hãy luôn kiên nhẫn, phó thách, đợi chờ.

Sứ điệp các Bài đọc và Tin Mừng hôm nay nhắm tới: Chúng ta đã lãnh nhận Bí tích Rửa Tội. Chúa đã gieo trong tâm hồn chúng ta hạt giống Nước Trời, chúng ta phải nuôi dưỡng vun trồng nó bằng cầu nguyện, siêng năng lãnh nhận các Bí tích đặc biệt là Bí tích Giao Hòa và siêng năng, sốt sắng lãnh nhận Mình Máu Thánh Chúa Kitô. Như thế, hạt lúa, hạt giống sẽ mọc lên và trĩu trái.

CHÚA NHẬT XII THƯỜNG NIÊN

SÓNG GIÓ TRONG ĐỜI SỐNG

Mc 4, 35 - 41

Sóng to gió lớn trên biển cả là thử thách lớn lao đối với tàu, thuyền. Trên đại dương, ngoài biển khơi, tàu thuyền sẽ nhẹ nhàng lướt sóng nếu không gặp phong ba bão táp. Tuy nhiên, nếu gió to, sóng lớn nổi dậy, nguy cơ của những tầu bè không đủ tiêu chuẩn dễ sa vào nguy khốn. Cuộc đời con người ai cũng muốn không có những cơn giông tố xẩy ra, nhưng có giông tố mới giúp chúng ta nhận ra chính mình. Do đó, chúng ta những người có đức tin phải chạy đến với Chúa Giêsu và xin Ngài trợ giúp.

Đọc Tin Mừng của thánh Marcô hôm nay, chúng ta nhận thấy việc Chúa Giêsu và các môn đệ sang bên kia biển hồ không phải chỉ là một cuộc di chuyển nơi này qua nơi khác, vùng đất này qua vùng đất khác, cũng như sóng gió, bão táp không chỉ là những hiện tượng khí tượng thuần túy, nhưng nó còn mang một ý nghĩa siêu việt, linh thánh. Sự kiện Chúa Giêsu và các môn đệ rời bỏ vùng Israel để đi về phái dân ngoại, nói lên ý nghĩa truyền giáo. Chúa Giêsu và các môn đệ không chỉ ở một nơi nhưng Ngài và các môn đệ hướng về dân ngoại bởi ơn cứu độ không dành riêng cho một dân tộc, một nước hay một nhóm cá nhân nào, ơn cứu độ thuộc về mọi người. Sóng gió, cuồng phong nói lên sức mạnh kinh khủng của sự dữ, của ma quỷ nổi lên chống lại Chúa và các môn đệ của Chúa Giêsu.

Tin Mừng Mc 4, 37 – 38 viết: “Và một trận cuồng phong nổi lên, sóng ập vào thuyền, đến nỗi thuyền đầy nước. Trong khi đó, Đức Giêsu đang ở đàng lái, dựa đầu vào chiếc gối mà ngủ”. Chúng ta đọc được những lời thật lo âu của các môn đệ: “Thầy ơi, chúng ta chết đến nơi rồi”. Các môn đệ quả thực sợ hãi, họ sợ chết, mà sợ Thầy cũng chết nữa ! Cái chết thể xác không thể cưỡng lại nổi, nếu gió to sóng lớn đánh tan tành thuyền. Rồi các môn đệ than như một lời trách móc cay đắng “Mà Thầy không lo sao ?”. Các môn đệ cứ tưởng Chúa yên tâm để ngủ khi sóng gió bập bùng nổi lên! Chúa biết nhưng chưa tới giờ Ngài thực hiện. Chúa ngủ khiến chúng ta liên tưởng tới cái chết tự nguyện theo ý Thiên Chúa Cha trên Thập giá. Cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá xem ra là thất bại trước mặt con người, các quyền lực sự dữ, ma quỷ, tưởng như đã thành công vì chúng coi như đã tiêu diệt được đối thủ số một của chúng, nhưng chúng đã lầm to, Chúa đã sống lại khải hoàn, sự phục sinh của Ngài biểu trưng sự chiến thắng vinh quang trên mọi quyền lực của ma quỷ, và mọi thế lực chống đối Ngài.

Chúa Giêsu đã thức dậy, đã can thiệp đúng lúc và truyền cho gió bão: “Im đi ! Câm đi” (Mc 4, 39). Tức thì, gió bão im lặng. Các môn đệ cảm thấy nhẹ nhõm vì không còn hoang mang, sợ sệt, lo lắng. Biển lặng tượng trưng cho lòng con người được an bình, được yên lặng. Sự an bình thực cao quí vì thiếu sự bình an, lòng chúng ta sẽ xôn xao, hoang mang và sợ sệt. Tâm hồn con người có lòng tin sẽ vững luôn gió có gặp sóng gió, bão táp cuộc đời. Chính tin và phó thác vào Chúa sẽ giúp chúng ta bình tĩnh giữa phong ba bão táp cuộc đời.

Chúa Giêsu nói với các môn đệ: “Sao nhát thế?”. Chúa đang có đó trên thuyền cùng với các môn đệ. Vậy, tại sao các môn đệ lại sợ sệt, nhát đảm, sợ chết !

Chắc chắn các môn đệ hoang mang bởi vì các ngài chưa vững tin hay chưa tin tưởng thật sự vào Chúa ! Do đó, Chúa khiển trách các môn đệ: “Làm sao mà anh em vẫn chưa có lòng tin?” (Mc 4, 40). Các môn đệ sau biến cố biển động, bão táp, đã nhận ra Chúa.

Cuộc hành trình lữ thứ của Hội Thánh và của mỗi Kitô hữu được ví như một cuộc ra khơi. Chúa luôn hiện diện, Chúa luôn can thiệp dù rằng có những lúc Giáo Hội và chúng ta tưởng chừng Chúa ngủ quên giữa lúc chúng ta đang gặp phong ba bão táp. Điều quan trọng là chúng ta có biết chạy đến với Chúa để xin Ngài giúp chúng ta vượt qua những cơn phong ba bão táp cuộc đời hay không ?

Chúng ta mượn lời của một nhà bác học để kết thúc bài suy niệm này: “Ôi ân sủng diệu kỳ, âm thanh ngọt ngào biết bao ! Đã cứu kẻ đọa đầy là con đây ! Con như bị lạc mất, giờ được nhìn thấy. Đã mù lòa giờ thấy được ánh dương…Con đã trải qua bao gian khổ, nhọc nhằn, chông gai cạm bẫy. Ơn sủng Ngài đã gìn giữ con an toàn đến ngày hôm nay. Ân sủng Ngài cũng sẽ dẫn con về tới quê nhà”.

CHÚA NHẬT XIII THƯỜNG NIÊN

CHÚA GIÊSU LUÔN QUAN TÂM ĐẾN CON NGƯỜI

Mc 5, 21 – 43

Đọc Tin Mừng Chúa Giêsu, chúng ta nhận thấy mỗi tác giả Phúc Âm đều có những nét riêng biệt diễn tả con người của Đức Kitô. Tuy nhiên, dù có những điểm khác biệt trong Tin Mừng của mình. Nhưng tất cả các tác giả Tin Mừng đều cố gắng với sự linh hứng của Chúa Thánh Thần đều nói lên tính cách trung thực và đồng nhất về Chúa Giêsu Nagiarét, Đấng Cứu Thế đã đến trong thế gian. Thánh Máccô trình bầy Chúa Giêsu như Một- Con -Người-Chúa, một người luôn yêu thương và cảm thông với chúng ta. Các bài đọc Chúa nhật XIII thường niên, năm B, đặc biệt đoạn Tin Mừng của thánh Máccô nhằm giới thiệu một Đức Kitô nhân từ, giàu lòng thương xót. Ngài luôn quan tâm, săn sóc và yêu thương, giúp đỡ con người. Tin Mừng Mc 5, 21 - 43 thuật lại hai phép lạ Chúa Giêsu đã làm để cứu vớt con người. Phép lạ thứ nhất, Chúa làm cho đứa bé con ông trưởng Hội đường Giairô, chết sống lại. Phép lạ thứ hai, Chúa làm cho người đàn bà bị bệnh băng huyết lâu năm được khỏi. Cả hai phép lả được Chúa làm là do lòng tin của con người. Ông trưởng hội đường đã tỏ thái độ tin sâu xa khi Ông khẩn khoản nài xin Chúa Giêsu: “Con bé nhà tôi gần chết rồi. Xin Ngài đến đặt tay trên cháu, để nó được cứu thoát và được sống” (Mc 5, 23).Còn người đàn bà bị bệnh băng huyết từ lâu đã có một đức tin thật đáng nể: “Tôi mà sờ được vào áo của Người thôi, là sẽ được cứu” (Mc 5, 28). Nơi Ông Giairô. Lòng tin được biểu lộ cách cụ thể, mãnh liệt, rõ ràng, còn nơi người đàn bà, lòng tin rụt rè, kín đáo. Nhưng dù lòng tin có mãnh liệt hay rụt rè, tất cả đều nói lên đức tin của con người. Và như thế, đức tin là yếu tố quyết định để Chúa làm phép lạ.

Ở đây, chúng ta nhận ra rằng trong đời sống truyền giáo, đời sống phục vụ của Chúa Giêsu, Ngài luôn dành thời gian cho mọi hạng người. Dù người có địa vị như ông trưởng Hội đường, hay người vô danh tiểu tốt như người đàn bà đang bị bệnh, Chúa luôn yêu thương họ như nhau. Mỗi người đều có chỗ đứng trong trái tim của Người. Tin Mừng cho chúng ta thấy rất nhiều lớp người đã tới với Chúa Giêsu và chính Người cũng đã tới với nhiều lớp người trong xã hội. Chúa luôn yêu mến mọi người với trái tim con người. Người là Chúa, nhưng qua việc Nhập thể, Ngài đã chấp nhận kiếp sống làm người, ngoại trừ tội lỗi, do đó, Người chia sẻ kiếp người và cảm thông với những nỗi vui buồn của con người. Chúa đã cầm tay chúng ta bằng chính đôi tay của Người, gọi tên chúng ta, và làm cho chúng ta sống lại nhờ Người tẩy sạch tội lỗi cho chúng ta. Chúa đã nuôi dưỡng chúng ta bằng chính Mình Máu của Người.

Cuộc đời của mỗi người chúng ta ở trần gian là một cuộc hành trình đức tin. Con người chúng ta sống bằng đức tin chứ không chỉ duy tình cảm hời hợt bên ngoài. Bởi vì nếu chỉ dựa vào tình cảm chúng ta sẽ dễ chán nản, thất vọng … Đức tin sẽ giúp chúng ta vượt thắng mọi sự. Cuộc đời có lúc vui, có lúc buồn, có lúc thuận, có lúc nghịch nhưng chúng ta vẫn giữ vững một niềm tin.

Chúng ta tin khi có Chúa ở với chúng ta, chúng ta sẽ chiến thắng tất cả bởi vì Chúa đã nói trong Tin Mừng: “Không có ta chúng con thể làm được gì” và Chúa hứa: “Ta sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”. Thánh Phaolô đã rất xác tín: “Tôi sống không còn là tôi sống mà là Đức Kitô sống trong tôi”. Đối với Chúa, chúng ta tất cả đều được ngài quan tâm. Chúa Giêsu luôn luôn dành thời gian cho chúng ta.

Chúa đã yêu thương chúng ta như một người Cha nhân hậu tốt lành. Ngài biết chiên và gọi tên từng con chiên: “Ta đến để cho chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10, 10). Chúa luôn tôn trọng sự tự do của chúng ta và để chúng ta đáp trả lại tình yêu ấy. Xin Chúa giúp chúng con luôn biết đáp trả tình thương của Chúa như một đứa con ngoan, một đứa con hết sức thảo hiếu bằng cách luôn hướng về Chúa trong mọi cơn thử thách, nguy nan.

Lạy Chúa Giêsu, xin ban thêm lòng tin cho chúng con để chúng con luôn đặt niềm tin tín thác nơi Chúa. Amen.

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi

THẦN HỌC KINH THÁNH

ÔNG MÔSÊ VỊ LÃNH ĐẠO BẦU CỬ CHO DÂN ISRAEL

Một trong những nét đẹp nhất nơi gương mặt của ông Môshê đó là ông luôn bầu cử cho dân Israel trước mặt Thiên Chúa, xin Ngài nguôi giận và tha thứ cho dân. Ở đây lời cầu của ông là lời cầu bầu cử. Chương 24 sách Xuất Hành kể lại việc ký giao ước với Giavê Thiên Chúa. Thiên Chúa ra lệnh cho ông Môshê cùng đi lên với Aharon, Nadab, Abihu và 70 kỳ mục Israel. Họ được nhìn thấy Chúa của Israel; dưới chân Người như có nền lát bằng lam ngọc trong vắt như chính bầu trời. Người không ra tay hại những bậc vị vọng của Israel; họ được chiêm ngưỡng Thiên Chúa, và sau đó họ ăn uống. Đức Chúa phán với ông Môshê: ”Hãy lên núi với Ta và ở lại đó; Ta sẽ ban cho ngươi những bia đá: Luật và mệnh lệnh Ta đã viết ra để dạy dỗ chúng”. Ông Môshê đứng lên cùng với người phụ tá là ông Giôsuê, rồi ông Môshê lên núi của Thiên Chúa. Ông nói với các kỳ mục: ”Các ông đợi chúng tôi ở đây cho tới khi chúng tôi trở lại với các ông. Đây có ông Aharon và ông Khua ở với các ông. Ai có việc gì cứ đến với hai ông ấy.” Ông Môshê lên núi.

Bấy giờ mây bao phủ núi. Vinh quang của Đức Chúa ngự trên núi Sinai và mây bao phủ núi sáu ngày. Đến ngày thứ bảy, từ giữa đám mây Người gọi ông Môshê. Vinh quang Đức Chúa xuất hiện trên đỉnh núi trông giống như ngọn lửa thiêu, trước mắt con cái Israel. Ông Môshê vào giữa đám mây và đi lên núi. Ông Môshê ở trên núi bốn mươi ngày bốn mươi đêm” (Xh 24,9-18).

Chương 32 kể lại tội chối bỏ Thiên Chúa của dân Israel. Đây là tội nặng nhất mà dân Israel sa phạm nhiều lần trong lịch sử. Trong bối cảnh của sách Xuất Hành nó càng nặng hơn nữa vì họ vừa mới ký kết giao ước với Giavê Thiên Chúa nhận Ngài làm Chúa của họ và họ trở thành dân riêng của Ngài. Dân Israel đợi lâu không thấy ông Môshê xuống núi nên họ làm áp lực với ông Aharon, xin ông làm cho họ một vị thần để dẫn đầu họ. Ông Aharon thu góp tất cả khuyên vàng của dân lại và đúc một con bò vàng. Bấy giơ họ nói: ”Hỡi Israel, đây là thần của ngươi đã đưa ngươi lên từ Ai Cập”. Thấy vậy ông Aharon dựng một bàn thờ trước tượng con bê rồi hô tô: ”Mai có lễ kính Giavê !” Trong tội thờ tà thần này ông Aharon có lỗi rất lớn, vì là tư tế mà không ngăn cản dân phản bội Thiên Chúa, lại còn nhượng bộ họ và gọi con bò vàng là Giavê (Xh 32,6).

Sau bao nhiêu năm sống bên ai Cập, dân Israel đã bị ảnh hưởng nặng nề của các dân ngoại có tục tôn thờ thần bò mộng. Bò mộng là thần linh được tôn thờ nhất trong vùng Trung Đông Cổ: tại Canaan, tại Ugarit và bên Siria, nơi thần Baal Khadad là thần bão tố tay cầm sấm sét đứng trên con bò mộng. Hình thần bò mộng này cũng được tôn kính tại miền Ai Cập Hạ. Tượng bò mộng Apis được tôn kính trong đền thờ Heliopolis, như là nhập thể của thần Osiride, và con bò mộng Mnevis được tôn kính trong đền thờ Ptah ở Memphi như là nhập thể của thần mặt trời. Vua Giêroboam đã từng ở bên Ai Cập, vì thế khi tách rời khỏi vương quốc thống nhất để thành lập vương quốc Israel miền bắc, ông đã cho đúc tượng hai con bò vàng và đặt ở hai trung tâm thờ tự Bethel và Dan, như kể trong chương 12 sách các Vua I. Vua Giêroboam ra lệnh cho dân không được lên Giêrusalem làm việc tế tự nữa, mà đến hai trung tâm thờ tự Betel và Dan để tế lễ. Sự ly khai chính trị và tôn giáo này kéo dài cho tới khi Samaria, thủ đô của vương quốc miền bắc, bị phá hủy bởi tay của người Assiri năm 722 trước công nguyên, và dân Israel miền bắc bị đầy sang Ninive.

Chương 32 sách Xuất Hành kể tiếp: ”Ngày hôm sau, họ dậy sớm, dâng tiến những của lễ toàn thiêu và những lễ vật kỳ an. Dân ngồi ăn uống rồi đứng lên bầy trò vui chơi. Đức Chúa phán với ông Môshê: ”Hãy đi xuống vì dân ngươi đã hư hỏng rồi, dân mà ngươi đã đưa lên từ đất Ai Cập. Chúng đã vội đi ra ngoài con đường Ta đã truyền cho chúng đi. Chúng đã đúc một con bò, rồi sụp xuống lạy nó, tế nó và nói: ”Hỡi Israel, đây là thần của ngươi đã đưa ngươi lên từ đất Ai Cập.” Đức Chúa lại phán với ông Môshê: ”Ta đã thấy dân này rồi, đó là một dân cứng đầu cứng cổ. Bây giờ cứ để mặc Ta, cứ để cơn thinh nộ của Ta bừng lên phạt chúng, và Ta sẽ tiêu diệt chúng. Nhưng Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn.”

Ông Môshê cố làm cho nét mặt Đức Chúa, Thiên Chúa của ông dịu lại. Ông thưa: ”Lậy Đức Chúa, tại sao Ngài lại bừng bừng nổi giận với dân Ngài, dân mà Ngài đã giơ cánh tay mạnh mẽ uy quyền đưa ra khỏi đất Ai Cập? Tại sao người Ai Cập có thể rêu rao: Chính vì ác tâm mà Người đã đưa chúng ra, để giết chúng trong miền núi và tiêu diệt chúng khỏi mặt đất? Xin Ngài nguôi cơn thịnh nộ và xin Ngài thương đừng hại dân Ngài. Xin Ngài nhớ đến các tôi tớ Ngài là Abraham, Igiaác và Giacóp; Ngài đã lấy chính danh Ngài mà thề với các vị ấy rằng: Ta sẽ làm cho dòng dõi các ngươi đông đúc như sao trên trời, và sẽ ban cho dòng dõi các ngươi tất cả miền đất đã hứa; chúng sẽ được thừa hưởng miền đất ấy đến muôn đời.” Đức Chúa đã thương không giáng phạt dân Người như Người đã đe.”

Cuộc đối thoại giữa ông Môshê và Thiên Chúa trên đây và lời cầu của ông nêu bật một khía cạnh tuyệt đẹp và cao qúy nơi gương mặt của người lãnh đạo. Mỗi một người lãnh đạo phải là một người biết bầu cử cho dân trước mặt Thiên Chúa.

Tác giả chương 32 kể tiếp như sau: ”Ông Môshê từ núi trở xuống, tay cầm hai tấm bia Chứng Ước; những bia ấy có viết cả hai mặt, mặt trước cũng như mặt sau. Những bia ấy là do Thiên Chúa làm ra, chữ là chữ của Thiên Chúa khắc trên các bia.

Ông Giôsuê nghe tiếng dân reo hò, thì nói với ông Môshê: ”Có tiếng giao tranh trong trại!” Nhưng ông Môshê nói: ”Tôi nghe không phải tiếng ca chiến thắng, không phải lời than bại trận mà là tiếng ca đối đáp!”

Vậy khi đến gần trại, ông thấy con bê và những bọn người đang nhảy múa. Ông Môshê nổi cơn thịnh nộ. Ông ném các tấm bia đang cầm trong tay và đập vỡ dưới chân núi. Ông lấy con bê họ đã làm đốt đi, tán nhuyễn ra, rắc lên mặt nước, rồi bắt con cái Israel uống.

Ông Môshê bảo ông Aharon: ”Dân này đã làm gì mà ông đưa họ tới chỗ phạm một tội lớn như thế? Ông Aharon nói: ”Xin ngài chớ bừng bừng nổi giận; chính ngài biết dân này có khuynh hướng xấu. Họ nói với tôi: Xin ông làm cho chúng tôi một vị thần để dẫn đầu chúng tôi, vì chúng tôi không biết chuyện gì đã xảy ra cho cái ông Môshê này, là người đã đưa chúng tôi lên từ Ai Cập. Tôi nói với họ: ai có vàng? Họ đã gỡ đồ vàng đeo tai và đưa cho tôi; tôi ném vào lửa và đã ra con bê này.”

Ông Môshê thấy dân sống buông thả, vì ông Aharon đã để họ sống buông thả, khiến họ nên trò cười cho địch thủ của họ. Với sự trợ giúp của các con cái Levi ông đã đánh phạt những kẻ sống buông thả, và đặt các Lêvi thay thế các tư tế.

Ngày hôm sau ông Môshê nói với dân: ”Anh em đã phạm một tội lớn, nhưng giờ đây tôi sắp lên gặp Giavê; may ra tôi sẽ xin được Người xá tội cho anh em.” Ông Môshê trở lại với Giavê và thưa: ”Than ôi, dân này đã phạm một tội lớn! Họ đã làm cho mình một tượng thần bằng vàng! Nhưng giờ đây ước gì Ngài đừng chấp tội họ! Bằng không, thì xin Ngài xóa tên con khỏi cuốn sách Ngài đã viết.” Giavê phán với ông Môshê: ”Kẻ nào phạm tội làm mất lòng Ta, Ta sẽ xóa tên nó khỏi cuốn sách của Ta. Bây giờ ngươi hãy đi, đưa dân tới nơi Ta đã chỉ cho người. Này thiên sứ của Ta sẽ đi trước mặt ngươi; nhưng đến ngày Ta trừng phạt, Ta sẽ trừng phạt chúng vì tội chúng đã phạm.” Giavê đánh phạt dân vì họ đã đúc con bê, chính con bê mà ông Aharon đã đúc.

Sau đó ông Môshê ”lấy một chiếc lều và đem dựng cho mình bên ngoài trại, cách một quãng xa. Ông gọi lều ấy là Lều Hội Ngộ. Ai thỉnh ý Giavê thì ra Lều Hội Ngộ, ở ngoài trại. Mỗi khi ông Môshê ra Lều, toàn dân đứng lên, ai nấy đứng ở cửa lều mình và nhìn theo ông Môshê cho đến khi ông vào trong Lều. Mỗi khi ông Môshê vào trong Lều, thì cột mây đáp xuống, đứng ở cửa Lều, và Giavê đàm đạo với ông Môshê. Khi thấy cột mây đứng ở cửa Lều, toàn dân đứng dậy; và ai nấy phủ phục ở cửa lều mình. Giavê đàm đạo với ông Môshê, mặt giáp mặt, như hai người bạn với nhau. Rồi ông Môshê trở về trại; nhưng phu tá của ông là chàng thanh niên Giôsue, con ông Nun, thì cứ ở trong Lều, không rời khỏi đó.”

Tiếp đến ông Môshê lại chuyển cầu cho dân, xin Giavê Thiên Chúa coi dân Israel là dân của Ngài và đi với họ, như thế ông và dân khác với mọi dân tộc trên mặt đất. Thiên Chúa hứa sẽ làm những gì ông xin. Nhưng khi ông Môshê xin Thiên Chúa cho ông được thấy mặt Ngài, thì Giavê trả lời: ”Ngươi không thể trông thấy tôn nhan Ta, vì con người không thể thấy Ta mà vẫn sống”. Thiên Chúa cho ông thấy sau lưng của Ngài bằng cách đặt ông vào hốc đá và lấy bàn tay che ông cho đến khi Ngài đi qua. Tiếp đến Ngài sai ông đẽo hai bia đá giống như hai bia đá trước để Ngài khắc trên đó những lời đã ghi trên bia đá ông đã đập vỡ, rồi sáng sớm lên núi chờ Ngài trên đỉnh núi. Giavê ngự xuống trong đám mây và đứng đó với ông. Người xưng danh Người là Giavê. Giavê đi qua trước mặt ông và xướng: ”Giavê! Giavê! Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín, giữ lòng nhân nghĩa với muôn ngàn thế hệ, chịu đựng lỗi lầm, tội ác và tội lỗi, nhưng không bỏ qua điều gì, và trừng phạt con cháu đến ba bốn đời vì lỗi lầm của cha ông. Ông Môshê vội vàng phục xuống đất thờ lạy và thưa: ”Lậy Chúa, nếu qủa thật con được nghĩa với Chúa, thì xin Chúa cùng đi với chúng con. Dân này là một dân cứng đầu cứng cổ, nhưng xin Ngài tha thứ những lỗi lầm của chúng con, và nhận chúng con làm sự nghiệp của Ngài”...

Khi ông Môshê xuống núi tay cần hai tấm bia, ông không biết rằng mặt ông sáng chói bởi đã đàm đạo với Thiên Chúa. Sau đó ông lấy khăn che mặt, cho đến khi vào đàm đạo với Thiên Chúa mới lấy ra.

Linh Tiến Khải

Nguồn: vietvatican.net

MỘT CHÚT TÂM TÌNH

Những Bài Học Quá Khứ Không Bao Giờ Thuộc

70 năm đã trôi qua kể từ khi Đệ Nhị Thế Chiến chấm dứt tại châu Âu. Nhân dịp này ĐTC Phanxicô đã kêu gọi nhân loại rút ra bài học từ những sai lầm trong qúa khứ. Ngài đã đưa ra lời kêu gọi trên đây vào cuối buổi tiếp kiến chung sáng thứ tư mùng 6 tháng 5 vừa qua.

ĐTC nói với hơn 50.000 tín hữu và du khách hành hương tham dự buổi tiếp kiến:

“Trong các ngày tới đây tại một số thủ đô sẽ có lễ tưởng niệm 70 năm chấm dứt Đệ Nhị Thế Chiến tại Âu châu. Trong dịp này tôi phó thác cho Chúa, nhờ lời chuyển cầu của Mẹ Maria Nữ Vương Hòa Bình, uớc mong rằng xã hội nhân loại học được bài học từ những sai lầm qúa khứ và đứng trước những cuộc xung đột hiện nay đang xâu xé một số miền trên thế giới, tất cả các vị hữu trách dân sự dấn thân trong việc tìm kiếm công ích và thăng tiến hòa bình.”

Đệ Nhị Thế Chiến đã kéo dài từ ngày mùng 1 tháng 9 năm 1939, khi quân Đức Quốc Xã tấn công Balan, cho tới ngày mùng 6 tháng 5 năm 1945 trại Âu châu, và ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại Á châu. Chiến tranh đã mau chóng lôi cuốn các nuớc thành hai phe đồng minh và phe trục và bùng nổ tại Âu châu, vùng biển Địa Trung Hải, Phi châu, Trung Đông, Đông Nam Á, Trung quốc, Đại Tây Dương và Thái Bình Dương.

Phía Trục có Đức, Italia và Nhật Bản. Phe Đồng Minh bao gồm Liên Xô, Hoa Kỳ, Anh quốc, Trung Hoa, Pháp và nhiều nước khác.

Đã có nhiều lý do châm ngòi cho Đệ Nhị Thế Chiến bùng nổ. Trong số các lý do xa phải kể đến thế đối kháng giữa hai nước Pháp Đức và các thù hận cháy âm ỉ từ phía Đức, vì đã phải nhường vùng Alsace Lorraine cho Pháp sau khi thua trận trong Đệ Nhất Thế Chiến cũng như phải để cho Pháp khai thác mỏ than vùng Saar.

Thứ hai là chính sách bành trướng và mộng đế quốc của Đức Quốc Xã thực thi chương trình Đức hóa, bằng cách tái vũ trang các lực lượng quân sự để chiếm đất, và bỏ Hiệp hội các quốc gia, lấn chiếm nước Áo và Tiệp Khắc với sự cho phép nhượng bộ của Pháp, Anh quốc và Italia.

Thứ ba là việc xích lại gần nhau giữa Đức Quốc Xã và Phát xít Italia làm thành trục Roma – Berlin, và sự kiện Mussolini chấp nhận Liên hiệp chống cộng sản có sự tham dự của Nhật Bản, rồi chấp nhận liên minh Italia - Đức.

Thứ bốn là các đối kháng giữa Italia và Pháp và giữa Italia và Anh quốc, vì Italia đòi chủ quyền trên các vùng Nice, Savoia và đảo Corse, cũng như vì các lợi nhuận khác biệt trong vùng Bắc Phi và các âu lo mà chính sách duy quốc gia và quân sự của Italia dấy lên tại Anh quốc, là nước có các căn cứ hải quân quan trọng trong biển Địa Trung Hải.

Và thứ năm cuộc xung đột giữa Nhật Bản và Trung Quốc vì năm 1937 Nhật Bản xâm lăng Trung Quốc và làm nảy sinh ra một cuộc chiến đẫm máu. Thêm vào đó Hitler đòi quyền kiểm soát thành phố cảng Danzig và “hành lang Ba Lan” khiến cho Pháp và Anh quốc lo lắng. Hai quốc gia này đã luôn hy vọng loại trừ quyền lực của nhóm Bolxêvích nảy sinh với sự trợ giúp của Đức Quốc Xã. Giờ đây hai nước lại liên minh với Liên Xô để hãm cuộc chạy tới chiến tranh của Hitler. Nhưng Hitler mưu mô hơn, bằng cách từ bỏ đường lối chống cộng sản và ký kết thoả hiệp không tấn công với Stalin, theo đó hai bên tôn trọng nhau trong trường hợp có xung đột, và tạo ra các thỏa hiệp chia nhau Ba Lan và các nước vùng Baltic.

Và thế là các phe hăng say dùng mọi thứ khí giớí tối tân để bắn giết và tàn sát nhau, gây ra cảnh chết chóc, đổ vỡ tang thương trên toàn Âu châu và nhiều nơi khác trên thế giới. Sáu năm chiến tranh đã khiến cho khoảng 50-60 triệu người chết, có danh sách nói đến hơn 70 triệu người. Thật ra, không ai biết chính xác số người đã bị chết vì bom đạn, đói khát bệnh tật là bao nhiêu. Liên Xô có hơn 23 triệu người chết, trong đó có 12, 3 triệu binh sĩ; Trung quốc có 19,6 triệu người chết, trong đó có 15,5 triệu binh sĩ; Đức có 7,6 triệu người chết, trong đó có 5,5 triệu binh sĩ. Ba Lan có hơn 5,6 triệu người chết, trong đó có 5,5 triệu binh sĩ; Nhật Bản có hơn 2,6 triệu người chết trong đó có hơn 1,9 triệu binh sĩ; Ấn Độ có hơn 1,5 triệu người chết, trong đó có hơn 36 ngàn binh sĩ; Indonesia có 400.000 người chết; trong khi Đại Hàn có 378 ngàn người chết; Hoa Kỳ có 413 ngàn người chết, trong đó có 405 ngàn binh sĩ; Anh quốc có 365 ngàn người chết, trong đó có 272 ngàn binh sĩ.

Khi Đệ Nhị Thế Chiến chấm dứt, trong Âu châu có hơn 64 triệu người tỵ nạn, hơn 40 triệu người bị bứng rễ khỏi quê hương, cộng thêm 13 triệu người bị đuổi khỏi các vùng ở Đức rồi bị sát nhập vào Ba Lan, Liên Xô và Tiệp Khắc, hơn 11 trỉệu người bị đi đầy thuộc nhiều quốc tịch khác nhau được tìm thấy bên Đức. Còn các tàn phá vật chất thì mênh mông trong mọi nước lâm chiến: 25% tại Liên Xô, 13% tai Đức, 8% tại Italia, 7% tại Pháp, và 3% tại Anh quốc. Đó là chưa kể tới hàng chục triệu người bị thương suốt đời phải sống trong cảnh tàn phế, và hàng chục triệu trẻ em mồ côi.

Với hai thế chiến tàn khốc và hơn 185 cuộc chiến đó đây trên năm châu, thế kỷ XX đã là thế kỷ trong đó con người đã tàn sát nhau dã man hơn súc vật. Giờ đây nhân loại đã bước sang thế kỷ XXI được 15 năm, nhưng lại có các cuộc chiến mới không kém phần đẫm máu và tàn khốc như đang xảy ra tại Iraq, Siria, Libia, Somalia, Nigeria, Yemen, lần này thì nấp sau bình phong Hồi giáo và cũng có sự tham dự của nhiều quốc gia trên thế giới qua dịch vụ buôn bán vũ khí kiếm lời. Tình hình tồi tệ đến độ ĐTC Phanxicô đã gọi đây là “Đệ Tam Thế Chiến từng mảng một”.

Xem ra nhân loại đã không bao giờ thuộc những bài học quá khứ, mặc dù đã phải đổ ra biết bao nhiêu xương máu và mồ hôi nước mắt.

Linh Tiến Khải

Radio vatican