1. LỜI CHỦ CHĂN

2. DIỄN GIẢI THƯ MỤC VỤ

3. LỜI NGUYỆN CHUNG

4. ÁP DỤNG THỰC HÀNH

5. TÌM HIỂU GIÁO LUẬT

6. TRANG LINH MỤC

7. TRANG TU SĨ

 8. TRANG SỐNG ƠN GỌI

9. TRANG THIIẾU NHI

10. TRANG GIỚI TRẺ

11. TRANG GIA ĐÌNH

12. TRANG GIÁO LÝ VIÊN

13. TRANG QUỚI CHỨC

14. SỐNG ĐẸP

15. HỎI ĐÁP MỤC VỤ

16. SUY NIỆM

17. SỐNG LỜI CHÚA

18. THẦN HỌC KINH THÁNH

 19. MỘT CHÚT TÂM TÌNH

 

 

1. LỜI CHỦ CHĂN

Vĩnh Long ngày 25.06.2015

Kính gửi: Quý Cha

              Quý Tu sĩ nam nữ

              Và tất cả anh chị em Gp. Vĩnh Long

 

V/v SAU NHỮNG LỄ LỚN

Sau những ngày tháng đặc biệt, thí dụ tháng 5 Hội Thánh và chúng ta tôn kính Đức Mẹ, tháng 6 tôn kính Trái Tim Chúa. Chúng ta còn lại những gì?

Dĩ nhiên, Chúa vẫn thương tiếp tục gìn giữ chúng ta. Trái tim Chúa quan tâm đến gia đình chúng ta, an ủi và thánh hóa từng con người chúng ta. Đức Mẹ vẫn là Mẹ của Hội Thánh và của mỗi người chúng ta, giúp chúng ta đến với Chúa và đón nhận tình thương cứu độ của Chúa Giêsu.

Chúa và Mẹ không ngừng giúp chúng ta đón nhận và đáp lại tình thương của Chúa. Tuy không có những ngày lễ lớn, những thánh lễ long trọng, những cuộc rước kiệu, nhưng chúng ta vẫn sống những ngày bình lặng trong Chúa.

“Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”. Chúng ta sẽ có thời giờ để tâm đến Chúa vẫn yêu thương và trung thành với chúng ta. Từng cử chỉ nhỏ, từng lời trong đời sống của Chúa vẫn nhắc nhở: chúng ta không bị Thiên Chúa quên đi, Chúa vẫn nhớ đến chúng ta, cứu chuộc và tha thứ, ban hết ơn này đến ơn khác cho chúng ta, để chúng ta lớn lên trong hiểu biết và trong tình mến đối với Chúa (không có Chúa, chúng ta chẳng làm được việc gì). Tình thương của người khác đối với ta có thể sẽ xuống dốc, sẽ nhàm chán đi. Chỉ có Chúa mới khơi ngọn lửa tình yêu cháy bừng trong tim ta. Và tương tợ như vậy, ta mới có khả năng tha thứ và phục vụ cho đồng loại.

Cũng vậy, việc tiếp cận những người trong ngoài gia đình có thể về lâu dài xuống chất và nhàm chán. Chỉ có Mẹ là “ngôi sao sáng”, là “Mẹ Chúa vinh quang” mới giúp ta yêu mến Mẹ và bắt chước Mẹ để yêu mến Chúa mọi lúc mọi nơi; yêu mến và phục vụ anh chị em trong mọi hoàn cảnh lớn nhỏ.

Tóm lại, Chúa và Mẹ luôn thương yêu chúng ta và giúp chúng ta biết thương Chúa và mọi người như Mẹ. Chúng con cám ơn Mẹ.

Lm. Phêrô Dương Văn Thạnh

Giám Quản GP. Vĩnh Long

 

2. DIỄN GIẢI THƯ MỤC VỤ

Tháng 07/2015

TÂN PHÚC-ÂM-HOÁ GIÁO XỨ:

CANH TÂN ĐỜI SỐNG VÀ CON NGƯỜI LINH MỤC

  “Ai muốn làm người đứng đầu

thì phải làm người rốt hết, và phục vụ mọi người” (Mc 9,35)

 Dẫn vào

Là cộng đoàn hiệp thông trong Lòng Thương Xót của Chúa, giáo xứ và các cộng đoàn nhỏ hội thánh kết hợp thường xuyên với Chúa Kitô như cành nho gắn liền với cây nho, cách cụ thể và hữu hình, nhờ hiệp thông với vị mục tử đứng đầu cộng đoàn hội thánh địa phương. Là kitô hữu môn đệ Chúa Kitô, người linh mục cần đón nhận lòng thương xót thần linh trước hết cho bản thân mình, và qua thừa tác vụ, cho dân Chúa, và cho mọi người. Thật vậy, công cuộc Tân Phúc-Âm-hóa trước tiên phải được tiến hành khởi đi từ hàng linh mục (x. Đại hội Dân Chúa 2010). Nếu như ngày nay nhiều Kitô hữu đi lạc hướng và sai lầm, thì đó là vì nhiều thừa tác viên của Chúa đã chối bỏ nhiệm vụ hướng dẫn luân lý cho đàn chiên của Đức Kitô, và vì họ im lặng hoặc tệ hơn họ rao giảng không xác tín và sai lầm nên các tín hữu bị lạc hướng, và trở nên càng mỏng dòn trước những tấn công của nền “văn hóa” thế tục hóa, lương tâm bị ô nhiễm và bất an hơn.

 Để có thể trở thành môn đệ đích thực và mục tử như lòng Chúa mong ước, người linh mục phải là con người của cầu nguyện, lấy Thánh Thể làm nền tảng và trung tâm điểm của đời sống, có trái tim được nắn đúc nên giống Thánh Tâm Chúa Giêsu, sống độc thân khiết tịnh, vâng phục, là khí cụ và là Tiền hô của Lòng Thương Xót; là thừa tác viên của Bí tích Hòa giải; là người hướng dẫn luân lý cho cộng đoàn; phục vụ công cuộc Tân Phúc-Âm-hóa...

 1. Là con người của cầu nguyện

 “Anh em hãy lánh riêng ra đến một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút.” (Mc 6,31)

 Thời gian người thừa tác viên lánh riêng xa dân chúng (những kẻ vẫn mong đợi nghe lời Chúa và những dấu chỉ cụ thể của tình yêu Chúa) không phải là rời bỏ sứ vụ. Nhưng chính là để cho sứ vụ. Thời gian của thinh lặng và nghỉ ngơi, thời gian ở một mình với Chúa trong cầu nguyện, kết hợp người môn đệ với nguồn mạch của sứ vụ, với Đấng đã gọi mình làm tông đồ và sai mình đi. Lánh riêng ra một nơi, tạm xa các hoạt động của sứ vụ để nghỉ ngơi và cầu nguyện, thật ra nói lên điều này: sứ vụ không phải là của tôi, nhưng thực ra là của Chúa. Thời gian ở riêng với Chúa như thế, thời gian của cầu nguyện hằng ngày, hồi tâm hằng tháng, tĩnh tâm hằng năm, không làm giảm bớt hiệu quả công việc của sứ vụ, trái lại rất cần yếu để hoàn thành sứ vụ cách đầy đủ, vâng phục theo Đấng đã gọi và sai đi.

 2. Thánh Thể là nền tảng và tâm điểm của đời sống linh mục

 Người linh mục, con người cầu nguyện, luôn trở nên ý thức hơn toàn thể cuộc sống linh mục của mình là để phục vụ cho Mầu nhiệm đức tin (Mysterium fidei), Mầu nhiệm Nhập thể Cứu chuộc, vốn được kinh nghiệm trực tiếp trong Bí tích Thánh Thể. Hiến tế Thánh Thể là biểu hiện trọn vẹn nhất đức ái mục tử của Chúa Giêsu Kitô. Nhờ ân sủng bí tích Truyền Chức Thánh, Linh mục nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô trong đức ái mục tử; tâm hồn của linh mục được ghi dấu mãi mãi bởi thực thi đức ái mục tử của Đức Kitô, nhằm lợi ích cho mọi người. “Đời sống thiêng liêng của linh mục được ghi khắc, khuôn đúc, đặc trưng bởi thái độ hành vi của chính Đức Kitô, là Đầu và Mục tử của Hội Thánh, vốn bao gồm trong đức ái mục tử”.[1] Chính bởi hy lễ Thánh Thể vì ơn cứu độ của thế giới mà Linh mục thực hiện cách trọn vẹn và hoàn hảo nhất tác vụ thượng tế của Đức Kitô, vốn là điều ngài được gọi và bởi đó mà ngài được thánh hiến. Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II khi tham chiếu đặc biệt đến sự biểu lộ cao cả nhất của chức tư tế, đã nhắc nhớ đến lời của vị Giám mục đang phong chức khi ngài đặt lễ vật dâng tiến cho Thánh lễ trong bàn tay của vị tân Linh mục, ngài nói: “Con hãy đón nhận những lễ vật của dân thánh làm hiến lễ Thánh Thể. Hãy ý thức việc con làm, noi theo điều con cử hành, làm cho đời con nên giống mầu nhiệm thánh giá Chúa Kitô”.[2]

 Bởi thế, nguyên lý nội tâm, nhân đức làm sinh động và hướng dẫn đời sống thiêng liêng người linh mục, như kẻ nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô là đầu và mục tử, là đức ái mục tử. Thế nên, linh mục cần:

 3. Có một trái tim giống Thánh Tâm Chúa Giêsu

 Việc tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu trong truyền thống xuất phát từ sự tôn sùng Thánh Thể, và làm gia tăng lòng mến đối với Thánh Thể. Chúa Kitô đã yêu và yêu “cho đến cùng” (Ga 13,1), chết trên thập giá vì chúng ta, để cho trái tim Người bị đâm thâu, ban tặng chúng ta một dấu vô song của tình yêu Người cho Hội Thánh. Thánh Thể là tặng phẩm vĩ đại nhất Thánh Tâm Chúa dành cho chúng ta. Chúng ta kinh nghiệm trực tiếp tình yêu của Thánh Tâm Chúa Giêsu hiện diện nơi các linh mục nhất là khi các ngài dâng Thánh lễ.

 4. Độc thân khiết tịnh: hoàn toàn thuộc về Chúa Kitô

 Tham dự vào thừa tác vụ linh mục của Đức Kitô Thượng Tế trong tình yêu mục tử được diễn tả cách rất thích đáng và thuyết phục qua hiến lễ của người linh mục dâng lên Thiên Chúa, vì tình yêu đối với Người và Dân của Người, dâng trọn vẹn con người và đời sống, tất cả tình cảm và những khuynh hướng tính dục của mình. Khi các linh mục thực sự vui sống đời hiến dâng như thế, các tín hữu không thể không nhận thấy trong tình yêu độc thân ấy một phản chiếu tình yêu trung thành và bền vững của Đức Kitô dành cho họ. Tình cảm tự nhiên lẽ ra vốn dành cho người bạn đời và con cái trong cuộc hôn nhân, người linh mục cùng với Chúa Kitô dâng cho Thiên Chúa Cha, hầu có thể được biến chuyển thành tình yêu mến dành cho tất cả dân Người. Không thể sống đời độc thân vì Nước Trời mà không có sự trợ giúp bởi ơn Chúa.

5. Vâng phục: thực thi ý muốn Đấng sai tôi đi

 “Người nào vâng phục thì tùng phục Thiên Chúa, vâng theo thánh ý của Ngài được diễn tả qua ý của các bề trên mình. Người ấy đón nhận người đại diện Chúa nơi một con người thụ tạo”.[3] Hành vi tự do mà người tiến chức hứa vâng phục Giám mục và những đấng kế vị ngài phải được làm mới lại mỗi ngày trong cầu nguyện: “Nhưng xin đừng theo ý con, một xin vâng ý Cha”. Chúng ta dĩ nhiên vâng phục chính Chúa Kitô trên hết, rồi cũng vâng lời Đức Giáo hoàng và Đức Giám mục giáo phận. Qua vâng phục, linh mục biểu lộ sự kính trọng và yêu mến Đức Kitô, từ đó cứu lấy và thăng tiến sự hiệp nhất trong Giáo hội giữa các thừa tác viên tông đồ.

 Vâng phục như thế không phải là chối bỏ tự do của con người, đúng hơn, đó là thực thi sự tự do cách trọn vẹn nhất, vì nó giúp cho người linh mục suy nghĩ, nói năng, và hành động chỉ vì Thiên Chúa mà thôi; tự do phục vụ Chúa và tha nhân, và sau cùng, tự do đối với lòng tư dục của mình.

 Đức Trinh nữ Maria là Mẹ của các linh mục. Là anh em của Đức Kitô theo một danh nghĩa trổi vượt nhất, các linh mục cũng được hưởng tình mẫu tử mà chính Đức Kitô đã vui hưởng, tình thương tuôn chảy từ Trái Tim Vô Nhiễm của Đức Maria Mẹ Người, được thụ thai không mang một vết tì tích nào của tội lỗi để hoàn toàn thuộc về Người suốt quãng đời trần thế.

Câu hỏi thảo luận

 1. Tôi nên làm gì để giúp các linh mục sống đúng căn tính linh mục của mình?

 2. Tôi có nghĩ rằng Phúc-Âm-hóa các linh mục phải đồng thời với Phúc-Âm-hóa các thành phần khác của Dân Chúa không? Tại sao?

 3. Theo anh chị, Phúc-Âm-hóa bắt đầu từ hàng linh mục, nhưng cụ thể bắt đầu từ đâu?

 ––––––––––––––––

 [1] Thánh GH Gioan Phaolô II, Pastores Dabo Vobis, s.21.

[2] De Orinatione Episcopi, Presbyterorum e Diaconorum, “De Ordinatione Presbyterorum”.

[3] Thánh GH Gioan Phaolô II, Tiếp kiến chung, 7.12.1994.

 

Lm.  Luy Nguyễn Anh Tuấn

Nguồn: ubmvgiadinh.org

 

3. LỜI NGUYỆN CHUNG

Kêu mời: Anh chị em thân mến,

Giáo xứ là cộng đoàn dân Chúa, được hướng dẫn bởi các vị chủ chăn trong Hội Thánh. Muốn Tân Phúc Âm Hoá Giáo Xứ, trước tiên cần canh tân đời sống và con người linh mục. Chúng ta cùng hiệp ý cầu nguyện:

1.       Chúa phán: “Con có yêu Ta hơn những người này không? Hãy chăn các chiên của Ta”. Chúng ta cầu nguyện cho hàng Giáo phẩm Hội Thánh được đầy lòng tin mến Chúa, để chăn dắt đoàn chiên Hội Thánh đến quê hương bình an.

2.       Chúa phán: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và phục vụ mọi người”. Chúng ta cầu nguyện cho các linh mục của Chúa Kitô biết tận tình yêu thương và phục vụ mọi người trong giáo xứ mình.

3.       Chúa phán: “Ta đến để phục vụ và hiến mạng sống làm giá cứu chuộc mọi người”. Chúng ta cầu nguyện cho các linh mục biết canh tân đời sống và con người mình, hầu chu toàn sứ mạng mà Chúa đã giao phó cho mình.

4.       Chúa phán: “Khi con trở lại, con hãy củng cố đức tin của các anh chị em con”. Chúng ta cầu nguyện cho giáo xứ chúng ta luôn ủng hộ các linh mục chu toàn bổn phận chủ chăn của các ngài, nhằm tân phúc âm hoá đời sống giáo xứ.

Kết thúc: Lạy Chúa, Chúa muốn mọi người ở mọi nơi mọi thời được cứu rỗi. Xin Chúa ban Thánh Thần đến canh tân đời sống và con người các linh mục, giúp các ngài có nhiều sáng kiến phục vụ ơn cứu rỗi cho các cộng đoàn giáo xứ. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô…Amen.

 

4. ÁP DỤNG THỰC HÀNH

THÁNH HÓA VÀ CANH TÂN CÁC LINH MỤC

Hơn bao giờ hết, linh mục cần phải nên thánh, để có thể đối phó với biết bao vấn đề đang được đặt ra. Khắp nơi đang có những hồi chuông báo động thúc giục linh mục phải nên thánh.

Tại Việt Nam, trong đạo ngoài đời, Chúa đang dùng nhiều dấu chỉ cho thấy: Tình hình đạo đức tuỳ thuộc rất nhiều ở việc linh mục có lo nên thánh hay không.

Ý thức điều đó, nhiều người vốn tha thiết với việc thánh hoá linh mục, nay càng tha thiết hơn.

Phải làm gì? Tất nhiên là phải cầu nguyện. Để việc cầu nguyện thánh hoá linh mục có thể hướng dẫn các suy tư về vấn đề này được phong phú và cụ thể hơn, chúng ta nên đi vào ba tình yêu, mà linh mục cần có để nên thánh. Đó là:

- Tình yêu Đức Giêsu Kitô.    

- Tình yêu Hội Thánh.  

- Tình yêu con người, nhất là người nghèo.

1/ Tình yêu Đức Giêsu Kitô

Khi tiếp xúc với bất cứ linh mục nào, người ta vẫn mong muốn gặp được Chúa Giêsu trong ngài.

Thánh Phaolô nói: "Tôi sống, nhưng không phải tôi sống, mà là Chúa Giêsu sống trong tôi" (Gl 2, 25).

Ước chi mỗi linh mục đều có thể nói câu đó về chính mình.

Khi diễn tả tâm tình của mình đối với Chúa Giêsu, thánh Phaolô quả quyết: "Tôi coi mọi sự đều là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Giêsu Kitô, Chúa của tôi... Vì Người, tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như rác, để được Đức Giêsu Kitô và được kết hợp với Người" (Ph 3, 8 - 9). Tâm tình trên đây là ngọn lửa nồng nàn.

Trong những tiếp xúc, người nhạy bén dễ nhận ra ngọn lửa nào vốn thường xuyên nung nấu tâm hồn người mình gặp gỡ. Lửa đó sẽ bốc ra từ miệng lưỡi, ánh mắt, và thái độ của mỗi người. Lửa yêu mến Đức Kitô và các giá trị cao thượng thì khác lửa nung nấu những khát vọng về xác thịt, thế tục và tội lỗi.

Những tiếp xúc với các linh mục càng dễ nhận ra điều đó. Bởi vì linh mục được coi là một thứ gương chuyên phản ánh lửa tình yêu Chúa.

Lửa mến Chúa Giêsu là lửa mến Chúa Cứu thế, Đấng đã quỳ gối xuống rửa chân cho các môn đệ, Đấng là người chăn chiên tốt lành, lặn lội đi tìm các con chiên lạc, Đấng đã phó mình chịu chết trên cây thánh giá để cứu chuộc nhân loại.

Thật là sung sướng, khi nhận được lửa mến đó tỏa ra từ con người linh mục, nhất là khi ngài giảng dạy và ban các bí tích.

Tuy nhiên, không thiếu kẻ ghét các linh mục khi các ngài chia sẻ lửa mến Chúa cho môi trường xung quanh. Những kẻ đó là ma quỷ và các thứ tinh thần thế tục chống đối Tin Mừng Đức Giêsu Kitô.

Vì thế, khi cầu cho linh mục được thêm lửa mến Chúa, chúng ta nghĩ tới những cản trở không muốn lửa đó được phát triển trong linh mục và được đón nhận trong thế giới tục hoá hiện nay.

2/ Tình yêu Hội Thánh

Trước hết, tôi hiểu Hội Thánh một cách bình dân sơ đẳng. Theo đó, Hội Thánh là những ai được Chúa ban quyền, để lo đời sống đạo cho người tín hữu. Đời sống đạo là những gì phải tin, những gì phải xin, những gì phải lãnh, những gì phải giữ.

Rồi, Hội Thánh cũng là cộng đoàn những người có đạo. Hội Thánh như thế là một đại gia đình, có sự sống thiêng liêng, có trật tự riêng, được Chúa thiết lập và được Chúa điều khiển.

Cái nhìn đơn sơ đó khiến chúng ta yêu mến những ai lo đời sống đạo cho mọi người, đồng thời cũng yêu mến những người cùng có đời sống đạo.

Tình yêu Hội Thánh là một tình yêu gắn bó. Gắn bó một cách chân thành, hiếu thảo khiêm nhường và có trách nhiệm.

Hội Thánh còn được hiểu như liên đới giữa các đặc sủng khác nhau. Thánh Phaolô viết: "Chính Chúa đã ban ơn cho kẻ này làm tông đồ, kẻ nọ làm ngôn sứ, kẻ khác làm người loan báo Tin Mừng, kẻ khác nữa làm người coi sóc và dạy dỗ" (Ep 4, 11).

Khi nhìn Hội Thánh như một cộng đoàn gồm nhiều người mang những đặc sủng khác nhau, tôi phải cúi đầu tôn phục Chúa. Một sự tôn phục kèm theo sự khiêm tốn trong các thái độ đối với những người mang đặc sủng. Khiêm tốn yêu thương, khiêm tốn cộng tác với họ, trong tinh thần hiệp nhất.

 

Các linh mục là những kẻ lãnh nhận được rất nhiều trong Hội Thánh. Vì thế các ngài có bổn phận dùng những gì đã được trao ban. Đối với các ngài, yêu mến Hội Thánh là hãy tận dụng những ơn Chúa ban cho các ngài vì ích chung Hội Thánh. Tận dụng nói đây là phục vụ hết sức mình những trách nhiệm mà bề trên đã uỷ thác.

3/ Tình yêu con người

Càng ngày người ta càng thấy: Những giá trị thuyết phục nhất của một tôn giáo chính là những gì tôn giáo đó làm cho con người, cho đồng bào và cho đất nước. Đặc biệt là trong công trình kiến tạo văn hoá hoà bình và phục vụ những người nghèo khổ. Với cái nhìn đó, những hoành tráng nội bộ đã không chứng minh được nhiều cho tâm linh cao quý của tôn giáo.

Đạo Công giáo là đạo bác ái. Kinh Thánh quả quyết như thế. Hội Thánh khẳng định như vậy. Dư luận cũng muốn có cái nhìn đẹp đẽ đó về đạo ta.

Trên thực tế, nhiều sinh hoạt đạo ta đã đi vào thân phận những người khổ đau. Chia sẻ nỗi lo. Thương cảm cảnh nghèo. Dấn thân giúp cho xã hội được công bình hơn. Sống mầu nhiệm nhập thể, để dân tộc được từng bước đi lên.

Vì thế, cầu cho linh mục được nên thánh là cầu cho linh mục biết yêu thương phục vụ những người nghèo khổ và thăng tiến con người.

 

5. TÌM HIỂU GIÁO LUẬT

DÒNG BA

Trong những tháng vừa qua, chúng ta đã cùng tìm hiểu về đời sống tu trì trong Giáo hội qua các Dòng tu, các Tu hội đời và các Tu đoàn tông đồ, rồi đến những lối sống tu trì đặc biệt như là Ẩn tu và các Trinh nữ (đ.603, 604). Ngoài ra, Giáo hội còn nói đến một hình thức của “Dòng Ba”. Như vậy “Dòng Ba” có phải là một dòng tu không? Và các thành viên của Dòng ba có phải là các tu sĩ không?

Để trả lời cho những câu hỏi nầy, chúng ta khởi đi từ lời dạy của Giáo hội có đề cập đến hình thức nầy:

Được gọi là Dòng Ba hay với tên nào khác tương tự, những hiệp hội gồm các thành viên sống giữa đời nhưng dự phần vào tinh thần của một Dòng tu, làm việc tông đồ và tiến tới sự hoàn thiện dưới sự điều hành tối cao của Dòng tu đó (đ.303).

Ngược dòng lịch sử Giáo hội chúng ta tìm về nguồn gốc xuất phát Dòng ba mà Bộ giáo luật hiện hành đề cập tới.

1.       Lịch sử hình thành và tên gọi

Tên gọi Dòng Ba có lẽ bắt nguồn chính thức từ dòng thánh Phanxicô Assisi, nó nhằm để phân biệt với “Dòng nhất” và “Dòng nhì”: Dòng nhất ám chỉ các nam tu sĩ, dòng nhì là các nữ tu kín, còn dòng ba là những nam nữ giáo dân sống giữa đời.

Thật ra, lịch sử cho chúng ta biết hình thức Dòng ba xuất hiện trong lịch sử Giáo hội trước dòng Phanxicô. Chẳng hạn như từ thế kỷ VIII, đã có nhiều giáo dân muốn chia sẻ nếp sống tu trì của các đan sĩ Biển đức dưới nhiều dạng thức. Những người giáo dân xin đến trọ tại các đan viện, tình nguyện làm không công, và bù lại họ muốn được tham gia vào sinh hoạt phụng vụ của nhà dòng. Đôi khi họ cũng mặc áo dòng như các đan sĩ, nhưng họ không tuyên khấn.

Đến thế kỷ XII-XIII, chúng ta lại chứng kiến một hiện tượng khác, đó là: nhiều phong trào giáo dân nổi lên, yêu cầu cải cách Giáo hội, bằng việc trở về với nếp sống khó nghèo của Phúc âm. Việc yêu cầu nầy không dừng lại ở việc kêu gào bằng miệng, nhưng còn bằng chính đời sống thực hành của họ. Những phong trào nầy mang danh là đoàn ngũ các hối nhân (ordo penitentium).

Đến khi dòng Đaminh và dòng Phanxicô xuất hiện thì các đoàn ngũ nầy đến nhờ các tu sĩ của những dòng nầy hướng dẫn và cũng chia sẻ lý tưởng Phúc âm mà hai thánh tổ phụ của các dòng nầy đề ra, thậm chí họ còn xin mặc tu phục của hai dòng nầy nữa. Từ đó, hàng ngũ hối nhân chia thành hai ngành, ngành xám (màu áo dòng Phanxicô) và ngành màu đen (màu áo choàng của dòng Đaminh).

Vì đã thành đoàn ngũ, ắc phải có quy chế. Do đó, lần lượt các bản luật của họ cũng được soạn ra: luật của ngành xám được Tòa thánh phê chuẩn từ năm 1289 (đức GH Nicola IV); còn luật của ngành đen thì được cha Munio de Zamora soạn từ năm 1285, nhưng mãi tới năm 1405 mới được Tòa thánh châu phê. Lần lượt Tòa thánh cũng châu phê bản luật của các dòng khác soạn cho các giáo dân muốn chia sẻ tinh thần của dòng mình, chẳng hạn: dòng Augustino (1399 cho nữ giới và 1470 cho nam giới), dòng Carmêlô (1452), v.v...

Từ những văn kiện (năm 1292) dòng Phanxicô đã sớm gọi hàng ngũ hối nhân của mình là “Dòng Ba Phanxicô”, chứ các dòng khác thì mãi mấy thế kỷ sau mới du nhập từ ngữ Dòng Ba, nên có thể gọi Dòng Ba phát xuất từ dòng Phanxicô.

2.       Hội viên và linh đạo

Bản luật của Dòng ba Đaminh được soạn năm 1285 đã dự trù một thời kỳ tập luyện là 1 năm, và sau đó hội viên tuyên khấn. Tuy nhiên, bản chất pháp lý của lời khấn Dòng ba không được coi như tương đương với lời khấn của các tu sĩ. Điều nầy càng rõ ràng hơn khi mà trong số các hội viên Dòng ba, một vài người đã họp nhau thành cộng đoàn, tuân giữ một bản luật khác với bản luật dành cho các giáo dân. Người ta gọi họ là “Dòng ba tu trì” (tertiarii regulares), đối lại với “Dòng ba đời” (tertiarii seculares).

Các hội viên Dòng ba tu trì – đa số là nữ giới – sống thành cộng đoàn, giữ ba lời khấn dòng; họ chỉ khác với các đan sĩ nữ dòng nhì ở chỗ là họ không ở trong nội vi, công việc của họ chuyên lo tông đồ và bác ái. Đó cũng là nguồn gốc của các dòng nữ tu hoạt động tông đồ vào thời nay.

Cũng nên biết rằng không phải tất cả các thành viên Dòng ba là những người có gia đình. Do những điều kiện khắt khe về các nữ tu thời đó (dòng kín, nội vi kín cổng cao tường...), nên một số người muốn sống đời tận hiến nhưng họ không thể vào các nhà dòng được nên họ chọn cách sống Dòng ba tu trì nầy.

Dần dà các cộng đoàn Dòng ba tu trì lớn mạnh, cách riêng từ thế kỷ XV, thì vai trò của các hội viên Dòng ba đời bị giảm. Nhiệt tình của phong trào “hối nhân” giám sút. Vì thế, các nghĩa vụ của họ cũng được giảm nhẹ. Tính cách pháp lý của lời khấn hứa của họ cũng không đáng kể. Mãi đến cuối thế kỷ XIX, các Dòng ba đời mới được phục hồi, nhưng thường được đồng hóa với các hội đoàn đạo đức cầu nguyện, nhưng không tác dụng vào đời sống Giáo hội cách mạnh mẽ như hồi thế kỷ XIII-XIV nữa.

3.       Dòng Ba và các tên gọi khác hiện nay

 

6. TRANG LINH MỤC

LINH MỤC VÀ LUẬT ĐỘC THÂN

Luật độc thân dành cho linh mục trong Giáo Hội Công giáo vẫn được nhiều người quan tâm, và trong thời gian gần đây lại được một số cổ võ cho vấn đề để linh mục lập gia đình.

Tháng 8 năm 2003, hơn 160 linh mục trong tổng giáo phận Milwaukee, Hoa Kỳ, ký đơn xin Đức Tổng Giám mục Timothy Dolan cho họ được đem vấn đề Luật Độc Thân của linh mục ra bàn luận trong hội đồng linh mục, và họ yêu cầu luật này phải được coi là một Sự Lựa Chọn hơn là một Sự Bắt Buộc.

Gần đây, khi một số anh em linh mục Anh giáo xin gia nhập giáo hội Công giáo, đề tài Luật Độc Thân của linh mục cũng được đem ra bàn luận vì phần lớn những anh em Anh giáo đã có gia đình.

Riêng với Giáo Hội Công giáo La Mã, chúng ta hiểu gì về luật độc thân của linh mục? Trong bài này, tôi xin trình bày về lịch sử luật độc thân trong Giáo Hội hơn là ý nghĩa linh đạo của luật này.

Giáo Hội Công Giáo La Mã và Các Giáo Hội khác

Một trong những hiểu lầm của nhiều người ngoài Công giáo là đồng hoá vấn đề linh mục độc thân với những tín điều hay tín lý của giáo hội. Họ cho rằng trong Thánh Kinh, một số các tông đồ không sống độc thân, tại sao giáo hội Công giáo La Mã lại bắt các linh mục ngày nay sống độc thân? Một số anh em Tin Lành cực đoan còn kết án giáo hội Công giáo là đi ngược lại những gì không có trong Thánh Kinh.

Với Giáo Hội Công giáo, chính sách độc thân chỉ áp dụng cho linh mục của Giáo Hội Công giáo La Mã, vì Giáo Hội Công giáo Đông Phương không bắt các linh mục của họ sống độc thân. Cũng như Giáo Hội Chính Thống hay những Giáo Hội Đông Phương (nhưng không là Công giáo), Giáo Hội Công giáo Đông Phương cho phép linh mục được lập gia đình, nhưng không cho phép những người độc thân nhận chức linh mục lập gia đình sau khi đã làm linh mục. Nghĩa là, họ được phép lập gia đình trước khi chịu chức linh mục, nhưng không được phép sau khi nhận chức linh mục.

Với những người lập gia đình, nếu vợ qua đời, họ không được phép tục huyền (lấy vợ khác). Riêng với giám mục, Giáo Hội Công giáo Đông Phương chỉ chọn từ những linh mục độc thân mà thôi.

Trong Giáo Hội Công giáo La Mã, luật độc thân áp dụng cho linh mục và giám mục. Nhưng đây không là vấn đề thần học hay tín điều, nhưng chỉ là vấn đề kỷ luật mục vụ trong Giáo Hội mà thôi.

Chúng ta cùng nhau tìm hiểu luật mục vụ được giáo hội đặt ra trong lịch sử.

Những Thời Điểm Quan Trọng

Lịch sử luật độc thân thật ra không đồng nhất trong thời kỳ đầu của Giáo Hội. Bắt nguồn từ Do Thái giáo, những Kitô hữu đầu tiên thi hành những luật áp dụng cho Tư Tế trong đạo Do Thái. Những tư tế không được ăn ở với vợ trước khi dâng lễ hiến tế.

Đức giáo hoàng Siricus, trong một sắc lệnh ban bố ngày 10 tháng 2 năm 385 Directa Decretal đã nói đến tư tưởng bắt nguồn từ Cựu Ước này: "Chúng ta đã khám phá trong lời sách Lêvi, Đức Chúa phán: "Các ngươi phải nên thánh và phải thánh thiện, vì Ta là ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của các ngươi." (Lêvi 20:7). Tại sao Chúa cảnh cáo những người làm công việc thánh thiêng những lời này: "Các con phải nên thánh như ta là thánh" (Lev 20:7). Cũng thế, tại sao những thầy Tư Tế nhận lệnh là trong suốt thời gian đến phiên trực Đền Thánh, họ bắt buộc phải sống trong đền thánh, xa gia đình? Điều qúa rõ ràng là vì như thế họ không bị tư tưởng xác thịt quyến rũ nghĩ đến đàn bà, ngay cả vợ họ, và như thế, lương tâm họ sáng láng, và họ có thể hiến dâng cho Thiên Chúa những của lễ xứng đáng của họ. Những người này, sau khi đã hoàn tất sứ vụ của họ, được phép về nhà với ăn ở với vợ chỉ cho một mục đích duy nhất là sinh con nối dõi, vì không ai ngoại trừ người thuộc dòng dõi Lêvi có thể được phép làm công việc hiến tế này"[1]

Trong Tân Ước, một số các Tông Đồ có gia đình (như trường hợp Phêrô đến nhà mẹ vợ Mk 1:30). Nhưng cũng có trường hợp độc thân như thánh Phaolô: "Với những người độc thân và quả phụ, tôi nói thế này: họ cứ ở vậy như tôi thì tốt cho họ" (1 Cor 7:8).[2]

Điều rõ ràng là vai trò của những người lãnh đạo cộng đoàn Kitô hữu thời đó (tương đương với các giám mục ngày nay),[3] là những người có gia đình. Trong thư thánh Phaolô gởi cho Timôthê, Ngài nêu lên người tiêu chuẩn cần thiết để chọn một người làm giám quản: "Vậy giám quản phải là người không ai chê trách được, chỉ có một đời vợ, tiết độ, chừng mực, nhã nhặn, hiếu khách, có khả năng giảng dạy; người ấy không được nghiện rượu, không được hiếu chiến, nhưng phải hiền hoà, không hay gây sự, không ham tiền, biết điều khiển tốt gia đình mình, biết dạy con cái phục tùng cách rất nghiêm chỉnh, vì ai không biết điều khiển gia đình mình, thì làm sao có thể lo cho Hội Thánh của Thiên Chúa được? Người ấy không được là tân tòng, kẻo lên mặt kiêu căng mà bị kết án như ma quỷ. Người ấy còn phải được người ngoài chứng nhận là tốt, kẻo bị sỉ nhục và sa vào cạm bẫy ma quỷ." (1 Tim 3:2-8).

Luật độc thân cho linh mục được giáo hội cổ võ và dần dần bắt buộc áp dụng cho các linh mục qua thời gian.

Vào giữa thế kỉ thứ hai, ở Bắc Phi, giáo phụ thần học gia Tertullian (160-225) tin là các tông đồ kiêng khem việc xác thịt khi làm việc mục vụ.[4] Trong tác phẩm De praescriptione haereticorum (Những Qui Định Chống Lại Lạc Giáo), Tertullian nói đến kiêng khem tính dục là một trong những thói quen của giáo phái Mithra (phát triển ở Tiểu Á và Trung Đông) mà theo ông là họ bắt chước từ Kitô giáo.[5]

Trong Didascalia Apostolorum, viết bằng tiếng Hy Lạp vào nửa đầu thế kỷ thứ ba, tác giả cũng nói đến yêu cầu cần thiết về điều kiện sống tiết dục cho những giám mục và những người vợ của họ (không được quan hệ vợ chồng), và đòi hỏi những người trước khi được phong giám mục phải hứa "liệu có sống khiết tịnh, và liệu vợ họ có là một người có đức tin và hứa sống khiết tịnh, và liệu người đó có chăm lo cho con cái trở nên những người con kính sợ Thiên Chúa không."[6]

Nhiều bằng chứng cho thấy có nhiều giám mục trong thế kỷ thứ ba có gia đình như Passivus, giám mục Fermo, Cassius, giám mục Narmi, Aetherius, giám mục Vienne, Aquilinus, giám mục Évreux, Faron, giám mục Meaux, Magnus, giám mục Avignon, Filibaud, giám mục Aire-sur-l'Adour, là cha của thánh Philibert de Jumièges, Sigilaicus, giám mục Tours và là cha của thánh Cyran of Brenne. Điều chúng ta không rõ là là các giám mục này có con sau khi làm giám mục hay chỉ trước khi làm giám mục.

Luật độc thân được áp dụng rõ ràng hơn bắt đầu từ thế kỉ thứ tư. Năm 313, đại đế Constantine chấm dứt tất cả những áp bức và bắt bớ Kitô hữu qua việc hợp thức hoá Kitô giáo. Từ đó Kitô giáo được công khai sinh hoạt.

Vào thời kỳ này, Giáo Hội phải đương đầu với rất nhiều những lạc giáo, nào là những giáo phái từ chối thiên tính hay nhân tính của Chúa Giêsu Kitô, từ chối vai trò Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa, từ chối sự tiếp nối giữa Cựu Ước với Tân Ước... nói chung là Giáo Hội có rất nhiều vấn nạn để đối phó. Bên cạnh đó, đời sống của phó tế, linh mục và giám mục cũng cần phải có những qui định cụ thể để ổn định và thống nhất đời sống sinh hoạt của giáo hội.

Những qui định được biểu quyết qua các hội nghị hay công đồng, dù không được áp dụng đồng nhất, nhưng chắc chắn được phổ biến rộng rãi trong giáo hội.

Đầu thế kỷ thứ tư, các thánh giáo phụ Ambrose và Jerome cũng đồng ý rằng giám mục có gia đình thì không trái ngược với luật của Chúa, nhưng nếu là giám mục thì phải biết sống kiêng khem và nếu vợ chết thì không được tục huyền.[7]

Công đồng miền họp tại Elvira (năm 306) đòi buộc các giám mục, linh mục phải kiêng khem hoàn toàn với vợ, đòi hỏi họ không được sinh con. Ai vi phạm thì bị kỷ luật và bị loại bỏ (luật 33).[8]

Công đồng chung Nicea năm 325, trong điều luật 3 nói: "cấm tất cả giám mục, linh mục, phó tế hay bất cứ tu sĩ (nam) không được có một người nữ ở với mình, ngoại trừ người đó là mẹ, chị em gái, dì hay những người không tạo nên nghi ngờ."

Thư của Đức giáo hoàng Siricus từ Roma (năm 385) và công đồng họp ở Carthage (năm 390) cũng lặp lại luật này, là bắt buột tất cả những giám mục, linh mục, hay phó tế đang có gia đình, không được ăn ở vợ chồng. Công đồng viện lý do là việc làm này có truyền thống từ thời các tông đồ.[9]

Từ thế kỷ thứ năm trở đi, giáo hội Công giáo tây phương đòi hỏi những ứng viên làm linh mục, giám mục phải hứa sống độc thân. Lời hứa được công đồng miền vùng Orange (năm 441) và Arles (năm 524) chấp thuận. Đến cuối thế kỷ thứ 9, công đồng miền vùng Metz và Mainz cũng nhắc lại việc cấm linh mục, giám mục lập gia đình.

Sở dĩ Giáo Hội lặp đi lặp lại việc sống độc thân của linh mục trong nhiều Công Đồng vì thời kỳ đó, dù luật là không được lập gia đình, nhưng trong thực tế Kitô hữu vẫn có liên lạc giữa giáo hội Tây Phưong và Đông Phương, mà giáo hội Đông Phương không theo luật đặt ra của giáo hội Tây Phương, nên một số linh mục trong thực tế vẫn lập gia đình (nên biết giáo hội Đông-Tây chia rẽ năm 1054).

Cuối thế kỷ mười một, Đức Giáo Hoàng Gregoria đã cải tổ luật Giáo Hội trong đó có luật độc thân và bắt buộc áp dụng cho mọi linh mục, giám mục.

Công đồng Lateran I (năm 1123) nhấn mạnh: "Chúng tôi tuyệt đối cấm linh mục, phó tế, phụ phó tế không được liên hệ với phụ nữ, hay sống với họ như điều khoảng 3 công đồng Nicea công bố, với lí do cần thiết được phép, những người đó là mẹ, chị em, hay cô dì, hay bất cứ một người nữ nào mà không gây nghi ngờ" (Điều 3). Nếu có linh mục hay phó tế... nào vi phạm luật này mà lập gia đình, công đồng công bố là hôn nhân đó cần phải được giải, và người đó phải bị lên án và chịu kỷ luật (điều 21).

Công đồng Lateran II (năm 1139) tái khẳng định: (1) những linh mục, phó tế hay phụ phó tế nào vi phạm luật độc thân sẽ bị loại trừ khỏi chức vụ (điều khoản 6); và (2) theo lời dạy của các Giáo Hoàng tiền nhiệm Gregory VII, Urbano, và Paschal, công đồng cấm giáo dân dự lễ những linh mục vi phạm luật này (điều khoản 7).[10]

Công đồng Trento (1545-1563), trong phiên họp thứ 24, đã khẳng định lại giáo huấn này. Tiếp tục lời phán quyết của Công Đồng Lateran II, Công Đồng Trentô còn tuyên bố là những hôn nhân của những người vi phạm này là Vô Hiệu (không có hiệu lực, hay không thành): "Nếu ai nói rằng, những tu sĩ đã có chức thánh, hay có những lời khấn trọng giữ mình khiết tịnh, mà lại lập gia đình, thì hôn phối đó vô hiệu" (điều 9).

Từ thế kỉ 16, các giáo phái Tin Lành cổ động cho việc tu sĩ lập gia đình, giáo hội Công giáo La Mã vẫn giữ vững luật độc thân cho các nam nữ tu sĩ, nhất là cho linh mục.

Kết Luận

Luật độc thân dành cho linh mục Công giáo là một quyết định có tính cách kỷ luật về mục vụ hơn là thần học. Giáo hội tiếp tục khẳng định lời cam kết này trong những giáo huấn hiện tại. Chúng ta có thể kết thúc đề tài này với lời dạy trong Giáo Lý Công Giáo số 1579: "Trong Giáo Hội La-tinh, trừ các phó tế vĩnh viễn, mọi thừa tác viên có chức thánh thường được tuyển chọn từ những người nam sống độc thân và có ý giữ độc thân "vì Nước Trời" (Mt 19,12). Được mời gọi tận hiến cho Chúa để "lo việc của Người" (x. 1Cor 7, 32), các ngài hiến thân trọn vẹn cho Thiên Chúa và con người. Đời sống độc thân là dấu chỉ của sự sống mới mà các thừa tác viên của Hội Thánh được thánh hiến để phục vụ. Nếu hân hoan đón nhận đời sống độc thân này, các ngài sẽ loan báo Nước Trời hữu hiệu hơn (x. PO 16).

Số 1580: "Trong các Giáo Hội Đông Phương, từ nhiều thế kỷ nay, có một tập tục khác: chỉ các giám mục được tuyển chọn trong những người độc thân; còn linh mục và phó tế có thể được tuyển chọn trong những người đã lập gia đình. Tập tục này từ lâu vẫn được coi là chính đáng. Các linh mục này thi hành thừa tác vụ hữu hiệu giữa cộng đoàn (x. PO 16). Hơn nữa, sự độc thân của các linh mục rất được trân trọng trong các Giáo Hội Đông Phương và nhiều linh mục đã tự nguyện sống độc thân vì Nước Trời. Ở Phương Đông cũng như Phương Tây, người đã nhận chức thánh không được phép lập gia đình nữa."

-----------------------

Tham khảo:

[1] Trích trong Epistola Decretalis Papae Siricii, VII. De clericis incontinentibu.

[2] Đoạn kinh thánh này thuyết phục nhiều người tin rằng Phaolô là một người độc thân, không lập gia đình. Có người trích: "Phải chăng tôi không có quyền ăn uống, không có quyền đem theo một người chị em tín hữu như các tông đồ khác, như các anh em của Chúa và như ông Kêpha?" (1 Cor 9:4-5) và nói Phaolô có vợ. Thật ra, đây không là một bằng chứng rõ đủ để nói lên điều đó, mà có thể câu nói để biện minh về quyền có gia đình thì đúng hơn, nghĩa là, Phaolô cũng như bao người khác có quyền lập gia đình, và nếu có gia đình thì họ có quyền đem theo vợ trong khi làm công việc mục vụ như Phêrô hay các tông đồ khác. Có người khác cho là Phaolô đã có gia đình nhưng có thể vợ chết, hoặc li dị vợ nên sống đời độc thân. Không có tài liệu chính xác nào nói đến những đồn đãi này, ngoại trừ người ta biết chắc là sau khi trở lại, Phaolô sống như một người độc thân.

[3] Danh từ được dùng trong Thánh Kinh bằng tiếng Hy Lạp là episkopos để chỉ những người mà Tân Ước tiếng Việt dịch là Giám quản. Cũng danh từ đó, ngày nay ta gọi là giám mục.

[4] Xem trong De Monogamia, ch. VIII.

[5] "Habet et uirgines, habet et continentes" (Họ cũng có những người đồng trinh; họ cũng có những người kiêng khem) trích trong De praescriptione haereticorum, XL, 5.

[6] Trích trong Didascalia Apostolorum, ch. IV, ii, 2.

[7] Xem Saint Ambrose, Epistle LXIII, 62.

[8] Thật ra, không chỉ giám mục và linh mục, công đồng còn đòi hỏi cả phó tế và những người làm mục vụ ở những chức vụ khác nữa. Xem Canon 33.

[9] Xem Công đồng Carthage, canon 3.

[10] Trước đó, Đức giáo hoàng Nicholas II (năm 1059) và Đức giáo hoàng Gregory VII (năm 1075) đã cấm các linh mục vi phạm luật độc thân làm lễ, và cấm giáo dân đến dự lễ họ dâng, và cấm các vị này thi hành các chức vụ trong giáo hội.

Lm. Mt. Nguyễn Khắc Hy, SS

 

7. TRANG TU SĨ

SỐNG ĐỜI LINH MỤC VỚI TRÁI TIM GIÊSU LINH MỤC

 

Trong năm Mẹ Hội Thánh dành riêng để canh tân và thánh hóa đời sống cộng đoàn giáo xứ cùng cộng đoàn sống đời thánh hiến, lật lại những trang sử của Giáo Hội Việt Nam với hơn 500 năm khai phá, 355 năm kể từ ngày thành lập hai giáo phận Đàng Trong, Đàng Ngoài, trong bài viết đầu tiên cùa cuốn sách có tựa đề “Dấu Ấn 350 Năm Giáo Hội Việt Nam”  của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam có viết những dòng này: “Nếu như hai thánh Phêrô  và Phaolô được xem là hai cột trụ của Giáo Hội Rôma thì tại Việt Nam hai Giám mục Pierre Lambert de la Motte và Francois Pallu có thể được coi như hai Đấng Tổ Phụ của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam chúng ta” và “ Thoáng nhìn về đời sống và sự nghiệp của hai Đức Cha Pierre Lambert de la Motte và Francois Pallu, chúng ta có thể sánh ví các Ngài như là Phêrô và Phaolo của Giáo Hội Việt Nam. Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn cấm cách…nhưng các Ngài đã đặt nền tảng vững chắc cho tòa nhà Giáo Hội Việt Nam. Nhờ đó Giáo Hội tại đây vẫn tồn tại trước mọi sóng gió và phát triển bền vững suốt dòng lịch sử...”.

Là một người con được sinh ra trong linh đạo Mến Thánh Giá do Đức cha Lambert de la Motte Sáng Lập con thấy mình tự hào về Đức Cha Lambert, ngài không chỉ là gương mẫu cho đoàn con cái Mến Thánh Giá mà còn là mẫu gương cho cả các linh mục.

Nhắc đến các linh mục con chợt nhớ về Cha. Cha đã ra đi, để lại trong lòng những ai quý mến Cha một nỗi niềm ngậm ngùi thương nhớ, vẫn còn đâu đó những câu chuyện kể lại cho nhau nghe về những ngày Cha còn ở bên chúng con, nụ cười hiền hậu cùng với âm giọng đều đều khiến chúng con có khi phải “gật đầu đồng ý” mãi trong giờ Cha chia sẻ,  nhưng giờ đây chúng con mới nhận ra rằng có muốn nhìn thấy nụ cười hiền hậu đó và nghe lại giọng nói trầm trầm đều đều đó cũng không được nữa.

Cha chia sẻ về cuộc đời và ơn gọi của mình khi nhìn về Đấng Sáng lập của chúng con rằng: “Giống nhau cả mà, đều phải là những linh mục mang trái tim Giêsu Linh Mục…” Cha nói đến sự khác biệt nhưng lại rất giống nhau giữa sứ vụ khai phá miền viễn Đông của Đức Cha Lambert và sứ vụ khai phá thế giới truyền thông của mình cả hai đều là những bước đi đầy gian khổ và thách đố. Khi đang học ở Roma năm thứ hai, Cha được cha thư ký của Đức Thánh Cha thông báo cha sẽ đi Phi Luật Tân để làm việc cho Đài Phát Thanh Chân Lý Á Châu. Để rồi từ đó suốt 38 năm dài đăng đẳng với công việc âm thầm trong một góc phòng gắn bó với công việc truyền thông để loan báo Tin Mừng cho Chúa Giêsu Kitô một cách khiêm hạ.

Một cuộc đời dài loan báo Tin Mừng qua Radio, chẳng ai biết mặt nhưng chỉ biết giọng của Cha, giọng đọc của Cha không lẫn đi đâu được. Giọng đặc sệt người miền Nam truyền cảm và nhẹ nhàng đã để lại trong lòng thính giả qua những dòng tin tức, những dòng suy niệm Tin Mừng và những câu chuyện Cha góp nhặt trong Lẽ Sống. Ai cũng nhớ, thời bao cấp ở Việt Nam cũng là thời có quá nhiều khó khăn của nền kinh tế thế giới và Châu Á, nhờ Đài Phát Thanh Chân Lý Á Châu mà biết bao nhiêu anh chị em không có điều kiện tham dự thánh lễ được thông công. Hơn thế nữa, không ai thống kê được đã có bao nhiêu anh chị em nhờ vào cái radio nho nhỏ và giọng đọc trầm ấm ấy mà xin rửa tội gia nhập vào Giáo Hội. Những công việc âm thầm trong phòng thu âm và những ngày tháng rút ruột nhả tơ để có chương trình phát mỗi ngày quả là một thách đố lớn. Cha không giống Đức Cha Lambert phải bôn ba đây đó nhưng lại giống ngài khi chịu cùng một cảnh đời xa xứ, Cha không phải đối diện với những nguy hiểm thú rừng, sông suối, cướp bóc, quan quyền như Đức Cha Lambert nhưng lại giống ở tinh thần từ bỏ và chết đi cho Thánh Ý Chúa hằng giây phút trong đời sống.

Và trong những ngày tháng cuối đời chúng con gặp thấy tinh thần Lambert trong con người  Cha, bằng một tình yêu mến vâng phục nhiệt thành với Thánh Ý Chúa, Cha đã trở về quê hương để sống trong âm thầm lặng lẽ và nhất là để đón nhận những đau đớn từ căn bệnh thể xác mà Chúa gởi đến cho Cha…

Trong tông thư gởi cho những ai đã chọn sống đời thánh hiến trên khắp thế giới nhân ngày cầu nguyện cho ơn Thiên Triệu năm 2015 Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhắc đến cuộc xuất hành của Dân Do Thái ngày họ được Thiên Chúa đưa dẫn ra khỏi ách nô lệ AiCập, để mời gọi những ai đang sống đời thánh hiến hãy biết ra đi, ra khỏi nơi mình đang an phận, ra khỏi cái vỏ bọc khép kín, những bám víu vật chất, ra khỏi những sầu muộn cá nhân để đến với người anh chị em đang cần được giúp đỡ, tinh thần của cuộc xuất hành đó giờ con đọc thấy nơi Cha, Cha đã bước những bước tiên phong vào thế giới ảo để chuyển tải Chân Lý đích thật cho mọi người. Xin Cha giờ đây đang ở bên thiên Chúa giúp lời cầu nguyện cho các linh mục hôm nay và chúng con cũng biết nhiệt thành ra đi vào mọi ngóc ngách của cuộc đời để khám phá và chinh phục các tâm hồn về cho Chúa.

MTG Cái Nhum

 

KHO TÀNG VÔ GIÁ TRONG CHIẾC BÌNH SÀNH DỄ VỠ

Thịnh là một cậu học trò giúp lễ siêng năng và ngoan ngoãn ở một họ đạo vùng ngoại thành. Cha mẹ Thịnh là những người đạo đức, rất có lòng với họ đạo và quý trọng các Cha, muốn con mình sau này cũng trở thành linh mục, nên gởi em trong nhà xứ, vừa đi học vừa giúp đỡ công việc và học hỏi với Cha. Sau 4 năm đại học, em xin ghi danh vào chủng viện. Trước khi đi, em đến chào dì giúp họ. Dì hỏi Thịnh nguyên nhân nào thúc đẩy em quyết định chọn con đường dâng hiến trong khi ngành nghề đã có sẵn trong tay. Em chia sẻ:

-        “Con cũng đắn đo suy nghĩ rất nhiều giữa việc đi làm thăng tiến bản thân và ơn gọi. Nhưng con đã thử cân đo thì lúc nào bên ơn gọi cũng nặng hơn. Nguyên nhân chính yếu là ảnh hưởng cuộc sống và con người của Cha Sở trên con. Con cũng cảm phục những người dâng hiến vô vị lợi như Dì Tư đây, cả cuộc đời cho Chúa và người khác. Trước đây con không muốn đâu, nhưng bây giờ thì con không có cách nào cưỡng lại ý định đi tu được, chỉ muốn hiến dâng để phục vụ thôi. Có lẽ Chúa đã xếp đặt hết rồi.”

-        “Vậy đâu là ảnh hưởng mạnh nhất từ cuộc sống của Cha mà con cảm thấy bị thôi thúc đến với ơn gọi này?” Dì Tư hỏi.

Thịnh không ngần ngại trả lời:

-        “Dạ, cuộc sống giản dị của Cha, cộng với sự nhiệt tình, tính tình hiền hòa, dễ thông cảm với người khác... và điểm đánh động con nhất chính là, mỗi ngày Cha đều ngồi trước Thánh Thể cầu nguyện sau Thánh lễ và mỗi tối. Con nghĩ, một linh mục có đầy Chúa thì mới có thể nói về  Chúa một cách mạnh mẽ, dâng lễ sốt sắng, cũng như sống ơn gọi cách trọn vẹn được.”

-        “Con nói đúng lắm! Người linh mục với khả năng Chúa ban, qua lời Truyền phép thì Chúa ngự vào hình bánh rượu làm của ăn nuôi mọi người; là người cầm Chúa trong bàn tay để trao ban cho người khác, là người thay quyền Chúa tha tội cho chúng ta cũng như ban phát các Bí Tích và ân sủng. Điều này cho thấy ơn gọi làm linh mục cao trọng biết chừng nào. Cha Thánh Gioan-Maria Vianey, mẫu gương của các linh mục đã nói: “Không có linh mục, cái chết và cuộc thương khó của Chúa không giúp ích gì,” vì “chính linh mục tiếp nối công trình Cứu chuộc trên trần gian.” Cho nên, người linh mục của Chúa phải là người giống Chúa Giêsu. Muốn vậy, Cha phải sống gần Chúa nhiều hơn, gắn kết mật thiết với Chúa hơn người khác.”

-        “Dì Tư cũng cầu nguyện cho con biết noi gương Cha, sống tốt ơn gọi của mình nhé!”

-        “Con an tâm. Dì sẽ cầu nguyện cho con. Đây là việc của Chúa, con cứ làm theo trong sự cố gắng mỗi ngày thì Chúa sẽ lo liệu cho con. Hãy nhớ trung thành trong việc cầu nguyện. Cứ tin tưởng, có Chúa thì mọi sự nhất định sẽ tốt đẹp.”

Chúa Kitô chính là trung tâm của đời sống linh mục. Không có một linh mục đích thực nếu như Chúa Kitô không là tất cả để người linh mục đánh đổi cuộc đời mình. Trong diễn văn cho Bộ Giáo Sĩ, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã khẳng định chiều kích thiêng liêng của căn tính linh mục: “Chính trong Chúa Giêsu Kitô mà sứ mệnh (linh mục) tìm thấy động cơ đích thực của nó. Đặc tính trung tâm của Chúa Kitô mang nơi nó sự làm tăng giá trị đúng đắn của chức tư tế thừa tác, mà không có nó sẽ không có Thánh Thể, hay thậm chí cũng không có sứ mệnh hay chính Giáo Hội.” Và như Cha Thánh xứ Ars, linh mục phải là người: “Kết hiệp với Thiên Chúa, thuộc về Thiên Chúa hoàn toàn, thuộc về Thiên Chúa không chia sẻ: thân xác thuộc về Thiên Chúa, linh hồn thuộc về Thiên Chúa.” 

Ngày nay, khủng hoảng về ơn gọi linh mục rất trầm trọng, Giáo Hội cần có nhiều linh mục thánh thiện và nhiệt thành, quan tâm đến đời sống tinh thần của đoàn chiên Chúa. Đứng trước những thử thách do ảnh hưởng của những trào lưu tục hóa, đời sống và con người linh mục cũng phần nào bị lây nhiễm. Lý tưởng càng cao quý, trách nhiệm càng nặng nề; nhưng sức con người lại giới hạn. Là “chiếc bình sành dễ vỡ” nhưng lại “chứa đựng kho tàng vô giá là Đức Giêsu Kitô” (2 Cr 4,7), Linh mục cũng không tránh khỏi lỗi lầm trong khi thi hành sứ mạng Chúa trao là chăm lo cho chúng ta, những con chiên trong đàn chiên Chúa.

Là kitô hữu, mỗi người chúng ta có trách nhiệm vâng lời, cầu nguyện, cảm thông, và nâng đỡ các Linh mục, giúp các Ngài sống đúng căn tính linh mục và thi hành sứ vụ của mình cách trọn vẹn.

Thánh Gioan Maria Vianey đã nói: “Khi anh chị em thấy linh mục, hãy nghĩ ngay đến Chúa Giêsu Kitô.” Nếu có cái nhìn đức tin, chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra Chúa Giêsu trong con người Linh mục, để trân quý những con người mà Cha Thánh xứ Ars cho là “cao trọng hơn thiên thần” này một cách đúng đắn.

 MTG Cái Mơn

 

 8. TRANG SỐNG ƠN GỌI

CHÍNH – PHỤ

"Martha! Martha ơi! Chị băn khoăn lo lắng

 nhiều chuyện quá!” (Lc 10, 41)

Thật là oan và tội nghiệp cho bà Martha, với tất cả sự trọng kính và quí mến Chúa, bà đã nhiệt tình sốt sắng tiếp rước và thiết đãi Chúa với hết khả năng mình. Mặc dầu thế, bà đã không được Chúa khen một câu mà còn trách bà quá “lo lắng bối rối về nhiều chuyện”. (Lc 10:41). Chính câu chuyện của Marta làm cho tôi liên tưởng đến các môn học  ở Đại Chủng Viện mà các linh mục khi ra trường thường hay nói vui với nhau; “Thời gian học ở Đại Chủng Viện môn gì cũng được học, chỉ có môn xin tiền là không, nhưng khi ra trường lại thường hay sử dụng nó”. Có những người “sử dụng môn xin tiền” gần như suốt cả cuộc đời tu để rồi không con biết đâu là CHÍNH đâu là PHỤ trong công việc mục vụ. Mặc dầu đó cũng là phục vụ Chúa, Giáo Hội, Giáo Phận, Nhà Dòng… coi chừng giống Martha cũng làm việc tốt lo lắng cho Chúa nhưng vẫn bị Chúa trách khéo vậy.

Thật vậy, nếu không có tiền thì không thể làm gì được, nhưng nếu quá chú trọng những công việc với ý tưởng làm gì cho người khác thấy, và cố làm một công trình để đời… thì chúng ta còn thua cả Martha làm với ý hướng cho mình. Chính Chúa Giêsu ngày xưa không xây một Đền Thờ, một Thánh Đường nào nhưng Ngài đã xây các thánh đường con người, những đền thờ Chúa Thánh Thần. Đó mới thấy rõ đâu là cái Chính – cái Phụ, đâu là việc nên làm, đâu là việc phải làm trong đời tu.

Chính vì nhầm lẩn CHÍNH – PHỤ mà các anh em linh mục đôi khi đáng giá với nhau là xây được bao nhiêu nhà thờ, làm bao nhiêu tháp chuông, mua được bao nhiêu đất… nếu linh mục nào làm được nhiều, mua được lắm.. thì cho rằng cha đó giỏi hay, thành công. Và ngược lại, nếu không xây được nhà thờ, không sửa được tháp chuông… lại cho rằng ông cha đó làm biếng, không làm gì… đúng là lắm lúc chúng ta lại nhìn nhau bằng cái nhìn như Phêrô từng bị Chúa trách: "Hãy tránh xa ta, hỡi Satan! Ngươi đang nên cớ cho ta vấp ngã. Ngươi không phán đoán theo tiêu chuẩn của Thiên Chúa, nhưng theo con người" (Mt 16:23).

Thật ra, Thiên Chúa không cần đến nhà thờ, vì Ngài là Đấng thiêng liêng, ngự trên trời và ở khắp mọi nơi, Ngài không cần đến các đền thờ bằng vật chất để ngự, nhưng điều Ngài cần là chính tâm hồn con người. Tuy nhiên nhà thờ bằng vật chất cũng vẫn còn cần thiết, vì chính tại nơi đây, Thiên Chúa đã muốn ở lại với chúng ta. Ngài là Emmanuel, nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng tôi”. Gọi nhà thờ là “nhà của Chúa” vì đây là nơi Chúa ngự, là chốn Chúa hiện diện, là địa chỉ Chúa thi ân, là điểm hẹn Chúa gặp gỡ dân Ngài. Nhưng một chắc chắn rằng đền thờ Tâm Hồn là đền thờ Chúa Thánh Thần nơi mỗi con chiên vẫn là CHÍNH và đền thờ vật chất vẫn là PHỤ chúng ta đừng lẫn lộn để đưa ra nhận xét về nhau THÀNH CÔNG HAY không THÀNH CÔNG trong việc mục vụ chỉ vì những cái bên ngoài đó.

Vậy cái CHÍNH của Linh mục là người đi xây những thánh-đường-là-những-con-người, làm cho tâm hồn các tín hữu đoàn kết với nhau, hơn là xây dựng nhà thờ nguy nga đồ sộ mà đàn chiên tan nát vì những ghét ghen, tị hiềm, phe cánh khi nhà Chúa vừa mới xây xong. Ngoài ra, linh mục phải là động cơ lôi kéo những tâm hồn giáo dân nguội lạnh lòng mến, khô khan lòng đạo, biết đốt lên ngọn lửa mến Chúa yêu người qua việc thực hiện Đức Ái của linh mục, hơn là khoe khoang mình đã vì giáo xứ, vì nhà Chúa mà hao tổn rất nhiều vật chất lẫn tinh thần...

Chắc chắn, mỗi khi đã dâng mình cho Chúa trên đường tu trì thì không ai còn muốn tìm lợi ích riêng cho mình, mà tất cả vì cánh đồng truyền giáo và tha nhân.

Một Cha Sở muốn xây dựng ngôi nhà thờ tâm hồn ở Họ Đạo ngoài ơn Chúa thì cũng phải cần đến những người khác công tác trong đó có các cha phụ tá, quý nữ tu và cả giáo dân… Nhưng đôi khi vì lẫn lộn CHÍNH – PHỤ mà thấy cũng “tội” cho các linh mục. Đặc biệt là những linh mục già ở Họ Đạo nhỏ, vùng xâu, vùng xa một thân một mình không có ai công tác. Nhân một lần tĩnh tâm tôi hỏi một cha già thì được biết cha ở một mình phải: tự đi chợ, nấu cơm, dọn lễ, chưng bông, quét nhà thờ, dạy giáo lý, tập hát, và có khi làm lễ còn tự giúp lễ… Tôi hỏi: Sao cha không xin một nữ tu phụ cha? Cha trả lời: “Mình xin nhiều lần nhưng không được và chắc không bao giờ được vì Họ mình nhỏ và không có nhà trẻ”. Câu nói của vị linh mục già nghe thấy “Tội” và có phần hơi buồn. Thật vậy, có những chị đi tu sắp được khấn trọn vậy mà chưa một ngày dạy giáo lý, chưa một lần dọn đồ lễ, chưa một lần tập hát cho ca đoàn…chỉ vì một lý do duy nhất “GIỮ TRẺ”  nếu đi tu chỉ giữ trẻ là một cô giáo không hơn không kém. Nếu đi tu để sinh lợi thì vô tình trở thành một nhà kinh tế. Sinh lợi cho nhà Dòng là điều tốt, nhưng điều Chúa muốn là người tu làm sao để sinh lợi cho Nước Trời. Và mọi việc đều có thể sáng danh Chúa nhưng coi chừng mình đang chọn công việc của Martha việc PHỤ lại lầm là CHÍNH.

Ngày xưa, Chúa Giê-su đã trách yêu bà Martha: “Martha ơi! Martha ơi! Con băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá!” Chúng ta hãy thử hỏi rằng: lời trách này Chúa Giêsu có nói với tôi hôm nay không? Tôi có băn khoăn lo lằng nhiều chuyện quá không? Tôi đi tu nhưng tôi đang băn khoăn lo lắng về những gì?  Đó có phải là những hành vi tình yêu dành cho Chúa không ?

Trong câu chuyện Martha và Maria này, Chúa sẽ phân biệt cho chúng ta  thấy việc nào quan trọng và cần thiết hơn? Chúa Giêsu đã nói cho Martha: "Chỉ có một sự cần mà thôi: Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị ai lấy mất". Đối với Chúa: “Chỉ có một sự cần mà thôi” Thiên Chúa là Tình yêu, việc cần của Chúa là những hành động, công việc của tình yêu. Vì thế, Chúa tuyên bố: “Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị ai lấy mất” (Lc 10:38-42). Ước mong trong đời tu chúng ta cũng biết chọn phần tốt nhất như Maria.

 

9. TRANG THIIẾU NHI

NÓI HÀNH

Trong tất cả các thứ tội về lời nói, có lẽ không tội nào phổ thông, hấp dẫn cho bằng tội nói hành, nói xấu, dèm pha người khác. Tâm lý thông thường: người ta rất sợ người khác nói xấu mình, nhưng phần mình lại dễ nói xấu người thứ ba. Đây là một thứ ung nhọt của chiếc lưỡi, nếu không sớm giải phẫu thì có ngày nó sẽ trở thành ung thư giết chết ta.

1. Một tội phổ thông

Bẩm sinh con người có thói: việc người thì sáng, việc mình thì quáng. Hay diễn tả cách khác: người ta mang hai cái túi, một cái trước ngực, một cái sau lưng. Cái trước ngực đựng nết xấu của tha nhân, cái sau lưng đựng nết xấu của mình. Do đó, mình dễ thấy việc người khác hơn là thấy việc của mình.

Con người thường tò mò, muốn biết chuyện người khác, muốn đi sâu vào đời tư, việc riêng của kẻ khác.

Khi nói về khuyết điểm của kẻ khác, người ta quên bớt được nết xấu của mình, thoải mãn tính tự ái.

Nói về người khác, những là những kẻ mình không ưa, làm thỏa mãn tính trả thù vặt. Trường hợp này nói xấu vì ác ý.

2. Nguy hại của tật nói xấu

a. Tai hại cho mình

Không ai ưa gì kẻ đưa điều đặt chuyện vì đó là kẻ gây bất thuận, ta nên tránh xa.

Hơn nữa, ai cũng tin rằng những kẻ hay nói điều xấu nào về kẻ khác, chắc chắn họ cũng có nết xấu ấy. Tục ngữ Việt Nam có câu: “Người làm sao chiêm bao làm vậy”. Tục ngủ Ba Tư nói rõ hơn: “Kẻ nói xấu người khác là tiết lộ tật xấu của chính mình”.

b. Tai hại cho cộng đoàn

Ở đâu có kẻ nói xấu người khác, ở đó có chia rẽ, hiềm khích. Thánh Augustinô đã viết một hàng chữ tại phòng ăn: “Ai nói xấu kẻ khác, xin mời ra khỏi phòng này”.

Nếu không có biện pháp đề phòng, sửa chữa, thói nói xấu sẽ tràn lan như một đại dịch giết chết nhiều người vô tội.

c. Làm mất tinh thần đoàn kết

Khi một nạn nhân hay biết người khác nói xấu mình, tự nhiên muốn biết ai đã nói xấu mình và muốn biết xem ai đã tuyên truyền điều xấu đó. Thế là đi đến chỗ nghi ngờ, giận hờn, trả thù. Trong cộng đoàn nào hay nói hành nhau, cộng đoàn đó sẽ đi đến chỗ suy vong và tàn lụi.

3. Tật nói xấu: kẻ thù của đức ái

Thánh Phaolô viết: “Đức ái thì bao dung, tin tưởng, trông cậy, nhận nại” (1Col 3,7). Thế mà kẻ nói hành nói xấu làm ngược lại: không bao dung, không tin tưởng, bất nhẫn.

Có lẽ chính kẻ nói hay nói xấu thường ngượng miệng, nên họ thường chữa mình, rào đón bằng những lời như sau: Không phải là tôi nói hành, nói xấu đâu, nhưng tôi cho anh, chị…biết chuyện này; thật tình tôi không có ý nói xấu anh, chị ta, nhưng…Lời rào đón đó chẳng giá trị gì. Nó chỉ nhầm xoa dịu lương tâm họ đang cắn rứt hoặc để người nghe họ khỏi cho rằng họ bép xép, nhiều chuyện…

Kẻ lười biếng thường hay nói chuyện của người khác, hết chuyện nhà sẽ sang chuyện hàng xóm, chuyện đời, chuyện đạo. Không những kẻ ngồi lê đôi mách phá vỡ đức bác ái, chính họ cũng thường là căn cớ làm phai lạt hạnh phúc gia đình.

Nói tóm lại, chúng ta là những kitô hữu là người có ơn Thánh hóa. Vì vậy, chúng ta phải luôn Thánh hóa tư tưởng, lời nói và hành động của mình trong mọi lúc, mọi nơi, mọi hoàn cảnh để mỗi ngày chúng ta trở nên giống Chúa hơn. Những lời nói hành, nói xấu người khác cần loại bỏ vì nó không phù hợp với người kitô hữu là môn đệ đích thật của Chúa Kitô.

 

LINH MỤC NGƯỜI CỦA MỌI NGƯỜI

Khi thiết lập Hội thánh Chúa Giêsu đã trao cho các Tông đồ ba quyền: giảng dạy - thánh hóa và lãnh đạo. Những người kế vị các Tông đồ trong thánh chức linh mục sẽ trực tiếp thi hành các quyền này. Đối với Chúa Giêsu có quyền là để phục vụ anh chị em mình theo gương của Người.

Chúa đã mời gọi và xác nhận với các Tông đồ: "Anh em biết: thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. Giữa anh em thì không được như vậy: Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em.Và ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em.Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người.” (Mt 20, 25b - 28)

Trong mỗi xứ đạo, Linh mục được chia sẻ vai trò Đầu và là Thủ lãnh của Giêsu. Với vai trò này, linh mục sống bổn phận tôi tớ của mình cho anh chị em.

Bổn phận tôi tớ của linh mục trước hết đòi hỏi ngài trở nên người của mọi người. Nghĩa là linh mục không được chọn cho mình nơi và người để phục vụ. Ngài sẽ ra đi theo sự bổ nhiệm của Đấng Bản Quyền Giáo phận.

Trở nên tôi tớ cho anh chị em mình, linh mục còn được mời gọi thể hiện tình thương của ngài cho những anh chị em ngoan đạo lẫn những anh chị em bướng bĩnh. Do vậy, bất cứ lúc nào họ cần vì lợi ích phần rỗi linh hồn thì linh mục không được từ chối với bất cứ lý do gì. Vì thế, linh mục được mời gọi hy sinh thời gian, sức khỏe, tiền bạc và khi cần cả mạng sống cho anh chị em của mình.

Có thể nói được, đối tượng đầu tiên của việc Tân Phúc âm đời sống Giáo xứ chính là các linh mục. Các ngài cũng là những con người có giới hạn như bao nhiêu người khác trên thế gian này. Được chọn giữa thế gian và được sai đến với thế gian nên ít nhiều gì các ngài cũng sẽ bị lây nhiễm những điều không hay của thế gian. Tư tưởng giáo sĩ trị có thể làm ảnh hưởng đến đời sống của các ngài: Cũng là phục vụ nhưng là chọn lựa người giàu hơn là người nghèo; cũng là phục vụ nhưng là phải theo thời giờ nhất định; cũng là phục vụ nhưng là phục vụ cho sự hưởng thụ của bản thân và của gia đình.

Đời sống của cộng đoàn giáo xứ sẽ xuống cấp trầm trọng khi có những linh mục sống theo tư tưởng giáo sĩ trị. Xin Chúa cho các linh mục của Ngài biết ý thức được vai trò bổn phận của mình. Xin Chúa thương cải hóa những cách sống chưa tốt của các linh mục. Xin cho các linh mục nhớ rằng các ngài là người của mọi người.

 

10. TRANG GIỚI TRẺ

Bài Giáo Lý Của ĐTC Phanxicô Về Việc Giáo Dục Con Cái

Dưới đây là bản dịch bài Giáo Lý ĐTC Phanxicô ban hành ngày 20 tháng 5 năm 2015 trong buổi Triều Yết Chung được tổ chức tại Quảng Trường Thánh Phêrô.  Hôm nay ĐTC tiếp tục chu kỳ Giáo Lý về Gia Đình.  Ngài giải thích về tầm quan trọng của việc giáo dục con cái trong Gia Đình.

Anh chị em thân mến, hôm nay tôi muốn chào đón anh chị em vì tôi thấy có nhiều gia đình giữa anh chị em, xin chào tất cả mọi gia đình!  Chúng ta tiếp tục suy nghĩ về gia đình.  Hôm nay chúng ta dừng lại để suy nghĩ về một đặc tính thiết yếu của gia đình, đó là ơn gọi tự nhiên để giáo dục con cái, vì các em lớn lên trong tinh thần trách nhiệm đối với mình và người khác.  Trước hết, điều mà chúng ta nghe được từ thánh tông đồ Phaolô là những lời quá đẹp “Con cái hãy vâng lời cha mẹ trong mọi sự, vì đó là điều rất đẹp lòng Chúa.  Các người cha đừng làm cho con cái bực tức, kẻo chúng mất can đảm.” (Cl 3: 20-21). 

Đây là một quy tắc khôn ngoan: con cái được giáo dục lắng nghe và vâng phục cha mẹ, còn các bậc làm cha mẹ không cần phải ra lệnh một cách khó chịu, để khỏi làm cho con cái nản lòng.  Thực vậy, trẻ em phải lớn lên từng bước một mà không bị nản lòng.  Nếu cha mẹ bảo cái con mình: “Chúng ta hãy leo lên các bậc thang” cùng nắm tay các em và bước lên từng bước, họ làm cho chúng đi lên, mọi sự sẽ xảy ra một cách tốt đẹp.  Nhưng nếu anh chị em bảo chúng, “Hãy đi lên!” – “Nhưng con không thể” – “Hãy đi lên!” Điều này được gọi là chọc giận con cái, đòi hỏi con cái những điều chúng không có khả năng làm.  Vì vậy, mối liên hệ giữa cha mẹ và con cái phải là mối liên hệ khôn ngoan, một sự cân bằng rất lớn.  Con cái, hãy vâng lời cha mẹ, là điều đẹp lòng Thiên Chúa.  Và anh chị em là cha mẹ, đừng chọc giận con cái của mình bằng cách đòi buộc chúng làm những điều chúng không thể làm được.  Và điều này phải được thể hiện vì trẻ em lớn lên trong tinh thần trách nhiệm với chính mình và với những người khác.

Lời đó có vẻ như một sự kiện hiển nhiên, nhưng ngay cả trong thời đại chúng ta cũng có những khó khăn.  Thật khó mà giáo dục con cái khi cha mẹ chỉ thấy mặt con cái vào buổi tối, lúc về nhà mệt nhọc vì công việc.  Những người may mắn đủ để có công ăn việc làm!  Và thậm chí khó khăn hơn nữa cho những cha mẹ ly thân, đang bị đè nặng bởi tình trạng của họ: nghèo khổ, gặp khó khăn, họ xa cách nhau, và nhiều lần đứa con bị bắt làm con tin, cha nói xấu mẹ và mẹ nói xấu cha, và điều đó quá tệ.  Nhưng tôi nói với các cha mẹ ly thân, đừng bao giờ, đừng bao giờ, đừng bao giờ bắt con cái làm con tin!  Anh chị em ly thân vì rất nhiều khó khăn và lý do, cuộc sống đã cho anh chị em thử thách này, nhưng con cái không phải là người gánh chịu hậu quả của sự phân ly ấy, chớ gì chúng không bị dùng làm con tin để chống lại người phối ngẫu, chớ gì chúng lớn lên trong cảm nhận rằng mẹ nói tốt về cha, và cha nói tốt về mẹ, mặc dù họ không còn chung sống.  Đối với những cha mẹ ly thân, điều này rất quan trọng và rất khó khăn, nhưng có thể làm được.

Nhưng trước hết là câu hỏi: phải giáo dục thế nào?  Chúng ta có truyền thống gì để truyền lại cho con cái mình hôm nay?

Các “bình luận gia” trí thức đủ loại đã bịt miệng cha mẹ bằng nhiều cách, để bảo vệ thế hệ trẻ khỏi những thiệt hại – có thật hay giả tưởng – của nền giáo dục gia đình.  Gia đình đã bị kết án, trong số nhiều tội khác, là vì độc tài, thiên vị, hủ lậu, đàn áp tình cảm mà tạo ra những xung đột.

Thực ra, có một sự rạn nứt giữa gia đình và xã hội, giữa gia đình và học đường, công ước về giáo dục ngày nay đã bị xé nát; và như vậy, liên minh giáo dục của xã hội và gia đình đã đi đến mức khủng hoảng vì lòng tin tưởng lẫn nhau bị hao mòn.  Có nhiều triệu chứng.  Chẳng hạn như, ở học đường sự liên hệ giữa cha mẹ và thầy cô đã bị tổn thương.  Đôi khi có những căng thẳng và thiếu tin tưởng lẫn nhau; và đương nhiên là trẻ em phải chịu hậu quả.  Đàng khác, số người được gọi là “chuyên viên” lại gia tăng; họ tước đoạt vai trò của cha mẹ, ngay cả trong bình diện mật thiết nhất của việc giáo dục.  Về đời sống tình cảm, cá tính và sự phát triển, về quyền lợi và nhiệm vụ, các “chuyên gia” biết tất cả mọi sự: mục tiêu, động lực, kỹ thuật.  Và cha mẹ chỉ cần lắng nghe, học hỏi và thích nghi.  Bị tước mất vai trò của mình, cha mẹ thường trở nên quá lo lắng và chiếm hữu đối với con cái của họ, đến nỗi không bao giờ sửa dạy chúng: “Mình không thể sửa dạy con cái.”  Họ có khuynh hướng càng ngày càng trao phó cho các “chuyên viên”, ngay cả những bình diện riêng tư và nhạy cảm nhất trong đời sống của chúng, tự co mình vào xó nhà; và như thế cha mẹ ngày nay có nguy cơ tự loại mình ra khỏi đời sống của con cái.  Và điều này là rất nghiêm trọng!  Ngày nay có nhiều trường hợp theo kiểu này.  Tôi không nói rằng nó luôn luôn xảy ra, nhưng có xảy ra.  Cô giáo ở nhà trường khiển trách đứa bé và gửi giấy lưu ý về cho phụ huynh.  Tôi còn nhớ một giai thoại cá nhân.  Một lần kia, khi tôi còn học lớp tư tiểu học, tôi đã nói một lời không tốt về cô giáo, và cô giáo, một phụ nữ tốt, đã gọi mẹ tôi đến.  Ngày hôm sau mẹ tôi đến, họ nói chuyện, và sau đó tôi bị gọi vào.  Và mẹ tôi giải thích với tôi trước mặt cô giáo rằng điều tôi đã làm là một điều xấu, rằng không được làm điều ấy nữa; nhưng mẹ tôi đã làm thế một cách rất dịu dàng và bắt tôi xin lỗi cô giáo.  Tôi đã làm điều ấy và sau đó tôi hài lòng vì tôi đã cho rằng: câu chuyện đã kết thúc tốt đẹp.  Nhưng đó là chương thứ nhất!  Khi về nhà, thì chương thứ hai mới bắt đầu… Anh chị em hãy tưởng tượng, ngày nay, nếu cô giáo làm như thế, ngày hôm sau cả hai bố mẹ hoặc một trong hai sẽ tố khổ cô giáo, bởi vì các “chuyên gia” nói rằng không được la mắng trẻ em như thế.  Mọi sự đã thay đổi!  Vì vậy cha mẹ không nên tự loại mình ra khỏi việc giáo dục con cái.

Rõ ràng là phương pháp này không tốt: nó không hài hòa, không đối thoại, và thay vì khuyến khích sự hợp tác giữa gia đình và các cơ quan giáo dục khác, như nhà trường, nhà tập thể dục… thì lại gây ra sự đối kháng.

Làm sao mà chúng ta đi đến mức này?  Rõ ràng là các bậc cha mẹ, hay đúng hơn, mô thức giáo dục trong quá khứ chắc chắn đã có một số giới hạn, không còn nghi ngờ gì cả.  Nhưng cũng đúng là có những sai lầm chỉ có cha mẹ mới được phép làm, bởi vì họ có thể bù đắp lại bằng một cách mà không một người nào khác có thể làm được.  Đằng khác, như chúng ta biết rõ, cuộc sống đã làm cho chúng ta có rất ít thì giờ để nói chuyện, suy tư và đối phó.  Nhiều cha mẹ đang “bị mắc kẹt” bởi công ăn việc làm – Bố mẹ phải làm việc – và những bận tâm khác, lúng túng bởi những nhu cầu mới của con cái và sự phức tạp của đời sống hiện đại, – sự thể là như thế, chúng ta phải chấp nhận hiện trạng này – và bị tê liệt vì sợ sai lầm.  Tuy nhiên, vấn đề không chỉ là nói.  Thật vậy, một “chủ thuyết đối thoại” bề ngoài không dẫn đến một cuộc gặp gỡ thực sự của trí khôn và tâm hồn.  Thay vào đó, chúng ta tự hỏi: chúng ta có cố gắng tìm hiểu xem con mình thực sự đang “ở đâu” trên đường đời không?  Chúng ta có thực sự biết linh hồn chúng đang ở đâu không?  Và trên hết, chúng ta có muốn biết điều ấy không?  Chúng ta có tin chắc rằng trên thực tế chúng không mong đợi gì khác không?

Các cộng đồng Kitô hữu được mời gọi nâng đỡ sứ vụ giáo dục của các gia đình, và làm điều ấy trước hết với ánh sáng của Lời Chúa.  Thánh Tông Đồ Phaolô nhắc chúng ta nhiệm vụ hỗ tương giữa cha mẹ và con cái: “Con cái hãy vâng lời cha mẹ trong mọi sự, vì đó là điều rất đẹp lòng Chúa.  Các người cha đừng làm cho con cái bực tức, kẻo chúng mất can đảm.” (Col 3,20-21). Nền tảng của tất cả là tình yêu, tình yêu mà Thiên Chúa ban cho chúng ta, tình yêu “không thô lỗ, không tìm tư lợi, không nóng giận, không oán thù, không vui mừng vì điều bất chính, … hoàn toàn bao dung, hoàn toàn tin tưởng, hoàn toàn hy vọng, chịu đựng tất cả.” (1 Cor 13,5-6).  Ngay cả trong những gia đình tốt lành nhất cũng phải chịu đựng lẫn nhau, và cần rất nhiều kiên nhẫn để chịu đựng lẫn nhau!  Nhưng đời là thế.  Cuộc đời không được tạo thành trong phòng thí nghiệm, mà trong thực tế.  Chính Chúa Giêsu cũng đã trải qua nền giáo dục gia đình.

Ngay cả trong trường hợp này, ân sủng của tình yêu Đức Kitô hoàn thành những gì được ghi khắc trong bản tính loài ngưởi.  Có biết bao gương sáng tuyệt vời của các cha mẹ Kitô giáo đầy khôn ngoan của con người!  Họ cho thấy rằng giáo dục tốt của gia đình là nòng cốt của chủ nghĩa nhân bản.  Sự toả sáng của nó trong xã hội là tài nguyên cho phép chúng ta bù đắp cho những chỗ hở, những vết thương, những khoảng trống của việc làm cha mẹ liên hệ đến những đứa con thiếu may mắn.  Sự toả sáng này có thể làm phép lạ thực sự.  Và trong Hội Thánh những phép lạ ấy xảy ra hàng ngày!

Tôi cầu xin Chúa ban cho các gia đình Kitô hữu đức tin, sự tự do và lòng can đảm cần thiết cho sứ vụ của mình.  Nếu nền giáo dục gia đình tìm lại được niềm tự hào về sự hướng dẫn của Ngài, thì nhiều điều sẽ thay đổi tốt đẹp hơn, cho các bậc cha mẹ thiếu chắc chắn và cho các con cái đang thất vọng.  Và đã đến lúc cha mẹ hồi hương từ cuộc lưu đày của mình – vì cha mẹ tự nguyện đày mình ra khỏi việc giáo dục con cái – và nhận lấy vai trò giáo dục trọn vẹn của mình. Chúng ta hy vọng rằng Chúa ban cho các cha mẹ ơn này: không tự ý đày mình ra khỏi việc giáo dục con cái.  Và chỉ có tình yêu, sự dịu dàng và lòng kiên nhẫn mới có thể làm được điều ấy.

Phaolô Phạm Xuân Khôi  chuyển ngữ

Nguồn: giaoly.org

 

11. TRANG GIA ĐÌNH

CÂU HỎI THƯỜNG GẶP VỀ HÔN NHÂN:

Ý NGHĨA CỦA HÔN NHÂN VÀ SỰ KHÁC BIỆT GIỚI TÍNH

 

1. Hôn nhân, khởi điểm tốt lành là gì?

Để hiểu thế nào là hôn nhân, tốt nhất hãy bắt đầu với nhân vị. Hôn nhân là mối tương quan duy nhất giữa hai con người cụ thể, một người nam và một người nữ. Chúng ta tự hỏi, "Là một con người, một người nam hay một người nữ, có nghĩa là gì?".

- Trước tiên, người nam và người nữ được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa (x. St 1, 27). Điều này có nghĩa là họ có nhân cách cao đẹp và có giá trị. Ngoài ra, vì "Thiên Chúa là tình yêu" (1 Ga 4, 8) nên mỗi người - được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa - đạt đến sự trọn vẹn của mình bằng cách yêu thương người khác.

- Thứ hai, người nam và người nữ là những thân xác con người. Thân xác - nam hay nữ - là một phần thiết yếu của con người. Giới tính không là sự suy tính lại hay một cấu trúc xã hội đơn thuần. Thân xác định hình nên những gì nó có ý nghĩa để yêu thương như một nhân vị.

Tóm lại, khi chúng ta nghĩ về hôn nhân, chúng ta phải suy nghĩ về nhân vị - được tạo ra với nhân cách cao đẹp, và được mời gọi yêu thương như là một thân xác con người, người nam hay người nữ.

2. Hôn nhân đến từ đâu?

"Chính Thiên Chúa là Đấng tác tạo hôn nhân" (Gaudium Et Spes, số 48). Khi Chúa tạo dựng con người theo hình ảnh của Ngài, như là người nam và người nữ, Ngài đặt trong con tim họ ước muốn và trách nhiệm yêu thương – để tự hiến hoàn toàn cho người khác. Hôn nhân là một trong hai cách thức để một người nào đó có thể tự hiến hoàn toàn (cách còn lại là giữ sự tinh tuyền, dâng hiến hoàn toàn cho Thiên Chúa) (x. FC 11). Hôn nhân không phải là tư tưởng nảy sinh từ xã hội loài người hay bởi bất cứ tôn giáo nào - đúng hơn, hôn nhân nảy sinh từ nhân vị, là người nam và người nữ, xã hội và tôn giáo chỉ khẳng định và củng cố hôn nhân. Vì thế sự thật về hôn nhân gần gũi tất cả mọi người, không phân biệt tín ngưỡng tôn giáo hoặc không tôn giáo. Cả đức tin và lý trí đều nói về ý nghĩa đích thực của hôn nhân.

3. Hôn nhân là gì?

Hôn nhân là một cộng đồng sống chung suốt đời dựa trên sự chung thủy lẫn nhau và duy nhất giữa một người nam và một người nữ, tự bản tính hôn ước hướng về thiện ích của đôi vợ chồng và việc sinh sản cùng giáo dục con cái (GLCG số 1601). Mối dây hôn nhân là bất khả phân ly - có nghĩa là, nó kéo dài "cho đến khi cái chết chia lìa". Trung tâm của tình yêu hôn nhân: là toàn bộ quà tặng của chính người chồng và người vợ tự do dâng hiến cho nhau. Do sự khác biệt về giới tính, người chồng và người vợ có thể thực sự trở thành "một xương một thịt" và có thể trao hiến cho nhau "hữu thể thực là đứa con, sự phản ánh sống động tình yêu của họ" (FC, số 14).

Hôn nhân giữa một người nam đã được rửa tội và một người nữ đã được rửa tội là một bí tích. Điều này có nghĩa là mối tương giữa chồng và vợ là một dấu chỉ hữu hình của tình yêu hy sinh của Chúa Kitô dành cho Giáo Hội của Người. Là một bí tích, hôn nhân mang lại cho đôi vợ chồng ân sủng cần thiết để yêu nhau một cách quảng đại, noi gương Chúa Kitô.

4. Tại sao hôn nhân không thể được "định nghĩa lại" bao gồm hai người nam hoặc hai người nữ?

Từ ngữ "hôn nhân" không chỉ đơn thuần là một nhãn hiệu có thể gắn vào các loại tương quan khác nhau. Thay vào đó, "hôn nhân" phản ánh một thực tại sâu xa - thực tại của sự hiệp nhất độc nhất, sinh hoa trái, và suốt đời, chỉ có thể có giữa một người nam và một người nữ. Cũng như oxy và hydro rất cần thiết cho nước, thì sự khác biệt giới tính là điều cần thiết cho hôn nhân. Các nỗ lực để "định nghĩa lại" hôn nhân bao gồm hai người cùng giới tính phủ nhận thực tại về hôn nhân. Điều đó cũng giống như không thể cố gắng "định nghĩa lại" nước bao gồm oxy và nitơ.

5. Sự khác biệt giới tính là gì?

Sự khác biệt giới tính là sự khác biệt người nam với người nữ và người nữ với người nam. Nó ảnh hưởng đến một con người ở mọi bình diện của sự sống: di truyền, sinh học, tình cảm, tâm lý, và xã hội. Sự khác biệt giới tính là một sự khác biệt không thể đơn giản hóa được. Nó không giống như bất kỳ sự khác biệt nào khác mà chúng ta trải qua, bởi vì sự khác biệt giới tính - và chỉ có khác biệt giới tính – làm nên sự hiệp nhất hoàn toàn giữa người chồng và người vợ, vốn là trung tâm của hôn nhân. Sự khác biệt giữa nam giới và nữ giới là vì lợi ích của sự hiệp nhất của họ với nhau. Đó là những gì tạo nên sự hiệp nhất vợ chồng.

6. Hôn nhân không chỉ là tình yêu và dấn thân giữa hai người?

Tất nhiên tình yêu và dấn thân là quan trọng đối với hôn nhân - vì chúng dành cho nhiều tương quan. Nhưng hôn nhân là độc đáo bởi vì khi đó dấn thân được mời gọi thể hiện tốt để đạt đến sự hiệp thông, nơi đó "cả hai trở nên một xương một thịt" (St 2,24). Chỉ có một người nam và một người phụ nữ trong hôn nhân mới có thể trở nên sự hiệp thông "một xương một thịt". Sự hiệp nhất của vợ chồng là rất thân mật để từ đó "người thứ ba" có thể chào đời, là đứa con - một sự sống mới sẽ được chào đón và lớn lên trong tình yêu. Không có mối tương quan nào khác, không quan trọng yêu thương hoặc dấn thân thế nào, có thể có hình thức độc đáo này của dấn thân - hiệp thông - vốn tồn tại trong hôn nhân, giữa một người chồng và một người vợ.

7. Tại sao giới tính con người lại quan trọng đối với hôn nhân?

Giới tính quan trọng đối với hôn nhân vì thân xác quan trọng đối với tình yêu. Thân xác của tôi không chỉ đơn thuần là "hình dạng da thịt của tôi". Thay vào đó, nhân dạng của tôi như là một ngôi vị là không thể tách rời khỏi thực tại thân xác của tôi. Tôi là một thân xác con người. Như Đức Gioan Phaolô cho biết, thân xác mạc khải con người. Đó là một thực tại cá nhân sâu xa, không chỉ là một thực tại sinh học (xem TOB, 9.4). Thân xác được "nâng lên" trong mỗi hành động của con người, bao gồm nhiệm vụ quan trọng nhất: yêu thương. Yêu thương như một nhân vị nghĩa là yêu thương như một người nam hoặc một người nữ. Hôn nhân, "hình thức chính yếu" của tình yêu con người (GS số 12), nhất thiết phải liên quan đến thực tại của người nam và người nữ như là những thân xác con người. Hôn nhân mang bản chất khác biệt giới tính. Khi "xóa bỏ" thân xác, và giới tính, như thể không quan trọng đối với hôn nhân, có nghĩa là đối xử với thân xác không hợp lý, hay như là một đối tượng hoặc công cụ được sử dụng theo sự vui thú của một người, chứ không phải như là một điều cần thiết – và vẻ đẹp – của khía cạnh con người và yêu thương như là một nhân vị. Sự xóa bỏ như thế sẽ bỏ qua bản chất của hôn nhân.

8. Tình yêu giữa người chồng và người vợ là duy nhất không thể giản lược như thế nào?

Tình yêu giữa người chồng và người vợ liên quan đến quà tặng tự do, hoàn toàn tin tưởng lẫn nhau của bản thân, nó không chỉ thể hiện tình yêu, mà còn mở ra cho đôi vợ chồng đón nhận món quà tặng con cái. Không có sự tương tác con người nào khác trên thế gian có thể giống như thế. Đây là lý do tại sao sự thân mật giới tính được dành riêng cho tình yêu hôn nhân - hôn nhân chính là bối cảnh duy nhất nơi đó tính dục giữa người nam và người nữ có thể nói được ngôn ngữ đích thực của sự tự hiến. Mặt khác, hành vi tình dục giữa hai người nam hoặc hai người nữ có thể không bao giờ đi đến sự đồng nhất chỉ được trải nghiệm giữa người chồng và người vợ, những hành vi này cũng không thông truyền sự sống .Thực vậy, hai người cùng giới không thể hoàn trao quà tặng bản thân cho nhau như một người chồng và một người vợ thực hiện, cả về phương diện thân xác và cá nhân. Vì lý do này, hành vi tình dục như thế gây hại và luôn luôn sai lầm, vì nó không có khả năng thực sự thể hiện tình yêu vợ chồng - tình yêu mà trong bản chất bao gồm khả năng trao hiến hoàn toàn bản thân mình cho người khác và đón nhận người khác chính là quà tặng trong sự hiệp thông hoàn toàn về tâm trí, thân xác và tinh thần. Vì vậy, không bao giờ mối tương quan giữa hai người cùng giới có thể được nâng lên ngang bằng hoặc tương tự như mối tương quang giữa người chồng và người vợ.

9. Tính bổ túc là gì?

"Bổ túc" dùng để chỉ sự duy nhất - và thành quả - trong mối tương quan giữa người nam và người nữ. Cả người nam và người nữ được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa. Cả hai đều có nhân cách và giá trị tốt đẹp. Nhưng bình đẳng không có nghĩa là "giống hệt nhau": một người nam không phải là một người nữ, và một người nữ không phải là một người nam. Trái lại, "nam và nữ là cách thức để phân biệt thân xác của con người, con người mở ngỏ với Thiên Chúa và với một người khác". Bởi vì người nam và người nữ là "bổ túc" cho nhau nên họ mang những quà tặng khác nhau cho một mối tương quan. Trong hôn nhân, sự bổ túc vợ chồng được thể hiện rất rõ trong các hoạt động của tình yêu vợ chồng, có con cái và cha mẹ - những hoạt động mời gọi sự hợp tác - và những quà tặng độc đáo - của chồng và vợ.

10. Tại sao Giáo Hội Công Giáo quan tâm rất nhiều đến hôn nhân?

Giáo hội Công giáo quan tâm đến hôn nhân bởi vì hôn nhân là điều thiện căn bản trong chính nó và là nền tảng cho sự tồn tại và hưng thịnh của con người. Noi gương Chúa Giêsu, Giáo Hội quan tâm đến toàn thể con người, và tất cả mọi người. Hôn nhân  ảnh hưởng đến tất cả mọi người. Ngày nay, người dân trên khắp thế giới đang đau khổ vì sự tan vỡ của gia đình - ly hôn, sinh con ngoài giá thú, v.v… Hôn nhân không bao giờ chỉ là một vấn đề "riêng tư"; nó mang ý nghĩa công khai và kết quả công khai. Người ta chỉ có suy nghĩ kết nối giữa các gia đình không có cha và những thanh niên trẻ trong tù để biết rằng điều này là đúng. Ngoài ra, đề xuất "định nghĩa lại" hôn nhân bao gồm hai người nam hoặc hai người nữ thực sự là một đề nghị để "định nghĩa lại" con người, nhưng lại lãng quên người nam, người nữ nghĩa là gì. Đây là một sự bất công cơ bản đối với người nam, người nữ, trẻ em và những người cha, người mẹ. Hôn nhân thực sự là một trong những vấn đề xã hội quan trọng nhất của thời đại chúng ta.

Nguồn: usccb.org

Tạ Ân Phúc

 

12. TRANG GIÁO LÝ VIÊN

25 Bài Giáo Lý Về Thánh Phaolô

Bài 17: Trong hành trình rao giảng Tin Mừng, Phaolô có nhiều bạn đồng hành và cộng tác với Ngài, những ai là người đáng chú ý? (tiếp theo)

Barnabas, một người Do Thái thuộc dòng họ Lêvi, quê ở Cyprus, đã bán thửa ruộng lấy tiền đặt dưới chân các tông đồ (Cvtđ 4:36-37), và có một vai trò quan trọng trong thư gởi tín hữu Galata (Gal 2:1-13; xem thêm 1 Cor 9:6).

Phaolô cho rằng Barnabas đã dính líu đến vụ căng thẳng về vấn đề đòi hỏi những người dân ngoại theo Kitô giáo phải giữ những luật về ăn uống theo Luật Môisê. Ban đầu, Barnabas đồng hành với Phaolô đến Jerusalem, và ở đó ông được chúc lành và được sai đi đến dân ngoại. Nhưng thánh Phaolô nhận định rằng sau này Barnabas bị lôi cuốn bởi Phêrô và những Kitô hữu gốc Do Thái sống giả hình (Gal 2:13), nghĩa là họ không chấp nhận ngồi đồng bàn với dân ngoại không chịu cắt bì nếu có những Kitô hữu gốc đạo Do thái chất vấn họ. Còn khi không có ai để ý, họ lại đến với dân ngoại như không có gì xảy ra.

Ta cũng nên biết tình bạn giữa Barnabas và Phaolô ban đầu rất thân thiết. Chính Barnabas là người đã bảo vệ và giới thiệu Phaolô đến các môn đệ ở Jerusalem vì những môn đệ này sợ Phaolô là kẻ săn bắt họ (Cvtđ 9:26-27). Rồi chính Barnabas đã đem Phaolô đến Antiokia (Cvtđ 11:25-26) và cùng Phaolô đi rao giảng tin mừng (Cvtđ 14:1). Sau này, vì bất đồng ý kiến trong việc nhận Gioan Máccô cùng đi truyền giáo chung, Phaolô và Barnabas chia tay nhau, hai người hai ngã: “Ông Banarbas muốn đem theo cả ông Gioan cũng gọi là Máccô. Nhưng ông Phaolô thì nghĩ là một người đã từng bỏ hai ông từ khi ở miền Pamphylia và đã không cộng tác với hai ông, thì không nên đem theo. Hai bên nổi nóng đến mức phải chia tay nhau. Ông Barnabas đem ông Máccô theo, vượt biển đi đảo Cypre. Còn ông Phaolô thì chọn ông Silas và lên đường, sau khi đã được các anh em giao phó cho ân sủng Chúa” (Cvtđ 15:37-40). Cũng nên biết rằng Gioan Maccô là em họ của Barnabas ( Col 4:10).

Appolô: được nói đến trong Công Vụ Tông Đồ và thư thứ nhất giở tín hữu Corintô. Là một người Do Thái lưu vong, quê quán ở Alexandria, Ai Cập, Appôlô đi truyền giáo ở Ephêsô và Corintô (Cvtđ 18:24-28).

Ở Corintô, vì “ông là người có tài hùng biện và thông thạo Kinh Thánh” (Cvtđ 18:24) nên ông được nhiều người ngưỡng mộ. Một số người theo ông và tự nhận mình thuộc nhóm Appôlô : “Trong anh em có những luận điệu như: "Tôi thuộc về ông Phaolô, tôi thuộc về ông Apôlô, tôi thuộc về ông Kêpha, tôi thuộc về Đức Kitô." (1 Cor 1:12). Sự chia rẽ bè phái không hẳn là do Appôlô, vì không thấy Phaolô nói đến trong thư, mà có thể do lòng yêu mến cá nhân của nhiều người đi theo ông. Phaolô cải huấn tư tưởng chia rẽ trong những phân biệt mục vụ này bằng lời khuyên: “Tôi trồng, anh Apôlô tưới, nhưng Thiên Chúa mới làm cho lớn lên” (1 Cor 3:6).

Aquila và Priscilla: Chồng Aquila và vợ Priscilla được nhắc đến trong thư Phaolô gởi Roma (Rom 16:3). Aquila là người Do Thái, sinh ở Pontus, vùng Cilicia. Hai vợ chồng có nhiều đóng góp cho Hội Thánh (Cvtđ 18:2 ff; 26; 1 Cor 16:19). Hai người sống ở Roma, nhưng vào khoảng năm 43-44, hoàng đế Claudius ra lệnh trục xuất tất cả những người Do Thái ra khỏi Roma, hai vợ chồng dời về định cư ở Corintô (Cvtđ 18:2). Thánh Phaolô gặp hai vợ chồng tại Corintô trong hành trình truyền giáo lần đầu tiên, lúc đó hai ông bà đã là Kitô hữu. Hai ông bà làm nghề dệt lều, và có thể vì đồng nghiệp với Phaolô nên họ trở nên bạn thân (Cvtđ 18:1-3). Hai người đưa Phaolô từ Corintô đến Ephêsô trên đường Ngài qua Syria (Cvtđ 18:18-19). Ở đây hai vợ chồng dạy giáo lý cho Apôlô (Cvtđ 18:18-28), và giúp Phaolô ở đó chừng hơn 2 năm. Ở Ephêsô, hai vợ chồng họp mặt Hội thánh Chúa trong nhà riêng (1 Cor 16:19). Họ rời Ephêsô trở về Roma, có lẽ sau cuộc nổi loạn của thợ bạc Demetrius nổi lên chống đối Phaolô (Cvtđ 19:24-40), và ở Roma họ cũng họp Hội thánh trong nhà mình (Rom 16:3-5). Khi Nerô vu cáo Kitô hữu đốt thành Roma và trừng phạt Kitô hữu, hai vợ chồng có lẽ trốn qua Ephêsô và ngụ lại đo (2 Tim 4:19). Hai vợ chồng đã đóng góp rất nhiều cho công cuộc truyền giáo của Phaolô.

Ngoài ra, chúng ta còn đọc được tên những người cộng tác với Phaolô trong việc truyền giáo: Urbanô (Rom 16:9), Epaphroditus ở Philiphê (Phil 2:25), Clementê (Phil 4:3), Philêmon (Philêmon 1), Maccô, Demas, Aristarchus và Luca (Philêmon 24), Epaphras ở Côlôsê ( Col 1:7; 4:12).

Tóm lại, hai điều đáng chú ý trong công cuộc truyền giáo của thánh Phaolô. Một là thánh nhân không đi truyền giáo một mình mà được sự giúp đỡ, hỗ trợ của nhiều người. Hai là sự tham gia đóng góp của giáo dân trong Giáo hội là điều cần thiết và tất yếu để công cuộc rao giảng tin mừng được thực hiện.

Mt. Nguyễn khắc Hy, S.S.

Nguồn: liendoanconggiao.net

 

13. TRANG QUỚI CHỨC

PHÚC THẬT

Chúng ta thường nghe các bậc trưởng bối nói với con cháu mới lớn các câu này: Đi tu đi con, đi tu sướng lắm; và những người gặp khó trong đời sống vợ chồng cũng thường hay than vãn: phải biết vậy hồi đó đi tu cho rồi !

Có phải đúng như lời của nhà thơ Nguyễn Du đã nói: Tu là cõi phúc tình là dây oan?

Đi tu có thật sự sướng lắm như người giáo dân vẫn nghĩ không? Có lẽ nhiều người thấy cảnh người đi tu ăn mặc tươm tất, không phải dãi nắng  dầm mưa, đi đâu nhà cửa cũngcó sẵn để ở, được mọi người trọng vọng, không lo thế sự, nên nghĩ đời tu thật là sướng, không giống như những người sống giữa đời ngày ngày phải lo cơm áo, gạo tiền…

Nhưng mà nếu đời tu sướng thật thì tại sao người ta không tu mà ở thế gian làm gì? Có ai mà không thích sung sướng chứ? Chúng ta cực khổ giữ đạo cốt để ngày sau được hạnh phúc kia mà. Chắc chắn đời tu cũng có cái khổ của đời tu chứ không đơn giản như những gì người ta vẫn thấy bên ngoài. Cái khó của đời tu năm bên trong chữ tu. Tu có nghĩa là sửa chữa mà chúng ta ai cũng biết thà làm ra một cái mới còn dễ hơn sửa lai một cái đã hỏng. Đời sống của một vị tu hành đáng để được người ta trọng vọng không phải là một điều tự nhiên mà có, nhưng muốn có được như thế họ phải tu tâm dưỡng tánh từng giây từng phút, ngày này sang ngày khác, cho đến chết. Bởi vì, chỉ một phút yếu đuối, một thoáng mất kiềm chế thì bao nhiêu công sức bỏ ra cũng thành công dã tràng trước mặt người đời. Hương thơm bạt ngàn nhưng người ta không để ý tới nhưng chỉ một chút mùi hôi là người ta cũng phát hiện ra.

Nói vậy để cho thấy mỗi người mỗi cảnh mình ở ngoài cuộc thì không thể hiểu được người trong cuộc. Ở đời ai cũng có cái sướng, cái khổ riêng của mình, không ai giống ai, miễn sao mình cố gắng vui vẻ chu toàn quyết định của mình thì đó mới thật là hạnh phúc.

Đi tu có dễ không? Điều này khó trả lời. Bởi vì nếu tính theo tỉ lệ thì người đi tu ít hơn người sống trong bậc vợ chồng, có những người đi tu dù đã nhận chức thánh, dù đã khấn rồi vẫn không thể bước tiếp, điều đó là một thực tế trước mắt. Nhưng cũng có những trường hợp đi tu rất thuận lợi đang sống ở thế gian rất thành công, rồi một ngày có ý định đi tu và cuối cùng là linh mục, tu sĩ không ai ngờ. Nhưng những trường hợp này thì rất hiếm. Vậy đi tu khó hay dễ? Dễ đối với những ai được Chúa kêu gọi và nhận ra ơn gọi của mình, nhưng khó đối với những ai Chúa không chọn, và khó để trở thành một nhà tu đích thật trước mặt Chúa và người đời.

Đối với Chúa, Người thấu suốt lòng dạ, tâm trí con người, Người thấy tất cả những hành vi, suy tính của chúng ta.

Đối với con người, người đi tu giống như người ở trên cao, người ta vẫn nghĩ đó là người thánh, không thể có những khuyết điểm, thiếu sót, người tu phải là người hoàn hảo, phải là mẫu mực cho mọi người. Cái khó là ở chổ đó, cái khổ cũng tại nơi đó.

Đã là con người, ai mà không có những thiếu sót (có thể ví đó như là mãnh đất để mỗi người canh tác vậy) và có những thói hư tật xấu mà người ta phải chỉnh đốn nó để chết vẫn chưa xong, bởi con người chúng ta đâu phải như cục đất sét đưa vào khuông thi ra hình dạng cố định không thay đổi nữa, nhưng nhiều khi cục gạch vừa mới in ra chưa cứng vẫn bị biến dạng, đưa vào lò nung vẫn thay đổi hình thể kia. Thế nhưng sự kỳ vọng của giáo dân nơi người tu quá lớn nên dù một lỗi nhỏ của người tu cũng sẻ trở thành một đề tài cho cả một tập thể mà không thể ước lượng được mức độ to lớn của nó. Có lẽ bởi thế mà Giáo hội đã dùng từ Ơn Gọi để chỉ cho nhưng ai sống trong bậc tu trì, mặc dù theo nghĩa phổ quát từ ơn gọi có nghĩa ý định của Chúa cho mỗi người sống trong một bậc sống khác nhau.

Nói như thế không có nghĩa là đề cao đời tu mà hạ thấp đời sống vợ chồng nhưng là để chúng ta hiểu cho thấu đáo để rồi mỗi Kitô hữu dù sống trong bậc sống nào cũng nhận ra cái sướng cái khổ của mình, đừng đứng núi này trông núi nọ, đừng nghĩ mình vô phúc hơn người khác hay mình có đặc quyền hơn người khác. Sống trong bậc sống nào là do Thiên Chúa đặt định, đó là công việc mà mỗi người phải chu toàn, đã là công việc thì phải ra sức, phải nổ lực mới hoàn thành được, nhưng đáp lại, chúng ta sẽ được hưởng thành quả của nó, người trồng dưa sẽ có dưa, người trồng đậu sẽ có đậu, chúng ta sẽ chia xẻ thành quả cho nhau để có được hạnh phúc trọn vẹn.

Người đi tu đáng được mọi người trọng vọng bởi họ đang làm một việc đặc biệt nhưng nếu được Chúa chọn để làm việc đặc biệt hơn các công việc của người khác mà không cố gắng thì thật sự bất xứng. Nhưng dù người đi tu có được thành công, danh phận thì cũng phải nhớ rằng không phải chỉ do nỗ lực cá nhân mà là nhờ Giáo hội cất nhắc, nhờ lời cầu nguyện của bao nhiêu người. Có nhiều người đã nói cũng một ý như thế này: con tu một, cha mẹ tu mười. Một linh mục, tu sĩ đích thực không thể xuất thân từ một gia đình bê bối chễnh mãn, một cộng đoàn tu sĩ không thể tồn tại nếu giáo dân không ủng hộ bằng vật chất và tinh thần. Cố gắng chu toàn trách nhiệm, hiểu nhau để cảm thông chia xẻ những khó khăn đau khổ của nhau thì hạnh phúc không phải của riêng ai.

 

14. SỐNG ĐẸP

Ngẫm Nghĩ Về Cuộc Đời!

Đừng bao giờ trách móc bất kỳ ai trong cuộc sống của bạn. Người Tốt sẽ cho bạn Hạnh Phúc. Người Xấu cho bạn Kinh Nghiệm.  Người Tồi Tệ nhất cho bạn Bài học, và  người Tuyệt Vời Nhất sẽ cho bạn Kỷ Niệm.

Đừng hứa khi đang vui! Đừng trả lời khi đang nóng  giận! Đừng quyết đinh khi đang buồn! Đừng cười khi người khác không vui!  

Cái gì mua được bằng tiền, cái đó rẻ.

Ba năm học nói, một đời học cách lắng nghe.Chặng đường ngàn dặm luôn bắt đầu bằng 1 bước đi. Đừng a tòng ghen ghét ai đó, khi mà họ chẳng có lỗi gì với ta.

Tuy trong rừng có nhiều cây đại thọ cả ngàn năm, nhưng người sống thọ đến 100 tuổi không nhiều. Bạn thọ lắm cũng chỉ sống đến 100 tuổi (tỉ lệ 1 trên 100.000 người). Nếu bạn sống đến 70 tuổi, bạn sẽ còn 30 năm. Nếu bạn thọ 80 tuổi, bạn chỉ còn 20 năm. Vì lẽ bạn không còn bao nhiêu năm để sống và bạn không thể mang theo các đồ vật bạn có, bạn đừng có tiết kiệm quá mức. (trên 50t mừng từng năm, qua 60t mong hàng tháng, tới 70t đếm mỗi tuần, đến 80t đợi vài ngày, được 90t… ngơ ngác một mình với giờ phút dài thăm thẳm!).  Bạn nên tiêu những món cần tiêu, thưởng thức những gì nên thưởng thức, tặng cho thiên hạ những gì bạn có thể cho, nhưng đừng để lại tất cả cho con cháu. Bạn chẳng hề muốn chúng trở nên những kẻ ăn bám.

Đừng lo lắng về những gì sẽ xảy ra sau khi bạn ra đi, vì khi bạn đã trở về với cát bụi, bạn sẽ chẳng bị ảnh hưởng bởi lời khen hay tiếng chê bai nữa đâu.

Đừng lo lăng nhiều qúa về con cái vì con cái có phần số của chúng và chúng sẽ  tự tìm cách sống riêng. Đừng trở thành kẻ nô lệ của chúng.  Đừng mong chờ nhiều ở con cái. Con biết lo cho cha mẹ, dù có lòng vẫn quá bận rộn vì công ăn việc làm và các ràng buộc khác nên không thể giúp gì bạn. Các con vô tình thì có thể sẽ tranh giành của cải của bạn ngay khi bạn còn sống, và có khi còn muốn bạn chóng chết để chúng có thể thừa hưởng các bất động sản của  bạn. Các con của bạn cho rằng chuyện chúng thừa hưởng tài sản của bạn là chuyện dĩ nhiên nhưng bạn không thể đòi dự phần vào tiền bạc của chúng.

Với những người thuộc lứa tuổi 60 như bạn, đừng đánh đổi sức khoẻ với tài lực nữa. Bởi vì tiền bạc có thể không mua được sức khoẻ.  

Khi nào thì bạn thôi làm tiền? và có bao nhiêu tiền là đủ (tiền muôn, tiền triệu hay mấy chục triệu)? Dù bạn có cả ngàn mẫu ruộng tốt, bạn cũng chỉ ăn khoảng 3 lon gạo mỗi ngày; dù bạn có cả ngàn dinh thự, bạn cũng chỉ cần  một  chỗ rộng 8 mét vuông để ngủ nghỉ ban đêm. Vậy chừng nào bạn có đủ thức ăn và có đủ tiền tiêu là tốt rồi. Nên bạn hãy sống cho vui vẻ. Mỗi gia đình đều có chuyện buồn phiền  riêng.  Đừng so sánh với người khác về danh vọng và địa vị trong xã hội và con ai thành đạt hơn, nhưng bạn hãy so sánh  về hạnh phúc, sức khỏe và tuổi thọ…

Đừng lo nghĩ về những chuyện mà bạn không thể thay đổi vì chẳng được gì, mà lại còn làm hại cho sức khỏe bạn…Bạn phải tạo ra sự an lạc và tìm được niềm hạnh phúc của chính mình. Miễn là bạn phấn chấn, nghĩ toàn chuyện vui và làm những việc bạn muốn  mỗi ngày một cách thích thú thì bạn thật đã sống hạnh phúc từng ngày.

Một ngày qua là một ngày bạn mất đi, nhưng một ngày trôi qua trong hạnh phúc là một ngày bạn “được”. Khi bạn vui thì bệnh tật sẽ lành; khi bạn hạnh phúc thì bệnh sẽ chóng hết. Khi bạn vui và hạnh phúc thì bệnh sẽ chẳng đến bao giờ.Với tính khí vui vẻ, với thể thao thể dục thích đáng, thừơng xuyên ra ánh sáng mặt trời, thay đổi thực phẩm đa dạng, uống thuốc bổ vừa phải, hy vọng rằng bạn sẽ sống thêm 20 hay 30 năm tràn trề sức khỏe.Và nhất là biết trân qúy những điều tốt đẹp quanh mình và còn Bạn bè nữa… họ đều làm cho bạn cảm thấy trẻ trung và có người cần đến mình. Không có họ chắc chắn bạn sẽ cảm thấy lạc lõng, bơ vơ.

Xin chúc bạn mọi điều tốt đẹp nhất.

(Xin chia sẻ những điều này với tất cả những người quen của bạn đã trên 60 tuổi hay những người không bao lâu nữa cũng sẽ trên 60).

Internet

 

15. HỎI ĐÁP MỤC VỤ

Lễ Trọng Nào “Là Cao Hơn” Lễ Chúa Nhật?

Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), Khoa trưởng Thần học và giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma.

Hỏi: Hàng năm, ngày 29-6, Giáo Hội long trọng cử hành lễ thánh Phêrô và thánh Phaolô Tông đồ, cho dù nếu lễ này rơi vào ngày Chúa Nhật. Nếu tôi không nhầm, lễ Cung Hiến Đền thờ Latêranô ở Rôma cũng nắm giữ vinh dự này – nghĩa là lễ này "là cao hơn" lễ Chúa Nhật Thường niên, nếu nó đúng vào một ngày Chúa Nhật. Tuy nhiên, một số lễ trọng và lễ kính khác dường như có tầm quan trọng về tín lý và đường thiêng liêng hơn so với các lễ trên đây, đặc biệt là các lễ trọng kính Đức Trinh Nữ Maria, lại được chuyển vào thứ Bảy trước hoặc vào ngày thứ Hai sau, nếu các lễ trọng này rơi vào ngày Chúa Nhật. Do tầm quan trọng của Chúa Nhật trong đức tin của chúng ta, thưa cha, làm thế nào xác định được lễ nào có thể “là cao hơn” lễ Chúa Nhật, và lễ nào là không cao hơn? - A. H., New York, Mỹ.  

Đáp: Câu hỏi này chứng tỏ một thực tế là những gì xem ra là hiển nhiên đối với một số người trong chúng ta, những người hàng ngày phải vật lộn với vấn đề phụng vụ, lại không nhất thiết phải là rõ ràng cho các tín hữu. Đây là một câu hỏi rất tốt của một người Công Giáo quan tâm chu đáo, và nhắc nhở chúng ta rằng đôi khi câu hỏi là tốt để giải thích các khái niệm dễ gây nhầm lẫn.    

Lịch phụng vụ được phát triển qua nhiều thế kỷ và đã được tổ chức trong nhiều cách khác nhau. Vì nhiều lý do, việc cử hành phụng vụ của một Chúa Nhật, đặc biệt là ngoài các mùa lớn, đã liên tục có nguy cơ bị thay thế bằng việc cử hành lễ các thánh nổi tiếng và việc sùng kính phổ biến. Trong nhiều dịp, Giáo Hội đã phải can thiệp để khôi phục lại việc cử hành Thánh lễ Chúa Nhật, cho vai trò trung tâm mà lễ Chúa Nhật cần có, trong lòng đạo đức của các tín hữu.   

Các nỗ lực gần đây nhất là các quy tắc hiện nay, được ban hành sau Công Đồng chung Vatican II. Các qui tắc này thiết lập một hệ thống xếp hạng mới cho các lễ trọng, và một bảng mới của các ngày phụng vụ, vốn nêu ra sự ưu tiên của một lễ này so với một lễ khác. Các sự phân chia này của các cử hành bao gồm: lễ trọng, lễ kính, lễ nhớ bắt buộc và lễ nhớ tùy chọn. Cũng đã có một nỗ lực lớn để củng cố việc cử hành lễ Chúa Nhật, vốn chỉ có thể được thay thế bằng lễ kính trọng thể mà thôi.     

Các ngày Chúa Nhật của các mùa phụng vụ chính, như Mùa Vọng, Mùa Chay và Phục Sinh là cao hơn lễ trọng trong bảng danh sách, và do đó các lễ trọng nào rơi vào các ngày Chúa Nhật này thường được chuyển qua ngày khác.    

Bởi vì lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội rơi vào mùa Vọng, lễ này thường được chuyển qua ngày khác nếu ngày ấy là Chúa Nhật, trừ ở một số quốc gia như Tây Ban Nha và Ý, vì ở các nước này, đây là một ngày lễ nghỉ, và luôn được tổ chức vào ngày 8-12.        

Điều tương tự cũng đôi khi xảy ra đối với lễ Thánh Giuse và lễ Truyền Tin, vốn luôn luôn rơi vào mùa Chay hay mùa Phục Sinh. Thực tế, trong năm tới (2016), lễ Truyền Tin sẽ rơi vào Thứ Sáu Tuần Thánh, cho nên lễ này sẽ được chuyển đến sau tuần Bát nhật Phục Sinh, và sẽ mừng vào ngày thứ hai 4-4.

Một số quốc gia nhận được một ngoại lệ đặc biệt so với luật chung từ Tòa Thánh, trên một cơ sở ad hoc (đặc biệt, theo tình thế). Ví dụ, Tòa Thánh đã cho phép các Giám mục Mexico cử hành lể kính Đức Mẹ Guadalupe vào ngày 12-12, thậm chí cả khi lễ rơi vào một Chúa Nhật Mùa Vọng. Sự cho phép này không được mở rộng vượt ra ngoài biên giới quốc gia.

Đối với các Chúa Nhật của Giáng sinh và mùa thường niên, các quy định là ít nghiêm ngặt hơn. Tuy nhiên, ngay cả trong trường hợp này, chỉ có lễ trọng kính Chúa và lễ kính Chúa mới có thể thay thế lễ Chúa Nhật. Tất cả các lễ kính và lễ nhớ khác được bỏ qua, nếu trùng vào ngày Chúa Nhật.    

Đó là lý do tại sao lễ thánh Phêrô và thánh Phaolô Tông đồ thay thế lễ Chúa Nhật; điều này cũng duy trì cho các lễ trọng khác, ngay cả khi nó không thường là một ngày lễ buộc (như lễ Sinh nhật thánh Gioan Tẩy Giả ngày 24-6).     

Hạng đặc biệt của các lễ kính Chúa cũng thay thế lễ Chúa Nhật. Các lễ này khác với các lễ kính trọng thể vì chúng là lễ kính (nghĩa là, có kinh Vinh Danh, nhưng với chỉ hai bài đọc và không đọc Kinh Tin Kính), trừ khi chúng trùng với một ngày Chúa Nhật hoặc thường được cử hành vào một Chúa Nhật. Các lễ ấy là: 

- Lễ Chúa Giêsu chịu Phép Rửa, được cử hành vào Chúa Nhật sau ngày 6-1 (hoặc, nơi nào mà lễ trọng Chúa Hiển Linh được chuyển vào Chúa Nhật 7-1 hay 8-1, thì lễ Chúa Giêsu chịu Phép Rửa được dời vào ngày thứ hai sau đó);       

 

- Lễ Thánh Gia Chúa Giêsu, Đức Maria và Thánh Giuse, cử hành vào ngày Chúa Nhật trong tuần bát nhật Giáng Sinh, hoặc, nếu không có Chúa Nhật, vào ngày 30-12;      

- Lễ Dâng Chúa Giêsu trong Đền Thánh, được cử hành vào ngày 2-2;      

- Lễ Chúa Hiển Dung, được cử hành vào ngày 6-8;      

- Lễ Suy Tôn Thánh Giá, được cử hành vào ngày 14-9 (ở một số nước, đặc biệt là ở châu Mỹ Latinh, lễ được cử hành vào ngày 3-5 vì các lý do lịch sử và mục vụ);

- Lễ Cung hiền Đền thờ Latêranô, được cử hành vào ngày 9-11. (Đây là một lễ kính Chúa, bởi vì vương cung thánh đường ban đầu được cung hiến dưới tước hiệu Chúa Cứu Thế Cực Thánh, và đây vẫn là một phần của tước hiệu chính thức của đền thờ: "Vương Cung Thánh Đường Cả của Chúa Cứu Thế Cực Thánh, và thánh Gioan Tẩy Giả và Thánh Sử tại Latêranô". Các cung hiến cho Thánh Gioan Tẩy Giả và Thánh Gioan Thánh Sử đã được lần lượt thêm vào trong các thế kỷ 10 và 12).     

Không có các lễ kính hoặc lễ nhớ khác thay thế ngày Chúa Nhật. Nhưng vì một lý do nghiêm trọng, một Giám mục có thể ra lệnh hoặc cho phép một Thánh lễ đặc biệt được cử hành vào ngày Chúa Nhật mùa Thường niên, chẳng hạn một Thánh lễ cầu cho hòa bình trong một cuộc khủng hoảng lớn.

Zenit.org 2-6-2015

Nguyễn Trọng Đa dịch

 

16. SUY NIỆM

BIẾN ĐỔI TẬN CĂN

Các bạn thân mến

Sau khi Đức Giêsu đã về trời, các môn đệ nghe lời dặn của Thầy nên đã tụ tập ở Giê-ru-sa-lem chờ ơn trên từ trời. Trong một buổi hội họp nhau cầu nguyện, khi bầu khí hết sức thánh thiêng và cực kỳ thinh lặng, bỗng nhiên các môn đệ nghe một âm thanh thật lạ thường phát ra từ thinh không. Thanh âm ấy réo rắt và trong trẻo tựa hồ như tiếng gió hú làm xao động cả không trung. Cả không gian căn phòng tràn ngập tiếng gió lùa. Theo sau gió, là những đóm hình lưỡi lửa, tản ra đậu trên đầu mỗi người. Và ai nấy đều được tràn đầy ơn Thánh Thần.

Kể từ nay, Đức Giêsu sẽ chính thức chuyển trao hoạt động cho Thánh Thần. Chính Thánh Thần đã ngự xuống để làm cho Đức Maria thụ thai và cưu mang Đấng Cứu Thế. Thần Khí ấy cũng dun dủi và dẫn đưa Đức Giêsu vào hoang địa để chịu cám dỗ. Chính Thánh Thần cũng thúc đẩy để Đức Giêsu thốt lời ca ngợi Thiên Chúa Cha. Giờ đây, Thánh Thần lại đụng chạm và củng cố các môn đệ trên đường sứ mạng. Nơi đâu Thánh Thần hiện diện, chẳng thể thiếu vắng tình thương sự sống, chân lý và hiệp nhất. Thánh Thần đến để hòa giải và hòa hợp chia rẽ giữa con người vốn đã xảy ra từ thời tháp Ba-bel. Chính nhờ thế, sự bất đồng giữa con người bị xóa bỏ để họ bắt đầu có thể hiểu nhau, đón nhận nhau và chấp nhận nhau với những khác biệt.

Dường như có một sự biến đổi mạnh mẽ, từ sau khi Thánh Thần hiện đến với các môn đệ. Nỗi sợ bị bị hành hình mà họ từng cảm nghiệp trong cuộc Khổ Nạn của Chúa như chợt tan biến đi nhường chỗ lại cho khao khát và ước ao để chỉ mở miệng loan báo Lời Chúa cho người khác. Bỗng chốc, họ như nhớ lại hết tất cả những giáo huấn của Đức Giêsu ngày nào. Thánh Thần phá tung mọi xiềng xích, tháo cởi mọi gông cùm, giật tung mọi cánh cửa tù túng để các môn đệ hùng dũng hiên ngang tiến ra giảng dạy công khai cho dân chúng. Thần Khí khai thông đầu óc tăm tối của họ trở nên sáng láng, môi miệng trở nên linh hoạt vì lợi khẩu. Phần đa những môn đệ là người ít chữ nhưng nay lại có khiếu hùng biện rất hùng hồn. Dưới tác động đặc biệt của Thánh Thần, dân ở khắp tận cùng bờ cõi trái đất khi nghe các môn đệ rao giảng đều như thể đang nghe tiếng mẹ đẻ của chính mình. Lời của các môn đệ phát ra được Thần Khí rót vào tai dân chúng, biến đổi con tim và hoán cải cõi lòng. Thánh Thần xuống đổi mới tất cả, tân trang cả mặt địa cầu. Thật là một biến đổi tận căn, thần kỳ và ngoạn mục. Một sự thay đổi chóng mặt và dị thường.

Các bạn thân mến

Có lẽ ta cũng cần một cuộc lột xác giống như các môn đệ. Bấy lâu nay, ta sống đạo trong ủ ê và an phận thủ thường. Ta cứ để cho dòng đời trôi qua hững hờ mà chẳng màng chi đến cải thiện chính mình. Dần dà, ta không còn sống cuộc đời của chính mình nhưng chỉ là vật vã để tồn tại trên dương thế. Sống như thế thật không bằng chết vì một chút sinh khí trong ta cũng chẳng còn. Ta đang rập khuôn đời mình theo cách sống của các môn đệ, khi chỉ thích lẩn tránh trong vỏ bọc khép kín của chính mình khi phải đối diện với cuộc đời đầy sóng gió, nhiễu nhương và thách đố. Ta ưa thích bóng tối hơn sự sáng nên cứ giam mình trong phòng tối hơn là mở cửa cho ánh nắng vào phòng. Ta thích bầu bạn với nước mắt sầu muộn và than van hơn là hân hoan rảo bước loan tin vui Phục Sinh của Chúa. 

Nếu bình tâm đủ để lắng đọng, ta sẽ nhận ra những dấu vết của Chúa Thánh Thần trong cuộc sống hằng ngày. Mỗi lần ta bị đặt giữa chọn lựa giữa điều tốt và việc xấu, ta sẽ nghe tiếng Chúa Thánh Thần thì thầm thỏ thẻ với mình qua lương tâm. Khi ta đã sa lầy vào con đường tội lỗi, Thánh Thần giúp ta dục lòng sám hối nhận lỗi để ăn năn. Khi cơn cám dỗ chực chờ nuốt chửng lấy ta, Thánh Thần lại an ủi, động viên và khuyến khích ta vững tin vào Chúa. Có thể nói, chúng ta luôn sống dưới sự chăm sóc đặc biệt của Chúa Thánh Thần. Mặc dù đôi khi ta chẳng ý thức, nhưng Thánh Thần vẫn âm thầm hoạt động ở trong ta. Chỉ tiếc là qua thời gian, ta đã chẳng cộng tác với Thánh Thần nên Ngài đã chẳng có dịp trổ tài.

Ta hãy năng chạy đến với Thánh Thần hơn nữa vì ta hay cầu nguyện với Chúa Cha và Chúa Con hơn. Hãy xin lửa của Thánh Thần để thiêu đốt bao ô uế bợn nhơ của nết hư và thói xấu. Xin Ngài dẫn ta vào hoang địa để chấp nhận chịu cám dỗ như Đức Giêsu hầu vững bước xông pha giữa dòng đời nghiệt ngã. Xin Ngài khơi gợi trong ta sự khôn ngoan mang tính sáng tạo của Thiên Chúa. Xin Ngài củng cố ta trong sự can đảm để dám vượt bỏ ra khỏi vùng bóng tối để tiến vào vùng ánh sáng ngập tràn. Xin Ngài soi sáng và giúp ta sống tâm tình biết ơn để đôi môi không ngớt lời ca ngợi bao kỳ công của Thiên Chúa đã thực hiện trên đời ta. Đời sống đức tin của ta chỉ thay da đổi thịt một khi ta nhận chìm mình trong Thánh Thần. Một khi xuôi buồm theo luồng gió của Thần Khí, con thuyền đời ta bon bon thẳng tiến về bến bình an. 

 Jos. Nguyễn Huy Mai, SJ

Nguồn: vietvatican.net

 

17. SỐNG LỜI CHÚA

CHÚA NHẬT XV THƯỜNG NIÊN

CHÚA SAI ĐI RAO GIẢNG

Mc 6, 7 – 13

 Một trong sứ mạng quan trọng nhất của người tín hữu là sống và làm chứng cho Chúa. Làm môn đệ của Chúa nghĩa là được kêu mời truyền giáo, loan báo Đức Giêsu Kitô cho muôn người. Các môn đệ của Chúa được Chúa huấn luyện, đào tạo và cuối cùng được sai đi loan báo Tin Mừng về Nước Thiên Chúa. Tuy nhiên, Chúa căn dặn thật kỹ, thật tỉ mỉ và rõ ràng khi các môn đệ ra đi truyền giáo. Chúa phán: “Không được mang lương thực, bao bị, tiền bạc…”( Mc 6, 8 ). Gói hành trang của các môn đệ là chiếc quần, chiếc áo đang mặc, cây gậy và đôi dép đi đường.  

Tại sao Chúa lại ra lệnh cho các môn đệ như thế?        

Được Chúa mời gọi, các môn đệ đã bỏ mọi sự mà theo Chúa Giêsu. Các Ngài được Chúa đào tạo, huấn luyện và chuẩn bị để được sai đi rao giảng Tin Mừng. Những năm tháng ở với Chúa được Chúa cho đi thực tập việc truyền giáo, làm việc tông đồ, các môn đệ vẫn chưa ý thức nhiều về việc truyền giáo bởi vì các Ngài chưa lãnh nhận Chúa Thánh Thần. Biến cố Chúa Giêsu, Thầy của các môn đệ bị bắt, bị treo trên Thập Giá đã làm các Ngài hoàn toàn nao núng, hầu như tan tác. Tuy nhiên, khi Chúa sống lại Ngài đã về Galilê để gặp các môn đệ, để sống với các Ngài, để làm chứng về tất cả những điều Ngài đã nói với các môn đệ khi Ngài còn sống. Và trước khi về trời, Chúa đã sai các môn đệ ra đi làm chứng cho Chúa trên khắp cùng bờ cõi trái đất. Các môn đệ đã nhớ lại Lời của Chúa: “Ra đi truyền giáo, không được mang lương thực, bao bị, tiền bạc…”. Lệnh truyền giáo và lời căn dặn của Chúa muốn các môn đệ phải ghi khắc: “Con chồn có hang, chim trời có tổ, con Người không có chỗ dựa đầu”. Chúa muốn các môn đệ hoàn toàn nương tựa vào Chúa, phó thác tuyệt đối cho tình yêu quan phòng của Chúa và lòng quảng đại vị tha của mọi người. Thân phận của người được sai đi là thế. Ra đi mà không có gì gọi là đảm bảo, không có gì dính bén. Đi đâu cũng đến và luôn sẵn sàng ra đi bất cứ lúc nào. Thành công không vênh vang và thất bại không chán nản…  

Mặc dầu với một con số ít ỏi các môn đệ khi Chúa về trời, và dù khả năng của các Ngài xem ra có hạn không đủ để có thể chu toàn sứ mạng lớn lao. Tuy đức tin của các Ngài còn chập choạng, nhưng với ơn sủng và thiện chí thiện tâm, các môn đệ sẽ hoàn tất sứ mệnh Chúa trao phó. Đọc lại Tin Mừng và sách Công Vụ Tông Đồ, chúng ta nhận thấy sau khi đã lãnh nhận Chúa Thánh Thần, các tông đồ ra đi khắp mọi mọi nơi làm chứng cho Chúa, các Ngài không sợ bất cứ điều gì: roi vọt, tù đầy, chết chóc. Lịch sử minh chứng ngoại trừ Gioan, tất cả các môn đệ khác đều đổ máu đào hy sinh mạng sống để làm chứng cho Chúa. Nước Trời thoạt đầu chỉ là một hạt cải nhỏ bé, qua lời rao giảng của các tông đồ và nhiều người kế tiếp đã trở thành cây lớn, cành lá sum xê, bao phủ cả trái đất, chim trời khắp nơi, khắp thế giới đã có nơi cư ngụ, đã có nơi đậu trú chân.

Là con của Chúa và con của Hội Thánh, Chúa và Hội Thánh vẫn sai chúng ta đi làm chứng cho Chúa, làm chứng cho Nước Thiên Chúa. Từ xưa đến nay đã có biết bao nhiêu lớp người được sai đi loan báo Tin Mừng, làm chứng cho sự thật, cho Chúa Giêsu. “Khốn thân tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1 Co 9, 16 ). Thánh Phaolô đã thốt lên như thế, câu nói ấy cũng phải là câu nói của mỗi người chúng ta. Chúa sai chúng ta đi và vẫn trao cho chúng ta những điều quí giá như là hành trang để chúng ta lên đường. Chúa trao cho chúng ta quyền rao giảng Tin Mừng, quyền trừ quỉ và quyền chữa bệnh. Chúng ta hãy lên đường chia sẻ niềm vui, làm chứng cho Chúa và xua trừ những thói hư tật xấu ra khỏi người khác, đó là xua trừ ma quỉ. An ủi những người gặp khó khăn là phương cách chữa bệnh.     

Chúng ta là những Kitô hữu thế kỷ XXI, chúng ta có phụ lòng Chúa hay không? Chúng ta có mau mắn lên đường làm chứng cho Chúa và giới thiệu Chúa cho nhiều người hay không? Chúng ta có đáp ứng lại lời mời gọi của Chúa và ý thức sứ mệnh của Giáo Hội là truyền giáo hay không?  

Lạy Chúa Giêsu, Chúa sai các tông đồ ra đi loan báo Tin Mừng, hôm nay, giờ đây nhờ lời cầu bầu của các tông đồ, xin Chúa ban cho chúng con đức tin mạnh mẽ để chúng con làm chứng cho Chúa và làm nhân chứng cho Chúa bằng chính cuộc sống của chúng con. Amen.

 

CHÚA NHẬT XVI THƯỜNG NIÊN      

HÃY NGHỈ NGƠI      

Mc 6, 30 – 34

Sau những ngày ra đi mọi nơi làm việc truyền giáo, loan báo Nước Trời, các môn đệ đã gặt hái được nhiều thành quả thật tốt đẹp. Người ta có thể ví được đây là lúc vàng son của các môn đệ. Do đó, các Ngài trở về gặp Chúa Giêsu và sung sướng kể lại cho Thầy của mình nghe mọi việc các Ngài đã làm được, mọi thành công các Ngài đã gặt hái. Chúa Giêsu sau khi nghe các môn đệ trình bầy sự việc, kể lại những thành tựu tốt đẹp họ đã gặt hái trên đường truyền giáo. Chúa Giêsu đã khuyên các Ngài hãy rút lui vào nơi vắng vẻ để cầu nguyện và nghỉ ngơi…  

Các môn đệ được Chúa cho ra đi các nơi thực tập truyền giáo. Nhờ học hỏi nơi Chúa Giêsu, nhờ sự nâng đỡ của Ngài và sự tác động của Chúa Thánh Thần, các môn đệ đã gặt hái hết thành công này tới thành công khác. Sự thành công của các môn đệ ngoài dự tưởng của các ông bởi vì có những người nhờ lời giảng dạy của các ông đã tìm được Chúa, có những người, các môn đệ đặt tay đã làm cho họ được khỏi bệnh, có những người bị quỷ dữ hành hạ đã được các môn đệ cứu sống. Các môn đệ quả thực đã rất hạnh phúc và thành công. Trong cuộc đời làm môn đệ, có lẽ không lúc nào các ông cảm thấy hãnh diện và sung sướng bằng lúc này vì những thành công tới với các ông một cách rất dễ dàng và xem ra thật nhẹ nhàng. Những thành công này có lẽ đã làm cho các ông quên đi những điều căn bản nhất Thầy mình đang muốn các ông phải tuân thủ, vâng lời.         

Làm gì hạnh phúc bằng những công việc của các môn đệ Chúa được người ta đón nhận và những thành quả truyền giáo ấy như là những việc vàng son nhất của của môn đệ ? Chính vì thế, các môn đệ đã rất phấn khởi thuật lại những kết quả xem ra rất thành công của các ông cho Chúa Giêsu nghe. Chúa hiểu tường tận những thành quả của các môn đệ, nhưng Ngài lưu tâm đến con người của các môn đệ hơn các công việc. Chúa muốn các môn đệ hãy lánh xa sự ồn ào, tránh xa dân chúng, Ngài muốn các môn đệ nghỉ ngơi bởi vì công việc nhiều ngày qua đã làm các ông quá vất vả, quá mệt mỏi, Chúa muốn các ông để cho tâm hồn yên tĩnh, lắng đọng để Thầy và trò được sống trong sự thân mật tri giao và để Thầy và trò có dịp hàn huyên rút ra những ưu khuyết điểm, những gì cần phải củng cố, những gì cần phải phát triển…Việc Chúa Giêsu muốn các môn đệ phải nghỉ ngơi, phải cầu nguyện, phải rà soát lại công việc quả thực rất cần thiết. Có rà soát công việc, có thẩm định lại những biến cố để cho tâm hồn tĩnh lặng và để Chúa nói những việc đó mới thật cần thiết. Chúa muốn cho các môn đệ của Ngài yên tĩnh, lắng đọng tâm hồn và giãn xả nghỉ ngơi là để công việc truyền giáo còn dài càng ngày càng tốt đẹp hơn.

Ngày nay, thế giới càng lúc càng văn minh, tiến bộ, người ta thích ồn ào hơn thích yên lặng để nhìn lại những gì đã làm được. Người ta thích nhìn thấy những thành công trước mắt hơn là thích suy tư, suy nghĩ…Sự ồn ào bên ngoài nhiều khi lấn át tất cả những gì thâm sâu. Đức Hồng Y Etchaygaray đã nói một câu rất chí lý: “Người ta dễ nghe thấy tiếng cây đổ hơn là tiếng tí tách của hàng triệu triệu những hạt mầm đang cố ngon lên khỏi mặt đất”. Những thành tựu trước mặt con người dễ nhận ra hơn là những cố gắng đã phải mất biết bao thời gian ấp ủ mới đi tới thành công. Đường vào Nước Trời là đường hẹp bởi vì Chúa đã nói: “Ai muốn theo Thầy hãy từ bỏ mình, vác thập giá mà theo Thầy”… Muốn đi xa cần phải dừng bước để ngơi nghỉ và rồi lại tiếp bước. Muốn học tốt phải có kế hoạch, có thời giờ hợp lý. Muốn tới đích phải có định hướng…   

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết bắt chước Chúa biết lui vào nơi vắng vẻ để nghỉ ngơi và cầu nguyện. Xin cho chúng con đừng tự phụ với những thành công gặt được và cũng đừng chán nản với những thất bại ê chề, nhưng biết dừng, biết lắng đọng tâm hồn để nghe tiếng Chúa chỉ bảo. Amen.

 

CHÚA NHẬT XVII THƯỜNG NIÊN

CHÚA NUÔI SỐNG DÂN

Ga 6, 1 – 15

Đọc Tin Mừng của Chúa Giêsu chúng ta không khỏi ngạc nhiên, vui mừng và thán phục Chúa bởi vì Ngài đã làm nhiều phép lạ ngoài sức tưởng tượng của con người. Phép lạ Chúa làm cho bánh và cá hóa thành nhiều để nuôi nhiều ngàn người ăn mà đoạn Tin mừng của thánh Gioan tường thuật ngày hôm nay minh chứng cho nhân loại thấy quyền năng tuyệt vời của Chúa. Tại sao Chúa lại làm phép lạ ? Và phép lạ hôm nay nói gì với chúng ta, với nhân loại ? 

Khi theo Chúa, có người thường chỉ trích, phê phán, đạo công giáo chỉ lo Thiên Đàng, chỉ chú ý tới đây sau mà quên đi cái hiện tại. Không phải thế, nếu nghĩ như thế quả thực người ấy chưa hiểu gì về đạo công giáo, chưa hiểu gì về Đức Giêsu Kitô. Đọc Phúc Âm có lẽ người ta sẽ có cái nhìn khác, sẽ có đánh giá đúng hơn, công bằng hơn. Chúa không chỉ dạy con người ta chỉ biết đời sau mà ngược lại khi đi rao giảng, Chúa nói về nước Trời, về đời sau nhưng Ngài không quên cái thực tế đang diễn ra trước mắt, xung quanh và ở ngay bên Ngài. Chúa loan báo nước Thiên Chúa, nhưng Ngài chữa lành các bệnh hoạn tật nguyền. Chúa quan tâm tới thân xác con người. Chúa đem lại ơn an bình và ơn cứu độ cho thân xác và tâm hồn của con người. Chúa đã nhập thể làm người, nên Ngài đã cảm nghiệm được thế nào là đói, thế nào là khát, thế nào là lạnh, thế nào là mệt mỏi. Đoàn lũ đông đảo dân chúng kiên trì đi theo Ngài sau nhiều ngày nghe Ngài rao giảng, lòng họ, tâm hồn họ phấn khởi, vui tươi, nhưng bụng họ thì đang đói. Chúa đã hiểu thấu cái đói khi Ngài ở trong sa mạc lúc Ngài ăn chay, cầu nguyện. Do đó, Chúa muốn đãi dân chúng hôm đó một bữa tiệc đơn sơ, bất ngờ nhưng ngon miệng và đầy đủ. Chúa gợi ý cho các môn đệ: “Ta mua đâu được bánh cho những người này” (Ga 6, 5). Chúa đặt các môn đệ vào nỗi bận tâm của họ. Ngài cần sự cộng tác của các môn đệ và con người.Chúa cần Anrê giới thiệu với Ngài một em bé. Chính em bé trai dâng tặng Chúa bữa ăn trưa của em. Chúa cần các môn đệ ổn định, sắp xếp chỗ ngồi cho dân trên bãi cỏ xanh. Nhờ Anrê, nhờ em bé với năm chiếc bành và hai con cá. Nhờ các môn đệ cộng tác. Phép lạ lớn lao, lạ lùng đã được thực hiện. Phép lạ này đã nằm ngoài sức dự tưởng của con người. Phép lạ hôm nay nói lên tình thương vô biên và sự quan tâm hoàn toàn con người của Chúa đối với con người, đối với tha nhân.         

Trên thế giới có người nghèo người giầu, có nước nghèo nước giầu. Thế giới cần được chia sẻ cho nhau để mọi người đỡ đau khổ, đỡ đói nghèo. Thiên Chúa đã dựng nên một trái đất tươi xinh, nhưng nghèo đói vẫn luôn có đó vì đó là thế giới con người. Thế giới con người chưa phải là hoàn thiện vì thế giới này chưa phải là thiên đàng. Chỉ với năm chiếc bánh và hai con cá, Chúa có thể làm no thỏa hơn 5.000 người ăn. Con người sẽ đẹp hơn và tốt hơn nếu họ biết chia sẻ, cảm thông và yêu thương nhau. Phép lạ sẽ xẩy ra, sẽ được thực hiện, nếu những người con Chúa biết chia sẻ cho nhau. Đừng bắt Chúa, đừng đòi hỏi Ngài phải làm phép lạ, nhưng trước hết, các Kitô hữu hãy biết cảm thông, chia sẻ cho nhau vì chính họ đã lãnh nhận Tin Mừng của Chúa là Tin Mừng của yêu thương và chia sẻ. Phép lạ năm chiếc bánh và hai con cá hóa nên nhiều dạy con người và nhân loại phải biết yêu thương, quan tâm và chia sẻ cho nhau.

Ở đâu cũng vậy, ở nước nào và ở thế giới muôn thời luôn cần đến những con người giầu lòng yêu thương, nhân đạo.Thế giới luôn cần những con người thiện nguyện dám hy sinh sống chết cho tha nhân. Thế giới luôn cần những bàn tay nhân ái, luôn cần những con tim mở rộng để chia sẻ và yêu thương. Những Phanxicô khó khăn, những Gandhi, những Albert Schweitzer, những Têrêsa Calcutta …quả đang là những tấm gương sáng chói để hướng dẫn và soi đường cho nhiều người ra đi phục vụ muôn người khốn khổ bất hạnh.       

Lạy Chúa, xin ban thêm đức tin cho chúng con để chúng con luôn biết sống yêu thương, chia sẻ góp phần nhỏ bé của chúng con vào công việc phục vụ anh em nghèo khó sống gần kề chúng con. Amen.

 

CHÚA NHẬT XVIII THƯỜNG NIÊN B

BÁNH TRƯỜNG SINH

Ga 6, 24 – 3

Con người muôn thời vẫn bó tay trước cái chết. Do đó, khoa học, y học, khoa dinh dưỡng luôn cố gắng tìm những hướng mới, những tiến bộ hơn nhằm giúp con người kéo dài thêm cuộc sống, nhưng con người càng tìm, càng kiếm những phương pháp, những kỹ thuật, nhưng dược liệu có sức cải lão hoàn đồng,con người vẫn cảm thấy thật bất lực trước cái chết. Sự chết luôn là nỗi bế tắc của con người. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn thể xác nhiều là tâm linh, nhưng con người hầu như cũng dửng dưng với cả đời sống mai sau. Chúa Giêsu đã giải đáp vấn nạn muôn người của con người. Ngài tuyên bố: “Tôi là bánh trường sinh, ai đến với Tôi, không hề phải đói; ai tin vào Tôi, chẳng khát bao giờ” (Ga 6, 35).         

Sau phép lạ hóa bánh và cá để nuôi hơn 5.000 người ăn, dân chúng cảm thấy ấm bụng và tin tưởng vào một con người mà họ luôn ước vọng sẽ làm cho đời sống họ được thăng tiến, được ấm no hạnh phúc.Chúa Giêsu nhận ra nỗ lực tìm kiếm của họ. Bởi vì họ đã được no nê khi theo Chúa. Người nghèo ở miền Galilê luôn có nỗi lo canh cánh về cái đói hằng ngày. Và đây cũng là nỗi lo của vài tỷ người trên toàn thế giới này. Chúa Giêsu muốn hướng con người lên tầm cao mới, chiều sâu mới, bởi vì lương thực vật chất thật mau qua. Chúa muốn đưa họ lên cao hơn, lương thực trường tồn sẽ ban cho họ sự sống vĩnh cửu, sự sống muôn đời. Người Galilê chỉ dừng lại nơi cái bánh vật chất mau qua mà thôi. Họ ngừng lại nơi phép lạ và ngừng lại nơi những chiếc bánh mau qua. Họ không ước mơ gì hơn là có bánh ăn cho no, cho hết cơn đói, cơn khát. Thế giới hôm nay nhiều người cũng chỉ dừng lại nơi cơm bánh, nơi những của phù vân, mau qua. Người nghèo thì lam lũ vất vả và dừng lại nơi vật chất, nơi hũ gạo, cơm bánh. Người giầu thì mải mê tìm hưởng thụ, tiện nghi…Nên, người giầu và nghèo cũng rơi vào tình trạng chung là đánh mất đi cái đói khát tinh thần, bằng lòng với cơm gạo, với tiện nghi. Thực ra thì mọi người đều có những khát vọng chính đáng, người nghèo khao khát tình thương, người giầu cần lẽ sống. Chúa khơi dậy trong con người nỗi khao khát cao hơn, thứ khao khát không phải là manna mau qua, mau hết, nhưng là thứ bánh ban sự sống đời đời.

Chúa nói với đám đông dân chúng hãy đi tìm bánh trường sinh, hãy tìm thứ nước uống vào không hề khát. Dân chúng bỡ ngỡ, chưng hửng. Hôm nay có lẽ nhân loại nhiều người cũng chưng hửng, ngạc nhiên như dân Galilê xưa? Tuy nhiên, dân chúng vẫn khao khát và xin Chúa: “Xin cho chúng tôi thứ bánh đó luôn.Xin ông cho tôi thứ nước ấy” (Ga 4, 15 ). Con người muôn thời vẫn đói vẫn khát về tâm linh, về tinh thần.Con người dù có đầy đủ tất cả về tiện nghi, vật chất nhưng không bao giờ có thể khỏa lấp đầy tất cả nếu họ không tới với Đức Kitô. Chúa Giêsu chính là tấm bánh trường sinh để con người được no thỏa đời đời. Ngài là cánh tay, đôi chân của con người để con người phục vụ và đi đây đi đó. Chúa là bạn đồng hành để tất cả con người được đi trong sự thật và ánh sáng. Bánh trường sinh và nước không hề khát là Đức Kitô, Đấng ban ơn cứu độ đời đời cho con người.         

Thực tế, cái nghịch lý muôn đời vẫn là muốn được là phải cho đi, phải chịu mất đi mới chiếm lại được nó. Chúng ta chỉ no nê khi chúng ta biết quan tâm đến những người nghèo, đến những người đói, người khát đang ở xung quanh chúng ta. Chúng ta chỉ có thể hết khát khi chúng ta biết an ủi những người neo đơn, tàn tật và đau xót biết chia sẻ với những đau khổ của anh chị em đồng loại. Chính Chúa Giêsu sẽ dạy chúng ta những điều nhạy cảm đó.         

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi

 

18. THẦN HỌC KINH THÁNH

Israel Khẩn Cầu Giavê Thiên Chúa

Vì Là Dân Riêng Của Người

Israel khẩn cầu Giavê Thiên Chúa, vì là dân riêng của Người

Lần trước chúng ta đã bắt đầu tầm nguyên nguồn gốc của lời cầu nguyện. Nó phát xuất từ tương quan của con người là thụ tạo với Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa đã dựng con người giống hình ảnh Ngài. Bản chất và ơn gọi của con người là duy trì nguyên tuyền hình ảnh đó và sống tương quan thân tình với Thiên Chúa, đối thoại với Ngài. Chiều chiều khi gió hiu hiu thổi, Thiên Chúa đến vườn Êđen đi dạo và nói chuyện với con người. Đây là định nghĩa tuyệt diệu đầu tiên của lời cầu nguyện: cầu nguyện là đối thoại, nói chuyện thân tình với Thiên Chúa.

Nhưng lời cầu nguyện còn phát xuất từ sự kiện Thiên Chúa chọn dân Do thái làm dân riêng của Người. Thánh Kinh là cuốn sách kể lại cuộc lựa chọn ấy và các hệ lụy của nó trong cuộc sống của dân Do thái. Ơn gọi của tổ phụ Abraham cho thấy Thiên Chúa chuẩn bị cho Người một dân riêng. Để trở thành tổ phụ dân riêng Thiên Chúa chọn, Abraham phải ra khỏi khung cảnh mà ông đã sống cho tới khi đó, như kể trong chương 12 sách Sáng Thế: ”Giavê phán với ông Apram: ”Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi đến đất Ta sẽ chỉ cho ngươi. Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn, sẽ chúc phúc cho ngươi. Ta sẽ cho tên tuổi ngươi được lẫy lừng, và ngươi sẽ là một mối phúc lành” (St 12,1-2). Ra khỏi môi trường xã hội đa thần, ra khỏi vùng đất phì nhiêu, và cuộc sống định cư bảo đảm, để bắt đầu cuộc sống bán du mục phiêu lưu vô định, nhưng dưới sự hướng dẫn và chở che của Thiên Chúa duy nhất. Sự dứt khoát từ bỏ đó là cả một hy sinh cao độ. Và Thiên Chúa đổi tên ông thành Abraham.

Tuy nhiên, những gì ông Abraham phải bỏ bề ngoài chỉ là biểu tượng cho sự từ bỏ bên trong: từ bỏ chính con người mình, từ bỏ tâm thức con người trần gian của mình để bước vào trong cái luận lý của Thiên Chúa, nhìn mọi sự với đôi mắt của Thiên Chúa và suy tư lý luận như Người. Điều Thiên Chúa muốn ông Abraham tử bỏ là chính cái tôi và tâm thức loài người của ông, hầu hoàn toàn tín thác nơi Thiên Chúa và chương trình của Người. Nhưng Thiên Chúa củng cố và thanh tẩy đức tin của tổ phụ Abraham. Ngài hứa ban cho ông có con và dòng dõi đông như sao trên trời như cát dưới biển, nhưng Abraham và bà Sarah vợ ông đợi mãi cho đến khi tuổi già vẫn không thấy có con. Tới khi có được Igiaác Thiên Chúa lại thanh luyện đức tin của Abraham bằng cách xin ông sát tế Igiaác cho Người. Trong tất cả các thử thách và thanh luyện cam go đó ông luôn sẵn sàng thưa vâng với Thiên Chúa. Nhưng ở đây nữa, Thiên Chúa không muốn cái chết của Igiaác, mà muốn rằng cái tôi, con người và tâm thức của Abraham phải hoàn toàn chết đi, để Ngài có thể nhào nắn ông theo như Ngài muốn, và đặc biệt để ông có thể là tổ phụ của dân riêng Chúa chọn, một dân tin nơi Giavê, kính yêu Ngài, tín thác nơi Ngài và vâng lời Ngài. Có thể ví cái luận lý của Thiên Chúa là thứ luận lý của kim tự tháp lật ngược. Điểm tựa của nó là đức tin tín thác, bé tí, vô hình. Nhưng chính trên điểm vô hình ấy Thiên Chúa xây kim tư tháp của lịch sử cứu độ và lịch sử của dân Do thái là dân riêng Ngài chọn. Và công trình của Thiên Chúa càng lên cao lại càng rộng mở mênh mông bát ngát như bầu trời.

Trong câu chuyện cuộc đời tổ phụ Abraham Thiên Chúa luôn luôn là Đấng đưa ra sáng kiến, đề nghị, hướng dẫn và truyền lệnh. Ngài gọi ông, và Abraham luôn thưa: “Lậy Chúa, này con đây”. Đây cũng lại là thái độ cầu nguyện. Trong cuộc đối thoại với Thiên Chúa tín hữu cũng phải luôn thưa: ”Lậy Chúa, này con đây”. Lời thưa đó cũng có nghĩa là ”Xin Chúa phán, này tôi tở Chúa đang lắng nghe”, lắng nghe để hiểu biết ý muốn của Chúa và mau mắn làm theo.

Chương 18 trình thuật chuyến Thiên Chúa viếng thăm Abraham dưới hình của ba sứ giả. Đây là một thí dụ khác nữa cho thấy cuộc đối thoại thân tình giữa Thiên Chúa và Abraham, tổ phụ dân Israel. Một cuộc đối thoại rất đẹp, vì hoa trái của nó là người con nối dõi tông đường mà hai cụ già Abraham và Sara hằng mong đợi từ bao năm nay. Cuộc đối thoại với Thiên Chúa luôn đem lại các hoa trái mà con người không ngờ tới. Ở đây là Igiaác, nụ cười, niềm vui, sự ủi an và chồi lộc Thiên Chúa ban cho hai thân cây già cỗi khô cằn, không còn nhựa sống và theo luật tự nhiên không sinh hoa trái được nữa. Vì đối với Thiên Chúa không có gì là không thể làm được.

Sau khi báo cho Abraham biết sang năm ông sẽ có con, Thiên Chúa cũng không muốn dấu ông ý định của Ngài là đi đánh phạt dân chúng hai thành Sôđôma và Gômôra, vì cuộc sống dâm loạn và qúa bê tha tội lỗi của họ. Ở đây chúng ta tìm thấy vài khía cạnh khác nữa của lời cầu nguyện: đó là lời cầu bầu của tổ phụ cho người ngay lành thánh thiện cũng như cho kẻ tội lỗi. Abraham nài nẵng và mặc cả với Chúa để cứu những người lành thánh, trong đó có ông Lót là cháu và gia đình ông. Abraham thưa với Chúa: ”Chẳng lẽ Ngài lại tiêu diệt người lành một trật với kẻ dữ sao? Giả như trong thành có năm mươi người lành, chẳng lẽ Ngài tiêu diệt họ thật sao? Chẳng lẽ Ngài không dung thứ cho thành đó, vì năm mươi người lành trong đó sao? Ngài làm như vậy chắc không được đâu! Giết chết người lành một trật với kẻ dữ, coi người lành cũng như kẻ dữ không được đâu! Đấng xét xử cả trần gian lại không xét cử công minh sao?” Đức Chúa đáp: ”Nếu Ta tìm được trong thành Sôđôma năm mươi người lành, thì vì họ, Ta sẽ dung thứ cho tất cả thành đó”.

Từ năm mươi người lành, Abraham giảm xuống dần chỉ còn mười người. Nhưng Thiên Chúa cũng đã không tìm thấy mười người ngay lành thánh thiện trong thành, nên Sôđôma và Gômôra đã bị lửa diêm sinh từ trời rơi xuống thiêu rụi. Cuộc đối thoại của tổ phụ Abraham với Thiên Chúa còn cho thấy hiệu năng của lời cầu nguyện. Nó có thể cứu sống sinh mạng của những người tội lỗi nữa.

Tuy nhiên, trong cuộc sống của tổ phụ Abraham còn có một biến cố thê thảm khác nữa: đó là khi Thiên Chúa truyền cho Abraham sát tế Igiaác cho Ngài để thử lòng và để tôi luyện đức tin của ông, như kể trong chương 22 sách Sáng Thế. Ở đây cuộc đối thoại của tổ phụ Abraham với Thiên Chúa rất ngắn gọn. Thiên Chúa gọi, ông thưa ”Dạ, con đây”. Rồi Thiên Chúa phán: ”Hãy đem con của ngươi, đứa con một yêu dấu của ngươi là Igiaác, hãy đi đến xứ Morigia mà dâng nó làm lễ toàn thiêu ở đấy trên một ngọn núi Ta sẽ chỉ cho” (St 22,1-2). Chúng ta có thể tưởng tượng ra nỗi khổ đau xâu xé nát lòng tổ phụ như thế nào. Nhưng trình thuật cho thấy Abraham mau mắn thi hành đòi hỏi xem ra vô lý và tàn ác của Thiên Chúa. Sáng hôm sau ông dậy sớm thắng lừa, đem theo hai đầy tớ và con là Igiaác. Ông bổ củi để đốt lễ toàn thiêu rồi lên đường đi tới nơi Thiên Chúa bảo. Sang ngày thứ ba Abraham ngước mắt lên và thấy nơi tế lễ ở đàng xa. Ông dặn đầy tớ: ”Các ngươi ở lại đây với con lừa, còn cha con ta đi lên tận đằng kia; chúng ta làm việc thờ phượng, rồi sẽ trở lại với các ngươi”. Tuy ông biết mình sẽ sát tế con, nhưng vẫn xác tín rằng mình sẽ cùng con trở về với các đầy tớ. Ông lấy củi để đốt lễ toàn thiêu đặt lên vai con. Ông cầm lửa và dao trong tay, rồi cả hai cùng đi. Khi Igiaác hỏi ”có củi có lửa ở đây còn chiên làm lễ toàn thiêu ở đâu”, ông trả lời: ”Chiên làm lễ toàn thiêu chính Thiên Chúa sẽ liệu con ạ”. Lên tới nơi, Abraham dựng bàn thờ, xếp củi lên, trói Igiaác lại và đặt lên bàn thờ trên đống củi, rồi đưa tay ra cầm lấy dao để sát tế con mình. Nhưng sứ thần của Chúa từ trời gọi ông: ”Abraham, Abraham”. Ông thưa: ”Dạ, con đây”. Người nói: ”Đừng giơ tay hại đứa trẻ, đừng làm gì nó! Bây giờ Ta biết ngươi là kẻ kính sợ Thiên Chúa: đối với Ta con của ngươi, con một của ngươi, ngươi cũng chẳng tiếc”. Ông Abraham ngước mắt lên thì nhìn thấy phía sau có con cừu đực bị mắc sừng trong bụi cây. Ông bắt lấy nó dâng làm lễ toàn thiêu thay cho con mình.

Thật ra, Thiên Chúa chỉ muốn thử lòng tin của tổ phụ chứ không muốn cái chết của người con mà chính Ngài đã ban cho ông. Điều Thiên Chúa muốn đó là cái chết của chính cái ”tôi” của Abraham, của tâm thức con người trần gian nơi ông. Abraham phải sát tế nó, để có một đức tin mạnh mẽ tinh tuyền, hoàn toàn tín thác nơi Thiên Chúa, bước vào trong cái luận lý của Thiên Chúa, nhìn mọi sự với cái nhìn của Thiên Chúa. Thiên Chúa cần điều đó để biến ông trở thành tổ phụ của dân riêng Người chọn, từ đó phát xuất ra Đấng Messia, Đấng Cứu Thế, Đấng Thiên Sai, là Đức Giêsu Kitô dòng dõi vua Đavít thuộc chi tộc Giuđa. Đó cũng là thứ đức tin mà Chúa Giêsu Kitô đòi hỏi và chờ mong nơi các môn đệ và các kitô hữu.

Như thế, cuộc đời của tổ phụ Abraham cho chúng ta thấy thái độ sống nòng cốt của tổ phụ là cầu nguyện, đối thoại thân tình với Thiên Chúa. Và hoa trái của lời cầu nguyện đó là tâm tình tin yêu phó thác, lắng nghe, vâng phục, quảng đại và luôn sẵn sàng với Thiên Chúa, hoàn toàn để cho Chúa định liệu những gì Ngài muốn trong cuộc đời mình, theo chương trình cứu độ của Ngài.

Linh Tiến Khải

Nguồn: vietvatican.net

 

 19. MỘT CHÚT TÂM TÌNH

Chiếc Giày Đánh Rơi Của Gandhi

 Gandhi đã có một hành động thật cao quý bởi trong sự mất mát của bản thân như thế, ông vẫn có thể nghĩ đến người khác.

Xe lửa bắt đầu chuyển bánh. Gandhi nhảy vội lên tàu. Một chiếc giày của ông rơi xuống. Gandhi không thể nào nhảy xuống để nhặt nó trong khi tàu chạy càng lúc càng nhanh. Trước sự sững sờ của mọi người, Gandhi đã tháo luôn chiếc giày còn lại và ném về phía chiếc giày kia.

Hành khách trên tàu lấy làm lạ về hành động kỳ quặc của ông. Gandhi mỉm cười và giải thích: “Nếu có một người nghèo nào lượm được chiếc thứ nhất, họ có thể tìm thấy chiếc thứ hai và sẽ xài được đôi giày của tôi”.

Chúng ta thường ít nghĩ đến người khác mà chỉ nghĩ về bản thân mình. Khi chúng ta bị mất mát, điều đầu tiên chúng ta nghĩ đến là những thiệt thòi và bất hạnh của mình. Chúng ta mất quá nhiều thì giờ cho sự tiếc nuối, than thở, chán nản, thậm chí trở nên cáu gắt và bực bội vì những rủi ro xảy ra. Gandhi đã có một hành động thật cao quý bởi trong sự mất mát của bản thân như thế, ông vẫn có thể nghĩ đến người khác.

Hành động của Gandhi chứng tỏ việc nghĩ đến người khác đã trở thành một phần trong tư tưởng và nguyên tắc sống của ông. Nếu trong những lúc bình an và thành công mà chúng ta còn không quan tâm lo lắng cho những kẻ bất hạnh hơn mình thì liệu khi gặp khó khăn, mất mát, ta có thể làm được điều đó hay không?

Xung quanh ta có biết bao nhiêu người khó khăn. Họ đang cần sự giúp đỡ. Những gì họ thiếu thốn không phải lúc nào cũng là vật chất, mà đôi lúc chỉ là một lời động viên an ủi. Thế giới của chúng ta sẽ hạnh phúc biết bao nếu mỗi người không chỉ chăm lo về lợi ích riêng của mình mà còn chăm lo về lợi ích của người khác nữa.

Internet