LỜI CHỦ CHĂN

DIỄN GIẢI THƯ MỤC VỤ

LỜI NGUYỆN CHUNG

ÁP DỤNG THỰC HÀNH

TÌM HIỂU GIÁO LUẬT

TRANG LINH MỤC

TRANG TU SĨ

TRANG SỐNG ƠN GỌI

TRANG THIẾU NHI

TRANG GIỚI TRẺ

TRANG GIA ĐÌNH

TRANG GIÁO LÝ VIÊN

TRANG QUỚI CHỨC

SỐNG ĐẸP

HỎI ĐÁP MỤC VỤ

SUY NIỆM

SỐNG LỜI CHÚA

THẦN HỌC KINH THÁNH

MỘT CHÚT TÂM TÌNH

 

 

 

LỜI CHỦ CHĂN

Vĩnh Long ngày 25.07.2015

Kính gửi: Quý Cha

              Quý Tu sĩ nam nữ

              Và tất cả anh chị em Gp. Vĩnh Long

 

V/v Cha Sở xứ Ars

 

Cha sở xứ Ars nổi tiếng về:

-        Đời sống nghèo, không học hành giỏi giang;

-        Nhưng có lòng đạo đức, dành nhiều thời giờ lo cầu nguyện với Chúa, quan tâm đến phần rỗi các linh hồn, ngồi toà giải tội;

-        Nên cha sống đẹp lòng Chúa, nhờ đó Chúa cho làm linh mục thánh, đưa dẫn nhiều người trở lại.

Chúng ta xin cho Hội thánh Chúa  hôm nay, trên quê hương đất nước Việt Nam chúng ta có những vị thánh mục tử như vậy. Không cần bằng cấp lớn, không cần phải đi học nước ngoài, chỉ cần làm linh mục thánh, lôi kéo nhiều ơn Chúa,  giúp ích phần rỗi  các linh hồn.

Ngày nay, đến tại nhà thờ Ars, người ta bỡ ngỡ về nhà thờ nghèo, thấy được vài cuốn sách của cha, tập dọn bài giảng và đồ lễ (rất đẹp, rất quí); cái gì dành cho Chúa thì không cần tiếc tiền. Ăn thì chủ yếu là bánh mì khô, không thịt  cá gì cả…

Tóm lại, Cha Gioan Maria Vianney sống nghèo, nghèo tiền bạc nhưng giàu lòng yêu mến Chúa, giàu tình giúp cho người nghèo khổ. Tạ ơn Chúa.

Lm. Phêrô Dương Văn Thạnh

Giám Quản GP. Vĩnh Long

 

 

DIỄN GIẢI THƯ MỤC VỤ

Tháng 08/2015

TÂN PHÚC-ÂM-HOÁ GIÁO XỨ:

CANH TÂN ĐỜI SỐNG VÀ CON NGƯỜI KITÔ HỮ GIÁO DÂN

“Muối mà hết mặn, thì anh em sẽ lấy gì ướp cho mặn lại? (Mc 9,50)

– Kitô hữu giáo dân là những người đã được tháp nhập vào Đức Kitô nhờ phép Rửa Tội, đã được thiết đặt vào dân Thiên Chúa, được tham dự vào nhiệm vụ tư tế, tiên tri và vương đế của Đức Kitô theo cách thức của mình, theo phần vụ của mình mà thực thi sứ vụ của toàn dân Kitô giáo trong Hội Thánh và trên trần gian. [1]

1. Một dân đang “bước đi”

– Nghĩ về Kitô hữu và về Hội Thánh như một Dân đang lữ hành trở về Quê hương, thì “bước đi” là một từ mà đức Thánh Cha Phanxicô rất thích nhắc tới. Thuộc về một dân đang bước đi, đang tiến bước qua lịch sử cùng với Thiên Chúa chúng ta, Đấng bước đi giữa chúng ta, quả là một kinh nghiệm tuyệt vời nhất! [2] Chúng ta không lạc lõng; chúng ta không bước đi một mình; chúng ta thuộc về đàn chiên Đức Kitô cùng nhau bước đi. Có gì đẹp hơn hình ảnh đoàn các giám mục, linh mục, giáo dân cùng bước đi. Các mục tử biết tên từng con chiên, bước đi với dân mình, khi thì phía trước, đôi lúc phía sau, và lúc khác lại ở giữa dân. [3] Sở dĩ như thế vì dân có thể ngửi thấy, khám phá ra những con đường mới để bước đi; họ có sensus fidei (cảm thức đức tin) như các nhà thần học vẫn thường nói. “Để cho đoàn chiên được tự mình mở ra những lối đi mới” mới có thể tạo nên một sự hiệp thông năng động và truyền giáo.

2. Ra khỏi mình

Cùng nhau bước đi, bước theo Chúa Giêsu, trải nghiệm cuộc Vượt Qua cùng với Người, về Nhà Cha. Nghĩa là đi ngang qua kiếp người trọn vẹn với đường Thập Giá, Đồi Calvê, và Phục Sinh.

– Trong sứ vụ của mình trên trần gian, Chúa Giêsu đã đi qua khắp các nẻo đường, kêu gọi mười hai con người đơn sơ để ở với Người, cùng chia sẻ với Người trong cuộc hành trình, và để họ tiếp tục sứ vụ của Người. Người đã chọn họ giữa những người đầy lòng tin. Chúa Giêsu chuyện trò với hết thảy mọi người không phân biệt, cả với người quyền quý lẫn những kẻ hèn hạ, nói với anh thanh niên giàu có lẫn bà góa phụ nghèo khổ, nói với người mạnh cũng như người đau yếu. Người đã mang đến cho họ lòng thương xót và tặng phẩm Thiên Chúa. Người đã chữa lành, ủi an, ôm ấp hết thảy mọi người. Người ban cho hết thảy chúng ta niềm hi vọng. Người đã mang đến cho mọi người sự hiện diện của Thiên Chúa, Đấng luôn chăm sóc chúng ta như người cha nhân từ, như người mẹ dịu hiền chăm nom từng người một trong hàng con cái. Thiên Chúa không hề chờ đợi chúng ta tìm đến Ngài, mà chính Ngài tự nguyện đến với chúng ta trước, không hề tính toán chẳng chút do dự. Chúa Giêsu sống các thực tại hằng ngày của người dân bình thường nhất. Người chạnh lòng thương trước đám đông như đàn chiên không người chăn dắt; Người khóc trước nỗi thống khổ của hai chị em Mattha và Maria vì em của họ là Lazarô mới mất; Người gọi một người tội lỗi là người thu thuế trở thành môn đệ; và Người cũng gánh chịu sự phản bội của một người bạn. Chính nơi Đức Giêsu chúng ta xác tín Thiên Chúa ở cùng chúng ta (Emmanuel), Ngài ở giữa chúng ta. Chúa Giêsu không có nhà cửa (x. Mt 20,8), vì nhà cùa Người chính là dân chúng, chính chúng ta là nơi Người cư ngụ. Sứ mạng Người là mở cửa cho hết thảy chúng ta, trở nên sự hiện diện của Tình yêu Thiên Chúa. Chúa Giêsu sống tình yêu ấy trong chặng cuối cuộc hành trình gồm tóm hết cuộc sống Người, đó là tự trao hiến hoàn toàn, không giữ lại gì cho mình, kể cả mạng sống, “vì chúng ta”. Người đã không che giấu nỗi đau đớn thẳm sâu thuộc bản tính nhân loại của Người khi phải đối diện với cái chết bạo tàn, nhưng Người đã phó thác với lòng tin tưởng tuyệt đối vào Chúa Cha.

– Đó cũng là con đường của Kitô hữu chúng ta, bước theo Chúa có nghĩa là học ra khỏi chính cái tôi của mình, để bước vào cuộc gặp gỡ với những người khác, để bước tới những vùng ngoại vi cuộc sống, trở nên người tiên phong đến với anh chị em, đặc biệt những người bị gạt bên lề, bị lãng quên, những người cần được thông cảm, ủi an, giúp đỡ. Làm cho Chúa Giêsu Đấng từ bi và giàu lòng thương xót hiện diện sống động giữa anh em là một nhu cầu khẩn thiết.

3. Canh tân việc Tông Đồ giáo dân đòi hỏi đối thoại chân thực

– Làm mới lại tương quan cá vị với Đức Kitô, cũng giúp làm mới lại nhiệt huyết tông đồ, từ đó mới có những sáng kiến mới thực hiện công cuộc phúc âm hóa. Phúc âm hóa là làm cho Chúa Kitô, hiện thân của Lòng Thương Xót của Thiên Chúa, hiện diện cách sống động, trước hết bằng chứng từ đời sống và bằng lời nói. Nơi các giáo dân, “việc phúc âm hóa này... mang một sắc thái đặc thù và một hiệu quả đặc biệt vì được thực hiện trong những hoàn cảnh bình thường của đời sống”. [4]

– “Các sáng kiến của các Kitô hữu giáo dân là đặc biệt cần thiết khi phải khám phá và phát minh ra những phương tiện để đem các đòi hỏi của đạo lý và đời sống Kitô giáo thấm nhập vào các thực tại xã hội chính trị và kinh tế.” [5] Bước theo Chúa, đồng hành với Đức Kitô và ở lại với Người, đòi hỏi chúng ta phải “đi ra”, ra khỏi mình, ra khỏi lối sống đức tin mệt mỏi và nhàm chán, ra khỏi cám dỗ khép mình lại trong khuôn khổ của chính mình và khép kín đối với chiều kích đầy sáng tạo của Thiên Chúa. Nếu chúng ta muốn theo Người, chúng ta không được hài lòng với việc ở lại trong chuồng của 99 con chiên, mà cần phải “đi ra”, để cùng với Người kiếm con chiên lạc, con chiên ở xa nhất. [6] Điều quan trọng của việc “bước ra”, theo đức Thánh Cha Phanxicô, là phải sẵn sàng để gặp gỡ người khác. Giữa bối cảnh của “văn hóa vứt bỏ” ngày nay (sẵn sàng vứt bỏ những gì, những ai không còn hữu dụng với tôi, ở đây có thể liên tưởng đến những người già, những thai nhi), chúng ta cần phải tạo ra “một nền văn hóa gặp gỡ”, một nền văn hóa của tình bạn, một nền văn hóa trong đó chúng ta gặp được anh chị em mình, trong đó chúng ta có thể nói chuyện với những người có lối suy nghĩ khác với chúng ta, cũng như với những người không cùng tín ngưỡng, cùng một đức tin. Tất cả họ có một điều gì đó chung với chúng ta: là hình ảnh của Thiên Chúa; là con cái của Thiên Chúa. Đi ra gặp gỡ mọi người mà không đánh mất chính kiến của chúng ta.[7]

Câu hỏi thảo luận

1. Theo anh chị, một cộng đoàn giáo xứ, giáo họ, cộng đoàn nhỏ Kitô hữu cần phải sống thái độ nào khi ra đi loan báo Tin Mừng?

2. Tôi có nghĩ rằng Phúc-Âm-hóa các Kitô hữu giáo dân phải đồng thời với Phúc-Âm-hóa các thành phần khác của Dân Chúa không? Tại sao? Trong chừng mực nào người mục tử có thể “để cho dân mở những lối đường mới” loan báo Tin Mừng?

3. Theo anh chị, làm thế nào để xây dựng một “nền văn hóa gặp gỡ”?

––––––––––––

[1] x. Lumen gentium, 27. X. GLHTCG 897.

[2] Bài Huấn dụ của Đức Thánh Cha Phanxicô dành cho các giáo sĩ thuộc tổng giáo phận Rufino ở Assisi, ngày 4.10.203.

[3] ĐGH Phanxicô, Th. Gaudium Evangelii, 31.

[4] x. Lumen gentium, 35. x. GLHTCG 905.

[5] GLHTCG 899.

[6] x. ĐGH Phanxicô, “Ra khỏi mình”, Yết kiến chung, ngày 27.03.2013.

[7] x. ĐGH Phanxicô, “Đến với vùng ngoại vi cuộc sống”, huấn dụ dành cho các Phong trào giáo dân, ngày 18.5.2013.

Lm.  Luy Nguyễn Anh Tuấn

Nguồn: ubmvgiadinh.org

 

LỜI NGUYỆN CHUNG

Kêu mời: Anh chị em thân mến,

Giáo xứ là cộng đoàn những người tin theo Chúa Kitô. Đức tin của người này ảnh hưởng đến người kia, và tuỳ thuộc vào hoàn cảnh văn hoá địa phương. Đức tin đó cần được sống và canh tân. Chúng ta cùng hiệp ýý cầu nguyện:

1.       Chúa phán với Phêrô: “Khi con trở lại, hãy củng cố đức tin của anh em con”. Chúng ta cầu nguyện cho các Kitô-hữu theo hướng dẫn của Hội Thánh, biết canh tân đời sống và trau dồi đức tin mình ngày càng vững mạnh hơn.

2.       Chúa phán: “Các con là muối cho đời, là ánh sáng cho trần gian”. Chúng ta cầu nguyện cho các Kitô-hữu luôn trau dồi tính chất Kitô-giáo trong đời sống mình, hầu làm cho trần gian thấm nhuần đạo lý Chúa Kitô ở khắp nơi.

3.       Chúa phán: “Nếu muối mà lạt đi, thì người ta biết lấy gì làm cho mặn lại”. Chúng ta cầu nguyện cho các Kitô-hữu giáo dân trong các giáo xứ, biết sắp xếp mọi công việc trần thế, để có thời giờ canh tân đời sống đạo.

4.       Chúa phán: “Các con hãy đi và làm như người Samaritanô nhân hậu”. Chúng ta cầu nguyện cho các Kitô-hữu giáo dân trong giáo xứ chúng ta, biết đoàn kết với nhau, cùng nhau trong việc xây dựng nền văn minh tình thương.

Kết thúc: Lạy Chúa, Chúa muốn mọi người được cứu rỗi. Xin cho chúng con biết canh tân đời sống đạo, canh tân việc đọc và thực hành Lời Chúa, để mọi người trong giáo xứ chúng con được cứu rỗi. Chúng con cầu xin …Amen.

 

ÁP DỤNG THỰC HÀNH

TỰ HÀO LÀ KITÔ HỮU

Cứ mỗi khi biết được một tin vui nào đó, ta thường muốn chia sẻ nó cho người khác. Càng nhiều người biết được tin ta chia sẻ, ta càng hạnh phúc. Ta mong muốn người khác cũng biết được tin vui mà ta đang có để họ cùng vui với ta, và như thế niềm vui của ta được tăng lên gấp bội. Thái độ của chúng ta khi sống đời Kitô hữu cũng sẽ cho chúng ta biết là mình có vui khi đón nhận đức tin hay không.

Phần lớn chúng ta được lãnh nhận bí tích Rửa Tội khi còn nằm trên tay mẹ. Ta hoàn toàn chẳng ý thức gì về việc mình được đưa đến nhà thờ, rồi bị một dòng nước đổ xuống trán. Dòng nước ấy dường như đã làm gián đoạn giấc ngủ mơ màng của ta hơn là mang đến cho ta một điều gì đó cao quý. Rồi ta lớn lên, ông bắt ta phải đi nhà thờ, bà bắt ta phải đọc kinh, cha bắt ta phải học giáo lý, mẹ bảo ta phải tập làm dấu trước bữa ăn. Ta phải ngoan ngoãn vâng nghe theo những mệnh lệnh ấy, không dám cãi hay trốn tránh để khỏi phải bị những trận đòn vô duyên. Ta sống trong môi trường họ đạo, tham gia vào những sinh hoạt của các hội đoàn. Đến khi có đầy đủ ý thức, ta bất chợt tự vấn mình: cớ sao ta phải làm những điều này, tại sao ta phải đi lễ, tại sao phải giữ những điều răn, đám bạn bè của ta ngoài kia có phải làm những điều này đâu, vậy mà chúng nó vẫn sống vui khỏe, đầy đủ hay thậm chí còn giàu có hơn ta đấy thôi? Một câu hỏi chợt bừng lên trong đầu: đức tin mà ta đang nắm giữ là cái gì vậy? Không có nó, liệu có sao không?

Rất nhiều người cho rằng: là một Kitô hữu, ta chẳng được lợi lộc gì nhưng lại phải tuân giữ biết bao nhiêu luật lệ, cấm cản. Nếu không là Kitô hữu, ta chẳng cần bận tâm đến chuyện phải vất vả tìm nhà thờ rồi sắp xếp thời gian để đi lễ vào mỗi Chúa Nhật. Khi ấy, ta sẽ chẳng mất đi giấc ngủ ngon vào buổi sáng, chẳng phải lỡ hẹn chầu cafe với đám bạn buổi chiều... Việc ăn chay khiêng thịt, ta cũng chẳng cần phải bận tâm. Chuyện đọc kinh lần chuỗi, ta chẳng cần phải biết đến. Ta chỉ cần cố gắng làm lụng để có thật nhiều tiền trong tay. Có tiền rồi, ta sẽ có tất cả: nhà cao cửa rộng, hải vị sơn hào… Ta tự giúp ta là được rồi, chả cần thần thánh nào ban phước thi ân. Rồi cũng chết hết cả thôi, ai biết sau khi chết sẽ là cái gì, ta cứ sống cuộc sống này thoải mái nhất có thể, tội gì phải trói buộc mình với những cái gọi là điều răn hay luật lệ… Chỉ là viễn vông mà thôi!

Họ có lý của họ khi chủ trương một lối sống thoải mái cho mình. Nhưng nếu chỉ xem đức tin như là những điều cấm cản ràng buộc thì thật thiện cẩn quá rồi. Niềm tin của chúng ta xuất phát và đặt nền tảng trên một tình yêu từ Thiên Đàng tỏa xuống. Đó là một tiếng yêu, đáp lại lời mời gọi muốn xây dựng một tương quan thắm nồng. Ta không sáng tạo ra đức tin rồi tự trói buộc mình với nó, nhưng ta tin là vì ta thấy lòng mình được cuốn hút, được đụng chạm bởi một tình yêu. Từ tận sâu thẳm của hữu thể mình, con người luôn thấy được lôi kéo về những điều trên cao, thiêng liêng và huyền bí. Sẽ chẳng bao giờ con người cảm thấy mình hoàn toàn đong đầy và trở nên trọn vẹn là mình, khi chưa kết hiệp và nên một với Đấng là cội nguồn mọi sự, hiện diện nơi ngập tràn vinh quang ấy.  Đức tin của chúng ta là một sự “gật đầu” với lời mời của Đấng ấy, để cả hai được đi vào trong nhau, làm nên một tương quan bất diệt.

Sống giữa cuộc đời này, liệu có gì đảm bảo cho cuộc sống của ta một cách hoàn toàn không? Hôm nay ta đang khỏe, đang giàu có, đang ở đỉnh vinh quang, đang được mến mộ… nhưng có ai dám chắc là sau một đêm qua đi, ta có còn sở hữu những điều này? Tai nạn trên đường vẫn rình rập ta, các tương quan có thể bị sứt mẻ, người thân bạn bè đều có thể phản bội ta, những bất trắc tai ương đang chờ thời cơ để ập xuống… Rồi những khi đôi vai bị bao gánh tránh nhiệm đè xuống, nỗi lòng của ta đó, có mấy người hiểu cho; dù có hiểu được, họ có gánh dùm ta không, họ có đủ sức gỡ bỏ hết mọi điều ấy cho ta không; dẫu có làm được, họ có sống dùm ta cuộc đời này không, có thể thay ta làm mọi sự, có thể hy sinh tất cả mọi thứ họ có và họ là để trao tặng hết cho chúng ta không? Chuyến đi giữa cuộc đời này mãi mãi là một chuyến độc hành của riêng ta. Có yêu nhau tha thiết mấy, có gắn kết với nhau mặn nồng mấy, rồi cũng sẽ đến lúc ngả rẽ đôi đường.

Giữa tất cả những chông chênh ấy của cuộc đời, đức tin xuất hiện như một điểm tựa cho ta. Ta tin rằng có một Đấng dựng nên ta, hằng chăm sóc cho ta, hy sinh mọi điều cho ta và vì ta, Đấng ấy chấp nhận trút bỏ hết mọi sự, kể cả cái chết đầy thương tâm.

Trên đường đời lắm trái ngang này, chỉ có Chúa mới đủ sức đỡ ta lên; khi ta gặp thất bại hay rơi vào khủng hoảng, chỉ niềm tin vào Chúa mới có thể đem đến cho ta bình an thực sự. Vũ khí duy nhất mà ta có thể dùng để chống lại tất cả những giăng mắc đang rình rập ta giữa cuộc đời này chỉ có thể là niềm tin: tin vào một Đấng Tuyệt Đối luôn yêu thương và ở bên chúng ta. Tin vào Ngài là trao gửi hết mọi sự cho Ngài, là đặt mình vào trong bàn tay của Ngài, là vui lòng đón nhận hết tất cả những gì xảy đến mà không sợ hãi hay hoang mang. Tin Ngài là dành cho Ngài một chỗ đứng quan trọng trong cuộc đời, là để cho Ngài hiện hữu trong con tim và khối óc, là để Ngài chiếm trọn tâm tư và tình cảm của ta.

Chúa là Đấng siêu vượt như thế, Ngài cần ta tin Ngài sao? Ta có tin vào Ngài hay không, Ngài cũng chẳng mất mát gì. Nhưng tin vào Ngài hay không sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc sống của ta. Được Ngài yêu thương ngỏ lời mời như thế, tại sao ta lại thấy hổ thẹn vì thân phận Kitô hữu của mình? Còn nếu ta vui với tư cách là Kitô hữu, sao ta không hết mình sống tư cách ấy và loan tin vui này đến cho những ai ta gặp gỡ? Có bao giờ ta mạnh mẽ hô to: tôi tự hào vì là một người Kitô hữu?

 

TÌM HIỂU GIÁO LUẬT

DÒNG BA (tt)

Trong những tháng vừa qua, chúng ta đã cùng tìm hiểu về đời sống tu trì trong Giáo hội qua các Dòng tu, các Tu hội đời và các Tu đoàn tông đồ, rồi đến những lối sống tu trì đặc biệt như là Ẩn tu và các Trinh nữ (đ.603, 604). Ngoài ra, Giáo hội còn nói đến một hình thức của “Dòng Ba”. Như vậy “Dòng Ba” có phải là một dòng tu không? Và các thành viên của Dòng Ba có phải là các tu sĩ không?

Để trả lời cho những câu hỏi nầy, chúng ta khởi đi từ lời dạy của Giáo hội về Dòng Ba hay các hiệp hội tương tự:

Được gọi là Dòng Ba hay với tên nào khác tương tự, những hiệp hội gồm các thành viên sống giữa đời nhưng dự phần vào tinh thần của một Dòng tu, làm việc tông đồ và tiến tới sự hoàn thiện dưới sự điều hành tối cao của Dòng tu đó (đ.303).

Từ lịch sử hình thành và tên gọi “Dòng Ba”, cũng như định nghĩa về “Dòng Ba” của Bộ giáo luật hiện hành, cho chúng ta thấy rằng “Dòng Ba” không phải là một dòng tu như những dòng tu mà chúng ta biết hiện nay (dòng Đa-minh, dòng Mến Thánh Giá, dòng Phan-xi-cô...). Cách gọi “Dòng Ba” chẳng qua nhằm để phân biệt với “Dòng nhất” và “Dòng nhì” (Dòng nhất ám chỉ các nam tu sĩ, dòng nhì là các nữ tu kín, còn dòng ba là những nam nữ giáo dân sống giữa đời).

Như định nghĩa về Dòng Ba của Bộ giáo luật ở điều 303, họ là “những hiệp hội gồm các thành viên sống giữa đời nhưng dự phần vào linh đạo của một dòng tu, làm việc tông đồ và tiến tới sự hoàn thiện dưới sự điều hành tối cao của Dòng tu đó”. Nghĩa là các thành viên của họ là những nam, nữ giáo dân sống giữa đời, nhưng lấy tinh thần (linh đạo) của dòng mà họ mến mộ để sống giữa môi trường xã hội mà họ đang tham gia, như muối men cho đời. 

Dòng Ba và các tên gọi khác hiện nay

Qua dòng lịch sử, sự phân biệt Dòng Ba “tu trì” với Dòng Ba “đời” không còn nữa. Các Dòng ba tu trì đã trở thành các Dòng tu như bao nhiêu dòng tu khác, chẳng hạn như các dòng nữ tu Đa-minh, Phan-sinh, Cat-minh...ngày nay. Bên cạnh đó, các Dòng Ba “đời” thì dần dần đổi tên, chẳng hạn như trước đây người ta gọi “Dòng Ba Đa-minh đời”, thì ngày nay gọi là “Huynh đoàn giáo dân Đa-minh”. Một cách tương tự như vậy, “Dòng Ba Phaxicô đời” được đổi thành “Dòng Phanxicô đời”. Cũng theo tinh thần đó, các Dòng Mến Thánh Giá của giáo phận cũng có Dòng Ba nhưng được gọi là các chị em “Mến Thánh Giá tại thế”.

Từ sau công đồng Vatican II, Giáo hội cho chúng ta một cái nhìn mới về sứ vụ của người giáo dân. Người giáo dân được tham gia vào mọi hoạt động của Giáo hội, nếu công việc đó không đòi hỏi phải có chức thánh (dạy giáo lý, thăm viếng những người nghèo, neo đơn, nguôi lạnh, thăm viếng những người lương dân...).

Bên cạnh đó, những hội viên của Dòng Ba như là những giáo dân đặc biệt, họ mang linh đạo của dòng tu mà họ tham dự vào đời, và với đặc điểm sống giữa đời của họ thì “men” Phúc âm sẽ vào được các ngõ ngách của từng môi trường xã hội. Đồng thời, Giáo hội cũng mời gọi họ tham dự tích cực vào các sinh hoạt khác nhằm xây dựng cộng đoàn họ đạo sinh động.

 

TRANG LINH MỤC

BÌNH AN TRONG ĐỜI TU

Tôi có một anh bạn thân, anh ta là dự tòng và rất có thiện cảm với đạo Công Giáo của chúng ta. Mới có ý định theo đạo mà anh ta đã siêng năng đi lễ rồi. Trong cuộc trò chuyện với anh tại sân nhà thờ nọ, tôi chủ động bắt chuyện với anh, tôi hỏi anh: “anh đi lễ như vậy thì anh cảm thấy ấn tượng nhất là phần nào trong Thánh lễ?” Anh bạn trả lời: “mình ấn tượng nhất chính là các lần chào chúc bình an của linh mục với giáo dân và ngược lại”. Câu đó là: “Bình an của Chúa ở cùng anh chị em”, sau đó cộng đoàn đáp: “và ở cùng cha”. Anh bạn nói tiếp: “mình rất thích và cảm động vì lời chào chúc đó có một ý nghĩa sâu xa là cầu xin Thiên Chúa ban bình an của Người xuống trên ta”; “Sau lễ, mình ra về và hạnh phúc vì đã đón nhận được sự bình an của chính Thiên Chúa”.

Thật vậy, người được Chúa ban bình an của chính Chúa thì khác xa với sự bình an giới hạn theo lối hiểu của con người.

Qua bài viết này, tác giả muốn chia sẻ về sự bình an đích thực trong đời tu, để thấy được đâu là bình an thật và đâu là bình an giả tạo. Tuy nhiên, cũng nên làm một cuộc nhận thực về trạng thái bình an của con người trong xã hội hôm nay.

Vì thế, trước khi đi vào vấn đề trọng tâm của bài viết, xin được sơ qua về thứ bình an theo quan điểm của con người, đồng thời cũng làm toát lên sự bình an của Chúa, và, như một cách phân danh để thấy được đâu là sự khác biệt giữa bình an của người đời và bình an của Chúa trong đời tu.

1. Bình an theo lối hiểu của con người

Cuộc đời của con người luôn phải đối diện với đủ mọi khó khăn do mình gây ra, hoặc do người khác mang lại, và đôi khi cũng do thiên nhiên nữa. Rồi trong kiếp người, chúng ta luôn phải đối diện với sinh, lão, bệnh, tử… Bình an của con người lúc này chính là làm sao cuộc đời không gặp những chuyện bất trắc như ốm đau, bệnh tật, thay vào đó là có một sức khỏe tốt, một cuộc sống an nhàn bên con cháu.

Khi tham gia giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy hay đường hàng không… người ta mong được an toàn trên suốt lộ trình, không xảy ra tai nạn giao thông. Bình an ở đây chính là mong cho được đi đến nơi, về đến chốn mà không xẩy ra tai nạn.

Trong khi xây dựng các công trình, chúng ta thường thấy người ta treo những tấm panô với hàng chữ: “an toàn là trên hết”; hay “an toàn là bạn, tai nạn là thù”. Bình an trong lãnh vực này chính là mong sao cho công trình từ khởi sự cho đến hoàn thành không có điều gì cản trở hay thoát khỏi dấu vết của tại nạn.

Rồi trong cuộc sống, những trận cuồng phong bão tố, gây nên lụt lội, những trận sóng thần, những ngọn núi lửa, ô nhiễm môi trường và nguồn nước, những bệnh dịch tràn lan… Con người lo sợ thiên nhiên cướp đi mạng sống bất cứ lúc nào… Bình an trong hoàn cảnh này chính là mưa thuận gió hòa, môi trường trong lành…

Nói chung, bình an theo kiểu con người chính là mong sao được cơm no áo ấm, mạnh khỏe, được làm ăn phát đạt, được an nhàn thư thái, được may mắn, an toàn, và cuối cùng là được sống lâu…

2. Sự bình an đích thực đang mất dần trong xã hội hôm nay

Nhìn xa hơn khi vượt qua khuôn khổ đời tư hay gia đình, để mở tầm nhìn ra xã hội mà chúng ta đang sống hôm nay, hầu thấy được xã hội hiện thời là một xã hội văn minh, tiến bộ, nhưng là thứ văn minh của sự chết.

Trên thực tế đã chúng minh cho chúng ta thấy rất rõ. Nhiều người rất giàu, có quyền hành, địa vị cao, ấy vậy mà vẫn không thấy niềm vui và hạnh phúc đâu cả, mà chỉ thấy buồn phiền và lo lắng. Họ có thể là những người bất an khi trong nhà có quá nhiều tiền. Họ có thể là những người không vui khi ngày nào cũng phải lo củng cố địa vị và nơm nớp lo sợ bị truất phế, “mất ghế”.

Trong khi đó, hình ảnh của những người nghèo cũng không khỏi khắc khoải, lo âu đối chọi với cuộc sống lay lắt qua ngày.

Có những người chỉ mong có được gói mì tôm đáng giá 2.000 đồng để ăn cho đỡ đói cũng không ra; hay lại có những người bị con cái đánh và đuổi ra khỏi nhà để sống vật vờ nơi gầm cầu, xó chợ đây đó chỉ vì: “tại sao ông bà không nghe lời tôi”; “ông bà không làm theo ý của tôi…”. Một sự ngược đời, làm đảo lộn đạo đức gia phong đang diễn ra không ít trong thời buổi kinh tế thị trường hôm nay…

Có những bạn trẻ lại bị chính những người tưởng chừng như “má ấp môi kề” yêu thương đùm bọc sẽ là những người chung lưng đấu cật để cùng nhau xây dựng tổ ấm. Nhưng thực tế, nhiều người đã vỡ mộng. Đây đó, chúng ta thấy có những nhát dao chí tử để kết liễu cuộc đời của người yêu. Bên cạnh đó, chúng ta cũng thấy không ít những đôi tình nhân vì yêu nhau quá, nên không ngần ngại tìm đến cái chết để kết liễu cuộc đời khi bị áp lực phản đối của gia đình, công việc hay học hành.

Lại có những hạng người làm ăn rất an nhàn, đồng lương quá hậu hĩnh, nhưng họ lại là những người dính vào vòng lao lý khá nhanh, bởi vì họ chính là những: gái mại dâm, trùm ma túy, tướng cờ bạc…

Khía cạnh chính trị, chúng ta không lấy làm lạ khi nhận thấy đây đó người ta thanh trừng nhau để đảm bảo an ninh. Hiện tượng mới đây của Triều Tiên là một điển hình.

Giữa nước này với nước nọ cũng không ngừng  “khoe tên lửa đầu đạn hạt nhân” nhằm võ sĩ dương oai với các nước khác. Mới đây nhất, Mỹ và Hàn tập trận để dằn mặt Triều Tiên. Rồi cũng có những nhà lãnh đạo, luôn miệng nhân danh chiến tranh để xây dựng hòa bình, nhưng khi người ta khởi phát chiến tranh thì lại là lúc người ta cảm thấy hòa bình đang dần xa và biến mất. Điều này không bao giờ có thể có được, bởi vì tự trong tâm, nó đã có mầm mống hủy diệt thì làm sao có được bình an? Cũng như làm sao có được cây mọc lên tươi tốt khi cái gốc của nó đã thối hoặc mục nát?

Cuối cùng, trong đời sống thường ngày, chúng ta thấy ngày càng xuất hiện nhiều căn bệnh mới mà hiện nay chưa có thuốc đặc trị… khiến cho con người không khỏi hoang mang…

Như thế, thế giới và con người ngày hôm nay luôn nơm nớp những sợ hãi, lo âu, thất vọng, bi đát và chán trường.

Đứng trước thực trạng đó, là người sống đời thánh hiến, chúng ta được mời gọi đi vào mối tương quan bình an của Chúa và với Chúa. Bởi vì, bình an ta có được là khởi đi từ Người.

3. Bình an của Đức Giêsu

Bình an của Đức Giêsu chính là sự bình an nội tâm. Bình an này không phải là thứ bình an hào nhoáng bên ngoài, cũng không được phủ lên nó một sự thành đạt,  quyền bính hay danh dự ngoại tại… Bình an này cũng không phải không có ốm đau, bệnh tật… Bình an của Đức Giêsu chính là bình an ngay trong những thiếu thốn, thử thách, mất mát, bệnh tật và cả cái chết… tức là bình an ngay trong những điều tưởng chừng như mâu thuẫn: “Trong khi người Do Thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hi Lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Kitô bị đóng đinh, điều mà người Do Thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ” (1 Cr 1,22-23). Nhận được bình an của Chúa, người thụ hưởng sẽ cảm thấy: “tâm bất biến giữ dòng đời vạn biến”.

Thật thế, Đức Giêsu không nói: “chúc các con bình an”; hay: “các con ở lại bình an”, không! Ngài không nói như vậy. Nhưng trước khi từ biệt các môn đệ để lên đường chịu khổ nạn, Ngài nói: “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không như thế gian ban tặng” (Ga 14, 27). Rồi sau khi phục sinh, Ngài cũng trao ban chính bình an đó cho các môn đệ.

Bình an của Đức Giêsu chính là bình an sâu thẳm bên trong tâm hồn. Vì thế, bình an này không dừng lại ở bên ngoài, mà còn đi xa hơn để tiến tới tận căn là cõi lòng, tâm hồn người lãnh nhận.

Nếu Đức Giêsu trao ban cho các môn đệ bình an, rồi chuẩn bị lên đường chịu chết, thì người đón nhận nó cũng phải hướng đến cuộc khổ nạn của chính mình khi đón nhận sự bình an từ Chúa. Chúng ta đừng trở nên giống Phêrô, một Phêrô mới tuyên tín: “Thầy là Ðấng Kitô của Thiên Chúa” (Lc 9, 21), rồi sau khi nghe thấy Đức Giêsu loan báo sẽ tiến lên Giêrusalem để chịu nạn chịu chết, ông đã không ngần ngại cản Thầy đừng có đi. Phêrô chưa đón nhận được bình an của Đức Giêsu thực sự, ông còn “rất đời”. Nếu ông đã có bình an của Chúa thì ông sẵn sàng đi theo Chúa, đặt bước chân của mình vào bước chân của Chúa, để cùng vui mừng, ưu sầu và lo lắng vì ơn cứu độ của con người mà Thầy mình đang thi hành. Đàng này, ông đã hiểu sai và cũng hành động sai khi cản Thầy của mình đừng có đi để chịu chết…

Như vậy, bình an mà Đức Giêsu trao ban cho các môn đệ chính là Ngài; hay nói cách khác, Ngài chính nội dung, là nguồn cội của bình an. Vì thế, Ngài ban cho các ông bình an là Ngài ban chính Ngài cho các ông. Bình an của Đức Giêsu trao ban cho các môn đệ và mong muốn các ông đón nhận cũng như sống trong cuộc đời của mình mặc cho cuộc sống um sùm, rối ren, bon chen và sô bồ, thì người môn đệ của Chúa vẫn cứ: “gạn đục khơi trong” để sống trung thành với ơn gọi, sứ mạng Chúa trao.

4. Bình an trong đời sống thánh hiến

Nói đến đời sống thánh hiến, người ta thường nói: “cha, thầy, sơ có được bình an, hạnh phúc không?” Tại sao thế? Thưa! Bởi vì đơn thuần chỉ vì chúng ta là những người đi theo Đức Giêsu cách gần gũi hơn cả. Mà gần Chúa thì không lẽ gì không có bình an. Không lẽ gì lại là một “ông thánh, bà thánh buồn!”. “Thánh mà như vậy thì là một vị thánh đáng buồn”. Khi nói về tâm hồn của những người có Chúa, tức là có bình an của Chúa, đức Hồng y Fx. Nguyễn Văn Thuận nói: “… Càng gian truân con càng vui tươi như Gioan và Phêrô bị đánh đập ở hội đường ‘ra về vui vẻ vì được xứng đáng chịu sỉ nhục vì danh Chúa’; như Phaolô: ‘Tôi tràn đầy vui tươi giữa những thử thách của tôi’” (ĐHV 536).

Nếu không có bình an, chúng ta cần xem lại mục đích đời tu của mình đặt ở đâu? Có bị sai đường trệch lối không?

Quả thật, nếu nói hạnh phúc là điều cần thiết, thì bình an là điều không thể thiếu trong tân hồn của người hạnh phúc. Chính Đức Giêsu đã thấy được tầm quan trọng của nó, nên đã trao ban bình an của người cho các môn đệ trước lúc từ biệt các ông để chịu chết và ngay sau khi phục sinh.

Nếu trong xã hội, con người không có bình an thì sẽ trở thành hỗn loạn và xã hội, gia đình sẽ bị rối beng. Con người sẽ cắn xé nhau vì miếng cơm manh áo, hay nói đúng hơn vì cái bụng.

Trong đời tu cũng thế, nếu không có sự bình an, cá nhân sẽ cảm thấy nặng nề, mệt mỏi và nhiều lúc so đo tính toán thiệt hơn… Nhất là người không có bình an thì sẽ cảm thấy cô đơn ngay trong lòng cộng đoàn, sẽ cảm thấy bất hạnh khi lựa chọn con đường đi tu, sẽ mất niềm hy vọng vào tương lai mai hậu. Như thế thì còn đâu hình ảnh một “Cộng đoàn: nơi tha thứ, chốn an vui?”.

Không có bình an, đời tu sẽ đặt để những mục đích của cuộc đời lung tung và làm đảo lộn giá trị.

Trong xã hội văn minh tiến bộ như hiện nay, nó đã đem lại cho con người nhiều thành quả tích cực trong đời sống. Tuy nhiên, nó cũng không ngừng phân rẽ hay nói đúng hơn, nó đang thách đố chúng ta về “niềm vui và hạnh phúc thật”. Nếu một người có bình an của Chúa thực sự, thì họ: “Thành công, cảm ơn Chúa; thất bại, cũng cảm ơn Chúa, vui tươi mãi… Chính là lúc đó Chúa muốn thử xem ta làm vì Chúa hay vì ý riêng ta. Vui vẻ, can đảm lúc thất bại khó khăn hơn hân hoan lúc xuôi may; hạng anh hùng này ta đếm được đầu ngón tay (x. ĐHV 537).

Là người sống đời thánh hiến, chúng ta lựa chọn đời sống độc thân, dâng hiến cuộc đời cho Chúa, từ bỏ mọi sự, ngay cả tình cảm chính đáng là tình yêu đôi lứa, để đi theo Chúa, sống độc thân vì Nước Trời là để thể hiện một điều gì đó vượt lên trên những thực tại của trần gian.

Khi lựa chọn đời tu như thế, chúng ta được mời gọi đến với con người, không phân biệt địa vị giai cấp… không hẳn là để chữa trị những căn bệnh thể lý, hay thay đổi đời sống hoặc có hoài bão làm thay đổi những diễn biến của thiên nhiên, ổn định hòa bình thế giới, hay cục diện của cuộc đời họ…, Không! Chúng ta được mời gọi đến để trở nên những biểu tượng tinh thần cho những biến cố này. Trở thành biểu tượng của niềm hy vọng cho con người vì một ngày mai tươi sáng hơn. Trở thành “niềm vui của Tin Mừng”.

Chúng ta được mời gọi trở nên những người thầy khôn ngoan, dẫn đường chỉ lối cho người ta thấy được đâu là hạnh phúc và niềm vui thực sự, đâu chỉ là tạm bợ chóng qua… Và, chúng ta sẽ trở thành những người: “Đức Kitô là Đấng Thánh, hãy tôn Người làm Chúa ngự trị trong lòng anh em. Hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em ” (1Pr 3,15).

Khi trở thành những người hướng dẫn như thế, chúng ta sẽ đem yêu thương, thứ tha, an hòa vào những nơi tranh chấp, để loại trừ hận thù, nghi nan và thất vọng. Đem niềm vui, cậy trông vào những nơi tối tăm, để loại trừ ưu sầu và thất vọng.

Làm được điều đó, chúng ta sẽ cảm thấy hạnh phúc và bình an, đồng thời nhiều người cũng được an bình.

Đã đến lúc, chúng ta nên ngồi lại để hồi tâm xem mình đã có bình an hay chưa?

Nếu có rồi thì tạ ơn Chúa và tiếp tục hân hoan tiến bước trên con đường đó. Nếu chưa, ta xem tại đâu? Tại ta đi sai đường hay tại ta chưa có tâm tu?

Chúng ta có thực sự lựa chọn đời tu vì mục đích là làm vinh danh Chúa và cứu rỗi các linh hồn không, hay chỉ vì những mục đích “rẻ tiền” như danh vọng, hình thức, hòa nhoáng bề ngoài, hoặc mong đạt được chức vị và cố gắng thế thủ hay như một nghề để trục lợi cho cá nhân?.

Để kết thúc bài viết, xin được mượn lời của thánh Phaolô để cầu chúc cho chúng ta và cũng mong cho chính mình được ơn bình an đích thực của Chúa: “Ước gì ơn bình an của Ðức Kitô điều khiển tâm hồn anh em, vì trong một thân thể duy nhất, anh em đã được kêu gọi đến hưởng ơn bình an đó. Bởi vậy, anh em hãy hết dạ tri ân” (Cl 3, 15).

Jos. Vinc. Ngọc Biển

 

TRANG TU SĨ

TRUNG KIÊN TRONG MỘT TÌNH YÊU

Thánh lễ vừa kết thúc, tôi cố gắng hoàn tất công việc thường nhật của mình sau mỗi Thánh lễ, lòng cảm nhận miên man một niềm bình an với những hồng ân mà Chúa tuôn đổ dạt dào trên cuộc đời tôi; tôi hít lấy làn hơi gió đang thoảng qua, một cảm giác thật trong trẻo, mát dịu . Cơn mưa đầu mùa tối qua vẫn còn vương lại trên cành lá chút nước rơi rỉ rả xuống mặt hồ làm khuấy động bữa điểm tâm của mấy chú cá hồng. Tôi còn đang loay hoay đóng cánh cửa nhà thờ, chợt chị Tốt  xuất hiện, trên tay đang khệ nệ ôm một giỏ bụt măng đến, chị đưa tay quệt mồ hôi và  nói:

-        Con cắt được mấy búp măng trong vườn đem biếu ông cố và 2 dì ăn lấy thảo.

Tôi hơi  ngần ngại vì hiểu rõ  hoàn cảnh khó khăn  của gia đình chị,  nên nhẹ nhàng hỏi:

-        Chị biếu cho cha và quý Dì, rồi  hôm nay chị lấy tiền đâu mua gạo và thức ăn về cho 2 đứa nhỏ ở nhà?

Chị Tốt nở một Nụ cười thật  đơn sơ và lúng túng trả lời:

-        Lo chi dì ơi. Đã có Chúa lo cho con hết rồi. Àh! Ngày mai là đám giỗ chồng con , trong túi không có nhiều tiền, gởi dì nhiêu đây nhờ dì xin lễ với Ông Cố để cầu nguyện cho linh hồn Giuse chồng con, dì xin dùm con nha dì!

Chị  vội nhét tờ 20 ngàn vào tay tôi và vội vàng quay bước ra về. Cầm tờ 20 ngàn trong tay tôi im lặng nhìn theo dáng người phụ nữ đi khuất nghe lòng mình dâng lên một nỗi nghẹn ngào không thể diễn tả thành lời. Người giáo dân đơn nghèo, góa bụa ấy chân chất quá, dễ thương quá và thật đáng trân trọng qúa. Tấm lòng thủy chung và son sắt của một người vợ mất chồng không khỏi làm người ta xúc động, trong sự túng cực của ba mẹ con 20 ngàn là cả một gia tài, là phần ăn của cả gia đình  ngày hôm đó nhưng bằng đức tin chị đã dành số tiền ít ỏi đó để lo phần hồn cho người đã khuất.  Cuộc sống tuy nghèo nhưng chị không hề than van, chị chấp nhận và Hy Vọng cuộc sống tạm yên ổn trong đơn nghèo bên chồng con.

Nhưng Thiên Chúa có lẽ muốn thử thách đức tin của chị khi Người gọi chồng chị ra khỏi cuộc đời này, để lại một khoảng trống quá to lớn trong cuộc sống của ba mẹ con, tưởng chừng như chị sẽ quỵ ngã hay bỏ cuộc mà rời bỏ niềm tin vào Chúa, nhưng người thiếu phụ ấy lại vượt qua cái yếu đuối của phận làm người mà mạnh mẽ vươn lên và bám chặt vào Chúa. Không thánh lễ Misa nào lại vắng mặt chị dù mưa hay nắng, chị vẫn âm thầm và lặng lẽ đi bộ hơn 2 cây số để đến nhà thờ dự lễ. Bữa nào vắng mặt chị trong nguyện đường là tôi biết rằng ngày hôm ấy chị đang phải vật lộn với những đau đớn tột cùng bởi căn bệnh ung thư. Ánh nắng đã lấp ló sau những tán cây còn sũng nước, tôi vẫn cứ còn lặng lẽ ngẫm suy về đức tin của người mẹ khắc khổ mà trung kiên ấy…một đức tin sáng ngời giữa bao tăm tối phủ vây…

Cuộc sống của mỗi chúng ta với mỗi hoàn cảnh khác nhau, nhưng Chúa muốn chúng ta, những Kitô hữu hãy sống như con cái sự sáng, hãy tỏa ánh sáng Chúa Kitô, tỏa hương thơm tốt lành là những việc thiện để người đời nhận biết Chúa Kitô, như chính Chúa Giêsu đã khẳng định: “chính anh em là muối cho đời, chính anh em là ánh sáng cho trần gian”.

MTG Cái Nhum

 

TRUYỀN GIÁO TẠI GIA

Mỗi sáng, chị Thu dẫn bé Vân đến núi Đức Mẹ bên cạnh Nhà thờ để cầu nguyện rồi mới đưa con vào nhà trẻ. Thấy dì Ba đang ân cần đón trẻ, bé Vân chạy tới lễ phép thưa:

-        Dạ! Con chào Dì Ba.

-        Chào bé Vân. Bữa nay con có ghé núi cầu nguyện không?

-        Dạ có.

Chị Thu vuốt tóc bé Vân và nói: “Con cầu nguyện cho ai, nói cho Dì Ba nghe đi?”

-        Con cầu cho cha con được tin Chúa.

-        Dì Ba xoa đầu bé Vân và nói:

-        Tốt lắm. Con cứ cầu hoài Chúa sẽ nhậm lời con.

-        Chị Thu hôn nhẹ vào má bé Vân và nói:

-        Con ở lại học ngoan nha. Trưa mẹ đón con về.

Chị Thu được sinh ra trong một gia đình đạo đức, ngay thời thơ bé, được cha mẹ dạy cho biết lẽ đạo và kinh sách; nhất là được hấp thụ qua các lớp giáo lý nên khi lớn lên chị ý thức bổn phận của người Kitô hữu. Vì danh dự của gia đình, chị phải kết hôn với anh Thuận, sinh được bé Vân. Hôn nhân không có hôn phối mà chỉ có Phép chuẩn dị giáo. Anh Thuận cũng vì chữ hiếu nên giữ lập trường là không theo đạo vợ mà theo đạo thờ kính Ông Bà tổ tiên. Chị vẫn tôn trọng lập trường đạo giáo của chồng nhưng tha thiết muốn chồng có cùng niềm tin. Quyết tâm của chị là làm mọi cách để chồng có cùng niềm tin thì gia đình mới thật sự hạnh phúc an vui.

Chị Thu yêu thương chồng cho dù lắm khi chồng đầy men rượu và có những lời khiếm nhã với chị. Ngoài bổn phận làm vợ, làm mẹ, chị là một nàng dâu hiếu để, một giáo dân ngoan đạo, một hội viên Legio nhiệt thành, hay thăm viếng giúp đỡ những cụ già có cuộc đời hiu quạnh. Chị thường đến quét dọn nhà cửa, đem quần áo rách về giặt giũ, khâu vá cho các cụ. Việc nhà, việc bác ái không làm chị mõi mệt nhưng luôn vui vẻ phục vụ chồng và chăm sóc con thật chu đáo. Tất cả sự hy sinh của chị cũng vì đức tin của chồng mà thôi.

Theo dòng thời gian, bé Ân được Rước lễ vỡ lòng. Ngày bé Ân Rước lễ cũng là ngày chồng chị bị tai nạn xe do rượu. Sau ca phẩu thuật và nằm viện hai tháng, tốn khá nhiều tiền nhưng chị không một lời than trách chồng. Chị luôn là một người vợ hiền, ân cần chăm sóc và cầu nguyện cho anh tin kính Chúa. Nằm trên giường bệnh, chị đọc và giải thích lời Chúa cho anh nghe, giúp anh suy nghĩ về sự mong manh của kiếp người. Sự tận tâm chăm sóc của chị và nhất là sức mạnh lời Chúa đã biến đổi anh. Giờ thì anh đã ngộ ra sự hiện diện của Chúa trong cuộc đờì và thấy chính Chúa đã cứu anh sau tai nạn thập tử nhất sinh.

Ngày xuất viện trở về nhà, anh ôm bé Vân và nói: “Bây giờ cha tin có Chúa rồi con ạ. Cám ơn con đã cầu nguyện cho cha”. Đôi mắt bé Vân sáng lên sung sướng nhìn cha, xiết chặt tay mẹ, vui mừng reo to:

-        Mẹ ơi! Chúa nhậm lời con rồi phải không mẹ?

Từ đấy, niềm vui và hạnh phúc lan tỏa trong gia đình chị Thu. Với ơn đức tin Chúa ban và sự động viên của vợ, anh Thuận tham gia các lớp giáo lý nâng cao, siêng năng tham dự Thánh lễ, ý thức trách nhiệm làm chồng và là một qưới chức tích cực của họ đạo.

Mỗi Kitô hữu phải canh tân đời sống chính mình để nên men muối giữa lòng xã hội.  Canh tân bằng việc bước ra khỏi cái tôi của mình để đến với người xung quanh. Chị Thu đã bước ra khỏi chính mình khi sống bậc hôn nhân. Chị là một tín hữu ngoan đạo, một nhà truyền giáo tại gia đã giới thiệu Chúa và làm cho lòng thương xót của Đức Giêsu hiện diện sống động trong tâm hồn những người trong gia đình và những người khốn khổ đau thương bằng chứng tá đời sống của mình...

MTG Cái Mơn

 

TRANG SỐNG ƠN GỌI

LINH MỤC, NGƯỜI ĐƯỢC CHÚA GỌI

Ban đầu, Chúa gọi đích danh người này, người nọ hãy gánh vác sứ vụ linh mục. Khi linh mục được sai nhận nhiệm sở, Chúa lại gọi ngài hãy có những lựa chọn cụ thể khôn ngoan, sao cho mục vụ thích hợp với nơi mình phục vụ. Khi linh mục bước vào thời điểm mới, Chúa lại gọi ngài hãy có những sáng kiến mới, để có thể đồng hành với lịch sử. Khi linh mục phải đối mặt với tuổi cao, sức yếu bệnh tật, Chúa gọi ngài hãy có những đóng góp phù hợp, trong phục vụ, cho dù bé nhỏ.

Như vậy, chính bản thân mỗi linh mục là người luôn được Chúa gọi. Được gọi nhiều lần. Được gọi nhiều cách. Được gọi theo từng năm, gọi theo từng ngày, gọi theo từng hoàn cảnh. Để rồi, mỗi vị sẽ lại gọi những người khác đi theo Tin Mừng.

Vì vâng nghe tiếng Chúa gọi, linh mục trở thành con người mang hai thái độ tương phản: Một thái độ là liên kết. Một thái độ là dứt lìa.

Linh mục liên kết với những gì là hợp ý Chúa. Linh mục dứt lìa những gì là nghịch ý Chúa.

Thánh Phaolô dạy: “Anh em đừng có rập theo thói đời này, nhưng hãy sửa đổi con người anh em bằng cách đổi mới tâm hồn, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa. Cái gì là tốt, cái gì là đẹp lòng Chúa, cái gì là hoàn hảo” (Rm 12,1). Lời khuyên trên đây gởi chung cho giáo đoàn, nhưng riêng cho giáo sĩ.

Con người linh mục vừa phải liên kết vừa phải dứt lìa. Đó là một sứ mạng rất khó. Khó đối với thế gian. Khó đối với chính bản thân linh mục. Thế mà, trên thực tế, chúng ta thấy số linh mục cố gắng sống như vậy không phải là ít.

Các linh mục nói chung, và các giám mục nói riêng, đều là những con người rất có giới hạn. Chúng tôi mang nhiều thánh giá nặng, mà thánh giá nặng nhất là chính bản thân mình, với bao yếu đuối, với bao lo âu, với bao lỗi lầm thiếu sót.

Vì thế, chúng tôi không hề dám đặt hy vọng vào khả năng của mình và các việc mình làm. Hy vọng của chúng tôi là Hội Thánh, người mẹ nuôi dưỡng chúng ta. Hy vọng của chúng tôi là anh chị em, giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân, những người đang làm nên một gia đình thân thương nâng đỡ chúng tôi. Hy vọng của chúng tôi là đồng bào xã hội đang sống hài hoà thông cảm giúp đỡ chúng tôi.

Nhưng trên hết, hy vọng của các linh mục và Giám mục là Chúa, Đấng đã gọi chúng tôi, Đấng đã yêu thương chúng tôi đến nỗi đã chịu chết trên thánh giá vì chúng tôi.

Hơn bao giờ hết, tôi cảm nghiệm sâu sắc một câu trong tuần thánh: “Hy vọng của chúng ta là thập giá Đức Kitô. Nơi Người ơn cứu độ ta, sức sống của ta và sự phục sinh của ta”.

Thánh giá Đức Kitô chính là những hy sinh và tình yêu của Chúa Giêsu. Thêm vào đó cũng có những đóng góp của mọi người đang hy sinh và cầu nguyện, thương yêu chúng tôi.

 

Với tâm tình sám hối chân thành, tôi xin mọi người hãy cùng với chúng tôi phó thác chúng tôi cho Chúa. Trên đường phục vụ, chúng tôi thường gặp những bất ngờ. Chỉ Chúa mới là ánh sáng cứu độ và mới là tình yêu cứu độ có thể đưa chúng tôi tới mục đích thực sự của ơn gọi mà Ngài mong muốn.

ĐGM. G.B. BÙI TUẦN

 

 

TRANG THIẾU NHI

NÓI DỐI

Nói dối là nói ngược lại với ý nghĩ của mình về sự vật hay sự kiện. Tại sao có sự nói dối?

Nói dối vì sợ hãi

Sợ rằng nói thật sẽ phải chịu một hậu quả thiệt thòi nào đó nên phải nói dối. Em bé sợ bị cha mẹ phạt nên phải nói dối; học sinh sợ thầy cô phạt nên phải bào chữa mình với những lý do không đúng sự thật.

Cái đáng sợ nhất là tội lỗi, đó là sự xúc phạm đến Thiên Chúa thánh thiện thì người ta lại không sợ mà lại sợ những điều nhỏ nhặt khác.

Nếu chúng ta không kính sợ Thiên Chúa, sẵn sàng nói dối vì sợ người ta, đó là vì đức tin của chúng ta còn quá non yếu.

Nói dối vì tư lợi

Có lúc nói dối để đạt một mối lợi nhỏ mọn: nói dối để được bồi thường, được khen ngợi hay được một chút lợi lộc nào đó.

Kẻ nói dối để được lời lãi hẵn cũng vì tham một mảnh vật chất mà bỏ cả Nước Trời.

Nọc độc của sự dối trá

Xem ra con người càng văn minh, con người càng trở nên phức tạp, quanh co. Thế giới ngày nay với những lối sống giả tạo đã ảnh hưởng đến con người trong mọi lãnh vực.

Người có ngoại hình hơi xấu thì làm đẹp bằng: tóc giả, mũi giả, mắt giả, răng giả…

Người ta chế tạo đồ giả, tiền giả, bằng cấp giả, giấy tờ giả… Vậy mà những giả tạo đó vẫn lôi cuốn được rất nhiều người.

Rồi đến những kỹ thuật quảng cáo xem ra rất quan trọng đối với đời sống con người. Bất cứ thứ gì cũng có thể quảng cáo để cho mọi người biết đến. Một món hàng, một ca sĩ, một lối sống, một món ăn chơi, một nhân vật muốn nổi tiếng đôi khi cũng nhờ đến quảng cáo.

Sống giữa một thế giới đầy những kỹ thuật lừa lọc như vậy, con người rất dễ đánh mật ý nghĩa của sự thật, nhật là thành thật trong lời nói.

Hậu quả của nói dối: Đánh mất nhân phẩm của mình

 

Khi nói dối, con người tự xúc phạm đến danh dự của mình. Cho dù người khác có khám phá ra tật nói dối của một người nào đó hay không thì lương tấm của kẻ nói dối vẫn tố cáo người đó.

Khi nói dối, người ta sẽ trốn chạy trách nhiệm. Mà tinh thần trách nhiệm là dấu chỉ của người trưởng thành nên kẻ nói dối là kẻ thiếu trưởng thành.

Không ai dám giao trách nhiệm cho kẻ gian dối. Những kẻ gian dối là những kẻ lương tâm đã chết hay lương tâm không còn bén nhạy nữa.

Đánh mất tin tưởng

Ai có thể tin được người hay nói dối? Tục ngữ Hy Lạp có câu: “Kẻ nói dối chỉ thu lượm được một kết quả: đó là người ta không tin tưởng hắn nữa, kể cả khi hắn nói thật”.

Để tạo cho lời nói của mình đáng tin, kẻ nói dối phải nói dối nhiều điều khác nữa cho có đầu có đuôi, mạch lạc… nếu không như vậy thì những lời kẻ đó nói ra sẽ dễ dàng tự mâu thuẫn. Vì vậy, tốt nhất là nên nói thật.

Đối với một tập thể, tật nói dối có tác hại rất lớn là sẽ tạo ra sự nghi kỵ lẫn nhau. Từ nghi kỵ người ta phải đề phòng, phải ngờ vực, để lòng thù oán nhau…

Những rắc rối xảy ra xung quanh ta cũng chỉ vì con người không còn tin tưởng nhau. Trong gia đình, mọi người không tin tưởng nhau cũng vì nhiều phần tử quen nói dối.

Một xã hội nếu có quá nhiều người nói dối thì xã hội dễ băng hoại, những giao tế sẽ bị co rút lại vì người không tật tình trong lời nói. Xét cho cùng, nếu vì lời nói mà người ta không còn tin tưởng nhau thì ta im lặng thì tốt hơn.

Sửa tật nói dối

Chúng ta là những Kitô hữu, là con cái của Thiên Chúa chân thật. Nếu chúng ta thích nói dối thì chúng ta đã tự bôi nhọ Thiên Chúa là cha của mình.

Phải tập cho mình tính nói thật bằng cách:

- Một tinh thần đức tin vững mạnh, xác tín rằng của Thiên Chúa thấu biết mọi sự.

- Trí phán đoán ngay thẳng theo tinh thần đức tin, biết nhận ra giá trị đời sau là quan trọng để rồi không dễ dàng nói dối để đạt mục đích trần thế này.

- Tập tư tưởng đúng. Muốn suy nghĩ đúng, phải có tiêu chuẩn chính xác.

- Tập ý chí can đảm, chỉ sợ một Thiên Chúa, sợ phạm tội mất lòng Ngài.

 

MUỐI CHO ĐỜI

Nếu như các Linh mục thi hành trực tiếp thi hành các quyền Chúa Giêsu trao ban là giảng dạy – thánh hóa – lãnh đạo thì các tín hữu giáo dân cũng có bổn phận thực hiện ba sứ mạng của Bí tích rửa tội. Ba sứ mạng ấy là tiên tri – tư tế - vương đế. Đây là nét đặc thù của những người môn đệ Chúa Kitô. Nhờ nét đặc thù này mà người tín hữu giáo dân sẽ trở nên muối cho đời.

Cách chung người tín hữu giáo dân sống giữa môi trường đa văn hóa và đa tôn giáo cũng như đan xen nhiều tín ngưỡng dân gian. Giữa môi trường này người tín hữu giáo dân sẽ dễ dàng làm chứng cho niềm tin của mình vào Chúa Giêsu. Nhưng rồi cũng chính trong môi trường này nguy cơ để họ không đứng vững sẽ cao hơn.

Người Việt nam có câu: Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Để giữ vững nét đặc thù của mình người tín hữu giáo dân trước hết luôn ý thức mình là con của Chúa và của Hội thánh, là người đã lãnh nhận Bí tích rửa tội.

Trở nên muối cho đời qua sứ mạng tiên tri là người tín hữu giáo dân sẽ đem Chúa đến cho nhau và cho anh chị em khác niềm tin bằng đời sống tốt lành thánh thiện của mình. Người ta không biết tôn trọng giá trị của hôn nhân một nam một nữ suốt đời, người tín hữu giáo dân quyết tâm gìn giữ tuyệt đối. Người ta hơn thua, tranh giành và thậm chí sát phạt nhau, người tín hữu giáo dân sống nhịn nhục, tha thứ và biết cho đi mà không tính toán…

Trở nên muối cho đời qua sứ mạng tư tế là người tín hữu giáo dân luôn biết dâng cả vui buồn sướng khổ trong cuộc sống hằng ngày cho Chúa. Siêng năng đến Nhà thờ xứ đạo của mình để cùng với anh chị em thờ phượng Chúa rồi cùng lãnh nhận các Bí tích nhất là Bí tích Thánh Thể và Hòa giải. Những lời kinh chung trong gia đình sáng tối sẽ đều đặn được dâng lên mỗi ngày. Khi có những biến cố đặc biệt xảy đến với bản thân hay gia đình, đều bình tỉnh khôn ngoan để tìm thánh ý Chúa chứ không góp phần vào những việc làm mê tín.

«Trong các con, ai muốn làm lớn, thì hãy phục vụ các con, và ai muốn cầm đầu các con, thì hãy làm tôi tớ các con» (Mt 20, 26b –27). Lời dạy của Chúa Giêsu cho các Tông đồ cũng là lời dạy chung cho những môn đệ của Chúa. Thực hiện được lời dạy này của Chúa, người tín hữu giáo dân sẽ sống được sứ mạng vương đế của mình.

Canh tân đời sống của người tín hữu giáo dân dưới ánh sáng Lời Chúa không cần làm điều gì mới mẻ nhưng chỉ cần ý thức lại ba sứ mạng này tích cực hơn. Càng sống tốt được ba sứ mạng này bao nhiêu thì chất muối của người tín hữu giáo dân sẽ được lan truyền nhiều bấy nhiêu.  

 

 

TRANG GIỚI TRẺ

Bài Giáo Lý Của ĐTC Phanxicô Về Sự Nghèo Khổ

Dưới đây là bản dịch bài Giáo Lý ĐTC Phanxicô ban hành ngày 3 tháng 6 năm 2015 trong buổi Triều Yết Chung được tổ chức tại Quảng Trường Thánh Phêrô.  Hôm nay ĐTC tiếp tục chu kỳ Giáo Lý về Gia Đình.  Ngài giải thích về tầm quan trọng của việc giúp đỡ các gia đình nghèo.

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Trong ngày thứ tư này, chúng ta suy nghĩ về gia đình và tiếp tục vấn đề này, suy nghĩ về gia đình.  Giờ đây chúng ta bắt đầu bài giáo lý với sự suy tư để cân nhắc về tính dễ bị tổn thương của các gia đình trong các điều kiện sống mà họ đang bị thử thách.  Các gia đình đang bị thử thách về rất nhiều vấn đề.

Một trong những thử thách này là sự nghèo khổ.  Chúng ta hãy nghĩ đến rất nhiều gia đình đang sinh sống ở các vùng ngoại ô của các thành phố lớn, mà cũng nghĩ đến các vùng nông thôn...  Có biết bao đau khổ, biết bao tồi tệ!  Và rồi, để làm cho vấn đề thêm trầm trọng, ở một số nơi còn xảy ra chiến tranh.  Chiến tranh luôn luôn là một điều khủng khiếp.  Nó cũng đặc biệt ảnh hưởng đến thường dân và các gia đình.  Quả thật, chiến tranh là “mẹ của mọi sự nghèo khổ”, chiến tranh bần cùng hoá gia đình, một dã thú lớn cướp đi sự sống, linh hồn, những cảm giác thánh thiêng nhất và những người thân yêu nhất.

Bất chấp tất cả những điều ấy, có nhiều gia đình nghèo mà vẫn cố gắng sống xứng đáng với nhân phẩm trong cuộc sống hàng ngày của mình, thường thì bằng cách công khai tín thác vào phúc lành của Thiên Chúa.  Tuy nhiên, chúng ta không được dùng bài học này để biện minh cho sự thờ ơ của mình, mà nó phải làm cho chúng ta thêm xấu hổ về thực tại là có quá nhiều nghèo khổ!  Hầu như là một phép lạ khi ngay cả trong cảnh nghèo đói mà các gia đình vẫn tiếp tục hình thành, và thậm chí, khả dĩ để bảo tồn tính nhân bản đặc biệt trong những mối liên hệ của nó.  Thực tại này làm cho những người soạn thảo kế hoạch an sinh phải bực bội vì họ coi tình cảm, việc sinh sản con cái và những liên hệ gia đình như những điều thứ yếu so với phẩm chất của đời sống.  Họ chẳng hiểu gì cả!  Trái lại, chúng ta nên quỳ xuống trước những gia đình này, là những trường học thật sự của nhân loại, họ cứu xã hội khỏi cảnh dã man.

Thực ra, chúng ta còn lại gì nếu chúng ta đầu hàng thư hăm doạ tống tiền của Caesar và Ma Môn, bạo lực và tiền bạc, mà cũng chối từ tình cảm gia đình?  Một nền đạo đức dân sự mới sẽ chỉ có thể đến khi những người có trách nhiệm về đời sống công cộng xắp đặt lại những liên hệ xã hội bắt đầu từ cuộc chiến chống lại tình trạng xoắn quyện éo le giữa gia đình và sự nghèo đói, là điều đưa chúng ta xuống vực thẳm.

Nền kinh tế ngày nay thường chuyên chú vào việc hưởng thụ hạnh phúc cá nhân, nhưng rộng rãi thực hành việc khai thác các mối liên hệ gia đình.  Đó là một mâu thuẫn nghiêm trọng!  Đương nhiên là những công việc bao la của gia đình không được liệt kê trong bản báo cáo tài chính!  Thật vậy, nền kinh tế và chính trị rất keo kiệt với những giải thưởng trong lĩnh vực này.  Tuy nhiên, việc đào luyện bên trong của con người và sự chuyển động của tình cảm trong xã hội có trụ cột của chúng ngay ở đó.  Nếu mất nó, thì tất cả mọi sự đều sụp đổ.

Đó không chỉ là vấn đề cơm bánh.  Chúng ta nói về công ăn việc làm, chúng ta nói về việc giáo dục, chúng ta nói về việc chăm sóc sức khỏe.  Thật quan trọng để hiểu điều này.  Chúng ta luôn luôn rất xúc động khi thấy hình ảnh các trẻ em thiếu ăn và bệnh tật ở rất nhiều nơi trên thế giới được chỉ cho chúng ta.  Đồng thời, chúng ta xúc động trước những cặp mắt lấp lánh của nhiều trẻ em, tuy thiếu thốn đủ mọi thứ, ở trong những trường học không có gì, khi chúng hãnh diện khoe những cây bút chì và tập vở của chúng.  Và cách chúng nhìn cô giáo hoặc thầy giáo của chúng thật trìu mến ra sao!  Thực sự, các trẻ em biết rằng người ta không chỉ sống bằng cơm bánh!  Nhưng cả những tình thương trong gia đình; khi có sự khốn cùng, các trẻ em đau khổ vì chúng muốn tình yêu và các liên hệ gia đình.

Là Kitô hữu, chúng ta phải gần gũi hơn với những gia đình đang bị nghèo đói thử thách.  Nhưng anh chị em có nghĩ rằng tất tất cả anh chị em đều biết có một gia đình nào: người cha đang thất nghiệp, người mẹ không có việc làm... và gia đình đang đau khổ, mối liên gia đình đang bị suy yếu.  Điều này xấu.  Thực ra, những đau khổ xã hội ảnh hưởng đến gia đình và đôi khi phá huỷ nó.  Việc thiếu hoặc mất việc làm, hoặc sự rất bấp bênh của nó, có ảnh hưởng nghiêm trọng đến gia đình, chồng chất một thử thách nặng nề lên trên các mối liên hệ.  Các điều kiện sống trong các khu phố nghèo nàn nhất, với những vấn đề gia cư và giao thông, cũng như việc giảm bớt các dịch vụ xã hội, y tế và giáo dục, tạo thêm những khó khăn.  Thêm vào những yếu tố vật chất này là những thiệt hại gây ra cho gia đình bởi các kiểu mẫu giả dối, được phổ biến bởi các phương tiện truyền thông, dựa trên chủ nghĩa tiêu thụ và việc tôn thờ vẻ bề ngoài, ảnh hưởng đến các tầng lớp xã hội nghèo nhất và gia tăng sự tan rã của các liên hệ gia đình.  Hãy chăm sóc cho các gia đình, chữa lành những đau khổ, khi sự khốn cùng thử thách gia đình!

Hội Thánh là mẹ, và không được quên được thảm cảnh này của con cái mình.  Chính Hội Thánh cũng phải nghèo, để trở nên hiệu quả và đáp ứng với đau khổ lớn lao như thế.  Một Hội Thánh nghèo là một Hội Thánh tự nguyện thực hành sự đơn giản trong cuộc sống của mình - trong các cơ cấu của mình, trong cách sống của các thành viên của mình - để đạp đổ mọi bức tường ngăn cách, đặc biệt là với người nghèo.  Phải cầu nguyện và hành động. Chúng ta hãy nhiệt thành cầu nguyện với Chúa, để Người lay động chúng ta, biến gia đình Kitô hữu của chúng ta thành những tác nhân chính của cuộc cách mạng gần gũi gia đình này, mà giờ đây quá cần thiết!  Chính sự gần gũi này của gia đình, ngay từ thủa ban đầu, đã làm thành Hội Thánh.  Và chúng ta đừng quên rằng sự phán xét của những người túng thiếu, những người bé nhỏ và người những nghèo tiên liệu sự phán xét của Thiên Chúa (x. Mt 25:31-46).  Chúng ta đừng quên điều này và hãy làm tất cả mọi sự có thể để giúp các gia đình tiến bước trong cuộc thử thách của nghèo đói và khốn khổ, là điều ảnh hưởng đến tình cảm và các liên hệ gia đình.  Tôi muốn đọc lại bản văn Thánh Kinh mà chúng ta đã nghe lúc đầu và mỗi người trong chúng ta hãy nghĩ đến những gia đình đang bị thử thách bởi đau khổ và nghèo đói, Thánh Kinh nói: “Con ơi, đừng chối từ người nghèo những gì họ cần cho cuộc sống, đừng thờ ơ với cái nhìn của người túng thiếu.  Đừng làm cho kẻ đói phải buồn lòng, đừng chọc giận ai khi họ gặp bước khó khăn.  Đừng làm phiền một tâm hồn đang bực bội, đừng chối từ quà tặng cho kẻ nghèo.  Đừng từ chối lời nài xin của kẻ khốn cùng, đừng ngoảnh mặt đi khi gặp người nghèo khó.  Ai xin con thì đừng lơ mắt, chớ làm cớ cho người ấy nguyền rủa mình.” (HC 4:1-5a).  Bởi vì đó là điều Chúa sẽ làm – như nói trong Tin Mừng - nếu chúng ta không làm những điều này.

Phaolô Phạm Xuân Khôi  chuyển ngữ

Nguồn: giaoly.org

 

 

TRANG GIA ĐÌNH

Việc Rao Hôn Phối Nhằm Mục Đích Gì?

Hỏi: “Con chuẩn bị kết hôn, nhưng con (và có thể cả gia đình con) sẽ rất xấu hổ khi tên con được rao trong nhà thờ (vì trước kia con có đi tu!). Xin Cha cho biết việc rao hôn phối nhằm mục đích gì, và con có thể xin miễn chuẫn lời rao hôn phối được không?”

Đáp: Hôn nhân không phải là một việc riêng tư chỉ liên quan đến hai vợ chồng, mà là một hành vi công liên quan đến cả Giáo Hội lẫn xã hội dân sự nữa. Cho nên, cả Giáo luật lẫn Dân luật đều đặt ra những thủ tục kết hôn.

Đối với Giáo Hội, việc rao hôn phối nhằm mục đích xác nhận sự tự do để kết hôn, cũng như để thông báo cho cộng đoàn biết mà cầu nguyện và họ có thể trình báo những ngăn trở mà họ biết được.

Theo Bộ Giáo luật hiện hành, luật chung không quy định gì về việc rao hôn phối, nhưng giao lại cho Hội Đồng Giám Mục quy định.

“Hội Đồng Giám Mục phải ấn định những quy tắc về việc khảo hạch các đôi bạn, cũng như về việc rao hôn phối và về những phương tiện thích hợp khác để thực hiện các cuộc điều tra, những việc đó là cần thiết trước khi cử hành hôn nhân; một khi những quy tắc ấy đã được tuân giữ cẩn thận cha sở có thể tiến hành việc chứng hôn” (Điều 1067).

Hình thức thông thường áp dụng tại Việt Nam là rao hôn phối trong ba ngày Chúa nhật liên tiếp. Cũng có nơi đăng lời rao hôn phối trên bản tin của giáo xứ, hoặc dán lời rao hôn phối trước cửa nhà thờ.

Việc rao hôn phối là một việc cần thiết, phải được tuân giữ một cách cẩn thận. Cho nên, việc chuẩn rao hôn phối phải là một việc hết sức họa hiếm.

Về việc miễn chuẩn, theo “Bản Năng Quyền Thập Niên (1971-1980)” vẫn còn hiệu lực: Cha sở có thể chuẩn một lời rao; Cha Quản hạt được tha rao hai lần khi có lý do chính đáng; và Đức Giám mục giáo phận chuẩn rao hoàn toàn. Phép tha này có hiệu lực ở tất cả những nơi liên hệ đến nố hôn phối đó, cho dầu ở ngoài giáo xứ, giáo hạt, giáo phận mình (số 33).

Lm LG Huỳnh Phước Lâm, GP.Long Xuyên

 

 

TRANG GIÁO LÝ VIÊN

25 Bài Giáo Lý Về Thánh Phaolô

Bài 18: Thánh Phaolô đi truyền giáo nhiều nơi, Ngài có truyền giáo ở Jerusalem không? Nếu đến Jerusalem, Ngài đến đó bao nhiêu lần?

Thánh Phaolô đi truyền giáo nhiều nơi nhưng không thấy kể là Ngài truyền giáo ở Jerusalem, vì đó là vùng đất đã có các tông đồ (Phêrô, Giacôbê, Gioan) rao giảng. Tuy nhiên thánh Phaolô lên Jerusalem nhiều lần với nhiều mục đích khác nhau.

Để tìm lại những dấu vết này, cũng như những sự kiện lịch sử khác theo dấu chân thánh Phaolô, các nhà chuyên môn dựa vào phần lớn là sách Công Vụ Tông Đồ và những thư thánh Phaolô viết cho các tín hữu tiên khởi. Hai nguồn liệu này đôi khi cung cấp những dữ kiện khác nhau.

Dựa vào thư của thánh Phaolô viết, Ngài đến Jerusalem hai lần sau khi đã trở lại: một lần sau ba năm (Gal 1:18), một lần sau mười bốn năm (Gal 2:1), trong cuộc gặp gỡ với các tông đồ mà đôi khi được gọi là công đồng Jerusalem. Trong thư gởi tín hữu Roma (Rm 15:25), Phaolô dự tính đến thăm Jerusalem một lần nữa trước khi Ngài đi Roma và Tây ban Nha (đây chỉ là dự tính).

Dựa vào sách Công Vụ Tông Đồ , sau khi trở lại, thánh Phaolô có thể đã đến Jersusalem khoảng năm lần.

Lần thứ nhất trong Cvtd 9:26-29 kể sau khi Phaolô trở lại và rao giảng ở Damascus, rồi bị nhiều người âm mưu giết Ngài. Phaolô bỏ Damascus để về Jerusalem.

Lần thứ hai trong Cvtd 11:29-30 kể khi Barnabas và Saul (tên cũ của Phaolô) đem tiền quyên góp giúp những người anh chị em nghèo ở vùng Giuđa. Theo lịch sử thì một nạn đói xảy ra ở vùng Địa Trung Hải dưới thời hoàng đế Claudius, và Julius Alexander làm thống đốc, vào khoảng giữa năm 46-48 (xem Cvtd 11:28).

Lần thứ ba trong Cvtd 15:1-2 kể chuyện Phaolô và Barnanas lên dự đại hội Jerusalem với các tông đồ và kỳ mục.

Lần thứ tư trong Cvtd 18:22 kể sau cuộc hành trình lần thứ hai, Phaolô lên Jerusalem để chào thăm các vị trong giáo hội ở đó trước khi về Antioch.

Lần thứ năm trong Cvtd 21:15-17 kể cuối cuộc hành trình lần thứ ba, Phaolô thăm Jerusalem và bị bắt.

Vây làm sao dung hoà hai tài liệu trên? Việc dung hoà hai tài liệu này là một điều khó, nhưng các chuyên gia kinh thánh tin rằng những gì Luca kể lại trong Cvtd và Phaolô ghi lại trong thư Ngài viết không trái nghịch nhau.

Một giải phảp được đưa ra là lần thăm viếng Jerusalem thứ nhất được kể lại trong Gal 1:18 và trong Cvtd 9:26-29 hợp nhau. Trong lần viếng thăm này, Phaolô ở lại đó chừng 15 ngày để gặp Kephas (tức Phêrô) và Giacôbê. Vì là lần đầu tiên nên có lẽ các tông đồ chưa biết và chưa tin tưởng Phaolô, Barnabas là người đem Phaolô đến giới thiệu với các tông đồ và cộng đoàn tín hữu Jerusalem.

Nhưng lần thăm viếng thứ hai được thánh Phaolô kể trong Gal 2:1, tức đại hội Jerusalem, thì sách Cvtd sắp xếp thành hai lần viếng thăm (được kể lại trong lần thứ hai và thứ ba ở trên).

Lần viếng thăm thứ tư trong Cvtd 18:22 là cuộc thăm viếng ngắn ngủi. Có lẽ vì chỉ ghé qua Jerusalem trên được về Antioch nên Phaolô không ghi lại trong thư của Ngài.

Lần viếng thăm thứ năm trong Cvtd hợp với ý định Phaolô ghi lại trong thư gởi tín hữu Roma 15:25.

Lối giải thích này được nhiều người chấp nhận là hợp lý, và không thấy có những bằng chứng lịch sử đối nghịch cách hiểu nảy.

Mt. Nguyễn khắc Hy, S.S.

Nguồn: liendoanconggiao.net

 

 

TRANG QUỚI CHỨC

NỀN TẢNG SỐNG ĐẠO

Có một thực tại rất đau lòng trong việc thực hành sống đạo của các Kitô hữu, đã trở nên lời cảnh báo cho tương lai của Giáo Hội đó là: việc tôn thờ Chúa qua hình thức đọc kinh chung sáng tối đã bị quên lãng ở rất nhiều gia đình Kitô giáo.

Chúng ta, ai cũng biết đọc kinh sáng tối đó là việc cầu nguyện, cách thể hiện lòng tôn thờ Thiên Chúa của người “ có đạo”. Nó hơi khác với những tôn giáo khác. Nói hơi khác ở đây là vì nó là việc có tính tổ chức, có bài bảng hẳn hoi.

Ai đã từng học giáo lý cũng biết rằng việc đọc kinh nhật tụng (kinh sáng, tối mỗi ngày) là việc thực thi điều răn thứ nhất trong Mười điều răn Đức Chúa Trời. Ai không biết phải đọc kinh sáng tối như thế nào, cứ mở sách Mục Lục ra mà đọc, trẻ nhỏ không biết chữ, cứ nghe người lớn đọc rồi tự nhiên thuộc lòng; đây không phải là việc tự phát, tự chế nhưng đã được Đức Giêsu dạy:  "Thầy còn bảo thật anh em: nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, sẽ ban cho. Vì ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ." (Mt 18, 19-20)

Việc đọc kinh sáng tối không khác với những tín đồ các tôn giáo khác, bởi dù là tín đồ bất cứ tôn giáo nào, thậm chí cả những người không theo bất cứ một tôn giáo nào, người ta cũng có những cách tôn thờ thần linh của họ theo cách của họ. Ở Việt Nam chúng ta, những người không theo đạo nào cả nhưng vẫn có bàn Thông Thiên đặt giữa trời, để họ mỗi ngày ba lần ra đó để khấn vái nhờ làn khói hương đưa lời cầu nguyện cũng là lòng thành của họ lên tới Trời.

Thế nhưng, ngày nay, việc thực hành sống đạo này trong Giáo hội dần dần suy giảm bởi nhiều lý do: Khách quan có, chủ quan có.

Khách quan: do con người ngày nay phải bon chen tranh đua đến nỗi không còn thời gian để ngồi lại với nhau, không còn những thời gian riêng tư của gia đình nên việc mạnh ai nấy sống, hồn ai nấy giữ cũng là điều tất yếu.

Chủ quan: Nhiều người giờ đây coi nhẹ việc cầu nguyện sáng tối, bởi họ coi đó chỉ là việc nhỏ, bởi vốn giáo lý sơ sài, bởi họ chỉ chú tâm vào những “chuyện lớn” là đủ như đi hành hương, Lòng Chúa Thương Xót, Tuần Đại Phúc….Đối với họ, chỉ cần những chuyện đó là dư để bù đắp cái chuyện nhỏ xíu kia rồi.

Một sai lầm đưa tới hậu quả rất nghiêm trọng ! Giáo Hội Pháp, được ví như là trưởng nữ của Giáo Hội hoàn vũ sau bao nhiêu thế kỷ giở đang phải chứng kiến cảnh tan nát suy tàn và phải ngậm ngùi chân nhận rằng đó là hậu quả của việc buông lỏng việc đọc kinh và học giáo lý.

Nhìn lại mình, chúng ta phải nhận ra một sự thật rằng hiện tại, chúng ta cũng bắt đầu đi vào vết xe cũ. Tại sao những cây cổ thụ ở Hà Nội bị trốc gốc ngã nhào ? báo chí chỉ ra rằng: đó là những cây được bứng từ nơi khác tới, có những cây bọc bảo vệ bầu đất còn nguyên nên rễ không phát triển được.

Đời sống đạo cũng thế thôi, nếu nền tảng giáo lý không vững, việc thực hành sống đạo không được thực hành từ những việc nhỏ thì khi gặp áp lực từ bên ngoài xã hội, nó sẽ dễ dàng chao đảo, quỵ ngã.

 

SỐNG ĐẸP

Triết lý sống hạnh phúc cho tuổi già

Tháng ngày hối  hả, đời người ngắn ngủi, thoáng chốc đã già. Chẳng dám nói hiểu hết mọi lẽ nhân sinh,  nhưng chỉ có hiểu cuộc đời thì mới sống  thanh thản, sống thoải mái.   Qua một ngày,  mất một ngày .Qua một ngày, vui  một ngày. Vui một ngày  lãi một ngày…

Hanh phúc do  mình tạo ra. Vui sướng là mục tiêu cuối cùng của đời người, niềm vui ẩn chứa trong những sự việc vụn vặt nhất trong đời sống, mình  phải tự tìm lấy. Hạnh phúc và vui sướng là  cảm giác và cảm nhận, điều quan trọng là ở  tâm trạng.

Tiền không phải là tất cả nhưng không phải không là gì. Đừng có coi trọng đồng tiền, càng không nên quá so  đo, nếu hiểu ra thì sẽ thấy nó là thứ ngoại   thân, khi ra đời chẳng ai mang nó đến, khi chết chẳng ai mang nó theo. Nếu có người cần bạn giúp, rộng lòng   mở hầu bao, đó là một niềm vui lớn. Nếu dùng tiền mua được sức khoẻ và niềm vui thì tại  sao không bỏ tiền ra mà mua? Nếu dùng tiền mà  mua được sự an nhàn tự tại thì đáng lắm  chứ! Người khôn biết kiếm tiền, biết tiêu  tiền. Làm chủ đồng tiền, đùng làm tôi tớ cho nó.

“Quãng đời còn lại càng ngắn ngủi thì càng phải làm cho   nó phong phú”. Người già phải thay đổi cũ kỹ đi, hãy chia tay với “ông sư khổ  hạnh” hãy làm “con chim bay lượn”.  Cần ăn thì ăn, cần mặc thì mặc, cần chơi thì  chơi, luôn luôn nâng cao phẩm chất cuộc sống,  hưởng thụ những thành quả công nghệ cao, đó  mới là ý nghĩa sống của TUỔI GIÀ.

Tiền bạc rồi  sẽ là của con cái, địa vị là tạm thời, vẻ vang  là quá khứ, sức khoẻ là của mình.

Cha mẹ yêu con  là vô hạn; con yêu cha mẹ là có hạn.  Con ốm cha mẹ buồn lo; cha mẹ ốm con nhòm một cái, hỏi vài  câu là thấy đủ rồi.  Con tiêu tiền của cha mẹ thoải mái; cha mẹ tiêu tiền của con  chẳng dễ chút nào.  Nhà cha mẹ là  nhà của con; nhà của con không phải là nhà cha  mẹ.   Khác nhau là  thế, người hiểu đời coi việc lo liệu cho con  là nghĩa vụ, là niềm vui, không mong báo đáp.  Chờ báo đáp là tự làm khổ mình. Ốm đau trông cậy vào ai ? Trông cậy con ư ? Nếu ốm dai dẳng có đứa con có hiếu nào ở bên giường đâu  “cứu bệnh sàng tiền vô hiếu tử”. Trông vào bạn đời ư ? Người ta cũng yếu, có  khi lo cho bản thân còn chưa xong, có muốn đỡ  đần cũng không làm nổi.  Trông cậy vào  đồng tiền ư ? Chỉ còn cách đấy.

Cái được người ta chẳng hay để ý; cái không được thì  nghĩ nó to lắm, nó đẹp lắm. Thực ra sự sung  sướng và hạnh phúc trong đời tùy thuộc vào  sự thưởng thức nó ra sao. Người ta hiểu đời  rất quý trọng và biết thưởng thức những gì  cho mình đã có, và không ngừng phát hiện thêm ý  nghĩa của nó, làm cho cuộc sống vui hơn, giàu ý  nghĩa hơn. 

Cần có tấm  lòng rộng mở, yêu cuộc sống và thưởng thức cuộc sống, trông lên chẳng bằng ai, trông xuống chẳng ai bằng mình “Tỷ thượng bất túc,  tỷ hạ hữu dư”, biết đủ thì lúc nào cũng vui “tri túc thường lạc”.

Tập cho mình  nhiều đam mê, vui với chúng không biết mệt  mỏi, tự tìm niềm vui. Tốt bụng với mọi người, vui vì làm việc thiện, lấy việc  giúp người làm niềm vui. Con người ta vốn chẳng phân biệt giàu nghèo sang hèn, tận   tâm vì công việc là coi như cống hiến, có thể yên lòng, không hổ thẹn với lương tâm là được. Huống hồ người ta cũng nghĩ cả rồi, ai cũng thế cả, cuối cùng là trở về với tự  nhiên.

Thực ra nghề cao chẳng bằng tuổi thọ  cao, tuổi thọ cao chẳng bằng  niềm vui thanh cao. Quá nửa đời dành khá nhiều cho sự nghiệp, cho gia đình, cho con cái, bây giờ thời gian còn lại chẳng bao   nhiêu nên dành cho mình, quan tâm bản thân, sống thế nào cho vui thì sống, việc gì muốn làm thì   làm, ai nói sao mặc kệ vì mình đâu phải sống để người khác thích hay không thích, nên sống thật với mình.  

Sống trên đời   không thể vạn sự như ý, có khiếm khuyết là lẽ thường tình ở đời, nếu cứ chăm chăm  cầu toàn thì sẽ bị cái cầu toàn làm khổ sở.  Chẳng thà thản nhiên đối mặt với hiện thực,  thế nào cũng xong. 

Tuổi già tâm  không già, thế là già mà không già; tuổi không  già tâm già, thế là không già lại thành già. Nhưng giải quyết một vấn đề thì nên nghe già.  Sống phải năng hoạt động nhưng đừng quá mức, ăn uống quá thanh đạm thì khôhg đủ chất bổ, quá nhiều  thịt cá thì không hấp thụ được. Quá nhàn rỗi thì buồn tẻ, quá ồn ào thì khó chịu…  mọi thứ đều nên “VỪA PHẢI”. Người ngu gây   bệnh (hút thuốc, say rượu, tham ăn, tham uống….)  Người dốt chờ bệnh (ốm đau mới đi khám chữa bệnh….) .  Người khôn   phòng bệnh, chăm sóc bản thân, chăm sóc cuộc sống.  Khát mới uống,  đói mới ăn, mệt mới nghỉ, thèm ngủ mới ngủ, ốm mới chữa bệnh….ĐỀU LÀ MUỘN.

Phẩm chất sống người già cao hay thấp chủ yếu tuỳ  thuộc vào cách suy tưởng : Suy tưởng hướng lợi là bất  cứ việc gì đều xét theo yếu tố có lợi, dùng suy tưởng hướng lợi để xây dựng cuộc sống  tuổi già sẽ làm cho tuổi già đầy sức sống và tự tin, cuộc sống có hương, có vị. Suy tưởng  hướng hại  là suy tưởng tiêu cực, sống qua ngày với tâm lý bi quan, sống như vậy sẽ chóng già  chóng chết.

“Chơi ” là một trong những nhu cầu căn bản của tuổi già, hãy   dùng trái tim con trẻ để tìm cho mình một trò chơi yêu thích nhất, trong khi chơi hãy thử  nghiệm niềm vui chiến thắng, thua không cay, chơi   là đùa. Về tâm lý và sinh lý, người già cũng  cần kích thích và hưng phấn để tạo ra một  tuần hoàn lành mạnh. “Hoàn toàn khoẻ mạnh” đó là nói thân thể khoẻ mạnh, tâm lý khoẻ mạnh và đạo đức khoẻ mạnh..  Tâm lý khoẻ mạnh là biết chịu đựng, biết tự chủ, biết giao tiếp; Đạo đức khoẻ mạnh   là có tình yêu thương, sẵn lòng giúp người, có   lòng khoan dung, người chăm làm điều thiện sẽ   sống lâu…   Con người là con người xã hội, không thể sống biệt lập, bưng tai bịt mắt, nên chủ động tham gia hoạt động công ích, hoàn thiện bản thân trong xã hội, thể hiện giá trị của mình đó là cách sống lành mạnh.

“Cuộc sống tuổi già nên có nhiều bạn gìà trong nhiều thành phần,nhiều mẫu người với nhiều màu sắc khác nhau trong xã hội. Có  một hai bạn tốt thì chưa đủ, nên có cả một nhóm bạn già, tình đẹp làm thêm cuộc sống tuổi già, làm cho cuộc sống của bạn nhiều hương vị, nhiều màu sắc.

Con người ta  chịu đựng, hoà giải và xua tan nỗi đau đều chỉ có thể dựa vào chính mình. Thời gian là vị thầy thuốc giỏi nhất, quan trọng là khi đau buồn bạn chọn cách sống như thế nào.   Tại sao khi về   già người ta hay hoài cổ “hay nhớ lại   chuyện xưa?” Đến những năm cuối đời,  người ta đã đi đến cuối con đường sự nghiệp, vinh quang xưa kia đã trở thành mây khói xa vời, đã đứng ở sân ga cuối. Tâm linh cần trong phòng, tinh thần cần thăng hoa, người ta muốn tìm lại những tình cảm chân thành. Về lại chốn xưa, gặp lại người thân, cùng nhắc lại những ước mơ thủa nhỏ, cùng bạn sống. Quý trọng và được đắm mình trong những tình cảm chân thành là một niềm vui lớn của tuổi già.

Nếu bạn đã cố hết sức, mà vẫn không thay đổi tình trạng không hài lòng thì mặc kệ nó. Đó cũng là một sự giải thoát. Chẳng việc gì cố mà được, quả ngắt vội không bao giờ ngọt.

Sưu tầm

 

HỎI ĐÁP MỤC VỤ

Giáo Hội Công Giáo Đối Xử Thế Nào Với Hôn Nhân Đồng Tính, Đồng Phái, Đồng Giới... Khi Nhiều Nước Công Nhận?

Hỏi:

Nhiều nước trên thế giới bây giờ đã chấp thuận cho "hôn nhân đồng tính", vậy giáo hội Công giáo có chấp nhận hôn nhân đồng tính không ?

Đáp:

1/ Hôn nhân đồng tính (same-sex marriage), nghĩa là nam kết hôn với nam, nữ kết hôn với nữ.

2/ Đã có những nước Bỉ, Hòa lan, Canada, Tây Ban Nha... cho phép kết hôn đồng tính. Về phía đạo, có UnitedChurch, một giáo hội Tin lành có rất đông tín đồ, đã hỏi ý kiến tín đồ mình, kết quả là đa số chấp nhận hôn nhân đồng tính.

3/ Những người theo Kitô giáo, đã học biết Kinh Thánh nên để ý:

3.1- Trong Kinh thánh Cựu ước, Thiên Chúa Giavê đã phạt dân thành Sodoma vì tội giao hợp cùng phái này...(Sách Sáng thế 19,1-29)

3.2- Theo Kinh thánh Tân ước, Chúa Giêsu phán với những người Pharisêu rằng, "Từ đầu tiên Thiên Chúa đã dựng nên loài người có nam có nữ, người nam sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình..." (Matthêu 19,3-6). Đó là định nghĩa hôn nhân là một nam một nữ, chứ không phải là đồng tính như ngày nay người ta muốn định nghĩa: "Hôn nhân là sự kết hợp giữa 2 người".

Thử hỏi: Nếu cha mẹ những người ủng hộ "hôn nhân đồng tính" cũng lấy nhau đồng tính thì ngày nay họ có mặt trên đời để ủng hộ hôn nhân đồng tính không?

Những người tin theo Kinh Thánh, những tôn giáo theo Chúa Kitô dựa vào đâu để cho phép hôn nhân đồng tính?

Luật luân lý phải dựa vào Kinh thánh của Thiên Chúa là tiêu chuẩn tối cao, chứ không dựa vào ý kiến đa số, bất toàn của loài người.

Nếu mục đích của hôn nhân là sinh con cái "hãy sinh sản đầy mặt đất" (Sáng thế 1,28), thì hôn nhân đồng tính không phải là tự nhiên, nhưng chỉ là bệnh hoạn, chỉ là cách giải quyết sinh lý, tình dục với nhau, chứ không nhằm thể hiện ý Đấng Tạo hóa, cho dù có xin con nuôi. Con nuôi đâu phải con đẻ tự nhiên do vợ chồng yêu nhau mà sinh ra.

Với những lý do trên, và những lý do khác như giáo luật quy định, và các Đức Giáo Hoàng, nhất là đức Gioan Phaolô 2 trình bày, Giáo hội Công giáo sẽ không bao giờ đi ngược lại Kinh Thánh mà chấp nhận hôn nhân đồng tính.

***

Nhưng trong tinh thần bác ái của đạo, Sách Giáo lý Công giáo khuyên người Công giáo không nên tỏ ra kì thị đối với những người đồng tính, nhưng nên "đón nhận, thông cảm và cư xử tế nhị" với những người bệnh hoạn bất đắc dĩ này, họ không muốn, cha mẹ, gia đình họ không muốn con em họ có xu hướng đồng tính đâu. Gia đình nên xử đối với nhau sao cho khôn khéo, hợp lẽ đạo, đừng để mất con em mình.

Sách Giáo lý do Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô 2 ban hành năm 1992 viết:

Khiết tịnh và đồng tính luyến ái

 Số 2357:

Đồng tính luyến ái là những liên hệ giữa những người nam hoặc những người nữ với nhau: họ cảm thấy sức quyến rũ về tính dục một cách mạnh hơn hẳn, hoặc một cách độc chiếm đối với những người cùng giới tính. Nó đã mặc lấy những hình thức rất khác nhau qua các thế kỷ và nơi những văn hoá khác nhau. Sự phát sinh về tâm thần của nó vẫn còn nhiều điểm chưa lý giải được. Dựa trên Thánh Kinh vẫn lên án chúng là những hành vi suy đồi nghiêm trọng. Truyền thống luôn luôn tuyên bố "những hành vi đồng tính luyến ái là thác loạn từ bản chất của chúng". Những hành vi này nghịch với luật tự nhiên. Chúng đóng cửa không cho hành vi tính dục ban tặng sự sống. Chúng không xuất phát từ một sự bổ khuyết cho sinh hoạt tình cảm và tính dục thật sự. Chúng không thể được chấp nhận trong bất cứ trường hợp nào.

Số 2358:

Một con số không nhỏ những đàn ông và phụ nữ cho thấy có những khuynh hướng đồng tính luyến ái sâu xa. Họ đã không chọn lấy thân phận đồng tính luyến ái của họ; đối với đa số trong bọn họ, đây là một thử thách. Họ phải được người ta đón nhận với sự tôn trọng, thông cảm và tế nhị. Người ta phải tránh tất cả những dấu hiệu của sự kỳ thị bất công đối với họ.Những người này được gọi thực thi ý Chúa trong đời sống của họ, và nếu họ là những Kitô hữu, họ được kêu gọi kết hợp với hy sinh Thập giá của Chúa những khó khăn mà họ gặp phải trong thân phận của họ.

Số 2359:

Những người đồng tính luyến ái được kêu gọi giữ sự khiết tịnh. Nhờ những nhân đức của sự tự làm chủ được mình, tức những nhân đức giáo dục cho tự do nội tâm, và đôi khi nhờ sự nâng đỡ của một tình bạn vô vị lợi, nhờ lời cầu nguyện và ân sủng các bí tích, họ có thể và phải dần dần và cương quyết tới gần sự trọn hảo Kitô giáo.

Lm. Đoàn Quang, CMC

 

SUY NIỆM

SỨ VỤ LÊN ĐƯỜNG

Các bạn thân mến

Khi Đức Giêsu chọn gọi các môn đệ, Ngài không muốn các ông chỉ quanh quẩn mãi bên Thầy hay tụ tập đông đúc vậy cho vui. Ngài gọi và huấn luyện họ chuẩn bị cho sứ vụ. Thời gian Đức Giêsu còn tại thế, Người cũng đã không ít lần sai phái họ ra đi đến các cánh đồng sứ mạng. Tuy nhiên những lần sai đi như thế chỉ là cuộc thực nghiệm hay huấn luyện cho quen việc mà thôi. Nhưng điều đó cũng cho thấy ít nhiều đích nhắm huấn luyện các môn đệ của Đức Giêsu được nhìn dưới lăng kính của sứ vụ. Vì sứ mạng họ được chọn gọi đến ở với Người để được Người sai đi. Vì thế, trước khi về trời Ngài cũn đã căn dặn các môn đệ hãy đi khắp cùng bờ cõi trái đất để làm cho muôn dân trở nên con cái Thiên Chúa, hãy làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, đồng thời dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Người đã truyền dạy cho các ông.

Maria Mađalêna đã là người đầu tiên loan báo cho hai môn đệ Phêrô và Gioan về sự kiện ngôi mộ trống, dấu chỉ của Đấng Phục Sinh. Rồi tám ngày sau, tại nhà các môn đệ ở, trong lần hiện ra với các tông đồ có cả Tôma, chính Đấng Phục Sinh đã truyền cho các tông đồ “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con”. Sau đó, Đấng Phục Sinh đã hiện đến với các tông đồ khi đó đang tụ họp cùng với hai môn đệ vừa từ làng Emmaus trở về. Và cả lần này, Đấng Phục Sinh cũng giao cho các ông sứ mạng “nhân danh Người rao giảng sự thống hối… bắt đầu từ Giêrusalem”. Ngài còn nhấn mạnh: “Còn các con, các con sẽ là chứng nhân về những điều ấy”. Có lúc Đức Kitô, Vị Mục Tử nhân lành cũng đã ngỏ lời với các môn đệ: “Ta còn những chiên khác không thuộc đàn này; cả những chiên đó Ta cũng phải mang về đàn” (Ga 10, 16a). Lần khác, chính Đức Kitô xác định rõ với các môn đệ “Chính Thầy đã chọn các con, và đã cắt đặt, để các con đi, và mang lại hoa trái” .Trước khi chấm dứt giai đoạn hiện diện hữu hình của mình với các môn đệ, một lần nữa, Đấng Phục Sinh đã giao cho các tông đồ sứ mạng: “Các con hãy đi khắp thế gian, rao giảng Tin Mừng cho mọi tạo vật”.

Như thế, loan báo Tin Mừng Phục Sinh không còn là một điều mà các môn đệ muốn làm hay không tuỳ thích, nhưng là một sứ mạng, một bổn phận bắt buộc cho tất cả những ai muốn xưng mình là kitô hữu. Chúa lên trời, không phải là Ngài không còn hiện diện với con người nữa, nhưng là hiện diện với một cách thức mới, hiệu quả hơn. Lịch sử Giáo Hội bước sang một giai đoạn mới, giai đoạn mở ra cho muôn dân. Tin mừng Phục Sinh chẳng thể được giữ riêng cho các môn đệ và những ai tin Chúa nhưng phải được loan báo đến tận cùng bờ cõi trái đất.

Các bạn thân mến

Chúa lên trời, Ngài không trực tiếp hoạt động nữa nhưng trao cho các tông đồ và từng người chúng ta sứ mạng loan báo Nước Trời cho muôn dân. Tuy nhiên, nhiều người trong chúng ta đã quên mất đi sứ mạng cao cả của việc loan báo Tin Mừng mà Chúa đã trao phó. Ta thường nghĩ đó là nghĩa vụ và bổn phận của những người đi tu nên ta vẫn vô tư và dửng dung. Lời sai phái lên đường của Chúa không biệt phái cho bất kỳ ai nhưng là dành cho tất cả mọi người. Các bạn cũng đừng lầm tưởng phải rời bỏ gia đình và quê hương để đến những nơi xa xôi hẻo lánh và nguy hiểm thì đó mới là loan báo Tin Mừng. Nhưng Chúa muốn mượn đôi tay, đôi chân, và cả con tim của chúng ta để thông truyền Tin Mừng đó cho mọi người ngay trong chính môi trường chúng ta đang sống.

Chúng ta đã được nhận lãnh phép rửa tội nghĩa là đã được tái sinh trong Thánh Thần. Sức sống mới của Chúa Thánh Thần không cho phép ta ù lì, ươn hèn hay thụ động nhưng phải can đảm loan báo và làm chứng cho Chúa giữa trần gian. Bao lâu vẫn còn đó những người chưa biết Chúa là bấy lâu lời sai phái lên đường ngày xưa của Đức Giêsu còn mãi vọng vang. Lên đường loan báo Tin Mừng của Chúa không có nghĩa là phải làm cho các tín hữu thuộc các tín ngưỡng và tôn giáo khác phải ăn năn trở lại. Cũng chẳng phải nỗ lực dùng sức mạnh để bó buộc người khác tin theo mình. Nhưng chỉ cần làm cho cuộc sống mình rực sáng lên một niềm vui, bình an và hy vọng của Chúa Phục Sinh. Hy vọng của chúng ta vào Chúa không phải là một sự trông cậy viễn vông, nhưng dựa vào chính lời hứa của Đấng Phục Sinh trước lúc về trời, bao lâu ta đi loan báo Tin Mừng của Chúa,  bấy lâu có Chúa cùng hoạt động với ta, và củng cố lời giảng dạy của ta bằng những phép lạ kèm theo. Ta có thể chu toàn sứ mạng thông truyền Tin Mừng bằng chính đời sống công chính, yêu thương, nhường nhịn, tha thứ, và một tấm lòng mở rộng sẵn sàng cảm thông của chúng ta. Chính đời sống đó sẽ là một dấu lạ cho mọi người nhận ra rằng có một Thiên Chúa đang ở với ta. Nhờ sức mạnh của Thánh Thể nâng đỡ, từng người chúng ta sẽ trở thành một lời chứng hùng hồn cho Tin Mừng yêu thương và hy vọng của Đấng Phục Sinh, để ngày sau tất cả cùng được về trời với Chúa. 

Jos. Nguyễn Huy Mai, SJ

Nguồn: vietvatican.net

 

 

SỐNG LỜI CHÚA

CHÚA NHẬT XIX THƯỜNG NIÊN

LƯƠNG THỰC NUÔI SỐNG MUÔN DÂN

Ga 6, 41 - 51

Đọc Tin Mừng của Chúa Giêsu, chúng ta đi từ những ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác, những bất ngờ này tới bất ngờ khác,và như thế, con người luôn cảm phục một Thiên Chúa vô cùng cao cả, nhưng lại là một Thiên Chúa vô cùng gần gũi với con người. Thiên Chúa ấy đã sai con của Ngài là Đức Giêsu sống với, sống cho con người và sống vì con người. Đức Giêsu đã làm nhiều phép lạ, đã làm cho người chết sống lại, đã xua trừ ma quỷ, đã chữa mọi thứ bệnh hoạn tật nguyền.Điều quan trọng nhất, Ngài đã từng bước hướng dẫn những người theo Chúa đi từ thứ bánh, đi từ lương thực hằng ngày, của ăn nuôi sống thể xác đến thứ bánh quí giá, thứ bánh nuôi sống linh hồn, thứ bánh mang lại sự sống trường sinh.Đức Giêsu đã đưa những người nghe Ngài về cái đói thể xác, cái đói về tâm linh, về tinh thần, cái ước vọng vô biên về sự sống đời đời. Để rồi, ai cũng vậy, nhất nhất những người đang nghe Ngài rao giảng đều nài nỉ Ngài: “Xin cho chúng tôi của ăn đó” và Ngài tuyên bố: “Ta là bánh hằng sống”.   

“Tôi là Bánh trường sinh” (Ga 6, 48). “Tôi là Bánh từ trời xuống” (Ga 6, 51): Dân chúng theo Chúa, nghe Chúa giảng dạy.Họ quên đi tất cả,quên thời gian, quên khó nhọc và quên cả cái đói, cái khát đang đè nặng trên họ. Tuy nhiên, Chúa luôn quan tâm tới dân chúng. Chúa luôn để ý tới đoàn lũ đông đảo đang cần tới lương thực, đang cần đến của ăn để lấp đầy cái đói, cái khát đang hoành hành họ. Ngài đã gợi ý cho các môn đệ, Ngài cần một Anrê giới thiệu một em bé, Ngài cần em bé dâng hay nói đúng hơn bán cho Anrê hai con cá và năm chiếc bánh. Ngài cần sự cộng tác của các môn đệ để chính các môn đệ ổn định dân chúng và rồi phép lạ đã xẩy ra. Nhưng điều quan trọng nhất qua phép lạ này, Ngài hướng dân chúng về một của ăn không bao giờ mất, một thứ lương thực trường sinh, ban cho dân chúng sự sống vĩnh cửu. Lương thực đó chính là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa (Ga 6, 32 – 33) mà Chúa Cha ban cho nhân loại, ban cho con người.     `

Dân Do Thái xưa chỉ dừng lại ở thứ bánh mau qua là Manna từ trời Thiên Chúa cho mưa xuống nuôi dân đi trong sa mạc. Nay, Chúa muốn cho dân thấy Chúa chính là Bánh trường sinh. Ước mơ được sống bất tử của con người luôn là vấn nạn ngàn đời của mỗi người. Cái chết là nỗi giày vò con người muôn thuở. Do đó, được Chúa hứa ban sự sống trường sinh, bất tử, dân chúng hồ hởi tuôn đến với Chúa để xin cho được thứ Bánh đó và thứ nước uống vào không khát nữa. Sự sống và cơn khát sẽ hết là chính Đức Giêsu, Ngài đang hiện diện giữa con người, giữa loài người, giữa chúng ta. Chúa hiện diện như lời Ngài nói: “Ở đâu có hai hoặc ba người tụ họp nhân danh Ta, Ta sẽ ở đó với họ” (Mt 18, 20). Chúa hiện diện với nhân loại, với chúng ta trong Kinh Thánh qua Lời của Người. Lời của Người đã nói cách đây hơn 2.000 năm cũng là Lời Người đang nói với con người, với nhân loại, với chúng ta trong Tin Mừng. Chúa hiện diện với thế giới, với con người qua các giáo huấn của Giáo Hội, qua các lời giảng giải và qua các Bí Tích mà các Linh mục trao ban. Chúa hiện diện với nhân loại, với chúng ta qua Bí Tich Thánh Thể: “Ta là Bánh hằng sống…Ai ăn Bánh này sẽ được sống đời đời” (Ga 6, 52).        

Của ăn nuôi sống thân xác không phải là không cần thiết. Bởi vì, chính Chúa Giêsu cũng đã bị ma quỷ, satan cám dỗ trong hoang địa khi Ngài ăn chay, cầu nguyện bốn mươi đêm ngày. Satan đã đánh ngay vào cái đói của Chúa để mong cám dỗ Chúa, cám dỗ ấy chúng ta vẫn thường gặp hằng ngày.

Cơm, bánh: của ăn thân xác sẽ bị hư nát và khi con người nhắm mắt xuôi tay sẽ không mang theo được bắt cứ cái gì, kể cả tiền bạc, vàng, đá quí… Như vậy, sự sống đời đời không phải là một lý thuyết viển vông, xa vời, nhưng là một thực tại đang ở trước mắt và đang triển nở thực sự trong đời sống của mỗi Kitô hữu.Mình Máu của Chúa Kitô, Lời của Chúa chính là lương thực nuôi người Kitô hữu.   

Lạy Chúa Giêsu, xin ban thêm lòng tin cho chúng con để chúng con luôn tin vào Chúa, tin vào sự hiện diện của Chúa trong Bí Tích Thánh Thể và để mỗi lần chúng con tham dự thánh lễ, mỗi lần chúng con rước Chúa vào lòng là chúng con nhận lãnh sự sống trường sinh. Amen.

 

CHÚA NHẬT XX THƯỜNG NIÊN

CHÚA GIÊSU – LƯƠNG THỰC NUÔI SỐNG CON NGƯỜI

Ga 6, 51 - 58

Đọc Tin Mừng của Chúa Giêsu, con người chúng ta đi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác, khám phá sự lạ lùng này tới sự lạ lùng khác. Con người chúng ta như bị thu hút bởi một con người rất người, rất thực tế nhưng lại là một Đấng siêu việt, khiến chúng ta phải tạ ơn, cúi đầu khâm phục vì muôn việc kỳ diệu Ngài đã làm trong Tin Mừng cho nhân loại, cho con người.Đức Giêsu Kitô quả thực là một con người rất thực tế, Ngài đã chăm sóc dân, đã băng bó, đã chữa lành các vết thương, các bệnh hoạn tật nguyền của con người, Ngài còn mạc khải cho con người về lương thực nuôi sống con người, của ăn trường tồn, vĩnh cửu là chính thịt máu của Ngài.

Đức Giêsu Kitô yêu nhân loại, yêu con người chúng ta đến nỗi Ngài đã ban cho chúng ta thịt máu của Ngài. Đây là điều thật khó hiểu và hết sức ngỡ ngàng đối với mọi người. Ai dám ăn thịt và uống máu người mình yêu, người mình thương mến. Bởi vì, chẳng ai dám ăn thịt người yêu. Nhưng Đức Giêsu Kitô lại khác, Ngài muốn nuôi nhân loại, nuôi mọi người bằng chính thịt máu của Ngài. Đây là một điều hết sức kỳ diệu, lạ lùng và hết sức cao quí.Đây là mầu nhiệm đức tin.Cái chết trên thập giá, cái chết hy sinh tự nguyện gánh tội nhân loại của Chúa Giêsu đã minh chứng Ngài thực hiện sứ mạng cứu rỗi nhân loại và nuôi sống con người bằng chính thịt máu của Ngài. “Không có tình yêu nào cao vời bằng tình yêu của người hy sinh mạng sống vì người mình yêu” (Ga 15, 13). Đức Giêsu là tấm Bánh (Ga 6, 48. 51). Đức Giêsu ban cho nhân loại, ban cho con người tấm Bánh (Ga 6, 51). Tấm Bánh mang sự sống và tấm Bánh ban sự sống. Chúa Giêsu mạc khải Ngài là Tấm Bánh. Bánh có nghĩa là chịu mất đi cho người khác, cho nhân loại. Bánh như thế mới có giá trị. “Chúa Giêsu là Đấng chịu người khác ăn đi”. Đây là ý nghĩa đích thực của Tấm Bánh Giêsu. Khi chúng ta ăn Ngài, chúng ta trở nên Ngài và Ngài trở nên chúng ta. Đây là sự hiệp thông sâu xa, thẳm sâu của Bí Tích Thánh Thể. Chúa ở trong chúng ta và chúng ta ở trong Chúa: “Ai ăn thịt Tôi và uống máu Tôi thì ở lại trong Tôi và Tôi ở lại trong người ấy” (Ga 6, 56). Theo cách nói của người Do Thái “thịt” có nghĩa là con người toàn diện. Thịt và máu chỉ con người toàn thể. Nên, theo thánh Gioan, cụm từ “Ngôi Lời hóa thành nhục thể”. Chúa trở nên con người lịch sử thì điều này cũng đúng với Bí Tích Thánh Thể. Chúa sống lại và tràn đầy vinh quang. Chúa mang trong người sự sống mới, Ngài cũng làm cho chúng ta được sống mãi như Ngài.      

Mỗi thánh lễ là một bữa tiệc, một Bí Tích Thánh Thể. Và để lãnh nhận Mình Máu của Chúa Giêsu, chúng ta phải sốt sắng cử hành bàn tiệc Lời của Chúa. Đức Giêsu sống nhờ Thiên Chúa Cha, chúng ta sống nhờ Chúa Giêsu (Ga 6, 57).Chúa Giêsu đã từng nói: “Ta là cây nho, chúng con là nhành”. Nhành chỉ có thể sống và sống tốt nhờ liên kết với thân nho. Con người chúng ta chỉ có thể sống tốt và sống dồi dào nhờ tháp nhập với thân là Đức Giêsu. Do đó, ăn và uống máu Chúa sẽ giúp chúng ta, sẽ giúp nhân loại tránh được sự hủy hoại của cái chết và được sự sống đời đời.        

Con đường dẫn con người, dẫn chúng ta đến với Thiên Chúa để có sự sống trường sinh, để được mọi người đón nhận ta như là anh em của họ, đòi hỏi chúng ta phải sống như Chúa: “yêu như Chúa yêu” (Ga 15, 12) và “sống không phải tôi sống mà là Đức Kitô sống trong tôi”. Bởi vì, ngay nhiều người Do Thái đã sống với Chúa, đã gặp Chúa, hay như các môn đệ đã sống thân tình với Chúa, nhưng “việc ăn thịt và uống máu Chúa Kitô” đối với họ cũng không phải là điều dễ hiểu. Đối với con người thời đại việc nhận lãnh Mình và Máu Chúa Kitô đòi hỏi con người phải chuẩn bị tâm hồn và sống đức tin, vì rước Mình và Máu Chúa Kitô luôn thúc đẩy con người sống tột cùng điều Chúa đòi hỏi: “… Thịt Tôi là của ăn đích thực, và máu Tôi là của uống đích thực. Ai ăn thịt và uống máu Tôi, thì sống mãi trong Tôi và Tôi sống mãi trong người ấy”.        

Lạy Chúa Giêsu, xin cho Lời Chúa luôn soi dẫn đường lối chúng con đi. Xin cho Mình Máu Chúa luôn nuôi dưỡng hồn xác chúng con. Amen.

 

CHÚA NHẬT XXI THƯỜNG NIÊN

BỎ THẦY CON BIẾT THEO AI?

Ga 6,  54a. 60 - 69

Dân Do Thái xưa và các môn đệ của Chúa Giêsu luôn bị đặt trước thử thách về lòng trung tín đối với Thiên Chúa Giavê. Ông Giosuê cho dân Do Thái hay họ chọn Thiên Chúa hay thần nào khác. Tất cả dân chúng đồng thanh chọn lựa Thiên Chúa: “Không đời nào chúng tôi bỏ Đức Chúa mà đi thờ các thần khác ! Vì Đức Chúa là Thiên Chúa chúng tôi, chính Người đã đưa chúng tôi và cha ông chúng tôi lên từ đất Ai Cập, từ nhà nô lệ. Chính Người đã thực hiện trước mắt chúng tôi những dấu lạ vĩ đại…”. Chúa Giêsu cũng đã đặt các môn đệ của Chúa trước một sự lựa chọn giống như dân Do Thái: “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao?” (Ga 6, 67) và ông Phêrô đã nhanh nhảu đại diện các tông đồ khác mà thưa với Chúa: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai ? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời” (Ga 6, 68).     

Trong hội đường Capharnaum, Chúa Giêsu đã tuyên bố rõ ràng: “…thịt Tôi thật là của ăn, và máu Tôi thật là của uống” (Ga 6, 55). Nghe những lời ấy, một số môn đệ đã phản ứng kịch liệt, họ ngờ vực, hồ nghi lời của Chúa: “Lời này chướng tai quá ! Ai mà nghe nổi?” (Ga 6, 60). Thánh sử Gioan viết tiếp: “Từ lúc đó, nhiều môn đệ rút lui, không còn đi với Người nữa” (Ga 6, 68). Ở đây Gioan viết có nhiều môn đệ, nghĩa là có một số khá đông đã tin theo Chúa, đã đi theo Ngài, nhưng họ không thể chấp nhận lời mạc khải của Chúa Giêsu. Cho nên, họ đã rút lui, không theo Chúa nữa. Thực tế, theo lẽ tự nhiên, con người rất khó hiểu về lời mạc khải của Chúa về Bí Tích Thánh Thể. Nhưng với đức tin, người Kitô hữu chúng ta cử hành bí tích Thánh Thể suốt cả cuộc đời mà không bao giờ băn khoăn, do dự hoặc nghi hoặc Mình và Máu Chúa Kitô. Bởi vì, “Đức tin giúp ta nhận ra Chúa, là đôi tay để ta nắm lấy Ngài, là sức mạnh để ta tận hiến cho Ngài” (James Woolbridge). Theo Chúa Kitô là chấp nhận chịu thử thách từng giây từng phút, là phiêu lưu vào một cuộc mạo hiểm tình yêu, và mạo hiểm đức tin. Nhiều môn đệ vì chưa có đức tin vững chắc, nên khi nghe Chúa nói về Mình Máu của Ngài, họ không tin và họ bỏ Ngài. Đây là cái trớ trêu của những môn đệ này.

Chúa Giêsu công bố thịt và máu của Ngài làm của ăn của uống nuôi sống nhân loại, nuôi dưỡng con người, Ngài đã loan báo cái chết của Ngài trên thập giá để cứu độ thế gian. Khi báo trước cái chết của Ngài trên thập giá, Chúa Giêsu đã hứa ban sự sống đời cho con người. Ngài đã nói: “Ta là Đường, là sự Thật, là sự Sống”. “Ai tin vào Ta thì dù có chết cũng sẽ được sống lại”. Lời nói của Ngài đòi con người, đòi các môn đệ không chỉ nghe lời giáo huấn, nhưng là chấp đi theo con đường thập giá của Ngài. “Ai muốn theo Ta hãy từ bỏ mình vác thập giá của mình mà theo Ta”. Mình và Máu Chúa Kitô chúng ta chịu lấy cũng là chịu lấy thần trí của Ngài, tinh thần của Ngài và sự chọn lựa cứu độ loài người theo ý Cha của Ngài. Nơi Chúa Kitô cuộc sống của Ngài là cuộc hy tế thập giá, là thánh lễ nối dài trong cuộc đời. Do đó, theo Chúa,cuộc sống của người Kitô hữu cũng là thánh lễ liên tục, nối dài trong cuộc đời. Người Kitô hữu luôn luôn phải yêu mến bí tích Thánh Thể, vì Mình Máu Chúa Kitô là lương thực ban cho con người sự sống vĩnh cửu.

Người Kitô hữu phải có thái độ lòng tin trước sự chói tai mà nhiều môn đệ đã theo Chúa, rồi lại bỏ Chúa, thái độ lòng tin là kiên trung với Chúa, nhìn ngắm Chúa và vững tin vào Chúa: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa” (Ga 6, 69).        

Câu thưa của thánh Phêrô đại diện nhóm mười hai: “Bỏ Thầy, chúng con biết theo ai, vì chỉ có Thầy mới có lời ban sự sống” (Ga 6, 68). Lời thưa ấy vẫn phải là lời vang lên miệng, trên môi và trong lòng của người Kitô hữu muôn thời. 

Lạy Chúa, chỉ có Chúa mới có những lời đem lại sự sống đời đời, xin ban thêm đức tin cho chúng con để chúng con luôn tôn kính và yêu mến bí tích Thánh Thể. Amen.

 

CHÚA NHẬT 22 THƯỜNG NIÊN

HÃY LÀM SẠCH CÕI LÒNG

Mc 7, 1 - 8a - 15. 21 - 23

Sống và giữ đạo luôn phải đi song song với nhau. Đọc Tin Mừng có lẽ ai cũng phải nhận rằng đối với người Pharisêu và Luật sĩ việc giữ đạo, giữ luật lệ của họ thật ra không ai có thể sánh bằng họ… Thế mà, Chúa Giêsu lại khiển trách, mắng họ một cách thậm tệ bởi vì họ chỉ giữ luật bề ngoài, giữ những điều tỉ mỉ, những điều phụ thuộc mà quên đi cái cốt lõi là chiều sâu, là tình yêu mến, đức ái. Bài Cựu ước và bài đọc 2 trong thánh lễ hôm nay đều nhắc nhở chúng ta và mọi người điều đó. Bài Tin Mừng của thánh Marcô cho thấy những người chỉ giữ đạo bề ngoài, những hình thức xem ra hào nhoáng, bóng bảy, những tập tục bên ngoài là những kẻ giả hình.

Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu thường đem các người Pharisêu, những Luật sĩ ra để dạy mọi người. Điều Pharisêu và Kinh sư quý trọng các tục lệ, các truyền thống của tiền nhân là một điều tốt lành. Tuy nhiên, họ lại quá chú trọng đến cái bề ngoài, quá tỉ mỉ, đến độ họ câu nệ vào những điều hết sức nhỏ nhặt, không thể chấp nhận được để cho đó là điều phải giữ, khiến họ trở thành những người giả hình, kiêu căng, tự mãn. vv… Họ tự mãn về con người của họ, nới rộng áo, để dài tua áo, đeo tùng teng thẻ kinh, tự coi mình là những con người gương mẫu, đạo đức cho kẻ khác, coi mình là giỏi, là biết luật hơn người khác nên tỏ ra khinh thường mọi người, xét nét và bắt bẻ người khác. Đoạn Tin Mừng Marcô vừa đọc cho thấy họ trách, bắt bẻ môn đệ của Chúa Giêsu không rửa tay trước bữa ăn nghĩa là không giữ tập tục của tiền nhân. Và rồi để dạy họ, Chúa đã nói thẳng với họ rằng họ chỉ lo giữ bề ngoài nhưng bên trong đầy gian ác. Dâng của lễ cho Chúa, nhưng bất hiếu, không chăm nom săn sóc cha mẹ thì cũng chẳng đẹp lòng Chúa.Chính vì thế, Chúa cảnh cáo họ giữ các tục lệ cho kỹ, tỉ mỉ, nhưng bỏ qua các giới răn của Chúa, nhất là giới răn bác ái yêu thương thì chẳng có nghĩa gì, chẳng có giá trị gì cả. Đó chỉ là thái độ sống giả hình, thái độ bên ngoài: "Mồ mả tô vôi, nhưng bên trong đầy thối tha”.    

Chúa dạy mọi người, dạy chúng ta phải làm mới trái tim, làm mới cõi lòng. Bởi vì nguồn gốc của việc lành hay dữ là do cõi lòng. Thiện căn ở tại lòng ta mà. Do đó, tục ngữ ca dao vẫn nói: “Người làm sao chiêm bao làm vậy”, “Lòng đầy mới trào ra bên ngoài” (hữu ư trung xuất hình ư ngoại) là thế. Chúng ta phải luôn làm mới tâm hồn, gột rửa tâm hồn và làm sáng trái tim để những điều chúng ta chất chứa trong tim, trong lòng luôn là những điều tốt lành, nhờ đó, những lời nói, việc làm của chúng ta đem lại niềm vui và tốt đẹp cho mọi người. Chúng ta hãy nhớ lời của Thiên Chúa đã dùng miệng ngôn sứ Isaia nói rằng: “Ta chán ngấy các lễ tế của các ngươi. Thôi đừng dâng lễ Ta bằng những lễ vật vô bổ nữa” hoặc “Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, nhưng lòng chúng thì lại xa Ta một trời một vực!”. Nên, chúng ta phải để lòng chúng ta chất chứa những điều tốt đẹp, tránh những điều ác độc, vì những tư tưởng tốt lành sẽ hướng dẫn hành động và cuộc sống của chúng ta. Thánh Giacôbê đã nói với nhân loại, với mỗi người chúng ta: “Hãy tiếp nhận những lời mà những lời đó có sức mạnh để cứu thoát anh em.Hãy thực hành những lời đó. Nếu tất cả những gì anh em thực hiện là lắng nghe thì anh em đã tự lường gạt chính mình”.

Điều cốt lõi trong đạo của Chúa không phải là chúng ta làm được điều này điều nọ nhưng chính là tình yêu thúc đẩy chúng ta hành động, tình yêu phát xuất từ con tim để chúng ta yêu Thiên Chúa và yêu tha nhân.Thánh Phaolô trong thư thứ nhất gửi tín hữu Corintô đoạn 13 đã viết:  

“…Tình yêu là vĩnh cửu. Vì thế tình yêu chính là điều anh em phải nỗ lực tìm kiếm”.  Lạy Chúa, xin giúp chúng con đừng bao giờ quên cốt lõi của Tin Mừng là yêu thương. Amen.

Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi

 

THẦN HỌC KINH THÁNH

Lời Cầu Than Thở Của Ông Môshê

Trước Các Chống Đối Của Dân Israel

Sách Dân Số cũng kể lại một số các biến cố xảy ra trong sa mạc Sinai, nhưng bao gồm một số chi tiết nêu bật nỗi khổ tâm của ông Môshê trong việc chu toàn sứ mệnh dẫn dân Israel ra khỏi Ai Cập và băng ngang sa mạc Sinai để vào Đất Hứa.

Chương 11 kể rằng dân Israel kêu ca vì những khổ cực họ phải chịu khiến Giavê nổi cơn thịnh nộ và lửa đốt cháy nơi họ ở và thiêu hủy đầu trại. Dân liền kêu cứu ông Môshê và ông chuyển cầu cho họ. Nhưng họ bắt đầu thèm ăn, toàn dân kêu khóc và nói: ”Ai sẽ cho chúng ta có thịt ăn đây? Nhớ thuở nào ta ăn cá bên Ai Cập, mà không phải trả tiền, rồi nào dưa gang, dưa bở, nào hẹ, nào hành, nào tỏi. Còn bây giờ đời ta tàn rồi, mọi thứ đó hết sạch, chỉ còn thấy manna thôi.”

Nghe thấy dân tụm năm tụm bảy theo thị tộc mà kêu khóc tại cửa lều của mình, còn Giavê thì bừng bừng nổi giận, ông Môshê khổ tâm thưa với Giavê: ”Sao Ngài lại làm khổ tôi tớ Ngài? Tại sao con lại không đẹp lòng Ngài, khiến Ngài đặt gánh nặng tất cả dân này lên con? Có phải con đã cưu mang tất cả dân này không? Có phải con đã sinh ra nó không mà Ngài lại bảo con: Hãy bồng nó vào lòng, như vú nuôi bồng trẻ thơ mà đem vào miền đất Ta đã thề hứa với cha ông chúng? Con lấy đâu ra thịt cho cả dân này ăn? Một mình con không thể gánh cả dân này được nữa, vì nó nặng qúa sức con. Nếu Ngài xử với con như vậy, thì thà giết con đi còn hơn - ấy là nếu con đẹp lòng Ngài! Đừng để con thấy mình phải khổ.”

Nghe lệnh Giavê ông Môshê bảo đảm với dân là Giavê sẽ cho họ thịt ăn: ”Anh em sẽ ăn, không phải một ngày, hai ngày, năm mười ngày hay hai mươi ngày mà thôi, nhưng suốt cả tháng, cho đến khi thịt lòi ra lỗ mũi làm anh em phải ngấy vì anh em đã khinh thường Giavê, Đấng ngự giữa anh em, và đã kêu khóc trước nhan Người rằng: chúng tôi ra khỏi Ai Cập để làm gì?”

Tuy nhiên, ngoài nỗi khổ vì thái độ vô ơn lẩm bẩm, kêu ca, nổi loạn của dân đối với Thiên Chúa, ông Môshê còn đau khổ vì sự chống đối của chính chị và anh mình là bà Miriam và ông Aharon. Họ phản đối ông vì ghen tức với ông, nhưng nại lý do ông lấy một người đàn bà xứ Cút. Họ nói: ”Giavê chỉ phán với một mình Môshê sao? Người đã chẳng phán với cả chúng ta nữa ư? Thiên Chúa truyền cho cả ba người đi ra Lều Hội Ngộ và phán: ”Nếu trong các ngươi có ai là ngôn sứ, thì Ta, Giavê Ta sẽ tỏ mình ra cho nó trong thị kiến, hoặc sẽ phán với nó trong giấc mộng. Nhưng với Môshê tôi tớ Ta thì khác: tất cả nhà Ta, Ta đã trao cho nó. Ta nói với nó trực diện, nhãn tiền, chứ không nói bí ẩn, và hình dáng Giavê nó đươc ngắm nhìn. Vậy tại sao các ngươi không sợ nói động đến Môshê tôi tớ Ta?”. Giavê nổi cơn thịnh nộ với họ mà bỏ đi. Bà Miriam bị phong cùi, mốc thếch như tuyết. Tuy ông Môshê xin Thiên Chúa chữa cho bà, nhưng bà phải ở ngoài trại bẩy ngày, như kể trong chương 12 sách Dân Số.

Chương 14 kể lại vụ dân Israel nổi loạn sau vụ ông Môshê sai người vào thám thính đất Canaan từ sa mạc Paran. Sau bốn mươi ngày đoàn thám thính trở về đem theo các hoa trái lấy được từ miền đất phì nhiêu tràn trề sữa và mật. Nhưng dân cư mạnh, thành thị lại kiên cố và rông lớn. Nghe thế dân Israel sợ hãi phản đối ông Môshê. Những người thuộc đoàn thám thính bắt đầu chê bai miền đất họ đã do thám và còn nói: đó là miền đất nuốt những người ở đó và họ là những người cao lớn. Họ là những người khổng lồ và coi mình chỉ là châu chấu. ”Toàn thể cộng đồng lớn tiếng kêu la, dân chúng khóc lóc cả đêm ấy. Tất cả con cái Israel đều kêu trách ông Môshê và ông Aharon.

Toàn thể cộng đồng nói với các ông: ”Phải chi chúng tôi chết ở bên đất Ai Cập. hoặc phải chi chúng tôi chết trong sa mạc này cho xong! Sao Giavê lại đem chúng tôi vào đất này để chúng tôi ngã gục dưới lưỡi gươm, để vợ con chúng tôi bị giặc bắt? Chúng tôi trở về Ai Cập có tốt hơn không?” Họ hảo nhau: ”Chúng ta hãy đặt lên một người cầm đầu và trở về Ai Cập.”

Ông Giôsuê và ông Caleb xé áo mình ra và can ngăn họ đừng nổi loạn chống Giavê, nhưng cứ tiến chiếm vùng đất phì nhiêu này vì có Giavê ở với họ. Nhưng cả cộng đoàn bàn chuyện ném đá các ông. Thiên Chúa xuất hiện trong Lều Hội Ngộ và cho ông Môshê biết Ngài sẽ đánh phạt không cho dân này hưởng gia nghiệp, và sẽ làm cho ông một dân tộc lớn và mạnh hơn chúng. Nhưng ông Môshê đã xin Chúa ”tha thứ lỗi lầm của dân theo lượng cả ân nghĩa của Ngài, như Ngài đã từng chịu đựng dân này từ Ai Cập cho đến đây”. Nể lời ông xin, Thiên Chúa tha thứ cho họ, nhưng Ngài phán: ”Không một ai trong những người đã thấy vinh quang của Ta và những dấu lạ Ta đã làm bên Ai Cập và trong sa mạc, nhưng đã thách thức Ta cả mười lần và đã không chịu nghe tiếng Ta, không một ai trong những người ấy sẽ được thấy đất ấy, trừ ông Giosuê và ông Caleb. Và thế là dân Israel phải lang thang trong sa mạc bốn mươi năm, vì đã liên tục lẩm bẩm kêu trách chống lại Thiên Chúa.

Sau này khi nhớ lại các điềm thiêng dấu lạ Giavê Thiên Chúa đã làm bên Ai Cập cho cha ông họ, dân Israel đã sáng tác các Thánh Vịnh chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa. Chẳng hạn Thánh Vịnh 106 ca tụng lòng nhân từ của Thiên Chúa đối với dân Israel luôn bất trung và nhắc lại các tội lỗi phản loạn của họ như sau:

”Hãy tạ ơn Chúa, vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương... Cùng các bậc tổ tiên chúng con đã phạm tội, đã ở bất công làm điều gian ác. Xưa bên Ai Cập tổ tiên chúng con đã không hiểu những kỳ công của Chúa, đã chẳng nhớ ân huệ vô vàn, và phản loạn ở nơi Biển Đỏ. Nhưng vì Thánh Danh, Người thương cứu họ, để biểu dương uy vũ của Người... Nước dìm quân đối nghịch không một kẻ thoát thân...

Nhưng rồi họ chóng quên công việc của Chúa, chẳng đợi lệnh Người ban. Trong sa mạc, lòng buông theo dục vọng, chốn hoang vu, họ thách thức Chúa Trời. Chúa liền ban điều họ đã xin, cho dư đầy đến độ chán ngấy... Trong doanh trại họ ghen với Môshê và Aharon người được Chúa thánh hiến. Đất bỗng rẽ ra nuốt sống Đathan và chôn vùi bọn Aviram cả lũ. Lửa hồng bừng lên đốt cháy trọn bầy, ngoạn hỏa hào thiêu rụi phường gian ác. Tại Khôrép họ đúc một con bê, rồi phủ phục tôn thờ tượng đó. Họ đổi Chúa vinh quang lấy hình bò ăn cỏ. Họ quên Thiên Chúa là vị cứu tinh, từng làm việc lớn lao bên miền Ai Cập, việc diệu kỳ trong cõi đất Kham, việc khiếp kinh giữa lòng Biển Đỏ…

Chúa tính chuyện sẽ tiêu diệt họ, nếu người Chúa chọn là Môshê, chẳng đem thân cản lối, ở ngay trước mặt Người, hầu ngăn cơn thịnh nộ, kẻo Chúa diệt trừ dân. Họ khinh thường miền đất xanh tươi mầu mỡ, chẳng tin tưởng chi vào lời Chúa phán, trong lều trạm lẩm bẩm kêu ca, chắng thèm nghe tiếng Chúa. Người giơ tay trên họ mà thề sẽ làm họ gục ngã trong miền sa mạc, bắt giống nòi tản mác giữa chư dân, phân tán họ đi nhiều miền khác.... ” Phần còn lại của Thánh Vịnh 106 kể ra các tội của dân Israel, trong đó có tội tôn thờ các thần giả và sống buông thả tội lỗi như các dân ngoại.

Thánh Vịnh 114 cũng nhắc lại biến cố vượt Biển Đỏ bên Ai Cập: ” Halleluia, thuở Israel ra khỏi Ai Cập, thuở nhà Giacóp rời bỏ ngoại bang thì Giuđa trở thành nơi Chúa ngự, Israel nên lãnh địa của Người... ”. 

Còn Thánh Vịnh 136 là lời tạ ơn Thiên Chúa vì mọi việc Người làm từ công trình sáng tạo cho tới cuộc giải phóng dân Israel khỏi kiếp sống nô lệ bên Ai Cập và đưa họ vào miền Đất Hứa. Thánh Vịnh có cấu trúc đối đáp: một ca viên hay ca đoàn xướng và toàn cộng đoàn đáp lại bằng điệp khúc chúc tụng tình thương muôn ngàn đời của Chúa.

Lời cầu chúc tụng và tạ ơn mở đầu như sau: ”Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.” Sau khi chúc tụng Giavê là Thần các thần, Chúa các chúa, thánh vịnh ca ngợi chỉ có Chúa làm nên những kỳ công vĩ đại, tạo dựng trời cao tài tình, trải mặt đất trên làn nước bao la. Người lại còn làm ra những đèn trời to lớn, cho thái dương điều khiển ban ngày, đặt trăng sao hướng dẫn ban đêm. Người là Đấng đã sát hại các con đầu lòng Ai Cập, dang cánh tay uy quyền mạnh mẽ, dẫn Israel ra khỏi xứ này. Nước Biển Đỏ Chúa phân làm hai khối, dẫn Israel lối giữa băng qua, xô xuống biển Pharaô cùng binh tướng. Ngài dẫn đưa dân qua sa mạc, sát hại bao lãnh chúa hùng cường, tiêu diệt những quân vương hiển hách... Người chiếm đất của các dân tộc khác để ban cho họ làm gia sản. Người đã nhớ tới họ giữa cảnh nhục nhằn và gỡ họ thoát khỏi tay thù địch. Cứ sau mỗi hành động của Chúa thì cộng đoàn lập lại điệp khúc: ”Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương”.

Các thánh vịnh này là các lời cầu chúc tụng lấy hứng từ mọi kỳ công Thiên Chúa đã làm cho dân Israel trong lịch sử của họ. Chúng diễn ta tương quan của họ với Giavê Thiên Chúa là Chúa duy nhất của họ là dân riêng của Ngài

Linh Tiến Khải

Nguồn: vietvatican.net

 

MỘT CHÚT TÂM TÌNH

HAI CÁI CÂY, BẠN SẼ CHẶT CÂY NÀO?

Thầy hỏi: "Nếu các trò lên núi chặt cây, vừa vặn trước mắt có hai gốc cây, một gốc cây to, một gốc cây nhỏ, các em sẽ chặt gốc nào?"

Câu hỏi vừa ra, tất cả học sinh đều nói: "Tất nhiên là chặt gốc cây to rồi."

Thầy cười cười, nói: "Gốc cây to kia chỉ là một gốc bạch dương bình thường, mà gốc cây nhỏ kia lại là một cây thông, bây giờ các em sẽ chặt cây nào?"

Chúng tôi nghĩ, cây thông tương đối trân quý, nên trả lời: "Tất nhiên sẽ chặt cây thông, bạch dương không được bao nhiêu tiền!"

Thầy mang theo nụ cười không đổi nhìn chúng tôi, hỏi: "Nếu gốc cây dương là thẳng tắp, mà cây thông lại uốn éo xiêu vẹo, các em sẽ chặt cây nào?"

Chúng tôi cảm thấy có chút nghi hoặc, liền nói: "Nếu là như vậy, hay là vẫn chặt cây dương. Cây thông cong queo ngoằn ngoèo, làm gì cũng không làm được!"

Ánh mắt thầy lóe lên, chúng tôi đoán là thầy sẽ thêm điều kiện nữa, quả nhiên, thầy nói: "Cây dương tuy thẳng tắp, nhưng bởi đã lâu năm, nên phần giữa mục rỗng, lúc này, các em sẽ chặt gốc nào?"

Tuy không hiểu nổi trong hồ lô của thầy bán thuốc gì, chúng tôi vẫn từ điều kiện của thầy mà suy nghĩ, nói: "Thế thì lại chặt cây thông, cây dương ở giữa đã mục rỗng, càng không thể dùng!"

Sau đó thầy liền hỏi: "Thế nhưng dù cây thông ở giữa không mục rỗng, nhưng nó cong queo quá ghê gớm, bắt đầu chặt rất khó khăn, các em sẽ chặt gốc nào?"

Chúng tôi dứt khoát không suy nghĩ kết luận của thầy là gì nữa, liền nói: "Vậy chặt cây dương. Đều không thể dùng như nhau, đương nhiên chọn cây dễ chặt!"

Thầy không để chúng tôi thở, liền hỏi: "Thế nhưng trên cây dương có một tổ chim, mấy con chim non đang ở trong ổ, các em sẽ chặt gốc nào?" Cuối cùng, có người hỏi: "Thầy ơi! Rốt cuộc thầy muốn nói gì cho chúng em vậy? Hỏi những thứ đó làm gì vậy thầy?"

Thầy thu hồi nụ cười, nói: "Các em vì sao không tự hỏi mình, rốt cuộc là chặt cây để làm gì? Tuy điều kiện của thầy thay đổi, nhưng yếu tố cuối cùng quyết định kết quả là động cơ ban đầu của các em. Nếu muốn lấy củi, các em liền chặt cây dương; muốn làm hàng mỹ nghệ, liền chặt cây thông. Các em tất nhiên sẽ không vô duyên vô cớ cầm theo búa lên núi chặt cây chứ?!"

Một người, chỉ khi trong nội tâm đã có mục tiêu từ trước, thì lúc làm việc mới không bị đủ loại điều kiện và hiện tượng bên ngoài mê hoặc. Mục tiêu của bạn đã rõ ràng sao? Tư tưởng thông suốt, mới có thể kiên trì.

Biên dịch: Bình Minh