LỜI CHỦ CHĂN

DIỄN GIẢI THƯ MỤC VỤ

LỜI NGUYỆN CHUNG

ÁP DỤNG THỰC HÀNH

TÌM HIỂU GIÁO LUẬT

TRANG LINH MỤC

TRANG TU SĨ

TRANG SỐNG ƠN GỌI

TRANG THIẾU NHI

TRANG GIỚI TRẺ

TRANG GIA ĐÌNH

TRANG GIÁO LÝ VIÊN

TRANG QUỚI CHỨC

SỐNG ĐẸP

HỎI ĐÁP MỤC VỤ

SUY NIỆM

SỐNG LỜI CHÚA

THẦN HỌC KINH THÁNH

 

 

LỜI CHỦ CHĂN

Vĩnh Long ngày 25.08.2015

Kính gửi: Quý Cha

              Quý Tu sĩ nam nữ

              Và tất cả anh chị em Gp. Vĩnh Long

 

V/v CÁC LỄ MỪNG TRONG THÁNG CHÍN

Trước đây, đầu tháng 9 Giáo Hội mừng lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, sau này được dời đến ngày khác. Tháng 9 không có nhiều ngày lễ đặc biệt, trừ :

08.9 sinh nhật Đức Trinh Nữ Maria.

14. 9 suy tôn Thánh Giá.

21. 9 kính Thánh Matthêu Tông Đồ.

29. 9 kính các Tổng lãnh Thiên Thần Micae, Raphae, Gabrie.

Điều này nhắc nhở chúng ta: tất cả các ngày lễ đều nhằm ca tụng, tạ ơn Chúa Cha, Chúa Giêsu đã thương cứu chuộc chúng ta. Những vị Thánh là những người được Chúa thương cứu độ, đã và đang cộng tác với Chúa để cứu rỗi chúng ta, làm gương tốt cho chúng ta.

Mẹ Maria đã sinh ra, được hưởng những đặc ân vô nhiễm nguyên tội, sống thanh sạch và cộng tác tích cực với Chúa trong việc cứu dộ chúng ta. Các Thiên Thần đã được Chúa tạo dựng nhằm cộng tác với Chúa gìn giữ và bảo vệ chúng ta. Chúng ta cũng có phước vì được các thánh của Chúa gìn giữ. Người ta đã đón nhận ơn Chúa để nên thánh, chúng ta cũng có thể làm vậy để nên thánh, theo ý muốn của Thiên Chúa. Ngoài ra, chúng ta cũng được các thánh phù hộ và giúp đỡ, cũng vậy chúng ta cũng phải làm gương và giúp đỡ những người trong gia đình, những người đồng đạo.

Mỗi ngày chúng ta sống là một ngày ta được Thiên Chúa yêu thương ban nhiều ơn phước. Mỗi ngày ta phải sống theo gương hạnh của Mẹ Maria, các thánh của Chúa: chúng ta biết hiệp nhau tạ ơn Chúa và sống gương mẫu như lòng Chúa mong ước.

Lm. Phêrô Dương Văn Thạnh

Giám Quản GP. Vĩnh Long

 

DIỄN GIẢI THƯ MỤC VỤ

Tháng 09/2015

TÂN PHÚC-ÂM-HOÁ GIÁO XỨ & CỘNG ĐOÀN:

CANH TÂN ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN 

“Hãy đi bán những gì anh có... rồi hãy đến theo tôi”

 (Mc 10,21)

Trong cộng đoàn Hội Thánh địa phương sự hiện diện và đời sống của các tu sĩ dòng và những hội viên tu hội đời, những người được Chúa gọi theo Chúa “sát hơn” và lấy Người làm “tất cả” đời mình, đã là một lời rao giảng Tin mừng sống động. Chính đời thánh hiến của họ trở thành sứ vụ. Thật vậy, những người tận hiến được yêu cầu trở thành thực sự những “chuyên viên về hiệp thông” và thực hành linh đạo hiệp thông. Đời sống hiệp thông của họ “trở thành một dấu chỉ cho thế giới và một sức mạnh thu hút người ta tin vào Đức Kitô”. Sống mầu nhiệm hiệp thông mang tính sứ vụ, những người tận hiến trước hết có sự đồng cảm với Giáo hội, từ đó mới sinh hiệu quả phong nhiêu, nhưng không tránh khỏi phải đương đầu và vượt qua những thách đố nhất là trong thời đại hôm nay.

1. Đồng cảm với Giáo hội (Sentire cum Ecclesia)

- Theo gương các đấng sáng lập dòng, những người tận hiến luôn sống một cảm thức nhạy bén về Hội Thánh, biểu lộ qua việc tham dự trọn vẹn vào đời sống Hội Thánh trong mọi mặt và vâng phục mau mắn đối với các vị mục tử, đặc biệt với Đức Thánh Cha. Một khía cạnh nổi bật của sự hiệp thông với Hội Thánh là gắn bó bằng cả trí tuệ và con tim với huấn quyền của các Giám mục. Những người tận hiến giữ một vị trí đặc biệt trong Hội Thánh, cho nên thái độ của họ đối với huấn quyền có tầm quan trọng lớn lao trước toàn thể Dân Chúa. Chứng tá của lòng yêu mến hiếu thảo của họ mang lại sức mạnh và sinh khí cho hoạt động tông đồ của họ.

- Những người tận hiến được kêu gọi trở thành chất men hiệp thông phục vụ cho sứ vụ của Hội Thánh hoàn vũ, vì các đoàn sủng khác nhau của các tu hội được Chúa Thánh Thần ban cho là để mưu ích cho toàn Nhiệm Thể, nên họ phải phục vụ công việc xây dựng Nhiệm Thể (x. 1Cr 12,4-11). “Con đường trổi vượt hơn cả” (1Cr 12,31), “điều cao trọng hơn cả” (1Cr 13,13) là đức mến, vì đức mến dung hòa mọi khác biệt, thúc đẩy mọi người nâng đỡ nhau để hăng hái dấn thân trong công việc tông đồ. Để đạt tới đức mến đó đời thánh hiến trong các tu hội và tu đoàn tông đồ muốn được liên kết đặc biệt trong tình hiệp thông với đấng kế vị thánh Phêrô trong tác vụ kiến tạo sự hiệp nhất và thúc đẩy công cuộc truyền giáo phổ quát.

- Các đoàn sủng của đời thánh hiến có thể góp phần đắc lực vào việc xây dựng đức mến trong Hội Thánh địa phương. Các Giám mục được yêu cầu đón tiếp và trân trọng các đoàn sủng của đời thánh hiến, dành cho họ một chỗ trong các kế hoạch mục vụ Giáo phận. Cần biết đón nhận hồng ân đời thánh hiến mà Thánh Thần khơi lên trong Hội Thánh địa phương, bằng cách tiếp nhận với tâm tình quảng đại và tri ân.

2. Hiệp thông phong nhiêu với tôn ti phẩm trật trong Hội Thánh

- “Giám mục là cha và là mục tử của toàn thể Hội Thánh địa phương. Người có nhiệm vụ nhìn nhận và tôn trọng những đoàn sủng khác biệt, thăng tiến và phối hợp chúng. Với đức ái mục tử, người phải đón tiếp đoàn sủng đời thánh hiến như một ân sủng, không phải chỉ liên hệ đến một tu hội, mà còn để mưu ích cho toàn thể Hội Thánh. Như thế người phải tìm cách nâng đỡ và trợ giúp những người tận hiến, hầu họ hiệp thông với Hội Thánh mà mở ra những sáng kiến tu đức và mục vụ đáp ứng nhu cầu của thời đại chúng ta, trong khi vẫn trung thành với đoàn sủng sáng lập của họ. Phần họ, những người tận hiến đừng quên quảng đại cộng tác với Hội Thánh địa phương, theo khả năng của họ và tôn trọng đoàn sủng, họ hoạt động trong tinh thần hiệp  thông trọn vẹn với Giám mục ở các lãnh vực loan báo Tin mừng, huấn giáo, sinh hoạt giáo xứ.”

- Hội Thánh kí thác cho các cộng đoàn sống đời thánh hiến bổn phận đặc biệt, đó là phát triển linh đạo hiệp thông trước tiên trong chính cộng đoàn mình, kế đến trong cộng đoàn Hội Thánh và vượt cả biên giới này nữa, bằng cách kiên trì theo đuổi đối thoại bác ái, nhất là tại những nơi đang bị xâu xé bởi hận thù chủng tộc hay bạo lực điên rồ. Cảm thức về hiệp thông trong Hội Thánh này được củng cố và nuôi dưỡng thông qua sự các mối quan hệ thiêng liêng huynh đệ và cộng tác giữa các cộng đoàn tận hiến. Họ hiệp nhất vì cùng cam kết bước theo Đức Kitô – sequela Christi – và được cùng một Thánh Thần thúc đẩy, như thế họ sẽ biểu lộ cách hữu hình sự viên mãn của Tin mừng tình yêu, như những cành nho của một Cây Nho duy nhất. Sự hiệp thông Hội Thánh đó cũng biểu lộ qua sự cộng tác với các giáo dân. “Đối với các dòng đan tu và chiêm niệm, mối quan hệ với giáo dân chủ yếu ở mặt thiêng liêng, còn đối với các tu hội dấn thân tông đồ thì mối quan hệ ấy được diễn tả qua sự hợp tác mục vụ. Các thành viên tu hội đời, giáo dân hay giáo sĩ, duy trì quan hệ với các tín hữu khác trong những hình thức thông thường của cuộc sống hằng ngày. Đoàn sủng của các tu hội có thể chia sẻ với giáo dân: giáo dân được mời gọi tham dự nhiều hơn và sâu hơn vào linh đạo và sứ mạng của chính tu hội”.

3. Những thách đố lớn của đời thánh hiến

Không có sự hợp tác, trong hiệp thông và đối thoại, của tất cả các thành phần của Hội Thánh, chúng ta không thể đương đầu hữu hiệu với các thách đố thời đại. Cách riêng, sứ vụ tiên tri của đời thánh hiến phải đương đầu với ba thách đố quan trọng đặt ra cho chính Hội Thánh, với những dạng mới mà người tận hiến phải xét lại cách triệt để.

- Thách đố của khiết tịnh tận hiến. Văn hóa đương đại cổ võ hưởng thụ, tháo gỡ mọi qui tắc đạo đức khách quan của tính dục, thường giản lược tính dục thành một thứ trò chơi và một món hàng tiêu thụ, cũng như tôn thờ bản năng tính dục với sự đồng lõa của các phương tiện truyền thông xã hội. Hậu quả là đủ mọi thứ vi phạm đạo đức, vô vàn đau khổ. Lời đáp của đời tận hiến hệ tại trước tiên ớ việc vui vẻ sống khiết tịnh hoàn hảo, như một chứng tá về quyền năng của tình yêu Thiên Chúa trong phận người mỏng giòn. Người tận hiến cho thấy rằng điều mà nhiều người cho là không thể được lại trở nên có thể và thật sự mang lại tự do, nhờ ơn thánh Chúa. Khiết tịnh của người tận hiện là một kích thích tố quí báu cho việc giáo dục khiết tịnh, cần cho các bậc sống khác nữa.

- Thách đố của khó nghèo. Thách đố ngày nay đến từ một thứ chủ nghĩa duy vật chất thèm khát chiếm hữu, vô cảm trước những nhu cầu và nỗi khổ của người khác, dửng dưng với việc phải làm quân bình những tài nguyên thiên nhiên. Nhiều người không ý thức tài nguyên của hành tinh có giới hạn, cần được tôn trọng và bảo vệ công trình tạo dựng bằng cách giảm bớt tiêu thụ, biết sống thanh đạm và tự kềm hãm những ước muốn của mình. Lời đáp của đời thánh hiến, qua việc sống khó nghèo theo Tin mừng, mang nhiều hình thức khác nhau, làm chứng cách mới mẻ và mạnh mẽ về sự từ bỏ và tiết độ, bằng một nếp sống huynh đệ, đơn sơ và hiếu khách, làm gương cho những người dửng dưng với nhu cầu của tha nhân; và thường kèm theo hoạt động dấn thân phát huy tình liên đới và bác ái.

- Thách đố của tự do trong vâng phục. Văn hóa ngày nay đề cao tự do và phẩm giá con người, nhưng thường muốn tách ra khỏi tương quan với chân lý và các qui tắc luân lý. Thế nhưng, ai cũng thấy, nó đã để lại những bất công trầm trọng và những bạo hành khủng khiếp vì sự sử dụng lệch lạc quyền tự do trong cuộc sống cá nhân và các dân tộc. Lời đáp của đức vâng phục đời thánh hiến, họa lại Đức Kitô vâng phục Chúa Cha và khởi đi từ Người, minh chứng tự do và vâng phục không mâu thuẫn với nhau. Họ cho thấy qua Đức Kitô mầu nhiệm tự do của con người là một con đường vâng phục thánh ý Chúa Cha, và mầu nhiệm vâng phục là một con đường để dần dần chinh phục sự tự do chân chính.

Câu hỏi thảo luận

1. Anh chị tận hiến đã phải đối diện và vượt qua những khó khăn cụ thể nào trong tương quan nội bộ cộng đoàn tận hiến của mình để thực thi sứ mạng của tu hội, tu đoàn trong Hội Thánh địa phương?

2. Anh chị tận hiến đã phải đối diện và vượt qua những khó khăn cụ thể nào trong tương quan với cộng đoàn gia đình giáo xứ và giáo phận, trong khi sống sứ mạng của tu hội, tu đoàn trong Hội Thánh địa phương?

3. Anh chị em kitô hữu giáo dân thấy mình được nâng đỡ gì và như thế nào từ những người tận hiến? Và ngược lại, đời sống mình đã đóng góp và nâng đỡ như thế nào cho những người kia?

Lm.  Luy Nguyễn Anh Tuấn

Nguồn: ubmvgiadinh.org

 

 

LỜI NGUYỆN CHUNG

Kêu mời: Anh chị em thân mến,

Cộng đoàn sống đời thánh hiến còn được gọi là cộng đoàn tu trì, là những người tận hiến đời sống mình cho Chúa, đi theo Chúa, hoạt động với Chúa và hoạt động vì lợi ích Nước Chúa.  Chúng ta cùng hiệp ýý cầu nguyện:

1.       Chúa phán với một người kia: “Con hãy đi theo Ta”. Chúng ta cầu nguyện cho các Kitô-hữu trẻ, nhận biết tiếng gọi của Chúa Kitô, và nhờ sức mạnh Thánh Thần, họ dám bước đi theo Chúa Kitô trong đời sống thánh hiến.

2.       Chúa phán với Phêrô và Anrê: “Các con hãy theo Ta”. Chúng ta cầu nguyện cho các cộng đoàn sống đời thánh hiến sống đúng với tinh thần luật dòng của mình, sống tốt các lời khuyên Phúc Âm: khiết tịnh, khó nghèo và vâng lời.

3.       Chúa phán: “Các con hãy nên trọn lành như Cha các con là Đấng trọn lành”. Chúng ta cầu nguyện cho các cộng đoàn tu trì dám canh tân con đường nên trọn lành, cho phù hợp với tôn chỉ mục đích mà đấng sáng lập đã vạch ra.

4.       Chúa phán: “Con hãy bán tất cả những gì con có... rồi đến theo Ta”. Chúng ta cầu nguyện cho các cộng đoàn sống đời thánh hiến, thật sự từ bỏ mọi sự vui vẻ thế gian, mà luôn gắn bó với những kho tàng trên trời.

Kết thúc: Lạy Chúa, Chúa muốn mọi người được nên thánh. Xin cho những người sống đời thánh hiến, chuyên tâm tìm kiếm Nước Trời theo cách của cộng đoàn dòng tu mình, mà tiến tới hạnh phúc thiên đàng. Chúng con cầu xin… Amen.

 

ÁP DỤNG THỰC HÀNH

SỐNG LẠC QUAN TRONG ĐỜI DÂNG HIẾN

Trong cuộc sống tu trì, có biết bao thử thách đang diễn ra hằng ngày và có thể ảnh hưởng đến thái độ sống của mỗi người dâng hiến. Những va chạm, cũng như những bi kịch của cuộc sống luôn xảy đến với bất cứ ai, với những người lạc quan cũng như với cả những người bi quan. Nhưng sự khác nhau là ở chỗ, những người lạc quan luôn biết vượt qua những bi kịch đó so với những người bi quan. Như vậy, lạc quan trong lý tưởng ơn gọi chính là tiền đề để vượt qua những  thử thách của cuộc sống.

Những người lạc quan trong đời sống tu trì, nhờ nhận thức được tầm quan trọng của việc rút ra kinh nghiệm từ những lần thất bại trong quá khứ, họ rút ra được những bài học quý giá, vượt qua những trở ngại để rồi từ đó tiếp tục vươn lên. Những người bi quan thì trái lại, thường tìm mọi lý do để bào chữa cho những lần thất bại của mình, có khi họ còn tự thuyết phục mình rằng việc đó cũng chẳng có ý nghĩa gì nhiều để mà phải cố gắng, nên họ buông xuôi luôn cuộc sống của mình. Tuy nhiên, những người lạc quan không phải ngay từ lúc sinh ra là đã có ngay tính lạc quan quý giá như vậy, mà phải có quá trình luyện tập, rèn luyện tích cực hằng ngày.

Đương đầu với những tiêu cực trong đời sống tu trì

Đời sống tu trì là một cuộc sống đòi hỏi sự cố gắng phấn đấu để đạt được lý tưởng cao đẹp. Vì thế, ta phải biết tạo cho mình những hoạch định cụ thể để giúp đời tu của ta ngày càng tốt đẹp. Hãy bắt đầu bằng việc viết ra giấy bất cứ vấn đề tiêu cực nào đang gây rắc rối hoặc ngăn cản ta đạt được “các mục đích cao đẹp” mà bản thân cho rằng mình có thể đạt được một cách chính đáng.

Chẳng hạn như: một chiếc áo dòng đẹp mà mình đang muốn mặc nhưng ta chưa đủ khả năng để chạm đến; một chức vụ nào đó trong cộng đoàn mà  đang khao khát nhưng vẫn chưa thành hiện thực; một tu sĩ loan báo tin mừng của Chúa… hoặc bất cứ thứ gì đang đưa đẩy  vào hoàn cảnh tồi tệ như hiện tại. Tiếp theo, hãy viết ra trên phần còn lại của tờ giấy những điều có thể cân nhắc lại một cách khách quan hơn. Có phải những chuyện này thực sự ngăn cản ta cải thiện hoàn cảnh hiện tại, hay chúng luôn là nguyên nhân khiến ta tự dập tắt ngọn lửa hăng hái của mình? Chỉ khi đánh giá đúng được những vấn đề vướng mắc của mình, thì ta mới có thể xác định mình cần phải làm gì để tháo gỡ những vấn đề đó.

Thường xuyên theo dõi và bổ sung cho những hoạch định

Ta nên theo dõi mỗi bước tiến của mình, những gì đã làm được, chưa làm được, và trong thời gian tới sẽ quyết tâm để làm… Hãy tự đưa ra cho mình một vài câu hỏi giúp bản thân có một hoạch định, có một hướng đi đúng hướng. Ta có tập trung vào mục đích và lý tưởng dấn thân theo Chúa của mình không? Ta có thiếu lòng tự tin khi theo đuổi các kế hoạch nhằm đạt đến lý tưởng cao đẹp của mình không? Và liệu ta có từ bỏ những hoạch định cao đẹp của mình quá sớm ngay từ khi vừa chạm trán với những trở ngại đầu tiên? Ta có bền lòng trước những những trở ngại từ vấn đề này tới nhiều vấn đề khác không? Ta có biết chấp nhận những khó khăn, thiệt thòi trước mắt để phấn đấu cho lý tưởng dấn thân theo Chúa của mình không?

Liệu ta có thật sự tin tưởng tuyệt đối vào chính bản thân mình chưa?

Nếu chưa tin tưởng vào chính bản thân thì làm sao có thể sống lạc quan? Thật vậy, ta có thể nhận thấy rằng: Những người bi quan thường trầm trọng hóa những vấn đề của họ một cách vô lý. Hãy tự hỏi mình xem, cuộc sống đời tu của ta hiện nay ra sao? Có tốt không? Hay là  vẫn đang băn khoăn, trăn trở về điều gì? Có đúng là cha phụ trách hay thầy đồng hành đang nhắm vào mình thật hay không?... Nhìn chung, bất cứ khi nào có những suy nghĩ vô lý, hãy biết chỉnh đốn lại những suy nghĩ của mình, bằng cách tìm kiếm nguyên nhân và giải pháp hợp lý nhằm từng bước giải quyết những vấn đề hơn là cứ tìm cách đổ lỗi cho hoàn cảnh. Khi gặp nhiều trở ngại trong cuộc sống,  phải nghĩ rằng chính mình hiểu rõ hơn ai hết về nguyên nhân của những trở ngại đó và phải tin rằng mình sẽ tìm được giải pháp để khắc phục.

Vượt lên chính mình

Sau mỗi lần đương đầu với nghịch cảnh, hãy tự nhìn lại lòng tự tin của mình. Một khi có sự tự tin, ta sẽ nâng cao được khả năng đối phó với nghịch cảnh, thay vì cảm thấy bơ vơ và tuyệt vọng. Thường xuyên đối phó với nghịch cảnh sẽ giúp ta chủ động tìm ra giải pháp khả thi cho những khó khăn của bản thân. Như vậy, cuộc sống đời tu mới thật sự lạc quan và ta sẽ gặt hái đươc nhiều thành công hơn trong hành trình mà bản thân đang theo đuổi.

Tóm lại, những suy nghĩ trên đây chính là một vài phương pháp giúp bản thân biện phân ơn gọi, biết cách sống lạc quan và hạnh phúc trong việc định hướng ơn gọi. Chỉ khi tìm thấy sự bình an thực sự trong tâm hồn bằng cách tạo cho mình sự lạc quan, niềm tin vào cuộc sống, ta mới có can đảm và đủ nghị lực dấn thân theo Chúa trong lý tưởng tu trì.

 

TÌM HIỂU GIÁO LUẬT

ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN

LÀ BƯỚC THEO SÁT CHÚA KITÔ       

“Hãy đi bán tất cả những gì anh có...rồi hãy đến theo tôi” (Mt. 19,16-22)

Tại sao gọi các tu sĩ là những người bước theo sát Chúa Kitô, không phải hết thảy mọi người chúng ta đều phải bước theo Chúa Kitô sao?

Đành rằng, tất cả mọi Kitô hữu phải bước theo và phải bắt chước Chúa Kitô. Tuy nhiên, có nhiều cấp độ để bước theo Chúa Kitô và bắt chước Ngài. Riêng các tu sĩ muốn theo sát Chúa Kitô bằng cách họa lại lối sống cụ thể của Ngài. Chẳng hạn, Ngài đã lập bí tích hôn nhân; dạy dỗ cách sử dụng tài sản trần thế; đề cao vai trò tự quyết. Nhưng Ngài đã sống khiết tịnh không lập gia đình; khó nghèo đến nỗi không có mái nhà riêng, thậm chí không có ngôi mộ riêng nữa; vâng lời Thiên Chúa cách tuyệt đối khi sống cũng như khi chết. Đây chính là lý tưởng của đời tu.

Trong Phúc Âm nhất lãm, chúng ta đã đọc thấy cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu với anh thanh niên. Anh hỏi Ngài: thưa Thầy, tôi phải làm điều gì để được vào Nước Trời? Chúa trả lời: hãy giữ các điều răn (tức là lệnh truyền). Anh ta tiếp: tôi đã tuân giữ tất cả từ hồi còn nhỏ. Chúa liền nói: còn thiếu một điều nữa; anh về bán hết gia tài, phân phát cho người nghèo, rồi đến đây theo tôi (lời khuyên). (x.Mt. 19,16-22). Câu chuyện nầy cho chúng ta thấy hai cấp độ theo Chúa:

-        cấp thứ nhất: giữ các giới răn. Đây là lệnh truyền và là điều kiện thiết yếu để được vào Nước Trời, mà mọi người tín hữu phải tuân giữ (lệnh truyền);

-        cấp thứ hai: vâng lời và từ bỏ tài sản để đi theo Chúa. Điều nầy, Chúa không buộc nhưng chỉ là lời khuyên thôi. Anh thanh niên đã không đáp lại lời khuyên đó (có thể làm cho Chúa buồn), nhưng không phương hại đến phần rỗi của anh (vì thế, anh sống như mọi người tín hữu bình thường, không tiến xa hơn trên con đường trọn hảo là theo sát Chúa Kitô trong bậc thánh hiến). 

Chính vì vậy, khởi đầu phần III quyển II của Bộ giáo luật về đời sống thánh hiến, Giáo hội mời gọi các tín hữu sống đời thánh hiến là tuyên giữ ba lời khuyên Phúc Âm để bước theo sát Chúa Kitô, tiến tới sự hoàn hảo của đức ái:

Đời sống thánh hiến qua việc tuyên khấn các lời khuyên Phúc Âm là một lối sống bền vững, nhờ đó, các tín hữu theo sát Đức Kitô hơn, dưới tác động của Chúa Thánh Thần, tự hiến hoàn toàn cho Thiên Chúa mà họ yêu mến trên hết mọi sự, để một khi đã hiến thân cho việc tôn vinh Thiên Chúa, cho việc xây dựng Giáo Hội và phần rỗi thế giới, với một danh nghĩa mới mẽ và đặc biệt, họ đạt tới sự hoàn hảo của đức ái trong việc phụng sự Nước Chúa, và một khi đã trở nên dấu chỉ rực rỡ trong Giáo hội, họ tuyên báo vinh quang thiên quốc (573§1).

Ngoài ra, khi nói đến nghĩa vụ của các tu sĩ, Giáo hội cũng lập lại việc đi theo sát Chúa Kitô: “Các tu sĩ phải coi việc đi theo Đức Kitô do Phúc Âm đề ra và được trình bày trong hiến pháp của tu hội là luật tối thượng của đời sống” (đ.662).

Sống đời thánh hiến không chỉ có nghĩa là chấp nhận một nếp sống đạo, hay là một công tác mục vụ, nhưng là dấn thân theo Chúa Kitô. Vì vậy, sắc lệnh về canh tân và thích nghi đời sống Dòng tu, Giáo hội khẳn định: “Theo sát Chúa Kitô như Phúc Âm dạy là tiêu chuẩn tối hậu của đời sống tu dòng, nên tất cả các tu sĩ phải coi tiêu chuẩn ấy là quy luật tối thượng” (PC.2,1).

Bước theo sát Chúa Kitô như thế nào?

Theo sát Chúa Kitô được diễn tả qua hai hình thức như sau:

-        Qua việc tuyên khấn giữ ba lời khuyên Phúc Âm (sẽ tìm hiểu sau);

-        Qua việc xây dựng Giáo hội và phần rỗi thế giới (đ. 573§1).  

Việc theo sát Chúa Kitô là tuyên giữ ba lời khuyên Phúc Âm, nhưng điều nầy không chỉ đi tìm sự trọn hảo cho chính mình mà còn để xây dựng Giáo hội và phần rỗi của thế giới. Chính Chúa Kitô đã chấp nhận sự vâng phục, khó nghèo và khiết tịnh để cứu chuộc nhân loại, thì những người chấp nhận lối sống của Ngài cũng chia sẻ vào công cuộc cứu rỗi thế giới như vậy. Sự trao hiến của Ngài đạt tới mức độ truyệt đỉnh qua sự hiến tế trên Thập Giá, thì các tu sĩ cũng sống đời tận hiến của mình như sự thông hiệp vào hy lễ của Chúa Kitô. Nghĩa là hiến tế đời sống hàng ngày làm của lễ dâng lên Thiên Chúa Cha cho phần rỗi của nhân loại. 

 

TRANG LINH MỤC

CANH TÂN ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN

Thư Mục vụ 2014 của HĐGMVN “TÂN PHÚC-ÂM-HÓA ĐỜI SỐNG CÁC GIÁO XỨ VÀ CÁC CỘNG ĐOÀN SỐNG ĐỜI THÁNH HIẾN” (số 7) đã viết: “Với anh chị em sống đời thánh hiến, xin chia sẻ niềm vui với anh chị em vì Đức Thánh Cha Phan-xi-cô đã quyết định chọn năm 2015 là “Năm của Đời sống thánh hiến”. Chúng tôi tin rằng đây sẽ là cơ hội thuận lợi để anh chị em đào sâu căn tính của mình, để sống “trải nghiệm không ngừng được đổi mới về sự nếm cảm tình bạn và sứ điệp của Đức Ki-tô” (T/H Niềm Vui Tin Mừng “Evangelii Gaudium”, số 264). Chính trải nghiệm này thúc giục chúng ta ngày càng yêu mến Đức Ki-tô nhiều hơn và chia sẻ tình yêu ấy cho người khác, nghĩa là dấn thân cho sứ vụ Phúc-âm-hóa cách mạnh mẽ hơn, trong sự hợp tác chặt chẽ với Giáo hội địa phương.”

Đó là lý do khiến HĐGMVN ấn định chủ đề mục vụ tháng 9/2015 là “Tân Phúc-Âm-hóa giáo xứ: canh tân đời sống thánh hiến – “Hãy đi bán những gì anh có… rồi hãy đến theo tôi” (Mc 10,21).” (x. Gợi ý Mục vụ “Năm Tân Phúc-âm-hóa đời sống Giáo xứ và Cộng đoàn). Xin cùng tìm hiểu:

I. Ai được thánh hiến?

Tông huấn “Đời Sống Thánh Hiến – Vita Consecrata” (số 31) cho biết: “Sứ mạng của các giáo dân, những người “có nhiệm vụ tìm kiếm Nước Thiên Chúa bằng cách dấn thân vào các việc trần thế và xếp đặt chúng theo kế hoạch Thiên Chúa”, đặt nền tảng trên sự thánh hiến do bí tích Rửa tội và Thêm sức, chung cho tất cả các thành phần của Dân Thiên Chúa. Ngoài sự thánh hiến căn bản ấy, các giáo sĩ được thánh hiến bằng bí tích Truyền chức Thánh để nối tiếp sứ vụ tông đồ qua dòng thời gian. Những người tận hiến cam kết sống các lời khuyên Phúc Âm, được thánh hiến một cách mới mẻ và đặc biệt; sự thánh hiến này, tuy không mang tính bí tích, nhưng ràng buộc khiến họ chấp nhận lối sống độc thân, khó nghèo, vâng phục đã được Đức Giê-su đích thân thể hiện và đề nghị cho các môn đệ. Cho dù cả ba bậc sống khác nhau đều biểu lộ mầu nhiệm duy nhất của Đức Ki-tô, nhưng các giáo dân thì có đặc tính riêng biệt tuy không độc hữu là sinh hoạt giữa trần thế; còn các mục tử thì mang trách nhiệm về tác vụ, còn những người tận hiến thì cố gắng nên đồng hình đồng dạng với Đức Ki-tô khiết tịnh, nghèo khó và vâng phục.”

Như vậy, tất cả mọi Ki-tô hữu đều là những người được thánh hiến nhờ bí tích Rửa tội và Thêm sức; sau đó sự thánh hiến được nâng tầm cao hơn tùy theo bí tích hoặc lời tuyên khấn do cá nhân hay cộng đoàn Ki-tô hữu tự chọn. Sắc lệnh về Canh tân Thích nghi Ðời sống Dòng Tu “Perfectae Caritatis” (số 5-11) đã phân định ra nhiều hình thức thánh hiến: Đó là những “Hội dòng hoàn toàn chuyên lo chiêm niệm”, những “Hội dòng dấn thân làm việc tông đồ”, những “Tập thể trung thành với đời sống đan viện và cộng đồng”, những tập thê sống “Ðời sống tu trì giáo dân”, kể cả những “Tu hội triều”. Sách Giáo lý Hội Thánh Công Giáo (số 920-930) cũng phân định nhiều thành phần thánh hiến: * Đời sống ẩn tu; * Các trinh nữ và góa phụ sống đời thánh hiến; * Các tổ chức sống đời sống tu sĩ; * Các Tu hội đời; * Các hiệp hội có đời sống tông đồ.

II. Vì sao cần canh tân đời sống thánh hiến?

Sống trong một thế giới luôn biến chuyển không ngừng (cả mặt tốt lẫn mặt xấu), Giáo hội Công Giáo gặp không ít những khó khăn thách đố, đòi hỏi phải canh cải theo trào lưu tiến bộ chung, vì thế yêu cầu đổi mới thật cần thiết. Cũng bởi đó là:

“Một cuộc canh tân Hội Thánh không thể trì hoãn được: Tôi mơ ước một lựa chọn truyền giáo có sức biến đổi mọi sự, để những thói quen, những phong cách, thời gian, ngôn ngữ, và tất cả các cơ cấu Hội Thánh trở thành một kênh thích hợp cho việc truyền giáo cho thế giới ngày nay, hơn để tự bảo toàn. Việc cải tổ các cơ cấu, đòi hỏi bởi việc chuyển hướng mục vụ, chỉ có thể được hiểu theo nghĩa này: là thành phần của một cố gắng làm cho chúng có tính “quy truyền giáo” hơn, làm cho việc mục vụ bình thường trong mọi trường hợp được mở rộng và cởi mở hơn, tạo nên trong những người làm mục vụ một thái độ liên tục “đi ra”, và như thế thúc đẩy một đáp ứng tích cực từ tất cả những người mà Chúa Giê-su ban cho tình bằng hữu của Người. Như Ðức Gio-an Phao-lô II đã nói với các Giám Mục Châu Đại Dương: “tất cả mọi canh tân trong Hội Thánh phải có truyền giáo như mục đích, để không rơi vào nguy cơ của một Hội Thánh quy về chính mình.” (Tông huấn Niềm vui của Tin Mừng “Evangelii Gaudium”, số 27).

Hội Thánh còn “không thể trì hoãn” việc canh tân, huống hồ là những người sống đời thánh hiến. Muốn canh tân, cần phải vượt qua những thách đố. Căn cứ vào Tông huấn “Evangelii Gaudium” (số 52-102), những thách đố thường gặp phải trong đời sống thánh hiến hiện nay, có thể kể:

1- Những khó khăn và thách đố đến từ hoàn cảnh của một xã hội với những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của thời mở cửa, với nhiều cám dỗ đầy mầu sắc, với nhiều khuynh hướng nghiêng chiều về những giá trị vật chất hơn là những giá trị tinh thần; đó là những khuynh hướng thực dụng, khuynh hướng tục hóa, dẫn đến lối sống chủ nghĩa duy cá nhân, duy vật chất, duy khoái lạc…

2- Tiến trình toàn cầu hoá kinh tế – nhất là sự khủng hoảng kinh tế tại những nước chậm phát triển – làm phương hại rất nhiều đến người nghèo. Hố ngăn cách giữa người giầu và nghèo ngày càng sâu rộng hơn. Trong thực tế, không thiếu những cung cách hưởng thụ, tiêu xài xa xỉ hoang phí đối nghịch với tình cảnh thiếu thốn cơ cực của lớp người cùng khổ.

3- Thế giới cũng đang bùng phát phong trào di dân, lưu dân, do hoàn cảnh chính trị, kinh tế, người dân từ nông thôn đổ xô vào thành phố lớn, từ nước có chiến tranh hoặc nền kinh tế sa sút, khủng hoảng… tìm về  những quốc gia được coi như đất hứa.

4- Về văn hoá giáo dục: các dịch vụ internet nở rộ ngay cả nơi các vùng nông thôn, và qua đó phổ biến những hình thức văn hoá không lành mạnh. Việc giáo dục (như ở Việt Nam hoặc các nước chậm tiến) dường như chỉ tập trung đáp ứng nhu cầu chuyển giao kiến thức khoa học kỹ thuật, hơn là giáo dục toàn diện cả về nhân bản và tri thức, để xây dựng những con người chân chính, trưởng thành trong đạo đức, gia tăng lòng nhân ái. Thách đố này tác động không nhỏ tới nền văn hóa của nhân loại.

Những khó khăn và khủng hoảng nêu trên đã làm ảnh hưởng đến những người thánh hiến – nhất là giới trẻ – trong các tu dòng, hiệp hội khiến họ không muốn dấn thân trong ơn gọi tu trì. Quan trọng hơn là như đang làm cho những người tận hiến mất phương hướng, những người trẻ mất dần niềm hy vọng vào tương lai của Giáo hội. Nó cũng gây ảnh hưởng cả đến những người đang sống trong ơn gọi linh mục, tu sĩ… Như vậy thì “một cuộc canh tân đời sống thánh hiến cũng không thể trì hoãn được”:

III. Canh tân đời sống thánh hiến như thế nào?

ĐGH Phao-lô VI đã cho biết: “Các hội dòng đã được Thánh Công Ðồng có ý đề cập đến khi ấn định những tiêu chuẩn canh tân thích nghi này, hãy mau mắn đáp ứng ơn thiên triệu và phận vụ mình trong Giáo hội thời hiện tại. Thực vậy, Thánh Công Ðồng ngưỡng mộ cuộc đời trinh khiết, khó nghèo và vâng lời của họ, đó là cách sống mà chính Chúa Ki-tô đã nêu gương; Thánh Công Ðồng vững lòng kỳ vọng nơi những công cuộc rất hữu hiệu của họ, dù âm thầm hay công khai. Vậy, hết thảy các tu sĩ hãy nhờ đức tin trọn hảo, đức mến Chúa yêu người, lòng mến thánh giá và niềm cậy trông vinh quang đời sau mà truyền bá Phúc Âm Chúa Ki-tô trên toàn thế giới, để mọi người thấy dấu chứng của họ và ngợi khen Cha chúng ta trên trời (Mt 5, 16). Như thế, nhờ lời cầu bầu của Ðức Trinh Nữ Maria rất dịu hiền, Mẹ Thiên Chúa, “mà cuộc đời của Mẹ là khuôn mẫu cho mọi người”, các hội dòng mỗi ngày một bành trướng và trổ sinh những hoa trái cứu rỗi dồi dào hơn.” (SL “Perfectae Caritatis – Đức Mến Trọn Lành”, số 25),

Cũng trong SL “Perfectae Caritatis” (số 17-24), ĐGH đã nêu rõ 3 điểm trọng yếu cho việc canh tân:

1- Các phần tử các Dòng tận hiến nên chú ý đến trọng tâm (điều cốt yếu) của việc canh tân đời sống thánh hiến: Phải nhớ rằng: nhờ sự khấn giữ các lời khuyên Phúc Âm (Khiết tịnh – Khó nghèo – Vâng phục) mà mình đã đáp lại tiếng Chúa gọi, để chẳng những đã chết cho tội (Rm 6, 11) mà còn từ bỏ cả thế gian nữa, nên chỉ còn sống cho một mình Thiên Chúa mà thôi. Quả thực, họ đã tận hiến đời sống để phụng sự Chúa, và việc tận hiến ấy rõ ràng là một việc hiến tế đã làm khi chịu phép Thánh Tẩy, và biểu chứng việc hiến tế ấy cách rõ rệt đầy đủ hơn.

2- Việc Phụng sự Chúa như thế vừa đòi buộc, vừa giúp họ thi hành các nhân đức, nhất là đức Khiêm nhường và đức Vâng lời, đức Can đảm và đức Trong sạch, là những nhân đức làm cho họ được tham dự vào cuộc tử nạn của Chúa Ki-tô (Pl 2, 7-8) và đồng thời được sống với Người trong Chúa Thánh Thần (Rm 8, 1-13). Tiên vàn, những người khấn giữ các lời khuyên Phúc Âm hãy lo tìm và yêu mến Chúa trước đã, vì Chúa đã thương yêu chúng ta trước (1Ga 4, 10) và bất cứ trong hoàn cảnh nào, họ phải tâm niệm sống với Chúa Ki-tô trong Thiên Chúa (Cl 3, 3). Nhờ đó mới phát sinh tình yêu đồng loại thúc bách họ lo cứu rỗi thế gian và xây dựng Giáo hội. Cũng chính nhờ ở Đức ái ấy mà việc thực thi các lời khuyên Phúc Âm được sống động hơn.

3- Phải lấy việc chiêm niệm kết hợp lòng trí với Chúa mà phối hiệp với lòng yêu mến việc Tông đồ, để gắng hòa mình vào công cuộc Cứu thế và mở rộng Nước Chúa. Phải chuyên chăm luyện cho có tinh thần cầu nguyện và biết cầu nguyện thật, chuyên chăm suy niệm Lời Chúa trong bất cứ hoàn cảnh nào, dự các lễ nghi Phụng vụ, nhất là Bí tích Thánh Thể (lễ Mi-sa) để miệng đọc lòng suy (“khẩu tụng tâm suy”), mà cầu nguyện theo tinh thần Giáo hội và nhờ ở nguồn sống vô tận đó, mà nuôi dưỡng được đời sống thiêng liêng. Có vậy mới thực sự là canh tân thích nghi đời sống thánh hiến.

Cũng trong chiều hướng “canh tân sâu xa đời sống thánh hiến”, tại buổi tiếp kiến (ngày 26/11/2010) dành cho các Bề Trên Tổng Quyền tham dự Tổng Hội Nghị Liên Hiệp các Bề Trên Tổng Quyền, ĐTC Bê-nê-đic-tô XVI đã nhấn mạnh 3 yếu tố quan trong:

a- Trước hết là ý thức tầm quan trọng của Lời Chúa và “cách cụ thể hơn, của Tin Mừng”. Việc canh tân sâu xa đời sống thánh hiến khởi đi từ trọng tâm Lời Chúa, đặc biệt từ Tin Mừng, là quy luật tối thượng của anh em… Tin Mừng được sống thường ngày là yếu tố mang lại sự cuốn hút của nó cho đời sống thánh hiến và giới thiệu anh em cho thế giới như là một thế chọn lựa đáng tin cậy… Đó là nhu cầu của xã hội, cũng là những gì mà Giáo hội mong đợi từ anh em: trở nên một chứng nhân Tin Mừng sống động.

b- Khía cạnh thứ hai để canh tân là tình hiệp thông huynh đệ. Tình huynh đệ là một trong những khía cạnh mà các bạn trẻ đa số tìm kiếm khi họ đến gần với đời sống của anh em; đó là một yếu tố ngôn sứ quan trọng mà anh em đề tặng trong một xã hội rất cá nhân chủ nghĩa. Tôi biết những nỗ lực mà anh em đang thực hiện trong lãnh vực này, như tôi cũng biết các khó khăn mà cuộc sống cộng đoàn chứa đựng; nên rất cần khơi lên tầm quan trọng của một “sự phân định nghiêm chỉnh và liên lỉ để lắng nghe những gì Chúa Thánh Thần nói với các cộng đoàn, để nhận ra những gì đến từ Chúa và những gì trái ngược với Ngài”. Thật vậy, “không có sự phân định được đi kèm với việc cầu nguyện và suy nghĩ, đời sống thánh hiến có nguy cơ bằng lòng với những tiêu chí của thế giới này: chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa tiêu thụ, chủ nghĩa duy vật.”

c- Yếu tố thứ ba giúp canh tân đời sống thánh hiến là “sứ vụ”. Sứ vụ thuộc về  căn tính và thúc đẩy cộng đoàn tu trì mang Tin Mừng cho hết mọi người. Được nâng đỡ bằng một kinh nghiệm mạnh mẽ về Thiên Chúa và bởi một sự huấn luyện chắc chắn đời sống chung, sứ vụ là chìa khóa để hiểu và làm hồi sinh đời sống thánh hiến. Vậy, anh em hãy ra đi và trong sự trung tín sáng tạo, hãy biến thách đố của việc tân Phúc-Âm-hóa thành của anh em. Hãy canh tân sự hiện diện của anh em nơi đâu ngày nay có thể loan báo Thiên Chúa vô hình, như thánh Phao-lô đã làm ở Athènes.

Cuối cùng, ĐTC nhấn mạnh: “Những khó khăn không được làm chúng ta quên rằng đời sống thánh hiến có nguồn gốc của mình nơi Chúa: nó được Ngài muốn cho việc xây dựng và sự thánh thiện của Giáo hội của Ngài, và vì thế, chính Giáo hội sẽ không bao giờ bị lấy đi. Sự cần thiết và cấp bách đặt ra vấn đề “canh tân sâu xa đời sống thánh hiến” cũng là vì thế.” (nguồn: xuanbichvietnam.net).

Rõ ràng, để canh tân đời sống thánh hiến, những người sống đời thánh hiến cần: “Liên tục đào sâu căn tính của minh: Căn tính của đời sống thánh hiến bao gồm hai chiều kích “thánh hiến” và “sứ mệnh” được gắn chặt với nhau, bổ túc cho nhau. Sự thánh hiến bao hàm sứ mệnh, vì việc trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Ki-tô cũng có nghĩa là tham gia vào sứ mệnh của Ngài. Và sứ mệnh lại dẫn đến thánh hiến, vì việc truyền giáo của đời sống thánh hiến thiết yếu ở chứng tá của chính sự tận hiến.” (T/H Vita Consecrata”, số 76); “Chứng tá quan trọng nhất của đời sống thánh hiến là sự thánh thiện.” (T/H “Vita Consecrata”, số 32-35).

Canh tân phải là kiên trì sống “trải nghiệm không ngừng được đổi mới về sự nếm cảm tình bạn và sứ điệp của Đức Ki-tô” (T/H “Evangelii Gaudium”, số 264). Việc “trải nghiệm tình bạn và sứ điệp của Đức Ki-tô” không gì khác hơn là tính hiệp thông của Hội Thánh trong mầu nhiệm hiệp thông Thiên Chúa Ba Ngôi, sẽ đưa đến kết quả là thúc giục người thánh hiến ngày càng yêu mến Đức Ki-tô nhiều hơn, và thúc giục chia sẻ tình yêu ấy cho tha nhân (“mến Chúa yêu người”). Nói cách cụ thể thì đó là:

* Triệt để dấn thân cho sứ vụ loan báo Tin Mừng ngày một hăng say tích cực hơn;

* Hợp tác chặt chẽ với Giáo hội địa phương, với cộng đồng thừa sai Giáo xứ ngày một sâu sắc hơn.

 JM. Lam Thy ĐVD.

 

TRANG TU SĨ

CANH TÂN ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN

Trời đã về chiều, nắng hắt trên những giàn hoa giấy làm ánh lên một màu đỏ rực, thỉnh thoảng lại có một cơn gió lùa nhẹ làm cánh hoa giấy bay lả tả. Đang soạn nốt cho xong bộ kinh hát ngày Chúa Nhật tới, tôi ngước nhìn, bất chợt thấy lòng mình dâng lên một cảm giác thú vị trước cảnh hoa rơi, rồi tự dưng lại lẩm bẩm với mình: “ Đi tu mà tâm hồn vẫn lan man, lãng mạn quá hén!”. Tiếp tục làm việc cho đến khi nghe tiếng xe máy nổ xoạch xoạch và dừng lại bên phía cổng nhà thờ, chắc là Cha sở mới đi thăm bổn đạo về. Tôi bước ra chào:

-        Thưa Cha mới về.

-        Chào Dì Năm. Dì vui lòng đóng cái cổng lại dùm Cha hen!

-        Dạ.

Vừa đóng cổng tôi sực nhớ ra chuyện nên gọi theo:

-        Dạ thưa Cha! Xin phép Cha ngày thứ hai tới con về Nhà Dòng Học Khóa Bồi Dưỡng, con đi ba ngày ạ.

-        Gì mà đi hoài vậy ! mới hôm nọ xin đi đám tang, bữa rồi thì xin đi học nhạc nay lại học khóa nữa hả? mai mốt Cha gọi Dì là Dì Năm di dộng nhen!

-        Dạ thưa, cái mương sau nhà thờ mấy hôm nay bị rác ứ lại nổi sình lên nghe thúi lắm Cha, con còn nhỏ mà không được huấn luyện thường xuyên thì cũng ươn sình như con mương đó, chắc Cha cũng không muốn phải không ạ?

-        Dì lại lý sự rồi! thôi không nói với Dì nữa, đi thì coi lo liệu sao công việc ổn rồi đi. Tuần sau có mấy cặp chịu phép hôn phối đó nhen!

-        Dạ, con cám ơn Cha.

Quay trở lại bên bàn làm việc, tôi lẩm bẩm: “ Ôi thế sự thăng trầm…tu rồi hãy làm việc hay tu chỉ để làm việc?”

Đến cuối ngày, ngồi ăn tối với Dì Ba – chị trưởng cộng đoàn, tôi không giấu vẻ hơi buồn:

-        Dì Ba ơi, Cha sở có vẻ không thích con…

-        Đi tu mà, chuyện người này thương người kia ghét thì cũng bình thường, con đừng lấy đó làm buồn rồi nghĩ ngợi lung tung, không tốt!

-        Cha hỏi con sao cứ đi hoài, mà con đi học mà, đi học là để phục vụ tốt hơn.

-        Dì Ba có nghe Cha nói rồi…vậy là con vẫn còn yếu lắm, Cha mới thử lòng vậy mà đã nao núng rồi.

-        Là sao Dì Ba?

-        Hồi chiều, Dì Ba có qua thưa Cha là cho con tuần sau về Nhà Dòng dự khóa, ngài bảo có nghe Dì nhỏ thưa rồi, ngài khen con biết suy nghĩ lắm, vì Cha cố ý tỏ vẻ không bằng lòng xem con phản ứng ra sao, ngài nói nó còn nhỏ mà biết nói lý lẽ, chịu học tu như vậy là khá lắm… khá thì có khá, mà vẫn còn yếu nội lực lắm con ạ!

Tôi cười. Dì Ba vẫn tiếp tục:

-        Đời tu thì cứ phải canh tân mãi, cứ phải trau dồi mãi, không chỉ lúc con còn khấn tạm như bây giờ mà cả khi con già, gần cái chết rồi cũng vẫn cứ phải cố gắng. Không phải ta đi tìm những thứ mới mẻ, chạy theo người thời đại mới là đổi mới nhưng cái ta cần đổi mới là chính con người còn quá nhiều bất toàn thiếu sót của mình. Làm sao để đời tu của mình nhẹ nhàng, dịu dàng, thanh cao mà vẫn vui tươi và đầy xác tín.

-        Con cũng mong con sống tốt ơn gọi của mình cho đến khi ra đất thánh luôn, từ hồi nhà tập tới giờ con cứ nghĩ mình là bà góa nghèo trong phúc âm, có bao nhiêu con dâng cho Chúa hết bấy nhiêu...

-        Ừ, theo Chúa mà mình không sống nghèo là không được…mà phải nói đúng hơn là trở nên trống rỗng để được Chúa lấp đầy cho, chứ đầy quá thì Chúa chen vô chỗ nào được!

Buổi tối nhẹ nhàng trôi qua, tôi chỉ biết tạ ơn Chúa vì ân huệ Chúa đã ban cho tôi là được dâng hiến cho Người. Dù biết rằng sống ơn gọi thánh hiến giữa cuộc đời hôm nay là một thách đố, người tu không còn đứng vị trí hàng đầu của những chuẩn mực đạo đức mà Xã Hội quan niệm như ngày trước nữa, và dường như người tu sĩ hôm nay quên đi căn tính trước tiên của mình là người đã được thánh hiến cho Thiên Chúa, dẫn đến việc chạy theo những xu hướng thực dụng, hòa lẫn đời tu với trần tục hóa để rồi lạc mất Chúa và lạc mất chính mình.

MTG Cái Nhum

 

MÔI TRƯỜNG THUẬN LỢI

Bên cạnh Nhà thờ một xứ đạo vùng duyên hải có gia đình Chị Tư là thành phần giáo dân tốt. Gia đình chị có truyền thống kính trọng Cha Thầy và quí mến các nữ tu. Gần bên Nhà thờ, chị thường tiếp xúc với các Dì; thấy sự phục vụ tận tình và vui vẻ của Dì Sáu, chị cảm nhận được đời sống tu thật cao quí và đầy bình an. Chị Tư thầm ước mong gia đình chị cũng có một đứa con đi tu. Chị sống bậc gia đình, Anh Tư là người gia trưởng đạo đức, cũng như vợ, anh rất quí trọng bậc sống tu trì và dạy con cái cũng biết kính mến những người tận hiến đời mình để lo việc Chúa. Anh chị Tư được Chúa ban cho nhiều hoa trái mà Lan là hoa quả đầu mùa.

Chị Tư đang ngồi nướng bánh thì nghe tiếng chân Lan bước tới…

Thưa mẹ con đi tập hát. Lan lễ phép chào.

À! Ngày mai 15 tháng 8, lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời, bổn mạng của Dì Sáu, con đem ổ bánh kem nầy qua mừng bổn mạng Dì Sáu

Qua nhiều lần tiếp xúc và làm việc với Dì Sáu, chị Tư rất cảm phục đời sống dâng hiến của người nữ tu. Chị thường tâm sự với Dì Sáu là muốn Lan đi tu, nên tìm nhiều cách để Lan được gần gũi các Dì. Ngoài việc học ở trường, Lan vào Ca đoàn, tham gia Hội Con Đức Mẹ và thích phụ cắm hoa với các Dì. Những lời động viên của cha mẹ và gương sáng của các Dì là động cơ thúc đẩy Lan thích đời sống tu. Sau khi xong bậc Trung học, Lan quyết định cho tương lai của mình, xin gia nhập vào Hội Dòng Mến Thánh Giá. Ngày tháng trôi qua, Lan đã hiểu phần nào về ơn gọi Mến Thánh Giá và nhận thấy mình thích hợp với đời sống của Hội Dòng nầy. Thỉnh thoảng được về thăm gia đình, nhìn thấy cha mẹ vất vả lo cho các em, Lan cảm thấy chạnh lòng và thân thưa với mẹ:

  -   Mẹ à! Dạo nầy con thấy mẹ tiều tụy hơn, tóc mẹ lại thêm bạc nữa. Thấy cha mẹ vất vả lo cho các em con thật đau lòng. Con muốn ở nhà phụ giúp cha mẹ.

Chi Tư nhẹ nhàng vuốt tóc Lan và ôn tồn nói:

  -   Cha mẹ đã quen cuộc sống lao động rồi. Cho dù khổ cực nhưng biết con đang ở trong Nhà Chúa cầu nguyện cho cha mẹ, thì cha mẹ rất vui và quên hết lao nhọc con à!. Nhìn các nữ tu cha mẹ kính phục lắm. Cha mẹ cảm thấy ấm lòng hơn vì con cũng sẽ là nữ tu của gia đình mình. Niềm vui và nguồn an ủi lớn lao của cha mẹ là con đó. Lan ạ!

Hạt giống ơn gọi của Lan được gia đình gieo trồng đang nẩy mầm, nay được cha mẹ vun phân tưới nước để bén rễ sâu và thêm sức sống. Nơi Hội Dòng Lan vui vẻ sống đời tu. Mỗi khi nhớ đến gia đình thì Lan sống tâm tình phó thác và cố gắng điều chỉnh đời tu cho tốt, để đáp lại tình thương của mẹ cha. Theo dòng thời gian, Lan đã thích nghi được với nếp sống tu trì và đang chuẩn bị bước vào năm Tập nhặt.

Một hôm, nhận được hung tin mẹ lâm trọng bệnh, Lan xin phép về thăm mẹ. Đến lúc nầy Lan mới hay mẹ mắc chứng bệnh nan y khá lâu, nhưng sợ ảnh hưởng đến ơn gọi của Lan, nên cha mẹ không muốn cho Lan biết. Đến khi vô phương chữa trị, Chị Tư xin lãnh nhận các Bí tích sau hết và muốn nói lời trăn trối với con gái đầu lòng. Lan về bên mẹ, nhìn thân xác tiều tụy của mẹ, với giọng nói yếu ớt run rẩy, chị Tư cầm tay Lan, khẽ nói: “ Rán…tu…bền đỗ… nha con”. Đó cũng là lời trối sau cùng và đôi mắt mẹ từ từ khép lại. Trong tình trạng hôn mê kéo dài 2 ngày, mẹ Lan đã vĩnh viễn ra đi… Mẫu tử tình thâm chia cắt từ đây.

Tang lễ mẹ xong, nhìn cảnh nhà trống vắng mẹ hiền, Lan cảm thấy xót xa, đầu óc miên man nghĩ ngợi. Mẹ mất rồi, đàn em thiếu người chăm sóc. Cha phải cảnh gà trống nuôi con. Chúa ơi! Con phải làm gì đây. Lời mẹ trối “ Rán tu bền đỗ nha con”  không còn ý nghĩa nữa. Trước mắt, Lan muốn ở lại nhà để phụ với cha lo cho các em. Biết được ý định của Lan, Anh Tư âu yếm cầm tay Lan và ân cần nói:

Con đã trưởng thành rồi, cha mẹ đã hy sinh để con yên tâm sống đời tu trong những năm qua. Đừng vì chút tình cảm riêng tư của gia đình mà bỏ ơn gọi của mình. Tuy mẹ con mất, cha sẽ vất vả hơn, nhưng Chúa ban cho cha còn sức khỏe, cha có thể gồng gánh được việc gia đình. Cha cần lời cầu nguyện của con nhiều hơn. Con đừng để cha buồn và nhất là lời trăn trối của mẹ con: “Dù cách nào cũng để Lan tu nha Ông!” trở  nên vô nghĩa.

Đôi mắt ứa lệ nhìn cha. Lan khẻ nói:

Cha an tâm. Con sẽ cố gắng… và không để cha mẹ thất vọng vì con.

Hạt giống ơn gọi của Lan được ấp ủ từ nơi gia đình, gieo trồng nơi mãnh vườn Hội Dòng; qua sự dầy công vun xới của nhiều người, đặc biệt là gia đình, nơi vun trồng ơn gọi. Tuy gặp phong ba thử thách nhưng nhờ sự vun gốc, bón phân của gia đình; theo dòng thời gian hạt giống nầy lớn lên, bén rễ sâu vào mãnh vườn Hội Dòng và phát triển tốt đẹp.

Ước gì mỗi tín hữu trong Giáo phận Vĩnh Long luôn ý thức, gia đình là môi trường  đầy thuận lợi để hạt giống ơn gọi được gieo trồng và luôn cần sự vun xới của mẹ cha. Thật vậy! Cánh đồng truyền giáo của Giáo hội cũng như Giáo phận nhà thật mênh mông, luôn cần nhiều tay thợ gặt lành nghề. Được như thế, cánh đồng truyền giáo sẽ đặng mùa bội thu.

MTG Cái Mơn

 

 

TRANG SỐNG ƠN GỌI

HUYỀN NHIỆM MỘT ƠN GỌI

Mỗi cuộc đời là mỗi huyền nhiệm, mỗi một đời là một ơn gọi mà Thiên Chúa trao ban. Có những ơn gọi hết sức đặc biệt. Qua những sẽ chia của những cuộc đời, của ơn gọi đó là những bài học rất thực tế trong đời của ta.

Như một mối duyên và một sự tình cờ tôi được quen với một cha mà cả gia đình dòng họ nội ngoại đều là người Phật Giáo. Dần dần theo năm tháng, Cha chia sẻ chuyện đời, chuyện người khi có thể.

Bản thân tôi, nhiều khi do va đập của cuộc đời, có khi cảm thấy mình nản lòng, có khi mình yếu đuối để rồi qua những dòng sẻ chia của Cha tôi lấy lại được thăng bằng.

Chuyện "bí mật" về cuộc đời của Cha hôm nay được "bật mí". Trong tâm tình sẻ chia, Cha mới kể rằng cha là một linh mục tân tòng.

Chuyện là ngày đó cách đây hơn hai chục năm, vào những ngày luyện thi đại học, cha tiện đường ghé vào Tòa Giám Mục để ôn bài. Tình cờ trong sân của Tòa Giám Mục Cha đã bắt gặp cụ già thân thương khi ấy là giám mục Giacôbê của Giáo Phận mà Ngài đang sống.

Chẳng biết lời qua tiếng lại như thế nào đó để rồi cha và vị cha chung của giáo phận "bén duyên". Cha không chỉ cảm được lòng của vị giám mục già mà còn cảm luôn cả cái đạo Kitô giáo nữa.

Thế là từ đó bén duyên sinh tình, rồi Cha khao khát trở thành người Kitô hữu và hơn thế nữa, Cha đã tìm hiểu ơn gọi và bước theo lời mời của Chúa.

Cha chia sẻ rằng để bước chân vào đạo và bước chân vào nhà tu và bước chân lên bàn Thánh quả là một hành trình đầy gian nan thử thách. Thế nhưng, giữa những khó khăn thử thách ấy, Cha luôn có Chúa ở cùng. Chúa ở cùng Cha, đồng hành với Cha trong hành trình theo đạo, hành trình đi tu qua 3 đời giám mục địa phận.

Vì là con độc nhất trong gia đình nên chuyện đi theo Chúa là chuyện không tưởng của nhiều người, nhất là họ hàng bà con. Cha kể lại rằng khi theo đạo thì bị gia đình từ một số. Đến ngày chịu chức linh mục thì bị từ thêm một số nữa bởi vì dòng họ của Cha đều là những sư, những thầy bên Phật. Cha nói là đau lắm nhưng đâu ai hiểu được ơn gọi của Cha. Nhờ ơn Chúa, Cha vẫn tiến bước trong hành trình làm con Chúa và là một vị mục tử của Chúa.

Nói về những khủng hoảng của Giáo Hội trong thời gian này, Cha nói rằng chính trong lúc này, trong thời gian này Chúa thương yêu ấp ủ Giáo Hội cách riêng Giáo Hội Việt Nam hơn bao giờ hết. Những lúc khó khăn như thế này chính là lúc mà Chúa thương yêu chúng ta hơn cả.

Trong thân tình, Cha khiêm tốn : "Con là người tân tòng nên con cảm nghiệm được lòng Chúa thương xót kinh khủng lắm ! Con thích câu chuyện "dấu chân trên cát" lắm ! Câu chuyện đó muốn nói với con cũng như mọi người rằng Chúa luôn luôn ẵm chúng ta trong tay của Ngài. Con đây coi cái họ đạo thôi cũng đủ thứ chuyện, các giám mục coi cả giáo phận còn khó khăn hơn biết bao nhiêu. Vì thế con chỉ biết cầu nguyện và cầu nguyện. Con tin ơn Chúa Thánh Thần luôn tuôn đổ trên Giáo Hội, tuôn đổ trên mọi người chúng ta ...Con nghĩ rằng trong cuộc sống nếu mình không bằng lòng những gì mình có nghĩa là mình chưa yêu mến Chúa đủ. Vinh quang của Chúa không phải là tiến vào Giêrusalem mà tiến lên cây thập giá và Chúa nói "xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm" ..."

Câu chuyện đang hấp dẫn thì Cha xin phép chào tạm biệt bởi lẽ Cha đến giờ kinh gia đình. Cha nói rằng trong họ đạo của Cha, mỗi tối Cha đến từng gia đình thay phiên nhau để cùng nhau đọc kinh tối.

Tiếc rằng dòng chia sẻ đặc biệt là chia sẻ về đức tin của một vị linh mục tân tòng bị cắt ngang. Vẫn hy vọng một ngày nào đó được Cha chia sẻ thêm về cảm nghiệm sống đức tin của mình.

Chia tay Cha nhưng lòng vẫn cảm mến, kính phục một vị linh mục can đảm bỏ nhiều cái dính đến đời mình để theo Chúa nhất là trong hình ảnh của người con duy nhất của gia đình. Đặc biệt một bài học đức tin hết sức sống động của một chàng thanh niên đã theo Chúa và sống ơn gọi linh mục.

Nhiều lần nhiều lúc trong cuộc đời, đời sống đức tin của ta có thể lung lay, có thể chao đảo để rồi Chúa cho ta bắt gặp hình ảnh của một cuộc đời, một huyền nhiệm ơn gọi như vị linh mục thân quen để ta được hun đúc niềm tin của ta. Nhìn vào cuộc đời của vị linh mục tân tòng, quả là một bài học đức tin sống động để ta noi theo Cha để bước theo Chúa Kitô trong hành trình làm con Chúa của ta.

gpcantho.com

 

TRANG THIẾU NHI

KHI NÀO BUỘC PHẢI NÓI?

Lời nói là đặc ân Chúa ban cho loài người. Vì thế, khả năng truyền đạt tư tưởng, bộc lộ ý nghĩ, tình cảm thực sự không có gì là xấu. Hơn nữa, nếu nói đúng thời đúng chỗ và dùng lời nói để rao truyền lời Chúa thì còn gì quý bằng. Sự thinh lặng là tốt khi nó đặt trong khung cảnh kết hiệp với Chúa. Đôi lúc, thinh lặng cũng là một khiếm khuyết, nếu nó là kết quả của sự lười biếng, bất mãn, hèn nhát. Nói cách khác, có những lúc ta buộc phải nói. Vậy khi nào ta nên nói và khi nào không nên nói?!

Buộc phải nói để bảo vệ đức tin, làm vinh danh Chúa.

Có những trường hợp không được phép im lặng mà buộc phải nói để tuyên xưng đức tin vào Thiên Chúa. Nếu sự im lặng đó đồng nghĩa với việc chối đạo thì người kitô hữu đòi phải bằng lòng hy sinh mạng sống để giữ sự sống linh hồn mình.

Khi phải chọn lựa Chúa hay tư lợi ở đời này, cho dù đó là mạng sống của mình, chúng ta phải đặt vinh quang Chúa trên tất cả.

Chúng ta hãy mạnh mẽ như thánh Phaolô: “Vinh dự của tôi là Thập Giá Đức Kitô” (Gal 6,14). Chính vì thế mà ngài đã nói: “Tôi chỉ rao giảng Thập Giá Đức Kitô”.

Thái độ của thánh Phaolô là một lời cảnh tỉnh khiến chúng ta phải suy nghĩ. Biết bao lần chúng ta đã hổ thẹn vì Tin Mừng, vì Thập Giá Chúa Kitô?!

Buộc phải nói vì Đức Hiếu Kính

Nếu người ta nói xấu cha mẹ mình, mà mình yên lặng thì đó là vì hèn nhát, hoặc bất hiếu. Lúc đó, bổn phận làm con buộc phải bảo vệ danh dự cho các ngài cách nào đó.

Chúng ta đã từng nghe câu nói: “Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết”. Nếu câu nói này áp dụng vào đời sống cộng đoàn thì buộc chúng ta phải dùng lời nói, việc làm, biểu lộ tinh thần hợp tác với các vị lãnh đạo tinh thần.

Chúng ta là kitô hữu, là con Thiên Chúa sống trong lòng mẹ Giáo Hội, nhiều khi chúng ta không biết hay không dám bênh vực Giáo Hội và mọi người trong Giáo Hội. Chúng ta nên mạnh dạn can ngăn những kẻ chuyên lên án Giáo Hội và gây chia rẽ mọi thành phần trong Giáo Hội.

Buộc phải lên tiếng vì trách nhiệm giáo dục và làm gương sáng

Là phụ huynh, chúng ta cần phải nói để dạy bảo con em mình. Cha mẹ dù bận rộn đến đâu nhưng cũng cần phải dành thời gian để ân cần dạy dỗ con cái.

Trẻ con là cây non, cần uốn nắn từng li từng tí. Cha mẹ cần biết dùng lời nói đúng nơi, đúng cách, ôn tồn, kiên nhẫn trong việc giáo dục con cái thì mới có thể đạt hiệu quả tốt được.

Nhiều trường hợp, dù ta không có trách nhiệm trực tiếp, nhưng đức ái khiến ta phải nói lên sự thật, phải sử dụng miệng lưỡi để giúp đỡ tha nhân.

Nhiều người cho rằng, chỉ những chuyện xấu, sự dữ mới ảnh hưởng lớn. Nhưng thật ra, sự lành, gương sáng cũng ảnh hưởng rất sâu xa đến con người. Đọc hạnh các Thánh ta sẽ thấy rõ gương sáng của các ngài ảnh hưởng rất lớn đến người khác.

Làm chứng cho sự thật

Thế giới ngày nay đang mắc một căn bệnh trầm trọng là người ta không còn tôn trọng sự thật, các giá trị bị thay đổi. Sự giả hình, lừa đảo tồn tại trong mọi lãnh vực của cuộc sống.

Mọi sự đều có đồ giả mạo đi kèm, đến nỗi người ta khó mà phân biệt được vàng thau, thị phi, thiện ác. Vì vậy, là người kitô hữu, chúng ta phải luôn tôn trọng và làm chứng cho sự thật, cho Tin Mừng. Đó như là những đóng góp của chúng ta nhằm biến đổi thế giới này thành một cộng đồng tốt đẹp hơn, trong đó con người hiểu biết và yêu thương nhau qua ngôn ngữ của tình yêu và sự chân thật.

Nói tóm lại, chúng ta nên dùng lời nói của mình để tuyên xưng đức tin, ca tụng Thiên Chúa, bênh vực người khác, làm chứng cho sự thật… có bảy mối thương linh hồn mà chúng ta thường đọc nếu đem ra thực hành thì cuộc sống này sẽ vô cùng tốt đẹp và mọi người sẽ sống chan hòa trong tình thương.

-        Lấy lời lành mà khuyên người

-        Mở dạy kẻ mê muội

-        Yên ủi kẻ âu lo

-        Răn bảo kẻ có tội

-        Tha kẻ dể ta

-        Nhịn kẻ mất lòng ta

-        Cầu cho kẻ sống và kẻ chết

 

LỚN LÊN TRONG CỘNG ĐOÀN

Tự bản chất con người được sinh ra và lớn lên trong cộng đoàn. Cộng đoàn gia đình có cha có mẹ có anh chị em là cộng đoàn đầu tiên để con người được bao bọc chở che và nuôi dưỡng. Đến tuổi trưởng thành con người sẽ gia nhập thêm nhiều cộng đoàn mới. Trong những cộng đoàn này con người cũng sẽ tiếp tục được lớn lên từng ngày.

Các tín hữu nam nữ đáp lại tiếng Chúa gọi để sống đời thánh hiến gia nhập vào một gia đình mới: Dòng tu hay Tu hội. Dù là hoạt động hay chiêm niệm thì các tu sĩ nam nữ này cũng sẽ được sống trong một cộng đoàn. Sự liên hệ với nhau trong cộng đoàn này không phải là máu mủ ruột thịt mà là thiêng liêng. Vì họ đã thực hiện như lời Chúa Giêsu đã nói: “Ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Đấng ngự trên trời, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi." (Mt 12, 50). Những người này quyết tâm thực hiện ý muốn của Chúa là công khai khấn giữ ba lời khuyên phúc âm:Vâng lời – Khó nghèo và Khiết tịnh.

Trong tình thương của Thiên Chúa là Cha những anh chị em này có trách nhiệm với nhau: cùng giúp nhau nên tốt hơn; cùng giúp nhau lớn lên trong ân sủng của Chúa.

Người sống đời thánh hiến cùng với Hội thánh đem Chúa đến cho người khác. Làm sao họ đem Chúa đến với khác nếu chính họ chưa có Chúa ở trong lòng.

Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ về đời sống cộng đoàn torng Tin mừng Thánh Matthêu:

Đem đến cho nhau những điều tốt: “Những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta” (Mt  7, 12)

Giúp nhau sửa lỗi: "Nếu người anh em của anh trót phạm tội, thì anh hãy đi sửa lỗi nó” (Mt 18, 5)

Tha thứ cho nhau: "Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy." (Mt 18, 22)

Thánh Phaolô trong thư Rôma cũng khuyên:

Liên đới nhau: “Cũng như trong một thân thể, chúng ta có nhiều bộ phận, mà các bộ phận không có cùng một chức năng, thì chúng ta cũng vậy : tuy nhiều nhưng chỉ là một thân thể trong Đức Ki-tô, mỗi người liên đới với những người khác như những bộ phận của một thân thể” (Rm 12, 4 -5)

Vì đức ái tránh làm gương mù gương xấu cho nhau: “Nếu vì bạn ăn một thức ăn, mà bạn làm phiền lòng người anh em, thì bạn không còn sống theo đức ái nữa. Đừng vì chuyện ăn uống mà làm cho người anh em của bạn phải hư mất, vì Đức Kitô đã chết cho người ấy” (Rm 14, 15)

Đón nhận nhau vì danh Chúa: “Anh em hãy đón nhận nhau, như Đức Kitô đã đón nhận anh em, để làm rạng danh Thiên Chúa” (Rm 15, 7)

Canh tân đời sống thánh hiến là xác định là bản chất đời sống của mình. Bản chất của đời sống thánh hiến là cộng đoàn. Tự đào luyện chính mình dưới ánh sáng Lời Chúa sẽ làm cho những người sống đời thánh hiến được lớn lên mỗi ngày.

 

TRANG GIỚI TRẺ

Bài Giáo Lý Của ĐTC Phanxicô

Về  Cầu Nguyện Trong Gia Đình

Dưới đây là bản dịch bài Giáo Lý của ĐTC Phanxicô được ban hành ngày 26 tháng 8 năm 2015 trong buổi Triều Yết Chung tại Quảng trường Thánh Phêrô.  Hôm nay ĐTC tiếp tục chu kỳ Giáo Lý về Gia Đình.  Ngài giải thích về tầm quan trọng của việc Cầu Nguyện trong gia đình.

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Sau khi suy nghĩ về cách các gia đình sống thời gian nghỉ lễ và làm việc, giờ đây chúng ta xét đến thì giờ cầu nguyện.  Lời than phiền thông thường nhất của các Kitô hữu về thì giờ là: "Tôi đáng lẽ phải cầu nguyện nhiều hơn...; tôi muốn làm điều ấy, nhưng tôi thường không có thì giờ."  Chúng ta thường xuyên nghe thấy lời than ấy.  Sự hối tiếc này chắc chắn là chân thành, bởi vì tâm hồn con người luôn luôn tìm cách cầu nguyện, ngay cả khi không ý thức điều ấy; và nếu không tìm được nó thì không thấy bình an.  Nhưng để chúng gặp nhau, chúng ta phải vun trồng trong tâm hồn mình một tình yêu "nồng nàn" với Thiên Chúa, một tình yêu trìu mến.

Chúng ta có thể đặt ra một câu hỏi rất đơn giản.  Thật tốt khi hết lòng tin vào Thiên Chúa, thật tốt khi hy vọng Ngài giúp chúng ta lúc gặp khó khăn, thật tốt khi cảm thấy có bổn phận phải cảm tạ Ngài.  Rất tốt.  Nhưng chúng ta có yêu Chúa, dù một chút không?  Suy nghĩ về Thiên Chúa có làm cho chúng ta cảm động, ngạc nhiên và mềm lòng không?

Chúng ta hãy nghĩ đến công thức của điều răn trọng nhất, là điều răn nâng đỡ tất cả các điều răn khác: "Ngươi hãy kính mến Chúa là Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết sức ngươi" (Đnl 6:5; x Mt 22:37).  Công thức này sử dụng ngôn ngữ mãnh liệt của tình yêu, đổ dồn vào Thiên Chúa. Đấy, tinh thần cầu nguyện sống trước hết ở đây.  Và nếu nó ở đây thì nó ở luôn mãi và không bao giờ đi ra nữa.  Chúng ta có thể nghĩ về Thiên Chúa như là cái vuốt ve giữ cho chúng ta được sống, mà trước đó không có gì không?  Một cái vuốt ve mà không có gì, ngay cà cái chết, có thể tách chúng ta ra được không?  Hay có phải chúng ta chỉ nghĩ rằng Ngài là Đấng cao cả, Đấng Toàn Năng, đã tạo nên mọi sự, là vị Thẩm Phán kiểm soát mọi hành động của chúng ta?  Đương nhiên, tất cả là sự thật.  Nhưng chỉ khi Thiên Chúa là tình thương mến trên tất cả các tình thương mến của chúng ta, thì ý nghĩa của những lời này mới trở nên trọn vẹn.  Khi ấy, chúng ta cảm thấy hạnh phúc, dù hơi "bối rối”một chút, vì Ngài nghĩ đến chúng ta và đặc biệt yêu thương chúng ta!  Đó không phải là điều cảm động sao?  Không cảm động sao khi Thiên Chúa vuốt ve chúng ta bằng tình yêu của một người Cha?   Thật quá đẹp!  Ngài đã có thể đơn thuần làm cho người ta nhận biết Ngài là Đấng Tối Cao, ban hành các giới răn của Ngài và chờ đợi kết quả.  Nhưng thay vào đó, Thiên Chúa đã và đang làm hơn điều này một cách vô cùng.  Ngài đồng hành với chúng ta trên đường đời, che chở và yêu thương chúng ta.

Nếu tình yêu đối với Thiên Chúa không thắp lên ngọn lửa, thì tinh thần cầu nguyện không sưởi ấm được thời gian.  Như Chúa Giêsu nói, chúng ta có thể đọc nhiều lời "như dân ngoại làm"; hoặc thậm chí phô trương các nghi lễ của mình, “như những người Biệt Phái đã làm” (Mt 6:5.7).  Một tâm hồn được tình yêu đối với Thiên Chúa cư ngụ biến ngay cả một tư tưởng không lời, hay một lời khẩn cầu trước một ảnh thánh, hoặc một nụ hôn gửi đến nhà thờ, thành lời cầu nguyện.  Và tốt đẹp thay khi các bà mẹ dạy những đứa con nhỏ của họ gửi một nụ hôn đến Chúa Giêsu hay Đức Nữ Trinh Maria.  Có biết bao nhiêu sự dịu dàng trong việc này!  Khi ấy trái tim của trẻ em biến thành một nơi cầu nguyện.  Và đó là một hồng ân của Chúa Thánh Thần.  Đừng bao giờ quên cầu xin hồng ân này cho mỗi người chúng ta!  Bởi vì Thần Khí của Thiên Chúa có cách nói đặc biệt của Ngài trong tâm hồn chúng ta, "Abba" - "Cha ơi", Ngài dạy chúng ta nói "Cha ơi" như Chúa Giêsu đã nói, một cách nói mà chúng ta không bao giờ có thể tự mình tìm ra được (xem Gl 4: 6).  Chính trong gia đình mà chúng ta học cầu xin hồng ân này của Chúa Thánh Thần và trân quý nó. Nếu anh chị em học nó với cùng một sự bộc phát như khi anh chị em học cách gọi "cha ơi" và "mẹ ơi", thì anh chị em đã học được nó mãi mãi.  Khi điều này xảy ra, thời gian cho toàn thể cuộc sống gia đình được bao bọc trong cung lòng của tình yêu Thiên Chúa, và chúng ta tự nhiên tìm được thì giờ cầu nguyện.

Như chúng ta biết rõ, thì giờ của gia đình là thì giờ phức tạp và eo hẹp, bận rộn và bận tâm.  Nó luôn luôn ít, không bao giờ đủ, có quá nhiều điều để làm. Ai đã có gia đình sớm học được cách giải một phương trình mà ngay cả các nhà toán học vĩ đại cũng không làm sao mà giải nổi: người ta làm gấp đôi trong vòng hai mươi bốn giờ!  Có những bà mẹ và những người cha có thể thắng giải Nobel vì việc biến 24 giờ thành 48 giờ này:  Tôi không biết họ làm điều ấy thế nào, nhưng họ tra tay và làm!  Có quá nhiều công việc trong một gia đình!

Tinh thần cầu nguyện dâng thì giờ cho cho Thiên Chúa, ra khỏi sự ám ảnh của một cuộc sống luôn thiếu thì giờ, tìm thấy sự bình an nơi những điều thiết yếu, và khám phá ra niềm vui của những món quà bất ngờ.  Hai vị hướng dẫn tốt cho việc này là hai chị em cô Martha và Mary, được đề cập trong bài Tin Mừng mà chúng ta vừa nghe; hai cô đã học được từ Thiên Chúa sự hài hòa của các nhịp điệu trong gia đình: vẻ đẹp của ngày lễ nghỉ, sự thanh thản của công việc và tinh thần cầu nguyện (x. Lc 10:38-42).  Cuộc viếng thăm của Chúa Giêsu, Đấng mà họai cô yêu mến, là ngày lễ của hai cô.  Tuy nhiên, là một ngày mà cô Martha đã học được rằng công việc tiếp đãi khách, dù quan trọng, nhưng không phải là tất cả, mà việc lắng nghe Chúa, như cô Maria, lại là điều thiết yếu, là "phần tốt nhất" của thì giờ.  Cầu nguyện phát sinh từ việc lắng nghe Chúa Giêsu, từ việc đọc Tin Mừng.  Anh chị em đừng quên đọc một đoạn Tin Mừng mỗi ngày. Cầu nguyện phát sinh từ lòng tin tưởng vào Lời Chúa.  Chúng ta có lòng tin tưởng này trong gia đình của mình không?  Chúng ta có sách Tin Mừng trong nhà không?  Chúng ta có đôi lúc mở nó ra để đọc với nhau không?  Chúng ta có suy niệm về nó khi đọc kinh Mân Côi không? Tin Mừng được đọc và suy niệm trong gia đình giống như một bánh bổ dưỡng nuôi tâm hồn mọi người.  Vào buổi sáng và buổi tối, và khi chúng ta ngồi vào bàn ăn, chúng ta học cách cùng nhau đọc một lời cầu nguyện, rất đơn sơ: chính là Chúa Giêsu đến giữa chúng ta, như Người đã đến với gia đình các cô Martha, Maria và Lazarô.  Có một điều mà tôi giữ mãi trong lòng vì tôi đã nhìn thấy trong thành: có những trẻ em đã không học làm Dấu Thánh Giá! Nhưng anh chị em, bậc cha mẹ, hãy dạy con con cái mình cầu nguyện, làm Dấu Thánh Giá: đây là một nhiệm vụ cao quý của các bà mẹ và các người cha!

Trong lời cầu nguyện của gia đình, trong những lúc mạnh mẽ cũng như những khi khó của nó, chúng ta được Chúa trao phó cho nhau, để mọi người trong gia đình được tình yêu của Thiên Chúa che chở..

Phaolô Phạm Xuân Khôi  chuyển ngữ

Nguồn: giaoly.org

 

TRANG GIA ĐÌNH

HẠNH PHÚC

Chúng ta được sinh ra là để sống hạnh phúc. Được ơn hiện hữu ở đời là một món qùa vô giá. Kinh Cám Ơn mà chúng ta thường đọc: ‘Con cám ơn Đức Chúa Trời là Chúa lòng lành vô cùng, chẳng bỏ con, chẳng để con không đời đời, mà lại sinh ra con, cho con được làm người…’. Vì tình yêu thương, Thiên Chúa đã tạo dựng nên muôn loài, đặc biệt là con người để chia phần hạnh phúc. Cùng đích của cuộc sống là hạnh phúc, cả đời này lẫn đời sau.

Thật là hạnh phúc khi chúng ta nhìn cuộc đời một cách tích cực. Từ ngàn xưa, Tạo Hóa đã an bài mọi sự trong trời đất và môi trường để đón nhận các loài thụ tạo. Các nhu cầu cần yếu cho cuộc sống được Thượng Đế đặt để ăn khớp với nhau. Sự tuần hoàn nhịp điệu từ đại vũ trụ cho tới hạt nhân tinh vi đều di chuyển trong trật tự. Khi hòa nhập với thiên nhiên, con người sẽ tìm thấy niềm vui hạnh phúc an lạc. Chống đối lại sự xoay vần của luật lệ tự nhiên, con người sẽ gặp nhiều trắc trở, nghịch cảnh và khổ đau.

Chúng ta tự hỏi: Ai là người hạnh phúc hơn trong cuộc sống đời tạm này? Có phải là những người giầu sang phú quí, văn minh, khôn ngoan, trí thức giỏi giang, quyền cao chức trọng, địa vị quyền lực và kiêu căng tham vọng thì hạnh phúc hơn những người bình dân, đơn sơ nghèo nàn, khiêm nhu âm thầm và an cư tự tại không? Thước đo hạnh phúc chính là sự bình an đích thực trong tâm hồn. Chúng ta nhận biết rằng càng trở về với tự nhiên, tâm hồn càng thanh thoát. Một ông vua sống nơi cung điện giầu sang phú quí, chưa chắc đã hạnh phúc hơn một chú tiểu nghèo nàn đang chăn trâu ngoài đồng cỏ.

Trong cuộc sống xã hội, có những chủ trương sống lý tưởng dựa theo những triết thuyết khác nhau. Thí dụ: Vào đời nhập thế xông pha phấn đấu theo Nho Giáo hoặc rút về sống ẩn dật vô vi tránh xa sự đời của Lão Giáo. Hai cách sống đối ngược nhưng đều mong tìm về một nguồn hạnh phúc đích thực. Ai cũng mong tìm thỏa mãn ước mơ ở đời để sống những chuỗi ngày bình an hạnh phúc. Niềm vui hạnh phúc thật được kết nối qua những suy tư đúng đắn, lời nói chân thật và hành động tốt lành. Sự gian dối, giả tạo và hình thức không thể mang lại hạnh phúc thật sự. Là Kitô hữu, chúng ta được mời gọi xây dựng hạnh phúc không những đời tạm này, mà còn phải hướng về hạnh phúc vĩnh cửu đời sau nữa.

Cuộc sống có muôn mặt. Chúng ta biết mỗi cá nhân có một đinh mệnh và sở thích riêng. Mỗi người tự tìm cho mình lối đi về nguồn hạnh phúc. Sống hạnh phúc là sống hài hòa, an lạc và thanh thản trong tâm hồn. Hạnh phúc nằm ngay trong cuộc sống, nếu chúng ta biết đón nhận. Chúng ta không thể tìm hạnh phúc ở cuối con đường, nhưng hạnh phúc bao trùm mỗi phút giây của đời sống. Có hoa mừng hoa, có nụ mừng nụ. Ai không biết đón nhận, cơ hội sẽ vụt bay.

Có biết bao vị chân tu đã tìm nơi thanh tịnh để tu thân tích đức tìm sự an lạc. Có nhiều đan sĩ hiến thân sống đời cầu nguyện âm thầm lặng lẽ trong các đan viện để tìm sự an vui tự tại. Có rất nhiều người hiến dâng cuộc đời để phục vụ tha nhân trong bình an. Niềm vui hạnh phúc của tha nhân chính là niềm vui hạnh phúc của họ. Các vị không màng đến sự đua chen thế tục. Họ thoát tục để gắn bó một cuộc sống nội tâm thanh thản, bình an và hạnh phúc.

Sự khao khát sống hạnh phúc của con người sẽ không cùng. Ai cũng mong sống hạnh phúc, nhưng không phải mọi người được hưởng hạnh phúc cả đâu. Nhiều người đã hoang phí cuộc đời và phá vỡ hạnh phúc của mình và của người khác qua sự ích kỷ, thiển cận và tham lam. Trong cuộc sống chung, mỗi cá nhân đều có trách nhiệm góp phần mang lại niềm vui hạnh phúc cho gia đình va xã hội. Chúng ta chỉ có hạnh phúc khi cùng biết chia sẻ tình yêu thương với nhau và với tha nhân.

Mỗi dịp lễ thành hôn và vu quy, những lời cầu chúc tốt đẹp mừng đôi tân hôn: Cầu chúc anh chị trăm năm hạnh phúc. Hy vọng tình yêu luôn mãi nở hoa trong cuộc sống gia đình. Ai mà chẳng mong muốn có cuộc sống an vui hạnh phúc. Thật thế, hạnh phúc luôn trong tầm tay: Dù giầu dù nghèo, dù long đong vất vả và dù sang dù hèn, vợ chồng đều có thể phấn đấu vượt qua: ‘Thuận vợ, thuận chồng, tát bể đông cũng cạn’.

Sống là phải sống hạnh phúc. Chính hạnh phúc là nền tảng cốt lõi của cuộc sống gia đình. Khi cuộc sống gia đình ổn định, vợ chồng thương nhau và con cái hiếu thảo, hạnh phúc sẽ trào dâng mỗi ngày. Khi gặp khó khăn trong đời sống, đừng quên lời thề hứa khi vợ chồng trao nhau chiếc nhẫn ngày kết hôn: ‘Anh (em) hãy nhận chiếc nhẫn này để làm bằng chứng tình yêu và lòng trung thành của anh (em)’. Lời cam kết yêu thương là chìa khóa khai mở cuộc sống hạnh phúc hôn nhân.

Trong thực tế cuộc sống gia đình hôm nay, sự bất hạnh đã len lỏi soi mòn và phá tán nhiều gia đình. Chúng ta cần tự vấn: Ai đang phá vỡ hạnh phúc gia đình? Có thể là do chồng, do vợ hoặc do con cái. Có một điều lạ là chúng ta thường gây gỗ và giận hờn với người chúng ta yêu thương nhất. Người ta thường nói: ‘Yêu nhau lắm, cắn nhau đau’. Vì sao vậy? Có thể vì chúng ta quá yêu và muốn người khác luôn phải làm theo ý mình, tự vệ, có thể là độc đoán, độc tài và ghen tuông, Và cũng có thể do cách cư xử thiếu tế nhị: Một lời nói cộc cằn, một thái độ dửng dưng, một sự hiểu lầm, một sai lỗi, một sự bất tín, một sự nghi ngờ và một sự so sánh hơn thiệt nào đó, là nguyên nhân gây nên sự đổ vỡ và khổ đau trong gia đình. Niềm an vui hạnh phúc lại bị đóng băng. Để hòa giải tìm lại hạnh phúc gia đình, Đức Giáo Hoàng Phanxicô khuyên dạy ba điều cần thực hành: Gợi ý (xin phép), xin lỗi và tha lỗi.

Nhận thức rằng chúng ta không thể là mọi sự cho mọi người và không thể làm mọi thứ cùng một lúc. Trách nhiệm của chúng ta là nhận thức chúng ta là ai và sống thật với chính mình. Chúng ta nên học hỏi đừng ganh đua với người khác. Hãy sống với các giới hạn của bản thân. Hãy học biết sự kính trọng tha nhân, vì chúng ta đều là loài thụ tạo hay chết. Nhân vô thập toàn. Đời sống không phải là một vấn đề cần để giải quyết, nhưng là một món qùa để yêu thương.

Hạnh phúc là món qùa. Nếu chúng ta biết mở lòng đón nhận, món qùa sẽ là của chúng ta. Chấp nhận sự giới hạn khả năng và hoàn cảnh của chính mình. Hãy an vui với những gì mình đang có. Hãy năng chiêm ngắm vũ trụ vạn vật, trời cao biển rộng, đồi núi chập chùng, sông sâu suối ngàn, ruộng đồng bát ngát, hoa lá cỏ cây và muôn vật hài hòa. Chúng ta cũng đang được hòa nhập trong biển tình bao la của thiên nhiên. Chúng ta hãy tạ ơn Thượng Đế, tri ân con người và biết ơn đời đã trao ban hạnh phúc tuyệt vời.

Trong mọi hoàn cảnh, hãy tin tưởng và phó thác vào quyền năng của Thiên Chúa. Khổ đau là thử thách và là trái ngọt đắng ở đời. Thuốc đắng giã tật. Hãy sống vui với giây phút hiện tại. Con đường dẫn tới hạnh phúc là hạnh phúc rồi. Hạnh phúc đời này sẽ dẫn tới hạnh phúc ngày sau.

Lm. Giuse Trần Việt Hùng

 

TRANG GIÁO LÝ VIÊN

25 Bài Giáo Lý Về Thánh Phaolô

Bài19: Vậy Thánh Phaolô Làm Gì Trong Những Lần Lên Jerusalem?

Như thánh Phaolô tự thuật trong thư gởi Galata, Ngài lên Jerusalem hai lần (Gal 1:17-18; 2:1). Vậy mục đích và nội dung hai lần thăm viếng này là gì?

Các nhà chuyên môn cho rằng lần thứ nhất (Gal 1:18) xảy ra khoảng năm 39, ba năm sau khi Phaolô trở lại. Mục đích của chuyến đi là (a) làm quen với các tông đồ, (b) với hội thánh Jerusalem nói riêng và với hội thánh Kitô giáo nói chung, (c) học hỏi về Chúa Giêsu Kitô và những giáo huấn của Ngài.

Không có bằng chứng nào cho thấy Phaolô gặp và học hỏi với Chúa Giêsu khi Chúa Giêsu còn sống, hay được Chúa Giêsu mặc khải một cách nhiệm mầu những kiến thức cho Ngài. Nhưng trong thư gởi tín hữu Côrintô, Phaolô viết: “Thật vậy, điều tôi đã lãnh nhận từ nơi Chúa, tôi xin truyền lại cho anh em.” (1 Cor 11:23). Ngài còn viết thêm: “Trước hết, tôi đã truyền lại cho anh em điều mà chính tôi đã lãnh nhận…” (1 Cor 15:3).

Câu hỏi là: vậy Phaolô lãnh nhận những gì, ở đâu, và khi nào?

Các nhà kinh thánh cắt nghĩa rằng dịp Phaolô lên Jerusalem (năm 39) và ở lại với Kêpha (Phêrô) và Giacôbê là cơ hội để học hỏi về cuộc đời, con người và giáo lí của Chúa Giêsu. “Ba năm sau tôi mới lên Giê-ru-sa-lem diện kiến ông Kê-pha, và ở lại với ông mười lăm ngày.”(Gal 1:18).

Nhờ trí thông minh xuất chúng và tài năng “học một biết mười,” sau thời gian ngắn này, Phaolô đã thấu hiểu những giáo huấn của Chúa Giêsu dù Ngài không có cơ hội tiếp xúc với Chúa Giêsu trước đây.

Điều này được thể hiện cách rõ ràng qua những thư thánh Phaolô viết cho Kitô hữu. Giáo huấn của Phaolô không hề trái ngược với những gì Chúa Giêsu giảng dạy. Hơn nữa, những lí luận thần học của Phaolô là những chú giải chính xác về giáo lí của Chúa Giêsu.

Theo Cvtd, trong lần thăm viếng lần đầu này, Phaolô đã không tự mình đến mà Barnabas là người giới thiệu Phaolô cho các tông đồ (Cvtd 9:27-29), có lẽ vì các tông đồ chưa biết và chưa thực sự tin Phaolô là người đã thật lòng theo Chúa Giêsu Kitô.

Cũng theo Cvtd, trong lần đến Jerusalem này, đang khi cầu nguyện trong đền thờ, Phaolô đã có một thị kiến được Chúa báo cho biết là mau trốn khỏi Jerusalem vì những người Do Thái đang tìm bắt Ngài: “Khi trở về Giê-ru-sa-lem, đang lúc tôi cầu nguyện trong Đền Thờ, thì tôi xuất thần18 và thấy Chúa bảo tôi: “Mau lên, hãy rời khỏi Giê-ru-sa-lem gấp, vì chúng sẽ không nhận lời anh làm chứng về Thầy đâu……. Chúa bảo tôi: “Hãy đi, vì Thầy sẽ sai anh đến với các dân ngoại ở phương xa.” (Cvtd 22:17-21).

Vậy sau 15 ngày ở Jerusalem (Gal 1:18), Phaolô được anh em Kitô hữu sắp xếp trốn về Tarsus ở Celicia (Cvtd 9:30). Thánh Phaolô ở lại đó khoảng vài năm.

Mt. Nguyễn khắc Hy, S.S.

Nguồn: liendoanconggiao.net

 

TRANG QUỚI CHỨC

HÃY ĐI VÀ LÀM NHƯ VẬY

Đẹp thay những bước chân gieo mầm cứu rỗi….

Bài hát của linh mục nhạc sĩ Mi Trầm ấy lúc thăng lúc trầm như cuộc đời của người đi tu nhưng khi nghe làm chúng ta cảm thấy đời sống ấy thật thanh thoát, cao thượng.

Người đời rất tôn trọng những người đi tu, dù là sư, ni hay ông cha, bà phước… Vì sao? có lẽ vì họ hiểu rằng đó là những người xã kỷ, vị tha.

Thỉnh thoảng, chúng ta gặp những vị sư cầm bình bát đi khất thực. Xin đừng vội vã nghĩ rằng đó là những người ăn không ngồi rồi nên đành phải đi xin người bố thí để được sống qua ngày. Không, đối với triết lý nhà phật, họ đang làm một việc cao cả đó, họ đang hóa duyên để tế độ chúng sinh đó.

Ai lại muốn trở thành kẻ ăn xin chớ? Có ai đi ăn xin mà được người ta kính trọng? Chúng ta có nhớ mỗi lần chúng ta đi nhờ vả người khác một điều gì dù rất nhỏ chúng ta sẽ cảm thấy thế nào? Thế nhưng họ lại tự hóa thân thành kẻ hành khất vì một lẽ ai có lòng thành cho họ bất cứ thứ gì thì họ đã tạo được cái nghiệp tốt, tùy vào cách nghĩ của họ mà họ có thể lãnh phúc ở đời này hay sớm thành phật ở đời sau.

Đối với những người sống đời thánh hiến dù nam hay nữ cũng vậy thôi. Đi tu chính là từ bỏ tất cả để phục vụ. Đức Giáo Hoàng Grêgôriô đã tự xưng là đầy tớ đó sao? Các chị em khi khấn ba lời khấn không phải là để nhằm phục vụ anh chị em đồng loại đó sao? Vì thế và cũng chính vì thế mà mọi người mới trân trọng và hết lòng tôn kính mặc dù họ có thể không có học vị, chức vị hay một công trạng nào. Cha sở họ Ars, thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu, mẹ thánh Têrêxa thành Calcutta…

Thế nhưng thật sự mà nói, cũng có những người đi tu nhưng đã không được sự tôn trọng của người khác. Cũng là chuyện dễ hiểu, bởi vì chúng ta được tôn trọng khi chúng ta biết tự trọng. Người đi tu không được coi trọng có thể vì đã không sống đúng cái là của mình, không chính danh, chính phận. Và đây cũng là một thử thách cho người sống đời tu, bởi vì nhiều khi lực bất tòng tâm. Biết đó, muốn đó nhưng là con người nên vẫn còn mang xác thịt nặng nề, muốn xã kỷ đó nhưng vẫn chưa dứt được tham sân si, muốn vị tha đó nhưng vẫn chưa làm chủ được hỉ, nộ, ái ố….chính vì thế mà nhiều khi đời sống chứng nhân lại trở thành phản chứng.

Lạy Chúa, xin cho những người sống đời ơn gọi luôn biết sống đúng cái là của mình để những người được Chúa chọn luôn là những người gieo mầm cứu rỗi cho anh chị em đồng loại, để xứng đáng là người tối tớ của Chúa, phục vụ ân cần anh chị em đồng loại.

 

SỐNG ĐẸP

BÍ QUYẾT SỐNG HẠNH PHÚC

Sống hạnh phúc cả ngày:

Trong một chương trình truyền hình Mỹ, người ta phỏng vấn một cụ già, tuổi đã rất cao. Người ta đặt câu hỏi như sau:

-        "Thưa cụ, chắc cụ có một bí quyết đặc biệt để được hạnh phúc?"

-        Cụ già trả lời một cách đơn sơ như sau: "Không, tôi chẳng có bí quyết nào gọi là đặc biệt cả. Trái lại, nó rất đơn giản như chiếc mũi trên mặt ông vậy!".

(1) Buổi sáng, lúc thức dậy, tôi có hai điều chọn lựa, một là sống hạnh phúc, hai là sống bất hạnh. Ông nghĩ xem, tôi sẽ chọn điều nào? Dĩ nhiên tôi phải chọn được hạnh phúc".

 (2) TT Abraham Lincol đã nói như sau: "Con người sở dĩ có được hạnh phúc, sung sướng hay không cũng tại lòng tưởng nghĩ như vậy". Nếu lúc nào bạn cũng tự nhủ rằng: "Mọi việc đều tốt đẹp, đời vẫn đẹp và đáng sống. Tôi chọn sống hạnh phúc", thì chắc chắn bạn sẽ được điều bạn muốn.

 (3) Buổi tối: Trẻ con rành về nghệ thuật sống hạnh phúc hơn người lớn. Trẻ em mang vào giấc ngủ của mình vô số những mộng mơ và chúng cũng thức giấc với vô số những mộng ước, trong đó là được vui chơi.

Chúa Giêsu quả là tế nhị khi Ngài nói với chúng ta rằng cần phải có tinh thần trẻ thơ thì mới vào được Nước Trời. Nước Trời là gì nếu không phải là được sống hoan lạc trong tình yêu thương của Chúa? (Theo Lẽ Sống, đài Chân lý Á châu)

 1. Chén thuốc Hạnh phúc trị trăm thứ bệnh

Một thầy thuốc sống ở những thời đầu của đạo công giáo, bị hoàng đế bỏ tù cách bất công. Sau khi ông bị giam nhiều tuần lễ, các thân nhân được phép vào thăm và tất cả đã phải khóc, vì thấy áo quần ông rách tả tơi, người gầy ốm vì mỗi ngày người ta chỉ cho ông một miếng bánh nhỏ và một ly nước lã. Tuy nhiên vợ ông lại ngạc nhiên khi thấy vẻ mặt của ông, bà hỏi:

-        Làm sao anh lại có một nét mặt vui sướng như thế? Người ta có thể nói hình như anh vừa đi ăn tiệc cưới về.

Vị thầy thuốc cười đáp lại rằng ông ta đã tìm ra được một vị thuốc hợp cho mọi thứ bệnh. Người nhà ông hỏi thử thuốc gì thì ông đáp: Đó là một thứ thuốc Tuyệt hảo trị bá bệnh, thể lý cũng như tâm lý.

Nó gồm 7 vị thuốc sau đây:

1)      Thứ nhất là Bằng lòng với số phận mình.

2)      Thứ hai là Lương tâm yên ổn.

3)      Thứ ba là Nhớ mình là kẻ có tội.

4)      Thứ tư là Nhớ đến sự đau khổ của Chúa.

5)      Thứ năm là Nhớ rằng đau khổ được Cha trên trời gửi tới để thanh luyện ta.

6)      Thứ sáu là Nhớ rằng đau khổ không vô ích, nó lập công, đền tội, cứu các linh hồn, và tôn vinh Danh Chúa.

7)      Tuân theo Thánh Ý Chúa trong mọi sự

 2. Ba cái nhìn hạnh phúc: Nhìn lên, nhìn xuống, nhìn ngang

Một người bao nhiêu năm đã vui vẻ chấp nhận cuộc sống với những thiếu thốn tiền bạc và rắc rối trong gia đình. Người ta hỏi ông:

-        Làm sao có thể an vui như thế?

-        Thưa, tôi suy nghĩ và nhìn đời bằng đôi mắt sáng suốt.

-        Như thế nghĩa là gì?

-        Thưa tôi nhìn lên, nhìn xuống và nhìn ngang.

-        Xin ông giải nghĩa thêm.

-        Vâng, trước hết, tôi nhìn lên trời và nhớ rằng công việc chính yếu của tôi là đạt tới nước trời. Trên đó cha tôi...đang chờ tôi.

-        Rồi tôi nhìn xuống đất, nghĩ rằng tôi sẽ nằm trong đó sau khi chết, nó thật bé nhỏ.

-        Sau cùng, tôi nhìn ra ngang, thấy biết bao nhiêu người đàn ông, đàn bà, cũng như trẻ thư ở bên cạnh tôi trên khắp trái đất này có khi còn nghèo hơn tôi, cực khổ hơn tôi, bị oan ức hơn tôi, thiệt thòi hơn tôi: có người bị cùi, có người bị điên, ...

Ba cái nhìn đó làm tôi sống hạnh phúc, không than vãn trách móc như hồi tôi chưa vào đạo Chúa.

 3. Cụ Vinh Khải Kỳ sung sướng qua 3 cái được: Làm người, làm đàn ông, khỏe mạnh

Cụ Khổng Tử đi chơi núi Thái sơn, gặp ông Vinh Khải Kỳ ngao du ở ngoài đồng, mặc áo cừu, thắt lưng dây, tay gẩy đàn cầm vừa đi vừa hát. Khổng Tử hỏi:

-        "Tiên sinh làm thế nào mà thường vui vẻ thế?"

-        Vinh Khải Kỳ đáp:

-        "Trời sinh muôn vật, loài người quý nhất, mà ta được làm người, đó là một điều đáng vui.

Trong loài người, đàn ông quý hơn đàn bà, mà ta được làm đàn ông, đó là hai điều đáng vui.

Người ta sinh ra có người đui què, có người non yếu, mà ta được khỏe mạnh, nay đã chín mươi tuổi, thế là ba điều đáng vui...

Còn cái nghèo là sự thường của thế gian, cái chết là sự hết của đời người. Ta nay xử cảnh thường đợi lúc chết thì có gì là lo buồn?"

Cụ Khổng nói:

-        "Phải lắm, Tiên sinh thế là biết cách tự làm cho khoan khoái mà hưởng sự vui thú ở đời" (sách Liệt Tử).

  4. Bí quyết giữ mãi hạnh phúc Hôn nhân: Tránh cãi vã

Trong bữa tiệc ăn mừng lễ vàng (50 năm đám cưới) của một đôi vợ chồng nọ, có cả thảy tám người con và 30 đứa cháu hiện diện. Con cháu thay nhau lên tiếng chúc mừng và khen ngợi các đặc tính đáng qúy của ông bà. Trong phần đáp từ, ông cụ đã khiêm nhường không nhận những lời khen ngợi và nói cách đơn sơ rằng:

 

-Nếu cuộc sống hôn nhân của ông bà đã được hạnh phúc cho đến nay, chính là nhờ vào điều duy nhất này: Ông bà đã luôn luôn theo lời khuyên của cha sở nhủ bảo khi ông bà đến xin cưới cách đây 50 năm: "Anh chị hãy để ý tránh cuộc cãi vã đầu tiên. Ai trong hai người bắt đầu to tiếng, người đó đe dọa hạnh phúc gia đình." Cha sở đã có lý. Cho đến hôm nay bà cũng như ông luôn luôn tránh để không bao giờ là kẻ bắt đầu gây sự trước.

Dĩ nhiên ông bà cũng có những ý kiến khác nhau, nhưng luôn luôn đối thoại trong thành thật, bình tĩnh và hợp lý hợp tình. Không bao giờ ông bà đi quá mức độ này. Đây chính là bí quyết hạnh phúc của ông bà.

Tuy nhiên cần phải có một số điều kiện để có thể tránh bất cứ sự bất hoà nào:

-        Phải lấy 10 điều răn Chúa làm kim chỉ nam cho cuộc sống.

-        Phải cầu nguyện và năng chịu các bí tích để kín múc lấy sức mạnh giúp thắng vượt các khó khăn đe doạ sự hoà hợp cuộc sống.

Cuộc sống của ông bà cho đến nay không có cãi vã mà chỉ có yêu thương. Các con, cháu thân mến, nếu chúng con muốn hạnh phúc và được Chúa chúc lành, thì hãy cố sức đừng để cuộc cãi vã đầu tiên xảy ra và hãy kín múc sức mạnh từ ơn Chúa để tránh nổi cuộc cãi vã đầu tiên.

 5. Thi nhau yêu thương

Một ngày kia, khi lật những tập hồ sơ do đàn em bá cáo về những cuộc hôn nhân trên trái đất, tướng quỷ hết sức ngạc nhiên vì thấy có một gia đình vẫn còn tràn đầy yêu thương và tâm đầu ý hiệp với nhau. Hắn bèn quyết định đích thân đi điều tra xem thực hư ra sao.

Tướng quỷ hóa trang và khi tới nơi thì thấy quả như đàn em bá cáo. Đó thực là một gia đình hạnh phúc, trong đó tất cả mọi sự, kể cả đau khổ, đều được tiếp nhận như những đóa hoa mùa xuân. Tướng quỷ tìm cách khám phá bí quyết của tình yêu lạ lùng ấy và hỏi thẳng hai vợ chồng. Họ giải thích:

-        Chẳng có gì là bí mật cả. Chúng tôi chỉ sống tình yêu của chúng tôi như một cuộc chạy đua với nhau. Khi một trong hai người chúng tôi lầm lỗi, thì người kia nhận lỗi trước. Khi một trong hai đứa chúng tôi làm điều tốt, thì người kia được lãnh nhận lời khen. Khi một trong hai chúng tôi đau khổ, thì người kia ân cần săn sóc. Khi một trong hai đứa chúng tôi hạnh phúc, thì người kia càng vui mừng hơn. Tóm lại là chúng tôi luôn thi nhau yêu thương. Mỗi người chúng tôi muốn nổi bật hơn về tình yêu đẹp nhất.

Khi nghe những lời trên đây, tướng quỷ ngỡ ngàng không nói lên lời, và hắn bỏ đi mà không làm hại họ. Và thế là trên cõi đời "là bể khổ" này vẫn còn có những đôi vợ chồng hạnh phúc (Dino Semplici).

 6. Nhờ Bức ảnh Thánh Tâm Chúa Giêsu

Một người say rượu nọ thường "quậy" làng phá xóm. Nhưng anh ta có một bà vợ can trường. Trong dịp tĩnh tâm của giáo xứ, chị xin anh ta đi nghe giảng. Nhưng anh ta không thèm nghe lời vợ, lại còn chửi thề văng tục. Vào cuối tuần tĩnh tâm, chị vợ lại nói với anh ta:

-        Ít là mình hãy đến xem bức ảnh Thánh Tâm Chúa Giêsu rất đẹp được trưng bày ở nhà thờ. Ai xem cũng khen là đẹp.

Anh ta ầm ừ cho có, nhưng sau cùng anh ta cũng đi xem. Anh ta đến nhà thờ và đứng trước bức ảnh xem một cách chăm chú như xem một kiệt tác.

Anh ta nhìn vào vết thương lớn ở ngực Chúa và vòng gai đâm vài Trái tim. Anh ta tự nhủ: Chính tôi đã đâm những gai này vào Trái Tim Chúa. Anh ta xúc động mạnh. Đôi mắt đẫm lệ...Sau đó anh ta đã đến tòa cáo giải, rồi anh ta đi rước lễ.

Trở về nhà, anh ta ôm hôn vợ và các con, rồi kể lại cho họ nghe niềm hạnh phúc của anh, và nói:

-        Cho đến nay, tôi đã gây nhiều phiền toái cho gia đình, bây giờ tôi chỉ còn muốn đem lại hạnh phúc và gương sáng.

Anh ta đã giữ lời, và từ đó, biến nhà anh trước kia là hỏa ngục nay thành một thiên đàng .

7. Chỉ có hạnh phúc thật trong Tình yêu Chúa

Ermann Coen được mệnh danh là thánh Augustino của thời đại chúng ta. Ngài là một người Do thái rất giầu có. Thời trai trẻ ngài chỉ biết ăn chơi và chạy theo thế gian. Sự nhàm chán cứ đè nặng trên vai ngài. Ngày kia ngài từ chối tất cả và xin vào Tu viện. Trong buổi giảng mùa Vọng tại đền thờ Đức Bà ở Ba lê, ngài nói:

-        "Tôi đã đi khắp cả mặt đất, tôi đã yêu thế gian, tôi đã biết thế giới và tôi đã học được môt điều: không có hạnh phúc thật ở trên thế gian này. Nhưng tôi cũng như nhiều người khác, đã sa vào tìm nó nơi không có. Tôi đã tìm nó ở những nơi tôi tưởng có nó: ở những nụ cười, ở những cuộc giải trí, ở những ngày lễ, ở những nơi vàng bạc, ở nơi sắc đẹp...Ôi lạy Chúa, điều con mơ ước mọi giờ mọi ngày, con đã tìm ở đâu? Và con đã chỉ tìm được nó trong Chúa và tình yêu Chúa.

 8. Thấy cái hay trong cái dở

Cách đây ít năm, một người Anh muốn đi Mỹ châu, lúc lên tàu ông bị gãy chân, nên phải bỏ chương trình đã dự tính. Bạn bè thân thích phàn nàn và tiếc thay cho ông. Còn ông thì nói:

-        "Việc Thiên Chúa làm, tốt lắm".

Hôm sau người ta được tin chiếc tàu gặp nạn tan tành và không còn môt hành khách nào sống sót. Người Anh liền nói với bạn hữu:

-        "Đấy, các bạn coi, việc Thiên Chúa làm là việc tốt cho tôi".

 9. Vâng ý Chúa: Mùa lúa luôn như ý

Trong hạnh các Thánh giáo phụ có kể lại một người nông dân hạnh phúc hơn bạn bè hàng xóm. Được hỏi lý do tại sao, người nông phu trả lời:

-        "Các ông các bà đừng có ngạc nhiên, chính vì tôi luôn luôn được thời tiết theo lòng tôi ước muốn, không bao giờ tôi ước muốn thời tiết khác thời tiết Thiên Chúa gởi cho. Vì thế, Thiên Chúa luôn ban cho tôi mùa màng như lòng tôi ước nguyện".

 10. Sống theo Ý Chúa

Ngày 1-2-1851, thành phố Lyon nước Pháp đã được chứng kiến cái chết lành thánh của vị đại tướng lừng danh tên là Marceau.

Đầu tiên, ông là người vô thần, quá quắt, người của thế gian, quá phóng đãng, nhưng ông đã bị Đức Bà Thắng trận ở Paris chinh phục.

Một  hôm, ông phải nói chuyện với một đám thợ thuyền hội họp. Ông đã nói với họ bằng giọng cảm dộng thành thực như sau: "Thưa các bạn, có lẽ trong các bạn có người không phải là tín hữu và không thích tôn giáo. Nhưng này, các bạn cũng nên biết: tôi cũng đã vô đạo như thế, không ai ghét đạo Công giáo hơn tôi, nhưng tôi phải thú nhận rằng: Bao lâu chưa là tín hữu, thì tôi vẫn còn khổ sở. Cho đến giờ phút đó, tôi thực chưa sống. Tôi múa máy, hay nói đúng hơn, các dục tình xô đẩy tôi., lôi kéo tôi chứ tôi không sống. Tôi không phải là người, tôi chỉ là cái máy".

Nhưng khi được ơn trở lại, ông đã thành một người Công giáo sốt sắng. Năm 1849, ông tới thăm cha bề trên các linh mục Dòng Đức Bà ở Lyon, lúc đó bị bệnh ho nặng, sức đã kiệt, đồng thời bị đau chân không thể chữa khỏi. Cha bề trên mời ông ở lại giúp cha. Ngoan ngoãn như một đứa trẻ, cựu đại tướng, và là nhà vượt biển lừng danh đã trả lời: Con vui lòng. Con ca tụng Thiên Chúa  khi uống nước trong phòng cũng như khi chịu gió đánh giữa biển khơi".

Năm cuối đời, ông đã sống trong nơi tịch mịch hoàn toàn, ông đã viết thư cho một người bạn như sau:

- Tôi có thể đoan chắc với bạn rằng: Tôi đã tìm được hạnh phúc mà người ta có thể hi vọng được ở dưới đất này, trong nơi vắng vẻ hiện tôi đang sống đây, xa gia đình, xa bạn bè quen thuộc. Đây là tất cả bí quyết hạnh phúc trên mặt đất này: "Hòa mình sống theo Thánh ý Thiên Chúa "   (JB. Saint Jure,SJ, Tin cậy Chúa Quan phòng, TTĐM, 1988, tr 6-8))

 11. Hạnh phúc trong Ý Chúa: Chúa muốn gì, con muốn nấy

 "Chúa muốn mưa, con cũng muốn mưa,

            Chúa muốn nắng, con cũng muốn nắng,

            Chúa muốn sướng, con cũng muốn sướng,

            Chúa muốn cực, con cũng muốn cực

            Chúa muốn khổ, con cũng muốn khổ,

            Chúa và con chỉ có một ý muốn.

   Bí quyết hạnh phúc của con là ở đó". 

(Cố Hồng y Nguyễn Văn Thuận - Đường Hy Vọng)

 12. Thiên đàng: Hạnh phúc muôn đời

"Nếu khôn thì bạn hãy biết rằng, bạn được dựng nên để làm vinh danh Chúa, và để được cứu rỗi muôn đời. Đó là cùng đích của đời bạn, là tâm điểm của linh hồn bạn, là kho tàng của lòng bạn. Đạt tới cùng đích này, bạn sẽ hạnh phúc, nếu lạc xa, bạn sẽ khốn khổ.

Do đó, bạn hãy đánh giá cho đúng: điều tốt thật là điều giúp bạn đạt tới cùng đích đời bạn; còn điều xấu thật là điều làm cho bạn xa rời cùng đích ấy. Thành công hay thất bại, giầu sang hay nghèo túng, mạnh khỏe hay ốm đau, vinh dự hay nhục nhã, sống hay chết, người khôn không được tìm, cũng như không được tránh những điều ấy chỉ vì chúng. Nếu chúng làm vinh danh Chúa và giúp bạn được hạnh phúc muôn đời, thì đó là những điều tốt và đáng ước mong, nếu chúng ngăn trở làm vinh danh Chúa và phần rỗi mình, thì đó là những điều xấu, cần phải tránh xa". (Theo thánh Robertô Bellaminô)

 13.Hạnh phúc thật chỉ có ở Thiên đàng

Theo thánh Tôma Tiến sĩ, hạnh phúc chân thật là sự toàn thiện làm thỏa mãn mọi ước muốn và loại hẳn mọi sự ác.

Điều kiện hạnh phúc thật:

1.       Phải là sự thiện tối hảo, không còn sự thiện nào cao quý hơn

2.       Phải loại hẳn mọi khiếm khuyết, xấu, ác, bất kỳ khiếm khuyết nào.

3.       Phải thỏa mãn hoàn toàn mọi ước muốn tâm hồn.

4.       Phải tồn tại mãi sau khi đã chiếm được.  (Luân lý thần học I, Đa Minh học viện, tr. 25)

Thánh Gioan TĐ cho biết: "Thế gian đang qua đi với những tham vọng của nó (dục vọng xác thịt, dục vọng con mắt, cậy mình có của). Còn ai vâng theo Ý muốn của Thiên Chúa thì tồn tại muôn đời (1 Ga 2,16-17)

 Lm. Đoàn Quang, CMC

 

HỎI ĐÁP MỤC VỤ

Đóng Góp Tiền Bạc Cho Giáo Xứ, Cộng Đoàn

Hỏi: Tại một nơi kia, khi hô hào giáo dân đóng góp tiền bạc cho giáo xứ, cộng đoàn làm cái này cái nọ, linh mục  nói "khó nghe" rằng:" người Tin lành đóng góp cho nhà thờ của họ 10% lợi tức trong tuần, còn anh chị em thì…hẹp hòi!"...

Xin hỏi bên đạo Công giáo, có luật nào phải đóng 10 % không mà cha ấy nói như vậy?

Đáp: Cha ông người Việt xưa nói: "Có tiền mua tiên cũng được, không tiền mua lược cũng không!".

Ngày nay bên VN, người ta còn chế thêm ra: "Tiền là tiên là Phật"…Ai muốn được việc, đừng quên thủ tục đầu tiên, nghĩa là tiền đâu?

Tiền do con người đánh giá, nhưng tiền trở thành quan trọng đến nỗi có lần Chúa Giêsu đã nói: "Không ai có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của (mammon) được (Mt 6,24).

Người Công giáo VN cũng có câu: "Tiền vào, Chúa ra".

Theo tôi biết: Trước năm 1954, ngoài Bắc hầu như xứ nào cũng có ruộng lúa, xứ giầu có nhiều, xứ nghèo có ít. Ruộng thóc này dùng vào việc điều hành xứ đạo (nuôi cha, thầy, cậu, sửa sang cơ sở…Sau năm 54, vào Nam, các cha mở trường tạo ngân khoản chi tiêu…xứ nào cũng phải tìm cách gây quĩ.

Giáo hội Âu châu điều hành cách khác. Xứ đạo bên Mỹ trông nhờ vào sự đóng góp của giáo dân. Nhiều khi gây quĩ giáo xứ cũng là vấn đề khó khăn. Linh mục xứ nói đến tiền bạc nhiều quá sẽ "ngượng miệng" khi rao truyền Lời Chúa nơi tòa giảng, mà không nói thì không được việc như ý.

Về việc đóng góp, Giáo luật khoản 222 dạy cách tổng quát rằng:

- 222,1 Các tín hữu có bổn phận chu cấp cho các nhu cầu của Giáo hội, để Giáo hội có sẵn những gì cần thiết hầu sử dụng vào việc phụng thờ Thiên Chúa, các công tác tông đồ, bác ái và việc trợ cấp xứng đáng cho các thừa tác viên (ý nói linh mục, tu sĩ, giáo dân …phục vụ giáo xứ, Giáo hội).

- 222,2 Các tín hữu có bổn phận cổ võ công bằng xã hội cũng như dùng tài sản riêng tư để giúp đỡ những người nghèo, theo lệnh truyền của Thiên Chúa".

- Khoản 1261,1 thêm: Các tín hữu được tự do để dâng biếu tài sản cho Giáo hội.

- Khoản 1262: Các tín hữu hãy trợ giúp Giáo hội bằng những đóng góp mà họ được yêu cầu…

Về việc đóng góp, Thánh Phaolo trong thư 2 gửi dân Corinhto có nêu tiêu chuẩn:

1- Tùy khả năng: Vậy nay anh em hãy hoàn thành công cuộc (lạc quyên) đó, để như anh em đã hăng hái quyết định thế nào, thì cũng tuỳ khả năng mà hoàn thành như vậy (2Cr 8,11).

2- Tùy lòng: Mỗi người hãy cho tuỳ theo quyết định của lòng mình, không buồn phiền, cũng không miễn cưỡng, vì ai vui vẻ dâng hiến, thì được Thiên Chúa yêu thương (2Cr 9,7).

3- Gieo ít gặt ít: Tôi xin nói điều này, gieo ít thì gặt ít; gieo nhiều thì gặt nhiều (2 Cr 9,6).

Nếu tôi không lầm thì không thấy Tân Uớc và giáo luật nói tới đóng góp 10% lợi tức, nhưng tôi nhớ đến bài Phúc âm Chúa nhật 30 năm C, người Pharisiêu có cầu nguyện rằng: "Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con"(Lc 18,12). Người Pharisiêu này giữ luật theo sách Nhị luật chương 14, câu 22-29. Luật này chỉ đòi dâng 1/10 hoa lợi về nông nghiệp, nhưng ông ta dâng 1/10 về cả các lợi tức thu nhập khác.

Vậy trong lý thuyết và thực hành, Giáo hội Công giáo để tùy tâm người giáo dân mà thôi, không có vấn đề cưỡng ép ai cả, hoàn toàn tôn trọng tự do, nhưng thánh Phaolo muốn nói: "Gieo nhiều thì gặt nhiều". Chúa ban cho ai nhiều thì cũng nên quảng đại hơn với Chúa, với Giáo hội, dù biết rằng gia đình quí vị còn nhiều khoản chi tiêu…Những ai nghèo khó hơn, cũng tùy lòng mình mà giúp đỡ Giáo hội, giáo xứ, để Chúa có thể khen thưởng cả 2 như Chúa đã khen người đàn bà góa trong Phúc âm Luca 21, 1-4.

Truyện kể rằng có một bà kia rất giầu có sau khi chết bước vào cổng thiên đàng. Bà được thánh Phêrô dẫn đi tìm nhà của bà. Đi hoài không thấy, nhưng bà thấy ngôi nhà đẹp đẽ của người đầy tớ gái của bà chết cách đây ít lâu. Sau cùng bà đã tìm được nhà của bà, đó chỉ là căn lều tồi tàn, bà không thèm bước vào, bà cằn nhằn với thánh Phêrô:

- Ngài không biết tôi là...sao nhà của đứa đầy tớ tôi lại đẹp đẽ thế còn tôi chỉ có túp lều xiêu vẹo này?

- Thánh Phêrô bèn trả lời: Xin lỗi bà, ở đây chúng tôi chỉ dựng nhà cho người ta tùy vật liệu người ta gửi từ dương thế lên, đầy tớ bà gửi nhiều qua sự chịu đau khổ theo Ý Chúa, giúp người nghèo, còn bà chỉ lo giữ tiền của làm giầu và gửi lên có chút ít...bà còn lôi thôi gì!

Lm. Đoàn Quang, CMC

 

 

SUY NIỆM

NHỜ MẸ ĐẾN VỚI CHÚA

Các bạn thân mến

Sau khi Đức Giêsu Phục Sinh được cất lên trời trước mặt các môn đệ, họ đã trở về nhà với lòng đầy tràn niềm vui. Vâng lời Thầy, họ ở lại Giêrusalem cho đến lúc nhận được ơn trên bởi trời. Thế nhưng, ngày xưa mọi sinh hoạt đều có Chúa nên giờ thiếu vắng Thầy, các môn đệ cũng cảm thấy bấp bênh và chơ vơ. Trong hoàn cảnh ấy, họ đã tìm đến Đức Mẹ xin lời khuyên. Mẹ đã bảo các ông hãy chuyên cần cầu nguyện như thói quen Mẹ vẫn thường làm trong suốt cuộc đời mình. 

Cầu nguyện là thói quen thường hằng của Mẹ nhờ đã luôn ghi nhớ những gì xảy ra với Chúa và suy đi gẫm lại trong lòng. Từ lúc thiên sứ truyền tin, Mẹ đã bắt đầu khởi sự tập hồi kỳ về Chúa ở trong lòng. Mẹ đã gần gũi và đụng chạm Chúa nhiều nhất trong quãng thời gian thơ ấu của Ngài. Những năm Ngài sống đời công khai rao giảng, Mẹ chỉ hiện diện bên Con với lời cầu nguyện và sự lo lắng của từ mẫu. Tất cả những ký ức vui cũng như buồn về Chúa đều được Mẹ ghi khắc vào tận sâu trong tâm khảm mình. Bên cạnh Chúa những giây cuối đời, chẳng thể thiếu vắng sự hiện diện của Đức Mẹ. Bao roi đòn hằn lên nơi thân xác Giêsu cũng để lại những vết thương lòng nơi Mẹ. Con Yêu bị kết án và hành hình như nô lệ, Mẹ cũng trở thành bia miệng cho người đời dèm pha. Mẹ ôm ấp hình hài Con trong tay như một phần thịt xương đớn đau và bầm dập của chính mình. Thanh gươm ngày xưa ông Si-mê-on đã tiên báo đâm nay đã thực sự đâm thấu tâm can Mẹ. Hơn ai hết, Mẹ là người đồng cảm với Chúa sâu xa nhất nên Mẹ luôn biết cách để kết hiệp với Chúa qua cầu nguyện.

Nhờ cầu nguyện nên Mẹ đã sống tinh thần sầu nhưng không thảm, bi nhưng chẳng lụy. Mẹ tin chắc rằng khổ giá và cái chết của Chúa chẳng phải là đích đến và điểm dừng vì đó Ngài đã đến trần gian. Chúa đến để cứu chuộc nhân loại như lời sứ thần truyền tin cho Mẹ thì công cuộc ấy chẳng thể nào đơn giản kết thúc bởi cái chết của Chúa. Mẹ tin chắc Chúa sẽ làm một điều gì đó thật diệu kỳ ngoạn mục như Ngài đã từng hóa nước thành rượu tại tiệc cưới Cana. Đau khổ và thánh giá Chúa đã trải qua, nhưng Mẹ tin Thánh Giá ấy sẽ khơi nguồn sự sống. Chẳng phải Đức Giêsu đã từng tiên báo Ngài sẽ chết nhưng rồi sẽ Phục Sinh, cái chết chẳng làm chi được Ngài nữa, những kẻ giết hại Đức Giêsu rồi sẽ phải hối tiếc. Mẹ tin mạnh vững vàng như thế nên Mẹ cũng động viên các môn đệ phải lạc quan và phấn chấn lên.

Mẹ thích hướng dẫn người khác cầu nguyện vì đó là điều Chúa Phục Sinh mong muốn khi Ngài hiện ra với Mẹ. Mặc dù, cuộc gặp gỡ này đã không được sách sử nào ghi lại nhưng làm sao Chúa Phục Sinh lại không hiện ra với mẹ đẻ của chính mình. Chẳng có ai trên trần gian này đủ xứng đáng để đón nhận tin mừng Phục Sinh giống như Mẹ. Lời đầu tiên Giêsu đã thốt lên khi hiện ra với Mẹ là lời cảm ơn từ sâu thẳm trong tim mình. Mẹ không nghĩ mình sẽ được diễm phúc như bà góa thành Na-im khi được thấy tận mắt, sờ tận tay thân xác Phục Sinh của Con Yêu. Chúa ủy thác cho Mẹ bảo ban và hướng dẫn đám đồ đệ kém tin như Ngài đã từng trối Mẹ cho Gioan. Từ đây, Mẹ sẽ chính thức là mẫu tử của toàn thể nhân loại mà các môn đệ là đại diện. Chính vì lời căn dặn ấy của Chúa nên Mẹ đã thường xuyên cầu nguyện cùng các môn đệ.

Các bạn thân mến

Chẳng biết do nhân duyên nào nhưng người Việt Nam ta lại có lòng sùng kính Mẹ cách đặc biệt. Ngay từ khi còn bé tí, Kinh kính mừng có lẽ là lời kinh đầu tiên ta thuộc lòng. Ở Việt Nam, Đức Mẹ đã hiện ra nhiều lần. Những nơi Mẹ hiện ra luôn tấp nập khách hành hương đến kính viếng. Nghe tin Đức Mẹ hiện ra hay làm phép lạ ở đâu, người người nô nức đua nhau tới đó. Mỗi bữa kinh tối trong gia đình không thể nào thiếu vắng những lời kinh cầu cùng Đức Mẹ.

Mẹ có một vị thế quan trọng trong đời sống đạo của tín hữu. Có khi ta cảm thấy gần gũi và thân thiết với Mẹ hơn cả với Chúa. Không một vị thánh nào lại chẳng yêu mến Đức Mẹ. Ai muốn nên thánh cũng phải chạy đến nài xin để học đòi những nhân đức của Mẹ. Qua tà áo choàng xinh xắn của Mẹ, Chúa đã tuôn đổ biết bao ơn lành cho nhân gian. Nhiều phép lạ đã được Chúa nhậm lời chỉ vì đã nài xin qua trung gian của Đức Mẹ. Ít ai đã xin khấn cùng Đức Mẹ phải ra về tay không. Đứng trước tình cảnh khốn quẫn của đoàn con nơi dương gian, tấm lòng từ mẫu không thể không ra tay làm phúc.

Môn đệ Gioan đã vâng lời Chúa mà rước Mẹ về nhà mình. Ông rước Mẹ về chẳng phải để chăm sóc Mẹ cho bằng được chính Mẹ bảo ban và hướng dẫn. Hãy noi gương Gioan để rước Mẹ vào đời mình. Mẹ sẽ chăm sóc cho ta để chu toàn sứ mạng mà Chúa đã ủy thác. Chưa có ai thực lòng yêu mến Mẹ mà phải sa hỏa ngục. Chẳng ai có Mẹ trong lòng mà lại không sống đạo đức. Ta hãy phó thác toàn thân mình cho Mẹ, để qua Mẹ và nhờ Mẹ, Người sẽ dẫn ta đến với Chúa.

 Jos. Nguyễn Huy Mai, SJ

Nguồn: vietvatican.net

 

 

SỐNG LỜI CHÚA

CHÚA NHẬT XXIV THƯỜNG NIÊN

THEO BẠN, CHÚA GIÊSU LÀ AI?

Mc 8, 27 – 35

Xêdarê Philípphê được xem là miền đất dân ngoại - nơi có một trung tâm rộng lớn thờ thần Baan. Tương truyền đây là nơi “chôn rau cắt rốn” của thần Hylạp có tên là Panias – thần thiên nhiên. Vào năm 2 trước CN, chính quận vương Hêrôđê Philípphê đã xây dựng nơi đây thành địa danh linh thiêng đối với cư dân xứ này. Trên thành này, ông đã cho xây và đặt đầu tượng Xêda- hoàng đế Rôma được ông xem là vị thần, để tôn thờ. Chính tại “linh địa” dân ngoại này, một sự kiện độc nhất vô nhị xuất hiện. Đó là sự kiện một người con vô danh của dân làng Nazarét được tuyên xưng là Đấng Kitô. Sự kiện đó thế nào? Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta cùng nhau suy chiêm.

Trước khi thăm dò các môn đệ, Chúa Giêsu cũng đã phần nào biết được dư luận bàn tán về nhân thân của Người như thế nào. Thật vậy, dư luận dân chúng xem Chúa Giêsu là một Ngôn sứ. Còn vua Hêrôđê Antipa thì khẳng định Chúa Giêsu chính là Gioan Tẩy giả – người mà ông đã ra lệnh chém đầu- đã sống lại (x. Mc 6, 16). Dư luận thì như thế, còn các môn đệ thì sao? Chúng ta thấy rõ ràng các môn đệ đã không bị cuốn hút vào thông tin từ phía dư luận. Hay nói khác hơn, lần này các ông đã “khôn hơn” chứ không còn “ngu muội” nữa. Các ông đã có cách đánh giá, cách nhìn nhận sáng suốt và đúng đắn về người thầy của mình. Phêrô đã đưa ra một nhận định đầy tính quyết đoán: “Thầy là Đấng Kitô”, nghĩa là Đấng Mêsia sứ giả của Giavê Thiên Chúa.      

Khi tuyên xưng Chúa Giêsu là Đấng Kitô, có lẽ Phêrô cũng như các môn đệ chưa thật sự hiểu hết ý nghĩa của danh hiệu này. Lý do là vì, chúng ta thấy ngay sau khi Phêrô tuyên xưng, thì liền sau đó, chính ông lại là người “cản mũi kỳ đà” khi nghe Chúa Giêsu nói rằng Người sẽ phải chịu khổ hình. Như thế, đối với Phêrô, Đấng Kitô không thể như thế được. Bởi theo ông cũng như đa số dân Dothái lúc bấy giờ, Đấng Mêsia sẽ là Đấng được Giavê Thiên Chúa gìn giữ bảo vệ và Người sẽ được miễn trừ đau khổ và chết chóc. Không những thế, Phêrô và các môn đệ có thể đã hiểu danh hiệu này theo kiểu hoàn toàn thế gian. Nghĩa là danh hiệu đó gắn liền với màu sắc chính trị. Các ông mong muốn Chúa Giêsu sẽ là người có nhiệm vụ giải phóng dân tộc, giành lại nền độc lập tự chủ cho quốc gia.       

Sứ mệnh của Chúa Giêsu sẽ không bao giờ phù hợp với những suy nghĩ duy chính trị và tầm thường như Phêrô và dân Dothái đã quan niệm. Sứ mệnh của Người là chu toàn thánh ý của Chúa Cha, cứu độ nhân loại bằng hiến tế tình yêu thập giá. Điều này hoàn toàn mới lạ và khó hiểu với hầu hết dân chúng thời đó chứ không hẳn chỉ mình Phêrô. Chính vì thế, phản ứng của Phêrô, xét cho cùng cũng là điều dễ hiểu. Quả là trứng không khôn hơn vịt. Để rồi từ đây, khi lời tuyên bố cách chắc nịch của Chúa Giêsu gửi đến các môn đệ và dân chúng rằng “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo”, các ông mới dần dần hiểu rõ danh hiệu đích thực của Đấng Kitô là gì để rồi quyết dấn thân đến cùng.          

Phần chúng ta – những Kitô hữu của thời đại hôm nay, Chúa Giêsu là ai trong tâm thức tín ngưỡng của mỗi người? Rất có thể chúng ta đang vẽ một Chúa Kitô khác hẳn hoàn toàn với một Chúa Kitô là Thiên Chúa khiêm nhu và hiền hậu. Một Chúa Kitô hoàn toàn do con người tạo ra. Một Chúa Kitô quyền lực. Một Chúa Kitô đầy quyền thống trị. Một Chúa Kitô được vẽ lên do trí tưởng tượng của con người để phục vụ cho những lợi ích tầm thường của họ. Thế nên, “Chúa Giêsu là ai?” vẫn mãi là câu hỏi cần mỗi người Kitô chúng ta đi tìm lời giải đáp.   

Đối với niềm tin Kitô giáo, Chúa Giêsu luôn là một hình ảnh duy nhất không đổi thay. Đó chính là hình ảnh “Chúa Kitô hôm qua, hôm nay và mãi mãi” - là hình ảnh Thiên Chúa cứu độ duy nhất của nhân loại. Xin Chúa cho mỗi người chúng ta thấm nhuần chân lý này, ngõ hầu trong bất cứ nghịch cảnh nào của cuộc sống, chúng ta luôn tuyên xưng niềm tin của mình vào Chúa Giêsu như Phêrô đã từng tuyên xưng danh thánh Chúa giữa miền đất dân ngoại khi xưa.

 

CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN

NGƯỜI LỚN NHẤT

Mc 9, 30 - 37

Vấn đề làm lớn, làm bé vẫn là vấn đề muôn thuở của con người. Thường ở đời, con người vẫn có kuynh hướng thích làm lớn, thích ăn trên ngồi trước chứ chẳng ít có người muốn làm bé và thích ngồi ở dưới. Chúa Giêsu lại dạy người ta khác: trong Nước Thiên Chúa, người chót hết và phục vụ mọi người sẽ là người lớn nhất. Lời dạy của Chúa Giêsu và với suy nghĩ của Ngài làm cho các tông đồ lúc bấy giờ không mấy phấn khởi. Do đó, Chúa đã giới thiệu với các ông một em bé và mời gọi Giáo Hội tiên khởi hãy ân cần, nhiệt tâm đón tiếp những người cha gửi đến, xuất hiện trong khiêm tốn và nghèo hèn.   

Đức Giêsu loan báo lần thứ hai về cuộc thương khó và sống lại của Ngài. Thế nhưng Tin Mừng của thánh Máccô hôm nay cho biết, các môn đệ không hiểu, nên lấy làm lơ là, khó chịu, tệ hơn họ còn tranh luận dọc đường với nhau về việc ai sẽ làm lớn trong nước Thiên Chúa. Đây là một nét chẳng vẻ vang gì của các môn đệ, những người thân tín của Chúa, những người được Chúa tin tưởng, nhưng lại còn u tối về sứ mạng của Chúa. Ở đây, các thánh sử viết Tin Mừng ghi lại nét này để nhắc nhở nhân loại, nhắn nhủ con người rằng con người sẽ triền miên gặp khó khăn trong đời sống hoàn thiện, đời sống đạo, đời sống tâm linh bởi vì con người sẵn sàng cho đi nhưng luôn luôn muốn lấy lại chính mình. Bài đọc I của sách Khôn Ngoan gợi lên những thách thức của kẻ gian ác đối với người công chính.Mặc dù, gặp trăm ngàn thử thách, đắng cay, chống đối, phỉ báng nhưng Thiên Chúa vẫn nâng đỡ, che chở, hộ phù, an ủi người công chính. Thực tế, người công chính ám chỉ dân Israen và tiên báo về Đức Giêsu, người Con Một duy nhất và là người con chí ái yêu dấu của Thiên Chúa Cha. Nên, ai muốn theo Chúa: “phải vác thập giá mà theo Chúa, nghĩa là phải tiếp nối con đường Chúa đã đi”. Ai tranh đấu cho công bằng, lẽ phải cũng như các ngôn sứ xưa sẽ gặp phải nhiều chống đối, phỉ bang, vu khống và bị bách hại.   

Nước Thiên Chúa luôn khác với nước đời. Cơ cấu, tổ chức của nước Thiên Chúa cũng hoàn toàn khác với thế gian. Chính vì thế, trong nước trời, Thiên Chúa là Cha, Đức Giêsu là Thầy, còn mọi người đều bằng nhau, đều là anh em của nhau,đều phục vụ, yêu thương, cảm thông, quảng đại với nhau. Chúa dạy trong nước của Ngài, mọi người đều là tôi tớ của nhau, nghĩa là trung thành hầu hạ nhau cách nhưng không, vô điều kiện, không vì chức vị, danh vọng, ham hố lợi lộc tiền của nhưng tất cả đều phục vụ lẫn nhau vì có chung một Thiên Chúa là Cha. Theo Chúa trong cơ cấu của nước trời, phục vụ hoàn toàn khác với tổ chức trần gian: “Chúa đến không phải để được hầu hạ mà để hầu hạ mọi người”. Trong nước Thiên Chúa, người lớn nhất là người phục vụ nhiều nhất, hăng say, không cân đo, không tính toán. “Ai muốn làm lớn nhất hãy tự làm người rốt hết và làm đầy tớ mọi người” (Mc 9, 35). Đây quả thực là một cuộc cách mạng lớn của Đức Giêsu Kitô. Cuộc cách mạng này làm đảo lộn mọi suy nghĩ về làm lớn làm bé của các tông đồ. Người làm lớn theo quan điểm của Chúa Giêsu là người dùng đôi tay để phục vụ chứ không dùng quyền hành để cai trị.Người lớn nhất theo Đức Kitô là người dùng con tim để yêu thương chứ không dùng sức mạnh, dùng quyền bính để lãnh đạo, để thống trị. Thánh Giacôbê đã viết: “những đức tính mà những người đi phục vụ phải tập và phải có là ôn hòa, bao dung, không xét nét, không thiên vị, ba hoa, khoác lác, nhưng xây dựng sự an bình”.      

Thời nào cũng vậy có những người ham hố danh vọng, thích ăn trên ngồi trước nhưng lại có rất nhiều người luôn họa theo mẫu của Đức Giêsu Kitô: “yêu thương như Ngài và phục vụ như Ngài”. Họ luôn coi nước trời là đích đến, lấy tình thương làm thước đo và đặt sự trung tín nơi Chúa làm mục tiêu tiến bước. Những con người này coi thường cả mạng sống, hy sinh tất cả để tiếp tục tuyên tín như thánh Phêrô: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”. “Bỏ Thầy con biết theo ai vì Thầy mới có những Lời ban sự sống”. Hoặc: “Thầy biết con yêu mến Thầy”.       

Lạy Chúa Giêsu, xin ban thêm lòng tin cho chúng con để chúng con luôn biết sống khiêm tốn phục vụ trong yêu thương hiệp nhất. Amen.

 

CHÚA NHẬT XXVI THƯỜNG NIÊN

ĐỪNG NGĂN CẢN NGƯỜI TA!

Mc 9, 38 - 48

Từ khi bước theo Chúa Giêsu, đây là lần đầu tiên Gioan con ông Dêbêđê với biệt danh “con của sấm sét” lên tiếng phàn nàn về việc có những người không bước theo Thầy, nhưng lại nhân danh Thầy trừ quỷ. Quả đúng là “con của sấm sét”! Ông tỏ vẻ khó chịu vì nhận thấy có người không cùng “đảng phái”, lại công khai thực thi việc bác ái. Giáo huấn của Chúa Giêsu trước vấn đề này như thế nào? Tin mừng hôm nay giúp chúng ta hiểu thêm về giáo huấn của Chúa Giêsu trước vấn đề nhậy cảm này.       

Nhìn vào lịch sử dân Dothái, chúng ta thấy hơn 1250 năm về trước, cũng xảy ra một chuyện tương tự với chuyện của “Gioan sấm sét” hôm nay. Ngày đó, theo lệnh của Giavê Thiên Chúa, ông Môsê tập hợp 70 người trong số kỳ mục của dân, “phong chức” cho họ, để họ trở nên những cánh tay nối dài, giúp ông lãnh đạo và ban truyền giáo huấn cho dân Chúa. Thế rồi xảy ra sự việc trong dân có hai ông tên là Enđát và Mêđát không thuộc nhóm 70, thế mà vẫn công khai phát ngôn lệnh truyền của Giavê Thiên Chúa cho dân chúng! Vì thế Giôsuê liền đi “mách” với Môsê và khẩn cầu ông ra tay chận đứng ngày sự việc “điên rồ” của hai ông kia. Lần đó, Môsê đã trả lời Giôsuê: “Anh ghen giùm tôi à? Phải chi Giavê Thiên Chúa ban Thần Khí trên toàn dân của Người để họ đều là Ngôn sứ!” (x. Ds 11, 24-30). Lần này cũng thế, khi thấy việc có người nhân danh Chúa Giêsu đi làm việc phúc đức, Gioan đã ra sức ngăn cản. Có lẽ ngăn cản không xong, nên ông đem ra “đấu tố” họ, nài xin Chúa Giêsu dẹp ngay đội quân “ngoài luồng” này cho khỏi chướng tai gai mắt. “Đừng ngăn cản người ta!”, đó là câu trả lời và cũng là giáo huấn quan trọng của Chúa Giêsu không chỉ dành cho Gioan mà còn cho tất cả chúng ta.         

Lý do Chúa Giêsu đưa ra lời nhận định trên là vì “không ai lấy danh nghĩa Thầy làm phép lạ, rồi ngay sau đó lại có thể nói xấu Thầy” và “ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta”. Chỉ đơn giản vậy thôi nhưng đâu phải ai cũng hiểu đúng như vậy. Thực tế cho thấy ngay trong lòng Giáo hội, ngay trong Hội dòng vẫn còn rất nhiều hình ảnh của những “Gioan sấm sét”. Trên danh nghĩa vẫn là rao giảng danh Chúa và làm chứng cho tình yêu và sự công bình của Chúa đấy, nhưng có nơi, ông cha sở vẫn tìm mọi cách để “chém đẹp” cha phó xứ dù cha phó vẫn cố gắng hết sức để phục vụ giáo xứ và cả “phục dịch” cha sở nữa. Thế nhưng “ông kẹ” này vẫn lấy quyền bề trên – viện dẫn rằng đã được minh định trong giáo luật, để trói cha phó phục dịch cho những tư lợi thấp hèn, bất kể cha phó cũng là thành viên của hội dòng. Ông cha sở này không hiểu rằng trước khi ông là cha sở, thì ông thuộc về một Hội dòng, mà tinh thần của Hội dòng là gì nếu không phải là sống tình huynh đệ, bác ái và công bình chứ không phải vị luật và xét nét từ ly từng tý hành vi của anh em. Từ cái nhìn thiển cận này, nên cũng như “Gioan sấm sét”, ông cảm thấy rất khó chịu khi thấy cha phó sống được giáo dân yêu mến và quý trọng hơn ông. Nếu ông hiểu rằng cha phó và cả ông nữa khi nhân danh Chúa Giêsu để lo việc mục vụ không vì vinh quang cá nhân mà chỉ để làm vinh danh Chúa, thì có lẽ ông đã không “chém đẹp” cha phó, hay tìm mọi cách để “hãm bớt” lòng nhiệt thành của ngài.     

Chúng ta nói nhiều, bàn nhiều đến nạn kỳ thị tôn giáo, thế nhưng ít khi bàn đến hoặc nói đến nạn kỳ thị xảy ra ngay trong chính Giáo hội, Hội dòng và ngay môi trường giáo xứ. Thế nên, Lời Chúa hôm nay thúc giục chúng ta tự duyệt xét lại thái độ của mình trước những việc nhân danh Chúa Giêsu để phục vụ tha nhân. Chúng ta biết một khi đặt công việc phục vụ tha nhân –một việc làm hữu ích đặt trên nền tảng bác ái- dưới lăng kính ganh tỵ, xoi mói và chê bai,… vô hình trung, chúng ta tự đặt mình vào thái độ của “Gioan sấm xét” hôm nay. Đây là một thái độ ích kỷ nếu không muốn nói là thiếu bác ái và sự công bằng. Hơn ai hết, Chúa Giêsu đã cho chúng ta một mẫu gương tuyệt vời khi đối diện với những người anh em thực thi công bình bác ái. Theo đó, tất cả những ai thực thi công bình bác ái, phục vụ tha nhân đồng loại đều thuộc về Chúa Giêsu và Giáo hội của Người. Đây là giáo huấn rất quan trọng. Thế nên đừng vì những lợi lộc thấp hèn mà đánh mất giáo huấn trọng yếu này.      

“Không ai lấy danh nghĩa Thầy làm phép lạ, rồi ngay sau đó lại có thể nói xấu Thầy. Quả thật, ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta”. Xin Chúa cho mỗi người chúng ta thấm nhuần chân lý này, để trong cuộc sống, chúng ta không ngừng thực thi và cổ võ những giá trị công bình bác ái Kytô giáo không chỉ cho chúng ta mà còn cho anh em đồng loại.

 

CHÚA NHẬT XXVII THƯỜNG NIÊN

ĐIỀU CHÚA LIÊN KẾT, CHỚ KHÁ PHÂN LY

Mc 10, 2 - 12

Trên hành trình tiến về Giêrusalem, sau khi rời bỏ Caphacnaum, Chúa Giêsu cùng các môn đệ đến miền Giuđê và vùng bên kia sông Giođan. Thánh Máccô hẳn phải tinh ý lắm mới giúp cho chúng ta khám phá một điểm độc đáo trong Tin mừng của Ngài, đó là việc Chúa Giêsu đến miền Giuđa – nơi được xem là “thành đô Thiên Chúa” của người Dothái, nơi tập trung cư dân Dothái sống quanh thủ đô Giêrusalem để rồi từ chính nơi trung tâm tôn giáo này, Chúa Giêsu chạm trán với những người Pharisêu – những vị lãnh đạo về tinh thần và là thầy dạy của người Dothái với cái bẫy “gài sẵn” được giăng ra hòng đưa Chúa Giêsu vào tròng để có cớ kết án Ngài: “Thưa Thầy, chồng có được phép rẫy vợ không?”. Chúng ta hãy xem giáo huấn của Chúa Giêsu xung quanh vấn đề này như thế nào.

Trước hết, chúng ta cùng xem quan điểm của Đệ nhị luật và của người Pharisêu về vấn đề ly dị ra sao. Một khoản luật về vấn đề ly dị được lưu truyền rất lâu trong dân Dothái có từ thời Môsê và được ghi lại trong sách Đệ nhị luật với đại ý là một người đàn ông đã lấy vợ, đã ăn ở với vợ rồi nhưng vì trong quá trình chung sống, xét thấy người vợ sống không tốt với mình hoặc thấy có điều gì không hay ở nơi nàng, thì người chồng được phép viết chứng thư ly dị, trao tận tay người vợ và đuổi nàng ra khỏi nhà (x. Đnl 24, 1-4). Người Dothái căn cứ vào đây để có thể tha hồ đối xử tệ bạc với người vợ của mình. Lý do là vì… đã có luật rồi nên cứ thế mà làm!     

Đàng khác, vào thời Chúa Giêsu vẫn lưu truyền hai trường phái quan niệm khác nhau về vấn đề ly dị, một của trường phái Hillel và một của trường phái Shammai.       

Trường phái Hillel là trường phái chủ trương tự do, cấp tiến. Họ chủ trương rằng được phép rẫy vợ với bất cứ lý do nào, cho dù chỉ một việc rất nhỏ - điều này rất hay xảy ra trong gia đình- làm chướng tai gai mắt “đức ông chồng” là có thể nhận được chứng thư ly dị và bị đuổi ra khỏi nhà ngay lập tức.      

Trường phái Shammai, trái lại, chủ trương bênh vực quyền lợi của người phụ nữ đang bị xã hội của những người đàn ông thống trị. Trường phái này chỉ chấp nhận cho phép rẫy vợ trong trường hợp người vợ “mèo mỡ” hay nghi ngờ về lòng thuỷ chung.       

Dù ở trường phái nào đi nữa, chúng ta thấy thân phận người phụ nữ, người vợ trong xã hội Dothái lúc bấy giờ rất hẩm hiu. Họ có thể bị đuổi ra khỏi nhà không biết lúc nào, đôi khi chỉ vì một bóng hồng nào đó lưới qua trong trái tim của đức lang quân cũng đủ để gây cớ cho nàng mất vai trò làm vợ, làm mẹ.

Người Pharisêu rõ ràng đã có đầy đủ lý chứng về vấn đề ly dị, nên khi đưa vấn đề này trình bày với Chúa Giêsu, họ tin chắc rằng Người sẽ sập bẫy. Bởi có chọn trường phái nào thì Chúa Giêsu cũng là người hoặc theo cấp tiến hoặc theo bảo thủ đối với lề luật thánh. Và như thế ai còn có thể tin, để rồi tuôn đến học hỏi nơi Ngài nữa.      

Chúa Giêsu trả lời họ bằng một câu hỏi: “Thế ông Môsê đã dạy các ông điều gì?”. Hỏi câu hỏi này, Chúa Giêsu biết chắc rằng họ sẽ trả lời dựa vào lệnh truyền của Môsê đã được ghi trong Đệ nhị luật. Thế như đó chỉ là cái cớ để dựa vào đó, Ngài nại đến một thế lực cao trọng hơn luật Môsê để giải thích lề luật. Ở đây, Chúa Giêsu nại đến ý định ban đầu của Thiên Chúa được trích trong sách Sáng thế, đó là “Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ; vì thế người đàn ông sẽ lìa bỏ cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ trở thành một xương một thịt” (St 1, 24) để từ đó, Ngài đưa đến kết luận: “Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly”.

Như thế, người nam và người nữ phối hợp với nhau nên vợ nên chồng có một nền tảng vững chắc từ trong ý định nguyên thuỷ của Thiên Chúa. Đây là một nền tảng vững chắc nhất về hôn nhân của nhân loại. Từ nay dựa vào nền tảng này, có thể thấy được rằng hôn nhân của con người là cuộc hôn nhân mà ở đó khi đã kết hợp, người nam và người nữ sẽ trở thành “một xương một thịt”, làm thành một tế bào sống xuất phát trong tương quan tình yêu, giới tính và trách nhiệm.   

Chính vì thế, chúng ta thấy rằng việc rẫy vợ dù có tạo ra bất cứ lý do gì vẫn không huỷ bỏ ý định ban đầu của Thiên Chúa cũng như tính cánh vĩnh viễn của mối dây hôn nhân. Nguyên tắc ở đây là sự miễn chuẩn (hôn nhân) không bao giờ huỷ bỏ luật căn bản - luật phát xuất từ thánh ý Thiên Chúa. Trong một xã hội mà ở đó gia đình luôn phải đương đầu với bao nhiêu thách đố: ly dị, phá thai, đồng tính luyến ái,    

Lời Chúa hôm nay – hơn bao giờ hết- đặt ra cho mỗi người Kytô hữu chúng ta một sự lựa chọn. Vẫn biết rằng gia đình - tự bản chất - là thánh thiêng nhưng đồng thời cũng rất mỏng giòn dễ đổ vỡ nên cũng rất cần được quan tâm chăm sóc và hướng dẫn của hết mọi người. Thiết nghĩ mục vụ về gia đình ngày hôm nay đặt ra cho mỗi người chúng ta không chỉ chú trọng đến giáo lý về hôn nhân mà còn cần phải hướng dẫn cho những thanh niên thiếu nữ chuẩn bị bước vào đời sống gia đình có được một kiến thức khả dĩ bao có thể, giúp họ vững tin hơn bước vào đời sống hôn nhân và ra sức xây dựng gia đình theo giáo huấn của Chúa và Giáo hội.

Giuse Phạm Ngọc Ngôn

 

 

THẦN HỌC KINH THÁNH

AĐAM, EVA & TỘI NGUYÊN TỔ

Đám trẻ con đôi lúc phân bua với cha mẹ rằng: “Thật chẳng công bằng chút nào! Ađam và Eva ăn trái táo còn chúng ta lại nai lưng ra mà trả!”. Thật ra không phải chỉ có trẻ con mới có thái độ này. Hiểu được câu chuyện Ađam, Eva và Tội Nguyên Tổ thật sự là một thách thức đối với bất kỳ ai. Chính xác sách Sáng Thế Ký dạy gì ở đây? Trong bài này, chúng ta lược qua sách Sáng Thế Ký để hiểu giáo huấn về Tội Nguyên Tổ.

Bối cảnh rộng của câu chuyện

Khi tiếp cận với câu chuyện Ađam và Eva (St 2-3), chúng ta thường bước nhầm chân. Ta không nên xem đó như là câu chuyện kể về Ađam và Eva mà phải nhìn trong một tổng thể bao quát hơn. Thật sự, ta cần phải xem cả 11 chương đầu của sách Sáng Thế Ký. 11 chương này là toàn bộ câu chuyện về Thiên Chúa, về dân Israel và tất cả những diễn biến sau đó trong Kinh Thánh được lồng vào một bối cảnh theo cái nhìn vũ trụ quan và phổ quát. Những điều được diễn tả trong đó liên quan đến toàn thể vũ trụ và mọi người sống trong đó. Hãy cứ nhìn sơ qua:

Sau trình thuật sáng tạo (St 1, 1-2, 4), chúng ta được nghe câu chuyện về Ađam và Eva. Đây là câu chuyện đầu tiên trong 4 câu chuyện cơ bản của các chương 2 - 11: đầu tiên là câu chuyện Ađam và Eva (St 2, 4b – 3, 24); thứ đến là câu chuyện Cain và Abel (St 4, 1 - 26); thứ ba là câu chuyện Noê và nạn lụt Hồng Thuỷ (St 6, 1 – 9, 29); thứ tư là câu chuyện tháp Babel (St 11, 1-9). Nếu nhìn kỹ lưỡng hơn vào các câu chuyện này, ta sẽ thấy rằng mỗi câu chuyện đều tuân theo một dàn bài cơ bản: tội lỗi của con người được tiếp nối bằng hình phạt, nhưng lời cuối cùng trong mỗi câu chuyện luôn là ân sủng của Thiên Chúa.

Tội lỗi của con người

Rắc rối trong mỗi câu chuyện được bắt đầu với tội lỗi của con người. Ađam và Eva đã ăn trái cấm (St 2, 16-17; 3, 1-7). (Không nói rõ đó là loại trái cây gì và dường như nó vô vật thể. Ý tưởng cho rằng đó là trái táo là từ “malum” trong tiếng Latinh vừa có nghĩa là “sự dữ” vừa có nghĩa là “trái táo”)

Người nam và người nữ đã cùng nhau vi phạm lệnh truyền của Thiên Chúa. Cain cho mình có quyền trên sự sống và giết em mình là Abel (St 4, 8). Thế hệ của nạn lụt Hồng Thuỷ (St 6, 5.11) đã làm cho mặt đất đầy tràn sự đồi bại và vô luật lệ (trong ngôn ngữ Do Thái, các từ ngữ trên ở đây chỉ mọi loại bất công xã hội).

Cuối cùng, dân Shinar (ở Babylon) không nhận biết Thiên Chúa và tự xây cho mình một thành phố vĩ đại, một toà tháp vĩ đại và một danh hiệu lẫy lừng  (St 11, 4).

Trong mỗi câu chuyện trên đều nói về một tội lỗi và chỉ một tội duy nhất, tội này đã được nêu đích danh trong câu chuyện thứ nhất. Con rắn đã nói rõ tội này cho ông Ađam và bà Eva: “Ông bà sẽ trở nên giống như Thiên Chúa!” (St 3, 5). Là hữu thể nhân linh và là thụ tạo của Thiên Chúa, chúng ta đã bước qua giới hạn của thụ tạo và muốn đóng vai Thiên Chúa hơn. Chúng ta chối từ làm hình ảnh của Thiên Chúa (St 1, 26 - 28). Chúng ta luôn muốn là Số Một. Vậy thì điều gì sẽ xảy ra khi chúng ta làm điều đó?

Hình phạt

Trong mỗi câu chuyện, khi con người thử đóng vai trò của Thiên Chúa thì ngay sau đó đều nhận một hình phạt. Hình phạt đó cơ bản là cái chết đối với Ađam và Eva (St 2, 17; 3, 19). Cain phải đi lang thang một mình trên trái đất (St 4, 12). Nạn Hồng Thuỷ đến và tiêu diệt dòng giống tội lỗi và mọi sinh vật (St 7, 6-8, 14) chỉ trừ Nôê và gia quyến. Đối với câu chuyện tháp Babel, loài người bị phân tán và ngôn ngữ bị xáo trộn (St 11, 7-9). Nếu tội lỗi trong các câu chuyện đều na ná như nhau và là một thì hình phạt cũng giống nhau và là một. Nó cũng được kêu đích danh trong câu chuyện thứ nhất: “Ngày nào ngươi ăn, chắc chắn ngươi sẽ phải chết” (St 2, 17). Hình phạt là cái chết, thế nhưng chúng ta có một vấn đề ở đây. Đối với chúng ta, sự chết thường là khi ta thở hơi cuối cùng trên mặt đất này. Nhưng Kinh Thánh có một cái nhãn quan rộng lớn hơn: Cái Chết đó là sự phá huỷ và sụp đổ mọi mối liên hệ của chúng ta trên mọi bình diện. Cái Chết không chỉ là lúc chấm dứt ở cuối đời mà là cả một sự đổ vỡ nói chung có ảnh hưởng trên mọi đời sống của chúng ta trên mọi bình diện.

Cách hiểu này có thể giúp chúng ta giải quyết sự khó khăn trong câu chuyện Ađam và Eva. Họ được căn dặn rằng bất cứ khi nào họ ăn trái cây thì họ sẽ chết ngay lập tức (St 2, 17). Họ đã ăn vậy mà vẫn sống nhăn, Ađam thọ đến 930 tuổi! (St 5, 5). Điều gì đã xảy ra ở đây? Thật sự ngay sau khi ăn, họ đã chết. Tiến trình sự chết đã bắt đầu. Họ nhận ra mình trần truồng và hổ thẹn (St 3, 7); họ trốn tránh Thiên Chúa (St 3, 8); họ biện luận và đổ lỗi cho nhau (St 3, 9-13). Mối liên hệ hài hoà giữa người nam và người nữ bị phá vỡ; mối liên hệ đó kết thúc trong sự quy phục của Eva đối với chồng mình (St 3, 16). Sự quy phục này không phải là ý định của Thiên Chúa nhưng là hậu quả của tội. Thế nhưng cứ nhân danh Kinh Thánh để vĩnh cửu hoá sự quy phục này thì chắc chắn đó là chuyện bôi bác!

 Thêm vào đó, mối liên hệ với muôn thú mà đại diện là con rắn cũng đã bị nguyền rủa (St 3, 14), mối tương quan với trái đất cũng vậy, phải vất vả lắm (St 3, 17) nó mới đem lại sự sống (mùa màng). Với tội lỗi, mọi tương quan của chúng ta – với Thiên Chúa, với chính mình, với người khác, với thế giới thiên nhiên – tất cả đều đổ vỡ. Lời nguyền là sức mạnh của sự chết; sự chúc phúc là sức mạnh của sự sống.

Trong những câu chuyện khác, sự chết được trình bày dưới những cách thế khác nhau. Cái chết đầu tiên được ghi nhận trong Kinh Thánh là của Abel, đây không phải là cái chết “tự nhiên” lúc cuối cuộc đời mà là một cuộc giết người, một cái chết của sự ác đầy tội lỗi. Vì Cain không thể sống hoà hợp với em mình, ông phải lang thang một mình, bị tách lìa, sống ngoài cộng đồng (St 4, 12). Sự bất công của con người (St 6, 11) vào những ngày trước nạn lụt đã phá vỡ trật tự xã hội. Cũng thế, trật tự vũ trụ đã suy tàn và trở về với sự hỗn độn (chaos) mà nó đã từng có trước kia. Cũng vậy, với cái nhìn thâm sâu, câu chuyện tháp Babel nhìn nhận rằng sự phân tán con người đi khắp nơi và họ không có khả năng thông hiểu lẫn nhau thì đó chẳng khác nào là biểu hiện của sự đổ vỡ, của cái chết.

Cần phải lưu ý đến một khía cạnh nữa của hình phạt sự chết này. Mặc dù Thiên Chúa được miêu tả là vị quan án và ra án phạt, thế nhưng hình phạt không mang tính độc đoán hoặc bị áp đặt từ bên ngoài. Hình phạt xuất phát và biểu lộ bản tính nội tại của tội. Loài người chúng ta được dựng nên do lời ban sự sống của Thiên Chúa và thở hơi thở của Thiên Chúa (St 2, 7). Từ chối Thiên Chúa là quay lưng lại với nguồn sự sống của chúng ta; là vươn mình ra bên ngoài và tự cắt đứt nguồn cung cấp không khí của chính chúng ta.

Cắt đi nguồn sự sống có nghĩa gì khác đâu ngoài cái chết? Vì chúng ta phá vỡ mối tương quan với Thiên Chúa là nguồn sự sống nên mọi mối tương quan khác bắt đầu tan rã. Sự chết không phải là hình phạt độc đoán dành cho tội lỗi; nó là một cách diễn tả, hay theo một nghĩa nào đó nó là một “bí tích” (một dấu hiệu bề ngoài diễn tả thực tại thiêng liêng bên trong) của những gì mà tội lỗi thực sự là. Việc chúng ta từ chối sự sống thì đồng thời đó cũng là tự sát và sát nhân! Hơi thở cuối cùng của chúng ta chỉ là bước cuối cùng mà thôi!

Dấu hiệu của ân sủng

Thiên Chúa sáng tạo nên vũ trụ hài hoà và đầy sự sống. Qua việc từ chối hình ảnh mình, chúng ta mang đến sự chết và đổ vỡ. Ai sẽ nói lên lời cuối cùng đây? Mỗi câu chuyện đều để lại cho chúng ta một niềm tin chắc chắn: Thiên Chúa luôn mong muốn sự sống và sự chúc phúc luôn thắng thế.

Ngay sau bản án chết, Eva được gọi là “Mẹ của chúng sinh” (St 3, 20) và Thiên Chúa đã làm ra quần áo để che đậy sự xấu hổ của ông bà Ađam và Eva (St 3, 21). Cain sợ bị giết nên Thiên Chúa đã ghi dấu trên ông (một hình xăm của bộ lạc?) như một dấu hiệu chăm sóc và bảo vệ (St 4, 15). Noê người công chính, gia đình ông và một số thú vật sống sót qua nạn lụt để trở nên nguồn sống mới trên mặt đất – Thiên Chúa hứa sẽ không huỷ hoại trái đất (St 8, 21-22). Giai đoạn tháp Babel được tiếp nối bằng lời kêu gọi Abram, đánh dấu bước tiếp theo trong một tiến trình bắt đầu mới. Thiên Chúa vẫn luôn mong muốn sự sống và chúc phúc cho mọi tạo vật: “Trong ngươi [Abram], mọi dân tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc” (St 12, 3).

Tội nguyên tổ là gì?

Tất cả những điều này có liên quan gì đến tội nguyên tổ? Ngay từ đầu, chúng ta cần phải đặt câu hỏi cơ bản: tội nguyên tổ nghĩa là gì? Từ ngữ “tội nguyên tổ” (peccatum originale) do Thánh Augustinô (353-430) đặt ra, và cách giải thích của ngài về vấn đề này dường như đã thống trị cả thế giới Kitô giáo Latinh của Tây phương. Augustinô phân biệt hai khía cạnh của Tội Nguyên Tổ, Tội Nguyên Tổ “phát sinh” (peccatum originale originans) và Tội Nguyên Tổ “bị phát sinh” (peccatum originale originatum).

Tội nguyên tổ “bị phát sinh” (originatum) là tình trạng cụ thể của kiếp người ngay khi mỗi người chúng ta chào đời. Mỗi người chúng ta được sinh ra trong thế giới đã bị hư hoại; nó hiện diện ngay lúc ta chào đời và chúng ta bước vào đó. Nó là sự hiện hữu của chúng ta ở đây và ngay lúc này. Đây là cách hiểu hiện sinh, thuộc hiện tại.

Tội nguyên tổ “phát sinh” (originans) là tội cụ thể của cặp cha mẹ đầu tiên trong lịch sử, Ađam và Eva. Ngược dòng lên đến thời nguyên thuỷ, cặp cha mẹ đầu tiên này đã phạm tội và làm mọi sự chuyển động theo. Tội lỗi của họ đã truyền sang cho mọi thế hệ tương lai. Đây là cách hiểu lịch sử, thuộc về quá khứ. Nhưng đó có phải là điều mà sách Sáng Thế Ký nói không?

Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo giải thích: “Để nhận ra ý định của các tác giả linh thánh phải chú ý đến các điều kiện về thời đại và văn hoá của các ngài, các “loại văn” được sử dụng vào thời đó, những cách cảm nhận, nói năng và tường thuật thông thường của thời đại đó” (số 110).

Áp dụng nguyên tắc này, các học giả Kinh Thánh ngày nay đã có cái nhìn mới về câu chuyện này. Hiện nay chúng tôi nhận ra rõ ràng rằng câu chuyện Ađam và Eva có vẻ giống với một dụ ngôn hơn. Sự thật của câu chuyện nằm trong sứ điệp về tội lỗi hơn là câu chuyện lịch sử.

Tổng thể trình thuật của sách Sáng Thế chương 2 - 11 phản ảnh “câu chuyện sáng tạo – nạn lụt” rất phổ biến ở miền Cận Đông; chúng ta đã biết có vài câu chuyện tương tự như thế ở vùng Mêsôpôtamie. Các tác giả Kinh Thánh đã dùng câu chuyện quen thuộc (đối với họ) này để giảng dạy nhãn quan của riêng mình về Thiên Chúa, về thế giới và con người. Nói cách khác, đọc câu chuyện Ađam và Eva như một trình thuật lịch sử là hiểu sai bản văn. Giống như một dụ ngôn, câu chuyện muốn nói lên một chân lý cao sâu hơn.

Vậy là tầm quan trọng của câu chuyện bị giảm thiểu sao? Hoàn toàn ngược lại! Thật sự câu chuyện muốn nói về nguồn gốc của tội lỗi. Nguồn gốc của sự hư hoại, cái tồn tại “chứa đầy chết chóc” nằm trong nỗ lực của con người muốn đóng vai trò Thiên Chúa. Chúng ta xâm phạm giới hạn của thụ tạo và lãnh nhận hậu quả.

Thực ra, không phải chỉ có câu chuyện Ađam và Eva là nói về Tội Nguyên Tổ mà toàn bộ các câu chuyện trong sách Sáng Thế ký chương 2 - 11. Theo cách của riêng mình, mỗi một câu chuyện bàn luận về một góc cạnh của tình trạng tội lỗi hiện diện ngay cội nguồn của chúng ta. Gần đây, các nghiên cứu thần học về Tội Nguyên Tổ có khuynh hướng theo sát với giáo huấn của sách Sáng Thế Ký: đó là nói về tình trạng cụ thể của xã hội và kiếp nhân sinh hơn là một loại hư hỏng hay vết nhơ nào đó được lưu truyền theo sinh học qua suốt dòng lịch sử nhân loại. Chính xác hơn, các nghiên cứu muốn nói về Tội Nguyên Tổ “bị phát sinh” (peccatum originale originatum).

Vậy thì có một Ađam và Eva lịch sử không? Có Cain và Abel không? Noê và thế hệ của nạn lụt Hồng Thuỷ? Những người xây dựng tháp Babel? Không, không có theo nghĩa mặt chữ hay nghĩa đen. Những câu chuyện này được sáng tác bằng ngôn ngữ hình tượng, không chứa đựng bất cứ thông tin nào về lịch sử.

Nhưng chúng ta có thể hỏi cách khác: Có Ađam và Eva không? Cain và Abel? Noê và thế hệ của nạn lụt? Những người xây Tháp Babel? Câu trả lời là Có.

Vậy thì Ađam và Eva ở đâu? Câu trả lời là: nếu nhìn vào trong gương, chúng ta sẽ nhìn thấy họ. Chúng ta là Ađam, chúng ta là Eva; chúng ta là Cain và Abel; chúng ta là thế hệ của nạn lụt Hồng Thuỷ đã gieo vãi sự bất công trên khắp mặt đất; chúng ta không nhận biết Thiên Chúa và xây những ngọn tháp để làm hiển danh mình. Người nam và người nữ trong sách Sáng Thế chương 2 - 3, cũng như các nhân vật khác trong những câu chuyện đầu tiên, đã đại diện cho mỗi người chúng ta. Những câu chuyện ấy là những câu chuyện mẫu, có tính biểu tượng, nói về cách cư xử của con người khi đối mặt với sự cám dỗ chứ không phải là những bài học về sinh học hay lịch sử. Kinh Thánh là cuốn sách dạy về tôn giáo chứ không phải khoa học hay lịch sử!

Các câu chuyện đầu tiên này bàn luận về những cấu trúc cơ bản của hiện hữu nhân sinh trong thế giới và trước mặt Thiên Chúa. Đây không phải là những cánh cửa ăn thông với đường hầm của lịch sử mà là những tấm gương phản chiếu chính gương mặt của chúng ta. Khi ta vượt qua giới hạn của thụ tạo, khi ta từ chối làm hình ảnh của Thiên Chúa và cố đóng vai trò của Thiên Chúa, ngay lúc bây giờ hay vào thời xa lơ xa lắc nào đó, là chúng ta mang đến “cái chết” (theo nghĩa phong phú của Kinh Thánh) và sự đổ vỡ vào trong thế giới. Tội Nguyên Tổ là một trong những cách dễ hiểu nhất. Hãy xem các tin thời sự hằng ngày! Hệ quả của Tội Nguyên Tổ vẫn còn quanh đây. Chúng ta ngập chìm trong đó!

Sách Sáng Thế Ký giảng dạy chân lý. Những câu chuyện này là nói về chúng ta và về tác hại mà chúng ta đã làm cho chính mình, cho người khác và cho thụ tạo tốt đẹp của Thiên Chúa khi ta quên mình là ai và khi quay lưng lại với Thiên Chúa mà con người chúng ta được tạo nên theo hình ảnh Ngài. Bất cứ khi nào chúng ta đóng vai trò của Thiên Chúa, hệ quả sẽ là sự tàn phá. Vì đây là hiện trạng của chúng ta, nên xin Chúa hãy cứu giúp chúng con! Và hẳn nhiên, đó là phần còn lại của câu chuyện.

Tác giả:   Lm. Michael D. Guinan, O.F.M.

Giáo sư Cựu Ước và ngôn ngữ Sêmít

Chuyển ngư:õ Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính

Nguồn : Gpquinhon.org