[1] ĐGH Gioan-Phaolô II, Tông huấn “Giáo Hội tại Á Châu” (Ecclesia in Asia), Bản dịch Việt ngữ : Lm. Phêrô Nguyễn Quang Sách, số 6 : “Á Châu cũng là chiếc nôi của các tôn giáo lớn trên thế giới -Do Thái Giáo, Kitô Giáo, Hồi Giáo và Ấn Giáo. Đó là nơi phát sinh nhiều truyền thống thiêng liêng khác như Phật Giáo, Lão Giáo, Khổng Giáo, Zoroastrianism, Jainism (Ấn Độ), giáo phái Sikh và Thần Đạo (Nhật). Hàng triệu người cũng theo những tôn giáo truyền thống và bộ lạc, với nhiều cấp độ nghi thức và giáo thuyết. Giáo Hội giữ một niềm kính phục sâu xa nhất đối với các truyền thống này và tìm cách chân thành đối thoại với các môn sinh của truyền thống đó. Những giá trị tôn giáo họ truyền dạy, chờ được hoàn thành viên mãn trong Đức Giêsu Kitô.”.

Nguồn : http://www.simonhoadalat.com;

hoặc : https://xuanbichvietnam.wordpress.com/2009/04/15/tong-huan-giao-hoi-tai-a-chau/3/

[2] Ibid.

[3] HĐGMVN, Uỷ ban Giáo Lý Đức Tin, Công Đồng Vaticanô II (Bản dịch Việt ngữ), nxb. Tôn Giáo 2012, Tuyên ngôn về mối liên hệ của Giáo Hội với các tôn giáo ngoài Kitô giáo Giáo Hội (Nostra Aetate), số 2, tr. 742. (Viết tắt : NA)

[4] Ibid. Sắc lệnh về truyền giáo của Giáo Hội (Ad Gentes), số 7, tr. 655-656. (Viết tắt : TG)

[5] ĐGH Gioan-Phaolô II, Tông huấn “Giáo Hội tại Á Châu” (Ecclesia in Asia), Bản dịch Việt ngữ : Lm. Phêrô Nguyễn Quang Sách, số 6 : “Tất cả những điều trên chỉ cho thấy một cảm thức thiêng liêng nội tâm và sự khôn ngoan về mặt luân lý trong tâm hồn người Á Châu, và đó là cốt lõi mà xung quanh đó được xây dựng một ý thức đang lớn mạnh về thế nào "là người Á Châu". Nhận thức "là người Á Châu" này được khám phá và khẳng định cách tốt nhất không phải trong sự chạm trán và đối nghịch nhau, nhưng trong tinh thần bổ sung và hoà hợp. Trong khung cảnh bổ sung và hoà hợp này, Giáo Hội có thể loan truyền Tin Mừng qua một cách thức vừa trung thành với truyền thống của mình và vừa trung thành với tâm hồn Châu Á.”. (Nguồn : đã dẫn ở trên)

[6] John Bowker, Từ điển tôn giáo giản yếu, dịch giả : Lưu Văn Hy, hiệu đính : Chương ngọc, nxb. Tự điển bách khoa 2011, mục từ HINDUISM Ấn giáo, tr. 343.

[7] Phan Tấn Thành. “ĐỜI SỐNG TÂM LINH I” – DẪN VÀO CÁC KHOA HỌC TÔN GIÁO. NXB. Phương Đông 2015. Tr. 316. (X. Bài khảo luận của tác giả Đức Nguyên : Đạo Bà-la-môn (Ấn Độ giáo). Nguồn : https://www.daotam.info/booksv/nvhdcdvctg.htm

[8] Cũng có tài liệu chia thời kỳ nầy làm 2 : Thời Ấn giáo cổ điển (Bà-la-môn) từ thế kỷ 2 trước CN đế thời Trung cố (khoảng thế kỷ 10 sau CN) và thời kỳ Ấn giáo sùng tín (Bhakti) từ thời Trung cổ đến nay. Nguồn : http://www.nhulieuthanhkinh.com/index.php/chng-o/cac-dan-tc-va-tin-ngng/1881-n-giao.html

[9] Phúc Trung. Bài viết : Ấn giáo hay Bà la môn giáo. Nguồn : https://thuvienhoasen.org/a9418/an-giao-hay-ba-la-mon-giao-phuc-trung

[10] Phan Tấn Thành. “ĐỜI SỐNG TÂM LINH I” – DẪN VÀO CÁC KHOA HỌC TÔN GIÁO. NXB. Phương Đông 2015. Tr. 350-352.

[11] Ibid. Tr. 352-353.

[12] SĐD, tr. 740-741.

[13] Xem thêm : chuyên đề PHẬT GIÁO của tác giả Ruth S. Anderson trên trang mạng “NHU LIỆU THÁNH KINH”. Nguồn : http://www.nhulieuthanhkinh.com/index.php/chng-o/cac-dan-tc-va-tin-ngng/1945-2018-06-06-10-46-31.html; hoặc tác phẩm : PHẬT HỌC PHỔ THÔNG, QUYỂN NHỨT của Hoà thượng Thích Thiện Hoà, nxb. Tp. Hồ Chí Minh 1997. KHOÁ I, Tr. 15-18.

[14] Phan Tấn Thành. “ĐỜI SỐNG TÂM LINH I” – DẪN VÀO CÁC KHOA HỌC TÔN GIÁO. NXB. Phương Đông 2015. Tr. 318-319. (Xem thêm : Hoà thượng Thích Thiện Hoà, PHẬT HỌC PHỔ THÔNG, QUYỂN NHỨT của, nxb. Tp. Hồ Chí Minh 1997. KHOÁ I, Tr. 18-21.)

[15] Gioan-Phaolô II, BƯỚC QUA NGƯỠNG CỬA HY VỌNG, tr. 105 : “Sự “khai ngộ” do Đức Phật thể nghiệm thực sự được tóm kết trong niềm xác quyết rằng thế giới này đầy những tham-sân-si, rằng đó là nguồn mạch sự dữ và đau khổ cho con người. Để giải thoát chính mình khỏi tội ác, con người phải giải thoát chính mình khỏi thế giới này, đòi hỏi phải đoạn tuyệt với những ràng buộc nối liền chúng ta với thế giới bên ngoài – những ràng buộc hiện hữu nơi bản chất của con người chúng ta, nơi tâm thức và cả nơi ngũ quan nữa. Chúng ta càng giải thoát khỏi những ràng buộc đó nhiều, chúng ta trở thành thản nhiên trước những gì thuộc về thế giới đó, và càng tránh được đau khổ, nghĩa là tránh khỏi những sự dữ đến từ thế giới. Chúng ta có thể tiến tới gần Thiên Chúa bằng đường lối này không? Đó cũng không là vấn đề được đặt ra trong “Khai Ngộ” do Đức Phật truyền đạt. Phật giáo theo nhận định rộng rãi là một hệ thống Vô thần (không đề cập đến Thượng Đế hay Trời Đất). Chúng ta không giải thoát chính mình khỏi sự dữ nhờ chính sự Thiện đến từ Thiên Chúa; chúng ta chỉ giải thoát chính mình qua việc tách rời khỏi thế giới vô thường. Hành động tách rời hoàn toàn không phải là việc thông hiệp với Thiên Chúa, nhưng Niết Bàn chỉ là tình trạng hoàn toàn thờ ơ trước thế giới. Ơn cứu độ trên tất cả là sự giải thoát khỏi sự dữ, bằng cách hoàn toàn cách biệt với thế giới huyễn tượng chính là nguồn sự dữ. Đó chính là cao điểm của diễn trình tâm linh trong Phật giáo!”

[16] Hoà thượng Thích Thiện Hoà, PHẬT HỌC PHỔ THÔNG, QUYỂN NHỨT của, nxb. Tp. Hồ Chí Minh 1997. KHOÁ III, Tr. 10-12.

[17] Ibid. Bài thứ 10, Mục E : BÁT CHÁNH ĐẠO. Tr. 156-165.

[18] Phan Tấn Thành. “ĐỜI SỐNG TÂM LINH I” – DẪN VÀO CÁC KHOA HỌC TÔN GIÁO. NXB. Phương Đông 2015. Tr. 319-320.)

[19] SĐD (Tuyên ngôn…), số 2, tr.141

[20] Ts. Nguyễn Như Lai : “Truyền Thống Tôn Giáo Tâm Linh Xã Hội tại Việt Nam” (La Tradition Religieuse Spirituelle Sociale au Vietnam), chương VII. ÐỐI CHIẾU CÁC TÍN NGƯỠNG VÀ CÁC TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM VỚI KITÔ GIÁO (Confrontation des Croyances et Religions au Vietnam avec Christianisme), Mai Đức Vinh chuyển ngữ, tr. 487-495.

[21] Ruth S. Anderson trên trang mạng “NHU LIỆU THÁNH KINH” : KHỔNG GIÁO (Confucianism) : “Từ ngữ Confucius là một từ tiếng Trung Hoa Khổng Phu Tử , có nghĩa là “thầy Khổng”. Khổng là tên họ, đã được phiên ra hình thức chữ La Tinh thành Confucius do các giáo sĩ dòng Tên (dòng Jesuits) thời trước.”. Nguồn : http://www.nhulieuthanhkinh.com/index.php/chng-o/cac-dan-tc-va-tin-ngng/1944-2018-06-06-10-35-08.html

[22] Trang Wikipedia : Năm 771 TCN, khi Chu U Vương phế truất Thân hậu để đưa Bao Tự lên thay thế, kinh đô nhà Chu đã bị các lực lượng du mục phía đông bắc tràn vào cướp phá do sự xúi giục của Thân Hầu (cha Thân hậu). U vương bị giết và con cả là thái tử Nghi Cữu được các quý tộc chư hầu Trịnh, Tấn, Tần đưa lên làm vua, tức là Chu Bình Vương, dời đô về phía đông năm 771 TCN tới Lạc Dương, tỉnh Hà Nam hiện nay. Từ đây bắt đầu giai đoạn Đông Chu, và chỉ kết thúc khi bị nhà Tần lật đổ vào năm 256 trước Công Nguyên; trong lịch sử Trung Quốc, giai đoạn này được gọi là "Thời Xuân Thu" (771-403 TCN) và "Thời chiến quốc" (403-256 TCN).

Sự phân chia này dựa trên một bộ sử biên niên của Khổng Tử, bộ Kinh Xuân Thu. Bộ này chép sử nước Lỗ từ năm thứ nhất đời Lỗ Ấn Công (722 TCN) đến năm thứ 14 đời Lỗ Ai Công (481 TrCN), gồm 240 năm, năm 479 là năm Khổng Tử mất. Nhiều học giả thấy năm 722 và năm 480 (hoặc năm 479) không đánh dấu một biến cố lớn lao nào trong lịch sử, nên đã chia lại như sau:

- Thời Xuân Thu: 770-403 TCN, từ đời Chu Bình Vương tới cuối đời Chu Uy Liệt Vương.

- Thời Chiến Quốc: 403-221 TCN, từ đời Chu An Vương đến khi nước Tần diệt được Tề và thống nhất Trung Quốc.

Thời kỳ này của nhà Đông Chu cũng được coi là giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhất của tư tưởng và văn hoá Trung Quốc trong lịch sử. Chính trong giai đoạn cai trị này của nhà Đông Chu mà những nhà tư tưởng lớn nhất đã sáng tạo ra những quan niệm khởi đầu về triết học, đạo đức, học thuyết chính trị và văn hoá Trung Quốc.

[23] Ruth S. Anderson trên trang mạng “NHU LIỆU THÁNH KINH” : KHỔNG GIÁO (Confucianism) : Nguồn : http://www.nhulieuthanhkinh.com/index.php/chng-o/cac-dan-tc-va-tin-ngng/1944-2018-06-06-10-35-08.html

[24] Ibid. : “Câu hỏi thường được đặt ra là : “Khổng giáo có phải là một tôn giáo không?” Một số người cho rằng Khổng Tử là người sáng lập ra một trong số các tôn giáo của thế giới. Những người khác thì cho rằng ông là một người theo thuyết bất khả tri luận (agnotic), nếu không nói là một người vô thần. Sự thật có thể nằm ở đâu đó giữa hai sự cực đoan nầy. Nếu Khổng Tử đề cập đến tôn giáo, thì đó là để cho phù hợp với các nghi lễ và sự thờ phượng tổ tiên. Nhưng điều ông quan tâm nhiều hơn, đó là cách dân chúng nên hành xử thế nào trong cuộc sống thường nhật. Ông là một triết gia, ông đã dạy một hệ thống luân lý, một lý thuyết về sự cai trị, và một loạt những mục tiêu xã hội mà chúng đã có ảnh hưởng cho người Trung Hoa trong hai mươi lăm thế kỷ qua.”

[25] Ibid. (Xem thêm : Phan Tấn Thành. “ĐỜI SỐNG TÂM LINH I” – DẪN VÀO CÁC KHOA HỌC TÔN GIÁO. NXB. Phương Đông 2015. Tr. 319-320.)

[26] Lm. Mai Đức Vinh. CÁC VĂN KIỆN CẤM ĐẠO. Nguồn : Trang mạng giáo phận Đà Lạt :

http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/GiaoHoiVN/LichSu/22VaKienCamDao.htm

[27] Nguyễn Hồng Dương : Mối quan hệ giữa Nho Giáo và Công Giáo ở Việt Nam. “…Sự xuất hiện của Công Giáo ở Việt Nam ngay từ buổi đầu đã là sự kiện tôn giáo đặc thù. Đó là việc truyền bá một tôn giáo hoàn toàn xa lạ với các tôn giáo truyền thống. Chẳng những thế tôn giáo này đã không thừa nhận các tôn giáo đang hiện diện, coi tất cả là tà giáo là đạo dối. Các giáo sĩ Công Giáo dựa vào tín lý, giáo lý Công Giáo tấn công vào hệ tư tưởng Nho giáo, hệ tư tưởng trị nước thời bấy giờ. Về phía Nho giáo để bảo vệ nền tảng tư tưởng của mình các nhà Nho mà đại biểu của nó là nhà Vua, là các Nho thần, tất nhiên cũng tấn công lại một cách mạnh mẽ những tư tưởng của Công Giáo. Từ đó hình thành nên cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng mang tính học thuật”. Nguồn : Trang mạng Văn Hoá Nghệ An : http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/moi-quan-he-giua-nho-giao-va-cong-giao-o-viet-nam

[28] Alexandre de Rhodes, Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài, Tr.39-40 : “Thực ra Khổng Tử nhà hiền triết này, trong những sách ông để lại, có nhiều giáo huấn về thuần phong mỹ tục: như khi ông nói, trước hết hãy sửa mình mà muốn thế thì xét mình mỗi ngày ba lần để sửa điều lầm lỗi. Sau đó mới đem tâm trí và chuyên cần xếp đặt, điều khiển gia đình. Và sau khi đã cẩn thận chu toàn chức vụ đầu tiên này chứ không trước khi đó, thì bấy giờ mới lo dìu dắt và cai trị quốc gia. Ông còn luận về nhiều điều liên hệ tới pháp lý dân chính, về xét xử các vụ kiện và thi hành công lý, do đó các tiến sĩ Đàng Ngoài nghiên cứu kinh sách của ông một cách chuyên cần như chúng ta khảo sát hiến pháp hay bộ luật. Ông còn trình bày và phân giải những châm ngôn về chính trị và luật pháp tự nhiên. Vì thế ông không nói trái với những nguyên lí của Kitô giáo và cũng không nói những gì phải bác bỏ hay bị kẻ tin theo lên án”.

[29] Nguyễn Hồng: Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam. T1 Hiện Tại, Sài Gòn 1959, tr.57 : “Nhờ Khổng giáo, xã hội và gia đình Việt Nam đã có một tổ chức rất cao, người dân Việt Nam có những đức tính, phong tục rất đáng khâm phục nó đã giúp rất nhiều vào công cuộc truyền giáo”.

[30] Những thư chọn trong các thư chung các đấng Vicariô Apôstôlicô và Vicariô Prôvinciale về dòng ông thánh Du Mingô đã làm tự năm 1849, Quyển thứ 2. In tại Kẻ Sặt 1903, tr.63. : “Các quân tử cứ lẽ tự nhiên đã suy đến sự ấy đã kể phép nhất phu, nhất phụ trong ba giềng mối can hệ nhất trong thiên hạ quen gọi là tam cương… Ví bằng người ta cẩn thận giữ cho phải mlễ trong việc nhất phu, nhất phụ thì các việc khác liền được an”.

[31] Ts. Nguyễn Như Lai : “Truyền Thống Tôn Giáo Tâm Linh Xã Hội tại Việt Nam” (La Tradition Religieuse Spirituelle Sociale au Vietnam), chương VII. ÐỐI CHIẾU CÁC TÍN NGƯỠNG VÀ CÁC TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM VỚI KITÔ GIÁO (Confrontation des Croyances et Religions au Vietnam avec Christianisme), Mai Đức Vinh chuyển ngữ, tr. 477-481 : “…Ông Tử Cống (Tseu Kong) hỏi đức Khổng Tử: “Ví như có người thi ân bố đức cho khắp cả dân gian, lại hay cứu tế cho đại chúng, thì nên nghĩ cho người ấy ra thế nào? Có nên gọi là người nhân chăng?”. Ðức Khổng Tử đáp: “Sao chỉ gọi là người nhân thôi? Ắt gọi là bậc thánh mới xứng. Vua Nghiêu vua Thuấn cũng khó mà làm xong những việc ấy. Này, người nhân hễ muốn tự lập lấy mình thì cũng lo mà thành lập cho người; hễ muốn cho mình thông đạt, thì cũng lo làm cho người thông đạt; hễ xử với mình thế nào thì cũng xử với người xung quanh mình thế ấy. Ðó là những phương pháp phải thi hành để trở nên người nhân đức vậy” (Ch. VI,28)

[32] Ruth S. Anderson trên trang mạng “NHU LIỆU THÁNH KINH” : ĐẠO GIÁO (LÃO GIÁO – TAOISM – DAOISM)

(Confucianism) : Nguồn : http://www.nhulieuthanhkinh.com/index.php/chng-o/cac-dan-tc-va-tin-ngng/1940-2018-06-06-03-28-21.html

[33] Ibid.

[34] Ibid. : “Huyền thoại cho rằng vào khoảng cuối đời, Lão Tử chu du đến vùng núi phía tây. Nơi đây, người trông coi cửa ải, là một người Đạo giáo, đã van nài ông đừng xuất thế mà không lưu lại những tư tưởng vang danh của ông. Vị thánh hiền nầy đã biên soạn và viết ra một tập khái niệm gồm năm ngàn chữ về đạo (con đường) và quyền lực của nó. Sau khi làm điều đó, ông đã ra đi và không bao giờ còn được người ta nhìn thấy lại nữa. Sách của ông được gọi là Đạo Đức Kinh , nó không phải là một tiểu sử và nó cố để nói ra được những sự kiện từ tư tưởng kỳ dị đó. Nó gồm tám mươi mốt chương ngắn. Con số đó được chọn vì nó là bội số của ba mà người ta nghĩ rằng đó là một con số thiêng liêng. Chương đầu tiên đề cập đến Đạo như là một con đường không thể đặt tên và không thể mô tả được. Nó là ngưỡng cửa mà từ đó mười ngàn tạo vật của trái đất đã xuất hiện. Đạo được ví sánh với nước, vì nước thì mềm yếu và được chứa trong những nơi thấp hơn hết. Nhưng nó đã làm ích cho mọi vật và cuối cùng thắng hơn mọi vật.”

[35] Ibidi. : “Trang Tử, là môn đệ của Lão Tử sống ở thế kỷ thứ tư trước công nguyên, đã thêm vào các câu châm ngôn của Lão Tử, Ông biên soạn sách của mình và các sách khác vào thành một quyển sách và cố gắng thuyết phục dân chúng tiếp nhận Lão Tử thay vì Khổng Tử làm vị đạo sư chính của họ. Ông đã thêm vào cái ý niệm cho rằng các mùa và lịch sử tiến với nhau thành một cái vòng cũng như âm và dương, chúng tạo ra và hủy phá lẫn nhau. Mỗi cái kết thúc thì sẽ trở thành một sự khởi đầu mới. Trang Tử nói rằng, trong lãnh vực xã hội, có yêu thương và có thù ghét. Nhưng không có tình trạng nào lâu dài, hoặc là của sự hòa bình hoặc là của sự thù địch, hay là cách hoạt động thích hợp cho mọi sự vật. Mọi vật đều có Đạo riêng của nó và Đạo đó là thích hợp cho nó.”

[36] Theo trang bách Khoa toàn thư mở (Wikipedia) thi : Đạo Đức Kinh gồm có 81 chương với khoảng 5000 chữ Hán, chia làm 2 phần: Thượng Kinh và Hạ Kinh.

- Thượng Kinh gồm 37 chương, bắt đầu bằng câu: "Đạo khả Đạo phi thường Đạo". Thượng Kinh luận về chữ Đạo nên được gọi là Đạo Kinh.

- Hạ Kinh gồm 44 chương, bắt đầu bằng câu: "Thượng Đức bất Đức thị dĩ hữu Đức". Hạ Kinh luận về chữ Đức nên được gọi là Đức Kinh.

[37] Ruth S. Anderson trên trang mạng “NHU LIỆU THÁNH KINH” : ĐẠO GIÁO (LÃO GIÁO – TAOISM – DAOISM)

(Confucianism). Nguồn : http://www.nhulieuthanhkinh.com/index.php/chng-o/cac-dan-tc-va-tin-ngng/1940-2018-06-06-03-28-21.html

[38] Ibid.

[39] Ts. Nguyễn Như Lai : “Truyền Thống Tôn Giáo Tâm Linh Xã Hội tại Việt Nam” (La Tradition Religieuse Spirituelle Sociale au Vietnam), chương VII. ÐỐI CHIẾU CÁC TÍN NGƯỠNG VÀ CÁC TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM VỚI KITÔ GIÁO (Confrontation des Croyances et Religions au Vietnam avec Christianisme), Mai Đức Vinh chuyển ngữ, tr. 481-487

[40] Ibid.

[41] Ibid.

[42] Ruth S. Anderson trên trang mạng “NHU LIỆU THÁNH KINH” : DO THÁI GIÁO (JUDAISM). “Dòng dõi của dân Do Thái được ghi nhận từ thời của Áp-ra-ham, là người thuộc thế hệ thứ mười của dòng dõi Sem, con trai cả của Nô-ê. Do đó họ được gọi là dân Sê-mít (dân tộc của Sem). Dân tộc của Áp-ra-ham cũng được gọi là dân Hê-bơ-rơ, là một từ ngữ có lẽ đến từ dân Habiru ở phía bắc xứ Mê-sô-bô-ta-mi, nơi mà Áp-ra-ham đã sống ở đó một thời gian. Tên Y-sơ-ra-ên đến từ cháu nội của Áp ra ham là Gia Cốp, là một người sau khi vật lộn với Đức Chúa Trời đã được đổi tên thành Y-sơ-ra-ên. Vì vậy, con cháu của ông được gọi là dân Y-sơ-ra-ên. Danh hiệu Do Thái (hay Giu-đa) đến từ con trai của Gia cốp là Giu-đa. Dân tộc nầy được gọi là dân Giu-đa kể từ cuộc lưu đày qua ba-by-lôn. Tuy nhiên, được gọi là Dân của Đức Chúa Trời là điều quan trọng nhất đối với chính người Do Thái. Nguồn : http://www.nhulieuthanhkinh.com/index.php/chng-o/cac-dan-tc-va-tin-ngng/1968-2018-06-07-03-11-34.html

[43] GH 16

[44] NA 4

[45] SĐD. Nguồn : http://www.nhulieuthanhkinh.com/index.php/chng-o/cac-dan-tc-va-tin-ngng/1968-2018-06-07-03-11-34.html

[46] Bài khảo cứu : SƠ LƯỢC VỀ KINH THÁNH. Trang mạng THƯ VIỆN TIN LÀNH : “Danh từ Kinh Thánh, hay Thánh Kinh, trong tiếng Việt được dịch từ chữ Holy Bible trong tiếng Anh. Chữ bible trong tiếng Anh xuất phát từ chữ biblia trong tiếng La Tinh, hay βιβλία trong tiếng Hy Lạp. Đây là một danh từ mô tả số nhiều, trung tính, có nghĩa là “những cuốn sách.” Trong tiếng La Tinh, chữ biblia xuất phát từ chữ biblos (βιβλίον – Hy Lạp). Chữ biblos là từ ngữ chỉ phần bên trong của cây papyrus, là nguyên liệu được người Ai Cập chế biến để làm giấy; do đó chữ biblos có nghĩa là “giấy.” Vì giấy được sản xuất vào thời đó được cuộn tròn cho nên từ ngữ này còn có nghĩa là “quyển.” Về sau danh từ biblos được dùng phổ biến với nghĩa là “sách.” Đến thế kỷ thứ IV, chữ sacra được thêm vào nên từ ngữ biblia sacra có nghĩa là “những sách thánh.” Do tính nhất quán của tất cả các sách trong Thánh Kinh được nhấn mạnh nên chữ biblia sau đó đã được chuyển từ danh từ số nhiều sang danh từ số ít; vì thế ý nghĩa của chữ biblia sacra trở thành “sách thánh,” và chữ “những” không còn nữa. Trong danh từ Hán Việt, các sách tôn giáo dạy đạo lý được gọi là kinh; cho nên chữ biblia sacra khi được dịch sang tiếng Việt đã được các dịch giả gọi là Kinh Thánh.”. Nguồn :

https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=S%C6%A1_L%C6%B0%E1%BB%A3c_V%E1%BB%81_Kinh_Th%C3%A1nh

[47] Phan Tấn Thành. “ĐỜI SỐNG TÂM LINH I” – DẪN VÀO CÁC KHOA HỌC TÔN GIÁO. NXB. Phương Đông 2015. Tr. 322 : “Kitô giáo chấp nhận Sách thánh của đạo Do Thái, (gọi là Cựu ước : giao ước cũ), và thêm một phần mới gọi là Tân ước (Danh từ Anticum Testamentum – Novum Testamentum do ông Tertulianô đặt ra khoảng năm 200). Tuy nhiên Bộ Cựu ước của Kitô giáo thêm bảy tác phẩm viết bằng Hy lạp (quen gọi là bản dịch LXX) không được xếp vào quy điển Do thái : Tobia, Giuđitha, hai quyển Maccabê, Khôn ngoan, Huấn ca, Baruch. Một cách tương tự như vậy, một vài chương của sách Đaniel (chương 13-14) và Esther (14,4-16,24) viết bằng tiếng Hy lạp không có trong quy điển Do Thái.”

[48] Ibid. Tr. 324.

[49] Quy điển của hội nghị Jamnia chỉ công nhận các sách được viết bằng tiếng Híp-ri (39 cuốn) và loại bỏ 7 cuốn sách thuộc bộ sách được viết bằng tiếng Hi-lạp do 70 luật sĩ dịch sang (được gọi là Bảng 70 (LXX). Sau nầy, Công Giáo chọn 7 cuốn nầy vào số quy điển Cựu ước của Công Giáo nên, theo Công Giáo, Cựu ước có 46 cuốn.

[50] Người Do Thái gom lại thành 8 : 4 tiền ngôn sứ và 4 hậu ngôn sứ.

[51] Ruth S. Anderson trên trang mạng “NHU LIỆU THÁNH KINH” : DO THÁI GIÁO (JUDAISM).

[52] NA 4

[53] Ruth S. Anderson trên trang mạng “NHU LIỆU THÁNH KINH” : HỒI GIÁO (Islami). “Hồi giáo là một phong trào tôn giáo do tiên tri Ma-hô-mét sáng lập vào đầu thế kỷ thứ bảy sau công nguyên. Từ ngữ Hồi giáo (Islam) xuất xứ từ từ ngữ Salam của tiếng Ả-rập, có nghĩa là “đầu hàng, phục tùng, bình an và ủy thác”. Hồi giáo là đức tin đặt nơi Allah, có nghĩa là “Vị thần” (The God). Nó bao gồm mạo từ Al của chữ Ả-rập với từ ngữ Illah của chữ Ả-rập có nghĩa là “Thần” (hay Thượng Đế - God). Do đó chữ Hồi giáo (Islam) có nghĩa là “Sự bình an trọn vẹn đến từ sự hoàn toàn đầu phục Allah”. Những tín đồ Hồi giáo được gọi là người Hồi giáo (Muslims), là một danh từ dẫn xuất từ chữ Hồi giáo (Islam). Với tên gọi đó, họ chứng tỏ rằng họ đã giao phó chính mình cho một Vị Cai trị Thần thánh quản trị, họ quyết định đi theo ý muốn của Vị cai trị Thần thánh nầy trong mọi phương diện của cuộc sống. Người Hồi giáo bác bỏ danh từ người Ma-hô-mét (Muhammaidans), vì họ xem Thượng Đế là trọng tâm của đức tin mình, chớ không phải là Ma-hô-mét. Cũng như Cơ Đốc giáo, Hồi giáo có gốc rễ trong Do- Thái giáo. Nhưng không giống Cơ Đốc giáo, Hồi giáo là một tôn giáo của các tiên tri, trong đó nó nhìn nhận những người quan trọng như Nô-ê, Áp-ra-ham, Jesus và Ma-hô-mét là các tiên tri, được Thượng Đế lựa chọn và kêu gọi, nhưng vẫn là những con người thường.” Nguồn :