“Phân định ơn gọi” – Bên lề Thượng Hội Đồng Giám mục 2018

“Phân định ơn gọi”

TÓM TẮT

I. Ơn gọi. A) Ơn gọi có thể hiểu theo nhiều nghĩa. B) Sư phạm ơn gọi

II. Phân định ơn gọi. A) Phân định: những cách hiểu khác nhau (luân lý, tâm linh, ơn gọi). B) Những yếu tố cốt yếu (chủ thể, đối tượng, điều kiện). C) Ba chặng trong tiến trình phân định theo thánh Inhaxio: nhìn nhận, giải thích, lựa chọn.

Kết luận: Những móc xích của phân định: đồng hành; hoán cải.

———–

Nói đến Thượng Hội Đồng Giám mục (viết tắt THĐ) sắp họp vào tháng 10, người ta liền nghĩ tới biết bao nhiêu vấn đề được đặt ra liên quan đến mục vụ cho tuổi trẻ, nhưng có lẽ ít người để ý đến chủ đề được đặt ra cho khóa họp “Tuổi trẻ, Đức tin và Phân định ơn gọi”. Bài viết này chỉ muốn tìm hiểu ý nghĩa của thuật ngữ “phân định ơn gọi”. Đây là một ý tưởng then chốt của THĐ. Trong “Dụng cụ làm việc” (viết tắt là DCLV: Instrumentum laboris) bằng tiếng Ý, được công bố ngày 19 tháng 6 năm nay[1], thuật ngữ “phân định ơn gọi” (discernimento vocazionale) được dùng 41 lần. Nếu tách rời hai từ ra, thì “phân định” xuất hiện 84 lần như danh từ (discernimento) và 10 lần như động từ (discernere); tổng cộng là 94 lần. Đang khi đó, “ơn gọi” (vocazione) được dùng như danh từ 56 lần ở số ít (vocazione), và 8 lần ở số nhiều (vocazioni), còn tính từ (vocazionale) được dùng 78 lần (như vậy tổng cộng cả gia đình “ơn gọi” xuất hiện 144 lần). Câu hỏi được đặt ra như sau: Ơn gọi là gì? Phân định là gì? Chúng ta hãy tìm hiểu ý nghĩa của hai từ này: cả hai đều mang nghĩa loại suy, nghĩa là được hiểu theo nhiều nghĩa (vừa giống vừa khác).

I. Ơn gọi

Mỗi khi nghĩ đến “tuổi trẻ” và “ơn gọi”, chúng ta liên tưởng ngay đến việc cổ động cho các bạn trẻ hãy đáp lại tiếng Chúa gọi để đi tu (giáo sĩ và tu sĩ). Phải chăng THĐ sắp tới muốn tìm một giải pháp cho cuộc khủng hoảng ơn gọi bên Âu Mỹ ngày nay? Không phải vậy! THĐ muốn bàn chuyện rộng hơn. Ngày nay, nhiều bạn trẻ sống “không có ơn gọi”, nghĩa là không có một lý tưởng cho cuộc sống: họ sống qua ngày, buông theo số phận, hoặc khép trên chính mình (số 89).Chúng ta cần sửa lại quan niệm về ơn gọi, và tránh hai thái cực: 1) Một bên là thái độ của những người “không có ơn gọi”, sống bập bềnh trôi nổi qua ngày, chẳng có một lý tưởng nào hết; 2) Bên kia là quan niệm chật hẹp về ơn gọi, đó là chỉ giới hạn ơn gọi vào hàng ngũ linh mục hay đời sống thánh hiến.

DCLV đã dành Chương Hai trong Phần thứ hai để đào sâu vấn đề này[2], dưới tựa đề “Ơn gọi dưới ánh sáng đức tin” (số 85-105).

Ơn gọi là một thuật ngữ loại suy, áp dụng vào nhiều thực thể khác nhau (số 87):

1) Cuộc sống là một ơn gọi (Populorum progressio n. 15). Thiên Chúa đã gọi con người ra cõi hư vô đến chỗ hiện hữu. Con người được kêu gọi sống hiệp thông với Thiên Chúa; đó là hạnh phúc của con người. Con người được kêu gọi để ra khỏi chính mình, đi hiệp thông với người khác.

2) Nhờ bí tích rửa tội, người Kitô hữu được gọi “đi theo” Chúa Kitô, và trở nên đồng hình đồng dạng với Người. Người Kitô hữu cũng được kêu gọi tham gia vào sứ mạng của Hội thánh, tiếp nối sứ mạng của Đức Kitô, làm chứng cho Tin mừng trước mặt thế gian.

3) Giáo hội được ví như một thân thể, với nhiều chức năng khác nhau. Từ đó, có thể nói đến nhiều thứ ơn gọi trong Giáo hội: Ơn gọi gia đình[3]; Ơn gọi làm mục tử; Ơn gọi thánh hiến; Ơn gọi giáo dân trong những nghề nghiệp khác nhau[4] (số 101-105).

Chúng ta có thể trình bày thần học về ơn gọi vắn tắt như sau.

A. “Ơn gọi” có thể hiểu theo nhiều nghĩa và gồm nhiều chiều kích.

1/ Nghĩa bình dân: nói về năng khiếu về một lãnh vực nào đó (ơn gọi thi sĩ, nhạc sĩ; doanh nhân), quen gọi là “thiên tài”.

2/ Nghĩa triết học: con người, một hữu thể có ý thức và tự do, có một dự án cho cuộc đời, mà mình quyết tâm thực hiện.

3/ Nghĩa thần học: con người được nhìn trong tương quan với Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa kêu gọi ta. Chúa gọi ta như thế nào ? Có thể nhìn theo ba cấp độ, trong tương quan với Thiên Chúa Ba Ngôi : con người xét như là một thụ tạo nhân linh, xét như tín hữu Kitô, xét như phần tử Hội thánh.

a) Trong tương quan với Chúa Cha. Theo một nghĩa rộng nhất, “Chúa gọi” có nghĩa Chúa ban sự hiện hữu cho vạn vật và cách riêng là cho con người. Việc tạo dựng được quan niệm như hậu quả của tiếng Chúa gọi: Chúa gọi con người từ chỗ hư vô sang hiện hữu. Tiến thêm một bước nữa, “Chúa gọi” có nghĩa là Chúa mời gọi con người đến thông phần hạnh phúc với Ngài. Con người được dựng nên “theo hình ảnh của Thiên Chúa”, để chia sẻ hạnh phúc làm nghĩa tử. Ơn gọi này cũng hướng tới tất cả mọi nhân sinh, được thánh Phaolô diễn tả trong thư gửi Êphêsô như là “Thiên Chúa tuyển chọn ta trong Đức Kitô trước khi tạo thành vũ trụ, để ta được trở nên tinh tuyền thánh thiện” (Ep 1,4; xc. 1Cr 1,2)[5].

b) Trong tương quan với Chúa Kitô. Riêng đối với các Kitô hữu, qua bí tích rửa tội, Người gọi ta trở nên đồng hình đồng dạng với Người, và chia sẻ vào sứ mạng mang Tin mừng cứu độ cho nhân loại[6].

c) Trong tương quan với Chúa Thánh Thần. Thánh Linh soi sáng cho ta biết quảng đại đáp trả tiếng gọi của Chúa. Hơn thế nữa, Ngài còn ban phát những ân huệ khác nhau để phục vụ cộng đồng. Đó là nguồn gốc của « nhiều ơn gọi » khác nhau giữa các Kitô hữu. Vì thế các tác giả tu đức thời nay phân biệt giữa « ơn gọi ở số ít » và « ơn gọi ở số nhiều » (vocazione e vocazioni). Tất cả mọi người Kitô hữu đều có một ơn gọi (xét cách phổ quát) ; mỗi người Kitô hữu được kêu gọi sống nên thánh và phục vụ Nước Trời theo khả năng của mình (xét cách đặc thù).

4/ Là Kitô hữu, các ơn gọi mang chiều kích Hội thánh : chúng ta lãnh nhận ơn gọi qua Hội thánh, trong Hội thánh và để phục vụ Hội thánh. Ơn gọi mời gọi chúng ta sống thông hiệp với các anh chị em khác, để mưu cầu ích chung cho cộng đồng.

B. Sư phạm ơn gọi

Trên đây là khái niệm « tĩnh » về ơn gọi. Trên thực tế, việc khám phá và đáp lại tiếng gọi của Chúa là một tiến trình lâu dài mang tính năng động. Không dễ gì nhận ra tiếng gọi của Chúa, giữa bao nhiêu tiếng ồn ào của cuộc sống. Kế đó, cần phải can đảm đáp lại, và kiên trì dấn thân. Ơn gọi cần thời gian để tăng trưởng. Dù sao, khám phá ơn gọi là khám phá ra ý nghĩa trọn vẹn của cuộc đời. Đó là một « kế hoạch thành tựu » trong đó không chỉ có nỗ lực của ta mà nhất là còn có ơn thánh của Chúa.

Văn kiện “Những ơn gọi mới cho một châu Âu mới”, của Hội nghị về Ơn gọi tại châu Âu (Roma 5-10/5/1997), ở số 13 đã đưa ra một định nghĩa khá súc tích về ơn gọi như sau: Ơn gọi là ý tưởng quan phòng của Thiên Chúa đối với mỗi thụ tạo; là ý tưởng và dự án của Ngài, tựa như một giấc mơ trong trái tim của Ngài, bởi vì Ngài tha thiết yêu mến thụ tạo. Chúa Cha yêu thương mỗi người một cách đặc thù.

II. Phân định ơn gọi

DCLV dành chương ba trong phần thứ hai cho chủ đề này (từ số 106 đến số 119). Nhiều bạn trẻ không hiểu ý nghĩa của thuật ngữ này. Văn kiện nhìn nhận rằng từ “phân định” có thể được hiểu theo nhiều nghĩa (số 108): nhận ra ý Chúa qua các dấu chỉ thời đại; phân định luân lý, phân định tâm linh. Đối với các bạn trẻ, “phân định” có nghĩa là khám phá điều mà mình có thể đóng góp cho đời. Đối với bạn trẻ Kitô hữu, đó là phân định tiếng Chúa kêu mời tham gia vào công cuộc phục vụ Giáo hội và xã hội. Sự phân định là một tiến trình, kéo dài kể cả sau khi đã quyết định rồi.

Thực ra “phân định” là một từ ngữ chuyên môn của trường phái linh đạo thánh Inhaxiô Loyola[7]. Ra như đức đương kim giáo hoàng muốn phổ biết học thuyết này cho toàn thể Giáo hội. Chỉ cần trưng dẫn một thống kê nho nhỏ thì đủ thấy điều đó. Tông huấn Evangelii gaudium (văn kiện ra mắt của ngài) sử dụng 10 lần (các số 16; 30; 33; 43; 45; 50; 154; 166; 179; 181); con số nhảy vọt lên tới 40 lần trong tông huấn Amoris Laetitia (đặc biệt là trong chương Tám)[8].

Chúng tôi muốn dựa theo cha Maurizio Costa S.J., Thư ký đặc biệt của Thượng hội đồng giám mục sắp tới, để trình bày vài khái niệm về “phân định”[9]. Đề tài này có thể bàn dưới hai khía cạnh: Phân định là gì? Làm cách nào để phân dịnh? Trong khuôn khổ bài này, chúng tôi chỉ dừng lại ở khía cạnh thứ nhất và đủ mệt rồi; xin dành khía cạnh thứ hai cho những người chuyên môn hơn! Trong phần “khái niệm”, trước tiên, cần lưu ý đến những cách hiểu khác nhau của phân định (nói chung); kế đó, chúng ta sẽ dừng lại cách riêng ở các thuật ngữ “phân định tâm linh” hoặc “phân định ơn gọi”.

A. Phân định: những cách hiểu khác nhau

Phân định (hoặc “biện phân”) dùng để dịch discernere trong tiếng Latinh. Động từ này gồm bởi “dis” có nghĩa là tách, và “cernere” có nghĩa là chọn[10]. Một cách khái quát, phân định là “phán đoán” về phẩm chất của sự vật, “phân biệt và tách rời” điều tốt và điều xấu, điều lợi và điều hại, điều chính và điều phụ. Sự phân định xảy ra khá thường xuyên trong đời sống hằng ngày nhưng đặc biệt là trong những hoàn cảnh quan trọng của cá nhân hoặc cộng đồng, khi phải chọn lựa, quyết định một hướng đi lâu dài.

Ở đây, chúng ta giới hạn vào một lãnh vực cụ thể là: Làm thế nào nhận ra ý Chúa muốn? (x.Rm 12,2). Điều này không chỉ có nghĩa là chọn lựa điều tốt và tránh bỏ tội lỗi, nhưng còn là biết nhận ra điều gì đẹp lòng Chúa (x.Ep 5,10), điều gì tốt hơn (x.Pl 1,9-10; 1 Tx 5,21-22). Dĩ nhiên, để nhận ra ý Chúa, ta cần được thần khí Chúa hướng dẫn! Khổ nỗi là Tân ước cũng cho ta biết rằng bên cạnh “thần khí tốt” còn có “thần khí xấu” (1Ga 4,1), cũng tựa như bên cạnh ngôn sứ thật có ngôn sứ giả, như lời Chúa Giêsu đã cảnh báo (Mt 7,15). Chính vì thế mà cần có sự phân định thần khí (1Tx 5,19-21). Trong các ngôn ngữ châu Âu, “discernimento spirituale” vừa có thể hiểu là “phân định thuộc lãnh vực tâm linh” (khác với sự phân định trong các lãnh vực tự nhiên) hoặc là “phân định thần khí”, xét vì liên quan đến việc phân định thần khí tốt và thần khí xấu, cũng như xét vì được thực hiện dưới sự hướng dẫn của Thần khí (Thánh Linh). Sự phân định này được thánh Phaolô coi như là một charisma trong Giáo hội (1Cr 12,10).

Sau khi đã giới hạn đối tượng nghiên cứu vào “phân định tâm linh” theo nhãn quan Kitô giáo, ta còn thấy nó mang nhiều thể loại (phân định luân lý, phân định ơn gọi), hoặc được hiểu như hành động hoặc thái độ.

1/ Phân định tâm linh (discernimento spirituale) và phân định luân lý (discernimento morale)

Nói chung, phân định luân lý rộng hơn phân định tâm linh. Phân định luân lý là phân biệt điều tốt với điều xấu, dựa trên những nguyên tắc tổng quát của luân lý. Sự phân định này cũng quen được gọi là “phân định của lương tâm” (x. Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo số 1777-1782).

Phân định tâm linh hẹp hơn, bởi vì nó chỉ liên quan đến sự lựa chọn giữa điều tốt và điều tốt hơn (hoàn hảo), và mang tính cá biệt: tìm hiểu ý muốn Chúa qua sự thúc đẩy trong tâm hồn.

2/ Phân định tâm linh (discernimento spirituale)và phân định ơn gọi (discernimento vocazionale)

Dưới một phương diện nào đó, cả hai thuật ngữ có thể coi như đồng nghĩa, bởi vì “phân định tâm linh” là tìm hiểu tiếng Chúa gọi tôi. Tuy nhiên, như đã nói trên đây, “ơn gọi” có thể hiểu theo nghĩa tổng quát (chung cho tất cả mọi Kitô hữu) hay theo nghĩa chuyên biệt (chọn lựa một hình thức cụ thể để phục vụ Giáo hội). Nếu hiểu theo nghĩa chuyên biệt như vậy, thì “phân định ơn gọi” hẹp nghĩa hơn.

3/ “Phân định” xét như một khả năng hay một tác động

Sự phân định còn có thể hiểu như một khả năng (habitus), một thái độ liên tục, luôn luôn sẵn sàng tìm ý Chúa; hoặc như một quyết định (actus) chọn lựa dứt khoát. Người ta thường hiểu phân định theo nghĩa “quyết định” chọn lựa một hướng đi, để đáp trả tiếng Chúa gọi. Tuy nhiên, “thái độ sẵn sàng” giúp cho ta đi tới quyết định cách sáng suốt hơn. Mặt khác, cuộc đối thoại với Thiên Chúa mang tính cách liên tục: cho dù đã một lần thưa “xin vâng” cách dứt khoát, nhưng sự đáp trả có thể được kiện toàn, không những để trung thành với ơn gọi mà còn để trở nên luôn luôn sâu đậm và mới mẻ hơn.