B. Những yếu tố cốt yếu của phân định

Dù được hiểu như “thái độ” hoặc như “tác động”, sự phân định cũng bao gồm vài yếu tố cốt yếu, tóm vào ba điểm chính: chủ thể, đối tượng, điều kiện.

1/ Chủ thể: con người và Thánh Linh.

Con người có thể hiểu như là cá nhân hay cộng đoàn (phân định cộng đoàn). Cộng đoàn có thể hiểu như là một nhóm hoặc một cộng đồng Giáo hội, thậm chỉ toàn thể Giáo Hội (chẳng hạn như trong trường hợp một Công đồng, một Thượng hội đồng Giám mục), đó là chưa muốn nói đến “cảm thức đức tin” (sensus fidei)của toàn thể Dân Chúa[11].

Tuy rằng tất cả mọi người đều nhận được ơn gọi của Chúa, nhưng không phải ai ai cũng có khả năng phân định tiếng Chúa. Nhiều lúc ta cần đến một vị “đồng hành”. Một số người có năng khiếu để thực hành sự phân định, hoặc do tập luyện hoặc do Chúa ban cho như một charisma để phục vụ cộng đồng. Dù sao, trên hết tất cả mọi yếu tố nhân loại, vai trò chủ động của đời sống tâm linh vẫn là Thánh Linh: chính Ngài dẫn dắt Hội thánh trên đường thánh thiện, thôi thúc các tín hữu tiến tới sự trọn lành, ban ơn soi sáng và sức mạnh để đáp lại tiếng gọi[12].

2/ Nội dung (đối tượng)

Đối tượng phân định rất rộng lớn, bởi vì tùy thuộc vào những hoàn cảnh khác nhau của các cá nhân hay của cộng đồng: phân định điều gì là tốt hoặc xấu ; điều gì hợp thời hoặc lỗi thời ; điều gì bất biến và điều cần thay đổi ; điều gì chính yếu và điều gì thứ yếu, vv.

Từ công đồng Vaticano II, thuật ngữ “dấu chỉ thời đại” đã dần dần trở nên quen thuộc: Thiên Chúa nói qua các biến cố lịch sử; nhưng không phải tất cả các biến cố lịch sử đều là tiếng nói của Chúa.

Cách riêng, khi nói đến “phân định ơn gọi”, chúng ta biết rằng ơn gọi có thể hiểu về vài hình thức phục vụ cụ thể trong Giáo hội, nhưng cũng có thể hiểu về kế hoạch của Thiên Chúa dành cho mỗi người, không ai giống ai. Tuy rằng chỉ có một “ơn gọi linh mục”, nhưng mỗi linh mục sống ơn gọi đó trong những hoàn cảnh đặc thù mà Chúa quan phòng đã sắp đặt cho từng cá nhân.

3/ Điều kiện

Điều kiện phân định có thể hiểu như là phương pháp thực hành sự phân định. Tuy nhiên, ở đây chúng tôi không muốn đi sâu vào đề tài ấy, mà chỉ giới hạn vào vài điều kiện căn bản của sự phân định tâm linh Kitô giáo[13].

Chúng ta đang bàn về “phân định thần khí”, vì thế điều kiện cơ bản là tư thế sẵn sàng để tuân hành ý Chúa trong hoàn cảnh cụ thể này, dưới sự soi sáng của Thánh Linh. Đành rằng Thần khí thổi đâu tùy ý, nhưng đường lối của Ngài nằm trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa, được mặc khải qua Chúa Kitô. Nói cách khác, việc tìm hiểu ý muốn của Thiên Chúa cần dựa trên một nền tảng khách quan, đó là: Lời Chúa được truyền lại qua Kinh thánh và giáo huấn của Giáo hội. Đây là những nguồn quy chiếu cho tất cả mọi sự phân định[14].

C. Những chặng đường

Trong tiến trình phân định cá nhân (chứ không nói đến phân định cộng đoàn), truyền thống Ý-nhã thường nói đến ba chặng, được diễn tả qua ba động từ, tương ứng với ba quan năng tinh thần:

– Tiến trình ba chặng được diễn tả qua những “bộ ba”: cảm nhận / phán đoán / lựa chọn. DCLV diễn tả qua ba động từ: nhìn nhận / giải thích / lựa chọn, làm thành cấu trúc cho toàn thể văn kiện (số 3), và được nhắc lại ở số 112.

– Ba tác động ấy được quy gán cho ba quan năng: ký ức / trí tuệ / ý chí.

Chúng ta hãy rảo qua các chặng ấy.

1/ Cảm nhận. Đây là chặng ý thức tất cả những gì xảy ra bên ngoài ta / chung quanh ta / và bên trong ta. Tất cả các dữ liệu ấy được chuyển sang hiện tại nhờ Ký ức (trí nhớ). Điều quan trọng hơn cả là nhìn nhận những cảm xúc, những thúc giục nội tâm được gợi lên trong ta.

2/ Giải thích. Sau khi đã thu thập tất cả các dữ liệu nội tâm, đến lượt trí tuệ « phân định » chúng dưới ánh sáng của Tin mừng, những nhu cầu của nhân loại. Đến đây, ta cần phải vận dụng các quy tắc biện phân đã được thánh Ý-nhã phát biểu trong sách Linh Thao. Dù sao, tiêu chuẩn tối cao là mối tương quan của ta với Đức Kitô, Đấng gọi chúng ta đi theo Người để loan báo Nước Trời. Ta cần được thấm nhuần bởi những “giá trị” dựa theo Tin mừng (phục vụ thay vì được phục vụ, chia sẻ thay vì vơ vét, trọng thực chất hơn là vẻ hào nhoáng). Phân định có thể là phân biệt giữa tiếng nói của Chúa với tiếng nói của ma quỷ và thế gian.

3/ Lựa chọn. Sang chặng cuối cùng, con người sử dụng tự do của mình để lựa chọn, đáp lại tiếng gọi của Chúa bằng một quyết định rõ rệt. Nên nhắc lại là lắm khi không phải ta cần lựa chọn giữa điều tốt và điều xấu, nhưng là lựa chọn giữa hai điều tốt để đi theo điều “tốt hơn”. Dĩ nhiên, sau khi đã quyết định lựa chọn một điều nào, còn cần phải lựa chọn các phương tiện tối ưu để thi hành điều đã định.

Kết luận

Trong bài này, chúng tôi chỉ muốn tìm hiểu “khái niệm” về phân định ơn gọi (nó là cái gì: Quid sit?), chứ không thể đi sâu vào vấn đề cách thức phân định (bằng cách nào: Quomodo?), hoặc câu hỏi: làm thế nào huấn luyện việc phân định?

Ngoài ra, động từ “phân định” cũng nằm trong một chuỗi liên hoàn khác mà chúng tôi chỉ muốn gợi lên chứ không thể bàn sâu. Trên đây, chúng ta đã thấy việc phân định bao gồm ba chặng: nhìn nhận, giải thích, chọn lựa. Tuy nhiên, việc phân định mới chỉ là một chặng trên lộ trình chứ chưa phải là đích điểm. Trong phần thứ hai của DCLV, việc “phân định ơn gọi” (nói ở chương ba) còn được nối tiếp với “đồng hành” (nói ở chương bốn, từ số 120-136)[15]. Văn kiện lưu ý rằng việc “đồng hành” mang nhiều hình dạng khác nhau (số 122), và ngay cả khi chỉ giới hạn vào việc “đồng hành tâm linh” (accompagnamento spirituale), nó cũng có thể mang nhiều hình thức, (chẳng hạn như counselingcoachingmentoringtutoria). Tuy vậy, việc đồng hành tâm linh trong tiến trình phân định ơn gọi có những nét đặc trưng, mà ta không được phép lẫn lộn với các hình thức đồng hành tâm lý hoặc tâm lý trị liệu (số 124-125).

Mặt khác, phần thứ ba của DCLV liên kết “phân định” với “những con đường hoán cải mục vụ và truyền giáo”. Như đã nói trên đây, “phân định” có thể hiểu như một “hành động” hay một “thái độ”. Phân định ơn gọi không chỉ diễn ra qua một hành động chớp nhoáng, nhưng kéo dài trong suốt đời, xét theo cá nhân cũng như xét theo cộng đồng Giáo hội. Việc tìm ra ý Chúa mang tính thường xuyên và năng động

Phan Tấn Thành

***************************************

Thư mục

(trích từ bài của cha Maurizio Costa)

G. Angelini, Le ragioni della scelta, Qiqajon, Magnano (Biella) 1997.

M. Costa, Direzione spirituale e discernimento, Edizioni Apostolato della Preghiera, Roma 19984; Idem, Sentire, giudicare e scegliere nello Spirito, CVX, Roma 1995.

AA.VV., Il discernimento del cristiano, oggi, FIES, Roma 1984 (soprattutto gli interventi di I. de La Potterie e F. Rossi de Gasperis);

S. Fausti, Occasione o tentazione? Arte di discernere e decidere, Àncora, Milano 1997.

E. Fortunato, Discernere con Francesco d’Assisi, Messaggero, Padova 1997.

Th. Green, Aprirsi a Dio, CVX, Roma 1990, pp. 45-55 [cap. III: La rilevanza della preghiera: il discernimento]; Idem, Il grano e la zizzania. Discernimento: punto d’incontro tra preghiera e azione, CVX, Roma 1992.

C.M. Martini e coll., Il Vangelo per la tua libertà. L’itinerario vocazionale del gruppo “Samuele”, Àncora, Milano 1991; Idem, Conoscersi, decidersi, giocarsi. Gli incontri dell’ora undecima, CVX, Roma 1993.

S. Rendina, Mozioni e discernimento negli Esercizi spirituali, in “Mozioni spirituali” e “discernimento” negli Esercizi spirituali, CIS (Appunti di Spiritualità 50), Napoli 2000, pp. 7-60; Idem, Il discernimento operativo o elezione, in L’elezione negli Esercizi spirituali, CIS (Appunti di Spiritualità 53), Napoli 2001, pp. 7-44.

M. Ruiz Jurado, Il discernimento spirituale. Teologia, storia, pratica, San Paolo, Cinisello Balsamo (Milano) 1997.

M.I. Rupnik, Il discernimento. Parte prima: verso il gusto di Dio, Lipa, Roma 2000; Idem, Il discernimento. Parte seconda: come rimanere con Cristo, Lipa, Roma 2001.

P. Schiavone, Il discernimento evangelico oggi, ESUR-CIS, Messina-Roma 1988.

J. Thomas,  Le secret des Jésuites. Les Exercices spirituels, ed. Desclée de Brouwer, Paris 1984.

Francesco, Oggi la Chiesa ha bisogno di crescere nel discernimento. Un incontro privato con alcuni gesuiti polacchi, «La Civiltà Cattolica», 2016, 3, pp. 345-349.

Để so sánh quan điểm “phân định ơn gọi” theo thánh Tôma Aquinô và thánh Inhaxiô, thiết tưởng có thể đọc bài viết của Joseph Bolin, Paths of Love: The Discernment of Vocation according to the Teaching of Aquinas, Ignatius, and Pope John Paul IIwww.pathsoflove.com/Paths-of-love-summary.pdf


[1]Tiến trình của THĐ trải qua bốn giai đoạn chính: 1) Văn phòng thư ký THĐ soạn “Tài liệu chuẩn bị” (Lineamenta) gửi đến các cơ quan giáo triều, các hội đồng giám mục, các tổ chức chuyên môn với những câu hỏi để thu thập dữ liệu. 2) Dựa trên những ý kiến này, Văn phòng thư ký THĐ soạn “Dụng cụ làm việc” (Instrumentum laboris). 3) Các nghị phụ sẽ mang tập “Dụng cụ” ấy vào phòng họp để thảo luận. 4) Sau khi bế mạc khóa họp, các nghị phụ soạn thảo danh sách các “kiến nghị” (propositiones), dựa theo đó Đức Thánh Cha sẽ ban hành Tông huấn hậu THĐ, đúc kết các ý kiến của các nghị phụ.

[2] Sau Dẫn nhập, DCLV được chia làm ba phần, dựa theo phương pháp “Xem – Xét – Làm”, nhưng được đặt tên cách khác: “nhìn nhận – giải thích – lựa chọn” trong tiến trình phân định ơn gọi. Phần thứ nhất (số 4-72): “Nhìn nhận” nghĩa là nhận ra sự hiện diện của Chúa Kitô (giống như các môn đệ Emmaus) trong những thực tại hôm nay (quen gọi là “đọc dấu chỉ thời đại”). Phần thứ hai(số 73-136): “Giải thích”, tìm hiểu ý nghĩa của ơn gọi dưới khía cạnh Kinh thánh, nhân văn, thần học, giáo hội, sư phạm, tâm linh. Phần thứ ba (số 137-211): “Lựa chọn”, biện phân và quyết định (tương đương với “làm”, sau khi đã “xem và xét”). Đối tượng của việc lựa chọn nhắm đến Giáo hội: cần một sự “hoán cải” (conversio) trong tâm trí và đổi mới lối thực hành mục vụ.

[3] Ơn gọi hôn nhân gia đình đã được nói đến ở Tông huấn Amoris Laetitia ở tựa đề của Chương Ba, và các số 57, 72, 85, 88, 211. Thuật ngữ “ơn gọi hôn nhân” có thể hiểu theo hai nghĩa: khách thể và chủ thể. 1/ Ơn gọi hôn nhân xét theo khách thể , tương đương với “kế hoạch của Thiên Chúa dành cho hôn nhân” (định chế xã hội nhằm sinh sản và dưỡng dục con cái; dấu chỉ của tình yêu hiệp thông của Thiên Chúa, dấu chỉ của tình yêu Đức Kitô đối với Hội thánh, vv). 2/ Ơn gọi hôn nhân xét theo chủ thể có nghĩa là xét về phía những người kết hôn: đương sự có khả năng đảm đương những nghĩa vụ của hôn nhân không? Hai người có tâm đồng ý hợp hay không, có khả năng chung sống với nhau hay không? vv.

[4] Trong tiếng Việt, “nghề nghiệp” do “nghệ nghiệp”. Nghệ : tài giỏi, khéo léo; nghiệp: công việc làm: của cải làm ra. Trong tiếng Pháp, profession gốc tiếng Latinh professio có nghĩa sự tuyên xưng (một công việc gì có thể dạy được; từ đó tiếng professeur). Trong tiếng Đức, nghề nghiệp Berufung có nghĩa là tiếng gọi.

[5] Hiến chế về Hội thánh của Công đồng Vaticano II nói đến “ơn gọi nên thánh”.

[6] Số 22 của Hiến chế Gaudium et Spes nói đến Đức Kitô mặc khải cho con người biết ơn gọi của mình.

[7] Thánh Inhaxiô Loyola đã đưa ra 14 nguyên tắc phân định trong tác phẩm “Linh Thao” (Tuần lễ thứ nhất: số 313-327; xem thêm các số 1-20. 169-189. 328-336. 337-370).

[8] Xem Maurizio Gronchi, “L’esercizio del discernimento: indicazioni dottrinali recenti”, in: L’Osservatore Romano 13 marzo 2017. Nên biết là trong tông huấn Gaudete et exultate, thuật ngữ discernimento được dùng 16 lần trong bản tiếng Ý, và được dùng làm tựa đề cho Chương Năm (“Chiến đấu, tỉnh thức, phân định”).

[9] M. Costa, « L’arte del discernere: premesse, criteri e regole », in: Credere Oggi, 29 (2002), 50-81.

[10] Trong lịch sử thần học, người ta còn sử dụng danh từ discretio , đặc biệt trong thuật ngữ “biện phân thần khí” (διακρίσεις πνευμάτων, discretio spirituum), được thánh Phaolo đã nói trong 1Cr 12,10; 14,29.

[11]Xem văn kiện của Ủy ban Thần học Quốc tế Sensus Fidei in the life of the Church, xuất bản năm 2014.

[12]“Đời sống tâm linh” có nghĩa là đời sống trong Thánh Linh và theo Thánh Linh. Xem Sách Giáo lý của Hội thánh Công giáo số 1699 (Ơn gọi sống trong Thánh Linh).

[13]X. DCLV số 115. Đề tài này cũng được đề cập trong Tông huấn Gaudete et exsultate số 172-175.

[14]Một thí dụ về sự “phân định Tin mừng” (discernimento evangelico) đã được ĐTC Phanxicô vạch ra trong tông huấn Evangelii gaudium, qua 8 cái KHÔNG (các số 53-60; 81-86; 93-101) và 2 cái CÓ (các số 78-80; 87-92).

[15]Trong tông huấn Amoris Laetitia, động từ “phân định” được đặt ở giữa hai động từ “đồng hành” và “hội nhập” (x. Tựa đề của Chương tám: accompagnare, discernere, integrare).