Khảo sát nội dung



Điều trên đưa chúng ta đến nội dung của phúc trình. Liệu nó có chứng minh được các lời kết án sâu rộng và gây tổn hại cho các giám mục và các nhà lãnh đạo khác của giáo hội không?

Chúng ta chỉ cần nhìn vào một giáo phận. Tôi đã chọn giáo phận Erie vì một số lý do. Khi trả lời cuộc điều tra của đại bồi thẩm đoàn, Giám mục Lawrence Persico, người đã lãnh đạo giáo phận từ năm 2012, đã ủy nhiệm một cuộc nghiên cứu độc lập về việc mình xử lý việc lạm dụng tình dục cho một nhóm của K & L Gates, một công ty luật quốc tế có trụ sở tại Pittsburgh. Đội ngũ điều tra viên và luật sư được lãnh đạo bởi một cựu công tố viên liên bang và được quyền truy cập mọi hồ sơ và nhân sự của giáo phận. Nhóm đã phỏng vấn 113 người và khảo sát hơn 100,000 tài liệu, một cuộc lục lọi sâu xa vào hồ sơ của giáo phận hơn so với cuộc lục lọi của đại bồi thẩm đoàn. Ngoài ra, giáo phận Erie được Đức cha Donald W. Trautman lãnh đạo từ năm 1990 đến 2012. Nhiều giám mục trong khoảng thời gian được phúc trình phụ trách nay đã qua đời hoặc đang lãnh đạo các giáo phận khác. Giám mục Trautman thì chưa. Là giám mục Erie trong suốt hai mươi hai năm chủ yếu đối với tai tiếng lạm dụng tình dục nhưng không còn bị ràng buộc bởi các ưu tiên mục vụ của các giám mục hoạt động, ngài ở một vị thế có thể nói thẳng thắn trong câu trả lời khá dài của ngài. Nhờ thế, có ba điểm tham chiếu – các bản tóm tắt về lạm dụng của phúc trình và các hành động của giáo hội; bản nghiên cứu độc lập của Gates về giáo phận Erie; và bản trả lời của Đức cha Trautman. Cả ba đều thống nhất trong việc bày tỏ nỗi buồn và ăn năn, theo lời của Đức Cha Trautman, vì “những hành vi kinh khủng và tội lỗi” của những người lạm dụng và “tác động khủng khiếp” của chúng đối với các nạn nhân.

Có bốn mươi mốt người phạm tội ở Erie được lên hồ sơ trong phúc trình, trong đó có ba thí dụ đáng chú ý được mô tả chi tiết. Một trong ba người thủ dâm ít nhất một chục em bé mười ba và mười bốn tuổi với cái cớ thực hiện các “cuộc kiểm tra ung thư” trên các dương vật của các em. Một linh mục thứ hai, nổi tiếng có một nhân cách bạo động, đã bị tố cáo có mối liên hệ kéo dài với cả các trẻ nữ lẫn các trẻ nam cùng với các trường hợp tấn công tàn bạo. Linh mục thứ ba thừa nhận có liên hệ tình dục qua đường hậu môn và miệng với các bé trai từ bảy đến mười hai tuổi.

Trong cả ba trường hợp trên, sự lạm dụng được đưa ra ánh sáng vào giữa thập niên 1980, dưới thời Giám mục Michael J. Murphy, vị tiền nhiệm của Giám mục Trautman. Chính việc lạm dụng thì đã xẩy ra một thập niên hay hơn trước đó. Đức cha Murphy đã gửi các linh mục bị tố cáo đi lượng giá và, nếu cần, được điều trị, chủ yếu tại Viện Thánh Luca và Southdown, một trung tâm được kính trọng ở Canada. Đức cha Trautman đôi khi cũng làm như vậy mặc dù thực hành của ngài dường như đã không cho bất cứ người nào trở lại thừa tác vụ giáo xứ, ngay cả với các hạn chế được trung tâm khuyến cáo. Thừa hưởng ba thí dụ nổi bật từ Đức cha Murphy, Đức cha Trautman đã áp dụng qui tắc cũ (grandfathered), bằng cách tuân theo các thỏa thuận với vị tiền nhiệm trong việc bắt họ phải chịu sự theo dõi và chăm sóc tâm thần sau đó hư đã qui định sẵn - trừ khi, Đức cha Trautman nói thêm, một số tố cáo khác phát sinh từ quá khứ trước khi họ được điều trị. Đó là điều đã xảy ra trong mỗi trường hợp.

Linh mục đầu tiên đã bị giới hạn trong thừa tác vụ: không được gần gũi với các trẻ em khi Đức cha Trautman nhậm chức vào năm 1990. Linh mục thứ hai đã được Đức cha Murphy bổ nhiệm tới một giáo xứ sau khi điều trị, và Đức cha Trautman đã để vị này ở đó cho đến khi ngài nghỉ hưu vào năm 2000. 

Năm 2002, các lời tố cáo đã được đưa ra về hành vi của linh mục đó trong những năm 1960 và 70. Trong vài tuần, Đức cha Trautman đã ngưng chức linh mục của ngài và cuối cùng đã hoàn tục ngài. Ngay sau khi nhậm chức, Đức cha Trautman đã gặp vị linh mục thứ ba, giờ đây xem ra “đã sạch sẽ” sau bốn năm trị liệu vì lạm dụng tình dục và ma túy. Giám mục Murphy đã chỉ định ngài đến một giáo xứ vào năm 1987 và Đức cha Trautman đã để ngài ở đó cho đến năm 1992 khi, theo lời khuyên của ủy ban linh mục và nhân viên, Đức cha Trautman đã tái chỉ định ngài, một lần nữa cấm ngài không ở một mình với trẻ em. Một năm sau, khi nhận được một tố cáo mới về việc lạm dụng của vị linh mục hồi đầu thập niên 1970, Đức cha Trautman đã buộc ngài vào các viện dưỡng lão và một số đơn vị nào đó thuộc một bệnh viện ở Virginia. Vào năm 2002, khi các tố cáo nảy sinh về một lạm dụng khác vào cuối thập niên 1960, Đức cha Trautman đã rút ngài hoàn toàn ra khỏi thừa tác vụ và khởi động việc hoàn tục ngài. 

Tóm lại, đó là câu chuyện của ba người với sự góp tay của Đức cha Trautman. Phúc trình của đại bồi thẩm đoàn lại rất khác. Nó nhấn mạnh không phải mối quan tâm đối với các nạn nhân và các người có tiềm năng là nạn nhân mà là quan tâm pháp lý, bí mật và áp lực công cộng như là động lực cho mọi hành động của giáo phận. Nó cho rằng những người nổi tiếng lạm dụng đã được bổ nhiệm lại “nhiều lần”, và vẫn được “che đậy dưới thanh thế chức linh mục”. Các ngôn từ nhấn mạnh của Đức cha Trautman trong việc kêu gọi Rôma cho hoàn tục được trích dẫn như là sự thừa nhận muộn màng các hành vi tồi tệ trước đây từng được biết đến nhưng đã bị bưng bít. Trong trường hợp cuộc gặp gỡ ban đầu của Đức cha Trautman với vị linh mục xem ra đã sạch sau khi được điều trị, phúc trình trích dẫn ấn tượng của Đức cha Trautman cho rằng vị linh mục này là “một người thật thà và chân thành” người mà ngài đã khen ngợi vì “tiến bộ đã đạt được”.

Điều gì làm cho có những khác biệt như vậy? Rõ ràng có một sự bất cân xứng trong việc làm nổi bật. Trình thuật của phúc trình xuất hiện ở trang 4 và một lần nữa với nhiều chi tiết hơn ở các trang 69 tới 142. Chứng từ của Đức cha Trautman xuất hiện ở trang 982. (Trong phiên bản trực tuyến của Văn phòng Bộ trưởng Tư pháp, hoàn toàn không có trình thuật của Đức cha Trautman). Đối với Đức cha Trautman, phúc trình “rất ranh mãnh” (artful), và “hướng dẫn sai lệch”, trong việc trích dẫn một cách lọc lựa đồng thời làm ngơ khuôn mẫu tổng thể có trong cả lời chứng của ngài lẫn nghiên cứu độc lập do giáo phận đệ trình cho đại bồi thẩm đoàn. Cách riêng, ngài chỉ ra nhiều quên sót.

Thí dụ, phúc trình quả quyết, một cách chính xác, rằng Đức cha Trautman tái bổ nhiệm vị thứ nhất trong ba điển hình “nhiều lần”. Nhưng phúc trình bỏ sót việc này: những vụ tái bổ nhiệm này là tới làm tuyên úy cho một nhà dưỡng lão, một cơ sở cho người cao niên và trong một thời gian ngắn tới một bệnh viện và vài nhà tù giam người lớn. Vị linh mục này bị cấm hoạt động trong tư cách linh mục bên ngoài các phòng tuyên úy này và cuối cùng được mặc bất cứ trang phục linh mục nào. Dù bị đối kháng, Đức cha Trautman đã thành công trong động thái hoàn tục vị này.

Theo Đức cha Trautman, phúc trình cũng quên sót sự kiện này: “không ai trong số các linh mục này được biết là đã tái vi phạm”. Nhìn trở lui, bất kể sự khôn ngoan nào trong việc duy trì các linh mục này cả trong các thừa tác vụ hạn chế và được giám sát, sự kiện đó rõ ràng có liên hệ và đáng được đề cập đến.

Phúc trình cũng bỏ qua việc này: Đức cha Trautman, trong hai mươi hai năm làm giám mục, đã đích thân gặp gỡ hoặc cố gắng gặp gỡ mọi nạn nhân và cung cấp tư vấn mục vụ và kinh phí trị liệu.

Nó bỏ sót quyết định của ngài vào năm 2002 để tất cả các hồ sơ của giáo phận được xem xét bởi chánh án quận Erie, người đã kết luận rằng “không người phạm tội nào còn ở lại một chức vụ có thể tạo nguy hiểm”.

Nó cũng bỏ sót việc thành lập vào năm 2003 Văn phòng Bảo vệ Trẻ em và Thanh thiếu niên của Giáo phận với những người làm việc toàn thời gian, cũng như việc thông báo nhanh chóng của giáo phận cho cơ quan chấp pháp ở Pennsylvania hoặc ở bất cứ nơi nào khác khi có các tố cáo mới xuất hiện.

Mặc dù thừa nhận rằng một số quyết định của mình, “có thể bị phê phán”, Đức cha Trautman viết cho bồi thẩm đoàn rằng không có bằng chứng nào cho thấy ngài đã “thuyên chuyển các linh mục từ giáo xứ này đến giáo xứ nọ để 'che đậy' sự lạm dụng” và không có “khuôn mẫu hay thực hành nào đặt hình ảnh của Giáo hội hoặc danh tiếng của một linh mục trên việc bảo vệ trẻ em”.

Đức cha Traman viết “Tất cả các sự kiện trên có thể rút ra từ các hồ sơ và thông tin của giáo phận có sẵn cho đại bồi thẩm đoàn. Không sự kiện nào được nhắc đến trong phúc trình. Điều ấy có hợp tình hợp lý không? Đó có phải là một nỗ lực cân bằng để tường trình trọn bộ các sự kiện hay không?

Đón đọc kỳ cuối: Một góc nhìn khác...