Tác giả: Linh mục José Cristo Rey García Paredes, CMF
Dịch giả: Linh mục Đaminh Ngô Quang Tuyên
Đức cha Anphong Nguyễn Hữu Long, Giám mục Giáo phận Vinh, Tổng thư ký Ủy ban Loan báo Tin Mừng trình bày


Chúng ta cảm thấy có đôi chút bối rối khi các Tổng Tu Nghị hay Tu Nghị Tỉnh của chúng ta thực hiện việc đánh giá và điều chỉnh về những năm đã qua và tìm cách lập kế hoạch cho tương lai. Cũng vậy, chúng ta thấy có đôi chút bối rối khi các tu sĩ chúng ta tụ họp lại với nhau trong các hội nghị, các cuộc gặp gỡ, và các khoá đào luyện thường xuyên. Đôi khi chúng ta có cảm giác mình bị cuốn trôi theo xu thế của thời khắc hiện tại. Khi khác, chúng ta có cảm giác lo lắng về các vấn đề nội bộ của chúng ta hơn là những vấn đề bên ngoài, vốn là những vấn đề thường thách thức sứ mạng của chúng ta.

Một nhận xét khá thú vị là trong các Tu Nghị, chúng ta thường quá bận tâm về các vấn đề hoạt động nội bộ: quyền bính, các công tác, các kế hoạch cộng đoàn, chủ nghĩa cá nhân, thiếu đời sống cầu nguyện, đời sống nghèo khó và thanh khiết. Quan tâm về những vấn đề này là đúng! Chúng là những vấn đề thực sự mà chúng ta không thể coi nhẹ. Tuy nhiên những vấn đề này càng trở nên tệ hại và nghiêm trọng hơn khi tinh thần truyền giáo suy yếu và chúng ta đã mất ý thức truyền giáo trong cuộc sống chúng ta.

Những gì xảy ra trong đời sống thực tế của chúng ta thì cũng xảy ra trong lãnh vực thần học. Một thần học mà không bắt đầu từ sứ mạng (và nhằm phục vụ sứ mạng) thì là một thần học không có phương hướng, không mục tiêu, không đam mê, không cảm xúc, nó không giải đáp được những câu hỏi lớn của thế giới chúng ta hôm nay.

Nếu không có một ý thức mạnh về sứ mạng, Hội Thánh và Đời Sống Thánh Hiến trong Hội Thánh không có ý nghĩa gì, không có lý do hiện hữu.

“Sứ mạng” có phải là một phạm trù chìa khoá?

Sứ mạng là chìa khóa để hiểu Hội Thánh và mọi sự diễn ra trong Hội Thánh, bao gồm Đời Sống Thánh Hiến. Không có sứ mạng như là nguyên tắc nền tảng và kiến tạo, mọi thứ sẽ sụp đổ. Khi sứ mạng là nguyên tắc trung tâm và kết cấu, mọi thứ hoạt động tốt và phát triển.

Khi sứ mạng không thực thi chức năng trung tâm và then chốt này, các thực tế khác xuất hiện và tìm cách thế chỗ cho sứ mạng: như linh đạo, đời sống cộng đoàn, các xu thế mới và các hoạt động cá nhân, được hiểu như là “công việc”.

• Linh đạo: Linh đạo có thể được coi là tiêu điểm trọng tâm của đời sống Kitô giáo và đời sống thánh hiến. Cầu nguyện, chiêm niệm, đời sống trong Đức Kitô có thể là cái trục và hạt nhân của đời sống Kitô giáo. Chắc chắn là như thế. Nhưng khi linh đạo tìm cách che giấu sự thiếu đam mê truyền giáo, nó trở thành vô ích; nó không phải là linh đạo đích thực, mà là một cách giả tạo để trốn tránh thực tế. Nó không còn là một trải nghiệm Kitô giáo nữa, mà là một trải nghiệm của việc sùng mộ, thiếu dấn thân và giả Kitô giáo.

• Đời sống cộng đoàn và các mối quan hệ giữa các thành viên của cộng đoàn hay nhóm với nhau: trong nhiều tu hội, đây là mối quan tâm chính. Theo kinh nghiệm của nhiều tu sĩ, đây là một câu hỏi nghiêm trọng rất được họ quan tâm: họ được cử đi đến đâu, họ cần chia sẻ đời sống với ai, họ phải giữ loại quan hệ nào với các bề trên, v.v... Các mối bận tâm quan trọng nhất và chiếm nhiều thời gian nhất của nhiều hội viên của các tu hội chúng ta là các vấn đề nội bộ, chứ không phải các thách thức lớn của thế giới hôm nay đối với thực tế đoàn sủng của chúng ta trong tư cách là những môn đệ Chúa Giêsu Kitô. Những người phát triển cuộc đời mình từ những tiền đề hay những vấn đề này thì mãi mãi vẫn còn ấu trĩ, vô trách nhiệm, chỉ lo lắng về sự tự tồn của mình.

• Các xu thế mới: Khi sứ mạng không phải là nguyên tắc cơ bản của đời sống tu trì chúng ta, khi ấy chúng ta có khuynh hướng bị cuốn theo những chủ đề hay đề tài tức thời, thói hợm mình của trào lưu hiện tại. Chúng ta bị cuốn hút trong các vấn đề hiện đại, linh đạo thời đại mới, xu thế toàn cầu hoá, phát triển bền vững, và chủ nghĩa Mácxít. Nhưng không một yếu tố nào trong số này được chúng ta đối diện nghiêm túc từ viễn tượng của sứ mạng, mà chỉ là từ một sự tò mò tri thức, không mang lại những kết quả thực tiễn hay những hệ quả truyền giáo. Các suy tư loại này thường tạo một ảnh hưởng hời hợt, vì sau đó, chúng ta lại đi tìm kiếm xu thế mới tiếp theo, bỏ lại sau lưng những xu thế trước. Các vấn đề của xã hội được suy xét từ bên ngoài chứ không phải từ bên trong để có thể biến đổi chúng, như được đòi hỏi trong Evangelii Nuntiandi của Đức Giáo Hoàng Phaolô VI (số 14).

• Các hoạt động cá nhân, riêng tư, và cá nhân chủ nghĩa: Sự thiếu một tinh thần sứ mạng đích thực khiến người ta tập trung vào các mối quan tâm riêng của mình. Một cách nguỵ trang tinh thần tông đồ và sứ mạng là tập trung vào công việc, “công việc của tôi”. Có những người nghiện công việc; nhưng đó không phải là một niềm đam mê sứ mạng. Nó là cái mà trước kia được gọi là “lạc giáo của hành động”. Cái họ tìm kiếm không phải là phục vụ người khác, nhưng là thể hiện bản thân mình. Tất cả những điều này không liên quan gì đến việc thể hiện Nước Chúa.

Không có cái nhìn sứ mạng, thì việc phục vụ của quyền bính, việc đào luyện và thậm chí thần học sẽ có những chân trời rất hẹp.

• Việc quản trị và quyền bính trong các cộng đoàn tu sĩ: Một nền quản trị quá chú tâm chăm lo những vấn đề trước mắt nhiều hơn là những gì thực sự tạo ra tương lai thì sẽ dần dần giết chết sự nhạy cảm ngôn sứ. Nó không chăm lo cho những nhu cầu cấp bách của Hội Thánh. Nền quản trị ấy trở thành đóng kín trong các vấn đề nội bộ và không có những chân trời rộng mở. Nó chỉ xử lý một cách hời hợt các vấn đề của kế hoạch sứ mạng; đa phần nó lo duy trì một hệ thống không lấy sứ mạng làm tâm điểm mối quan tâm của nó. Nó không tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân định của cộng đoàn, luôn luôn bén nhạy trước các dấu chỉ của thời đại hay việc Thần Khí đang dẫn dắt loài người hướng tới tương lai của Thiên Chúa ở đâu và như thế nào.

• Việc đào luyện: Sứ mạng thường không được nghĩ là nguyên tắc tổ chức mạch lạc toàn thể tiến trình đào luyện. Người ta thường nghĩ rằng, trước bất cứ sự cam kết cá nhân nào trong sứ mạng, mỗi ứng sinh trong thời kỳ đào luyện ban đầu phải giải quyết các vấn đề hay các xung đột riêng của cá nhân. Điều này cũng đúng phần nào; nhưng khi tìm cách giải quyết các xung đột cá nhân bên ngoài sứ mạng và ơn gọi cho sứ mạng thì có nghĩa là tự tước bỏ nguồn tài nguyên tốt nhất để giải quyết các vấn đề ấy. Khi tinh thần ơn gọi - sứ mạng không hoạt động, tiến trình đào luyện trở nên rối loạn, tự thỏa mãn, quá nhạy cảm với quan điểm cá nhân.

• Thần học: Thiếu cái nhìn sứ mạng, suy tư thần học thường chịu cùng những khuyết điểm như thế. Sứ mạng được dời về chương cuối cùng. Người ta thường nói rằng “hiện hữu” đến trước “hành động” hay “làm”. Thứ thần học này giả thiết rằng sứ mạng chỉ là hành động hay việc làm. Vì vậy, các chủ đề được coi là cơ bản trong đời sống tu trì, như thánh hiến, lời khấn, cộng đoàn, là những chủ đề đầu tiên phải được giải quyết. Đây thường được coi là “căn tính”. Sau đó đến lượt căn tính được dọi phóng vào hoạt động tông đồ. Cả trong trường hợp này cũng thế, sứ mạng không phải là nguyên tắc tổ chức của thần học đời tu hay đời thánh hiến.

 


Sứ mạng là gì?

Từ sứ mạng [mission trong tiếng Anh] mà chúng ta rất thường xuyên sử dụng bắt nguồn từ động từ tiếng Latinh “mitto” và từ phân từ “missum” có nghĩa là “sai đi, gửi đi” hay “được sai đi, được gửi đi”. Nghĩa phù hợp cho sứ mạng là “được sai đi”. Hiển nhiên, sự “được sai đi” này đáp ứng một sự uỷ thác, một nhiệm vụ được giao cho một người thi hành. Giống như khi một chính phủ gửi quân lính đi thực hiện một nhiệm vụ vì hoà bình hay chiến tranh, chúng ta nói là họ đang thực hiện một “sứ mạng quân sự” hay “nhiệm vụ quân sự”; khi quan chức của một trường đại học giao nhiệm vụ cho một ai, chúng ta nói đó là một nhiệm vụ khoa học hay văn hoá. Khi một tổ chức tôn giáo là người sai đi, chúng ta nói đến một “sứ mạng tôn giáo”.

Trên hết là “Missio Dei”!

Điều đáng ngạc nhiên nhất là sứ mạng và khái niệm tinh vi hơn, cao siêu và trong sáng hơn của sứ mạng được thấy trong chính hữu thể của Thiên Chúa. Hơn 50 năm trước, các anh em Tin Lành của chúng ta đã chế ra thành ngữ “Missio Dei” như là một phạm trù thần học rất quan trọng. Với phạm trù này, họ muốn nói về sứ mạng của chính Thiên Chúa. Họ muốn nói rằng Thiên Chúa là Sứ Mạng.

Vì mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi đã được mặc khải cho chúng ta, chúng ta biết rằng phạm trù sứ mạng là tuyệt đối thiết yếu để hiểu về Thiên Chúa. Là Con Thiên Chúa, Đức Giêsu ý thức mình “Được Sai Đi” bởi Abba, Cha. Thiên Chúa Cha là Đấng sai Con mình đến trong thế gian. Cha cũng sai Thánh Thần, Đấng tỏ lộ mình hiện diện trong thế giới vào nhiều dịp và dưới nhiều hình dạng khác nhau. Trong cả Cựu Ước và Tân Ước, Chúa Thánh Thần được sai đi: Người linh hứng cho các Ngôn Sứ và thúc đẩy họ thi hành kế hoạch của Thiên Chúa; Thánh Thần hành động trong cuộc tạo dựng thế giới, trong sự sinh ra đồng trinh của Đức Giêsu. Chúa Giêsu và Chúa Cha sai Chúa Thánh Thần đến sau Phục Sinh để Người ngự trong thế giới và trong lòng các tín hữu. Rõ ràng sứ mạng là một phần của hữu thể Thiên Chúa. Cha là Đấng sai đi, Con và Thánh Thần là hai Đấng được sai đi. Vì lý do này, suy tư thần học nói đến “các sứ mạng của Thiên Chúa” như là một trong các khía cạnh nền tảng của Thiên Chúa Ba Ngôi. Sứ mạng xuất phát từ chính Cõi Lòng của Thiên Chúa Cha. Sứ mạng được diễn tả trong Con của Cha, Đấng nhập thể trong lòng Đức Trinh Nữ Maria nhờ Chúa Thánh Thần; Người là Đấng Được Sai Đi (o apostolos). Được sai đi là một tình trạng hiện sinh của Con và Thánh Thần.

“Missio creationis”

Do đó, mọi hành động “ad extra” [“ra bên ngoài”] của Thiên Chúa đều là những hành động sai đi, hành động của sứ mạng. Tạo dựng là hành vi sai đi đầu tiên của Thiên Chúa. Chúa Cha là Tạo Hoá hành động nhờ Logos, Ngôi Lời và nhờ Ruah, Thần Khí của Người. Cuộc tạo dựng được thể hiện trong Chúa Giêsu Kitô và nhờ sức mạnh của Thánh Thần.

Được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa và giống Thiên Chúa, con người được Thiên Chúa ban cho một hữu thể “mang theo sứ mạng” [a missionary being]. Nếu xem xét con người một cách thoả đáng, chúng ta khám phá ra rằng sự hiện hữu của con người hoàn toàn là do ân sủng. Con người không phải là một hữu thể tất yếu [necessary], nhưng là một hữu thể bất tất, tuỳ thuộc [contingent]. Khám phá ra ý nghĩa cuộc đời, ý nghĩa sự hiện hữu của con người, là một điều kiện cơ bản để có một cuộc sống đích thực. Vì lý do này, chúng ta phải khâm phục công việc của các nhà triết học, những người luôn luôn tìm kiếm ý nghĩa, tìm kiếm nguyên nhân của mọi nguyên nhân. Mặc khải của chúng ta, sách Sáng Thế, tỏ lộ cho chúng ta biết loài người đã được tạo dựng để thi hành một sứ mạng. Các lời của tác giả chương 1 sách Sáng Thế nói rằng con người được tạo dựng “theo hình ảnh Thiên Chúa và giống với Thiên Chúa”. Tác giả cũng khẳng định rằng loài người, nam và nữ, phải sống chung với nhau và trở thành một thân thể. Sau cùng, tác giả khẳng định rằng con người được đưa vào trong Vườn để chăm sóc nó. Từ lúc ấy, con người bắt đầu thi hành một sứ mạng đầy ấn tượng: làm người quản lý trái đất, trông nom nó, tổ chức nó. Thiên Chúa dựng nên con người thành những người đồng-tạo-dựng, và vì thế, khả năng tạo dựng của con người rất ấn tượng và vô hạn.

Ở đây chúng ta có sứ mạng đầu tiên và căn bản nhất của con người. Sứ mạng này được thể hiện trên ba bình diện: gia đình hay thế hệ, mối tương quan với thế giới vật chất và các tài nguyên hay sản phẩm của nó, kinh tế và lao động, và mối tương quan và tổ chức của loài người trong xã hội hay chính trị.

Loài người sống trong một trạng thái sứ mạng thường xuyên, bắt đầu từ “missio creationis”, sứ mạng tạo dựng. Cần nhấn mạnh sự cao quý của sứ mạng này. Chúng ta có thể gọi nó là “sứ mạng trần thế”. Mặc dù không thấy ở bên ngoài, sứ mạng này phát xuất từ Đấng Tạo Hoá, và loài người ít nhiều ý thức được rằng họ đang thi hành sứ mạng này nhân danh Người. Những con người sáng tạo, những người sinh ra sự sống mới, trở nên giống như Thiên Chúa Tạo Hoá, giống như Thiên Chúa là Cha và Mẹ, giống như Thiên Chúa là người nghệ sĩ và thợ thủ công. Gia đình và đôi lứa, lao động và kinh tế, chính trị và tổ chức xã hội, nghệ thuật và nghề thủ công, thế giới tôn giáo và thế giới văn hoá.. tất cả đều thuộc về nhiệm vụ mà loài người đã lãnh nhận từ Đấng Hoá Công.

Sứ mạng lãnh nhận từ Thiên Chúa phải chịu sự thống trị phá hoại của quyền lực tội lỗi. Từ lúc ấy, con người từ chối tình bạn với Thiên Chúa và muốn trở thành tự trị, tự giao công việc và sứ mạng cho chính mình. Nó từ chối làm tôi tớ cho Đấng dựng nên nó để trở thành ông chủ của thế giới mà nó đã nhận được như một quà tặng. Chính đây là chỗ con người từ chối được sai đi và chỉ tìm cách thi hành ý muốn riêng của nó. Từ lúc ấy, bắt đầu một lịch sử mới Phản- Sáng-Thế, phá hoại và huỷ diệt mọi sự Thiên Chúa đã dựng nên.

“Missio Redemptionis”

Việc Con Thiên Chúa đến trần gian có liên quan đến kế hoạch sứ mạng của Người: khôi phục sứ mạng của loài người một cách thích đáng; khôi phục dòng chảy năng lượng của Tạo Hoá đã được lưu truyền cho các tạo vật của Người. Chúa Con đã khởi xướng sứ mạng mẫu mực của Người bằng cách biến đổi mình thành một con người vâng phục: “Lạy Cha, này con đây, con đến để thực thi ý Cha.” Đức Giêsu biết rằng không thể thi hành sứ mạng tách rời với Thiên Chúa là Cha và Đấng Tạo Hóa; Đức Giêsu biết rằng nếu không chiêm ngắm dung mạo của Thiên Chúa và hiệp thông với ý muốn của Người, sứ mạng mất đi mục đích của nó và trở thành phản-Sứ Mạng, một sự tự mãn vô ích.

Mối quan tâm hay công việc duy nhất của Đức Giêsu là làm cho Nước Cha, Vương Triều của Thiên Chúa hiện diện, và tái lập Giao Ước đã bị phá vỡ giữa Thiên Chúa với chúng ta. Duy chỉ trong Giao Ước với Thiên Chúa chúng ta mới có thể hoàn thành sứ mạng và chỉ trong Giao Ước với Người chúng ta mới có thể nói rằng Nước Thiên Chúa đến giữa chúng ta. Do đó, sứ mạng của Đức Giêsu không phải là vô hiệu hoá kế hoạch tạo dựng nguyên thuỷ, hay kết án loài người vì sự sinh sản, sản xuất hay chính trị, nhưng là khôi phục kế hoạch nguyên thuỷ của Thiên Chúa. “Lúc ban đầu không phải như thế”, Đức Giêsu nói liên quan đến vấn đề hôn nhân, nhưng Người cũng có thể nói giống như thế liên quan đến nhiều thực tại khác vốn không có một định hướng hay mục tiêu nào cả. Đức Giêsu đã dành rất nhiều thời gian cuộc đời mình để thi hành “missio Creatoris”, sứ mạng Đấng Tạo Hoá: “Người đi xuống cùng với cha mẹ, trở về Nadarét và hằng vâng phục các ngài... và ngày càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta” (x. Lc 2,40-52).

Giai đoạn đầu tiên này của sứ mạng Đức Giêsu tại Nadarét khá bí ẩn. Đức Giêsu hành động giống như bất cứ người nào khác. Giống như người khác, Đức Giêsu dành thời gian cho công việc lao động bình thường. Người sống như thế cho tới năm 30 tuổi, khi Người có một mặc khải và khám phá ra một ý nghĩa mới cho cuộc đời và sứ mạng của Người.

Sau khi chịu phép rửa tại sông Giođan, Đức Giêsu bắt đầu một giai đoạn mới trong sứ mạng của Người: chúng ta có thể gọi đây là giai đoạn ngôn sứ hay khởi đầu. Đức Giêsu tập trung mọi sức lực và tài năng vào việc rao giảng Nước Thiên Chúa.

Sứ mạng của Đức Giêsu không thể chỉ giới hạn vào sứ mạng Hội Thánh. Đức Giêsu luôn luôn được thúc đẩy bởi viễn tượng Nước Thiên Chúa. Sứ mạng của Người có nhiều khía cạnh: rao giảng Nước Thiên Chúa, các dấu chỉ của Nước Thiên Chúa (các phép lạ, trừ quỷ, chăm lo cho mọi người), và cuộc Khổ Nạn và cái chết của Người:

• Rao giảng: Đức Giêsu xuất hiện trước hết như là người mà vào một thời khắc nhất định của cuộc đời Người, đã trở thành sứ giả của Nước Thiên Chúa, hay đúng hơn, Sứ Giả của Kế hoạch của Thiên Chúa, Cha của Người, cho thế giới. Người nói về Abba, Cha, Người mặc khải ngôi vị của Cha, kế hoạch của Cha, ý muốn của Cha. Bản thân Đức Giêsu chính là sự hiện diện và hành động của Thiên Chúa, mặc dù có giới hạn vì thân phận làm người của Người, nhưng đồng thời được đặt trong bối cảnh vì thực tại nhân loại của Người.

• Ý muốn của Cha mà Đức Giêsu công bố là một Thế Giới hoàn toàn khác với thế giới chúng ta đang sống. Nó là một thế giới vô tội, với các mối quan hệ con người dựa trên yêu thương, tình liên đới và tôn trọng lẫn nhau. Vì thế, lời rao giảng của Người về Nước Thiên Chúa chứa đựng một sự cáo giác mạnh mẽ chống lại bất công, tham nhũng, sa đoạ vốn đã chiếm chỗ trong các chiều kích cơ bản của đời sống con người, như tính dục, quyền sở hữu và quyền lực.

• Đức Giêsu thi hành sứ mạng của Người không phải trong một bầu khí phụng vụ, long trọng hay tư tế. Người cử hành Vương Triều của Thiên Chúa và việc Người đến trong đời sống thường ngày, trong công việc lao động của Người như một người thợ mộc tại làng Nadarét, trong giai đoạn đầu đời của Người, và như một ngôn sứ khải huyền trong giai đoạn ngôn sứ và khai mào cuộc đời Người. Người đạt tới tột đỉnh cuộc sống nhân loại của Người bằng việc hiến dâng mạng sống mình trên đồi Canvê trên bàn thờ Thập Giá. Đây là hành vi cuối cùng của sứ mạng của Người. Sứ mạng của Người được đồng hoá với cuộc Khổ Nạn của Người. Khổ Nạn, chứ không chỉ có hành động, là một biểu hiện khác nữa của sứ mạng.

• Đức Giêsu chia sẻ sứ mạng của Người cho các Môn Đệ. Ngay từ ban đầu, Người đã có sáng kiến quy tụ xung quanh Người một cộng đoàn các môn đệ nam và nữ. Đức Giêsu muốn chia sẻ với họ chính sứ mạng của Người. Người tin tưởng từng người trong số họ. Người sai họ “từng hai người một” đi rao giảng Tin Mừng của Nước Thiên Chúa và hành động chống lại các sức mạnh của quỷ dữ cản trở sự hiện diện của Thiên Chúa trên thế giới chúng ta.

“Missio Spiritus Sancti”

Đức Giêsu đã hứa sẽ sai Thánh Thần đến. Thánh Thần được Cha và Con sai đến sau khi Đức Giêsu sống lại từ cõi chết. Thánh Thần là Đấng thừa sai của Cha và Con. Chúa Thánh Thần dạy dỗ mọi sự; Thánh Thần là Thầy nội tâm, Đấng làm cho mọi lời của Thiên Chúa được thực hiện. Thánh Thần là Đấng hoàn thành. Thánh Thần luôn luôn hành động một cách vô hình. Tất cả các đặc sủng, được tuôn đổ dồi dào trên chúng ta, đều là sự tỏ lộ, sự hiển linh của Thánh Thần. Chúa Thánh Thần hoạt động qua sự đa dạng kỳ diệu của các đặc sủng và những người được đặc sủng; và Người hành động qua tất cả những người được ơn linh hứng và các hồng ân của Người.

Nhiều người đã khám phá ra rằng chúng ta bây giờ đang sống trong thời của Chúa Thánh Thần. Có nghĩa là bây giờ chúng ta đang sống trong thời sứ mạng của Chúa Thánh Thần. Thánh Thần là tác nhân chính của sứ mạng, và những ai để cho mình được lôi kéo, thúc đẩy và sinh động hoá bởi Chúa Thánh Thần đều là những đối tác đích thực của sứ mạng Thiên Chúa.

Sứ mạng Chúa Thánh Thần diễn ra trên toàn thế giới. Mọi người có thể được biến đổi để trở thành những người trung gian cho hoạt động sứ mạng của Thánh Thần. Vì lý do này, chúng ta nói đến các dấu chỉ của Thánh Thần trong thời gian và không gian. Vì lý do này chúng ta nói đến các nhu cầu cấp bách của Hội Thánh và của nhân loại mà chúng ta phải gọi đó là những “tiếng kêu của Thần Khí”. Một cách rất đặc biệt, hành động của Thánh Thần được tỏ lộ trong Hội Thánh. Hội Thánh là sự hiển linh của hoạt động Thánh Thần trong thế giới. Nhờ Hội Thánh, nhờ các Bí Tích của Hội Thánh, Lời Chúa, các việc bác ái và việc rao giảng Tin Mừng, Chúa Thánh Thần hành động và thúc đẩy lịch sử nhân loại một cách hữu hình hướng tới tương lai của Thiên Chúa.