THÁNH MENKIAS
GIÁO HOÀNG TỬ ĐẠO

Sử liệu không để lại gì về đời thơ ấu của thánh nhân, song bằng vào công việc và nhân đức lúc trên ngai Giáo hoàng, người ta có thể đoán rằng buổi thiếu thời, Đức Menkias đã có một đời sống trong sạch đạo đức và một trí khôn minh mẫn. Ngài kế vị Đức Giáo Hoàng Êuxêbiô và ở Toà thánh Phêrô trong giai đoạn chót các cuộc bách hại công giáo nghĩa là khoảng từ năm 311 đến 314.

Ý thức tình trạng khó khăn, Giáo hội đang phải trải qua và nhiệm vụ cao cả của ngôi Giáo hoàng, Đức Menkias cố gắng đem hết tài lực ra làm vinh danh Chúa và dẫn dắt giáo hữu khỏi những điều sai lầm có nguy hại đến đức tin hay luân lý.

Thời ấy, lương dân có thói quen giữ chay ngày thứ năm và chủ nhật, vì tin rằng giữ chay vào những ngày đó sẽ đem lại nhiều hạnh phúc tránh được nhiều rủi ro. Thói quen ấy dần lan rộng và gây nên một phong trào đến nỗi nhiều giáo hữu ở Rôma đã đua theo. Nhận thấy các giáo hữu đã không giữ chay những ngày luật định, hơn nữa lại đã có sự lầm lạc gần như mê tín về ý nghĩa và công hiệu của việc chay tịnh, Đức Giáo Hoàng liền ra một thông điệp giảng dạy cho giáo dân hiểu rõ mục đích việc giữ chay, đồng thời ngài ngăn cấm giáo dân không được hùa theo thói tục của lương dân.

Mặc khác, đó cũng là thịnh đạt của lạc thuyết Manikê chủ trương có hai nguyên lý: một cho sự thiện và một cho sự ác. Học thuyết này cũng đã lôi cuốn được rất nhiều người mê theo, nhất là đám thanh niên và trí thức. Không thể để tình trạng này kéo dài được nữa, ngài liền gắng sức cầu nguyện xin Chúa xuống ơn và nỗ lực lấy lời lẽ khôn ngoan giảng khuyên những người con lạc đường ấy mau về nhà Cha. Kết quả thật vẻ vang, chỉ trong một thời gian ngắn, giáo đoàn Rôma lại duy nhất trong một đức tin, một chân lý và sốt sắng ganh đua nhau giữ đạo thánh Chúa.

Với tấm lòng cha chung rộng như trời bể, ngài còn nhìn rộng xem xa khắp các giáo đoàn trên thế giới, để hướng dẫn giáo hữu theo đúng con đường Chúa Kitô đã vạch. Nhận thấy bên Tây Ban Nha có sự hiểu nhầm về hai phép bí tích: rửa tội và thêm sức, Đức Thánh Cha liền gửi thư cho các Đức Giám mục Tây Ban Nha, đại ý ngài khuyên các đấng trọng quyền ưu tiên của Giáo hoàng, cũng như các thánh tông đồ xưa đã phục tùng thánh Phêrô, sau đó ngài cắt nghĩa cho các đấng hiểu rõ hiệu quả, giá trị của từng phép bí tích rửa tội và thêm sức. Ngài nhấn mạnh rằng: phép bí tích rửa tội cần thiết hơn phép thêm sức, vì nếu không chịu phép rửa tội, người ta không thể được rỗi linh hồn. Lại nhận thấy có sự lạm dụng trong việc thi hành phép thêm sức, nên ngài nhấn mạnh rằng thừa tác viên phép thêm sức phải có chức cao quý và xứng đáng, nên từ đó chỉ ai có chức Giám mục mới được ban nhiệm tích ấy.

Ngoài sự lo lắng về vấn đề đức tin và các phép bí tích, ngài còn lo chấn chỉnh hàng giáo phẩm và tăng cường số giáo sĩ. Vì thế ngài đã mở công đồng hàng tỉnh tại Nêôcêsarê để bàn về việc đó. Đồng thời ngay trong tháng chạp, ngài đã phong chức cho 11 Giám mục, 6 linh mục và 5 phó tế.

Tới khi Giáo hội được hưởng những ngày bình an do sắc lệnh của Hoàng đế Constantinô thì Đức Menkias lại nhắm mắt từ trần yên hàn trong tay Chúa Kitô ngày 10 tháng 12 năm 313. Ngài cai trị Giáo hội 2 năm 2 tháng 7 ngày.

Tuy ngài không được đổ máu ra để tuyên xưng đức tin, nhưng Giáo hội đã coi ngài như đấng tử đạo vì suốt đời ngài đã chịu nhiều đau khổ vì đạo Chúa, nhất là trong cuộc bách hại lâu dài của Mácximianô.

Thi hài ngài được mai táng trong đất thánh Calixtô trên đường đi Apia.

Ta hãy học nơi thánh Giáo hoàng Menkias lòng mạnh dạn can đảm tuyên xưng đức tin, và sốt sắng trong việc tông đồ, dù phải đau khổ hay bách hại, sẵn sàng hy sinh mạng sống vì tin yêu Chúa Giêsu Kitô.