THÁNH GRÊGÔRIÔ NAJANÔ GIÁM MỤC TIẾN SĨ (330 -389)

Chúng ta biết khá rõ về cuộc đời thánh Grêgôriô Najanô nhờ một số lớn thư từ ngài để lại và những văn liệu trong Giáo hội nói về ngài, nhưng đặc biệt nhất là nhờ một tập tự thuật khá dài trong đó ngài kể lại những hoạt động, niềm vui và các thử thách ngài trải qua từ buổi thiếu thời cho đến khi rời bỏ Côntantinôpôli Grêgôriô sinh khoảng năm 330 tại Ajiacê một xóm nhỏ gần thành Najanô là một tỉnh nhỏ ở phía tây nam xứ Cappađôcia thuộc Tiểu Á (nay là Thổ Nhĩ Kỳ). Thân phụ Grêgôriô trước kia đã làm Giám mục thành Najanô là một người lương thiện được mọi người kính trọng; cụ theo ngoại giáo lâu năm mãi tới năm 325 mới trở lại công giáo; vừa trở lại được mấy hôm, người ta đã bầu cụ làm Giám mục chính tỉnh Najanô. Bà Nonna thân mẫu Grêgôriô là một người đàn bà đạo hạnh rất đáng kính. Chẳng thế mà Grêgôriô đã viết về cha mẹ ngài với môït giọng điệu đầy mến phục như sau: "Để khởi đầu câu truyện, tôi phải nói rằng tôi đã được một người cha rất lương thiện đáng nên gương cho mọi người; ngài có đức tính cao quý đặc biệt, chứ không phải chỉ có vẻ đạo đức bề ngoài như ngày nay ta thường thấy đâu… Còn mẹ tôi, tắt một lời, thực xứng đáng là bạn của một người như cha tôi; đức tính của mẹ tôi chẳng kém gì cha tôi; người xuất thân ở một gia đình đạo đức; người lại còn đạo đức hơn mọi người trong gia đình nữa ". Hai ông bà sinh hạ được ba người con: một gái với hai trai.

Trong khung cảnh gia đình tốt đẹp ấy, Grêgôriô được hấp thụ một nền giáo dục công giáo hoàn toàn, khiến lòng đạo đức của ngài triển nở cùng một nhịp với những kiến thức học hành.

Từ bé, Grêgôriô đã rất say mê văn chương và khoa hùng biện Hi lạp. Nhưng cũng không bao giờ ngài dám trọng văn chương Hi lạp hơn Kinh thánh. Trái lại ngay từ thiếu thời người ta đã thấy Grêgôriô chủ trương dùng nghệ thuật hùng biện Hi lạp cũng như văn chương ngoại giáo để phụng sự chân lý.

Theo thói quen thời đó, sau khi đã qua giai đoạn giáo dục sơ đẳng ở nhà, Grêgôriô xuất dương để tìm những giáo sư danh tiếng. Người ta thấy trang thanh niên tuấn tú ấy lần lượt qua những trung tâm trí thức danh tiếng của thời đại như: Cêjarê Cappađônia, Cêjarê Palestina, Alêxanđria Ai cập. Và nhất là Nhã điển, một trung tâm văn hoá lớn nhất đã thu hút các sinh viên khắp vùng Địa Trung Hải. Tại Nhã điển, Grêgôriô đã kết thân với Basiliô một người mà ngài nhìn nhận là khôn ngoan nhất, có học thức và đời sống trổi vượt mọi người. Hai người đã nên bạn tri kỷ với nhau trong một mối tình khăng khít và thắm thiết hiếm có.

Theo thói quen thời ấy, mặc dầu đã lớn tuổi, Grêgôriô vẫn chưa chịu phép rửa tội. Dầu vậy, trong suốt thời gian học tập, ngài vẫn giữ một đời sống luân lý đứng đắn.

Mãn học Grêgôriô cùng với Basiliô định ngày đáp tầu về quê. Khi tàu sắp rời bến, Basiliô đã bước xuống tầu rồi mà Grêgôriô thì còn dùng dằng với các bạn. Sau cùng ngài đã bị họ giữ lại, một phần vì tình bạn lưu luyến, một phần vì họ không muốn để một kinh thành vinh quang như Nhã điển phải mất một con người mà họ sắp tặng cho huy hiệu là:"Nhà hùng biện biệt tài ".

Grêgôriô ở lại dạy khoa hùng biện tại Nhã điển ít lâu. Lúc đó ngài đã ngót ba mươi tuổi. Rồi một hôm ngài bí mật xuống tầu về quê. Khi tới quê, Grêgôriô được mời diễn thuyết trước công chúng theo thói quen thời đó. Tài hùng biện của ngài làm phấn khởi anh em đồng bào. Tuy nhiên cuộc đời thế tục hời hợt chỉ lo nói khéo và hành văn như vậy đã để lại trong lòng ngài một trống rỗng. Grêgôriô nghĩ tới một đời sống cao thượng hơn, và đến bấy giờ ngài mới chịu phép rửa tội có lẽ do chính thân phụ đã làm cho.

Tuy khát vọng sống cao thượng hơn, nhưng vốn bản tính hay do dự, Grêgôriô phân vân chưa biết chọn đường nào. Người ta thấy ngài lưỡng lự, và suy tính đắn đo hơn thiệt: muốn sống ẩn tu trong sa mạc nhưng phải bỏ học hành; ngài thích suy niệm trầm lặng và ở xa mọi người nhưng lại vướng phải mối bận tâm khác là cha mẹ khẩn khoản xin ngài săn sóc hai cụ trong tuổi già yếu. Sau bao nỗi phân vân, ngài quyết định đến gặp Basiliô lúc bấy giờ đang tổ chức một tu viện nhỏ trên bờ sông Iris. Đôi bạn tri kỷ cùng hăng hái giúp nhau tiến bước trên đường tu hành sốt sắng. Sau này với một giọng đầy xúc động, ngài năng nhắc lại quãng đời êm đẹp và sốt sắng ấy.

Ít lâu sau, có thư của thân phụ gọi Grêgôriô về sống gần cụ. Là một Giám mục tuổi tác nên cụ muốn Grêgôriô cộng tác với mình trong việc chăm sóc đoàn chiên Najanô. Grêgôriô chưa có chức linh mục mà cũng chẳng bao giờ nghĩ đến việc làm linh mục nữa. Nhưng vì cha già ép uổng mãi, Grêgôriô đành lòng lãnh nhận chức thánh. Sau khi chịu chức linh mục rồi, không hiểu vì có chuyện gì bất bình tức giận với thân phụ, Grêgôriô bỏ nhà đến ở với Basiliô một thời gian. Một lần nữa cụ thân sinh tuổi tác lại năn nỉ triệu vời Grêgôriô về giúp cụ. Tình hiếu tử đã khiến ngài gạt lệ ra về.

Từ đấy Grêgôriô tận tụy giúp cha già trông coi giáo phận.

Trong khi đó Giáo hội miền Tiểu Á vẫn luôn luôn phải đối phó với những trở ngại và bách hại do bè phái Ariô gây nên. Basiliô bạn của Grêgôriô bấy giờ làm Giám mục chính toà Xêjarê, nghĩa là các giáo phận trong toàn tỉnh Cappađônia phải tùy thuộc toà Giám mục này. Vậy mà Hoàng đế Valens người theo lạc giáo Ariô, vịn vào lý do chính trị và kinh tế quyết định chia đôi tỉnh Cappađônia. Việc phân chia đó đã làm cớ cho một số Giám mục nấp bóng chính quyền để làm khó dễ cho Giám mục Basiliô. Thêm vào đó lại có một số Giám mục trong tỉnh mới này không tuân phục Basiliô; họ đặt một Tổng Giám mục khác tên là Antimê, một người có tính tàn bạo vô luân và có khuynh hướng lạc giáo. Để chống lại ảnh hưởng của Antimê, Đức Giám mục Basiliô phải thiết lập nhiều giáo phận nhỏ khác uỷ cho các Giám mục còn trung thành với đức tin Công đồng Nicêa.

Ngài muốn trao toà Giám mục Sasimê cho bạn Grêgôriô trông coi. Nhưng phải làm sao cho Grêgôriô thụ phong Giám mục.

Thế là Giám mục Basiliô tính toán với thân phụ Grêgôriô để gây một áp lực tâm lý bắt Grêgôriô làm Giám mục.

Grêgôriô do dự rồi cũng ưng thuận và thụ phong do chính tay Basiliô truyền chức. Nhưng sau khi thụ phong rồi ngài mới nhận định rõ cảnh ngộ mình và bắt đầu phàn nàn luyến tiếc vì phải làm Giám mục. Ngài càng buồn hơn nữa vì phải trông coi "vùng Sasimê là một thôn nhỏ cô liêu, nguy hiểm, thiếu mọi tiện nghi… Ở đấy thiếu cây và không có vẻ đẹp nào quyến rũ con người tự do như Grêgôriộ Đó là một làng nhỏ hẹp, bẩn thỉu, đầy bụi, rộn rịp tiếng xe cộ, tiếng khóc than rền rĩ, tiếng người thu thuế và tiếng dụng cụ để hành hạ như xiềng xích. Dân cư là khách lạ qua đường và là hạng du côn. Đó là giáo đoàn xứ Sasimê nơi mà Basiliô định trao cho tôi". (Trích Tự thuật).

Bất mãn với chức vụ mới và từ chối không chịu nhận xứ Sasimê, Grêgôriô lại trốn đi như lần trước. Thân phụ phải năn nỉ và đe doạ nhiều phen, nên sau ít lâu ngài trở về giúp cha trông coi giáo phận. Năm 374, khi cha ngài qua đời, ngài trốn đến Cêlêucia trong xứ Isauria vì sợ giáo hữu chọn mình làm Giám mục kế vị cha ngài.

Khi Grêgôriô đang lẩn trốn thì giáo hữu đến xin ngài nhận coi sóc một giáo đoàn ở thành Côntantinôpôli. Nơi đây ngài sẽ phải đương đầu với nhiều khó khăn cản trở của bè phái Ariô. Ngài rất có thể bị bọn đồ đệ cuồng nộ của Ariô ám sát. Dầu vậy ngài can đảm nhận sứ mệnh khó khăn bất lợi ấy.

Vừa đặt chân lên đất Côntantinopôli, ngài đã bị dân chúng ném đá, vu oan; họ còn dám tố cáo ngài ở toà án về tội sát nhân. Các giáo hữu của ngài chỉ còn một nhóm, thế mà cũng chia năm bè bẩy mối. Lúc Valens băng hà và Thêôđôsiô kế vị thì những người theo phái Ariô cũng vẫn chưa thôi tung hoành thống trị. Họ tìm cách giết Giám mục Grêgôriô.

Ngày kia chính tên sát nhân được họ cử đến ám sát ngài lại quỳ xuống trước mặt ngài thú tội và xin lỗi, vì trước khi hắn định xông vào giết ngài, hắn bỗng cảm thấy bị lương tâm cắn rứt. Có lúc giám mục Grêgôriô đã tính đến truyện rút lui khỏi Côntantinopôli, nhưng các tín hữu nài xin ngài ở lại. Dần dà nhờ sự nâng đỡ của thượng vị Thêôđôsiô, và nhờ hoạt động đi đôi với gương mẫu đời sống hy sinh khiêm tốn, đạo đức của Giám mục Grêgôriô, giáo đoàn nhỏ bé này đã trở nên sầm uất, nhiều người trở lại đức tin công giáo và tà thuyết Ariô cũng dịu dần. Công lao của Đức Giám mục Grêgôriô trong công cuộc này thực không phải là nhỏ.

Năm 381 Công đồng chung thứ hai họp ở Côntantinopôli, Grêgôriô được cử lên chức Giám mục chính toà thành này và giữ ghế chủ tọa Công đồng. Sau ít lâu, mấy Giám mục trong hội nghị cãi nhau và cho rằng Đức Giám mục Grêâgôriô được bầu lên không hợp pháp. Khi Giám mục Mêlêcê do một số Giám mục bầu lên chủ toạ công đồng ly trần, sự xung đột càng căng thẳng, nhiều khi chỉ vì những lý do vụn vặt. Với tư cách là Giám mục Côntantinopôli, Grêgôriô cố sức dàn xếp để các Giám mục đoàn kết với nhau, nhưng cũng vô hiệu. Vì lòng khiêm tốn và yêu chuộng hoà bình, ngài bèn từ chức lui về xứ Cappađôcia. Việc ngài rút lui thực đáng cảm phục. Nhân dịp đó ngài đọc một diễn văn rất đặc sắc biểu lộ tinh thần hy sinh và khiêm tốn của ngài đến mực nào: "Thưa các ngài, là những người đã được Thiên Chúa triệu tập tới đây để quyết nghị những điều vừa ý Chúa, xin các ngài hãy thông qua những vấn đề liên hệ riêng đến bản thân tôi… Xin các ngài hãy tư tưởng cao thượng hơn, hãy đoàn kết thoả hiệp với nhau, tuy rằng giờ đây đã muộn…

Về phần tôi khác nào phát ngôn nhân Giona: tôi tự hiến để cả con tầu được thoát nạn, dù tôi không gây nên giông tố, tội vạ đổ trên đầu tôi, hãy bắt lấy tôi quăng xuống biển cả; một quái vật từ vực sâu sẽ đón nhận tôi. Ước gì hành vi này mở đầu cho việc đoàn kết của các ngài, rồi sau đó hãy tính chuyện khác… Nếu các ngài xô sát nhau chỉ vì câu chuyện của tôi, tôi coi việc các ngài tranh luận xem ai sẽ cai quản Côntantinopôli là một điều ô nhục. Nếu các ngài muốn thế, chả khó gì: tôi xin để người khác thế chân Giám mục và vui lòng bỏ toà ngay bây giờ; đàng khác, sức khoẻ của tôi cũng là lý do khiến tôi nên từ chức… "

Sau đó ngài đệ đơn lên Hoàng đế xin từ chức và được chấp thuận. Ngài về Cappađônia là quê tổ và tạm coi sóc giáo đoàn Najanô vẫn chưa có Giám mục. Khi giáo đoàn này bầu được chúa chiên thì ngài trở về quê hương ở Ajian sống ẩn dật và khắc kỷ. Nơi đây trong những ngày cuối cùng giữa cảnh thanh bình chuyên chú cầu nguyện và tu đức, ngài có giờ viết cuốn " Tự thuật " và sáng tác thi ca. Năm 390 ngài ly trần bằng an trong Chúa, để lại cho Giáo hội một sự nghiệp văn chương và tín lý gồm: 45 bài suy luận thần học và điếu văn, 245 bức thư và mấy tập thi ca. Trong những tác phẩm đó, qua lời văn rất chải chuốt, người ta đọc thấy những tư tưởng rất sâu sắc về ý nghĩa siêu việt và bất khả luận của Đấng Siêu Phàm.

Thực ra những tư tưởng rải rác của thánh nhân, chẳng qua chỉ là những tư tưởng mà chính ngài đã thực hành trong đời sống. Và nó đã mô tả đúng được chân dung của ngài. Đó là hình ảnh của một người hằng phục tùng trong đau khổ và sốt sắng ngưỡng mộ cái "Đẹp" thuần túy, Ánh Sáng Độc Nhất và cũng chính là Ba Ngôi Thiên Chúa. Đó là Ánh Sáng, mà theo lời thánh nhân, người đời chỉ lĩnh hội được, khi họ đã biến thành ánh sáng và khi họ đã tẩy rửa linh hồn cho thanh tịnh.