Ngày 31 tháng 12
THÁNH SILVÊTÊ I GIÁO HOÀNG

Thánh Silvêtê được liệt vào số các vị thánh Giáo Hoàng và quý danh ngài được ghi vào kinh cầu các thánh. Sở dĩ ngài được vinh dự như thế là nhờ có đời sống cá nhân thánh thiện và lại có công cải tổ phụng vụ Kitô giáo. Hơn nữa trong triều đại Giáo Hoàng của ngài có nhiều biến cố lớn đánh dấu một bước tiến vượt mức của Giáo hội Công giáo. Trong số đó có hai biến cố quan trọng nhất là việc tổ chức công đồng chung đầu tiên của Giáo hội Công giáo tại Nicêa và biến cố thứ hai không kém quan trọng là vua Constantinô trở lại và do đó Giáo hội được hòa bình.

Thánh Silvêtê sinh vào quãng năm 270 tại Rôma. Từ buổi thơ ấu ngài đã được một vị linh mục thánh thiện hướng dẫn, nên trong thời niên thiếu cũng như sau này trên ngai Giáo Hoàng, ngài chiếu giãi nhiều nhân đức cao đẹp. Năm 30 tuổi ngài thụ phong linh mục do chính tay vị Giáo Hoàng Mácxellinộ Được hồng ân đó cha Silvêtê cũng cố gắng sống thánh thiện xứng đáng tước vị cao cả. Ngài sống một đời sống linh mục gương mẫu, nhiệt thành và bác ái. Với tính tình hòa nhã, dễ thông cảm, cha Silvêtê gặt được nhiều kết quả trong công cuộc tông đồ, được mọi người quý mến.

Khi thánh Giáo Hoàng Menkiát băng hà, toàn thể giáo dân cũng như giáo sĩ đồng thanh chọn ngài kế vị. Với lòng khiêm nhường, ngài từ chối. Nhưng sau hiểu biết thánh ý Chúa ngài lĩnh nhận trách vụ nặng nề. Ngài lên ngôi giữa lúc Giáo hội bị nghiêng ngả vì những cuộc bách hại liên tiếp. Vì cơn khủng bố quá gắt gao, buộc lòng ngài phải trốn khỏi đền Giáo Hoàng đến ẩn tại núi Soractê cách Rôma độ bảy dậm để lánh nạn.

May thay cuộc bắt bớ tuy dữ dằn nhưng không kéo dài, và sau khi vua Constantinô trở lại, đạo Công giáo được tự do, Giáo hội sau bao năm sống trong thầm lặng lại trở ra hoạt động hăng hái hơn bao giờ dưới vị lãnh tụ anh minh là Đức Silvêtê. Các thánh đường mọc lên như nấm rải rác khắp thành Rôma. Trong số đó ta phải kể đại giáo đường Latêranô, đại giáo đường thánh Phêrô, đại giáo đường thánh Phaolô ngoại thành.

Thời gian này là thời gian thuận tiện để Đức Giáo Hoàng Silvêtê đem hết tài đức ra phụng sự Giáo hội. Ngài nỗ lực hoạt động mạnh mẽ để tổ chức Giáo hội cho có qui củ. Ngài tu sửa lại các luật lệ, cải tân phụng vụ và trang hoàng bàn thờ bằng những đồ thờ phượng quí báu. Ngài có công rất lớn trong việc đặt nền móng cho lâu đài phụng vụ Kitô giáo sau này bằng cách ban nhiều sắc lệnh và cách thức cử hành phụng vụ. Ngài cải tổ và hợp thức hóa các nghi thức cử hành phụng vụ trong các hầm mộ thời bắt đạo.

Một việc vĩ đại hơn hết mà Đức Giáo Hoàng Silvêtê đã làm là triệu tập công đồng chung đầu tiên cho toàn thể Giáo hội theo lời yêu cầu của vua Constantinô. Công đồng họp tại Nicêa năm 325, với sự hiện diện của 318 vị Giám mục. Vì tuổi cao, sức yếu ngài không chủ tọa công đồng được, ngài cử một phái đoàn thay mặt tới chủ tọa công đồng gồm Đức cha Ôsiô, Giám mục thành Cođuba và hai linh mục Vitê và Vinhsơn. Công đồng đề cập tới ba vấn đề trọng đại nhưng mức độ trọng đại không bằng nhau. Vấn đề thứ nhất là kết án bè rối Ariô, một lạc giáo chủ trương Chúa Giêsu không có Thần tính, không đồng bản tính với Chúa Cha. Trong công đồng này có thánh Athanasiô và Ariô, thánh Athanasiô đã chủ trương ngược lại với Ariô và đem ra đủ lý lẽ để bài bác lập luận sai lầm của Ariô. Thánh nhân đã lôi kéo được tất cả công đồng theo chủ trương của ngài. Công đồng đồng thanh chấp nhận tín điều Chúa Giêsu có cùng một bản tính với Thiên Chúa Cha. Công đồng Nicêa đã định nhiều tín điều khác lập thành một bản tuyên xưng đức tin duy nhất cho toàn thể Giáo hội. Bản tuyên xưng đó là bản kinh Tin kính (Credo) mà các linh mục đọc trong lễ trọng và trong lễ Chúa nhật trừ một đoạn về Chúa Thánh Thần mới thêm vào năm 381.

Vấn đề thứ hai được bàn định là vấn đề kết án lạc thuyết Mêlêxiô chủ trương.

Vấn đề thứ ba là vấn đề thống nhất ngày lễ Phục sinh cho toàn thể Giáo hội.

Chúng ta có thể nói Công đồng chung Nicêa là công đồng quan trọng nhất trong lịch sử Giáo hội Công giáo. Đó là một việc làm đặc sắc nhất và vinh dự nhất trong triều đại Giáo Hoàng Silvêtê và nhờ đó ngài đã làm cho Giáo hội vẻ vang tiến mạnh.

Sau 21 năm giữ ngôi Giáo hoàng, điều khiển Hội thánh ngày 21 tháng 12 năm 335, Đức Silvêtê ngã bệnh và băng hà, để lại cho toàn thể Giáo hội lúc đó một niềm mến thương vô biên. Xác ngài được an táng tại nhà thờ ở Rôma dâng kính ngài và thánh Máctinô.

Với ý nguyện của ngày lễ kính thánh Giáo Hoàng Silvêtê hôm nay, chúng ta hãy nguyện xin Chúa là mục tử đời đời, thương xem đoàn chiên Chúa, và nhờ sự cầu bầu của thánh Silvêtê, đấng Chúa đã đặt lên hướng dẫn Giáo hội, xin Chúa giữ gìn Giáo hội khỏi mọi lầm lẫn nghịch với đức tin.