THÁNH TÔMA AQUINÔ

CON NGƯỜI TRÍ THỨC VÀ THÁNH THIỆN

 


Trần Trung - Nguyễn Trọng
Viết theo M.J.Nicolas,OP


 


Thánh Tô-ma có một vị thế độc đáo duy nhất trong lịch sử tư tưởng Ki-tô giáo. Có lẽ nhiều người chỉ ưa nhìn ngài là một nhà tư tưởng thiên tài, còn tâm hồn và đời sống của ngài thì không đáng kể. Nhưng làm sao có thể hoàn thành một công cuộc phục vụ Đức Tin như thế mà không có một Tâm Hồn thánh thiện ? Chẳng lẽ không có một kiểu thánh thiện hoàn toàn phù hợp với một công cuộc như thế hay sao? Sự thánh thiện của Tô-ma đã không phát triển bên cạnh thiên tài của ngài sao ? Cách thế nên thánh đó được biểu lộ chính trong đời sống và sứ vụ trí thức của ngài. Thực sự, Tô-ma không chỉ là một tấm gương cho những ai đang tiếp tục sứ vụ trí thức trong Hội Thánh, nhưng còn cho mọi Ki-tô hữu mà đức tin luôn kêu mời đến ánh sáng của lý trí. Nơi Tô-ma, chúng ta thấy ngời sáng một khía cạnh của Ki-tô giáo : Thánh hóa lý trí. Trong trường hợp của ngài, Đức Tin đó còn thánh hóa cả tài nghệ của ngài. Chúng ta có khá đủ chứng từ của những người đã sống với ngài để thử phác họa nên chân dung Thánh Tô-ma. (trước tiên tài liệu của Guillaume de Tocco, và những lời chứng của Reginald de Piperno, thư ký của thánh nhân)


1. Một con người được dành riêng


Tô-ma là một người cao lớn, khỏe mạnh, khá mập mạp, có lẽ hơi nặng nề; trán rộng và hói, nước da rất mịn màng, mềm mại và rất nâu; điều này không phải do gốc gác Normand hay gốc Đức, nhưng có lẽ vì thân mẫu ngài là dân Neapoli. Thánh nhân có dáng đi khoan thai, chậm rãi và đầy suy tư. Như người ta kể lại : chỉ nguyên vóc dáng bên ngoài của ngài dường như đã tạo cho người khác một cảm tưởng lạ lùng về một con người đức ái dịu dàng. Nhìn ngài, người ta thấy được một sự an tâm và niềm vui tinh thần. Chúng ta biết ngài rất ngoan cường, có tính cương quyết và trầm tĩnh. Theo như người ta kể lại, lúc còn là một tập sinh, Tô-ma đã quyết liệt chống trả lại những chàng hiệp sĩ vũ phu là các anh mình; họ không tài nào dùng sức mạnh để lột được bộ áo của ngài, và sau cùng phải để lại bộ áo đã rách bươm trên mình ngài. Ngài vốn ít nói vì mải suy tư. Khi còn là một sinh viên, người ta gọi ngài là "chú bò câm thành Sicile". Thánh An-bê-tô đã nói tiên tri rằng những tiếng rống của chú bò đó sẽ vang dội cả thế giới. Trong Dòng, ngài tránh xa những cuộc đàm luận vô ích và khi khách bắt đầu nói chuyện phiếm thì ngài bỏ đi thẳng, không cần biết người đó là ai.


Ngài thường rất ngạc nhiên khi thấy những bậc nam nhi đã miệt mài vào việc suy nghĩ về Thiên Chúa, mà lại chuyện vãn lâu giờ với các phụ nữ và mất thì giờ với khách khứa, không phải vì một công việc hữu ích, vì nhu cầu hoặc bàn luận về Thiên Chúa hay về những điều thần thiêng, mà là những câu chuyện tràng giang đại hải. Điều làm ngài hết sức ngạc nhiên là - như ngài vẫn nói - một người nào, và đặc biệt là các tu sĩ, lại có thể nói về một điều gì khác hơn về Thiên Chúa hay những điều có thể giúp củng cố các tâm hồn.


2. Lòng đam mê chân lý


Tô-ma khó tin người ta lại phạm tội này tội nọ; trước những yếu đuối của người khác, ngài lấy làm "kinh ngạc", ngài không hiểu tại sao một tu sĩ lại có thể nghĩ đến những điều gì khác ngoài Thiên Chúa. Để chế nhạo sự ngây thơ của ngài, một anh em đã nói : "Này anh Tô-ma, ra mà xem con bò đang bay", và ngài đi xem thật. Khi bị người ta cười nhạo, ngài trả lời : "Tôi tưởng có con bò đang bay còn dễ tin hơn một tu sĩ nói dối". Có lẽ tâm hồn Tô-ma thật trong sáng và đầy ân sủng, và Tô-ma tưởng ai cũng như mình hoặc hơn mình.


Tôi kể ra ở đây toàn những chuyện nhỏ, nhưng ta có thể nhận ra từ những chứng từ của các người đã từng sống với Tô-ma như thế, một số nét rất thực của con người Tô-ma.


Người ta thường thấy thánh nhân chậm rãi qua lại các hành lang tu viện, hoặc trong vườn, mắt ngước lên trời, miệt mài suy niệm, khả năng suy tư trừu tượng của ngài thật kỳ diệu. Người ta đã kể rất nhiều nét về chuyện đó; chẳng hạn để làm mất cảm giác đau khi chịu giải phẩu, ngài chỉ cần tập trung tinh thần suy nghĩ một điều gì; hoặc lần khác, đang đêm vừa cầm nến vừa đọc cho thư ký chép, ngài đã để lửa làm cháy bỏng cả tay rồi mới biết; được mời tới ăn tối tại nhà Thánh Lu-y, thình lình người ta thấy ngài đập mạnh tay xuống bàn làm chén đĩa tung tóe, và kêu lên : "Ra rồi ! Tôi đã tìm ra chứng lý quyết định chống lại bè Ma-ni-kê"; Thánh Lu-y hóm hỉnh và tốt bụng kêu thư ký của mình tới ghi lại chứng cứ đó.


Các sử gia viết về ngài kể rằng, phải luôn luôn có người đóng vai "vú nuôi" cạnh ngài, vì hầu như thường xuyên ngài suy nghĩ say mê với những điều trên trời, quên cả việc dùng những thức ăn cần thiết cho cơ thể, người ta phải nhắc ngài và bày ra trước mặt những gì ngài phải dùng, vì e rằng do lầm lẫn ngài nuốt phải thứ có hại. Ngài không biết sợ là gì và người ta còn nói rõ ngài rất khỏe mạnh, có thể đứng vững như trời trồng ngay giữa cơn bão. Cú đập bàn nói trên, đã xảy ra hơn một lần, cho chúng ta thấy một tâm hồn đang sôi sục, đàng sau thái độ trầm tĩnh của ngài. Theo các nhà chuyên môn về tính tình, người điềm tĩnh là người nhiệt tình. Những người nhiệt tình là những người giàu cảm xúc, nhưng biết tập trung tính nhạy cảm vào một đối tượng độc nhất. Họ cũng là những người hoạt động, không chỉ tiếp nhận cách thụ động, nhưng dùng hết sức lực để đạt tới đối tượng, không dừng lại ở suy tư, nhưng còn diễn tả tư tưởng đó bằng lời nói và chữ viết; một sức hoạt động mạnh mẽ như thế mới kiến tạo nên được những tòa nhà trí thức thực sự, và in sâu suy nghĩ của mình vào tâm trí người khác, những người đó, không nhàn rỗi một lúc nào, luôn trầm tĩnh mà lại hoạt động cách kỳ diệu. Điều thôi thúc các hoạt động như thế chính là đam mê, là tình yêu.


Những người nhiệt tình không phải luôn luôn là những người dịu dàng. Còn Tô-ma, lại là một con người nhiệt tình hòa lẫn với sự dịu dàng, ta thấy điều đó trong cách thế ngọt ngào và đầy cảm nghiệm khi ngài nói về tình yêu, về tình bạn, hoặc hơn nữa, khi nói về Đức Ki-tô. Quả vậy, các hạn từ ngài dùng lúc đó đã thấm nhuần tình yêu, tuy lối hành văn cực kỳ khách quan của ngài chỉ muốn diễn tả điều ngài thấy và hầu như không muốn bao giờ diễn tả được điều ngài cảm nghiệm; điều ngài diễn đạt là chân lý chứ không phải chính mình. Đàng khác, ngài khóc dễ dàng, nhất là trong thánh lễ, hoặc hơn nữa, như người ta kể lại, trong giờ Kinh Tối mùa Chay, khi hát bài Media Vita, ngài đượm vẻ u buồn, khẩn khoản ... "Giữa cuộc sống chúng con đang đắm chìm trong sự chết, lạy Chúa, xin đừng bỏ rơi chúng con, khi chúng con già nua tuổi tác, khi sức lực chúng con hao mòn". Tôi vẫn thích ghi lại lòng sùng mộ đặc biệt của ngài đối với Thánh nữ tử đạo A-nê mà ngài luôn mang ảnh trên mình và mừng lễ bằng một bữa ăn huynh đệ thịnh soạn.


Tôi không dám nói rằng ngài là một nghệ sĩ hay thi sĩ, tuy nhiên ngài đã viết bài kinh nguyện về Thánh Thể, và cách kết cấu của bộ Tổng Luận Thần Học là cấu trúc của một thánh đường thiêng liêng. Nhưng ngài không phải là người dổi dào trí tưởng tượng, và có lẽ ngài sẽ tự trách mình nếu đã thêm vào lối hành văn một chút văn hoa vốn không ích gì để diễn tả điều mà ngài muốn làm cho thấy và hiểu.


3. Tất cả để phục vụ chân lý


Dường như Tô-ma không là một nhà quan sát về thiên nhiên cũng như về con người. Ngài chú ý tới nét tổng quát hơn là nét đặc thù. Người ta kể lại rằng lúc còn thơ ấu, nếu ngài sắp khóc, thì chỉ cần mang tới cho ngài một miếng da vẫn dùng để viết, lập tức ngài cho miếng da vào miệng và nín ngay, điều đó trở thành như một hình ảnh nói lên con người của ngài. Sau này chính bằng tâm trí mà ngài ngấu nghiến sách vở. Tô-ma đã từng nói không bao giờ mình đọc điều gì mà không hiểu, và theo ngài, hiểu tức là hiểu thấu đáo, không còn chút gì u tối. Đàng khác, Tô-ma nhớ tất cả những gì đã đọc. Tuy nhiên điều khiến chúng ta ngạc nhiên hơn cả về ngài, và còn hơn cả khả năng chăm chú và tập trung tinh thần nơi ngài, chính là sự chính xác về phán đoán và phân biệt, cảm quan tuyệt diệu dường như không hề sai chạy về cái chân, cái giả. Sự thấu triệt về chân lý giúp ngài phân biệt mọi khía cạnh của vấn đề, đồng thời sức mạnh tổng hợp giúp ngài tập trung mọi kiến thức vào một khối duy nhất. Trong khi chú tâm vào những chi tiết nhỏ, ngài vẫn không quên toàn thể.


Khả năng làm việc của ngài thật lạ lùng. Ngài có nhiều thư ký và, như người ta kể lại, cùng một lúc ngài đọc cho nhiều thư ký chép, như điều Napoléon sau này đã làm. Người ta còn kể là ngài đọc lúc đang ngủ. Kiểu nói đó dĩ nhiên phải xét lại; có thể trong khi chú tâm vào vấn đề, thân xác ngài nghỉ yên, bình lặng.


Không thể nói hết các thiên khiếu của trí tuệ ngài, nhưng xét cho cùng nét thánh thiện của ngài nằm ở chỗ nào trong các thiên khiếu đó ? Trong lãnh vực chân lý tự nhiên, những khi nhà thông thái mải mê suy tư, họ cũng chỉ sống trong trí tuệ, nhưng người ta không nói họ là những vị thánh. Người ta cũng tự hỏi có gì ngăn trở sự thánh thiện khi hiến trọn cuộc đời cho tư tưởng không ? Ham thích hiểu biết không phải là một trong ba dục vọng đó sao ? Suy tư, chẳng phải là một cách chiếm hữu thế gian sao? và hơn nữa nó chẳng đã cung cấp cho tính kiêu ngạo một chất liệu quý giá nhất đó sao ?


Thật ra, tính kiêu ngạo thực là mối đe dọa nơi ông hoàng trí tuệ. Nhưng Tô-ma lại coi một sự kiêu căng nhỏ là khờ dại, ngài nói thiên tài vĩ đại nhất của con người lại gần với sự thô lỗ nhất của con người hơn là gần sự thấp kém nhất của thiên thần. Sự khiêm tốn của người học giả đích thực là biết sự khôn ngoan của mình bé nhỏ biết bao, chân nhận tất cả đều do Thiên Chúa, nhất là những gì mình có hơn kẻ khác. Nhưng điều đó không phải chỉ là cái biết bằng đầu óc, mà phải thể hiện bằng hành động. Chính khi coi việc mình bị quên lãng hay bị coi thường là điều tự nhiên, là lúc người ta chứng tỏ sự khiêm tốn của mình. Câu truyện nhỏ sau đây cho thấy tinh thần đó nơi Tô-ma : cha Bề trên nhà nói với một thầy mới đến ở tu viện, khi thầy đó phải ra ngoài : Thầy hãy đi với một anh em nào mà thầy gặp đầu tiên. Và người đầu tiên đó lại là Tô-ma mà thầy không biết, lúc đó ngài đang đi đi lại lại trong tu viện theo như thói quen của ngài lúc suy tư. Vì vậy thầy kia đã yêu cầu Tô-ma cùng đi, và vị giảng sư đã chấp nhận không ngần ngại gì, bởi vì Bề trên đã nói : "Người anh em mà thầy gặp trước tiên". Rồi người ta thấy Tô-ma bị dẫn đi qua các đường phố, mồ hôi nhễ nhãi, hơi thở hổn hển, cho đến khi những người qua đường tức giận la lên. Họ hỏi ngài tại sao lại vâng lời như thế, ngài đã trả lời rằng : "Đời sống tu trì trọn hảo trong đức vâng phục, vì qua sự vâng phục, con người tuân phục vì tình yêu Thiên Chúa cũng như chính vì con người mà Thiên Chúa đã tuân phục con người".