Bài viết đề cập đến quan điểm và hình thức thờ cúng tổ tiên của người Công giáo Việt Nam qua tang ma, giỗ chạp, đám cưới, ngày Tết, ngày lễ các đẳng; sự tương đồng và khác biệt giữa người Công giáo và người không Công giáo trong vấn đề thờ cúng tổ tiên ở Việt Nam; những tương đồng giữa Công giáo Việt Nam với Công giáo Trung Quốc, Philippine, Nhật Bản. Qua đó cho thấy quá trình tiếp biến và hội nhập giữa văn hóa Công giáo với văn hóa bản địa ở Việt Nam.

kinhnhototien.jpg

1. Mở đầu

Thờ cúng tổ tiên là một tín ngưỡng lâu đời của người Việt Nam. Trong mọi gia đình người Việt Nam từ lâu tín ngưỡng này đã trở thành đạo lý “uống nước nhớ nguồn” trên nền của “đạo hiếu”. Đạo thờ cúng tổ tiên của dân tộc Việt Nam là một nét đẹp văn hóa của những con người thiên về “trọng tình” hơn “trọng lý”. Giống như các quốc gia Đông Nam Á khác, thờ cúng tổ tiên ở Việt Nam ngày càng được củng cố, mở rộng thêm khi mà các nền văn hóa Đông, Tây du nhập vào. Với sự giao thoa các yếu tố văn hoá từ bên ngoài, có những quan điểm khác nhau về thờ cúng tổ tiên ở những giai đoạn lịch sử, ở những luồng tư tưởng khác nhau như tư tưởng của Nho giáo, Phật giáo, Công giáo. Người Việt Nam sống trong môi trường làng với văn hoá làng tồn tại đậm đặc trong lối 
sống, phong tục tập quán, tín ngưỡng, văn hoá dân gian... Làng được xây dựng trên nền móng của quan hệ huyết thống của nhiều dòng họ. Và, thờ cúng tổ tiên của người Việt Nam (kể cả người Công giáo Việt Nam) đóng một vai trò quan trọng trong việc duy trì môi trường gia tộc và môi trường làng.

2. Thờ cúng tổ tiên của người Việt Nam

Quan niệm truyền thống của người Việt Nam cho rằng, con người có hồn và xác, xác thì có chết nhưng hồn thì tồn tại mãi ở thế giới khác, mà hồn mới là yếu tố cao quý của một con người. Quan niệm này giống các tộc người ở các quốc gia khác ở Đông Á như Trung Quốc, Philippine, Nhật Bản [9]... Hồn và xác liên kết nhau tạo nên sinh vật hoạt động được. Linh hồn chỉ thoát ra khỏi thể xác khi thực sự đã chết [6]. Người Việt Nam quan niệm “dương sao âm vậy”, con người sau khi chết còn có một cuộc sống nơi suối vàng giống như cuộc sống nơi trần thế với những nhu cầu tất yếu như ăn, mặc, chi tiêu và cả tích lũy phòng khi bất trắc. Do vậy, những người thân cần cúng giỗ để tổ tiên không bị thiếu thốn nơi âm gian, nơi chín suối. Người Việt Nam cho rằng “chín suối” là nơi sinh tồn của linh hồn tổ tiên sau khi thác, giống như cõi Niết Bàn trong quan niệm của Phật giáo, nơi Thiên Đàng của Công giáo. Người Công giáo Philippine cũng 
tin vào linh hồn, vào cuộc sống sau cái chết. Một người chết vẫn tiếp tục những sinh hoạt bình thường của mình trong thế giới của các linh hồn [9, tr.19].

 

Với quan niệm như vậy, người Việt Nam coi việc cúng giỗ là một đạo hiếu và họ không bao giờ bỏ cúng giỗ ông bà cha mẹ, cúng giỗ tổ tiên của mình. Việc cúng giỗ là biểu hiện mối dây liên kết mật thiết giữa tổ tiên (những người đã khuất) với con cháu (những người còn sống); hay là biểu hiện mối quan hệ giữa thế giới của người sống và thế giới của người đã thác. Mặt khác, thờ cúng tổ tiên cũng là việc để con cháu thể hiện sự biết ơn của mình đối với công giáo dưỡng của cha mẹ. Chính vì vậy việc cúng giỗ càng chu toàn bao nhiêu thì lòng con cháu càng an tâm thanh thản bấy nhiêu. Từ lòng tôn kính, sự mong muốn báo đáp cho tổ tiên ở nơi “chín suối”, từ niềm tin vào linh hồn tổ tiên sau khi thác, con cháu tìm cách báo hiếu với tổ tiên bằng việc cúng giỗ, thắp hương tưởng niệm, cẩn báo với tổ tiên mỗi dịp lễ tết, mỗi khi có việc trọng đại như hôn nhân hay tang lễ... Đây cũng là những dịp người lớn muốn nhắc nhở cho con cháu về cội nguồn của dòng họ và ghi nhớ việc báo hiếu với tiên tổ. Trong các cuộc điều tra về tôn giáo của Viện Nghiên cứu Tôn giáo tiến hành từ 1995 đến nay thì người Việt Nam thực hiện việc thờ cúng tổ tiên chiếm tỷ lệ trung bình năm là 98%.

 

Thờ cúng tổ tiên mang tính chất phổ quát nhưng đồng thời cũng mang tính khu biệt trong các hình thức thể hiện với từng nhóm xã hội - tôn giáo cụ thể. Điều đó tuỳ thuộc vào niềm tin và quan niệm cụ thể của mỗi nhóm xã hội - tôn giáo này. Chính những đặc tính khu biệt của những hình thức thể hiện việc báo hiếu tổ tiên đã tạo nên sự đa dạng và khởi sắc của việc thờ cúng tổ tiên. Điểm đầu tiên tạo nên sự khu biệt đặc thù ở các tôn giáo và các nhóm xã hội là quan niệm về hồn và nơi ở của hồn sau khi chết. Người vô thần thì không tin có linh hồn và cuộc sống sau khi chết, họ quan niệm “chết là hết”. Phật giáo quan niệm đời sống con người gắn chặt với kiếp; sau khi chết nếu hồn chưa thoát được nghiệp chướng sẽ vẫn còn bị vướng vào vòng luân hồi để quay trở lại một kiếp nào đó tương xứng với những gì mình đã làm trong kiếp trước. Phật giáo chủ trương không sát sinh vì có thể động vật ấy là một sinh linh đầu thai từ kiếp trước. Với quan niệm này, việc báo hiếu tổ tiên được thực hiện bằng những nghi lễ cầu siêu theo phương thức nhà Phật, nhà có tang ma sẽ mời sư thầy đến tụng kinh cho người chết mau siêu độ; đến ngày lễ Vu Lan con cháu đến chùa dâng lễ cúng Phật cầu cho cha mẹ. Lễ Vu Lan theo quan niệm Phật giáo là ngày Phật đại xá, những việc lành con cháu làm trong ngày này thì cha mẹ được hưởng phúc.

3. Thờ cúng tổ tiên của người Công giáo

Công giáo có một quan niệm riêng về sự tồn tại của linh hồn và thể xác, về nơi mà hồn sẽ “cư ngụ” sau khi chết - đó là Thiên Đàng, địa ngục hay nơi luyện ngục [5, tr.91 - 92]. Công giáo quan niệm chết không phải là hết; những người sống đẹp lòng Thiên Chúa, không mắc tội sẽ được lên Thiên Đàng và được gọi là các Thánh. Những người còn mang tội thì tuỳ thuộc vào tội nặng hay nhẹ mà phải xuống luyện ngục hay hoả ngục để đền bù tội lỗi mình đã làm khi còn sống và được gọi là các linh hồn. Quan niệm về sự chết, sự sống, về phần hồn, phần xác là những tín điều mà mọi giáo dân Công giáo đều tin theo mặc dù việc giải thích những điều này chưa có những luận cứ rõ ràng. Điều chính yếu là ở niềm tin của giáo dân. Người Công giáo cũng tin rằng giữa những người đang sống và những người khuất (các Thánh và các linh hồn) vẫn có mối liên hệ qua lại. Các Thánh sẽ cùng Thiên Chúa phù hộ cho những người sống. Người sống tạo lập các công phúc nhằm giúp các linh hồn chuộc những tội lỗi đã phạm phải khi còn ở trần gian, có thể lên Thiên Đàng và lại cùng Thiên Chúa phù hộ cho chính người sống. Mối quan hệ qua lại giữa người sống với các Thánh, các linh hồn và Thiên Chúa chính là cơ sở niềm tin của sự chuyển giao công trạng. Người sống thờ kính những người đã khuất để bày tỏ lòng biết ơn của mình với họ vì những gì họ đã làm cho con cháu khi còn sống và cả những điều họ sẽ cùng Chúa ban phúc cho con cháu sau khi chết. Kết quả điều tra tại các địa bàn cho thấy, mục đích của việc thờ cúng tổ tiên là để tỏ lòng biết ơn với tổ tiên của người Công giáo chiếm 98,9% [3]. Ở Philippine, người Công giáo thờ cúng tổ tiên vì họ tin rằng tổ tiên sẽ mang lại điều thiện và điều ác cho người sống [11].

 

Có thể nói, cơ sở của việc thờ cúng tổ tiên ở người Công giáo xuất phát ngay trong giáo lý của họ. Niềm tin tôn giáo của họ được đặt trọn vẹn vào đấng tối cao là Thiên Chúa. Thiên Chúa là trung tâm điểm nên mọi vấn đề, mọi sự lý giải, mọi ngôn từ diễn tả đều nhằm tôn vinh hình ảnh của Chúa Trời. Việc thờ cúng tổ tiên, báo hiếu tổ tiên là những điều thuộc về con người, giáo lý đã đề ra như là những điều luật, buộc mọi người phải thực hiện. Trong “thập giới” (Mười điều răn của Thiên Chúa) thì sau ba điều răn dạy con người thờ phụng Thiên Chúa, điều răn thứ tư buộc giáo dân phải “thảo kính cha mẹ”. Điều này đứng sau việc tôn thờ Thiên Chúa. Đây là điều rất quan trọng buộc mỗi giáo dân Công giáo phải có trách nhiệm và nghĩa vụ thực hiện. Con cái luôn quan tâm, chăm sóc cha mẹ khi khoẻ mạnh cũng như lúc ốm đau là việc làm đẹp lòng Thiên Chúa. Người Công giáo tin rằng sự hiện hữu của con người là hồng ân mà Thiên Chúa ban tặng. Và con cái luôn phải biết ơn công dưỡng dục sinh thành của cha mẹ, không ngoại trừ một lý do nào, bởi đó không chỉ là bổn phận mà còn là việc làm đạo đức mà con cái dành tặng cha mẹ, cũng là việc làm đẹp dâng lên Thiên Chúa. Kinh Thánh công nhận niềm hạnh phúc của một gia đình là cha mẹ biết thương yêu con cái và con cái biết vâng lời, hiếu thảo với cha mẹ. Đây chính là cơ sở để người giáo dân Công giáo thực hành việc thờ cúng tổ tiên. Theo đó, thờ cúng tổ tiên trước hết là đạo làm người, là lòng thành kính, biết ơn của thế hệ sau với thế hệ trước. Do đó, dù một thời gian dài bị lãng quên với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt Nam bản địa do cách nhìn hạn chế từ phía Giáo hội, nhưng việc thờ kính tổ tiên vẫn tồn tại trong tâm khảm đời sống tâm linh của người Công giáo Việt Nam. Đây là một vấn đề mang tính lịch sử trong quá trình truyền giáo mở rộng “nước Chúa” của Toà thánh Vatican, Việt Nam không là ngoại lệ.

 

4. Vấn đề thờ cúng tổ tiên trong lịch sử Công giáo

Việc thờ cúng tổ tiên của người Công giáo ở Việt Nam liên quan mật thiết đến thái độ ứng xử của Toà thánh và các đoàn truyền giáo đối với vấn đề này trong lịch sử truyền giáo của đạo Công giáo.

 

Việc thờ cúng tổ tiên của người Việt Nam không thể tách rời khỏi hoàn cảnh lịch sử "Nghi Lễ Trung Hoa". Trong thời gian Matteo Ricci, bề trên dòng Tên (S.J.) còn sống chẳng có vấn đề tranh chấp về Nghi lễ Trung Hoa. Sau khi Mattheo Ricci qua đời (1610), vấn đề được đặt ra ngay giữa nhóm dòng Tên. Khi thừa sai các dòng khác (Đa Minh, Augustinô, Phanxicô, thừa sai Ba Lê) đến Trung Hoa (từ 1630 trở đi), vấn đề tranh tụng trở nên gay gắt. Diễn tiến cuộc tranh chấp qua các triều Giáo hoàng khác nhau và những quyết định được ghi lại trong các văn kiện tòa thánh. Các văn kiện về Nghi lễ Trung Hoa đều ảnh hưởng đến Việt Nam và các nước lân cận.

 

4.1.   Thái độ ứng xử của Toà thánh La Mã

Vấn đề thờ cúng tổ tiên của Công giáo tại Phương Đông (chủ yếu là ở Trung Quốc, Việt Nam...) kéo theo sự quan tâm của hơn chục vị Giáo hoàng trên nhiều ngả với những cuộc tranh luận giữa các thừa sai thuộc các dòng truyền giáo khác nhau. Trong khi các linh mục dòng Tên ở Trung Quốc không lên án cúng tế Khổng Tử và ông bà ông vải, thì các thừa sai Pháp ở Việt Nam lại phản đối quyết liệt vì cho rằng nghi lễ ấy là rối đạo không khác gì lễ nghi thờ Bụt, thờ Thần [2].

 

Giáo hoàng Clemente XI (1700 - 1721) tổ chức một hội nghị gồm các giám mục để bàn về vấn đề này và sau đó chấp nhận bản nghị quyết của Toà Điều tra trong Tông hiến đề ngày 20 tháng 11 năm 1704. Theo đó Giáo hoàng buộc các giám mục, linh mục của tất cả các dòng truyền giáo đều phải tuân theo Toà thánh trong việc bác bỏ thờ cúng tổ tiên. Không chấp nhận bất kể sự khiếu nại nào. Giáo hoàng Clemente XI còn ban hành Tông chiếu Exilladie đề ngày 19 tháng 3 năm 1715, nhắc lại hai Tông hiến 1704 và 1710 và Sắc lệnh Nam Kinh 1707 phạt vạ tuyệt thông những người không tuân phục Toà thánh La Mã về những lễ nghi đã bị bác bỏ, buộc các thừa sai ở Phương Đông (trong đó có Việt Nam, Trung Quốc, Philippine, Nhật Bản...) phải tuyên thệ trung thành với Toà thánh La Mã trong vấn đề này. Giáo hoàng Benedicto XIV (1740 - 1758) ban hành Bulle Ex Quo Singular đề ngày 11 tháng 7 năm 1742 cấm người Châu Á không được thờ cúng tổ tiên. Đạo luật này đã làm cho các tín đồ Công giáo Trung Hoa bất mãn tức giận nên họ đã bỏ đạo gần hết. Chỉ còn lại một số rất ít tiếp tục theo Công giáo La Mã mà thôi [10]... Đến lúc đó cuộc tranh luận thờ cúng tổ tiên tạm chấm dứt. Đây là thời gian dài thờ cúng tổ tiên bị Tòa thánh Vatican ngăn cấm triệt để ở các nước Đông Á như Việt Nam, Trung Quốc, Philippine, Nhật Bản...

 

Vấn đề thờ cúng tổ tiên được bàn trở lại nửa đầu thế kỷ XX với Huấn dụ Plane Compertn est của Thánh bộ Truyền giáo La Mã, được Giáo hoàng Piô XII chấp thuận ngày 7 tháng 12 năm 1939. Huấn dụ bác bỏ hai Tông chiếu Ex Quo (1742) và Exilladie (1715). Tiếp theo Giáo hoàng ra sắc lệnh Summi Portificantus công nhận những nghi lễ thờ cúng tổ tiên không phải là những nghi lễ đích danh tôn giáo, mà chỉ là những biểu thị lòng sùng bái chính đáng đối với những bậc tài đức trong nước cũng như lòng hiếu thảo đối với người quá cố.

 

Vấn đề thờ cúng tổ tiên được tái khẳng định trong Công đồng Vatican II (1962 - 1965), trong đó nhấn mạnh đến sự hiệp thông với người đã mất như sau: tất cả những ai thuộc về Chúa Kitô và nhận lãnh Thánh thần, đều họp thành một giáo hội duy nhất và liên kết với nhau trong Ngài. Bởi vậy, sự hiệp nhất giữa người còn sống dương thế với các anh em đã yên nghỉ trong bình an Chúa Kitô không hề bị gián đoạn. Trái lại, Giáo hội xưa nay luôn tin rằng sự hiệp nhất đó còn được vững mạnh hơn nhờ việc truyền thông cho nhau. Sau Cộng đồng Vatican II, thờ cúng tổ tiên được thực hiện trong cộng đồng Công giáo ở Đông Á, trước tiên là Trung Quốc, Phillipine, Việt Nam.

 

4.2. Thái độ ứng xử của các đoàn truyền giáo tại Việt Nam

Dòng Đa Minh là một trong những dòng truyền giáo có mặt đầu tiên tại Việt Nam. Năm 1679, Toà thánh La Mã chia địa phận Đàng Ngoài thành Tây và Đông. Địa phận Đông được giao cho dòng Đa Minh cai quản. Có thể nói, trong các dòng truyền giáo ở Việt Nam thì dòng Đa Minh có thái độ tiêu cực nhất đối với vấn đề thờ cúng tổ tiên.

 

Ngày 7 tháng 6 năm 1759, Pater lui Huy bề trên cả đại diện tông toà coi sóc địa phận Đông ra thư gửi cho các giáo sĩ và giáo dân địa phận nói về “36 sự rối nước An Nam, Đức Thánh Pha Pha đã đoán phi”, trong đó có nhiều “sự rối” về thờ cúng tổ tiên. Năm 1796, Đức thày Phê ra thư gửi bổn đạo địa phận Đông nhắc lại việc cấm làm nhà táng, khi đưa xác không được đi kiệu ông thánh nọ, bà thánh kia. Dòng Đa Minh có đưa ra một số lễ thức cho việc “đưa xác” người qua đời, chấp nhận một số phong tục như nhận câu đối phúng viếng của gia quyến trong tang ma. Tuy nhiên các câu đối đó phải đảm bảo nguyên tắc “không có điều gì phạm sự đạo”.

 

Hội truyền giáo Paris (MEP) về tổng thể thì nghiêm cấm giáo dân thực hành thờ cúng tổ tiên. Tại Huế, trong một thời gian dài, các thừa sai hội truyền giáo Paris và các thừa sai dòng Tên bất đồng với nhau về cách nhìn nhận và ứng xử với thờ cúng tổ tiên. Ở một số địa phận đặt dưới quyền cai quản của hội truyền giáo Paris, giáo dân được phép thực hiện hình thức cúng hậu. Hình thức cúng hậu vào nhà thờ Công giáo được duy trì đến giữa nửa thế kỷ XX. Thời điểm cuối thế kỷ XIX ngày càng nhiều người nộp tiền của, đất đai vào nhà thờ để xin lễ hậu. Người xin cúng hậu gồm cả người có con trai và người không có con trai nối dõi. Đôi khi con trai của người nào đó đem ruộng đất, hương hoả của cha mẹ để lại cúng hậu vào nhà thờ để hàng năm nhà thờ lo cầu nguyện linh hồn cho bố, mẹ (hoặc có khi cả ông bà) dịp ngày giỗ. Dần dần, cúng hậu đã trở thành một vấn đề mà không chỉ linh mục, giám mục mà cả Toà thánh La Mã quan tâm. Năm 1905, Toà thánh La Mã ban sắc truyền về cúng hậu.

 

Trong việc tưởng nhớ người qua đời, giáo hội Công giáo lấy ngày 2 tháng 11 hàng năm để cầu cho các tín hữu đã qua đời và cầu cho các đẳng hoặc cầu cho các linh hồn nơi luyện ngục. Đây là dịp để các tín hữu cầu cho các linh hồn của người thân đã quá cố được nhẹ tội và có thể lên Thiên Đàng.

 

5. Các nghi thức thờ cúng tổ tiên của người Công giáo Việt Nam

Người Công giáo Việt Nam thực hiện việc thờ cúng tổ tiên vào các dịp như Tết Nguyên đán, lễ các đẳng, đám tang, đám giỗ, cưới xin... với những hình thức đa dạng. Kết quả điều tra năm 2014 cho thấy, trong các dịp quan trọng này, người Công giáo thực hiện thờ cúng tổ tiên với tỷ lệ 100%. Ở Trung Quốc, Philippine, người Công giáo cũng thực hiện thờ cúng tổ tiên vào các dịp quan trọng trên [11].

 

Thờ cúng tổ tiên của người Công giáo Việt Nam được thể hiện rõ ràng và đậm nhất qua các nghi thức tang ma và giỗ chạp.

 

Trong tang ma có các giai đoạn cụ thể như trước khi chết, khi qua đời.

 

Theo người Công giáo Việt Nam từ nửa cuối thế kỷ XIX khi qua đời là sinh thì, khi hấp hối gọi là rình sinh thì. Một số người giải thích rằng: người Công giáo quan niệm khi đó con người chết nơi trần thế, nhưng khởi đầu một đời sống mới nơi Thiên Đàng. Giờ phút chết cũng có nghĩa là thời (thì) điểm khai sinh một cuộc sống mới ở nơi khác. Chuông nhà thờ xứ dành cho người chết là chuông sinh thì hay còn gọi là chuông sầu, chuông tử.

 

Người Công giáo Việt Nam trước hết là người Việt Nam, vì vậy nhiều nội dung tang phục, tang chế,... đối với người Công giáo Việt Nam được thực hành tương tự như người Việt Nam không theo Công giáo. Song về mặt tang lễ thì có nhiều điều khác biệt, thể hiện rõ đặc thù do giáo hội quy định.

 

Khi tín đồ sắp qua đời, đang hấp hối các thừa tác viên (linh mục hay phó tế hoặc một trong số những người trong Ban hành giáo) được mời đến làm lễ xức dầu bệnh nhân với những nghi thức đã được quy định trong nghi lễ Công giáo. Thân nhân và các đồng đạo khi biết tin người hấp hối đều tập trung tại nhà người hấp hối; họ đọc kinh cầu nguyện cho người sắp qua đời được “ơn chết lành và được hưởng nhan Chúa”, đồng thời cũng là để nâng đỡ về mặt tinh thần cho thân nhân người sắp qua đời và giúp đỡ những công việc có thể. Kết quả điều tra tại Tử Nê, Nỗ Lực, Cái Mơn cho thấy 91% gia đình giáo dân có mời linh mục đến làm phép xức dầu, 92,5% tín đồ tập trung đọc kinh cầu nguyện tại gia đình người đang hấp hối. Theo kết quả điều tra xã hội học tôn giáo tại xứ đạo Tử Nê năm 2008, 2014; Nỗ Lực 2009, 2011; Cái Mơn 2009, 2014; tỷ lệ số gia đình mời riêng linh mục đến làm lễ xức dầu là 91%, tỷ lệ số các gia đình mời các thừa tác viên khác như phó tế hay trùm trưởng là 100%.