Khi qua đời, người chết được đặt trên giường, xung quanh có thể rắc hoa tươi hoặc vẩy nước thơm. Vào một thời điểm thích hợp người thân làm lễ tẩm liệm, nhập quan. Người Công giáo không có quan niệm chết vào giờ lành hay dữ, không chọn ngày, giờ tốt đưa tang; không thiết hồn bách, làm nhà táng, minh tinh, không có linh xa (kiệu hay xe) đưa rước linh hồn người qua đời. Tuy nhiên, luật buộc một số ngày như chủ nhật mùa vọng, mùa chay, phục sinh, các lễ trọng, thứ 4 lễ Tro và Tam nhật vượt qua không được làm lễ an táng người qua đời, mà phải đổi ngày khác [1, tr. 206]. Khi có người chết, ngoài việc báo với chính quyền thôn, người thân phải báo với linh mục chính xứ và Ban hành giáo biết tin. Nhà thờ rung chuông sầu báo hiệu có đồng đạo qua đời. Tuỳ theo số tiếng (7 hay 9 tiếng) mà có thể biết người qua đời là nam hay nữ, già hay trẻ. Nếu người mất là người cao tuổi thì tiếng chuông sầu cuối sẽ rung dài, còn nếu là người trẻ tuổi thì tiếng chuông sầu sẽ rung ngắn. Nếu người qua đời là linh mục thì chuông sầu rung lên cả ngày đêm cho tới khi việc an táng linh mục quá cố kết thúc. Khi nghe chuông sầu, tín đồ ngừng việc đang làm hướng về phía nhà thờ đọc Kinh lạy Cha, tỏ lòng tiếc thương người qua đời.

 

Ở các xứ đạo Công giáo, từ khi giáo dân qua đời cho tới khi tiến hành nghi thức an táng tại nhà thờ, họ hàng, bà con và các đồng đạo lần lượt thay nhau cầu nguyện canh thức bên thi hài người quá cố. Người ta đặt một bàn nhỏ, trên có nước thánh, hoa quả, một bát hương và hương để sẵn trước linh cữu người quá cố. Người Công giáo khi đến viếng xác người mới qua đời thường thắp hương, vái lạy người chết và đọc kinh cầu nguyện. Đến giờ an táng, Thừa tác viên đọc lời nguyện và rảy nước thánh lên thi hài người quá cố. Sau đó, họ đưa quan tài đến nhà thờ, thánh giá đi đầu và Thừa tác viên có chức thánh đi trước quan tài. Người quá cố được đưa vào nhà thờ ở tư thế (nếu là giáo dân) quay mặt về phía bàn thờ Chúa với ý nghĩa ngắm nhìn lên Thiên Chúa. Thánh lễ an táng được cử hành theo nghi thức phụng vụ mà Giáo hội quy định. Việc cử hành phụng vụ trong thánh lễ đều mang ý nghĩa cầu nguyện cho linh hồn người quá cố. Những người tham dự thánh lễ đều hướng đến việc xin ơn cầu nguyện cho người quá cố sớm được hưởng nhan Chúa.

 

Sau nghi thức tại nhà thờ, người qua đời được đưa đi an táng. Thứ tự thường là: cờ tang, thánh giá nến cao, trẻ nam, trung nam, bát âm, vòng hoa, quan tài, thân chủ người qua đời, bổn đạo đưa tiễn. Người Công giáo Việt Nam không có tục lệ con đưa tiễn bố qua đời phải đi phía sau, tiễn đưa mẹ qua đời phải đi giật lùi phía trước quan tài. Các hình thức khóc lóc, lăn đường, cắt tóc tang... đều bị giáo hội nghiêm cấm [1, tr. 212]. Tại Vườn Thánh linh mục hoặc Thừa tác viên tiến hành các nghi thức tiễn biệt cuối cùng với người quá cố theo như Giáo hội quy định như nghi thức làm phép ngôi mộ mới, nghi thức từ biệt trước khi hạ quan tài xuống huyệt. Tiễn đưa người quá cố có đông đủ họ hàng thân thích, thân bằng cố hữu và các đồng đạo trong xứ đạo. Ở Philippine, “người Công giáo cũng làm theo các phong tục truyền thống liên quan đến nghi lễ chôn cất, họ thường mời các linh mục làm các nghi thức cuối cùng khi chôn cất người quá cố” [11].

 

Sau khi an táng người qua đời, gia đình người Công giáo lập bàn thờ tôn kính. Bàn thờ tổ tiên người Công giáo được trang hoàng bày biện với bát hương, hương, nến, đèn, lọ hoa, di ảnh người quá cố, Kinh thánh và hoa quả. Tập tục này cũng thấy ở người Công giáo Trung Quốc, Philippine. Bàn thờ tổ tiên của người Công giáo được lập theo nguyên tắc nhất định, đó là: bàn thờ tổ tiên luôn luôn thấp hơn bàn thờ Chúa Giêsu.

 

Người Công giáo Việt Nam không có tục bốc mộ, thiêu xác hay cốt người qua đời. Người qua đời được “đào sâu chôn chặt”, còn gọi là kim tĩnh, mộ có thể được xây kiên cố. Kết quả điều tra xã hội học tại các điểm nghiên cứu cho thấy 100% giáo dân Công giáo thực hiện kim tĩnh người quá cố.

 

Qua thời gian dài, người Công giáo Việt Nam dần dần xuất hiện các loại kinh cầu nguyện liên quan đến người qua đời và tôn kính tổ tiên như: kinh cầu cho bệnh nhân; kinh cầu cho người hấp hối; kinh cầu cho người vừa tắt thở; kinh cầu nguyện lúc tẩm liệm; kinh cầu cho các linh hồn... Tuy không thực hành nghi lễ cúng như truyền thống của người Việt Nam, tín đồ Công giáo không vì vậy mà không có những hình thức tưởng niệm riêng. Những hình thức này dựa trên tập tục cổ truyền nhưng có nội dung Công giáo (như 3 ngày: đi thăm mộ, cầu kinh; 49 ngày: lễ và đọc kinh cầu nguyện; 100 ngày: lễ và đọc kinh cầu nguyện; giỗ đầu hay tiểu tường: đọc kinh cầu nguyện; giỗ hết hay đại tường: đọc kinh cầu nguyện). Kết quả điều tra xã hội học cho thấy tất cả các hình thức trên đều được thực hiện trong cộng đồng giáo dân Công giáo.

 

Hàng năm đến ngày giỗ, gia đình người Công giáo Việt Nam thường có hai hình thức tưởng niệm chính: xin lễ bàn thờ hoặc xin lễ mồ. Trong các ngày giỗ, người Công giáo xin lễ, đọc kinh, thăm mộ và tổ chức bữa cơm gia đình và cũng gọi là ăn cỗ. Thánh lễ tại nhà thờ vào dịp này thường có sự tham gia đầy đủ của các con cháu trong gia đình và của các đồng đạo khác. Các nghi thức cử hành lễ giỗ không khác nhiều so với các thánh lễ khác. Chỉ có điều, khi thánh lễ bắt đầu, một người trong gia đình người quá cố sẽ cầm một bó hương, đi từ dưới nhà thờ lên trên gian cung thánh, đứng trước linh hương và vái lạy trước sự chứng kiến của mọi đồng đạo. Linh mục làm lễ giỗ phải thông báo tên thánh của người xin lễ giỗ để cộng đoàn giáo dân hiệp thông cầu nguyện cho linh hồn đó. Ngoài ra, buổi tối gia đình người có giỗ thường tổ chức đọc kinh, cầu nguyện cho linh hồn người qua đời. Các đồng đạo trong họ, xứ cũng được mời đến đọc kinh chung. Kinh bắt buộc phải đọc là Kinh cầu cho các linh hồn. Ở các xứ đạo Công giáo Việt Nam, trước đây những người không có con trai để lo việc cúng giỗ cầu nguyện hàng năm, trước khi qua đời, thường “cúng hậu” vào nhà thờ Công giáo.

 

Ngoài những ngày giỗ, niên lịch Công giáo còn dành riêng ngày 2 tháng 11 hằng năm để cầu nguyện cho ông bà cha mẹ, đó là ngày lễ các đẳng hay còn gọi là lễ cầu hồn. Tháng 11 dương lịch hằng năm được gọi là tháng Cầu hồn. Vào dịp này giáo dân thường lo tu sửa lại Vườn Thánh, tu sửa mộ chí thân nhân, linh mục, tu sĩ. Buổi chiều ngày 2 tháng 11, một thánh lễ được diễn ra trong nhà thờ để cầu nguyện cho các linh hồn. Sau đó linh mục cùng giáo dân đi từ nhà thờ xứ ra Vườn Thánh. Dọc đường giáo dân đọc kinh cầu nguyện. Sau đó, tín đồ thắp nến trên mộ của người quá cố là thân nhân, đồng hữu của mình. Ngoài ra, vào các dịp cuối năm, đầu xuân, người Công giáo thường ra Vườn Thánh tảo mộ, tưởng nhớ người qua đời. Việc thờ cúng tổ tiên được người Công giáo chú trọng, biểu hiện rõ nhất ở những nghi thức diễn ra trong hai ngày: ngày cuối năm và ngày mồng 2 Tết Nguyên đán. Từ rất lâu đời, ngày mồng 2 Tết Nguyên đán là ngày giáo hội Công giáo Việt Nam chọn là ngày kính nhớ ông bà tổ tiên với một thánh lễ. Tùy theo từng giáo xứ, họ đạo mà tổ chức thánh lễ cho ngày kính nhớ ông bà tổ tiên.

 

Tại các xứ đạo Công giáo, vào ngày 30 Tết, trong những gia đình tộc trưởng bàn thờ tổ tiên đã được lau chùi sạch sẽ, trang hoàng đẹp đẽ, bày biện thêm nhiều quả, hoa tươi. Vào tối ngày cuối cùng của năm, mọi người trong tộc đều tập trung về nhà ông tộc trưởng, trước khi đọc kinh cầu nguyện cho tiền nhân, người tộc trưởng tuyên bố lý do của việc tập trung cả chi tộc ngày hôm đó. Sau đó, người tộc trưởng đốt hương và vái lạy trước bàn thờ tổ tiên trong sự chứng kiến của toàn thể chi tộc. Sau khi thắp hương, nến, điện trên bàn thờ tổ tiên, buổi cầu nguyện cho tổ tiên bắt đầu diễn ra. Kinh cầu nguyện cho tổ tiên thường là những kinh trong sách bổn và 50 kinh kính mừng với ý chỉ cho tổ tiên. Sau khoảng 1 giờ, việc đọc kinh cầu nguyện kết thúc, mọi người tâm niệm trong mình những tâm tình về công ơn của tổ tiên, ông bà. Người ta nói chuyện và kể lại những câu chuyện về các bậc tiền nhân. Người lớn tuổi kể cho con cháu nghe về những bậc cố nhân, những kỉ niệm xưa. Tất cả tạo nên một không khí thiêng liêng, gần gũi và gợi nhớ về tổ tiên. Vào đầu năm mới, ngày mồng 2 Tết, con cháu lại tập trung ở nhà ông tộc trưởng lần nữa để chúc tết lẫn nhau và chủ yếu là để cầu nguyện cho ông bà tổ tiên. Hình thức cũng giống như buổi lễ cầu nguyện cho tổ tiên vào đêm 30 Tết. Sau đó các gia đình Công giáo trong làng thường “kết thành từng đoàn, toán đến các nhà có người chết trong năm để cầu nguyện cho người quá cố” hay đi đọc kinh chúc tết mọi gia đình đồng đạo khác. Đây là một tập tục tốt đẹp có ở nhiều xứ đạo Công giáo ở Việt Nam như Tử Nê (Bắc Ninh) là một ví dụ điển hình.

 

Người Công giáo khác với người không theo Công giáo về những nghi lễ liên quan đến họ tộc như không xây từ đường họ tộc và cũng không có ngày giỗ tổ (họ tộc). Thông thường, thánh quan thày của họ đạo được xem là tổ họ. Ngày kỷ niệm thánh quan thày được xem là ngày giỗ họ. Đó là một trong những lễ lớn của họ đạo. Tuy nhiên, người Công giáo ở nhiều nơi vẫn lập gia phả, vẫn ghi nhớ ngày giỗ để truyền cho con cháu các thế hệ kế tiếp. Thông thường trong mỗi gia đình tộc trưởng thường có một cuốn sổ ghi ngày mất, tên thánh của ông bà tổ tiên cho đến đời thứ 3, thứ 4. Còn các đời trước đó thì người ta chọn ngày mồng 2 Tết Nguyên đán làm ngày cầu nguyện chung cho tiền nhân. Thực tế hiện nay ở nhiều vùng Công giáo như Tử Nê (Bắc Ninh), Kim Sơn, Yên Mô (Ninh Bình), việc lập gia phả đã có nhiều. Có hai hình thức lập gia phả phổ biến: một là lập cây gia phả, hai là lập bảng gia phả và treo trên tường tại một nơi trang trọng trong gia đình. Việc lập gia phả trong gia đình giáo dân Công giáo cho thấy ý thức của người Công giáo về ông bà tổ tiên, về gia đình, dòng tộc, về họ hàng thân tộc ngày càng sâu đậm.

 

Ngoài ra, việc thờ cúng tổ tiên của người Công giáo Việt Nam còn được thực hiện vào các dịp khác trong năm khi gia đình có việc trọng đại như khi cưới xin, đi làm ăn xa. Kết quả điều tra xã hội học tại 3 điểm nghiên cứu cho thấy: tỷ lệ ngựời Công giáo thực hiện thờ cúng tổ tiên trong ngày lễ tết chiếm 98,6%, khi tổ chức đám tang và giỗ là 98%, khi tổ chức lễ cưới là 92,6%, lúc gia đình có việc vui, trọng đại (như con cái đỗ đạt, hay có người nhà đi làm ăn xa) là 76%, trong ngày lễ các đẳng là 95%, khi tôn kính tổ trong các giờ cầu nguyện chiếm 76% và trong các thánh lễ là 75%. Đối với việc tôn kính tổ tiên của người Công giáo trong các lễ cưới, kết quả điều tra cho thấy 100% giáo dân đồng tình với việc cô dâu, chú rể phải bái lạy tổ tiên hai bên gia đình. Điều này cho thấy ý thức sâu sắc của người Công giáo về ông bà tổ tiên. Chính ý thức về cội nguồn, về ơn nghĩa sinh thành là động lực và là lời răn dạy sâu sắc cho những thành viên mới bước vào đời sống hôn nhân.