Phần này bàn về các từ chỉ màu xanh như xanh, thanh và biếc vào thời các LM de Rhodes và Maiorica sang truyền đạo ở An Nam cho đến thế kỉ XX. Ít người biết xanh cũng gắn liền với nền thi ca Việt Nam qua truyện Kiều: hai nhân vật chính là Thúy Kiều và Thúy Vân. Tên gọi Thúy 翠 nghĩa là màu xanh lục, một tên thường đặt cho phái nữ.

Từ ‘xanh’ hiện nay lại mang thêm một nghĩa thời thượng và đặc biệt liên hệ đến môi trường sạch (không ô nhiễm, không bị đen[1]), khác xa với nét nghĩa nguyên thủy và cơ bản của xanh từ thời cổ đại. Đảng Xanh (Green party/A) cũng xuất hiện ở các nước tân tiến với đại học xanh, kỹ nghệ xanh, môn hóa học xanh (Green chemistry) và phong trào "ngày chủ nhật xanh" vào năm nay (2019) ở VN. Bài này giới hạn vào các nét nghĩa của xanh/thanh, đặc biệt là cách dùng mắt xanhtrong tiếng Việt. Các tài liệu tham khảo chính của bài viết này là ba tác phẩm của LM de Rhodes soạn: cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đôn Kinh (viết tắt là BBC) và từ điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra từ điển này trên mạng, như trang này chẳng hạn books.google.fr . Các chữ viết tắt khác là SSS (Sách Sổ Sang Chép Các Việc), NCT (Nguyễn Cung Thông), TVGT (Thuyết Văn Giải Tự/khoảng 100 SCN), NT (Ngọc Thiên/543), ĐV (Đường Vận/751), NKVT (Ngũ Kinh Văn Tự/776), LKTG (Long Kham Thủ Giám/997), QV (Quảng Vận/1008), TV (Tập Vận/1037/1067), TNAV (Trung Nguyên Âm Vận/1324), CV (Chính Vận/1375), TVi (Tự Vị/1615), VB (Vận Bổ/1100/1154), VH (Vận Hội/1297), LT (Loại Thiên/1039/1066), CTT (Chính Tự Thông/1670), TViB (Tự Vị Bổ/1666), TTTH (Tứ Thanh Thiên Hải), KH (Khang Hi/1716), P (tiếng Pháp), ĐNQATV (Đại Nam Quấc Âm Tự Vị), A (tiếng Anh), L (tiếng La Tinh), PG (Phật Giáo), CG (Công Giáo), VN (Việt Nam), TQ (Trung Quốc), HV (Hán Việt), BK (Bắc Kinh). Trang hay cột/tờ của VBL được trích lại từ bản La Tinh để người đọc tiện tra cứu thêm. Dấu hoa thị * là dạng âm cổ phục nguyên (reconstructed sound). Không nên lầm số phụ chú và số chỉ thanh điệu đứng sau một âm tiết.

 

Theo lịch sử con người thì mắt thường có màu nâu, sau đó mới bắt đầu có mắt xanh[2] (blue eye/A) và di truyền cho đến ngày nay. Thế giới có khoảng 8% dân số có mắt xanh, nhưng ở vài địa phương bên Âu châu thì phần trăm này có thể lên đến 80%.

 

Trong tiếng Việt, mắt xanh có phải chỉ con mắt màu xanh (hay "mắt xanh mũi lõ") như người phương Tây đã bàn đến ở trên? Ngôn ngữ và thi ca Việt Nam có những câu dùng mắt xanh một cách lãng mạn và tích cực, thí dụ như câu 2181/2182 trong truyện Kiều

 

闭????????㗂????桃
Bấy lâu nghe tiếng má đào


眜撑拯底埃????固空
Mắt xanh chẳng để ai vào, có không 

 

Hay "ông ấy là người có mắt xanh, đã phát hiện và nâng đỡ nhiều nhà khoa học trẻ.","Lọt vào mắt xanh." … cũng như các bài thơ đã phổ nhạc như Chiều tím hay Tự Tình Dưới Hoa[3] của thi sĩ Đinh Hùng (khoảng giữa thập niên 1950 khi ông di cư vào Nam):

 

Chưa gặp em, tôi vẫn nghĩ rằng:

 

Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng,

Mắt xanh lả bóng dừa hoang dại,
Thăm thẳm nhìn tôi không nói năng. …v.v…

 

Như vậy, mắt xanh thật sự có nghĩa là gì - ta hãy đi ngược dòng thời gian để tìm hiểu cho thêm chính xác cách dùng mắt xanh và các từ liên hệ.

 

1. Từ thời VBL, LM de Rhodes (1651) đã nhận ra xanh có những nét nghĩa khác nhau như (a) xanh lá cây (viridis/L ~ green/A ~ vert/P) (b) yên lặng (không có gió bão) - VBL cho thí dụ là "blời xanh xanh[4] (trời xanh xanh)" (c) xanh là đen - VBL ghi thí dụ như "râu xanh, taóc (tóc) xanh" - để ý VBL trang 821 lại ghi thứ tự chữ ngược[5] là "xanh tóc" (capillus niger/L ~ tóc màu đen) và VBL trang 644 ghi "xanh râu" (barba nigra/L ~ râu màu đen) (d) xanh là gầy guộc/ốm yếu (xanh xao) - VBL cho thí dụ là "xanh mặt"

 

xanh_01.jpg
VBL trang 883

 

xanh_02.jpg
VBL trang 882

 

Điều đáng chú ý là các LM Béhaine/Taberd (1772/1773-1838) từng ghi xanh và thanh có cùng một nghĩa (viridis/L) hay là xanh lá cây tuy cách kí âm (chữ Nôm) khác nhau: xanh[6] ghi là ???? so với thanh 青. Tiếng La Tinh viridis lại có gốc là động từ vireo (“to be verdant, to sprout” ~ mọc lên - cho ra dạng vert/P là xanh lục), do đó màu xanh lá cây có liên hệ trực tiếp với cây cối khi vừa mọc lên. Điều này tương ứng với cách gọi xanh trong tiếng Việt (và Hán), cũng liên hệ đến sanh (sinh): Thích Danh 釋名 (khoảng 200 SCN) ghi青, 生也, 象 物之生時色也 thanh, sanh dã, tượng vật chi sanh/sinh thì sắc dã (hàm ý màu xanh là của cỏ cây mọc vào mùa xuân) - xem thêm chi tiết trong mục về chữ thanh/xanh phần sau.. Như vậy cũng giống như quá trình hình thành chữ green (Anh) là xanh, có nguồn gốc là *gʰreh (sinh ra, mọc ra) - từ Middle English grene < Old English grēne < Proto-Germanic *grōniz (so với tiếng West Frisian grien, Hà-Lan groen, Low German grön, green, greun, German grün, Swedish grön, Danish và Norwegian Nynorsk grøn, Norwegian Bokmål grønn), gốc của các dạng trên là động từ tiền Ấn-Âu Proto-Indo-European *gʰreh₁- (“to grow” ~ mọc lên).

 

Thời VBL đã có phân biệt các màu (mùi) xanh (lá cây) và biếc (xanh da trời): trang 35/VBL ghi sắc biếc (color celestis/L ~ màu của bầu trời/NCT). So sánh các cách dùng trong câu 22a, Cư Trần Lạc Đạo Phú của vua Trần Nhân Tông (1258-1308) "Chơi nước biếc, ẩn non xanh", trang 15a Quốc Âm Thi Tập/Ức Trai Di Tập của Nguyễn Trãi (1380-1442) "Con mắt hòa xanh đầu dễ bạc, lưng khôn uốn, lộc nên từ" ... Rõ ràng là thời VBL và trước đó, tiếng Việt đã có khả năng phân biệt hai màu xanh (lá cây, xanh lục) và biếc (xanh da trời, xanh lam). Tuy nhiên, cách dùng "trời xanh xanh"/VBL cũng cho thấy khả năng lẫn lộn giữa hai màu này vào thời LM de Rhodes cho đến thời LM Béhaine/Taberd (ghi xanh và thanh với cùng một nghĩa là viridis/L) và cho đến ngày nay[7]. Để chỉ trời xanh, các từ HV có thể là thanh thiên 天 ~ bích không 碧空 ~ 蒼旻/苍旻 thương mân ~ 蒼天/苍天 thương thiên ~ huyền thiên 玄天 ~ 青霄 thanh tiêu ~ 青冥 thanh minh 青 [8] ... Trong đó, các từ thanh/bích và huyền đều có khả năng ghép với mắt để cho ra dạng mắt xanh, mắt biếc và mắt huyền để chỉ mắt đen - thời VBL chỉ ghi cách dùng mắt xanh mà thôi và không thấy ghi từ huyền.

 

Hiện tượng lẫn lộn các màu xanh - xanh lá cây/lục, xanh da trời/xanh lam, xanh đậm - thật ra không chỉ xẩy ra trong tiếng Việt, nhưng cũng hiện diện trong các ngôn ngữ khác trên thế giới như tiếng Nhật, Thái, Hàn, Lakota Sioux (dùng một từ để chỉ xanh lá cây/green và xanh da trời/blue) ...v.v... Một cách giải thích khuynh hướng lẫn lộn trên là tế bào cảm giác màu xanh lá cây/lục và màu xanh lam có mức hấp thụ hay phản ứng (response) nằm xa nhau, nên mắt người phân biệt về các màu xanh không tốt (hay độ chính xác của phân màu nhỏ). Còn tế bào cảm giác màu đỏ và màu xanh lá cây có mức hấp thụ rất gần nhau (do đó độ chính xác khi phân màu rất cao) nên vậy mắt người phân biệt được rất nhiều màu nằm giữa màu đỏ và xanh lá cây. Thí dụ như 7 màu cơ bản của cầu vồng đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm và tím: giữa đỏ và lục có màu cam và vàng, không có màu cơ bản nào giữa lục (xanh lá cây) và lam (xanh da trời). Biểu đồ phản ứng tương đối (Relative Response) của mắt bên so với độ dài sóng (Wavelength) dưới trích từ trang unm.edu

 

xanh_03.jpg

 

Trở lại với nét nghĩa "đen" của xanh đã được ghi trong VBL, đây không phải là ngẫu nhiên mà LM de Rhodes đã nhận ra - dù ông rất có thể không biết đến điển tích và các nét nghĩa cổ hơn của thanh/xanh từ tài liệu Hán cổ như các chi tiết trình bày trong phần sau.

 

2. Các nét nghĩa của thanh/xanh

 

2.1 Chữ thanh 青 ???? chỉ màu xanh lá cây (thanh mẫu thanh 清 vận mẫu thanh 青 bình thanh, khai khẩu tứ đẳng) có các cách đọc theo phiên thiết 倉經切, 音鶄 thương kinh thiết, âm thanh/tinh (TVGT, ĐV, QV, TV, LT, TG 字鑑, LTCN 六書正????).

TVGT ghi 从生丹 tùng sanh đan (cho thấy liên hệ đến sanh/sinh), cũng như  Thích Danh (còn gọi là Nhĩ Nhã 爾雅) 釋名 ghi 靑,生也 thanh, sanh/sinh dã.

千定反 thiên định phản (LKTG): để ý vần -inh (như thinh so với vần -anh trong dạng thanh)

子零反 tử linh phản (ThVn 釋文)

子丁切 tử đinh thiết (NT, LT)

子丁反 tử đinh phản (ThVa 釋文)

子丁切 tử đinh thiết (TV, VH, TTTH)

千定切 thiên định thiết (TTTH)

TNAV ghi vận bộ 庚青 canh thanh (dương bình)

CV ghi cùng vần/bình thanh 清 請 圊 青 鯖 (thanh tình/thỉnh chinh)

CV cũng ghi cùng vần/bình thanh 精 菁 青 旌 旍 晶 蜻 鶄 睛 (tinh thanh tình)

七情切 thất tình thiết (CV, TVi) - TVi ghi âm thanh 音清子盈切 tử doanh thiết (CV, TVi) - TVi ghi âm tinh 音精七星切,音清 thất tinh thiết, âm thanh/thinh (CTT)    ..v.v...

Giọng BK bây giờ là qīng jīng so với giọng Quảng Đông cing1 ceng1 và các giọng Mân Nam 客家话:[梅县腔] ciang1 [海陆丰腔] ciang1 [东莞腔] ziang1 [台湾四县腔] ciang1 [宝安腔] ciang1 [陆丰腔] ciang1 [客语拼音字汇] qiang1 qiang4, giọng Mân Nam/Đài Loan là chheN1, tiếng Nhật sei shou và tiếng Hàn cheng.

Dựa vào các phương ngữ và phiên thiết, một âm cổ phục nguyên của thanh là *shleːŋ mà tiếng Việt cò bảo lưu dạng xanh (tiếng Sách là sɛŋ, tiếng Mường Bi là xanh). Nghĩa cổ nhất của thanh là xanh lá cây[9] (phù hợp với cách ghi nhận của Thích Danh/Nhĩ Nhã), như theo Tuân Tử  (316 TCN? – 237 TCN?) 荀子: Thanh thủ chi ư lam, nhi thanh ư lam 青取之於藍, 而青於藍 - màu xanh từ cỏ lam mà đậm hơn cỏ lam (Khuyến học 勸學). Nét nghĩa màu xanh lá cây phù hợp với các dạng khắc/vẽ cổ đại của chữ thanh: tượng hình cây cỏ mọc trên một cái giếng nước (井 tỉnh) - xem các hình bên dưới về quá trình hình thành chữ thanh, có thể tham khảo thêm chi tiết trên trang này chẳng hạn hanziyuan.net

 

xanh_04.jpg

 

Sau thời VBL, LM Taberd (1838, sđd) còn ghi serenum/L là "trời thanh" (trời chẳng có mây, trời lặng), và viridis/L là xanh (da trời). LM Génibrel (1898, trang 859 sđd) sau đó cũng ghi thức xanh[10] là couleur verte (xanh lá cây), thức thanh là couleur bleue và thức đen là couleur noire. VBL cũng ghi biếc là xanh da trời (sắc biếc ~ color celestis/L - VBL trang 35). LM Béhaine/Taberd thì ghi biếc là bích HV 碧 (caeruleus[11]/L ~ xanh da trời). Như vậy là vào thời VBL, tiếng Việt đã dùng hai từ xanh (lá cây) và biếc[12]  (xanh da trời) để phân biệt hai màu khác nhau này. Tới thời LM Génibrel (1898, sđd) cũng còn ghi hai cách dùng thanh cân (khăn búi tóc màu xanh lá cây - coiffure de couleur bleue) và bích cân (khăn búi tóc màu xanh da trời - coffure de couleur verte). Tuy nhiên vấn đề trở nên phức tạp hơn khi thanh cũng có nghĩa là lặng yên, còn đọc là thinh và viết bằng bộ thủy hợp với chữ thanh hài thanh 清. VBL trang 767 ghi các thí dụ như thinh trời (trời không có gió, yên lặng), thinh biển (biển không động, biển lặng hay không có sóng). Chính nét nghĩa "lặng" (VBL) cho ta cơ sở giải thích cách dùng "làm thinh[13]" (giữ yên lặng - VBL trang 767) với nghĩa tương tự trong tiếng Việt hiện đại. Đây là một chủ đề thú vị cần bàn sâu thêm, nhưng không nằm trong phạm vi bài viết này. Một nghĩa cổ nữa của thanh là đen mà rất ít người biết đến.

 

2.2 Thanh nghĩa là màu xanh da trời[14]/xanh nước biển

 

Hồng Phạm Ngũ Hành Truyện (Lưu Hướng viết vào thời Tây Hán) ghi 時則有青眚青祥. thì tắc hữu thanh sản thanh tường. TVGT giải thích 青,東方色也 thanh, đông phương sắc dã. Điều này cho thấy thanh đã chỉ hai màu xanh lá cây và xanh lam (xanh nước biển, xanh lơ, xanh da trời) trong các tài liệu Hán cổ.

2.3 Thanh/xanh là màu đen - mắt xanh

 

Sau nghĩa màu xanh, thanh còn có nghĩa là màu đen[15] như thanh ngưu 青牛 con bò đen, thanh hồ 青狐 (con cáo đen), thanh bố 青布 vải đen, thanh y 青衣 áo đen - thanh y nhân 青衣人 chỉ người giúp việc (sai vặt), xưa thường mặc vải đen … Theo Tấn Thư (năm 648), quyển 49, truyện viết về Nguyễn Tịch 阮籍 (210-263) - một nhà thơ và nhạc sĩ nổi tiếng vào thời Đông Hán, cũng là một trong Trúc Lâm Thất Hiền (bảy nhà văn/học giả thời Hán ở rừng túc). Tương truyền khi mẹ Nguyễn Tịch mất, bạn bè thân như Kê Khang đến thăm (đem theo rượu) nên ông rất thích thú - điều này thể hiện trên nét mặt của ông qua mắt xanh hay lộ tròng mắt đen (thanh nhãn 青眼, còn gọi là thanh mục 青目, thanh lãi 青睞). Khi tiếp người ông không ưa thì nhìn nghiêng và để lộ tròng mắt trắng (bạch nhãn 白眼). Cách dùng thanh nhãn (mắt xanh) còn thấy vào thời Đường, như qua thơ của Đỗ Phủ (712-770) trong Đoản Ca Hành: trọng tuyên lâu đầu xuân sắc thâm,thanh nhãn cao ca vọng ngô tử; hay thời Tống trong thơ của Hoàng Đinh Kiên (1045-1105): chu huyền dĩ vi giai nhân tuyệt, thanh nhãn liêu nhân mĩ tửu hoành. Nhà văn Bồ Tùng Linh (1640-1715) trong truyện "Liêu Trai Chí Dị - Tửu cuồng"cũng dùng thanh nhãn: cổ trọng ấp tạo mạo nhân,thả chúc thanh nhãn…v.v… Mắt xanh cũng hiện diện trong VBL sau 16 thế kỉ để chỉ mắt đen, và cho đến ngày nay với nghĩa đã mở rộng (thay đổi) tuy vẫn còn mang tính tích cực (so với mắt trắng/trắng mắt mang tính tiêu cực).

2.4 Mắt xanh chỉ bạn thân

Nghĩa đen của mắt xanh (mắt đen) đã mở rộng để chỉ bạn bè thân thiết như trong thơ của Quyền Đức Dư (759-818): khách sầu thanh nhãn biệt, gia hỉ ngọc nhân quy ("Tống Lô Bình - sự vụ châu tỉnh cận"); Nhà sử học Tư Mã Quang (1019–1086) thơ: hô nhân thủ thứ cụ bôi bà, thanh nhãn tương phùng hỉ vô cực…v.v…

 

2.5 Mắt xanh chỉ thời niên thiếu

 
Thanh/xanh còn mở rộng nghĩa để chỉ tuổi trẻ như thanh niên 青年, thanh xuân 青春, mắt xanh. Nhà thơ đời Đường Trương Hỗ (785—849) từng dùng mắt xanh để chỉ thời niên thiếu: tương phùng thanh nhãn nhật,tương thán bạch đầu thì ("Hỉ Vương Tử Tái - thoại cựu").

 

2.6 Cách dùng mắt xanh trong tiếng Việt hiện đại

 

Màu xanh thường tiêu biểu cho hình ảnh thoải mái, yên bình và tích cực như trời xanh, tóc xanh, cây xanh, non xanh, mây xanh ... Nghĩa mở rộng và tích cực của mắt xanh (thanh nhãn) là để thể hiện sự ưng ý (vừa lòng, hàm ý khen) như cách nhìn của nữ giới đối với nam giới (truyện Kiều, câu 2182 đã trích ở phần trên). Ngoài ra, mắt xanh còn chỉ sự phát hiện nhân tài như như trong cách nói[16] "ông ấy là người có mắt xanh, đã phát hiện và nâng đỡ nhiều nhà khoa học trẻ". Ca dao tục ngữ cũng nêu cao tính tích cực của mắt đen so với mắt trắng

 

Người khôn con mắt đen sì
Người dại con mắt nửa chì nửa than …
Con lợn mắt trắng thì nuôi
Những người mắt trắng đánh rồi đuổi đi …
Những người mắt trắng môi thâm

Trai thì trộm cắp gái dâm cướp chồng[17] ...v.v...