2.5 Lý do khiến các Cộng Ðoàn Giáo Hội Cơ Bản hình thành:        

(1) Lý do 1: Cộng Ðoàn Giáo Hội Cơ Bản thỏa mãn những ước vọng thâm sâu của con người chống lại xu hướng chung của thời đại là tạo nên những cá nhân theo một khuôn mẫu có sẵn, thậm chí biến con người thành sản phẩm của xã hội, theo mô hình đồng nhất. Con người ngày nay không ai muốn bị nhận chìm hoặc bi cuốn hút hoàn toàn bởi đám đông của các cộng đồng lớn. Họ mong muốn được nhìn nhận như các cá nhân và muốn được quan tâm tới khi người ta đưa ra quyết định nào đó. Càng ngày càng có nhiều người ý thức rằng họ có trách nhiệm về những vần đề ảnh hưởng trên xã hội, như vần đề hoà bình, vần đề môi trường sinh thái, vần đề quyền con người. Họ mong đợi được tham gia cách tích cực vào cuộc chơi là cuộc sống.

(2) Lý do 2: Trong Giáo Hội cũng có ý thức ngày càng lớn, nơi nhiều giáo dân nam nữ, về trách nhiệm của mỗi chi thể đối với lợi ích của anh em chị em mình, nhằm thực hiện được sứ mạng của Giáo Hội trong thế giới. Kinh nghiệm của nhiều Giáo Hội cho thấy rằng dù trong các giáo xứ có nhiều đoàn thể tông đồ hay các nhóm (vd Legio Mariae, Cursillo, Thanh Lao Công, các nhóm học hỏi Kinh Thánh, các nhóm cầu nguyện Thánh Linh, Hội Thánh Vinh Sơn, Hội Focolarini..),  thì phần đông giáo dân trong giáo xứ vẫn chỉ là những cá nhân lẻ loi, thụ động không dấn thân và không được quan tâm. Khi những tổ chức kể trên biến thành Cộng Ðoàn Giáo Hội Cơ Bản thì lập tức các thành viên trở nên tích cực và hăng say truyền Ðạo hơn nhiều.

 

  1. GIÁO HỘI VIỆT NAM VỚI CÁC CỘNG ÐOÀN GIÁO HỘI CƠ BẢN

Theo sự hiểu biết của tôi, thì trong lòng Giáo Hội Việt Nam mới chỉ có các Hội Ðoàn Tồng Ðồ hay Các Ðoàn Thể Công Giáo Tiến Hành, các Nhóm Chia Sẻ Lời Chúa, các Nhóm Cầu Nguyện, các Nhóm Công Tác Xã Hội, Bác Ái… chứ chưa có các Cộng Ðoàn Giáo Hội Cơ Bản đúng nghĩa.

 

Có thể nhìn thấy các nguyên nhân sau đây của sự kiện trên:

(1) Giáo Hội Công Giáo Việt Nam không có liên lạc với các Giáo Hội thuộc khu vực Ðông Nam Á trong một thời gian dài (từ năm 1975 đến những năm gần đây), nên không có thông tin cập nhật về những điều mới mẻ xuất hiện trong lòng các Giáo Hội ấy trước và sau Công Ðồng Vatican II, trong đó nổi bật nhất là các Cộng Ðoàn Giáo Hội Cơ Bản.

 

(2) Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, do truyền thống, có xu hướng bảo thủ, nên chẳng những ít quan tâm đến các phong trào canh tân đổi mới, mà còn tỏ ra dè dặt thậm chí e ngại đối với những cái mới, trong đó có các Cộng Ðoàn Giáo Hội Cơ Bản.

 

(3) Trong Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, thường thì việc gì cũng xuất phát từ hàng giáo sĩ trong khi ở các Cộng Ðoàn Giáo Hội Cơ Bản thì phần chủ động lại là của chính anh chị em giáo dân.

 

(4) Trong Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, hễ một nhóm giáo dân nào chia sẻ, học hỏi Lời Chúa hay cầu nguyện dựa vào Thánh Kinh, mà không do các linh mục tổ chức, giảng dậy, điều hành thì thường bị nghi ngờ và rất dễ bị gán cho hai chữ Tin Lành, làm như Thánh Kinh không phải của Công Giáo hoặc chỉ dành riêng cho các linh mục tu sĩ mà th ôi!

 

Vì bốn lý do trên, nên chưa có Cộng Ðoàn Giáo Hội Cơ Bản (đứng nghĩa) trong lòng Giáo Hội Việt Nam.

 

THAY LỜI KẾT

Lệnh truyền của Chúa Giêsu trước khi Người lên trời là làm cho mọi người trở thành môn đệ và sống giáo huấn của Phúc Âm (5) vẫn không có gì thay đổi. Vì  Chúa Thánh Thần không ngừng hoạt động trong tâm hồn người tín hữu và trong lòng Giáo Hội nên mỗi thời có những sáng kiến, hoạt động và đường lối truyền giáo mới thích hợp và hiệu quả hơn.

 

Vì thế mà Giáo Hội Việt Nam, nếu muốn đẩy mạnh việc Truyền Giáo hơn nữa, thì cần phải tìm tòi học hỏi với (Giáo Hội) chị, với (Giáo Hội) em cũng như biết lắng nghe Chúa Thánh Thần. Cụ thể và cấp bách là chúng ta cần có các linh mục, tu sĩ và giáo d ân dấn thân vào việc phổ biến, truyền bá về Cộng Ðoàn Giáo Hội Cơ Bản và đứng ra thành lập các Cộng Ðoàn Giáo Hội Cơ Bản ấy trong các Giáo Xứ.

 

           Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

           New Orleans (LA/USA) ngày 02.10.2006.

…………………….

Chú thích

(1) Sergio Torres and John Eagleson (Eds), The Challenge of Basic Christian Communities: papers from the International Ecumenical Congress of Theology (1980: Sao Paulo, Brazil), Maryknoll: Orbis Books 1981; Andrew Dawson, Susan Peterson, The Birth and Impact of the Base Ecclesial Community, International Scholars Publications, 1998.

(2) Tại Châu Á, xin đọc Cora Mateo và Giám mục Orlando Quevedo, FABC Papers số 921, tháng 1.2000.

(3) Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, Tông huấn Giáo Hội tại Châu Á, số 9.

(4) Như trên, số 25.

(5) “Đức Giêsu đến gần, nói với các ông: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.”  Mt 28, 18-20).