Sidebar

Thứ Hai
22.04.2024

Chúa Nhật Chúa Thăng Thiên

  1. Thiên Đàng Ở Đâu?
  2. Sống Hướng Về Nước Trời Trong Chúa Kitô
  3. Chúa Nhật Chúa Thăng Thiên
  4. Chúa Nhật Lễ Thăng Thiên
  5. Chúa Nhật Lễ Thăng Thiên 
  6. Chúa Nhật Chúa Thăng Thiên
  7. Chúa Nhật Chúa Thăng Thiên
  8. Tiếp Tục Công Việc Của Chúa
  9. Một Cõi Đi Về
  10. Mầu Nhiệm Tôn Vinh Thiên Chúa
  11. Chúa Giêsu Lên Trời
  12. Sứ Vụ Lên Đường
  13. Phải Hiểu Thế Nào Khi Nói Chúa Lên Trời
  14. Hành Trình Về Quê Trời
  15. Các Con Hãy Đi Rao Giảng Và Làm Phép Rửa Cho Họ
  16. Anh Em Sẽ Là Chứng Nhân Của Thầy
  17. Chúa Nhật Lễ Thăng Thiên
  18. Trần Thế Là Con Đường Về Trời
  19. Sao Cứ Đứng Đó Mà Nhìn Trời
  20. Sứ Mạng Của Người Kitô
  21. Sao Còn Mãi Nhìn Trời ?
  22. Lên Trời Là Lên Đường
  23. Sao Còn Đứng Nhìn Trời?
  24. Ngước Mắt Nhìn Trời
  25. Chúa Về Trời
  26. Chúa Giêsu Kytô Lên Trời Mà Vẫn Ở Dưới Đất ?

 

THIÊN ĐÀNG Ở ĐÂU?
Mc 16,15-20

1.LỜI CHÚA: “Chúa Giêsu được rước lên trời ngự bên hữu Thiên Chúa” (Mc 16,19).

2.CÂU CHUYỆN: THIÊN ĐÀNG Ở ĐÂU?

Ngày 12 tháng 06 năm 1961, một phi hành gia Liên Xô tên là Ga-ga-rine đã bay trên phi thuyền Vos-tok I và bay chung quanh quĩ đạo trái đất 3 vòng. Khi trở về mặt đất, Ga-ga-rine đã tuyên bố với các phóng viên báo chí rằng: Trong suốt thời gian bay trên trời, ông đã để tâm quan sát mà chẳng thấy Thiên Chúa hay thiên đàng ở đâu cả. Đối với một người không có đức tin, thì làm sao nhìn thấy Thiên Chúa hay thiên đàng bằng cặp mắt thường được? Vậy thực ra thiên đàng ở đâu?

3.SUY NIỆM:

- Đức Giêsu nhiều lần nói đến trời cao: Trời là nơi Thiên Chúa ngự. Chẳng hạn trong kinh Lạy Cha, Chúa Giêsu dạy ta cầu nguyện với Thiên Chúa Cha là Đấng ngự trên trời (x Mt 6,9) ; Người cũng dạy: “Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời” (Mt 5,16.45).

- Đức Giêsu từ trời mà đến: Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống để rồi lại trở về trời (x Ga 3,13; 6,62). Người là Bánh hằng sống từ trời xuống, là Bánh đem lại sự sống cho thế gian (x Ga 6,33).

- Đức Giêsu được rước lên trời: Sau khi sống lại, Đức Giêsu tuyên bố Người đã được ban “mọi quyền năng trên trời dưới đất” (x Mt 28,18), “Người là vị Thượng tế thánh thiện, vẹn toàn, vô tội, tách biệt khỏi đám tội nhân và được nâng cao vượt các tầng trời” (x Dt 7,26), và đã vào chính cõi trời, để giờ đây đứng trước mặt Thiên Chúa chuyển cầu cho chúng ta (x Dt 9,25). Qua hình ảnh được rước lên trời, Chúa Phục Sinh sẽ không còn hiện ra với các Tông đồ như trong thời gian 40 ngày sau khi sống lại. Từ đây, Người sẽ hiện diện một cách thiêng liêng, không bị lệ thuộc vào thời gian và không gian như Người đã hứa: “Thầy sẽ ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20).

- Người ngự bên hữu Thiên Chúa:

Đức Giêsu với tư cách là Người, được tham dự vào vinh quang và quyền cai quản vũ trụ với Chúa Cha. Chính Thiên Chúa đã tôn Đức Giêsu trên mọi quyền lực thần thiêng, đặt tất cả dưới chân Người, đặt Người làm đầu toàn thể Hội thánh là thân thể Người (x Ep 1,20-23).

- Niềm hy vọng lên trời của chúng ta:

Đức Giêsu về trời là để dọn chỗ cho các môn đệ và Người hứa sẽ trở lại để đem họ về với Người (x Ga 14,2-3). Trời hay Thiên đàng là nơi trú ngụ của Thiên Chúa mà thánh Phao-lô đã cảm thấy vui thoả khi được chiêm ngắm (x 2 Cr 12,4); Là Nước Trời hay Hội thánh do Đức Giêsu thiết lập, ban đầu bé nhỏ như hạt cải, nhưng sau này sẽ phát triển thành cây to lớn đến nỗi chim trời là các dân tộc có thể đến nương náu được (x Mt 13,31-32). Thiên đàng là nơi dành cho tội nhân có lòng sám hối và tín thác cậy trông vào tình thương của Đức Giêsu, như kẻ trộm lành được vào đầu tiên với Người (x Lc 23,43). Vương Quốc dành cho những người công chính khi Vua Thẩm Phán sẽ lại đến để xét xử muôn dân trong ngày tận thế (x Mt 25,34.46)

4. THẢO LUẬN: Để được lên trời với Đức Giêsu sau này, chúng ta phải làm gì?

Chúng ta phải sống Tám Mối Phúc Thật hay Hiến Chương Nước Trời do Đức Giêsu rao giảng trên núi, cụ thể là những việc làm như sau:

MỘT là tin Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế Con Thiên Chúa và được tái sinh bởi nước và Thánh Thần khi chịu phép rửa tội.

HAI là phải ăn năn sám hối tội lỗi, từ bỏ các thói hư tật xấu.

BA là phải thực hành giới răn yêu thương là có lòng thương xót người đau khổ bệnh tật và bị bỏ rơi.

BỐN là phải đi con đường hẹp leo dốc, từ bỏ ý riêng mình để vâng theo Thiên Chúa, sẵn sàng vác thập giá mình hằng ngày theo chân Chúa Giêsu.

NĂM là phải biết sử dụng của cải vật chất đời này để phụng sự Tin Mừng Nước Thiên Chúa và phục vụ tha nhân.

SÁU là quyết tâm sống theo gương mẫu và Lời dạy của Chúa Giêsu để ăn ở hiền lành, tha thứ vô điều kiện, có lòng trong sạch, sẵn sàng bị bách hại vì đức tin.

BẢY là phải chu toàn sứ mệnh loan báo Tin Mừng Nước Trời, trở thành chứng nhân tình thương của Chúa ngay trong môi trường sống và làm việc của mình.

5.NGUYỆN CẦU

LẠY CHÚA GIÊSU. Khi Chúa về trời, sứ thần đã nhắc nhở các môn đệ: “Hỡi những người Ga-li-lê, sao còn cứ đứng nhìn lên trời? Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời (Cv 1,10-11). Xin giúp chúng con biết làm chứng cho Chúa bằng một lối sống vị tha, luôn nghĩ đến tha nhân. Xin cho chúng con biết chiếu ánh sáng tình thương của Chúa ra trước mặt người đời và trở nên muối ướp thiên hạ khỏi hư hỏng. Xin cho chúng con luôn sống chan hoà, như nắm men được hòa lẫn vào ba đấu bột, để cả khối bột là môi trường chúng con đang sống được dậy lên men tình yêu mến Chúa.- AMEN.

LM ĐAN VINH www.hiephoithanhmau.com

SỐNG HƯỚNG VỀ NƯỚC TRỜI TRONG CHÚA KITÔ
Mt 16, 15 - 20

Hôm nay cùng với Hội Thánh, chúng ta mừng lễ Chúa Thăng Thiên. Qua những hình ảnh, lễ Chúa Thăng Thiên diễn tả việc Chúa Kitô phục sinh từ nay sống trong thế giới của Thiên Chúa mà người ta thường gọi trong ngôn từ tôn giáo là Trời (bài đọc 1 và Tin Mừng). Chúa Kitô về trời ngự bên hữu Thiên Chúa Cha, Ngài được tôn vinh là chủ tế của vũ trụ này. Điều quan trọng đối với các Kitô hữu tiên khởi cũng như đối với chúng ta hôm nay, không phải ở việc muốn biết Đức Giêsu lên trời như thế nào, nhưng là tận hiểu ý nghĩa sự ra đi của Người.

Chúa  Giêsu Kitô"được rước lên trời", đó là một lối nói của Kinh Thánh nhằm diễn tả việc Chúa Phục Sinh từ giã trần gian để về cùng Thiên Chúa Cha. Ngài từ Cha mà đến và nay lại trở về với Cha. "Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng đã từ trời xuống" (Ga 3,13). Câu chuyện Chúa lên trời được sách Công Vụ Tông Đồ kể lại ở bài đọc 1 hôm nay là một kiểu nói bình dân để diễn tả một mầu nhiệm của Chúa Kitô Phục Sinh, ngay sau khi được  Phục Sinh, nhân tính của Chúa Giêsu được tôn vinh rồi, hay nói cách khác, đã được vào trong vinh quang. Tuy vậy vinh quang này vẫn còn bị che khuất. Chúa Phục Sinh hiện ra cho các môn đệ dưới dáng dấp của một người bình thường. Lần hiện ra cuối cùng của Chúa Giêsu đánh dấu một bước chuyển mới. Từ nay nhân tính của Ngài được đưa vào trong vinh quang Chúa Cha, được đặt ngồi bên hữu Chúa Cha.

Lễ Chúa Thăng Thiên không phải là một cuộc chia ly, tiễn đưa Chúa Giêsu vào một phương trời xa lạ và cắt đứt tương quan với Ngài. Chúa về trời là để có thể ở lại với mọi thời, mọi nơi. Điều duy nhất có thể mất đi là chúng ta không còn có thể thấy, đụng chạm, nghe Ngài bằng giác quan tự nhiên. Nhưng chúng ta có thể gặp gỡ Ngài bằng giác quan siêu nhiên của đức tin. Sau khi hoàn thành sứ mạng ở trần gian, Chúa Kitô trở về với Chúa Cha. Từ nay, Chúa Kitô phục sinh vắng mặt về thể hình, không ai có thể thấy hoặc nghe tiếng Người nữa. Tuy nhiên, Người luôn hiện diện với Giáo Hội, với mỗi người chúng ta như Người đã hứa: "Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế" (Mt 28, 20). Sự hiện diện vô hình của Người, chỉ có con mắt đức tin mới thấy được. Phúc âm hôm nay cho thấy các tông đồ có cảm nghiệm rằng "Chúa đang làm việc với họ và xác nhận lời họ rao giảng bằng những dấu lạ kèm theo" (Mc 16,20) . Như thế sự vắng mặt hữu hình của Chúa Giêsu Kitô không cản trở việc Ngài tiếp tục hiện diện và hoạt động bên họ. Người Kitô hữu sống còn chính là nhờ Chúa Giêsu Kitô  đang sống và hoạt động nhờ Thánh Thần của Ngài. Được tôn vinh trên trời không phải là làm một cuộc đi xa, nhưng là đến gần. Phục Sinh và lên trời là để làm sứ vụ giữa lòng thế giới. Ngài là Thượng Tế cầu bàu cho chúng ta trên trời và không ngừng thu hút , nâng dậy cả nhân loại.

Chúa lên trời để chỉ cho chúng ta con đường để về trời với Ngài. Con đường ấy rất thiết thân với mọi người. Mừng lễ Chúa Thăng Thiên là mừng ngày Chúa Kitô được tôn vinh. Lễ Thăng Thiên thực hiện giấc mơ lớn nhất của con người. Tất cả chúng ta đều hy vọng được hưởng vinh quang của Thiên Chúa, bên Chúa Giêsu, người Anh Trưởng. Trời là đích điểm của đời người Kitô hữu. Nhưng trời đã bắt đầu rồi từ khi chúng ta bước vào vũ trụ của Chúa Giêsu Kitô, qua đức tin và các bí tích. Nói cho cùng, Kitô hữu chỉ có một cuộc đời. Chằng có cuộc đời nào khác ngoài cuộc đời hiện tại và sẽ gắn liền với chúng ta mãi mãi. Trời không khiến ta tránh né bổn phận trần gian, ngược lại cho ta sức mạnh để chu toàn các bổn phận ở trần gian. Trời không phải là nơi đến của một người chỉ biết chăm lo cho ơn cứu độ của mình một cách ích kỷ. Trời cũng không phải chỉ là phần thưởng cho con người, là sự "bù lỗ" cho những khốn khổ ở đời, là cớ khiến chúng ta tránh né việc xây dựng trái đất hay phá đổ bất công.

Lễ Thăng Thiên là sự kết thúc công cuộc truyền giáo của Đức Giêsu thành Nazarét, và là khởi đầu thời gian của Giáo Hội. Dĩ nhiên, giai đoạn mới này luôn là giai đoạn của Chúa Kitô, vì tất cả đều hướng về Người, cũng như Người là đích điểm của mọi hoạt động tông đồ. Nhưng đó cũng là thời kỳ của Giáo Hội và các môn đệ để làm chứng cho Đức Giêsu Kitô và cho Tin Mừng : "Anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari, và cho đến tận cùng trái đất." (Cv 1, 8). Đó là ý nghĩa mọi hoạt động truyền giáo của Giáo hội. Trước khi lên trời, Đức Kitô giao phó cho tất cả các môn đệ, tức là tất cả mọi người Kitô hữu chúng ta đang sống trên quả đất này. Đó là sứ mạng loan báo Tin Mừng, sứ mạng tiếp tục công trình của Người cho đến ngày tận thế.

Sứ thần trách các môn đệ: "Hỡi người Galilê! sao cứ đứng đó mà nhìn lên trời?". Các môn đệ đã hiểu ý. Các ông đã trở về với nhiệm vụ của mình, hoàn thành công việc của Chúa ở trần gian, làm chứng về tất cả những gì các ông đã được nghe, được thấy: "Các ông đã ra đi khắp nơi, rao giảng tin mừng cho mọi người; có Chúa vùng hoạt động với các ông, cũng cố lời rao giảng bằng các phép lạ kèm  theo".

Rõ ràng, Chúa lên trời không làm cho các môn đệ tê liệt, không giải nghệ các ông, mà còn thúc giục các ông lập tức bắt tay vào việc xây dựng nước trời ngay ở trần gian này và bảo đảm cho các ông thành công. Cũng vậy, đối với chúng ta ngày nay, Chúa lên trời nhắc chúng ta nhớ rằng: " Quê hương chúng ta ở trên trời... anh em hãy tìm kiếm những sự trên trời". Nói thế không có nghĩa là chúng ta phải "xuất thế", phải xa lánh trần gian. Trái lại cần phải nổ lực dấn thân "vào đời". Có Chúa cùng hoạt động với chúng ta để "mở một tuyến đường lên trời từ mặt đất này" bằng những công việc xây dựng Nước Trời ngày này qua ngày khác; loại trừ những khổ đau, tội lỗi, tạo cho mọi người được sống ấm no, hiệp nhất, yêu thương nhau, cho mọi người được sống xứng đáng phẩm giá con người. Đó là con đường lên trời của chúng ta.

Chúng ta càng vui mừng khi biết rằng: "Chúa vẫn ở với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế". Ngài không bao giờ rời bỏ chúng ta. Thật là ích lợi cho chúng ta khi Ngài khuất mắt chúng ta về phương diện thể lý để chúng ta gặp Ngài hiện diện ở khắp mọi nơi mọi lúc, trong kinh nguyện và hoạt động, trong bí tích và trong anh chị em. Đặt biệt trong bí tích Thánh Thể, Chúa đến ở trong chúng ta, ban nguồn sinh lực giúp chúng ta hoàn thành nhiệm vụ xây dựng Nước Trời ở trần gian này, để một khi Nước Trời được hoàn thành Ngài sẽ trở lại trong vinh quang đón chúng ta lên trời về với Chúa Cha.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết nỗ lực xây dựng trần gian theo tinh thần của Chúa trong niềm mong đợi hạnh phúc nước trời. Amen.

CHÚA NHẬT CHÚA THĂNG THIÊN
Mc 16, 15 - 20

Anh chị em thân mến.
Ngày 21 tháng 5 năm 2003,một sự kiện quan trọng, một ngày lễ hội cho tỉnh Vĩnh Long, cũng là niềm vui mừng cho người dân thuộc đồng bằng sông cửu long. Đó cũng là niềm vui cho cả nước VN vì một chiếc cầu hiện đại đã được lưu thông. Niềm mong đợi bấy lâu nay đã thành hiện thực. Nhờ chiếc cầu mà giờ đây mọi người không còn phải sốt ruột ngồi chờ từng chuyến phà lênh đênh trên giòng nước cách êm ả để đưa qua giòng sông Mỹ Thuận.

Nhưng từ hôm nay, mọi người, mọi phương tiện phải tự động vượt qua sông nhờ chiếc cầu. Lưu thông giờ đây đã được tốt đẹp nhờ chiếc cầu. Nếu người nào không biết chuẩn bị, thì việc dùng chiếc cầu để sang bờ bên kia không phải là một việc dể dàng gì đâu. Có những chiếc xe phải nằm lại giữa chừng, vì không đủ sức vượt lên con dốc. Có những người đi bộ cũng thế. Ngoài ra chắc có lẽ cũng còn những phương tiện không được phép đặt chân lên cầu vì nó nằm ngoài những qui định cho phép. Còn những người đã đủ điều kiện, họ ung dung lên cầu với một niềm phấn khởi, họ tận hưởng sự thoải mái cùng với cái hạnh phúc mà họ không thể lặng thinh được.

Hôm nay chúng ta hợp với toàn thể Giáo Hội mừng việc Chúa lên trời. Con Thiên Chúa đã xuống thế làm người. Ngài đã từ trời xuống, giờ đây Ngài lại trở về. Không phải Ngài từ bỏ những con người mà Ngài yêu thương. Nhưng Ngài luôn ở gần họ như một chiếc cầu. Không phải chiếc cầu chỉ nối hai bờ của một giồng sông, nhưng chiếc cầu nối liền Trời và Đất. Ngài đã chuẩn bị tất cả thật hoàn hảo. Chiếc cầu mang tên Giêsu.

Chiếc cầu được xây nên không phải bằng bê tông cốt thép, nhưng được xây nên bởi chất liệu của Tình yêu, của thập giá. Ngài kêu gọi những người mà Ngài yêu thương, hãy đi khắp thế gian loan báo tin mừng, loan báo tin chiếc cầu đã được khai thông, để con người có thể nhờ chiếc cầu nầy mà đến cùng Thiên Chúa. Các Tông Đồ đã đi trên chiếc cầu, các Ngài đã tận hưởng được sự thoải mái, niềm hạnh phúc. Các Ngài không thể ngồi yên. Các Ngài đi thông báo, mời gọi mọi người cùng vượt qua chiếc cầu để đến cùng Thiên Chúa.

Trải qua hằng bao thế kỷ, biết bao người đã đến được với chiếc cầu, họ đã hưởng được hạnh phúc từ chiếc cầu mang đến cho họ. Nhưng cũng không biết bao nhiêu người , họ cũng từng nhìn thấy, đôi khi họ biết rất rỏ con đường đi đến chiếc cầu. Họ cũng biết rỏ chất liệu Tình Yêu của chiếc cầu. Nhưng đôi chân không bao giờ bước lên chiếc cầu. Có lẽ vì họ sợ con dốc cao sẽ làm cho đơi chân họ rã rời. Cũng có lúc họ sợ con đường dài, mà sức lực họ không có đủ. Cũng có những lúc họ lười biếng không muốn cố gắng nên họ không thể nào đặt được đôi chân của mình sang bờ bên kia được.

Còn chúng ta, chắc mỗi người cũng đã đến để chiêm ngưỡng công trình nối liền hai bờ của giòng sông Mỹ Thuận, chúng ta cũng hòa với niềm vui chung của mọi người nhờ chiếc cầu. Nhưng chiếc cầu quan trọng hơn trong đời sống chúng ta, chiếc cầu mang tên Giêsu, chiếc cầu nối liền con người của mình với Thiên Chúa. Mặc dù chúng ta đã biết, chúng đã nhìn thấy và đã nghe nói rất nhiều, nhưng giờ nầy đây, mỗi người chúng ta nhìn lại mình xem : Cũng có những lúc chúng ta cũng đang đi trên chiếc cầu với tất cả niềm phấn khởi và hạnh phúc. Nhưng cũng rất nhiều lần chúng ta sợ chiếc cầu làm hao mòn đi sức lực của mình, làm hao mòn đi những gì mình có được.

Đó là những lúc chúng ta ngại khó, không dám sống đúng theo những gì mình đã biết, đã được chỉ dạy, không dám sống theo lương tâm ngay chính của mình. Cũng có những lúc lười biếng sống buông thả theo những dục vọng riêng tư. Đó là những lúc chúng ta đắm chiềm dưới giòng sông mà không đi trên cầu để qua sông đến cùng Chúa. Như thế chiếc cầu mang tên Giêsu, chiếc cầu được xây dựng bằng chất liệu của tình yêu và thập giá, không đem lại một chút lợi ích nào cho chúng ta sao ? Như vậy việc Chúa Giêsu về trời mà chúng ta mừng hôm nay đem đến cho chúng ta được điều gì ?

Chúng ta cùng nhau cầu xin Chúa cho chúng ta biết đi trên con đường mà Chúa đã đi, để chúng ta cũng được tận hưởng niềm vui trên trời mà hôm nay chúng ta mừng kính.

CHÚA NHẬT LỄ THĂNG THIÊN
Mc 16, 15-20

Chúng ta thường nói với nhau: "tiệc nào mà tiệc chẳng tàn, cuộc vui nào rồi cũng tới hồi kết thúc". Nói như thế có lẽ người ta nghĩ nhiều hơn về khía cạnh thể lý: Tiệc tàn, cuộc vui bế mạc để rồi đường ai nấy đi. Nếu một cuộc gặp gỡ nào đó khi kết thúc, mà người này khoát tay người kia, rồi nói câu "tạm biệt" là xong hết mọi sự thì cuộc gặp gỡ đó xem như mất hết ý nghĩa của nó.

Thực tế có nhiều cuộc gặp gỡ dù trong khoảnh khắc, cũng đã để lại trong lòng chúng ta những kỷ niệm, những dấu ấn không bao giờ phai nhạt. Đó là sự gặp gỡ giữa những tâm hồn, là yến tiệc của những con tim đang cùng một nhịp đập. Cho nên khi chia tay nhau họ không nói câu "tạm biệt", mà họ nói câu "hẹn gặp lại". Và đương khi chờ ngày gặp lại, lòng họ hướng về nhau, tâm trí họ suy nghĩ về nhau. Họ nhớ từng câu nói, cử chỉ của nhau, và họ cố gắng thi thố những điều họ đã ước hẹn với nhau. Như vậy, có vẻ như người ta đi xa nhau nhưng kỳ thực họ đang ở rất gần nhau.

Chúa lên trời là đi xa các môn đệ về mặt thể lý. Ngài không còn hiện diện bằng xương thịt, Ngài không còn đưa ngực cho Thánh Gioan tựa đầu vào nữa. Nhưng Ngài đang hiện diện trong tinh thần của các môn đệ, Ngài có mặt trong từng suy nghĩ, trong mỗi việc làm của các ông. Trước đây khi cùng ăn uống với Thầy, cùng bước với Thầy trên khắp các nẻo đường Palestin, mỗi lời Thầy nói, mỗi việc Thầy làm dường như các ông không hiểu bao nhiêu, không nhớ cho mấy.

Bây giờ các ông chẳng những nhớ tất cả mọi diều Thầy dạy, mà còn khắ ghi một cách sâu đậm mọi kỷ niệm về Thầy. Rõ ràng là Chúa đi xa nhưng là ở lại, ở lại nhiều hơn và sâu sắc hơn trong lòng các môn đệ.

Chúa về trời mà vẫn hứa ở với loài người chúng ta mọi ngày cho đến tận thế. Và do đó Chúa chỉ thay đổi cách hiện diện với chúng ta mà thôi. Mà cách hiện diện mới này sâu sắc hơn, có lợi cho chúng ta hơn. Giờ đây đến lượt mỗi người chúng ta cũng được Chúa ở lại trong cuộc đời của mình theo thể thức này, đó là: chúng ta phải để cho tinh thần của Chúa cấm rễ sâu nơi tâm hồn của chúng ta.

Chúng ta phải để cho việc làm của Chúa, cách ứng xử của Chúa chế ngự cả con người của chúng ta. Điêù quan trọng là tôi có muốn ở lại với Chúa hay không mà thôi. Tinh thần của Chúa, việc làm của Chúa, giờ đây chúng ta tìm thấy ở Lời Chúa, ở nơi Giáo Hội qua các bí tích. Và do đó muốn ở lại với Chúa mọi ngày cho đến tận thế, chúng ta phải tuân giữ Lời Chúa, yêu mến Giáo hội và siêng năng lãnh nhận các bí tích.

Lạy Chúa, Con biết Chúa luôn hiện diện trên mọi nẽo đường đời của con. Xin cho con luôn biết ở lại với Chúa. Xin cho con mau mắn nhận ra sự hiện diện của Chúa trong mọi hoàn cảnh, qua mọi công việc hằng ngày của con. Và xin cho con mỗi ngày biết can đảm hơn để thực thi ý Chúa trong đời con. Amen

CHÚA NHẬT LỄ THĂNG THIÊN  
Mc 16, 15-20

Cách đây độ chừng 15 năm, nghĩa là trong những năm thời trung học phổ thông, con có chứng kiến một sự kiện hi hữu như thế này : hôm đó cả lớp cùng đi đám tang của một người bạn trong lớp. Vì nhà tang rất xa, cho nên phải đi khá sớm. Hơn nữa trước khi đi, xe phải chạy vòng ra chợ để lấy vòng hoa phân ưu đã đặt trước, cách chung là mọi việc rất khẩn trương vội vã. Khi đến nhà tang thì mọi người xuống xe, chuẩn bị hàng ngũ chỉnh tề để vào phúng viếng thì mới dở khóc dở cười khi nhìn thấy trên vòng hoa có hàng chữ "Chúc mừng khai trương - Thành công mỹ mãn".

Thưa anh chị em ! Chắc chắn rằng không ai trong chúng ta muốn cái sai lầm đó xãy ra bao giờ cả, nhất là đối với những người không phải là đạo Công Giáo. Thế nhưng suy nghĩ một chút, chúng ta cũng thấy rằng : cái lầm lẫn đó cũng mang một ý nghĩa khá thú vị. Bởi vì theo đức tin Công Giáo, cái chết là cửa ngỏ để dẫn chúng ta vào đời sau vĩnh cửu, để dẫn chúng ta vào Thiên Đàng, nơi mà theo Thánh Gioan diễn tả: không còn chết chóc, không còn vất vã nhọc nhằn, không còn khóc lóc và đau thương, nhưng chỉ có bình an và hạnh phúc.

Vậy nếu như cái chết đưa người ta đến một nơi tốt đẹp như thế, thì việc chúc mừng cho một người vừa qua đời, một cách nào đó, chúng ta vẫn có thể chấp nhận được. Ngày hôm nay chúng ta mừng lễ Chúa lên trời nghĩa là mừng việc Chúa Giêsu công khai trở về Nước Thiên Đàng vĩnh cữu. Mặc dù chưa có ai trong chúng ta đã thấy Nước Thiên Đàng cả, nhưng chúng ta tin rằng có nước Thiên Đàng. Và vì tôi tin có điều đó, cho nên tất cả những gì tôi cố gắng thực hiện ngày hôm nay : tuân giữ lề luật của Chúa, sống hy sinh hãm mình, thể hiện tấm lòng bác ái đối với mọi người... là để tôi được vào nơi ấy. Chúng ta tin có Thiên Đàng bởi vì chính Đức Giêsu đã mạc khải điều đó. Trên Thánh Giá, Đức Giêsu đã nói với tên trộm lành rằng: "Ngay hôm nay, ngươi sẽ ở trên Thiên Đàng với Ta".

Rồi trong câu chuyện thân tình trước khi Thầy trò chia tay, Đức Giêsu đã nói với các môn đệ của mình rằng: "Thầy đi là để dọn chổ cho các con và Thầy sẽ trở lại để đón các con, để Thầy ở đâu, các con cũng sẽ ở đó với Thầy". Ba vị tông đồ : Phêrô, Gioan và Giacôbê cũng đã có một thoáng nhìn thấy vinh quang NướcThiên Chúa khi Đức Giêsu biến hình trên núi Tabor. Chắc chắn rằng nó phải hấp dẫn như thế nào đó mà ba ông đã lên tiếng xin dựng lều để được ở mãi trên đó. Thánh Phaolô dường như cũng có được một khoảnh khắc ngắn ngủi nào đó nhìn thấy được vinh quang ấy, mà sau này ông đã viết lại trong thư thứ hai gởi Côrintô rằng: "Đó là điều mắt chưa từng thấy, tai chưa từng nghe".

Như vậy Thiên Đàng chắc chắn là có, và đó sẽ là quê hương vĩnh cữu của chúng ta. Thế nhưng không phải vì lời hứa ấy mà chúng ta ngồi đó trông ngóng chờ đợi mà sao lãng nhiệm vụ trần thế, những nhiệm vụ mà chúng ta cần phải chu toàn với Chúa, với gia đình, với xã hội và những người kề cận với chúng ta. Bằng chứng là ba Tông đồ : Phêrô, Gioan và Giacôbê sau khi thấy được vinh quang của Chúa trên núi Tabor, đã được Chúa bảo là phải xuống núi để tiếp tục công việc hàng ngày là rao giảng Tin mừng. Hay là nơi bài đọc thứ nhất mà chúng ta vừa nghe, Chúa đã ra đi rồi mà các môn đệ vẫn còn đứng đó nuối tiếc trông chờ, đến độ Chúa đã sai hai Thiên Thần đến nhắn nhở các ông: "Hỡi những người Galilêa sao còn mãi mê đứng nhìn trời?".

Thưa anh chị em! "Hãy đi khắp tứ phương thiên hạ rao giảng Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo": Đó không phải là trách nhiệm của những thành phần đặc biệt nào cả, mà là cho hết thảy mọi thành viên trong ngôi nhà Giáo Hội. Nếu như cách đây gần 2000 năm, Đức Giêsu đã dùng đôi chân của mình, rong ruổi trên các nẻo đường để tìm kiếm những con chiên lạc, đã dùng môi miệng của mình để rao giảng Tin Mừng, đã dùng đôi tay của mình để thi ân giáng phúc, làm điều tốt đẹp cho người ta, thì hôm nay đây, hôm nay đây những công việc đó phải được tiếp tục trong đời sống của Giáo Hội, để nhờ những sinh hoạt của mình, nhờ đôi tay cụ thể của Giáo Hội, Chúa lại tiếp tục dìu dắt nhân loại về Thiên Đàng vĩnh cữu.

Mừng lễ Chúa Thăng Thiên hôm nay, chúng ta có được một cơ hội tốt đẹp để hướng về Thiên Đàng, là một hạnh phúc lâu dài mà Chúa đã hứa ban khi Người còn ở tại thế. Lời hứa đó được xem như là một niềm vui, một sự an ủi khích lệ cho chúng ta trong cuộc sống hiện tại, nhất trong những lúc chúng ta phải đối diện những gian nan nhọc nhằn. Thế nhưng chúng ta không được đứng lại trong niềm vui, trong sự an ủi khích lệ đó, mà phải quay về để chu toàn những bổn phận của mình.

Chúa đã về trời nhưng Người đã mượn miệng lưỡi chúng ta để rao giảng Tin Mừng, mượn đôi tay của chúng ta để thi ân cho người khác, mượn đôi chân chúng ta để đến với người cùng khổ. Chúa về trời nhưng Người vẫn tiếp tục thực hiện những dấu lạ nơi cuộc đời của những con người biết sống tận tình cho tha nhân, cho anh chị em của mình.

Thưa chị em ! Biết rằng Thiên Đàng là quê hương vĩnh cữu của chúng ta, nhưng cuộc sống trần thế này chính là con đường dẫn tới quê hương hạnh phúc đó. Nếu chúng ta chỉ đứng một chỗ mà chờ đợi ngóng trông, có lẽ chúng ta không bao giờ tới được. Cho nên muốn tới được Thiên Đàng, chúng ta không còn cách nào khác hơn là phải đi hết con đường dương thế đó trong tinh thần chu toàn những trách nhiệm đối với Chúa, đối với gia đình và với những người sống chung quanh chúng ta.

CHÚA NHẬT CHÚA THĂNG THIÊN
Mc 16, 15-20

"Hãy đi khắp bốn phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo. Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu rổi. Ai không tin sẽ bị kết án". (Mc 16, 15)

Tin Mừng Marcô hôm nay tường thuật: trước khi về trời, Chúa Giêsu không quên trao lại cho các tông đồ và những người kế vị, sứ mạng cao cả là loan báo Tin Mừng cho muôn dân; ai tin và chịu phép rửa sẽ được gia nhập vào vương quốc của Chân lý, của Tình yêu bất diệt; ai không tin, sẽ bị kết án: không tin chính là từ chối không gia nhập vào vương quốc đó. Xin mời anh chị em cùng nhau suy niệm.

Hãy đi loan báo Tin Mừng cho muôn dân: đây là lệnh truyền của Đức Kitô ; lệnh truyền này chúng ta lãnh nhận ngày ta chịu phép rửa tội. Công đồng Vaticanô II đã khẳng định mạnh mẽ điều đó; sứ mạng này không chỉ dành riêng cho hàng giáo phẩm. Vì không hiểu lời của Đức Kitô, nên một số người lơ là với sứ mạng này. Thánh Phaolô cũng nhấn mạnh: mọi người đều là chi thể trong Thân thể mầu nhiệm Duy nhất là Hội Thánh, mà Chúa Kitô là Đầu; vì thế không ai có thể nói mình không có trách nhiệm chia sẽ sứ mạng loan báo Tin Mừng do Đức Kitô trao lại.

Hãy đi loan báo Tin Mừng cho muôn dân : Có người dựa vào câu nói này mà cho rằng Hội Thánh luôn muốn dùng quyền thế mình, hoặc ảnh hưởng để buộc người khác phải theo. Đây là câu trả lời: Chúa Giêsu không lập bè, lập đảng phái, để lo cho người mình nhằm loại trừ người khác. Đạo Chúa không phải là pháo đài để che chở cho con chiên, chống lại ngoại giáo. Đạo chính là Tin Vui , là nguồn hạnh phúc, là sức sống , là Nước Trời cho hết mọi người. Lẽ ra, mọi người đáng được hưởng Tin Vui, sức sống đó. Người ta đi loan báo Tin Mừng cho thế giới chính vì Tình Yêu (yêu Chúa Kitô, yêu mọi người.

Cán bộ coi tù hỏi Đức Cha Px Saviê. Thuận: "chúng tôi bắt ông, giam ông, làm điều không hay cho ông, tại sao tôi thấy ông vẫn vui vẻ, đối xử tốt với chúng tôi, không oán hận chúng tôi?". Đức Cha trả lời: "tại vì tôi yêu thương anh, vì anh cũng là người Việt Nam như tôi, và vì tôi yêu Đức Kitô."

L à Linh mục, tu sĩ, tôi lãnh nhận sứ mạng loan báo Tin Mừng ngày chịu phép Rửa Tội, nhất là ngày chịu chức Linh mục và ngày khấn dòng. Làm sao tôi có thể tự miễn chuẩn cho mình không phải đi loan báoTin Mừng? Làm sao tôi có thể nói được: mình làm vừa vừa thôi, đâu có sức, có tiền mà lo nhiều như vậy? Chúa Kitô khi bị treo trên Thập giá đâu có ra điều kiện, nếu không chịu nổi, thì Chúa Cha phải cho nghỉ xả hơi! Là giáo dân thường, tôi có nghĩ rằng tôi phải ý thức đi loan báo Tin Mừng cách mạnh mẻ hơn, vì thực tế, tôi chưa dành nhiều thì giờ cho Chúa về điều này. Bao lâu nay tôi cứ nghĩ công việc này là của ông cha, bà phước mà thôi...Tôi cứ nghỉ, việc đi loan báo Tin Mừng là chuyện truyền giáo cho Phi Châu, cho Trung Quốc; tôi có quên rằng với cương vị là cha mẹ, loan báo Tin Mừng là dạy dổ con cái tốt, nên gương sáng cho chúng. Với người chòm xóm, người lương, tôi có sẵn sàng nói về Chúa cho họ bằng cuộc sống tốt, ngay chính của tôi, để họ nhìn thấy Chúa nơi tôi không?

CHÚA NHẬT CHÚA THĂNG THIÊN
Mc 16, 15-20

Hôm nay lễ Chúa Giêsu lên trời, nhưng Trời ở đâu ? Trong Kinh Thánh, "trời" là hình ảnh văn chương quen thuộc dùng để chỉ nơi Thiên Chúa ngự. Kinh Thánh cũng dùng hình ảnh đám mây để nói về sự hiện diện của Thiên Chúa, ví dụ: khi dân Chúa tiến bước trong sa mạc, thì có đám mây đi theo, Vậy chúng ta đừng hiểu cách mô tả của Thánh Luca trong Kinh Thánh theo nghĩa đen theo kiểu Chúa bay vào không gian như một phi hành gia. Chúa Giêsu lên trời có nghĩa là Người được vĩnh viễn đưa vào trong vinh quang của Thiên Chúa, được nên ngang hàng với Thiên Chúa và được đặt làm Chúa mọi loài mọi vật.

Chúa Giêsu lên trời hay còn gọi là lễ Thăng Thiên. Biến cố Thăng Thiên của Chúa Giêsu chấm dứt một lịch sử và khởi đầu một lịch sử. Lịch sử chấm dứt là lịch sử nào ? Thưa đó là lịch sử cuộc đời của Chúa Giêsu, Ngôi Lời nhập thể ở giữa trần gian, biến cố Thăng Thiên chấm dứt sự hiện diện hữu hình của Chúa Giêsu ở giữa thế gian. Còn lịch sử bắt đầu là lịch sử nào ? Thưa là lịch sử của Hội Thánh, lịch sử này tiếp nối công cuộc cứu độ của Chúa Cứu Thế trên trần gian cho đến ngày Người trở lại trong vinh quang.

Thánh Luca viết:Và đang lúc các ông còn đăm đăm nhìn lên trời, thì kìa hai người đàn ông mặc áo trắng đứng bên cạnh và nói "Hỡi những người Galilê, sao các ông còn đứng nhìn lên trời ? Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời". Câu nói của các thiên sứ nhắc nhở các tông đồ phải trở về với nhiệm vụ đã được Thầy giao phó mà các Ngài phải chu toàn cho đến ngày tận thế.

Chúa Giêsu lên trời là một điều chắc chắn. Đây là một mầu nhiệm, một tín điều chúng ta tuyên xưng trong kinh Tin Kính "ngày thứ 3 Người sống lại như lời Thánh Kinh, Người lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha", một hy vọng cho chúng ta hướng đến khi suy niệm Năm Sự Mừng, thứ hai Đức Chúa Giêsu lên trời, Ta hãy xin cho được ái mộ những sự trên trời.

Chúa Giêsu lên trời là để dọn chỗ cho các môn đệ và Người sẽ trở lại để đem họ về trời với Người. Chúng ta là người kitô hữu, qua bí tích rửa tội, chúng ta trở nên những môn đệ của Chúa Giêsu. Chúng ta sống đạo là để chúng ta được Chúa cho chúng ta lên thiên đàng trong ngày sau hết. Nhưng để được lên thiên đàng cũng phải có những điều kiện. Đó là làm theo những lệnh truyền của Chúa: phải sám hối từ bỏ mọi tội lỗi, các đam mê xấu và tin vào Tin Mừng của Chúa, để được ơn tha thứ và trở nên con cái Thiên Chúa; phải thực hành các giới răn của Chúa và những lời dạy của Hội Thánh, nhất là giới răn yêu thương. Bởi thiên đàng là nơi sống yêu thương, những ai sống trong thù hận, chia rẽ, ghen ghét, hay chửi rủa, hay nói hành nói xấu người khác, thì không thể lên thiên đàng được, họ sẽ không hoà hợp được với lối sống thiên đàng vì họ không biết yêu thương. Muốn được lên thiên đàng sau khi chết chúng ta phải xây dựng cho mình một thiên đàng ngay tại thế gian này bằng một đời sống luôn biết yêu thương, biết chia cơm sẽ áo cho những người nghèo đói, giúp các bệnh nhân nghèo có phượng tiện chữa bệnh, thăm viếng an ủi những người đau khổ cả về thể xác cũng như tâm hồn, động viên các tội nhân ăn năn sám hối và sớm trở về giao hoà với Thiên Chúa. Sống yêu thương là sống làm chứng cho người khác biết rằng có một cuộc sống mai sau thật tốt đẹp trong Chúa.

Lạy Chúa, con đường về trời là con đường sống yêu thương. Xin cho chúng con luôn biết sống yêu thương như Chúa đã dạy và đã sống. Uớc gì qua cuộc sống chúng con, người ta nhận ra Nước Chúa đang tỏ hiện. Amen.

TIẾP TỤC CÔNG VIỆC CỦA CHÚA
Mc 16, 15-20

1. Ngày nay nhờ phương tiện đi lại dễ dàng, nhanh chóng, cũng như các phương tiện truyền thông rất đa dạng, phong phú vì thế mệnh lệnh ban ra của người có trách nhiệm hay một tin nào đó sẽ được loan truyền đi rất nhanh chóng. Ngày xưa phải dùng các trạm thông tin, tin được đưa truyền từ trạm này đến trạm khác. Nhân viên ở mỗi trạm cố gắng hết sức chu toàn nhiệm vụ của mình bằng cách chạy bộ, đi ngựa... để mệnh lệnh hay tin được đưa đi càng sớm càng tốt. Trong bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay, chúng ta liên tưởng đến một cuộc chạy tiếp sức đưa tin, nhưng có điều ở đây không phải là một tin bình thường mà là tin Tin Mừng cứu rỗi. Còn Đức Giêsu không phải như bao nhân viên bình thường khác mà Ngài là chính tác giả của Tin Mừng, và là chính Tin Mừng, Ngài đã thực hiện xong phần vụ của mình cách đặc biệt : Loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa... cuối cùng chịu nạn chịu chết và sống lại để chuộc tội cho loài người, giờ đây Ngài trở về cùng Thiên Chúa Cha. Đức Giêsu trao phận vụ còn lại cho các Tông đồ, Ngài đã yêu cầu các ông : " Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo" (Mc 16,15), và cuộc chạy tiếp sức để loan báo Tin Mừng vẫn còn được trao cho tất cả các Kitô hữu qua nhiều thế hệ cho đến khi Đức Giêsu lại ngự đến trong vinh quang.

2. Qua đoạn Tin Mừng trên, Chúa Giêsu không chỉ ra chị thị, mà Ngài còn hứa hỗ trợ cho người tông đồ nữa. Đọc Kinh Thánh, nhất là sách Tông Đồ Công Vụ, chúng ta dễ thấy rằng nhờ Thánh Thần của Đức Kitô Phục Sinh mà các Tông đồ thực hiện được những phép lạ như trừ quỷ (Cv 5,12-16 ; 8,7; 16, 16-18), đặt tay chữa bệnh (Cv 4,30 ; 9, 10-17)... Ý nghĩa sâu xa của việc Chúa ban cho các Tông đồ thực hiện được các phép lạ (dấu lạ) này là gì ? Thưa đó là chứng tỏ "có Chúa cùng luôn hoạt động với các ông"(Mc 16,20), giúp các ông hoàn thành sứ mạng tông đồ của mình : giảng dạy, chiến thắng thế lực sự dữ, chữa lành bệnh tật...

3. Ngày hôm nay Chúa vẫn mời gọi và trợ lực cho mọi Kitô hữu tích cực góp phần đánh bại thế lực sự dữ do ma quỷ cầm đầu như : lười biếng, chưởi thề, nói tục, trộm cắp, dâm dục, rượu chè, xì ke, ma tuý, áp bức, bất công, giả hình... những thứ này nhan nhản khắp nơi, núp dưới nhiều hình thức khác nhau, rất tinh vi... làm cho ta bước vào con đường tội lỗi mà không hay biết !
Chúa cũng mời gọi mọi và trợ lực cho mọi người chúng ta 'đặt tay', hay nói đúng hơn là 'ra tay' góp phần xoa dịu những nỗi đau của anh chị em mình : bệnh tật thể xác (giúp đỡ người nghèo, bệnh tật...) cũng như bệnh tật thiêng liêng, tinh thần (ích kỷ, thù hằn, ghen ghét...). Vậy mọi Kitô hữu hãy là cánh tay nối dài của Đức Kitô.
4.
Không những đẩy lùi sự dữ, chữa lành bệnh tật... mà hôm nay cũng như các Tông đồ xưa, người Kitô hữu bằng lời rao giảng, nhất là bằng đời sống chứng nhân, thu phục tha nhân về cùng Đức Kitô, đó chính là dấu lạ được tái diễn. Câu chuyện sau đây cho thấy các sơ Nữ Tử Bác Ái đã thực hiện một dấu lạ kỳ diệu :
Ngày 25/3/2003 tại Sàigòn, một bác sĩ có tên thánh là Augustino, 50 tuổi được thụ phong linh mục, điều đáng nói vị linh mục này là một người lương trở lại đạo cách ngày thụ phong 10 năm, lúc đó ngài 40 tuổi, sau khi trở lại đạo, ngài gia nhập tu hội Thánh Vinh Sơn, theo học triết học và thần học. Bề trên thấy có đủ điều kiện đã thụ phong linh mục cho ngài. Hiện cha đang làm việc cho một trung tâm dành cho những người mắc chứng siêu vi đang chờ ngày giờ về thế giới bên kia, trung tâm đó ở Củ Chi cách Sàigòn độ 30 cây số.

Làm sao từ một bác sĩ lương dân có thể trở nên một người tận hiến cuộc đời cho Chúa và anh em như vậy? Thưa ngài đã được thu hút bởi các nữ tu Nữ Tử Bác Ái, nhất là từ một nữ tu người ngoại quốc nhưng tận hiến trọn cuộc đời của mình để yêu thương phục vụ cho người cùi hủi, sau khi tốt nghiệp chuyên về ngành da liễu, sơ ngoại quốc này đã tình nguyện làm việc tại bệnh viện Bến Sắn, một bệnh viện công nhưng có các sơ Nữ Tử Bác Ái cùng làm việc.Trước những hy sinh tận tụy của sơ này và các sơ phục vụ cho các người phong cùi khác với cả tấm lòng, đã đánh động vị bác sĩ - linh mục này, ngài nói :"Tôi tự nghĩ trong lòng, tôi có thể chữa lành các vết thương thân xác, nhưng làm sao tôi có thể chữa lành nỗi lòng cô đơn, bị bỏ rơi của các bệnh nhân cùi hủi này? Từ đó tôi đã tìm hiểu niềm tin Công giáo và tôi đã gặp được vị bác sĩ của các tâm hồn là Ðức Giêsu Kitô".

Vậy, đời sống hy sinh bác ái của các sơ Nữ Tử Bác Ái không những đã đem lại niềm vui cho các người phong cùi, mà còn là động lực để một bác sĩ lương dân trở thành một linh mục, từ một bác sĩ thể lý thành môt bác sĩ tâm hồn, phải chăng đó là dấu lạ xưa của các Tông đồ tái diễn ? Phải chăng điều này chứng tỏ rõ đời sống tốt đẹp có tác dụng rất lớn cho việc loan báo Tin Mừng ?

5. Trong đêm tối, chiếc đèn được thắp sáng càng rõ công dụng chiếu sáng. Đời sống tốt đẹp của người Kitô hữu có thể ví như những chiếc đèn. Chiếc đèn tuy không nói gì cả, nhưng ai cũng thấy ánh sáng và lợi ích của nó. Hãy làm chứng cho Đức Giêsu bằng lời rao giảng và nhất là bằng đời sống chứng nhân lúc thuận lợi cũng như lúc khó khăn. Hãy ra sức thực hiện lệnh truyền quan trọng của Đức Giêsu ban cho mỗi người chúng ta trước khi Ngài về trời : "Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo". Đức Giêsu đã được ngự bên hữu Chúa Cha sau khi hoàn thành phận vụ của mình, cũng thế phần thưởng thích đáng là điều chắc chắn cho những ai tích cực thi hành lệnh truyền của Ngài.

MỘT CÕI ĐI VỀ
Mc 16, 15-20

Có lẽ trong chúng ta, phần đông đều biết đến một ca khúc của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Ca khúc có tựa đề là "Một cõi đi về":

Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi
Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt
Trên hai vai ta đôi vòng nhật nguyệt
Rọi suốt trăm năm một cõi đi về.
Mây che trên đầu và nắng trên cao
Hôm nay ta đi song còn ở lại
Con tim yêu thương vô tình chợt gọi
Lại thấy trong ta hình bóng con người
..............

Nếu cố nhạc sĩ họ Trịnh đã viết nên lời của ca khúc Môt cõi đi về này thì tôi tưởng rằng Trịnh Công Sơn đã có một chiều sâu cảm nghiệm về một cõi, về một nơi nào đó mà người ta phải đi tới, phải đi về. Cõi đó là cõi nào? Nơi đó là nơi nào?

Tin mừng hôm nay mô tả: "
Nói xong, Chúa Giêsu được rước lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa"(Mc 16, 19)

Như vậy, nếu Trịnh Công Sơn đã nói về một cõi xa xăm nào đó thì hôm nay, chính Chúa Giêsu đã xác định cõi đó là Thiên Đàng, là Trời cao. Đó là nơi mà sau bao nhiêu năm Đức Giêsu đã long đong, sau bao nhiêu năm nhọc nhằn, sau bao lần nếm cảnh nghèo đói, khổ đau, cay đắng và thậm chí là những thất bại chua cay, giờ đây, Ngài đang bước đến cõi đi về đó. Nơi đó, cuộc sống vĩnh viễn không bị tiêu diệt. Nơi hạnh phúc không còn khổ đau, nơi mà tất cả mọi giá trị đạt đến mức tuyệt đối và viên mãn. Nơi mà con người trở thành bất tử.

Thế nhưng có một vấn đề đặt ra là: có thật là có cõi trời cao không và có thật là khi ở tầng trời cao người ta sẽ có được một cuộc sống như thế không. Hay đó chỉ là một ảo giác, hay đó chỉ là ảo tưởng nếu không nói là không tưởng.

Khi đặt vấn đề như thế tự nhiên tôi nhớ lại lời của một triết gia vô thần, Kart Marx. Ông ta nói rằng:
"Kitô giáo là trái tim của một thế giới không trái tim, là linh hồn của một thế giới không linh hồn. " Ông còn nói thêm: "........và là thuốc phiện ru ngủ nhân dân".

Là thuốc phiện ru ngủ nhân dân, Kitô giáo ru ngủ người ta, làm cho người ta quên đi thực tại đau khổ này và thay vào đó chỉ toàn là dạy cho người ta luôn mơ tưởng về cõi Thiêng đàng xa xăm. Không thực tế.

Tôi không nghĩ thế. Trái lại, sự kiện Chúa lên Trời hôm nay nói với tôi rằng: Ngoài cõi đời này còn có một nơi chốn khác. Ngoài cuộc sống này còn có môt cuộc sống khác. Ngoài những giá trị đời này còn có những giá trị khác lớn hơn, cao hơn và tuyệt đối hơn.

Và như thế trời không phải là một cái gì đó xa xăm, ảo tưởng. Trái lại, trời là niềm hy vọng của con người. trời là nơi con người sẽ được giải thoát khỏi trói buộc và giam hãm. Nơi đó, người ta sẽe biết được thế nào là hạnh phúc vô biên, vĩnh viễn, bất diệt và bền lâu. Chính vỉ thế, Trời là cõi người ta phải đi tới, phải đi về.

Thưa anh chị em và các bạn! Khi hiểu được như thế thì tự nhiên tôi cảm thấy băn khoăn lại cuộc đời mà tôi và anh chị em đang có mặt.

Tôi tự hỏi ngày hôm nay người ta có còn tin vào cõi Trời cao ấy không. Người ta có còn hy vọng được sống ở chốn trời cao ấy không? Và người ta có còn biết khao khát kiếm tìm cõi ấy không? Tôi sợ rằng không! Vì một đàng Chúa Giêsu đã xác định: "Vương quốc của tôi không thuộc về thế giới này. (xYn 18,38). Đang khi đó thì Abel Camus, một nhà tư tưởng có tầm cỡ trên thế giới thì nói rằng: "Vương quốc của tôi là chính thế giới này". Câu nói đó phản ánh một quan niệm, một lối sống của phần đông nhân loại trong thế kỷ này và trong thời đại này. Quan niệm và lối sống đó là người ta chỉ tập trung lo hưởng thụ từ những thứ mà người ta cố kiếm và cố tìm là tiền là của cải, là địa vị và là những trò vui nặng tính trần tục.

Chính vì chúng ta đang bị nhận chìm trong một quan niệm và một lối sống như thế nên hình ảnh của một cõi đi về trong tâm tưởng của chúng ta trở nên xa lạ và nhạt nhòa.

Như vậy thì vấn đề còn lại là: Nếu hình ảnh đó đã nhạt nhòa rồi thì ta phải tô điểm lại bằng chính lòng nhiệt thành của chúng ta. Nhiệt thành xây dựng một đất nước, một xã hội, một thế giới huynh đệ hơn, công bằng hơn, bác ái hơn...

Như vậy có nghĩa là gì, nếu không phải đó là mệnh lệnh và một đòi hỏi của Chúa Giêsu hôm nay:
"Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo tin mừng cho mọi loài thọ tạo ." Amen (Mc 16,15).

MẦU NHIỆM TÔN VINH THIÊN CHÚA
Mc 16,15-20

Hôm nay Giáo hội mừng lễ Chúa Thăng Thiên, khải hoàn vê trời. Về mầu nhiệm Thăng Thiên, có hai phương diện cần phải giải thích. Một là việc Chúa được tôn vinh mà các tác giả Thánh Kinh mô tả bằng những hình ảnh như "được nâng" cao "lên trời", "ngự bên hữu Đức Chúa Cha". Cuộc tôn vinh đó được diễn ra chính vào lúc Chúa Phục Sinh, giác quan không thể cảm nghiệm được, chúng ta chỉ có thể nhận thức bằng con mắt đức tin. Nhưng có một dữ kiện thứ hai có tính cách lịch sử, cảm nghiệm được dựa trên chứng từ của những người tai nghe mắt thấy, như Thánh sử Luca cho biết: Vài tuần, sau lễ Vượt qua, Chúa Giêsu đã "được đưa lên trời" trước mặt các môn đệ, trên núi Cây Dầu, gần làng Bêthania; một dữ kiện rõ ràng kiểm chứng được.

Việc Chúa được tôn vinh hay lên trời cách vô hình, mới chính là trung tâm của mầu nhiệm. Việc Thăng Thiên hữu hình chỉ là dấu chỉ và bảo chứng việc tôn vinh vừa nói. Tuy nhiên, đó là một sự kiện lịch sử mà Luca người duy nhất đã kể lại. Vả lại, trong hạnh tích các Thánh, nhiều vị cũng được ơn "nâng lên" như vậy, danh từ thần học gọi là thần lực nâng cao (lévitation).


Thánh Phaolô trong Thư gửi Giáo đoàn Ephêsô đã giải thích cho chúng ta về mầu nhiệm hôm nay, khi người nói: "Công việc Thiên Chúa đã thực hiện trong Đức Kitô, tức là làm cho Ngài từ cõi chết sống lại và đặt Ngài ngự bên hữu mình trên trời". Thánh Augustinô nói: "Đức Kitô trở về nơi tối cao, nhưng vẫn ở lại với chúng ta. Và cũng như chúng ta, chúng ta ở lại dưới đất, nhưng chúng ta cũng đã ở bên Ngài." Trên trời và dưới đất là hai trạng thái, hai lối sống: sống với Thiên Chúa và sống theo thể xác. Khi bỏ trời xuống đất, Chúa đến dạy cho chúng ta nếp sống theo ý Chúa muốn, để biết đường về trời, khi cuộc đời dưới trần gian viên mãn, ta được về với Chúa, "được sống lại với Chúa Kitô, vì mục đích cuộc đời ta, không phải ở dưới đất mà là ở trên trời" (Cl 3,1-2).


Trong bài Phúc Âm, Thánh Máccô gợi lên hai ý tưởng: sự lên trời của Chúa Giêsu và việc sai phái các tông đồ đi giảng đạo. Từ trời cao kia như một chỗ hẹn, một bộ chỉ huy, Chúa Kitô khởi hoàn hằng soi sáng hướng dẫn các môn đệ. Ngài sai họ đi trên vạn nẻo đường thế giới, ban cho họ nhiều quyền năng để rao giảng Tin Mừng.


Ngài đã chết để cứu độ mọi người thì nay Ngài trao phó cho các môn đệ sứ mạng đem Tin Mừng cứu rỗi quảng bá khắp mọi nơi, Marcô còn nói rằng "cho mọi tạo vật", ngụ ý rằng Chúa đã đến đổi mới vũ trụ và nay Ngài về trời để hiến dâng cho Đức Chúa Cha một trời mới một đất mới.


Tất cả hai bản tính của Chúa, bản tính Thiên Chúa và bản tính nhân loại đều được tôn vinh. Với Chúa Giêsu, loài người và cả vũ trụ đạt đến tột đỉnh vinh quang.


Thánh Ignatiô thành Antiochia tử đạo vào năm 110. Là Giám mục, ngài ra đi để lại cho đoàn chiên những lời từ biệt thống thiết. Ngài xin giáo dân đừng can thiệp cho ngài: "Cha phải được nghiền nát dưới hàm răng sư tử để trở nên bánh tinh tuyền của Chúa Kitô. Hãy để cho cha ra đi đến nơi ánh sáng chân thật. Và khi cha đã về trên đó, sau khi đã làm mồi cho thú dữ, cha sẽ là bánh trong sạch dâng lên, là "người mang Chúa" (Theophore"). Thánh Nhân bị hai con sư tử phân xác và được giáo dân đặc biệt tôn kính.


Mầu nhiệm Thăng Thiên là mầu nhiệm tôn vinh Thiên Chúa toàn diện, vừa là Con Một Đức Chúa Cha, vừa là một phần tử nhân loại. Nhờ Chúa Giêsu con người và vũ trụ đổi mới cũng sẽ đạt đến định mệnh cao sang của mình vậy.


"Thiên Chúa ngự lên giữa tiếng hoan ca...

Hãy ca mừng Thiên Chúa, hãy tung hô Vua ta". (Tv 46,8-9)

Cố Lm. Hồng Phúc, DccT

CHÚA GIÊSU LÊN TRỜI
Mc 16,15-20

1. Lời trăn trối cuối cùng

Trước khi từ giã các môn đệ để về trời và để hiện hữu một cách khác bên cạnh các ông, Đức Giêsu đã trăn trối nhiều điều. Những lời trăn trối quan trọng nhất là những lời Ngài nói ra trong bữa tiệc ly trước khi ra đi chịu tử nạn và ngay trước khi về trời.


- Những trăn trối trong bữa tiệc ly nói lên
tinh thần mà môn đệ của Ngài phải có: chủ yếu là yêu thương nhau (Ga 13), tin và hợp tác với Thánh Thần (Ga 14; 16), liên kết chặt chẽ với Ngài (Ga 15), hiệp nhất với nhau (Ga 17), mong đợi Ngài trở lại (Ga 16).

- Còn lời trăn trối ngay trước khi Ngài về trời nói lên việc
mà các môn đệ Ngài phải làm là «đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo» để tiếp tục sự nghiệp mà Ngài đã khởi sự. Đó cũng chính là công việc phúc âm hóa và tái phúc âm hóa, để mọi người không chỉ biết Tin Mừng mà còn thật sự sống tinh thần Tin Mừng nữa.

Về lời trăn trối sau, rất nhiều Kitô hữu chỉ hiểu một cách nông cạn, là chỉ nghĩ tới việc rao giảng cho người ta biết Thiên Chúa, biết Tin Mừng cứu độ của Đức Giêsu, và dừng lại tại đấy! Nhưng thử hỏi nếu chỉ biết thôi thì ích lợi gì? Chẳng hạn biết rõ sự cần thiết và ích lợi của thức ăn, hay biết rõ mình cần phải ăn gì để mạnh khỏe mà lại không chịu ăn, thì sự biết rõ ấy có ích lợi gì? Nếu biết mà không sống điều mình biết, không đem nó ra áp dụng thì chẳng những vô ích mà còn phải chịu trách nhiệm về cái biết ấy nữa. Vì kẻ nhận 1 nén bạc thì chỉ phải làm lợi thành 1 nén khác thôi, nhưng kẻ nhận 5 nén thì có trách nhiệm làm lợi thành những 5 nén khác kia! (x. Mt 25,14-30; Lc 19,12-27).


Vì vậy, biết Tin Mừng mà không chịu sống Tin Mừng là tự làm cho mình bị kết án nặng hơn. Cũng vậy, rao giảng cho người ta biết Tin Mừng mà không giúp người ta sống Tin Mừng thì chỉ làm cho người ta bị kết án nặng hơn chứ chẳng đem lại lợi ích gì cho họ. «
Đức tin chết» hay «đức tin không có việc làm» (Gc 2,17.26) đâu thể đem lại ơn cứu độ? Cũng như có đồ mà không đem ra dùng thì đồ ấy có ích lợi gì? hoặc cho người ta đồ mà không chỉ cho người ta cách sử dụng thì coi chừng kẻo làm hại người ta? Việc rao giảng Tin Mừng cần phải đi xa hơn một chút là giúp người ta sống Tin Mừng, như thế sẽ làm lợi cho họ vô cùng. Như vậy, điều quan trọng là chính chúng ta phải sống tinh thần Tin Mừng và làm cho mọi người cũng sống tinh thần Tin Mừng. Biết và sống Tin Mừng, hoặc làm cho người ta biết và sống Tin Mừng, hai thứ ấy phải đi đôi với nhau mới không có hại mà sinh ích lợi vô cùng cho mình và cho người. Nên đã biết Tin Mừng hoặc giúp ai về mặt Tin Mừng thì hãy biết hoặc giúp «tới nơi tới chốn», với tinh thần trách nhiệm. Đừng «đánh trống bỏ dùi», «đem con bỏ chợ», tức giúp nửa vời, rất tai hại!

2
. Những dấu lạ đi theo những ai có lòng tin

Theo lời của Đức Giêsu thì những kẻ có lòng tin đích thực - tức tin và sống điều mình tin - sẽ có được những dấu lạ theo mình: «
Họ sẽ trừ được quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ. Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh, thì những người này sẽ được mạnh khoẻ». Đó là những điều mà tôi nghĩ rằng thời nào cũng đều ứng nghiệm, không chỉ là thời các tông đồ. Và những điều này trước tiên được ứng nghiệm ngay nơi bản thân những người tin rồi sau đó mới ứng nghiệm ra bên ngoài, tức với người khác hay với ngoại cảnh. Tuy nhiên, lời Ngài nói cần phải hiểu theo nghĩa tâm linh, chứ không nên hiểu theo nghĩa đen: tôi không tin rằng bất kỳ người mạnh tin nào cũng đều có thể uống thuốc độc mà không chết, hay bị rắn cắn mà không sao! Vì thế, những dấu lạ nói trên cần được hiểu như sau:

-
«trừ được quỉ»: quỉ tượng trưng cho thế lực của sự ác. Người thật sự tin vào Thiên Chúa - là nguồn sức mạnh của mình - có thể thắng được những thế lực của sự ác hay của tội lỗi ngay trong bản thân mình. Cụ thể là thắng được những cám dỗ, những tư tưởng xấu, những khuynh hướng xấu, v.v... Nếu đức tin của họ mạnh hơn nữa, họ có thể giúp những người yếu tin cũng thắng được thế lực ác giống như họ.

-
«nói được những tiếng mới lạ»: người có đức tin đích thực và sống nhuần nhuyễn đức tin ấy sẽ cảm nghiệm được sự hiện diện của Thiên Chúa và Đức Giêsu, tức chứng ngộ được chân lý nơi bản thân mình. Nhờ đó họ có thể tự diễn đạt đức tin của mình theo đủ mọi phương thức khác nhau, chứ không dùng những kiểu nói sáo mòn, trống rỗng, thiếu chất sống. Họ luôn luôn dùng những cách diễn tả mới lạ, phù hợp với thời đại, với trình độ của người nghe, giúp người nghe cũng cảm nghiệm được thực tế đức tin như họ. Họ như một y sĩ đã nắm thật vững cốt yếu của y lý nên biết tùy bệnh mà tự mình cho thuốc thật hữu hiệu, phù hợp với từng căn bệnh. Họ không sao y những bài thuốc có sẵn của người khác để áp dụng chữa bệnh một cách máy móc giống như những y sĩ chưa nắm vững y lý. Hay như một thầy giáo đã tiêu hóa thật kỹ môn mình dạy nên chỉ cần nói tất cả những gì đang có sẵn trong bụng không phải lệ thuộc một bài bản nào cả. Họ có thể nói một cách sáng tạo theo đủ kiểu đủ cách mới lạ để học sinh dễ hiểu mà vẫn luôn luôn chính xác, chứ không nô lệ vào những giáo trình mẫu do người khác soạn sẵn.

- «
cầm được rắn trong tay»: người có đức tin đích thực ắt nhiên có tâm hồn an bình và đầy tràn tình yêu. Họ coi mọi người - dù xấu ác hay ghét họ, muốn làm hại họ - như anh em ruột thịt và sẵn sàng hy sinh cho những người ấy. Vì thế, họ có thể tiếp cận và sống chung cả với những người xấu ác mà không hề bị hại, vì những người nguy hiểm này vẫn luôn cảm nghiệm được tình thương của họ dành cho mình: không ai lại muốn hại người đang yêu thương mình.

-
«dù có uống nhằm thuốc độc cũng chẳng sao»: tất cả những nghịch cảnh, những đau khổ trong cuộc đời không thể làm mất được sự bình an và hạnh phúc của những người có đức tin thật sự. Với đức tin, họ biết rằng tất cả những đau khổ hay nghịch cảnh Chúa gửi tới đều là những hồng ân do tình thương của Ngài. Họ tin rằng: « Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người» (Rm 8,28) và «những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta» (8,18). Vì thế, họ rất vui khi đau khổ hay nghịch cảnh xảy tới, nên đau khổ hay nghịch cảnh cỡ nào cũng không hề làm hại được họ.

-
«nếu họ đặt tay trên những người bệnh, thì những người này sẽ được mạnh khoẻ»: Ngoài ra người có đức tin đích thực còn có sức cảm hóa và giúp những người xấu ác - là người bị bệnh về tâm linh - trở về đường ngay nẻo chính. Họ có khả năng nâng đỡ và thêm sức mạnh cho những người yếu đuối tinh thần. Ai gần họ cũng cảm thấy mình bình an hạnh phúc hơn, tin vững mạnh vào Thiên Chúa, vào chính bản thân và tương lai mình hơn.

3. «Có Chúa cùng hoạt động» với người rao giảng Tin Mừng


Bài Tin Mừng kết thúc bằng một câu thật tuyệt vời, làm an lòng tất cả những ai đang rao truyền Tin Mừng: «
Các Tông Đồ ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng». Điều quan trọng nhất để việc loan báo Tin Mừng trở nên hữu hiệu - nghĩa là không chỉ giúp người ta biết Tin Mừng, mà còn làm cho họ sống Tin Mừng nữa - đó là «có Chúa cùng hoạt động với họ». Nhưng làm sao để có Chúa ở cùng? - Họ chỉ có Chúa ở cùng khi họ thường xuyên ý thức sự hiện diện của Ngài, và luôn gắn bó với Ngài bằng tình yêu chân thành có khả năng thúc đẩy họ hy sinh, dấn thân thật sự. Nhờ đó, họ có «những dấu lạ kèm theo» xác nhận những gì họ rao giảng là chân lý. Dấu lạ quan trọng và căn bản nhất - có khả năng thuyết phục những người nghe họ - chính là họ đã thật sự sống được những điều họ rao giảng. Nhờ sống điều mình nói mà lời họ nói trở nên sống động, mạnh mẽ, đầy sức hấp dẫn, khiến người nghe luôn «tâm phục khẩu phục», đồng thời cảm nghiệm được sự hiện diện cụ thể của Thiên Chúa ở nơi họ. Ước gì mọi người loan báo Tin Mừng đều luôn «có Chúa cùng hoạt động» như vậy!

Cầu nguyện


Lạy Cha, xin cho con biết sống đức tin của mình một cách thực tế và sống động. Vì quả thật rất nhiều khi con tuyên xưng đức tin của mình hết sức mạnh mẽ trước mặt mọi người, nhưng đời sống con lại chứng tỏ con chẳng tin bao nhiêu! Thế mà con lại rao giảng thật hùng hồn về đức tin ấy khiến người nghe con cảm thấy những lời con nói chỉ là những sáo ngữ, những lời giả dối, không thể tin nổi. Xin Cha giúp con thật sự sống những điều con tin, và rao giảng những điều con sống.

John Nguyễn

SỨ VỤ LÊN ĐƯỜNG
Mc 16, 15-20

Hôm nay cộng đoàn chúng ta họp nhau trong ngôi thánh đường này để mừng trọng thể lễ Chúa Thăng Thiên. Đây cũng là ngày Giáo Hội dành làm "Ngày truyền thông thế giới". Khi chọn ngày lễ này làm ngày truyền thông, Giáo Hội muốn nhắc nhở từng người chúng ta ý thức hơn đến việc loan truyền cho mọi người Tin Mừng Phục Sinh, một Tin Mừng vĩ đại nhất qua mọi thời đại và có khả năng biến đổi cuộc sống của những ai tin nhận.

Không chỉ hôm nay, nếu để ý, chúng ta sẽ thấy trong suốt những tuần lễ vừa qua, dưới nhiều hình thức khác nhau, phụng vụ lời Chúa cũng đã luôn mời gọi chúng ta phải lên đường loan báo Tin Mừng Phục Sinh của Đức Kitô.


Ngay trong Chúa Nhật Phục Sinh, Maria Mađalêna đã là người đầu tiên loan báo cho hai môn đệ Phêrô và Gioan về sự kiện ngôi mộ trống, dấu chỉ của Đấng Phục Sinh. Rồi tám ngày sau, vào Chúa Nhật II Phục Sinh, trong lần hiện ra với các tông đồ có cả Tôma, chính Đấng Phục Sinh đã truyền cho các tông đồ "
Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con" (Ga 20, 21). Kế đến, trong Chúa Nhật III, Tin Mừng Luca còn thuật lại cho chúng ta việc Đấng Phục Sinh hiện đến với các tông đồ khi đó đang tụ họp cùng với hai môn đệ vừa từ làng Emmaus trở về. Và cả lần này, Đấng Phục Sinh cũng giao cho các ông sứ mạng "nhân danh Người rao giảng sự thống hối... bắt đầu từ Giêrusalem" (Lc 24, 47). Ngài còn nhấn mạnh: "Còn các con, các con sẽ là chứng nhân về những điều ấy" (Lc 24, 48). Còn trong Chúa Nhật IV, chúng ta đọc được tâm sự của Đức Kitô, Vị Mục Tử nhân lành: "Ta còn những chiên khác không thuộc đàn này; cả những chiên đó Ta cũng phải mang về đàn" (Ga 10, 16a). Được gia nhập vào đoàn chiên duy nhất của Đấng Phục Sinh như cành nho liên kết với thân nho, từng người chúng ta cũng được mời gọi sinh hoa trái bằng đời sống bác ái yêu thương. Nhờ đó, ngày càng có nhiều người tin nhận Đấng Phục Sinh. Đó chính là giáo huấn của lời Chúa trong Chúa Nhật V Phục Sinh. Còn trong Chúa Nhật vừa qua, Đức Kitô xác định rõ với từng người chúng ta: "Chính Thầy đã chọn các con, và đã cắt đặt, để các con đi, và mang lại hoa trái" (Ga 15, 16). Và hôm nay, trước khi chấm dứt giai đoạn hiện diện hữu hình của mình với các môn đệ, một lần nữa, Đấng Phục Sinh đã giao cho các tông đồ sứ mạng: "Các con hãy đi khắp thế gian, rao giảng Tin Mừng cho mọi tạo vật".

Như thế, loan báo Tin Mừng Phục Sinh không còn là một điều mà chúng ta muốn làm hay không tuỳ thích, nhưng là một sứ mạng, một bổn phận bắt buộc cho tất cả những ai muốn xưng mình là kitô hữu. Ý thức điều đó, Công đồng Vatican II, trong Sắc lệnh về truyền giáo, số 2 đã nói: "
Bản chất của Giáo Hội là truyền giáo". Giáo Hội phải loan truyền cho mọi người về Tin Mừng Phục Sinh, vì từ đây, Đấng Phục Sinh không còn hiện diện hữu hình với chúng ta nữa. Chúa lên trời, không phải là Ngài không còn hiện diện với con người nữa, nhưng là hiện diện với một cách thức mới, hiệu quả hơn, như lời Ngài đã hứa: "Các con sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần ngự xuống trên các con, và các con sẽ nên chứng nhân cho Thầy tại Giêrusalem, trong tất cả xứ Giuđêa và Samaria, và cho đến tận cùng trái đất". Lịch sử Giáo Hội đang bước sang một giai đoạn mới, giai đoạn mở ra cho muôn dân. Đó cũng là một trong những lý do khiến Giáo Hội chọn ngày lễ hôm nay làm ngày "Truyền thông thế giới". Từ đây, Giáo Hội có nhiệm vụ truyền thông cho thế giới về Tin Mừng Phục Sinh, Tin Mừng của Tình yêu và Sự sống, Tin Mừng của niềm Hy vọng.

Chúa lên trời, Ngài không trực tiếp hoạt động nữa nhưng trao cho các tông đồ và từng người chúng ta tiếp tục sứ mạng đem ơn cứu độ của Ngài cho muôn dân. Ngài muốn mượn đôi tay, đôi chân, và cả con tim của chúng ta để thông truyền Tin Mừng đó cho mọi người ngay trong chính môi trường chúng ta đang sống. Sách Công vụ Tông đồ thuật lại, sau khi Đức Giêsu Phục Sinh về trời, đang lúc các môn đệ vẫn còn ngước mắt lên trời, thì thiên sứ đã nhắc các ông: "
Hỡi người Galilê, sao các ông còn đứng nhìn trời...". Các tông đồ không được phép đứng đó mãi nhìn trời. Các ông phải trở về với cuộc sống hiện tại để làm chứng cho Đấng Phục Sinh.

Cũng thế, là một kitô hữu, chúng ta không chỉ đọc kinh, tham dự các nghi lễ phụng vụ ở nhà thờ, chúng ta phải trở về nhà, đối diện với mọi vất vả trong cuộc sống thường ngày như những người khác. Các bậc phụ huynh vẫn phải vất vả đi biển, ngược xuôi buôn bán, các em nhỏ cũng phải bận rộn với việc học hành các kiến thức văn hoá, xã hội... tắt một lời, trước mắt mọi người, mỗi người chúng ta vẫn phải sinh hoạt, lo toan mọi điều trong cuộc sống như bất cứ một người nào. Tuy nhiên, ngay giữa cuộc sống đó, chúng ta vẫn có thể thông truyền Tin Mừng Phục Sinh, loan báo cho mọi người biết rằng sau cuộc sống hiện tại này, còn có một quê hương vĩnh cửu trên trời, nếu chúng ta giữ mình không gian dối, lừa đảo, không tham lam bất chính, luôn chung thuỷ trong đời sống gia đình.


Chúng ta không được phép chỉ nhìn trời, nhưng phải nhìn đến những người đang sống quanh ta, đó là người chồng, người vợ, là cha mẹ, con cái, là anh chị em và cả những người hàng xóm, láng giềng, những người hợp ý với chúng ta lẫn những người làm chúng ta khó chịu. Nếu trong một gia đình Công Giáo luôn trên thuận dưới hoà, anh chị em luôn biết tha thứ, đùm bọc yêu thương nhau. Nhất là nếu chúng ta luôn biết quan tâm chia sẻ, nâng đỡ những người hàng xóm, không phân biệt lương giáo những lúc "
tối lửa, tắt đèn", thì tôi thiết nghĩ, đó là cách tốt nhất để chúng ta thông truyền cho mọi người về một Tình yêu phổ quát của Đấng Phục Sinh, Đấng đã chết và sống lại cho tất cả chúng ta.

Để sống được như vậy không phải là điều dễ dàng. Với kinh nghiệm bản thân của mình, chắc hẳn mỗi người chúng ta cũng có cùng một cảm nghiệm với thánh Phaolô: "
Điều lành tôi muốn tôi lại không làm, còn điều dữ tôi không muốn, tôi lại làm" (Rm 7, 20). Những điều đối với chúng ta là không thể, thì đối với Thiên Chúa lại là có thể. Do đó, mỗi người chúng ta hãy hoạt động trong sức mạnh của Đấng Phục Sinh và dưới tác động của Thánh Thần. Thánh Phaolô trong bài đọc hai đã nhắc bảo chúng ta hãy luôn cậy trông vào ơn Chúa: "Xin cho mắt tâm hồn anh em được sáng suốt để anh em biết thế nào là trông cậy vào ơn Người kêu gọi... và thế nào là quyền năng vô cùng lớn lao của Người đối với chúng ta".

Lòng trông cậy của chúng ta không phải là một sự trông cậy viễn vông, nhưng dựa vào chính lời hứa của Đấng Phục Sinh trước lúc về trời: "
Hãy chờ đợi điều Chúa Cha đã hứa... Phần các con, ..., các con sẽ chịu phép rửa trong Thánh Thần... Các con sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần ngự xuống trên các con". Lời hứa này đã được chứng thực qua hoạt động rao giảng của các tông đồ thuở ban đầu. Thánh sử Marcô thuật lại: "Các ông đi giảng khắp mọi nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và củng cố lời giảng dạy bằng những phép lạ kèm theo".

Tóm lại, chúng ta có thể chu toàn sứ mạng thông truyền Tin Mừng bằng chính đời sống công chính, yêu thương, nhường nhịn, tha thứ cho dù chỉ là một câu nói và một tấm lòng mở rộng sẵn sàng cảm thông của chúng ta. Chính đời sống đó sẽ là một dấu lạ cho mọi người nhận ra rằng có một Thiên Chúa đang ở với chúng ta. Chớ gì nhờ sức mạnh của Thánh Thể nâng đỡ, từng người, từng gia đình và cả cộng đoàn giáo xứ chúng ta sẽ trở thành một lời chứng hùng hồn cho Tin Mừng yêu thương và hy vọng của Đấng Phục Sinh. Amen.

Lm. Phêrô Trần Thanh Sơn

PHẢI HIỂU THẾ NÀO KHI NÓI CHÚA LÊN TRỜI
Mc 16, 15-20

Ngày còn nhỏ, sống gần vùng có nhiều máy bay Mỹ bay ngang dọc bầu trời. Những chiếc máy bay, dù là tuổi nhỏ, tôi vẫn mơ màng hiểu rằng, chúng đang tác oai, tác oái để phục vụ cho mục đích chiến tranh. Những lần nghe tiếng gầm rích xé tan bầu trời, bọn trẻ chúng tôi kéo nhau chạy ra khỏi nhà nhìn lên trời xem máy bay bay mà khoái chí, mà thỏa thích và lắm lúc còn hun đúc ước mơ được phóng lên trời bay như máy bay, oai biết mấy.

Cũng vẫn là những ngày còn nhỏ, ngày lễ Chúa Giêsu lên trời, tôi lại ra sân tìm kiếm. Không phải đi tìm máy bay nhưng là tìm Chúa Giêsu xem Chúa lên trời thế nào. Trong tưởng tượng, tôi cảm nhận rằng, chắc Chúa đẹp lắm, không đen sì như những chiếc máy bay, chắc Chúa hiền từ lắm, không ồn ào như máy bay... Trong tư tưởng non nớt của tôi làm sao hiểu nổi chuyện Chúa lên trời. Tìm kiếm trên bầu trời chán và mỏi, tôi đến gặp mẹ. Mẹ tôi cũng chẳng thể cho tôi một điều gì khá hơn. Bà chỉ biết có mỗi một chuyện: "Hôm nay Chúa lên trời", và không giải thích gì thêm để một thằng bé như tôi hiểu được. Và trong tôi còn mãi một thắc mắc, Chúa đã lên trời sao không thấy. Máy bay lên trời còn thấy bay đi bay lại kia mà! Ngày ấy, hình như tôi hiểu Chúa lên trời quá là nghĩa đen. Dù vậy, bây giờ đã có một hiểu biết nhất định, sao tôi vẫn không thể thay thế được cái nghĩa đen ấy!


Đúng là ngôn ngữ của Thánh Kinh cho phép chúng ta hiểu Chúa lên trời theo nghĩa đen. Chẳng hạn bài đọc một, trích sách Công vụ Tông đồ cho biết:
"Nói xong, Người được cất lên trước mắt các ông, và một đám mây bao phủ Người khuất mắt các ông" (Cv 1, 9). Nhưng với một sự kiện của lòng tin lớn như biến cố Chúa thăng thiên mà lại chỉ dừng lại ở nghĩa đen như thế, thì quả là làm thiệt hại đức tin biết bao nhiêu. Bởi điều quan trọng không nằm ở sự kiện Chúa lên trời cho bằng khám phá lại ý nghĩa của lễ Chúa lên trời hôm nay.

Bạn và tôi có quyền hiểu Chúa thăng thiên theo nghĩa đen, nhưng bạn và tôi không được quyền dừng lại ở đó. Ta không bao giờ được phép xem Chúa lên trời như là một chiến thắng đang say trong men chiến thắng, một cao ngạo, một sự trả thù của người bị hại đối với những người đã từng treo Chúa lên thánh giá. Nếu chỉ như thế thì chắc Chúa đã không lên trời!


Lên trời là một sự chiến thắng, một vinh quang. Đúng! Nhưng chiến thắng và vinh quang theo nghĩa nào?


Bài Tin Mừng cho biết,
" Chúa Giêsu lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa". Giáo Hội không ngừng lặp lại lời tuyên xưng này qua mọi thời, mọi thế hệ trong lời tuyên tín của mình.

Cụm từ "CHÚA LÊN TRỜI" đủ để cho thấy VINH QUANG THIÊN CHÚA của Người. Chúa đã một lần làm người. Nghĩa là đã một lần Người hạ mình hóa nên nhục thể. Vinh quang của Người là vinh quang Thiên Chúa. Nhưng vinh quang ấy đã bị che lấp trong cuộc đời trần thế, đến nỗi có lần thư gởi tín hữu Do thái phải bộc bạch: "Khi còn sống kiếp phàm nhân Chúa Giêsu đã lớn tiếng kêu vang khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết... Dù là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục". Hôm nay về trời cũng là chính lúc Chúa Kitô về lại với vinh quang mà Người vẫn có. Nói cho thật nôm na, dễ hiểu: Về trời chính là lúc Chúa Kitô trở lại "kiếp Chúa" của Người. Vinh quang bị che lấp, giờ đây tỏ lộ. Nếu trong quá khứ, "Người đã bị thua kém các thiên thần trong một thời gian ngắn", thì giờ đây, "Người được Thiên Chúa ban vinh quang danh dự làm mũ triều thiên" (Dt 2, 9). Vinh quang danh dự mà Chúa Kitô lãnh nhận hôm nay là vinh quang cao cả, là chiến thắng lớn lao: Chúa bước vào vĩnh cửu. Trong vinh quang vĩnh cửu ấy, chính "Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Để khi nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ, và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: "Đức Giêsu Kitô là Chúa" (Phil 2, 9- 11). Cũng chính trong vinh quang Đức Chúa của mình, Chúa Giêsu làm chủ mọi loài,, Người làm vua toàn vũ trụ. Vì nơ Người chính "Thiên Chúa đã đưa thời gian tới hồi viên mãn, đã quy tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một thủ lãnh là Đức Kitô" (Eph 1, 10). Hay như bài đọc hai diễn tả: Chúa Kitô "Vượt trên mọi cấp trật, các lãnh thần, quyền thần, dũng thần và quản thần, vượt trên mọi danh hiệu được xưng hô cả đời này, lẫn đời sau. Chúa khiến mọi sự quy phục dưới chân Người, và tôn Người làm đầu toàn thể Hội Thánh là thân thể Người, và là sự sung mãn của Đấng chu toàn mọi sự trong mọi người" (Eph 1, 21- 23).


Nhưng vinh quang thiên quốc của Chúa Kitô, không chỉ quy tụ nơi chính bản thân Người mà thôi. Vinh quang của Chúa Kitô là ánh sáng chói ngời chiếu thẳng vào niềm hy vọng của chúng ta. Chúa thăng thiên để nhờ Người, trong Người và với Người, ta cũng được thăng thiên. Vì nếu đã có một con người mang tên Giêsu được vinh thăng, thì mọi người có quyền hy vọng nếm hưởng vinh quang Thiên Chúa với Người. Như vậy lễ thăng thiên là lễ thực hiện giấc mơ lớn nhất của con người: sống đời đời trong hạnh phúc và vinh quang vĩnh cửu.


Vì thế, hôm nay mừng lễ Chúa thăng thiên, hướng lòng về Thiên Chúa, và chiêm ngắm vinh quang của Chúa Kitô, loài người chỉ còn biết cúi đầu cảm tạ. Xin dâng muôn lời cảm tạ tri ân Thiên Chúa. Bởi thân phận bé nhỏ là thế, nhưng loài người lại có vận mạng được đặt nơi Thiên Chúa. Do đó dẫu là thuộc về đất thấp, loài người vẫn mang nơi mình một chiều cao thăm thẳm: vận mạng được vĩnh cửu hóa và Thiên Chúa là Chúa vĩnh cửu đã thương trao ban cho loài người, cho từng người một, một vận mạng không bao giờ có thể lạc mất.


Lạy Chúa, chúc tụng tình yêu vô ngần của Chúa, vì nhờ đó, thân phận bụi tro của chúng con được hóa thần nhờ ơn thần hóa Chúa ban
. Amen.

Lm. JB Nguyễn Minh Hùng

HÀNH TRÌNH VỀ QUÊ TRỜI
Mc 16,15-20

Suốt đời tôi, có lẽ tôi sẽ không bao giờ quên được hình ảnh cụ X (xin dấu tên) đã ngoài 70 cứ chiều chiều lên sân thượng trại tị nạn Hong Kong nhìn ra biển với hai hàng lệ tuôn dài trên gò má nhăn nheo. Lúc bấy giờ tôi mới là cô bé 14 tuổi nhưng cũng mạnh dạn đến làm quen và thăm hỏi cụ. Về sau mới biết cụ qua Hong Kong có một mình và hoàn toàn ngoài ý muốn. Cụ đi đánh cá với ghe người ta và mặc dầu vẫn biết là cụ X không muốn vượt biên tí nào người ta cũng phải đưa cụ đi vì nếu không sẽ bị công an tình nghi. Thế là cụ X đến Hong Kong. Mặc dầu con cháu đều đã đi ở riêng, cụ bà cũng đã về bên kia thế giới từ lâu, và đời sống vật chất ở trại tị nạn đầy đủ hơn cuộc sống trước kia rất nhiều nhưng cụ X vẫn cảm thấy trống rỗng vì đã đánh mất quê hương mà cụ biết chắc là sẽ không bao giờ thấy lại được vì tuổi đời đã quá cao. Vì thế cụ luôn cảm thấy buồn và nhớ nhà mỗi khi chiều tàn.

Lễ Chúa về trời hôm nay đánh dấu lần chia tay sau cùng giữa Chúa Giêsu và các môn đệ của Ngài. Nói cách khác, đây chính là lúc Chúa Giêsu trở về bên cạnh Chúa Cha sau khi đã hoàn tất sứ mạng của Ngài ở trần gian. Vì thế, các môn đệ rất buồn phiền; tuy nhiên, tâm hồn các ông lại tràn đầy hy vọng vì lời hứa của Chúa Giêsu vẫn còn văng vẳng bên tai: "
Thầy đi để dọn chỗ cho các con... và Thầy sẽ trở lại đón các con, để Thầy ở đâu các con cũng sẽ ở đó với Thầy. Đừng sợ, Thầy sẽ không bỏ các con mồ côi đâu" (Jn 14:3,18).

Là những Kitô hữu, chúng ta biết cuộc sống tại thế này chẳng qua chỉ là cuộc hành trình tiến về quê thật trên trời. Nói khác đi, quê hương thật sự của người Kitô hữu là ở trên trời, nơi mà Chúa Giêsu đang ngự bên hữu Đức Chúa Cha. Vì thế, người Kitô hữu đúng nghĩa phải là người có đời sống lạc quan, tràn đầy hy vọng và chan chứa niềm tin. Họ lạc quan vì đã tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống. Họ tràn đầy hy vọng vì đã nhìn thấy tương lai sáng lạn đang chờ đợi một khi họ hoàn tất cuộc sống trần gian này. Họ chan chứa niềm tin vì biết chắc rằng Chúa Giêsu sẽ chẳng bao giờ lừa dối và bỏ rơi họ.


Để dọn chỗ cho chúng ta ở trên trời, Chúa Giêsu đã phải trả một giá không rẻ: chính mạng sống của Ngài. Tuy nhiên, để vào được chỗ đã dọn sẵn đó, Chúa Giêsu đòi buộc chúng ta phải cộng tác với Ngài bằng việc "
ra đi rao giảng Tin Mừng khắp thế gian cho mọi loài thụ tạo" (Mc 16:15). Nói cách khác, Chúa Giêsu kêu gọi chúng ta tiếp tục sứ mạng của Ngài ở trần gian như là điều kiện để được ở với Ngài. Được ở với Ngài là một niềm vui mà người Kitô hữu nào cũng hằng mong đợi và chia sẻ niềm vui đó cho người khác qua việc rao giảng Tin Mừng là điều kiện để niềm vui đó được tròn đầy hơn. Vì chưng, người ta thường nói: "Niềm vui, nếu biết chia sẻ chẳng những sẽ không hao mòn đi mà còn lớn lên bội phần tùy theo mức độ chia sẻ." Tuy nhiên, khi kiểm chứng lại cuộc sống thường ngày có lẽ không ai trong chúng ta dám cho mình đã sống trọn vẹn lý tưởng đó. Vẫn biết thế gian này không phải là nhà nhưng chúng ta lại dành quá nhiều thời giờ và công sức để xây đắp và tích lũy cho những gì thuộc về thế gian hơn là quê trời; trong cuộc hành trình này, đôi khi chúng ta lại coi những trạm nghỉ bên đường là nơi chúng ta sẽ ăn đời ở kiếp chứ không phải là quê trời; và khi sống giữa thế gian, thay vì dùng chính cuộc sống mình để loan báo Tin Mừng cho những người chung quanh thì chúng ta lại dùng nó như là bằng chứng cho câu nói chua xót mà người ta thường dùng để ám chỉ người Kitô hữu: "tin đạo chứ đừng tin người có đạo."

Cụ X vì quá nhớ nhà nên đã bỏ ăn dần và sau cùng đã giã biệt cõi đời vì kiệt sức sau gần một năm sống ở trại tị nạn. Còn chúng ta, chúng ta có thái độ nào trên hành trình về quê trời: quẳng bớt để nhẹ gánh hơn hay ôm đồm thêm để tâm hồn nặng trĩu không muốn bước? Có bao giờ chúng ta cảm thấy
NHỚ quê trời chưa nhỉ? Hỏi ra thì ai cũng muốn được ở bên cạnh Chúa nhưng khi phải đối diện với thực tế thì ít ai dám chọn thái độ quẳng bớt vì quá dính bén với cuộc sống trần gian này. Mừng lễ Chúa về trời hôm nay, mỗi người chúng ta hãy xin Chúa ban ơn soi sáng để có thể nhận ra tình trạng thật sự của cuộc sống mình, và ơn can đảm để dám sửa đổi ngõ hầu cuộc sống chúng ta không trở nên vô nghĩa khi đang sống giữa thế gian và không trở nên gánh nặng ngăn cản chúng ta tiến gần Chúa hơn.

Sr. Binh Huyền

CÁC CON HÃY ĐI RAO GIẢNG và LÀM PHÉP RỬA CHO HỌ
Mc 16,15-20

Trong một cuộc tổ chức cho các em chạy đua tiếp sức, tôi thấy lúc quan trọng nhất mà các em cổ động mạnh là lúc em đang chạy đưa cây gậy tiếp sức cho em kế tiếp, vì lúc đó là lúc quyết định được sự thành bại của cuộc chạy đua. Ai trao chậm là phần thắng chậm lại.

Cũng thế, Chúa Giêsu chính là người chạy xong phần của mình và đang trao cây gậy trách nhiệm tiếp sức cho các tông đồ chạy tiếp. Ngài ủy thác cho họ chu toàn công việc của Ngài đã làm nơi trần gian: "
Hãy đi rao giảng, dạy cho muôn dân" (Mt. 28). "Hãy tiếp tục thay nhau làm chưng nhân về Thầy cho đến tận thế" (Eph.1:17-23).

Trong thế kỷ này chúng ta làm cách nào để thi hành sứ mệnh Chúa trao ban: Làm nhân chứng và chỉ cho mọi người biết về Chúa?


Có nhiều phương cách để thực hiện:


- Nếu bạn vừa tốt nghiệp đại học, bạn hãy thực hiện như hai bác sỹ vừa ra trường: một người từ Chicago, một người từ Dallas được nhà thương Israel tại Boston nhận việc. Cả hai hợp tác với nhau, bàn chuyện với nhau để phục vụ bệnh nhân, khiến nhiều bệnh nhân kính nể và khen trường học đã đào tạo nên hai người (
phục vụ tốt là đem bình an hạnh phúc của Chúa đến cho mọi người).

Hoặc như anh chị T... N.... tại St.Louis (MO) khi lập gia đình anh chị hứa với tôi sẽ tình nguyện đi phục vụ đồng bào tị nạn Hongkong 4 năm. Sáu năm sau gặp lại anh chị với 3 cháu nhỏ, tôi hỏi lại điều quyết định ấy, anh chị trả lời cách vui vẻ:


- Chúng con mua nhà ngay bên đó sinh sống và làm việc giúp dân tị nạn cho tới ngày nào đóng cửa trại, vì nhờ việc phục vụ này, nhiều người nhận được ơn cứ rỗi lắm.


Chúng ta cũng có thể làm điều mà nhiều người đang thực hiện mà không sợ xấu hổ, đi lượm lon trên các ngã đường đem bán lấy tiền giúp cho các trại cùi. Một người nói nhỏ với tôi: "
Con làm việc thiện không sợ cùi" tức là bất chấp tiếng chê, dèm pha, chỉ trích, xét đoán lệch lạc.... "Con đã gửi về các trại cùi một số tiền không ai nghĩ tới $ 5,000 Đollas Mỹ".

Tuy nhiên còn nhiều phương thế khác chúng ta đã và đang chu toàn việc Chúa ủy thác và có lẽ còn về lâu về dài, còn đòi nhiều hy sinh cam đảm hơn nữa. Đó là làm chứng nhân và làm thầy dạy ngay trong gia đình, trong xứ đạo, trong sở làm, trong chủng viện, trong môi trường cuộc sống.


Hãy cố gắng chu toàn nhiệm vụ Chúa đã trao ban; hãy nhẫn nại chịu đựng mọi phiền toái khi phục vụ; Hãy sống với mọi người như Chúa sống bên họ.... cũng chính là đem Chúa đến cho mọi người. Robert nói trong cuốn "
Bản vũ nhạc của lý trí - Masque of Reason: Phần lớn người ta không thể nghĩ ra hết các sự việc đâu. Họ chỉ nhìn thấy những việc ấy qua hành vi người khác làm mà thôi".

Ông Trung Thành bạn tôi kể rằng: Ngày đó vợ tôi bị đau và cơn bệnh kéo dài khiến nàng bị kệt quệ cả về tinh thần lẫn thể xác. Cơn thử thách đè nặng trên tôi và làm sức khoẻ tôi cũng bị suy sụp. Bỗng một biến cố đã bị quên lãng từ hồi tôi mới 10 tuổi, chợt loé lên trong lòng. Biến cố ấy xảy ra khi mẹ tôi bị đau nặng. Nửa đêm hôm ấy tôi thức giấc vì khát nước, tôi đi ngang qua phòng ngủ của bố mẹ tôi, chợt tôi thấy bố tôi đang ngồi bên cạnh giường của mẹ và mẹ đang ngủ say. Tôi bước vào hỏi bố:


- Bố ơi, bệnh mẹ nặng lắm hả? Bố tôi bình thản trả lời:


- Không nặng đâu con, bố chỉ ngồi đây chờ đợi khi mẹ con thức giấc có cần gì thì bố làm cho mẹ thôi.


Nhờ nhớ lại biến cố ấy mà tôi có đủ can đảm cần thiết để phục dịch và đương đầu với hoàn cảnh.


Làm chứng cho Chúa và giúp cho người khác biết về Ngài chỉ là chia sẻ cho họ niềm tin và tình yêu mà chính mình đã tiếp nhận từ nơi Chúa, cho người khác. Sứ điệp Thăng Thiên chỉ đơn giản có thế. Chúa Giêsu mời gọi chúng ta tiếp nhận từ nơi Ngài, đồng thời Ngài sai chúng ta tiếp tục trao ân cho đồng loại, giúp mọi người, tốt với mọi người theo bất cứ cách thức nào Chúa Thánh Thần soi sáng cho chúng ta.


Lm. Thu Băng CMC.

ANH EM SẼ LÀ CHỨNG NHÂN CỦA THẦY
Mc 16,15-20

Hôm nay Giáo hội mừng lễ Đức Giêsu lên trời. Qua những hình ảnh, lễ Thăng thiên diễn tả việc Chúa Kitô phục sinh từ nay sống trong thế giới của Thiên Chúa mà người ta thường gọi trong ngôn từ tôn giáo là trời (bài đọc 1 và Tin Mừng). Vào thời Đức Giêsu, để diển tả sự vĩ đại, vinh quang của Thiên Chúa, con người không thể đạt tới được, người Do thái dùng hình ảnh của chiều cao: Chúa ở trên cao, ở trên trời. Thiên Chúa được gọi là Đấng Tối Cao (Lc 1,76; Cv 16,17). Đức Giêsu đã dạy các môn đệ cầu nguyện: "Lạy Cha chúng con ở trên trời". Trong Kinh Tin Kính, chúng ta cũng tuyên xưng: "Người lên trời, ngự bên hữu Đức Chúa Cha."

Điều quan trọng đối với các Kitô hữu tiên khởi cũng như đối với chúng ta hôm nay, không phải ở việc muốn biết Đức Giêsu lên trời như thế nào, nhưng là tận hiểu ý nghĩa sự ra đi của Người.


Sau khi hoàn thành sứ mạng ở trần gian, Đức Giêsu trở về với Chúa Cha. Từ nay, Chúa Kitô phục sinh vắng mặt về thể hình, không ai có thể thấy hoặc nghe tiếng Người nữa. Tuy nhiên, Người luôn hiện diện với Giáo Hội, với mỗi người chúng ta như Người đã hứa: "
Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế" (Mt 28,20). Sự hiện diện vô hình của Người, chỉ có con mắt đức tin mới thấy được.

Lễ Thăng Thiên là sự kết thúc công cuộc truyền giáo của Đức Giêsu thành Nazarét, và là khởi đầu thời gian của Giáo Hội. Dĩ nhiên, giai đoạn mới này luôn là giai đoạn của Chúa Kitô, vì tất cả đều hướng về Người, cũng như Người là đích điểm của mọi hoạt động tông đồ. Nhưng đó cũng là thời kỳ của Giáo Hội và các môn đệ để làm chứng cho Đức Giêsu Kitô và cho Tin Mừng : "
Anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari, và cho đến tận cùng trái đất." (Cv 1,8). Đó là ý nghĩa mọi hoạt đồng truyền giáo của Giáo hội. Trước khi lên trời, Đức Kitô giao phó cho tất cả các môn đệ, tức là tất cả Kitô hữu trên toàn cầu, sứ mạng tiếp tục công trình của Người cho đến ngày tận thế.

Chúng ta hãy nghe câu chuyện có thật và rất cảm động sau đây.


Nhà soạn nhạc vĩ đại người Ý Giacomo Puccini (1858-1624) đã viết nhiều vở nhạc kịch lừng danh. Năm 1922, lúc ông được 64 tuổi, thì ông mắc bệnh ung thư. Dầu vậy, ông vẫn quyết định hoàn thành vở nhạc kịch cuối cùng của mình, tức vở
Turandot mà hiên nay nhiều người xem như vở nhạc kịch hay nhất của ông. Ông miệt mài làm việc ngày đêm. Nhiều người ép ông nghỉ ngơi, vì theo họ nghĩ, ông không thể nào hoàn tất nổi vở nhạc kịch ấy. Khi thấy căn bệnh ngày càng nặng hơn, Puccini nói với các đệ tử: "Nếu ta không hoàn tất được vở Turandot thì các trò hãy cố gắng hoàn tất nó cho ta."

Vào năm 1924, Puccini được học trò đem đến Bruxelles để giải phẫu, nhưng hai ngày sau cuộc giải phẫu đó, thì ông qua đời. Trở về Ý, các đệ tử của Puccini nghiên cứu kỹ lưỡng vở
Turandot và tiếp tục viết cho đến lúc hoàn thành trọn vở nhạc kịch đó.

Hai năm sau, vở nhạc kịch được trình diễn lần đầu tiên tại nhà hát lớn La Scala thuộc thành phố Milan, do Arturo Toscanini, người học trò ưu tú của Puccini điều khiển. Mọi sự đều trôi chảy tốt đẹp cho đến khúc nhạc mà Puccini buộc phải ngừng bút. Nước mắt ràn rụa trên khuôn mặt Toscanini. Anh cho giàn nhạc dừng bản nhạc kịch lại, đặt cây gậy điều khiển xuống rồi quay về khán thính giả và nói lớn: "Sư phụ chúng tôi đã viết được đến đây, rồi người qua đời."


Lúc đó toàn thể nhà hát đều im bặt, không cử động. Sau vài phút, Toscanini cúi xuống cầm gập điều khiển lên, quay về cử tọa mỉm cười qua dòng lệ rồi thốt lên: "Nhưng các đệ tử đã hoàn tất công việc của người". Vở
Turandot vừa dứt thì toàn thể khán thính giả vỗ tay ầm ầm như sấm vang. Những người có mặt lúc đó không thể nào quên được giây phút ấy.

Câu chuyện sáng tác vở nhạc kịch
Turandot của Puccini có nét rất giống với công việc truyền giáo của Giáo hội chúng ta.

Trước khi su phụ Giêsu hoàn tất công trình lập nước Thiên Chúa trên trần gian, thì Người lên trời. Nhưng trước đó, Người đã yêu cầu các môn đệ hoàn tất việc ấy y như Puccini đã yêu cầu các đệ tử hoàn tất vở nhạc kịch
Turandot.

Trước khi lên trời, Đức Giêsu nói với các Tông đồ: "
Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo" (Mc 16,15). Công việc của Puccini được một vài đệ tử hoàn tất trong vòng ít năm, còn công việc của Đức Giêsu cần đến rất nhiều thế hệ mới có thể hoàn tất được; và đó không phải chỉ là việc của vài môn đệ, mà là tất cả các môn đệ thuộc mọi thời đại. Thánh Phaolô có nói: "Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng" (1 Co 9,16).

Nhưng truyền giáo không chỉ là công việc của các Linh mục và Tu sĩ mà là của tất cả các Kitô hữu. Là môn đệ Đức Giêsu, chúng ta có bổn phận cộng tác vào việc xây dựng và mở mang Nước Chúa. Tất cả chúng ta đều có thể rao giảng Tin Mừng ngay trong gia đình, trong khu phố và trong cộng đoàn chúng ta. Mỗi người đều có thể là sứ giả Tin Mừng, thợ xây hoà bình và là người gieo niềm vui và hy vọng.


Ngày xưa, chỉ với 5 chiếc bánh và 2 con cá, Đức Giêsu đã làm phép lạ cho hơn năm ngàn người ăn no nê, thì bây giờ Chúa cũng muốn và cần đến sự cộng tác, tuy nhỏ bé và hạn chế, của mỗi người chúng ta hầu hoàn thành những kỳ công của Người.

Lm.Giuse Vũ Thái Hòa

CHÚA NHẬT LỄ THĂNG THIÊN
Mc 16,15-20

Lễ Thăng Thiên vừa nhắc đến một mầu nhiệm và vừa nói đến quyền năng vươn tới một chiều kích mới. Lễ này chấm hết sứ vụ Đức Kitô trên trần gian và mừng đón Chúa vinh hiển trở về cùng Chúa Cha trên trời. Mặc dầu là hành động cuối cùng của Chúa trên cuộc đời dương thế, hôm nay không phải là một ngày buồn, mà là một ngày vui chan chứa hy vọng. Siêu thăng lên chốn trời cao, Đức Kitô đã đưa mình thoát khỏi chốn "bình thường" để đi vào chốn "khác thường", từ đất Galilê này mà đến mọi nơi trên trái đất. Người không còn tự giới hạn mình vào một cõi thời gian, cõi không gian, hay một nhóm người nào nữa. Nhờ sức mạnh Thần Khí, Người trở nên hiện diện vô hình và sẵn sàng đến với bất cứ ai muốn tiếp xúc với Người, đảm nhận công việc và chia sẻ vinh quang của Người.

Đối với các tông đồ, hôm nay là ngày bế giảng mãn khóa, là thời gian huấn luyện đã qua, nay bắt đầu nhiệm vu mới, "
đi khắp thế gian, rao giảng Tin mừng cho mọi loại thụ tạo" (Mc 16,15). Lúc Chúa ra đi, các tông đồ chỉ biết đứng trời trồng, bất động. Nỗi buồn bên trong lòng các ông chúng ta có thể hiểu được, vì đây là lần thứ hai các ông trải qua kinh nghiệm đau lòng phải xa cách chia phôi với Thầy chí thánh, biết rằng từ đây cuộc đời không còn được như trước nữa. Có hai người mặc áo trắng xuất hiện lôi các ông về với thực tại, cắt đứt giấc mơ màng và bảo các ông đi làm việc của Thầy mình đã giao phó. Vâng, nhiệm vụ của các ông không phải là đứng nhìn trời, trông chờ điều gì xảy đến. Trong khi Đức Kitô vắng mặt, các ông sẽ là sứ giả của Người, công bố Tin mừng cho người nghèo khó, bị áp bức và cho mọi người.

Đức Chúa Giêsu trở về cùng Thiên Chúa Cha trong vinh quang hôm nay cũng cho chúng ta một cái nhìn thoáng qua về một tương lai vĩ đại, dành sẵn cho chúng ta mai sau, đúng hơn là một tương lai mà chúng ta được kêu mời đi tới. Nếu chúng ta vẫn trung thành với giáo huấn của Người, thì ngôi nhà sau hết của chúng ta cũng sẽ là nơi mà Đức Giêsu vừa mới siêu thăng trở về cùng Cha trên trời. Giống như các tông đồ ngày xưa, Đức Kitô ra lệnh cho chúng ta làm chứng nhân của Người
trong công cuộc rao giảng Tin Mừng cho đến tận cùng bờ cõi trái đất. Đó là một công việc dào lâu dễ làm nản lòng thối chí, nhưng chúng ta đã được bảm bảo rằng Người sẽ không để chúng ta mồ côi, nhưng nhờ sức mạnh của Thần khí, Người sẽ ở cùng chúng ta trong mọi nỗi gian truân thử thách cũng như trong mọi nỗ lực phấn đấu của chúng ta.

Cuộc đời này thường được ví như một cuộc lữ hành và chúng ta hết thảy đều là lữ khách đang cùng đi trên con đường thiên lý này. Nhiều anh chị em trong chúng ta do thử thách khổ đau, thất vọng trong cuộc đời, lắm khi ngã lòng trông cậy đến nỗi không còn biết mình đang đi về đâu, không hề biết sẽ có gì đang chờ đón mình ở cuối con đường. Họ luôn tìm hạnh phúc bằng cách sống dựa trên ký ức của quá khứ. Họ thường dành thời gian cuộc đời này để chờ ngóng một cái gì đó không có mục đích nào cả, như các tông đồ xưa ngong ngóng nhìn lên bầu trời. Việc Đức Chúa Giêsu thăng thiên bảo đảm với chúng ta rằng có một mục đích tối hậu cho cuộc đời lữ thứ này, đồng thời đảm bảo với chúng ta rằng hành trình nơi dương thế này, tuy muôn vàn khó khăn, nhưng chắc chắn sẽ dẫn đưa chúng ta về cùng Cha trên trời. Trong lúc này chúng ta vẫn sống trong niềm hy vọng rằng lời Chúa Giêsu hứa khi xưa sẽ trở thành sự thật: "
Thầy ở đâu, thì anh em sẽ ở đó". (Ga 14,3)

Lm. Nguyễn Văn Phan CSsR.

TRẦN THẾ LÀ CON ĐƯỜNG VỀ TRỜI
Mc 16,15-20

Hôm nay lễ Chúa Thăng Thiên, tức là Đức Giêsu về trời ngự bên hữu Thiên Chúa Cha, Ngài được tôn vinh là chủ tế của vũ trụ này. Nhưng thật ra Đức Giêsu đã lên trời sau khi sống lại, thời gian 40 ngày Ngài hiện ra với các tông đồ chỉ để củng cố đức tin cho các Ngài và ngày Chúa lên trời là chấm dứt những lần hiện ra của Ngài. Chúa lên trời để chỉ cho chúng ta con đường để về trời với Ngài. Con đường ấy rất thiết thân với mọi người. Đó là chúng ta sống trong trần thế có con người và biết bao điều phải yêu mến.

Trần thế cõi "hỉ, nộ, ái,cụ, ố, đục" này, chẳng tốt cũng chẳng xấu. Tốt hay xấu là còn tùy con người hành xử ra sao. Nếu chúng ta tham lam ích kỷ, hận thù trần thế này sẽ mãi mãi là nơi bất ổn. Còn nếu chúng ta sống yêu thương, giúp đỡ, và có trách nhiệm thì trần thế này sẽ trở thành thiên đường đáng sống. Chúng ta tuy không thuộc trọn về trần thế này phải sống hết mình với nó. Chúng ta dùng trái tim yêu thương mà Chúa ban để mở lòng đón nhận tất cả mọi người. Sống liên đới yêu thương và gắn bố với mọi người. Sống trong trần thế chúng ta có rất nhiều bổn phận phải chu toàn.


Đức Giêsu trong cuộc đời trần thế là mẫu gương cho các Kitô hữu. Ngài đã sống hết mình vì mọi người đến cả hy sinh mạng sống cho mọi người. Ngài thấu hiểu tâm tư khát vọng của những người Do-thái đường thời. Ngài thông cảm với những đau khổ và nỗi cơ cực của phận người. Ngài nhìn thấy thực trạng xã hội Do-thái thời đó như thế nào. Để Ngài giúp họ, làm cho đời sống của họ nên tốt hơn và phù hợp với những giá trị của Tin Mừng.


Bởi thế không bao giờ Chúa muốn chúng ta tách mình ra khỏi trần thế hay chạy trốn những nghĩa vụ trần thế. Sống như Ngài là chia sớt những khổ đau và vất va cuả tha nhân Yêu thương là hành động cho cuộc đời của họ được hạnh phúc hơn và sống xứng với phẩm giá con người. Vì trần thế này là con đường đưa chúng ta về trời.


Chúa lên trời không có nghĩa là Ngài mất nút đi vào không trung mời "thần tiên" ở Lời Chúa luôn mời gọi chúng ta đến với tha nhân để tìm được niềm hạnh phúc của người biết yêu thương. Vì ngày nay con người thường tự tạo cho mình những "thiên đường mong manh". Nơi đó chỉ đóng khung trong bốn bức tường của ngôi nhà biệt thự sang trọng. Nơi đó không có tình yêu thương gia đình mà chỉ có bổn phận và cảnh giả tạo của cuộc sống bên nhau và chính những nơi đó càng ngày con người càng xa rời Chúa và thực tại nước trời vĩnh cữu.


Ước chi chúng ta đừng chỉ đứng nhìn trời mà phải quay về cuộc sống bình thường để chẩn bị hành trang lên đường về quê trời vĩnh cữu sau này.Một hành trang gọn nhẹ vô cùng quý giá là trái tim mến Chúa và yêu người cùng với sự nỗ lực muốn làm điều tốt đẹp cho tha nhân.

Martin Lê Hoàng Vũ

SAO CỨ ĐỨNG ĐÓ MÀ NHÌN TRỜI
Mc 16, 15-20

Chúa về trời hay lên trời là ngôn ngữ dễ gây ngộ nhận cho nhiều người. Quả thực, khi nói Chúa lên trời, có nghĩa là chúng ta hiểu Chúa vắng mặt ở trần gian, không còn hiện diện, không còn ở gian trần này nữa. Phụng vụ lễ Chúa nhật Thăng Thiên hôm nay, một mặt cho ta thấy Chúa về trời, ngự bên hữu Đức Chúa Cha, mặt khác lại cho nhân loại thấy Ngài có mặt ở trần gian cách đầy đủ nhất hơn cả khi Ngài còn sống.

Thăng thiên là một sự tôn vinh


Về trời hay lên trời của Chúa phục sinh không có nghĩa là một sự thay đổi nơi ở từ mặt đất để về một nơi nào đó ngoài trái đất, nhưng thăng thiên là một sự tôn vinh. Thăng Thiên là một cuộc gặp gỡ, đi vào thân tình với Thiên Chúa Cha, được tôn lên làm Chúa. Chúa Giêsu thành Nagiarét mặc xác phàm làm người, ngoại trừ tội lỗi, nay được tôn lên làm Đức Chúa, nghĩa là cùng được chia sẻ quyền thống trị với Đức Chúa Cha. Mầu nhiệm nằm ở đó, mới lạ ở chỗ đó. Chính vì thế, nhân loại sẽ không còn ngỡ ngàng tưởng rằng chúa Giêsu được bốc đi, được đưa đi từ điểm này tới điểm nọ. Đức Giêsu Kitô đã đi tới cùng sự chọn lựa của Ngài như thánh Gioan nói:"
Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận"( Ga 1, 11 ). Chúa Giêsu đã đến thế gian rao giảng nước trời, loan báo Tin Mừng nhưng con người không chịu đón nhận và ngài chấp nhận cái ê chề của cái chết thập giá như một tội nhân dù rằng Ngài hoàn toàn vô tội: Thiên Chúa Cha đã tôn vinh Ngài lên trên mọi quyền lực thần thiêng, trên mọi tước vị có thể có được, không những trong thế giới hiện tại, mà cả trong thế giới tương lai( Eph 1, 22 ). Đức Kitô đã được Thiên Chúa Cha tôn vinh và trao ban cho sự vinh quang viên mãn, tràn đầy( Eph 1, 23 ). Chúa về trời nghĩa là được tôn vinh, nên các tín hữu tiên khởi luôn tin tưởng Chúa phục sinh vẫn hiện diện với họ không những ở Giuđêa hay Galilêa mà Ngài ở khắp cùng trái đất, Ngài ở mọi nơi mọi chỗ, Ngài hiện diện trong Giáo Hội. Đoạn Tin Mừng của thánh Máccô ngay trong đoạn cuối đã xác nhận Chúa phục sinh luôn hiện diện, luôn có mặt dù rằng Ngài đã được đưa về trời, ngự bên hữu Đức Chúa Cha:" ...Còn các tông đồ thì ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cộng tác với họ, và dùng dấu lạ điềm thiêng mà xác nhận lời họ rao giảng"( Mc 16, 20 ).

Hội thánh tiếp nối sứ vụ rao giảng của Chúa Phục Sinh.


Trước khi Chúa về Trời, Chúa Giêsu phục sinh đã hứa với các môn đệ:"
Thầy sẽ ở cùng các con mọi ngày cho tới tận thế "( Ga 14, 18 ). Các tông đồ và Giáo hội luôn tiếp tục sứ mạng của Chúa Giêsu( xem bài đọc I và Bài Tin Mừng ): nối tiếp những công việc Ngài đã làm ở trần gian, kể cả những việc kỳ diệu lạ lùng như xua trừ ma quỉ, chữa lành các bệnh hoạn tật nguyền. Giáo Hội không còn bị đóng khung ở một nơi chốn như Galilêa, Giuđêa, hay Giêrusalem, hay chỉ nằm trong một không gian hạn hẹp, mà Giáo Hội tung ra khắp muôn nơi để rao giảng và loan báo Tin Mừng cho mọi dân, mọi nước, không loại trừ bất cứ ai, bất cứ người nào, bất cứ dân tộc nào." Vậy anh em hãy đi làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, nhân danh Chúa Con và nhân danh Chúa Thánh Thần"( Mt 28, 19 ).

Giáo Hội loan báo Đức Kitô và rao giảng Tin Mừng bằng mọi cách, mọi phương thế miễn sao có nhiều người được trở về với Thiên Chúa. Lễ Hiển Linh đối với nhân loại, đối với thế giới hôm nay, Giáo Hội không đứng đó mà ngước lên trời để nhìn, để nuối tiếc, để ngó mông lung, nhưng Hội Thánh phải hoàn thành sứ mạng Chúa đã trao phó: rao giảng Tin Mừng cho mọi thọ tạo, Tin Mừng cứu rỗi cho muôn dân, muôn nước. Rao giảng không chỉ bằng lời nói, mà là bằng cả cuộc sống, bằng việc dấn thân, bằng sự chọn lựa rõ ràng. Chúa Giêsu khi tới trần gian này, Ngài đã không có mặt một cách chung chung, một sự hiện diện có lệ, nhưng Ngài đã hiện diện như Tin Mừng cứu độ cho con người. Chúa Giêsu khi trao sứ mạng loan báo Tin Mừng cho các môn đệ và cho Giáo Hội, Ngài cũng muốn mọi người và Hội Thánh có một sự lựa chọn như Ngài vì Chúa đã hứa:'
Lòng các con đừng xao xuyến, hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy"( Ga 14,1).

Lễ Thăng Thiên, Chúa Giêsu trao cho mọi Kitô hữu một sứ mạng như vận động viên chạy bộ chuyền lửa cho các vận động viên khác để cuối cùng lửa được châm lên ở sân vận động suốt trong những ngày tranh tài. Lễ Chúa lên trời cũng giúp Giáo Hội và mọi Kitô hữu suy nghĩ và nghiệm ra sự có mặt của Chúa phục sinh giữa thế gian.


Lạy Chúa Giêsu phục sinh, xin ban cho Giáo Hội và mọi Kitô hữu chúng con được nhận ra Chúa giữa cuộc đời vì Chúa luôn luôn có mặt ở khắp nơi, khắp chốn. Xin cho chúng con và mọi người đừng chỉ nhìn về trời một cách vu vơ, xa xôi, mơ hồ mà hãy nhận ra Chúa đang hiện diện giữa mọi người
.

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT.

SỨ MẠNG CỦA NGƯỜI KITÔ
Mc. 16, 15-20

Tin Mừng thuật lại hai điều : sự kiện Chúa Giêsu lên trời và lệnh truyền rao giảng Tin Mừng. Trước hết, sự kiện Chúa Giêsu lên trời, Tin mừng thánh Mác-cô ghi lại rất vắn tắt : chỉ nói Chúa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa, chứ không nói rõ Chúa lên trời ở đâu và sau khi Chúa sống lại bao lâu. Theo sách Công Vụ Tông Đồ, Chúa Giêsu lên trời sau khi sống lại 40 ngày, và nơi lên trời là núi Cây Dầu. Vậy Chúa Giêsu lên trời chính xác là khi nào ?

Có thể trả lời tóm tắt và rõ ràng như sau : Chúa lên trời ngay ngày phục sinh, tức là sau khi sống lại, Chúa lên trời ngay. Và sau đó Chúa đã hiện ra với các tông đồ nhiều lần để củng cố lòng tin của họ, trong một khoảng thời gian mà sách Công Vụ Tông Đồ xác định là 40 ngày. Sau cùng, Ngài cho các môn đệ biết Ngài chấm dứt việc hiện ra bằng sự công khai lên trời. Như vậy, mầu nhiệm lên trời mời gọi chúng ta nhìn nhận hai khía cạnh liên hệ nhưng riêng biệt nhau : một bên là Đức Kitô được vinh quang lên trời ngay lúc Ngài sống lại. Điều này giác quan các tông đồ không thể cảm nghiệm được mà chỉ có thể nhận thức bằng đức tin. Và một bên là Đức Kitô ra đi sau một thời gian hiện ra nhiều lần. Đó là cuộc ra đi trở về với Chúa Cha mà các tông đồ được chứng kiến trên núi Cây Dầu.


Chúa Giêsu lên trời là điều chắc chắn. Nhưng ý nghĩa thế nào ? Việc Chúa lên trời là một sự kiện tất yếu của quá trình nhập thể và cứu chuộc của Ngài, như chu trình phát triển của một hạt lúa : phải tự mục nát trong đất mới đâm mầm và tăng trưởng dần cho đến thời kỳ trổ bông, sinh hạt. Chúa Giêsu, sau thời gian đi gieo lời hằng sống, thiết lập và xây dựng một nền móng đạo đức đặt căn bản trên tình thương, công bằng trong xã hội Do thái thời đó, mảnh đất thí điểm và khởi điểm...Ngài đã chịu chết, sống lại và vinh hiển về trời. Nói khác đi, Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, đã từ trời xuống trần gian để thực hiện chương trình cứu chuộc của Chúa Cha. Ngài đã giảng dạy, phục vụ và cống hiến cả mạng sống. Nên sau khi sống lại từ cõi chết, Ngài đã được Thiên Chúa Cha tôn vinh, được đặt bên hữu Thiên Chúa và ban cho quyền xét xử vũ trụ. Đây cũng là một câu trả lời vô cùng phấn khởi cho chúng ta, nếu chúng ta trung thành tin theo Chúa, chúng ta cũng sẽ được về trời, chúng ta sẽ được Chúa Giêsu đón vào trong nhà Cha cùng với Ngài hưởng hạnh phúc vinh quang muôn đời.


Nhưng làm sao người ta có thể biết Chúa, tin theo Chúa để rồi cũng được về trời với Chúa ? Chính vì thắc mắc đó mà trước khi về trời, Chúa Giêsu đã ra chỉ thị cho các môn đệ của Ngài. Ngài sai họ ra đi trên vạn nẻo đường thế giới, ban cho họ nhiều quyền năng để rao giảng Tin Mừng và đem ơn cứu rỗi đến cho mọi người. Chính nhờ các tông đồ đầu tiên ấy, rồi các tông đồ khác, lại các tông đồ khác nữa kế tiếp nhau trung thành thi hành sứ mạng rao giảng Tin Mừng ấy mà người ta biết Chúa, tin Chúa, được cứu rỗi và rồi sẽ được về trời.


Nói khác đi, Chúa Giêsu đã dùng Giáo Hội như đôi tay để tiếp tục công cuộc cứu rỗi của Ngài, nghĩa là Giáo Hội như một nối dài của Chúa Giêsu. Cách đây hai ngàn năm, Chúa Giêsu đã đi lại, đã nói, đã làm nhiều điều tốt đẹp. Ngày nay, Ngài cũng muốn cho các hoạt động của Ngài được tiếp tục qua Giáo Hội. Sứ mệnh của Chúa Giêsu là một sứ mệnh thiêng liêng. Nhưng sứ mệnh đó cần phải được thể hiện bằng lời nói, bằng hành động bên ngoài. Vì thế, không có gì đáng ngạc nhiên khi trao phó sứ mệnh đó cho Giáo Hội, Chúa Giêsu muốn nó được thực thi trong một khung cảnh hữu hình, nhờ những phương tiện cụ thể. Nhờ những sinh hoạt hữu hình và đôi tay cụ thể của Giáo Hội mà Chúa Giêsu tiếp tục loan truyền chân lý, trao ban sự sống và dẫn đưa nhân loại về hạnh phúc vĩnh cửu.


Là chi thể của Giáo Hội, thân mình mầu nhiệm Chúa Kitô, mỗi Kitô hữu cũng là những cánh tay mở rộng của Chúa Kitô, nhờ đó Ngài không ngừng giãi tỏa ánh sáng, trao tặng tình thương, ơn cứu độ và hạnh phúc cho mọi người. Để được như thế, cách tốt nhất là chúng ta hãy sống tốt. Hãy sống tốt với gia đình, với xóm ngõ, trong họ đạo và với những người chung quanh, bất cứ lương hay giáo. Sống tốt cũng có nghĩa là sống bác ái, sống chan hòa tình yêu thương với mọi người.


Người có lòng bác ái, yêu thương giống như một bông hoa đẹp. Bông hoa không nói gì cả, bông hoa không tuyên xưng gì cả, nhưng vì nó là một bông hoa đẹp, tuy không nói, nhưng người ta cũng thấy được cái đẹp của nó, cái hương thơm của nó. Mỗi người Công Giáo, mỗi giáo xứ, hãy là những đóa hoa, những bó hoa tươi, đẹp, thơm, do tinh thần bác ái cởi mở chan hòa. Và nếu được như vậy, đạo chúng ta sẽ mở ra, và đức tin ấy mới là đức tin truyền giáo thực sự.


Xin hãy nhớ : Chúa Giêsu về trời sau khi đã hoàn tất nhiệm vụ ở trần gian. Chúng ta cũng vậy, bao lâu sống ở trần gian, chúng ta cũng phải nỗ lực hoàn tất nhiệm vụ Chúa đã trao phó và tích cực đóng góp vào sự mưu ích cho đồng loại, cho gia đình, xóm đạo, quê hương, Giáo Hội theo tinh thần phục vụ và bác ái của Tin Mừng.

Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng,OP.

SAO CÒN MÃI NHÌN TRỜI ?
Mc 16, 15-20

Sau khi phục sinh, Đức Giêsu còn ở lại với các môn đệ 40 đêm ngày. Sở dĩ Chúa sống lại còn ở với các môn đệ lâu ngày như thế là vì Người thấy đức tin của các ông còn yếu kém. Do đó, Chúa Giêsu nói về Nước Trời để củng cố niềm tin cho các ông và để chuẩn bị cho các ông đi vào sứ mạng rao giảng Tin mừng. Chúa Giêsu đã lo lắng cho các môn đệ hết lòng bằng cách ban Thánh Thần cho các ông và luôn ở cùng các ông, luôn cùng các ông hoạt động.

Sau khi ban phép lành cho các môn đệ, Chúa Giêsu phục sinh đã được Chúa Cha cất nhắc về trời. Thế nhưng, các môn đệ vẫn cảm thấy bị hụt hẵng, bối rối, lo âu. Các ông cứ đứng đó mà nhìn trời. Cái trớ trêu của các môn đệ là vẫn còn sống trong ảo ảo hư hư. Các ông vẫn chưa nhận ra, Chúa phải về trời để chu toàn sứ vụ của Người:" ngự bên hữu Đức Chúa Cha". Các môn đệ vẫn chưa nhận ra cái thực tế của đời mình : rao giảng và làm tròn sứ mạng Chúa trao phó. Nhìn trời được coi như hướng về sự thiện, hướng về mục tiêu cuối cùng của người có đức tin: Nước Trời.Tuy nhiên, các môn đệ vẫn bị trách " làm sao các ông cứ mải nhìn trời ? ". Chắc rằng cái tiếc nuối của các môn đệ nếu có vẫn là mộng làm quan hụt. Vì rằng các ông cứ tưởng Thầy tới để củng cố vương quyền của Israen...Các ông mơ ước Chúa Giêsu sẽ làm vua theo quan niệm người đời. Khi ấy, các ông sẽ được Chúa chia chác cho các ông các ghế trong nội các của Chúa Giêsu. Điều mơ tưởng ấy chỉ là điều mơ mộng. Chúa Giêsu đã chẳng từng nói với Philatô:" Nước Tôi không thuộc thế gian này". Quả thực, Chúa Giêsu đã xác định rõ ràng, Người là vua nhưng là vua khiêm nhu, vua nhân hậu. Nước của Người không thuộc thế gian mà thuộc về thượng giới. Vả lại, các thiên thần áo trắng đã chẳng hứa hẹn:"Ngài sẽ đến cùng một thể như các ông đã thấy Ngài đi lên Trời"( Cv 1, 11 ). Chúa Giêsu hôm qua, hôm nay và ngày mai vẫn là một. Chính vì thế, tất cả mọi người có lòng tin như các môn đệ xưa đang hướng về ngày cùng tận, ngày tận thế, ngày Trời mới Đất mới. Vì Chúa đang lại đến. Các môn đệ sau khi mơ mộng đã được các Thiên Thần đưa họ về thực tế. Các ông bỗng tỉnh ngộ và trở về với con người thực của mình. Các ông đã sực nhớ lại Thầy của mình đã trao sứ vụ đi rao giảng cho muôn dân và họ bắt đầu đi rao giảng.

Trước khi đi vào cuộc thương khó cứu đời theo ý Thiên Chúa Cha, Chúa Giêsu đã nhiều lần loan báo cái chết Ngài sẽ phải chịu để cứu độ nhân loại. Các môn đệ vẫn mù tịt, chẳng hiểu gì về những lời Chúa nói. Phêrô còn dám cản ngăn con đường của Chúa. Trong các lần tâm sự với các môn đệ Chúa Giêsu đã chẳng nói:" Ta ra đi thì ích lợi hơn cho các con"( Ga 16, 17 ). Hoặc " Lòng các con chớ xao xuyến...Ta đi trước để dọn chỗ cho các con"( Ga 14, 1-2 )." Ta sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế" ( Mt 28, 20 ) và rồi Ngài cầu khẩn cho các môn đệ" Khi còn ở với họ, con đã gìn giữ họ, trong danh Cha mà Cha đã ban cho con...Bây giờ con đến cùng Cha, và con...xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần"( Ga 17, 12.13.15 ). Đây là những lời tâm sự của Chúa đối với các môn đệ làm chúng ta hiểu được tấm lòng, hiểu được ước muốn của Chúa Giêsu. Chúa quả thực đã củng cố niềm tin, đã an ủi các ông, đã làm cho các ông càng lúc càng hiểu được cõi lòng sâu thẩm của Chúa. Nhờ đó, các môn đệ và mỗi người chúng ta đều nghiệm ra được tình thương vô biên của Chúa Giêsu. Các môn đệ vẫn hướng về trời, nhưng điều thực tế vẫn là các ông phải hành động ngay ở trần gian này như Đức Giêsu đã truyền:" Anh em hãy đi và và làm cho muôn dân trở thành môn đệ..."( Mt 28, 19 ). Các môn đệ và mọi người Kitô hữu luôn phải trở về với thực tế của mình là "đi" và " làm cho cho muôn dân trở nên môn đệ của Chúa Giêsu".

Chúa Giêsu về trời không có nghĩa" Ngài trở lên ở một khoảng không gian mông lung nào đó". Chúa Giêsu về trời cũng có nghĩa " Ngài không còn hiện ra với các môn đệ như khi Ngài mới sống lại". Chúa Giêsu vẫn hiện diện với nhân loại, với Hội Thánh nhưng theo một cách khác. Ngài không còn tỏ ra như đã từng cho các môn đệ thấy dấu đinh nơi chân tay Ngài, và cho các ông thấy cạnh nương long của Ngài. Chúa Giêsu về trời là để khai mạc một triều đại mới: triều đại của Chúa Thánh Thần trong Giáo Hội. Về trời cũng có nghĩa " Chúa phục sinh đón nhận vinh quang từ Cha của Ngài". Chúa về trời để cũng đưa nhân loại lên với Ngài. Mầu nhiệm Chúa Giêsu về trời cũng được hiểu là mầu nhiệm của Hội Thánh trần gian đang hiện diện tỏ tường nơi gian trần nhưng không ngừng lên trời, không ngừng hướng về Thiên Chúa Cha ngang qua cuộc khổ nạn và phục sinh của Chúa Giêsu.

Lạy Chúa Giêsu phục sinh, xin giúp mỗi người chúng con càng lúc càng hiểu rõ hơn sứ vụ rao giảng Tin Mừng mà Chúa đã truyền cho các môn đệ và cho toàn thể Hội Thánh
.

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT

LÊN TRỜI LÀ LÊN ĐƯỜNG
Mc 16, 15-20

Hôm nay toàn thể Giáo hội mừng lễ Chúa lên trời hay lễ Thăng Thiên. Ngày lễ Thăng Thiên có một ý nghĩa rất quan trọng trong dòng lịch sử Giáo hội. Lý do là vì Thăng Thiên vừa kết thúc mùa Phục Sinh, vừa là một mạc khải cuối cùng nói về vinh quang của Chúa Phục Sinh. Tuy nhiên Thăng Thiên vẫn chưa là biến cố sau cùng mà là một khai mở cho biến cố mới: biến cố Chúa Thánh Thần hiện xuống như Chúa Giêsu đã hứa.

Chúa lên trời, cũng có nghĩa là từ nay Người không còn hiện diện cách hữu hình, cách khả giác nữa mà là một sự hiện diện khác - hiện diện bằng chính quyền năng của Chúa Thánh Thần, hiện diện qua chính Giáo hội. Hiểu được như thế chúng ta sẽ thấy rằng, việc Chúa lên trời quả là một niềm vui cho chúng ta. Vì nhờ đó, chúng ta cũng sẽ hướng về quê trời - nơi chúng ta sẽ được hưởng sự sống Thần linh với Ba Ngôi Thiên Chúa.


Khi suy niệm Lời Chúa hôm nay, chúng ta có cảm giác dường như thánh sử Máccô muốn diễn tả sự kiện Thăng Thiên diễn ra một cách chóng vánh để cho các Tông đồ bắt tay ngay vào việc lên đường truyền giáo. "Lên trời là lên đường", phải chăng đó là thông điệp mà thánh sử muốn gửi đến cho chúng ta? Dù sao, lệnh truyền của Chúa cho các tông đồ và cho cả chúng ta nữa cần được chúng ta suy chiêm và đem vào cuộc sống.


Lần hiện ra sau cùng với các môn đệ, Chúa Giêsu trao cho các ông một sứ mệnh, là ra đi loan báo Tin mừng. "Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin mừng cho mọi loài thọ tạo". Đây chính là một lời mời gọi của Chúa và Người muốn các môn đệ đáp lại mời gọi này với sự tín thác tuyệt đối vào Thiên Chúa. Lời mời gọi đó đòi buộc các môn đệ rời bỏ quê hương - nơi chôn rau cắt rốn, thậm chí rời bỏ luôn dân tộc Israel để hướng về lương dân, công bố Tin mừng Phục sinh cho hết mọi người. Truyền thống Tân ước cho biết lời rao giảng đầu tiên của các Tông đồ là công bố việc Thiên Chúa cứu nhân loại khỏi chết, khỏi mọi tội lỗi nhờ cái chết, sự phục sinh và lên trời của Chúa Giêsu. Vâng lời Thầy, các môn đệ ra đi dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần Thiên Chúa và với sự hiện diện cách vô hình của Thầy Chí Thánh.


Sau khi Chúa về trời, và nhất là sau ngày lễ Ngũ tuần - ngày các môn đệ đón nhận ơn Chúa Thánh Thần, sứ mệnh loan báo Tin mừng Phục sinh của các môn đệ mới lớn mạnh và ngày một lớn mạnh không ngừng. Tuy nhiên, chúng ta thấy, Tin mừng được loan đi, nhưng thái độ đáp trả của con người vẫn còn là điều đáng để chúng ta suy nghĩ. Bởi bên cạnh những người đón nhận lời rao giảng của các môn đệ và tin tưởng bước theo Chúa Kytô Phục sinh, thì vẫn còn đó không ít người không tin, thậm chí còn mỉa mai chê cười. Chính vì thế, Chúa Giêsu báo trước cho các môn đệ về hiệu quả của việc đón nhận hay từ chối lời loan báo Tin mừng Phục sinh của Giáo hội. Đó là, "Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ" và, "Ai không tin, thì sẽ bị kết án".


Chúng ta biết, đức tin - một hành động được diễn tả như là quá trình xuất phát từ chính trong tâm hồn để rồi biểu lộ ra bên ngoài bằng việc chịu phép rửa. Như vậy, tin và chịu phép rửa là đáp lại sứ điệp của Tin mừng và như thế sẽ nhận được ơn cứu độ, được thứ tha tội lỗi và huởng sự sống đời đời. Ngược lại, nghĩa là bị án phạt. Đây chính là án phạt trong ngày tận thế, ngày Chúa Kytô trở lại để khánh thành công trình cứu độ. Ai không tin Chúa, từ chối lời rao giảng tức là khước từ sự sống và như thế, bị luận phạt đời đời chính là hậu quả mà họ sẽ đón nhận. Ở đây cần phân biệt người chưa nghe lời Chúa với người nghe lời Chúa mà chối từ. Người chưa nghe lời Chúa không thể gọi họ là kẻ khước từ. Họ sống theo lương tâm ngay thẳng thì không thể kể họ là kẻ không tin.


Giai đoạn đầu của sứ mệnh rao giảng Tin mừng, chúng ta thấy có nhiều dấu lạ đi kèm theo lời rao giảng của các môn đệ. Điều này được nói đến trong đoạn kết của Tin mừng Máccô cũng như được minh hoạ trong sách Công vụ tông đồ. Tất cả những dấu lạ như trừ quỷ (x. Cv 5, 12-16; 8,9; 16,16-18); nói tiếng lạ (x. Cv 2, 4-13; 10, 44-46); cầm được rắn (x. Cv 28, 3-6); đặt tay chữa bệnh (x. Cv 4, 30; 9, 10-17),v.v... phải chăng là những ma thuật để khuyến dụ những người thích phù phép hay những người kém hiểu biết? Hoàn toàn không phải như vậy. Tất cả chỉ để diễn tả quyền năng tất yếu của Đấng Phục sinh chiến thắng những thế lực sự ác và sự chết. Đấng ấy, nay thông qua các dấu lạ kèm theo lời rao giảng của các môn đệ, để minh chứng rằng rằng những ai tin và bước theo Người cũng sẽ chiến thắng mọi thế lực của ác thần.


Mừng lễ Thăng Thiên, xin cho mỗi người chúng ta biết hướng về trời cao, tiến bước lên đường rao giảng Tin mừng Phục sinh và ơn cứu độ của Thiên Chúa cho khắp nhân trần. "Lên trời là lên đường", đó là thông điệp, và cũng là sứ mệnh Giáo hội muốn nhắn gửi cho con cái mình trong thời đại hôm nay.

Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb

SAO CÒN ĐỨNG NHÌN TRỜI?
Mc.16,15-20

Tin Mừng của Thánh Marcô tường thuật việc Chúa Giêsu về trời. Chúa về trời là hiển nhiên vì Người từ trời mà đến, nay Người trở về nơi Người ở trước, như Chúa Giêsu đã từng nói: "Nếu Con Người lên nơi đã ở trước thì sao?" (Jn.6,62). Cho nên mầu nhiệm Chúa thăng thiên là một vấn đề đã ăn sâu vào niềm tin Kitô giáo của chúng ta nên không còn phải chứng minh về điều này. Tuy nhiên, điều muốn nói là:

Chúa về trời " ngự bên hữu Thiên Chúa ", Người được tôn phong và trao ban uy quyền làm Chúa, nghĩa là với tư cách là người, nay Người được tham dự vào vương quyền của Cha và dự phần uy quyền cai trị vũ trụ. Thế nhưng khi các môn đệ được chứng kiến Chúa về trời rồi, sách Công Vụ còn kể : Các ông cứ đứng ngây ra đó mà trông theo, nên Chúa đã sai Thiên Thần hiện ra nhắc bảo " Hỡi người Galilê sao các ông còn đứng nhìn trời...?"(Cv.1,11).


Khi được sống trong hạnh phúc người ta thường có thái độ thích an hưởng mà quên đi bổn phận hiện tại, các môn đệ cũng vậy, nhưng sau khi được nhắc nhở các Tông đồ đã tung bay khắp nơi để rao giảng Tin Mừng, các ngài đã tiếp nối công việc của Chúa Giêsu và hoạt động trong quyền năng của Đấng Phục Sinh. Và Chúa thể hiện sự nâng đỡ bằng những phép lạ. Ngày nay cũng vậy, Chúa vẫn bảo vệ, nâng đỡ các nhà truyền giáo để nhân lọai được hưởng nhờ, nhưng hiếm hơn. Bù lại là những dấu chỉ thiêng liêng như kiên trì, sự xác tín và dấn thân của những nhà truyền giáo(x.2Cor.12,12) Chúa không để chúng ta một mình nhưng " ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế"(Mt.28,20).


Vậy trước hết và trên hết là chúng ta hãy ra đi loan báo Tin Mừng, không được khoanh tay ngước nhìn trời vì công việc loan báo Tin Mừng đang chờ đợi chúng ta và thế giới còn nhiều bề bộn....hãy sống hết mình với trái đất mà vẫn ngước lên trời cao. Dĩ nhiên đây là một thách đố lớn đối với người Kitô hữu, nhưng cũng là cốt lõi của niềm tin, mà thiên thần nhắc nhở phải loan truyền điều mình đã chứng kiến ngay đi, đừng bám lấy niềm vui hiện tại mà quên đi sứ mệnh Chúa vừa trao ban " Hãy đi giảng dạy muôn dân và rửa tội cho họ..."(c.16). Như thế, chúng ta phải quay về với bổn phận của mình để làm cho thế giới này không còn hận thù, không còn đau khổ để kiến tạo cuộc sống hữu hình tươi đẹp và sáng sủa hơn.


Đồng thời làm chứng sự hiện diện của Thiên Chúa nơi trần thế qua cuộc sống chứng nhân, như Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nói : " Ngày nay người ta thích chứng nhân hơn thầy dạy". Cho nên loan báo Tin Mừng là làm chứng tình yêu của Thiên Chúa nơi con người qua hoạt động bác ái của chúng ta, qua đôi tay thi ân và chăm sóc người cùng khổ thể xác lẫn tinh thần, để nhờ đó mọi người nhận ra Chúa vẫn đang hioện diện và hoạt động nơi trần thế.


Hội Thánh ngày nay cũng bao gồm những kẻ yếu đuối, cứng tin nhưng với ơn cải hóa, họ sẽ trở thành những chứng nhân nhiệt thành loan báo Tin Mừng. Mầu nhiệm lên trời là động lực thúc đẩy việc truyền giáo mỗi ngày mạnh mẽ hơn. Con đường về trời là con đường hẹp nhưng đầy yêu thương, hãy chia sẻ cuộc sống với mọi người, biết quảng đại không sợ hi sinh, có như thế chúng ta sẽ trở nên dụng cụ của Thiên Chúa.


Lạy Chúa, xin dạy chúng con biết đường về trời trong việc hi sinh, bác ái, yêu thương anh chị em con, để mỗi khi hướng vọng về trời thì chúng con lại thêm sức mạnh để xây dựng thế giới nay mà chuẩn bị ngày về trời.

Sr Mai An Linh OP

NGƯỚC MẮT NHÌN TRỜI
Mc.16,15-20

Con người thường có hai thái độ sống đối nghịch nhau. Một bên là những người chỉ biết có việc đạo. Sống dưới đất nhưng lòng trí để cả ở trên trời. Không tha thiết gì với những người chung quanh. Không tham gia những sinh hoạt xã hội. Khinh chê tất cả những giá trị ở đời này. Ngược lại, bên kia là những người sống như chỉ biết có việc đời. Chỉ coi trọng những giá trị vật chất. Chỉ biết có đời này. Sống là còn. Chết là hết. Cả hai thái độ đều bất cập.

Việc Đức Giêsu lên trời và những lời Ngài truyền dạy trước khi từ giã trần gian giúp ta có một cái nhìn đúng đắn hơn đối với trời và đối với đất.


Đức Giêsu lên trời. Điều đó dạy ta biết ngoài cõi đời này còn có một nơi chốn khác. Ngoài cuộc sống này còn có một cuộc sống khác. Ngoài những giá trị đời này còn có những giá trị khác.


Trời là nơi hạnh phúc không còn khổ đau. Trời là nơi cuộc sống vĩnh viễn không bị tiêu diệt. Trời là nơi tất cả mọi giá trị đạt đến mức tuyệt đối. Trời là nơi con người trở thành thần thánh, sống chung với thần thánh.


Như thế trời là niềm hy vọng của con người. Con người không còn bị trói chặt vào trần gian. Định mệnh của con người không phải chỉ là đớn đau sầu khổ. Số phận con người không phải sinh ra để rồi tàn lụi. Trời cho con người một lối thoát. Trời mở ra cho con người một chân trời hạnh phúc. Trời cho con người cơ hội triển nở đến vô biên.


Trời nâng cao địa vị con người. Có trời, con người không còn bị xếp ngang hàng với súc vật. Súc vật sinh ra để tàn lụi. Con người sinh ra để triển nở, để vượt qua số phận, để đạt tới địa vị con Thiên Chúa. Có trời, con người sẽ được nâng lên ngang hàng thần thánh.


Tuy nhiên, trời không phải xây dựng trong mây trong gió, nhưng được xây dựng trong cuộc sống trần gian. Trời không phải là cõi mơ mộng viển vông, nhưng đã bắt đầu ngay trong thực tế cuộc đời hiện tại.


Chính vì thế mà hai thiên thần áo trắng đã bảo các môn đệ đừng đứng nhìn trời mãi làm chi, nhưng phải trở về mà lo chu toàn nhiệm vụ.


Chính vì thế mà trước khi lên trời, Chúa căn dặn các môn đệ hãy đi làm việc cho nước Chúa. Sống và làm việc ở trần gian, đó là một nhiệm vụ phải chu toàn. Hoàn thành nhiệm vụ ở trần gian, đó là điều kiện để đạt tới hạnh phúc nước trời.


Chính Đức Giêsu cũng đã chu toàn nhiệm vụ ở trần gian rồi mới lên trời. Nhiệm vụ đó là đi gieo Tin Mừng khắp nơi. Đi đến đâu là thi ân giáng phúc đến đấy. Đi đến đâu là gieo yêu thương đến đấy.


Hôm nay Chúa cũng sai các môn đệ và chúng ta đi gieo Tin Mừng khắp thế gian. Hãy đi làm mọi việc tốt đẹp cho mọi người.


Làm việc tốt đẹp ở trần gian đó là góp phần xây dựng nước trời. Góp phần xây dựng trần gian đó là dọn chỗ ở trên nước trời. Trần gian không phải là nơi cho ta bám víu vì không vĩnh cửu. Nhưng trần gian là cơ hội cho ta đạt tới nước trời.

Chính vì thế, người môn đệ của Chúa phải sống giữa trần gian, phải yêu mến trần gian, phải xây dựng trần gian. Vì trần gian là nơi Chúa sai ta đến làm việc.
Tuy nhiên người Kitô hữu làm việc ở trần gian mà lòng vẫn hướng lên quê trời. Yêu mến trần gian vì nước trời. Yêu mến trần gian để biến trần gian thành nước trời.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho con biết nỗ lực xây dựng trần gian trong niềm mong đợi hạnh phúc nước trời. Amen.

+ TGM Giuse Ngô Quang Kiệt

CHÚA VỀ TRỜI
Mc 16, 15-20

Lúc còn nhỏ mỗi lần chuẩn bị mừng lễ Chúa Giêsu về trời, đặc biệt vào chính ngày lễ Chúa thăng thiên, như một tập quán quen thuộc nào đó, tôi thường làm một cử chỉ: nhìn lên trời. Tôi nghĩ rằng nhìn lên trời biết đâu tôi sẽ bắt gặp Chúa đang bay về trời bởi vì theo Tin Mừng thánh Máccô, sau khi Chúa nói với các tông đồ lệnh truyền giáo, Chúa Giêsu được rước lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa ( Mc 16, 19 ). Do đó, nhìn lên trời để biết đâu bắt gặp được Chúa đang được rước về trời thì thật hạnh phúc biết bao !

Những suy nghĩ của tôi lúc còn nhỏ tuổi, thật ngộ nghĩnh, nhưng tôi cho rằng thực tế vì Chúa về trời là về với thế giới của Thiên Chúa Cha, có nghĩa khác với thế giới trần gian này. Con người đang sống nơi gian trần với những vẻ đẹp tuyệt mỹ: vũ trụ, sông, biển, đại dương, núi đồi, cây cỏ. Đó là thế giới khiến con người, khiến chúng ta ưa thích và say mê. Tuy nhiên, Chúa về trời cũng khiến chúng ta nhớ lại đời chúng ta là một cuộc hành trình dài mà đích đến là nước trời, là nơi xa xăm vv... Đã xác định được đích đến, chúng ta phải hiểu được lệnh truyền của Chúa: " Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo. Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ; còn ai không tin, thì sẽ bị kết án " ( Mc 16, 15-16 ). Các tông đồ của Chúa đã chứng kiến cuộc vinh hiển khải hoàn của Chúa, được nhìn thấy Chúa được rước về trời trong vinh quang, do đó, các Ngài không thể im lặng, các Ngài không thể làm ngơ, các Ngài đã mạnh mẽ làm chứng: " Thiên Chúa đã làm cho sống lại Đức Kitô mà anh em đã giết chết, rồi treo trên cây gỗ...và tôn Ngài làm thủ lãnh và Đấng cứu độ để đem lại cho Israen ơn tha thứ và hoán cải. Về những việc đó chúng tôi đây là những chứng nhân cùng với Thánh Thần mà Thiên Chúa đã ban cho những ai vâng phục Người " hoặc " Chúng tôi rao giảng Chúa Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta và đã sống lại để chúng ta được nên công chính ".


Vì tin vào Chúa Phục Sinh, cũng vì làm chứng cho Đấng sống lại mà các tông đồ tất cả đều bị bách hại, tất cả đều bị đổ máu, họ đã bị giết chết vì tin vào Đấng phục sinh.


Riêng đối với chúng ta, những Kitô hữu, những người theo Chúa, chúng ta luôn phải can đảm, quảng đại làm chứng cho Chúa phục sinh không chỉ bằng lời nói suông, nhưng phải làm chứng cho Chúa bằng chính đời sống thật, đời sống chân chính của mình và cảm nghiệm sâu xa cuộc sống tốt lành của chúng ta là những bước tiến gần Chúa Kitô, đồng thời những thử thách gian nan, những hy sinh, đau khổ, cam go của chúng ta là cần thiết để thanh luyện và làm rạng rỡ đức tin của chúng ta.


Mọi Kitô hữu đều muốn về trời với Chúa phục sinh, nhưng muốn về trời chúng ta phải hy sinh, lắng nghe và thực hành lời Chúa trong cuộc đời của chúng ta. Thực hành Lời của Chúa, đồng nghĩa thực hiện tình yêu thương của Chúa: " Hãy yêu nhau như Thầy đã yêu ".


Vâng, nhìn lên trời không có nghĩa là để thấy Chúa bay vụt vào một nơi chốn nào đó, vào một khoảng không mịt mù nào đó. Nhìn lên trời để hiểu rằng Chúa đã được tôn vinh, được hiển trị với Thiên Chúa Cha. Những suy nghĩ nhỏ bé của tôi hồi xưa như được sống lại với biết bao kỷ niệm êm đềm. Xem ra mừng Chúa Kitô lên trời có vẻ như mừng những lễ kính Đức Kitô khác, nhưng đây quả thực là mầu nhiệm đức tin, mầu nhiệm cao vời vì nếu Chúa không chết, không sống lại và không về trời, thì thực tế Chúa Thánh Thần đã không đến với thế giới, đến với mỗi người.


Thiên thần đã nói: " Hỡi người Galilê, sao các ông cứ đứng nhìn trời " ( Cv 1, 11 ). Chúa Kitô đã về trời thật, và cái thực nhất là sứ mạng rao giảng Tin Mừng như lời Ngài đã truyền dạy. Thế giới thực bao la, nhân loại còn biết bao người chưa biết Chúa. Sứ mạng của chúng ta là loan báo, làm chứng cho Chúa Kitô phục sinh. Sống cái kiếp người, nhưng điều lôi cuốn và thu hút chúng ta đó là Nước Trời, đó là phía bên kia mà chúng ta phải hy sinh khám phá.


Chúa thăng thiên đang mời gọi chúng ta: " Hãy sống trọn kiếp người, nhưng đừng quên sứ mạng người Kitô hữu ". Nước Thiên Chúa đang ở giữa chúng ta, đang ở trên ta, mỗi lần chúng ta sống bác ái yêu thương làm cho người khác nhận ra Chúa là chúng ta đang sống sự phục sinh của Chúa.


Lạy Chúa Giêsu phục sinh, xin cho chúng con biết sống thế nào để nhiều người thấy chúng con là nhận ra sự hiện diện của Chúa sống lại. Amen.

Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

CHÚA GIÊSU KYTÔ LÊN TRỜI MÀ VẪN Ở DƯỚI ĐẤT ?
Mc 16, 15-20

1- Quan niệm về "trời đất"
a- Theo vũ trụ quan của người Việt nam:

-Trời là một quãng không (impersonnel) ở trên đầu ta đối với đất ta đang đứng đây:

Trên trờì có đám mây xanh,
Ờ giữa mây trắng, chung quanh mây vàng.
Trời quang, mây tạnh, trời u ám, trời nắng, trời mưa.

- Trời là Ông Trời (personnel):

Trời sinh voi, trời sinh cỏ.
Ngẫm hay muôn sự tại Trời
Trời kia đã bắt làm người có thân. (Kiều, câu 3241)
...
" Cũng đừng trách lẫn Trời gần Trời xa". (Kiều, câu 3249 )

b- Theo Thánh Kinh


Dưới mắt người Do thái, trời là công trình tạo dựng của Thiên Chúa, là một kiến trúc vững chắc có các cột trụ chống giữ (Giop 26,11), có nền móng chắc chắn ( 2 Sm 22,8), có bể chứa nước, tuyết, băng giá, gió (Giop 38,22; Tv 33,7), có các cửa cống để tuôn các chất đó ra: tháo cống nước làm mưa, tháo cống gió làm gió (Stk 7,11; 2 V 7,2; Mal 3,10).


Trời ở trên, đất ở dưới. Trời là nhà của Thiên Chúa ( Is 66,1) và đất là phần Thiên Chúa ban cho loài người (Tv 115, 16). Không ai lên trời được (Gioan 3,13; Cn 30,4; Rm 10,6). Kẻ mơ ước lên trời là người điên (xem Stk 11,4 ) vì tự xem mình đồng hàng với Thiên Chúa (Is 14,13).


Chỉ có Chúa Giêsu Kytô đã lên trời vì Ngài từ trời xuống:

"Thầy từ trời mà xuống, không phải làm theo ý Thầy, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai Thầy" (Gioan 6,38). Thầy phát xuất từ Thiên Chúa và bởi Thiên Chúa mà đến"(nt 8,42).

Và khi Chúa Kytô đã thi hành Thánh Ý Chúa Cha trong mầu nhiệm Vượt qua (chết và sống lại ), Ngài trở về với Chúa Cha bằng "con đường thăng thiên":

" Nói xong, Chúa Giêsu được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa" (Marcô 16,19).
" Đang khi chúc lành cho họ, thì Người rời khỏi họ và được đem lên trời" (Luca 24,51)
"Nói xong, Người được cất lên ngay trước mắt các ông, và có đám mây quyện lấy Người, khiến các ông không còn thấy Người nữa "(Công vụ 1,9)
" Thiên Chúa đã biểu dương nơi Đức Kytô, khi làm cho Đức Kytô sống lại từ cõi chết, và đặt ngư bên hữu Người trên trời" (Ephêso 1,20)
"Thiên Chúa ban cho ta một lương tâm trong trắng, nhờ sự phục sinh của Đức Giêsu Kytô, Đấng đang ngự bên hữu Thiên Chúa sau khi đã lên trời" ( I Phêrô 3,21-22).

Đức Tin dạy chúng ta biết Ngôi Hai Thiên Chúa xuống mặc lấy thân xác
người phàm như chúng ta ngoại trừ tội lỗi, gọi là Đức Chúa Giêsu Kytô. Vậy Chúa Giêsu Kytô là Thiên Chúa thật và là người thật. Là Thiên Chúa Ngôi Hai, Ngài ở khắp mọi nơi bằng bản tính và Ngôi Vị nên không thể nói Ngài "lên trời hoặc xuống trần gian ". Nhưng Ngài mặc lấy xác phàm của chúng ta, như vậy khi sống như con người thì phải hoạt động trong Thân xác có giới hạn trong phạm vi của nó trên bình diện tự nhiên. Khi sống lại, vào trong vinh quang (siêu nhiên), thân xác Chúa biến đổi hợp với tính siêu nhiên, nhưng vẫn là thân xác loài người, có những hạn chế, giới hạn. Chúa Kytô lên trời tức là thân xác của Ngài lên trời nghĩa là được đưa lên trời, được vinh thăng trong Nươc Trời, Ngài làm chủ, làm vua trời đất muôn loài, muôn vật. Và khi Ngài hiện ra, không có nghĩa là Ngài từ trời xuống, nhưng là Ngài ban ơn đặc biệt để các Tông đồ thấy con người của Ngài, nghe tiếng Ngài nói như cũ.

Hiểu như trẻ thơ thế nầy: Chúa sống lại, hiện ra cho các Tông đồ thấy rồi biến đi, trốn vào một nơi bí mật, rồi lại hiện ra. Cứ thế trong vòng bốn mươi ngày, sau đó Chúa mới lên trời. Thật ra, khi sống lại, thân xác Chúa đã ở cõi siêu nhiên, cõi trời rồi và Ngài hiện ra tức là Ngài ban ơn cho người ta thấy,nghe Ngài nói. Đến ngày thứ bốn mươi, Chúa hiện ra lần chót bằng một "cử chỉ lên trời" đề cho các Tông đồ biết Ngài không còn hiện ra như thế nữa.


Nhưng sự kiện Chúa thăng thiên có một tầm rất quan trọng nên thánh Phaolô đã nói rất mạnh: " Người đã lên nghĩa là gì, nếu không phải Người đã xuống tận các vùng sâu thẩm dưới mặt đất. Đấng đã xuống cũng chính là Đấng đã lên cao hơn mọi từng trời để làm cho vũ trụ được viên mãn"( Eph 4,9-10). Người đã xóa sổ nợ bất lợi cho chúng ta, sổ nợ mà các giới luật đã đưa ra chống lại chúng ta. Người đã hủy bỏ nó đi, bằng cách đóng đinh nó vào thập giá. Người đã truất phế các quyền lực thần thiêng, đã công khai bêu xấu chúng, đã điệu chúng đi trong đám rước khải hoàn của Người "( Col 2,14-15). Bản văn nhấn mạnh đến cuộc "đảo chính" (truất phế) vì một nhóm người xem Chúa Kytô ngang hàng với thiên thần nên phải "truất phế, bêu xấu, trói tay" điệu chúng đi trong đám rước chiến thắng của Chúa Kytô.


Về phần tín hữu của Chúa Kytô, vì Chúa lên trời mở đầu cho việc Chúa trở lại trong vinh quang giữa hàng thần thánh, ban ơn cứ độ viên mãn (xác sống lại trong vinh quang), đây là thời gian "trời đất giao hòa" vì Chúa lên trời mà còn ỡ trần gian. Ngay từ bây giờ, dầu chúng ta còn sống trên cõi trần, "Chúa Kytô đã cho chúng ta được cùng sống lại với Người và cùng ngự trị với Người trên cõi trời"( Eph 2, 6), "cũng như chúng ta dã mang hình ảnh người bởi đất mà ra, thì nay chúng ta đang mang hình ảnh Đấng từ trời mà đến ( 1 Cor 1,49). Tín hữu giống như người thiên quốc, " không thuộc thế gian nhưng không được cất khỏi thế gian "(Gioan 17,15-16) và phải hoàn thành sứ mệnh Chúa trao phó trước khi Chúa lên trời nên rất cần sự hiện diện của Chúa tức là Chúâ ở lại cùng Hội Thánh cho đến tận thế. Công đồng Vatcan II đã dạy như thế nầy: Chúa Kytô hiện diện trong Hội Thánh, nhất là trong các hoạt động phụng vụ. Người hiện diện thực sự trong Hy lễ, không những trong con người của thừa tác viên, vì " như xưa chính Người đã tự dâng mình trên thập giá thì nay chính Người cũng dâng mình nhờ thừa tác vụ của các linh mục", nhất là hiện diện thực sự dưới hai hình thái Thánh Thể. Người hiện diện thiết thực trong các Bí tích nhờ quyền năng của Người; vì thế, ai rửa tội thì chính là Chúa Kytô rửa. Người hiện diện thiết thực trong lời của Người vì chính Người nói khi người ta đọc Thánh Kinh trong Hội Thánh. Sau hết, Người hiện diện khi Hội Thánh cầu nguyện và hát Thánh vịnh, như chính Người đã hứa: " Ở đâu có hai, ba người nhân danh Thầy mà họp lại, Thầy sẽ ở giữa họ"( Mt 18,20) (Hiến chế Phụng vụ, số 7).

Lm. Fx Nguyễn hùng Oánh  (Nguồn vietcatholic.org)

8505    17-05-2012 10:12:38