Sidebar

Thứ Ba
18.06.2024

Chúa Nhật II Mùa Vọng Năm C

  1. Hãy Dọn Lòng Mừng Chúa Đến!
  2. Chúa Nhật II Mùa Vong C 
  3. Làm Người Dọn Ðường Ðón Chúa 
  4. Mẫu Gương Mùa Vọng 
  5. Hãy Dọn Lòng Ngay Thẳng! 
  6. Dọn Đường Đón Chúa 
  7. Chúa Nhật II Mùa Vọng
  8. Con Đường Tâm Hồn
  9. Dọn Đường
  10. Dọn Đường Đón Chúa
  11. Dọn Đường Chúa Đến 
  12. Dọn Tâm Hồn Đón Mừng Chúa Đến
  13. Hãy Dọn Đường Cho Chúa
  14. Cản Trở
  15. Gioan Tẩy Giả, Người Là Ai ?
  16. Dọn Đường, Dọn Lòng
  17. Để Mọi Người Nhận Biết Ơn Cứu Độ
  18. Hãy Sám Hối Và Đổi Mới
  19. Hãy Dọn Đường Cho Chúa
  20. Lá Phải Thay Đi
  21. Dọn Đường
  22. Hãy Dọn Sẵn Con Đường
  23. Đổi Mới Tâm Hồn
  24. Dọn Đường Cho Chúa Đến
  25. Chúa Nhật II Mùa Vọng C
  26. Dọn Đường Cho Ơn Cứu Độ Phổ Quát
  27. Hãy Dọn Sẵn Con Đường Cho Đức Chúa

 

HÃY DỌN LÒNG MỪNG CHÚA ĐẾN!
Lc  3, 1 - 6

Chúa nhật này, chúng ta đang bước sang tuần thứ II của Mùa Vọng, Giáo Hội mời gọi chúng ta gia tăng niềm hy vọng bằng cách chuẩn bị tâm hồn để đón Chúa đến cứu chuộc con người.

Để đón khách người ta phải chuẩn bị. Vị khách quan càng quý thì việc chuẩn bị lại càng quan trọng hơn. Chúa Cứu Thế hẳn là vị khách vô cùng đáng quý trọng, Ngài là Ngôi Hai đến trần gian để cứu chuộc nhân loại. Nhân loại đang khao khát đón chờ Ngài, hy vọng vào Ngài. Chính trong bài Phúc âm hôm nay, Thánh Luca cho chúng ta thấy ơn cứu chuộc của Ngôi Hai quan trọng vì có liên quan đến không gian và thời gian của nhân loại. Ngài đến trong không gian cụ thể là nước Do thái và thời gian có những vị lãnh đạo cả đời lẫn đạo: "Năm thứ mười lăm dưới triều hoàng đế Tibêriô, thời Phongxiô Philatô làm tổng trấn miền Giuđê, Hêrôđê làm tiểu vương miền Galilê, người em là Philípphê làm tiểu vương miền Iturê và Trakhônít, Lyxania làm tiểu vương miền Abilên, Khanan và Caipha làm thượng tế" (Lc 3, 1 - 2). Như thế, thánh Luca ghi lại rất rõ ràng ngày tháng, niên hiệu hẳn hoi của những nhà lãnh đạo Rôma cũng như Do Thái, đạo cũng như đời, lúc Gioan Tẩy Giả bắt đầu rao giảng. Một phần vì thánh Luca chú ý đến khía cạnh lịch sử, nhưng dựa vào đó chúng ta thấy rằng, ơn cứu độ bắt đầu thực hiện ngay trên trần gian này. Thánh Luca dẫn chúng ta vào trong thời gian mà người dọn đường là Gioan Tẩy Giả và con Đường là Đức Giêsu đưa ta tới ơn cứu độ của Thiên Chúa. Ơn cứu độ diễn ra ngay trong chính cuộc sống hằng ngày.

Con đường mà Phúc âm chỉ cho chúng ta để gặp Thiên Chúa không ở đâu xa nhưng nằm ngay trong lòng mỗi người. Chúa Giêsu đã đến, không bằng sức mạnh của quyền thế cũng như không phải ở nơi giàu sang. Chúa đến một cách âm thầm và đơn sơ. Con người cũng chỉ có thể gặp được Chúa khi con người biết quay về với lòng mình trong sự khiêm nhường và chiến đấu. Đời sống và lời loan báo của Gioan Tẩy Giả mời gọi ta đến gặp Chúa qua những con đường ấy.

Ta chỉ có thể gặp Chúa khi trở lại với lòng mình. Thật vậy, ơn cứu độ của Thiên Chúa không được mạc khải cho những vị lãnh đạo quyền đời và tôn giáo, nhưng được mạc khải cho một con người bé nhỏ là Gioan Tẩy Giả. Cuộc sống ồn ào náo nhiệt của đô thị phồn hoa làm cho các vị lãnh đạo không còn nhận ra lời mời gọi của Thiên Chúa. Nếp sống văn minh đô thị, tiếng kêu mời của dục vọng quá lớn làm các vị ấy không thể gặp được Chúa. Ngược lại, Gioan Tẩy Giả đã từ bỏ tất cả để vào trong hoang địa, xa rời sự náo nhiệt của thế giới bên ngoài. Chính sự tĩnh lặng của hoang địa đã giúp Gioan Tẩy Giả quay về với lòng mình. Đời sống cầu nguyện trong hoang địa giúp Gioan nuôi dưỡng bầu nhiệt huyết. Từ đó ông nhận ra lời mời gọi của Chúa. Chính sự từ bỏ và quay về với lòng mình giúp Gioan gặp được Chúa và nhận ra chương trình cứu độ của Người. Chỉ những ai dám từ bỏ, dám quay về trong sâu lắng của lòng mình trong cầu nguyện thì mới có thể nhận ra được tiếng Chúa và gặp được Người. Chính thái độ tự mãn, tự kiêu làm con người đóng kín lòng mình lại trước lời mời gọi của Thiên Chúa. Gioan Tẩy Giả sống âm thầm trong hoang địa, khiêm nhường mở lòng mình ra và đã khám phá được ý định của Thiên Chúa. Ông sống đơn sơ trong áo lông lạc đà và thắt lưng bằng dây da; ăn uống đơn sơ bằng những gì có sẵn trong hoang địa như châu chấu và mật ong.

Còn các vị lãnh đạo sống trong giàu sang, yến tiệc linh đình... Thái độ kiêu căng tự mãn làm các vị lãnh đạo quên mất cõi lòng đơn sơ và khiêm nhường của mình. Uy quyền và địa vị làm các vị quên đi lòng khiêm nhường cần có của người lãnh đạo. Gioan khiêm nhường nhìn nhận mình chỉ là tiếng kêu trong hoang địa. Nhờ vậy Gioan đã gặp được Chúa và hoàn thành sứ mạng của mình.

Ta cũng chỉ gặp được Chúa trong tinh thần phấn đấu không ngừng, chiến đấu với bản thân, trong tâm hồn của mỗi người.

"Mọi thung lũng, phải lấp cho đầy, mọi núi đồi phải bạt cho thấp, khúc quanh co, phải uốn cho ngay, đường lồi lõm, phải san cho phẳng. Rồi hết mọi người phàm sẽ thấy ơn Thiên Chúa cứu độ". (Lc 3, 5 - 6). Gioan Tẩy Giả mời gọi mọi người chúng ta hãy sửa lại cho thẳng lối đi quanh co. Lối đi ấy là cách sống của mỗi người. Có thể đó là lối sống chỉ quy về của cải, vật chất hay địa vị và quyến thế nên bất chấp tất cả. Đó cũng có thể là thái độ sống gây nên chia rẻ, bất hoà trong cộng đoàn. Sửa lại cho thẳng lối quanh co trên là một cuộc chiến cam go. Đó là cuộc chiến với lòng mình mà chúng ta chỉ có thể thắng được khi chúng ta nhận ra và dám sống yêu thương. Gioan Tẩy Giả còn mời gọi chúng ta lấp cho đầy những thung lũng và san cho bằng con đường lồi lõm trong lòng mỗi người. Thung lũng và con đường lồi lõm có thể đó là lối sống thờ ơ, thiếu tinh thần quảng đại của mỗi người. Chiến đấu với lối sống như trên đòi hỏi mỗi người chúng ta phải dám đi ra khỏi ốc đảo của lòng mình để thấy, để thông cảm và chia sẻ nhu cầu tha nhân. Để có thể lấp đầy thung lũng và sửa cho ngay khúc quang co trước hết chúng ta cần bạt đi những núi đồi lòng ta. Đó là thái độ tự mãn, kiêu căng. Chính thái độ này làm cản trở con đường Chúa đến với chúng ta cũng như tạo ngăn cách làm cho lòng ta khó gặp được Chúa và qua tha nhân.

Nghe lời Gioan kêu gọi, chúng ta dùng thời gian của mùa vọng này như là bầu khí thuận tiện để sám hối và quay về với Thiên Chúa bằng cách: sửa đường Chúa ngay cho thẳng. Ngay thẳng về tư tưởng: không có ý tưởng xấu, quanh co, gian dối, lừa đảo...Ngay thẳng về lời nói: không ăn gian nói dối, không chửi mắng. Ngay thẳng về việc làm: chu toàn tròn bổn phận hằng ngày, làm đến nơi đến chốn chứ không làm dối trá. Ngay thẳng trong tâm hồn: sống tình cảm chính đáng trong tương quan với tha nhân, không chạy theo tiếng gọi bừa bãi của con tim, nhưng giữ vững niềm tin cậy mến theo ơn Chúa gọi. Hãy lấp mọi hố sâu, mọi chia rẽ, hận thù ghen ghét...phải được lấp đầy bằng sự tha thứ hoà giải trong tình huynh đệ yêu thương. Tâm hồn trống rỗng khô khan phải được lấp đầy bằng lý tưởng yêu mến Thiên Chúa và đời sống hăng say làm việc Tông Đồ. Hãy làm cho ngay thẳng những điều quanh co, cần uốn nắn những tính tự phụ, kêu căng thích khoe khoang, coi mình hơn kẻ khác, phải sống khiêm nhường để dám sống từ bỏ tính háo danh, lợi lộc...Đồng thời, con đường ghồ ghề hãy san cho bằng, sửa chữa những tính nết xấu: cáu kỉnh, nóng nảy, nhẹ dạ, gây gỗ, nghi kỵ, ghen tương, cố chấp, ích kỷ, giận hờn, bất hoà...Sống tâm tình yêu thương của Chúa.  

Hãy lòng mừng Chúa đến. Khiêm tốn trở về với lòng mình giúp chúng ta nhận ra con người mình. Khi nhận ra con người yếu đuối bất toàn của mình thì chúng ta mới dám khiêm nhường và chạy đến với Chúa, để cầu khẩn Người sửa đổi và uốn nắn con người chúng ta. Cùng với ân thánh Chúa giúp, chúng ta dám quay lại, dám từ bỏ và sống đời sống mới, sống đức tin mạnh mẽ trong ân sủng. Như thế, chúng ta sẽ gặp Chúa trong cuộc sống và nhận ra con đường mà Người dành cho mỗi người chúng ta trong cuộc sống hiện tại.

Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con quyết tâm dọn lòng mừng Chúa đến bằng những việc thiết thực, sống đức tin và đức ái trong đời sống thường ngày của chúng con. Ước gì từng giây phút, từng nhịp đập của quả tim con là lời ca tụng Chúa, sống đẹp lòng Chúa để đón mừng lễ Chúa Giáng sinh sắp đến. Amen.

CHÚA NHẬT II MÙA VỌNG C
Lc 3, 1 - 6

"Mọi người sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa" (Lc 1,6)

Thánh Gioan Tẩy Giả là một trong những nhân vật nổi bật vào các ngày của Mùa Vọng. Bối cảnh cuộc đời và chính cách sống của ngài đã nói lên tâm tình của Mùa Vọng. Ngài đóng vai trò Tiền Hô, sống chay tịnh và kêu gọi mọi người sám hối và tin vào Tin Mừng, chuẩn bị tâm hồn xứng đáng đón Chúa Kitô, Đấng cứu độ loài người. Chúa Nhật II Mùa Vọng, Thánh Gioan Tẩy Giả mời gọi chúng ta thực hành tâm tình cầu nguyện thiết thực và sâu sắc hơn. Tâm hồn hướng về Chúa với việc dọn đường, sửa lối, lấp đầy, san bằng để có thể đón nhận ơn cứu độ của Chúa.

Lời mời gọi của Thánh Gioan nhắc lại lời của tiên tri Iasia với những từ ngữ rất tượng hình và hổn độn. Đó cũng chính là tình trạng tâm hồn của mỗi chúng ta, do khuấy động của cuộc sống bên ngoài và tội lỗi của chúng ta.

Trong cuộc sống thường ngày, chúng ta vẫn luôn có những tâm tình và thời giờ dành cho Chúa cũng như nhìn lại những gì mình đã sống, đã làm. Nhưng có lẻ chưa đủ nó còn rất nhiều thứ chi phối những tác động của môi trường bên ngoài ồn ào, bề bộn do những nhu cầu hằng ngày cũng như những cám dỗ làm cho chúng ta không trung thành với Chúa. Nhưng nhất là tình trạng tâm hồn của chúng ta với những lo toan của cuộc sống âu lo, buồn phiền và tội lỗi. Giờ đây với tâm tình Lời Chúa của Chúa Nhật II Mùa Vọng chúng ta nhìn lại chính tâm hồn mình và quyết tâm điều chỉnh lối sống của mình. Chuẩn bị, sửa sang mảnh đất tâm hồn của mình để đón Chúa để nó là nơi tốt đẹp, sạch trong cho ơn cứu độ của Chúa.

Mùa Vọng là thời gian quý báu để chỉnh sửa tâm hồn mình. Một thời gian chờ đợi trong niềm vui và tin tưởng vì chúng ta biết rằng chắc chắn ơn cứu độ sẽ dành chúng ta nếu chúng ta thật tâm quay về với Chúa. Thời gian này cũng mời gọi chúng ta dành thời giờ cho Chúa nhiều hơn, lắng động nhiều hơn và hướng lòng lên Chúa nhiều hơn.

Sống với tâm thế của một tâm hồn khao khát và ước mong thật sự Chúa đến ngự vào tâm hồn ta. Tư thế của người cầu nguyện, chờ đợi và thiện chí muốn sửa đổi đời sống của mình. Một đời sống nội tâm kết hợp với Chúa mật thiết không chỉ trong giây phút hiện tại mà còn liên lỉ trong mỗi ngày sống và suốt hành trình đời người của chúng ta.

LÀM NGƯỜI DỌN ÐƯỜNG ÐÓN CHÚA 
Lc 3, 1- 6

Hàng năm, cứ vào Mùa Vọng là chúng ta có dịp nhắc nhiều đến Gioan Tẩy Giả, người dọn đường cho Đấng Cứu Thế ngự đến.

Gioan tẩy giả sống trong thời kỳ đất nước Do thái bị chia năm xẻ bảy, chịu sự cai trị của những kẻ thân Rôma, ngay cả vị thượng tế cũng do Rôma đặt lên chứ không phải là người xứng đáng trong hàng tư tế được bầu chọn! Chính lúc đó, Thiên Chúa kêu gọi Gioan Tẩy Giả đi dọn đường cho Đấng Cứu Thế.

Bên dòng sông Giođan, Gioan Tẩy Giả kêu gọi mọi người lấp mọi hố sâu hằn thù ghen ghét, bạt đi những kiêu căng tự phụ, chỉnh sửa lối sống mình cho ngay chính và nhận phép rửa tỏ lòng sám hối.

Chắc chắn, thánh Gioan Tẩy Giả đã gặp nhiều khó khăn trong nhiệm vụ tiền hô vì trong dân Do thái có quá nhiều phe phái với chủ trương có phần trái nghịch nhau: Phái Sađôc phần lớn thân Rôma, họ không tin vào sự sống lại và chỉ lo tìm chức tước, quyền lợi của Rôma ban bố hơn là lo cho dân nước. Trong khi đó, Biệt Phái và Luật sĩ công nhận có đời sau nhưng lại kiêu căng mù quáng, họ quá tự hào về sự chính thống của mình, cho rằng mình hiểu biết lề luật và đạo đức hơn mọi người nên chẳng cần nghe ai. Chính Chúa Giêsu nhiều lần cảnh cáo về sự kiêu căng và giả hình của họ trong đời sống đạo nhưng họ bịt tai, nhắm mắt trước những lời giảng dạy của Ngài! Ngoài ra còn phe theo hêrôđê, phe theo đế quốc Rôma và những nhóm chủ trương giải phóng dân tộc.

Giữa những phức tạp của xã hội đó, Gioan Tẩy Giả tẩy giả đươc kêu mời làm người dọn đường, giúp mọi thành phần dân Do thái biết trở về với Chúa , biết hoán cải thật lòng để xứng đáng đón Đấng Thiên Sai ngự đến. Thánh Gioan Tẩy Giả tẩy giả đã đón nhận một nhiệm vụ hết sức khó khăn, không đơn giản chút nào. Thế nhưng, Gioan Tẩy Giả xem ra không lo sợ trước những khó khăn đó vì ngài đã dâng trót thân mình cho Chúa và công cuộc dọn đường này. Từ lúc thiếu thời, ngài đã tôi luyện mình trong hoang địa, đêm ngày cầu nguyện, ăn chay, từ bỏ mọi quyến luyến thế gian, bỏ của cải vật chất, danh vọng và cả gia đình vì bổn phận Tiền Hô. Trong dòng nước Giođan, ngài đã giúp cho biết bao người sám hối trở về cùng Chúa . Tuy nhiên, cũng chính vì nhiệt tình với luật Chúa mà ông phải thiệt thân. Ông đã không ngần ngại nói sự thật về tội của Hêrôđê và mong vua hoán cải, nhưng vua đã không nghe, lại còn ỷ quyền ỷ thế tống giam Gioan Tẩy Giả vào ngục và chiều theo ý mụ hêrôđiađê mà giết người công chính.

Gioan Tẩy Giả đã hết mình chu toàn nhiệm vụ dọn đường cho Đấng Messia và ông làm chứng cho Chúa bằng mạng sống của mình.

Đối với chúng ta ngày hôm nay, chúng ta cũng được Chúa kêu mời làm những Gioan Tẩy Giả trong thời đại hôm nay, chúng ta cũng có bổn phận sống gương mẫu để kêu mời mọi người đến với Chúa , chúng ta hãy là những tiếng kêu cho mọi người thức tỉnh, biết hoán cải thật lòng để xứng đáng đón Chúa ngự đến lần thứ hai trong uy quyền và vinh quang.

Để tiếng kêu của chúng ta được rõ ràng và mạnh mẽ, chúng ta hãy gia tăng cầu nguyện, sửa đổi chính mình, hãm dẹp tính hư tật xấu và nhất là tập các nhân đức như bác ái, khôn ngoan, tiết độ...để chúng ta mỗi ngày một nên giống Chúa Giêsu hơn. Đó cũng là những món quà chúng ta dâng lên Chúa Hài Đồng trong dịp lễ Giáng Sinh sắp tới.

MẪU GƯƠNG MÙA VỌNG 
Lc 3, 1 - 6

Ba nhân vật tiêu biểu cho tinh thần mùa vọng là ngôn sứ Isaia, ngôn sứ Gioan.B và Đức Trinh nữ Maria. Và trong mùa vọng ta thấy kinh tiền tụng số 2 ca lên rằng: "Người là Đấng các tiên tri loan báo, Đức Mẹ Đồng Trinh đã cưu mang với tình y6eu khôn tả, thánh Gioan đã loan tin sắp đến và đã chỉ cho thấy khi xuất hiện". Nếu xét về tầm quan trọng thì GB là khuôn mặt nổi hạng nhì của mùa vọng. Chính phúc âm cho ta biết về thời thế xã hội khi ông ra đời, cho ta hiểu gia cảnh thân thế và chức vụ của ông"Tiền hô" làm nổi bật lên sứ điệp ông rao giảng. Ông đi khắp vùng ven sông rao truyền sự ăn năn thống hối, làm phép rửa. Nhất là chấp nhận bị lãng quên, và ví mình như một ngọn đèn bị lu mờ để Đấng Cứu Thế sáng lên. Đời sống của ông hầu hết là ẩn dật trong hoang địa và chỉ xuất hiện khi sứ mệnh đòi hỏi, để rồi lại tự xóa mình đi khi sứ mệnh chấm dứt. Ông thật chẳng khác nào một tiếng kêu nơi hoàng địa, vẳng lên không trung để rơi vào hư vô. Nếu nhìn toàn bộ cuộc đời của Gioan.B ta dễ dàng nhận thấy cả đời ông là chứng nhân cho Chúa Kitô và kêu gọi người ta ăn năn sám hối trở về với Chúa. Tất cả những công việc của Gioan.B làm cũng chỉ nhằm "dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi". GB thật là mẫu gương tuyệt vời cho chúng ta chiêm ngắm qua hành động:

1. Kêu gọi thống hối

Phép rửa của GB tuy không phải là Bí Tích nhưng nó cũng có giá trị thật lớn lao. Phép rửa đó chính là dấu chỉ của lòng thống hối. Nếu con người không khước từ những khuynh hướng tội lối, không làm một cuộc đổi thay hoàn toàn đưa đến việc trở lại, và không thể đón nhận được Đấng Cứu Thế nếu không có lòng ao ước, không có sự thống hối như đòi buộc bước đầu. Vì sự thống hối là cốt lõi của ơn cứu Độ. Đó là một đòi hỏi mà con người không bao giờ muốn tự ý nhắc nhở mình, nhưng lại rất cần thiết cho họ

2. Sửa đường cho ngay thẳng

Lời Tin Mừng được chen vào như để làm trọn lời ngôn sứ Isaia: "Hãy dọn đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để người đi. Mọi thung lũng, phải lấp cho đầy, phải bạt cho thấp, khúc quanh co phải uốn cho ngay đường lồi lõm phải sang cho thẳng. Rồi hết người phàm sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa". Bản văn ngôn sứ bàn về việc tái trở về từ nơi lưu đày của dân Do Thái. Giavê trở lại dẫn đầu dân Ngài trong sa mạc để vào đất hứa. Vì thế, đám rước khải hoàn đi qua thì đường sá phải bằng phẳng, không còn ghồ ghề nữa. Đến lúc này, lời tiên tri đã nên trọn vẹn với một ý nghĩa cao cả và nặng về tinh thần hơn. Nó không còn nói về sứ sở hay chỉ về con đường trần tục, mà nói về một hành trình thiêng liêng. Con người đã thoát khỏi cảnh lưu đày tội lỗi lên đường về Nước Chúa với một thái độ cương quyết, vá chính Đức Giêsu Đấng Cứu Thế sẽ dẫn đầu đoàn rước. Vì thế con đường thiêng liêng ắt hẳn sẽ phẳng lì, do việc sử soạn tinh thần và tâm hồn. Do đó, mà ta không có gì ngạc nhiên sau lời kêu gọi của GB dân chúng đã bị lay chuyển và lũ lượt kéo đến với Ngài.

3. GB mẫu gương trong mù vọng

Sau khi nghe tiếng "" của GB người ta đã lũ lượt kéo đến với ngài. Còn chúng ta ngày nay không những chỉ kéo đến với ông, mà còn phải trở nên giống ông, để trông chờ Chúa và được đón rước Chúa. Người Kitô hữu cũng phải bắt chước như ông GB vậy. Ai muốn tìm gặp Chúa mà không phải lui vào sa mạc của tâm hồn để nghe Chúa nói rót vào lòng, giữa thinh lặng? Ai muốn gặp Chúa mà không phải noi gương GB, sống bản tính khắc khổ. Ai muốn được chiếm hữu Thiên Chúa mà không phải bắt chước GB, xóa bỏ con người cũ tội lỗi của mình đi? Ai muốn được kết hợp với Chúa mà không phải mô phỏng GB, để hy sinh mạng sống mình vì Chúa, vì chân lý, vì anh em. GB là ngôn sứ được Chúa khen thưởng bởi đã sống khiêm tốn, khắc khổ, âm thầm, đã nhiệt tình rao giảng sự ăn năn thống hối, đã chấp nhận hy tình cảm và mạng sống để dọn đường cho Chúa ngự đến. Tóm lại, mầu nhiệm GB đang còn tiếp tục nơi trần thế, vì ông là gương mẫu cho ta trong mùa vọng nói riêng, và cả trong cuộc đời trông đợi Chúa nói chung.

Lạy Chúa, trong một xã hội bon chen nhiều náo động. Xin cho con biết học theo GB, biết ăn năn thống hối, biết rửa sạch tội lỗi, đổi mới tâm hồn để đón Chúa trong mùa vọng này. Amen

HÃY DỌN LÒNG NGAY THẲNG! 
Lc 3, 1- 6

Trong những ngày gần đây, chúng ta nghe tin tức trên các đài phát thanh, trang báo đều nói về những việc chuẩn bị cho ngày đại lễ Giáng sinh sắp tới. Nhiều nước trên thế giới đang chuẩn bị thật tốt để mừng lễ Giáng sinh. Người ta chuẩn bị các cây thông và còn trang trí trên đó nhiều đèn đèn sao, thiệp mừng, quà mừng giáng sinh... Các cửa tiệm cũng đã bày bán đầy những món hàng phục vụ cho dịp lễ Giáng sinh, nào là thiệp chúc mừng Giáng sinh đủ màu đủ loại, rồi cây thông, đèn sao, tượng Chúa để làm hang đá, rồi đèn màu, đèn chớp, rồi những kiểu chữ Noel, chữ mừng Chúa Giáng sinh, rồi những dây treo đủ màu lấp lánh. Rồi cũng phải kể đến những chiếc mũ Noel, những bộ quần áo để làm ông già Noel... rồi trong các tiệm bánh cũng đã có bánh Sinh nhật, ai muốn chọn loại nào thì họ có đủ để cung cấp loại đó...

Những tin tức nghe được, và ở ngoài xã hội, người ta đã chuẩn bị mừng lễ Giáng sinh rồi, đặc biệt các nhà kinh doanh họ đã chuẩn bị cho lễ Giáng sinh từ lâu rồi, chuẩn bị một cách chu đáo, chuẩn bị bằng nhiều công sức, và còn phải đầu tư vào đó với rất nhiều tiền bạc.

Ngoài xã hội, người ta đã đầu tư vào dịp lễ Giáng sinh với nhiều công sức như vậy, còn chúng ta, chúng ta đã vào mùa vọng được một tuần rồi, vậy chúng ta có chuẩn bị gì cho lễ Giáng sinh của chúng ta chưa ?

Còn các họ đạo Công gáo mừng lễ Giáng sinh cũng lớn lắm, nào là làm văn nghệ, làm nhạc cảnh canh thức, nào là rước kiệu Chúa Hài đồng cách trọng thể, nào là làm lễ ngoài trời. Cũng có họ đạo chỉ tổ chức lễ đơn sơ hơn tổ chức vài ngày cho giáo dân xưng tội, làm hang đá, treo cờ, treo đèn sao là được rồi. Như vậy, có họ đạo thì mừng Giáng sinh thật lớn, có họ đạo cũng chỉ mừng lễ Giáng sinh đơn sơ vậy thôi.

Hôm nay, đọc qua bài Phúc âm, chúng ta thấy Lời Chúa đã hướng dẫn chúng ta một cách thức để chúng ta chuẩn bị lễ Giáng sinh cho thật đúng , cách thức đó đã được Thánh Gioan nói lại lời của tiên tri Isaia một cách rõ ràng rằng :"Hãy dọn đường cho Chúa ngự đến,hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng,những thung lũng sâu, hãy lấp cho đầy,những núi đồi hãy bạt xuống,những khúc quanh co, hãy làm lại cho ngay thẳng,và mọi chỗ lồi lõm, hãy sửa lại cho bằng". Như vậy, cách thức mà Thánh Gioan nói tới ở đây, là dọn những con đường cho Chúa ngự đến, mà phải dọn những con đường đó cho ngay thẳng, nhưng những con đường phải dọn, đó là những con đường nào ? Đó chính là những con đường để mỗi người chúng ta đi đến gặp gỡ Chúa, và cũng là những con đường để chúng ta đi đến gặp gỡ những anh chị em của chúng ta. Vậy thì phải dọn những con đường đó như thế nào ? như Thánh Gioan đã gợi trong bài Phúc âm thì :

  • Trước hết, những thung lũng sâu, hãy lấp cho đầy, nghĩa là hãy lấp đầy những hố sâu là sự ngăn cách giữa tôi và tha nhân, lấp đầy những ngăn cách do mặc cảm tội lỗi, do hận thù, do tranh chấp với nhau, lấp đầy những ngăn cách do đầu óc bè phái, do ganh tỵ, do phân biệt giai cấp, do sự chênh lệch về giàu nghèo.
  • Tiếp đến, Thánh Gioan kêu gọi mỗi người hãy bạt xuống những đồi núi, nghĩa là hãy bạt xuống những đồi núi của tính kiêu căng, của sự tự mãn, của thói giả hình giả bộ ; rồi cũng phải bạt xuống những núi đồi của thành kiến, của sự "ta đây", của lòng tự ái, của sự hơn người, của óc kỳ thị khinh bỉ kẻ khác.
  • Tiếp theo nữa, Thánh Gioan kêu gọi hãy sửa lại cho ngay thẳng những khúc quanh co, sửa lại, có nghĩa là hãy dẹp bỏ mọi trở ngại trên lối đi, dẹp bỏ mọi ngăn cách, dẹp bỏ mọi lối suy nghĩ quanh co, dẹp bỏ những tính toán sai lầm, dẹp bỏ mọi cái nhìn sai lạc về người khác.
  • Cuối cùng, Thánh Gioan cũng kêu gọi, hãy sửa lại cho bằng mọi chỗ lồi lõm, những chổ lồi lõm đó, chính là những sự chênh lệch giữa người với người, đó cũng là những lối phân biệt trong đối xử, đó là những sự chênh lệnh giữa những người không cùng giai cấp, địa vị trong xã hội. Sửa lại cho bằng phẳng, tức là mở lối cho Chúa đến với tôi, mở lối cho tôi đến với Chúa ; mở lối cho mọi anh chị em đến được với tôi, và cũng là mở lối để tôi đến được với mọi anh chị em trong tình yêu thương chan hòa.

Trong cuộc sống thường ngày của mỗi chúng ta, thường có rất nhiều những hoàn cảnh trái ngang, làm cho con người thường hay hiểu lầm và nghi kỵ lẫn nhau, có khi đối với những người mà chúng ta thân thích nhất, trong cả môi trường mà chúng ta thấy thân thuộc nhất.

Trong Mùa Vọng, nhiều người nghĩ đến việc chỉ cần đi xưng tội trước lễ Giáng sinh thì tôi đã dọn được một đại lộ rộng thênh thang, tha hồ mà đi thoải mái trên đó để vui với lễ Giáng sinh. Nhưng khi nhìn lại, thì ta mới thấy được rằng : trong cuộc sống này, không phải chỉ có đi xưng tội là xong, nhưng chúng ta còn phải dẹp bỏ những chướng ngại trên con đường đi, nhưng đến nay vẫn còn thiếu những con đường ngay thẳng, vẫn còn rất nhiều những núi đồi kiêu căng, còn rất nhiều những hố sâu ngăn cách giữa người với người... Trái lại, càng ngày lại càng xuất hiện thêm những con đường cong queo, những con đường ngoằn ngoèo, những con đường giả dối, những con đường chia rẻ có từ trong thẳm sâu cõi lòng của các con người trong xã hội...

Xin Chúa cho chúng ta luôn biết nghe theo lời của Thánh Gioan trong bài Phúc âm hôm nay là "Hãy dọn đường Chúa", để chúng ta can đảm dẹp bỏ mọi con đường quanh co, để từ tôi đến với Chúa, từ tôi đến với mọi anh chị em sẽ có những con đường thẳng tắp, để rồi tất cả chúng ta đều đến được với nhau trong yêu thương hoà thuận, và trong tình nghĩa thật chân thành.

Lạy Chúa Giêsu, xin Chúa mau đến với chúng con. Amen.

DỌN ĐƯỜNG ĐÓN CHÚA
Lc 3, 1- 6

Chúa Giêsu đã từng công khai tuyên bố với mọi người: "Thầy là Đường". Ngài là con đường dẫn đưa con người đến với Thiên Chúa. Đồng thời, Ngài cũng là con đường để Thiên Chúa đến với con người. Con đường Chúa đến với con người là con đường từ "trái tim đến trái tim". Bởi lẽ, Thiên Chúa là Tình yêu. Thánh Gioan Tẩy giả loan tin cho mọi người hãy chuẩn bị con đường cho Chúa đến. Con đường đó chắc chắn phải là con đường tình yêu. Vì Gioan tẩy Giả đã loan báo rằng: "Hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng, hãy lấp mọi hố sâu và hãy bạt mọi núi đồi; con đường cong queo hãy làm cho ngay thẳng; con đường gồ ghề hãy san cho bằng" (Lc3,4-5). Con đường Chúa đi là con đường bằng phẳng của tình yêu; không có hố sâu của chia rẽ của hận thù, không có núi đồi của sự cố chấp, kiêu căng, tự mãn; không có chỗ quanh co của tội lỗi và không có chỗ gồ ghề của những tính mê nết xấu cáu kỉnh, nóng nảy, nhẹ dạ, ghen tương, bất hòa, tranh chấp . . . Khi con đường không còn những chướng ngại vật đó nữa thì đó quả là con đường của tình yêu, con đường được lót bằng hoa thơm của lòng bát ái yêu thương, rất êm ái và mát mẻ. Chúa sẽ đến với từng người chúng ta bằng con đường như thế và Ngài cũng sẽ dẫn dắt chúng ta đi trên con đường ấy để về lại Nhà Cha trên trời.

Khi yêu thương nhau rồi, con người ta sẽ có nhiều sáng kiến hay và tuyệt vời lắm . Người ta kể về sáng kiến độc đáo của một nông dân như sau. Ngày nào người nông dân cũng phải khàn cả tiếng để đuổi đám gà của những người hàng xóm chúng cứ chui qua hàng rào vả bới nát cả vườn tược của ông. Người nông dân này đã xin những người láng giềng vui lòng nhốt gà lại. Thế nhưng không ai thèm chú ý đến lời yêu cầu của ông, đám gà cứ thản nhiên chui qua hàng rào và phá nát hoa màu của ông ta. Là một con người ưa chuộng hòa bình, người nông dân không muốn ăn miếng trả miếng. Ông liền nghĩ ra một giải pháp độc đáo: ông đi mua một ít trứng gà, cho vào trong giỏ và cứ vài ngày lại mang sang cho những người láng giềng và giải thích rằng đó là trứng mà đám gà của họ đã đẻ trong vườn của ông. Ông làm như thế liên tiếp ba lần, và quả thật kết quả đã diễn ra nhanh chóng: Chỉ trong một tuần lễ người láng giềng nào cũng rào dậu cẩn thận để giữ không cho gà của mình sang đẻ bên nhà bác nông dân nữa. Chỉ mất một ít trứng gà mà người nông dân đã tránh được những tranh chấp vô ích có thể làm sứt mẻ tình hàng xóm láng giềng.

Ng ười biết tạo dựng tinh thần hòa thuận và yêu thương nơi mọi người chính là hình ảnh của người dọn đường cho Chúa ngự đến. Anh nông dân trong câu chuyện mà chúng ta vừa nghe quả đã có một sáng kiến tình yêu rất tuyệt vời. Anh chính là mẫu gương rất đẹp về hình ảnh của người dọn đường đón Chúa ngự đến. Xây đắp tình thương, tạo sự cảm thông và tha thứ cho nhau mới là khó; còn đạp đổ và phá hủy thì dễ dàng lắm! Chúa Giêsu là Đấng không muốn "dập tắt tiêm đèn còn leo lét khói, không nở bẻ gãy cây lao bị giập". Ngài cũng muốn mời gọi mọi người chúng ta hãy dùng mọi khả năng Chúa ban để kiến tạo sự hòa thuận và xây đắp tình yêu.

Nhưng trong thực tế, con người ngày nay xem ra không thích giải hòa với nhau khi có những bất đồng xảy ra, mà chỉ muốn chiến tranh, thích trả thù, thích dùng bạo lực để giải quyết những bất đồng đó. Thung lũng sâu của sự thù hằn trong lòng con người xem ra ngày càng quá rộng, quá sâu, khiến nhiều người không thể ngồi lại với nhau nhưng có khuynh hướng muốn loại trừ mà thôi. Thế giới ngày nay tuy văn minh, tiến bộ về khoa học kỹ thuật, nhưng là một thế giới bất ổn hơn bao giờ hết. Tệ nạn khủng bố, đánh bom tự sát, xử nhau theo kiểu Mafia . . .đang lan tràn lan khắp nơi trên thế giới. Ở Việt Nam, nạn xã hội đen, đâm thuê chém mướn diễn ra hằng ngày nơi những khu dân cư đông đúc. . . Gần đây nhất (ngày 27/11/2009) là vụ đánh bom trong chiếc xe lửa dài 14 toa ở nước Nga, một đất nước được coi là "quốc gia hòa bình", đã cướp đi sinh mạng của 40 người và 130 người khác bị thương! Hố sâu nơi tâm hồn con người xem ra quá rộng, quá sâu, quá đen tối!

Trong lớp bồi dưỡng kiến thức Quốc Phòng - An Ninh dành cho các nhà chức sắc, nhà tu hành vừa được tổ chức tại Tỉnh Bến Tre vừa qua, người ta đánh giá rằng: những xứ đạo có đông người có đạo như Cái Mơn chẳng hạn, thì tệ nạn xã hội ít xảy ra, nhất là tệ nạn hành xử theo lối xã hội đen. Nghe điều đó, tôi rất mừng và rất hãnh diện vì những người con cái Chúa sống tốt lành như thế. Đó là những tấm gương sáng, là ngọn đèn soi rọi vào chốn tối tăm của thế giới hôm nay. Chúng ta hãy tiếp tục là ánh sáng cho trần gian như lời Chúa Giêsu đã nói với chúng ta: "Các con là muối đất, là ánh sáng của thế gian". Chúng ta hãy siết chặt tay nhau để xây đắp hòa bình và yêu thương. Chúng ta hãy tiếp tục chiếu sáng như "những vì sao trên bầu trời" vào một thế giới sa đọa và tối tăm. Hãy trở thành những người mở đường và dọn đường cho Chúa ngự đến- con đường của TÌNH YÊU!

CHÚA NHẬT II MÙA VỌNG
Lc 3, 1-6

Anh chị em thân mến.

Trong thời gian gần đây, chúng ta nhìn thấy những con đường đã được mở rộng, cảnh quang đô thị mỗi ngày được đổi mới, trật tự giao thông cũng được chỉnh đốn tốt đẹp hơn. Để có được quang cảnh như thế, chắc anh chị em biết, có nhiều người phải hy sinh. Trước tiên là những người buôn bán trên vỉa hè, kế đến là những ngôi nhà lấn chiếm lòng lề đường, còn những ngôi nhà trước kia được ở hợp pháp, nhưng vì ích lợi chung của xã hội, giờ đây cũng phải chịu nhường bước để cho con đường được ngay thẳng, được mở rộng tốt đẹp. Chính vì những hy sinh, phải di dời, phải tháo dở, phải dẹp bỏ đi những gì cản trở, mà chúng ta mới có được quang cảnh tốt đẹp của ngày hôm nay. Nếu mọi người cứ ngoan cố, cứ tùy tiện lấn chiếm, không muốn theo trật tự chung; thử nghĩ xem, xã hội sẽ như thế nào.

Trong tâm tình của mùa vọng, Gioan xuất hiện, kêu gọi mọi người ăn năn sám hối để được ơn tha tội. Ngài mượn lời Ngôn Sứ Isaia:

" Hãy dọn đường Chúa, hãy sữa đường Chúa cho ngay thẵng, Thung lũng phải lấp cho đầy, núi đồi hãy bạt xuống, Đường quanh co hãy sữa cho ngay, Đường lồi lõm hãy san cho bằng " .

 Gioan kêu gọi mọi người chuẩn bị đón tiếp Thiên chúa qua việc chuẩn bị con đường tâm hồn, không để một chướng ngại vật nào làm ngăn bước đi của Thiên Chúa đến với tâm hồn của mỗi người.

Chúng ta đang sống trong một xã hội ngày càng văn minh hơn, trật tự hơn. Đó là vì con người ngày càng sống có xã hội tính nhiều hơn, biết từ bỏ đi những gì là riêng tư không cần thiết. Chính vì thế mà con người ngày càng đến với nhau dễ dàng hơn

Nhưng ngày hôm nay, Thiên Chúa muốn đến với con ngưới có dễ dàng không? Thiên Chúa muốn đến với từng người trong chúng ta, Ngài muốn viếng thăm, an ủi, yêu thương và đem chúng ta về với Ngài.. Nhưng không biết bao nhiêu chướng ngại vật, bao nhiêu rào cản, bao nhiêu vực thẩm ngăn cách, khiến Ngài không thể đến gần tâm hồn chúng ta được. Cứ nhìn vào cuộc sống đã qua của mỗi người, chúng ta sẽ thấy tại sao Chúa không thể đến với tâm hồn của mình được.

Trong tâm hồn chúng ta, có những dãy trường sơn ngăn cách ngọn gió yêu thương, che chắn những cơn mưa hồng ân mà Thiên Chúa muốn tưới xuống tâm hồn khô cằn của chúng ta. Những ngọn núi cao ngất ngưởng cũng che chắn không cho chúng ta nhìn thấy được ánh sáng chân lý, không cho chúng ta hưởng được hơi nắng ấm của tình yêu thương đồng loại qua những người bên cạnh. Đó là những ngọn núi cao của tự phụ kiêu căng. Tự phụ về con người của chính mình, cho dù chúng ta chẵng có gì đáng tự phụ. Tự phụ về những gì mình đang có, cho dù những thứ đó xét cho cùng chẵng đáng là gì. Đôi khi còn tự phụ về những điều mình không có, nhưng do trí tưởng tượng vẽ nên, hoặc do người khác gán ghép cho mà chúng ta cảm thấy vui thích mặc dù những điều không có thật, nhưng không muốn từ chối nó. Chính những thứ đó đã che chắn, bao vây không cho chúng ta nhìn thấy Chúa và làm cho Chúa không thể nào đến gần chúng ta được .

Còn những hố sâu ngăn cách của sự nghi kỵ, hận thù, tìm cách loại trừ nhau. Những hố sâu của sự ích kỷ hẹp hòi. Đó là những hố sâu khi chúng ta lo sợ hao tốn đi một chút sức lực, của cải, quyền lợi, để rồi chỉ biết có mình và không bao giờ có thể nhìn thấy Chúa trong những người anh em, thì làm sao chúng ta có thể tiếp nhận, nhưng rất nhiều lần đã xua đuổi , loại trừ khi Chúa đến với chúng ta qua những người anh em thân cận.

Tâm hồn chúng ta có là một con đường thẳng, hay toàn là những khúc quanh co gập ghềnh, với những toan tính mưu mô để lừa lọc, để che giấu, để hại ngưới khác. Với con đường như thế thì làm sao Chúa có thể thong dong mà đến với tâm hồn mỗi người chúng ta.

Lời kêu gọi của gioan Tẩy giả từ 2000 năm qua vẩn còn vang động, khẩn thiết và cấp bách cho những con người của thời đại hôm nay, cho từng người trong chúng ta: " Hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng để Người đến " .

Chúng ta cùng nhau cầu xin Chúa cho chúng ta biết chuẩn bị tâm hồn, biết sửa đổi con người của mình thật sự, để xứng đáng đón rước Chúa.

CON ĐƯỜNG TÂM HỒN
Lc 3, 1-6

"Hãy dọn đường cho Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi... rồi hết mọi người sẽ thấy ơn Thiên Chúa cứu độ" (Lc 3, 4-6)

Trên đời này, nói về đường đi, có rất nhiều từ để diễn tả về : "đường đi"như: đường nhựa - xa lộ - quốc lộ - đường sông - đường biển - đường núi - đường đèo - đường nhỏ - đường đất - lối đi - lối mòn (đường rất nhỏ) ....

Cũng có một con đường siêu nhiên, theo nghĩa tinh thần: đó chính là con đường tâm hồn, là cách sống, cách ở đời .... Vd. như nói: anh chàng đó khi xưa là tay đầu trộm đuôi cướp, nhưng nay đã bỏ đường xấu, đường tà mà theo đường chánh, đường sáng rồi; tất nhiên muốn nói anh chàng này nay đã sửa đổi cuộc sống, ăn ngay ở lành rồi... Con đường này chính là con đường ngày xưa, cách nay 20 tk, thánh Gioan Tiền Hô đã kêu mời mọi người đi theo, mời mọi người chuẩn bị con đường đó để đón mời Đấng Cứu Thế đến. Mỗi năm khi Mùa Vọng đến, ta đều nghe vang lời kêu mời này. Kính mời anh chị em cùng suy niệm.

a. Mùa Vọng là mùa Hội Thánh kêu mời chúng ta sẵn sàng, chuẩn bị, dọn đường cho Đức Kitô ngự đến, không phải dọn dẹp làm Máng cỏ bên ngoài cho đẹp, sạch sẽ, điều cần hơn cả là dọn con đường tâm hồn mình... Thánh Gioan Tiền hô chính là người đi trước dẫn đường, người hô vang lên trong sa mạc: hãy dọn đường cho Chúa, hãy sửa lối Người đi cho ngay thẳng. chính thánh Gioan đã thực hiện lời đã được loan báo trước từ tiên tri Isaia, cách đó 8 tk.... Thường người ta giải thích: Mùa Vọng là mùa trông đợi Đấng Cứu Thế đến; giải thích như thế chưa đủ, vì Mùa Vọng không phải chỉ có ý nghĩa trông chờ Đấng Cứu Thế mà thôi, mà còn phải là mùa của mọi người , khi muốn nhận Đấng Cứu Thế, phải dọn con đường tâm hồn của mình trước, như lời Isaia nói: thung lũng phải lấp đầy, núi đồi phải bạt xuống, quanh co phải uốn cho ngay, lồi lõm phải ban cho bằng.... và khi mọi việc chuẩn bị xong, mọi người sẽ được thấy ơn cứu độ...

b. Có một số câu hỏi: Gioan Tiền Hô đã loan báo 20 tk rồi, lời loan báo đó ngày nay còn thực tế không, có cần thiết không? Đức Kitô đã đến 20 tk rồi, vậy tại sao hôm nay vẫn phải chờ đón, không lẻ chúng ta chỉ chờ đón Ngài trong đêm Giáng sinh thôi sao?

Thực ra, lời loan báo này của Thánh Gioan Tiền hô, đã vang động từ 20 tk qua, vì thế có người đã nại vào đó mà nói: nó cũ kỹ quá rồi, nhất là hôm nay nhân loại đã lên tới Mặt trăng, và còn sửa soạn lên Sao Hỏa nữa, phải nói cái gì mới hơn chứ! Lời loan báo này lại nói về Đức Kitô sẽ đến, nhưng mà Ngài cũng đã đến trong lịch sử, trong trần gian từ lâu rồi, cả 2000 năm nay, vậy hôm nay ta cần gì phải nói lại?

Để trả lời cho các vấn nạn trên có hai câu hỏi tôi muốn đặt ra cho người hoài nghi lời loan báo của Gioan, đó là: 1. Đức Kitô đã đến rồi, nhưng Người có đến với bạn, đến trong tâm hồn bạn không? 2. Thánh Gioan đã loan báo: hãy dọn đường cho Chúa đến, thực ra câu này bạn nghe gần nhàm tai, nhưng bạn đã dọn đường để Chúa đến chưa? Hay bạn đã dọn thế nào rồi?

c. Gợi ý sống và chia sẻ:

* Đức Kitô đã đến rồi, không phải chỉ đến sau Mùa Vọng, nhưng cụ thể nhất là Người có đến trong bạn trong tôi không?

* Thánh Gioan đã loan báo: hãy dọn đường cho Chúa đến...có phải vì cố chấp, lầm lạc mà tôi cho rằng lời loan báo này xưa cũ quá, hay là tại tôi không muốn dọn đường tâm hồn cho Chúa đến? Thực tình tôi có muốn không?

* Tôi đã dọn đường cho Chúa đến thế nào? Tôi có muốn bạt núi đồi xuống là tính kiêu căng tự phụ không? Tôi có muốn lấp đầy thung lũng là những ước muốn, đam mê xác thịt không? Đường nẻo quanh có, tôi có muốn sửa cho ngay, đó là các tội gian tà, tham lam, ganh tị, xảo trá không?

DỌN ĐƯỜNG
Lc 3, 1-6

Một đất nước được coi là phồn thịnh, một thành phố được xem là phát triển thì một trong những yếu tố mà người ta đánh giá đó là hệ thống giao thông của đất nước đó, của thành phố đó có thông thoáng và hiện đại không? Để chuẩn bị đón một nhân vật quan trọng đến thăm đất nước hay một thành phố nào đó thì người ta phải chuẩn bị nhiều thứ : an ninh công cộng, vệ sinh môi trường, giao thông đi lại.... Thế nên chuẩn bị đón Chúa trở lại ta cũng phải dọn con đường trong tâm hồn cho quang đãng, bằng phẳng để Chúa có thể đến được với tâm hồn ta.

Chủ đề của Chúa Nhật trước, Chúa Nhật thứ I Mùa Vọng mời gọi ta chuẩn bị sẵn sàng, tỉnh thức chờ đón Chúa trở lại. Tin Mừng thánh Luca hôm nay cho ta thấy cách thức đón Chúa trở lại theo lời rao giảng của Gioan Tiền hô là hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi, mọi thung lũng hãy lấp cho đầy, mọi núi đồi phải bạt cho thấp, khúc quanh co phải uốn cho ngay, đường lồi lõm phải san cho phẳng. Con đường mà Gioan kêu gọi hãy sửa lối đó chính là tâm hồn mỗi người chúng ta. Thế ta phải chuẩn bị thế nào để đón Chúa? Thiết tưởng có nhiều cách thế nhưng ở đây tôi chỉ đưa ra 3 cách thế tiêu biểu.

Thứ nhất: Hãy hoán cải. Hoán cải là đổi chiều, là từ bỏ con đường lầm lạc để quay về nẻo ngay. Gioan mời gọi hãy dọn có hoang đãng con đường tâm hồn, dọn sạch những vướng víu của những đam mê, sửa cho thẳng những quanh co gian dối, lấp cho đầy những tỵ hiềm ghen ghét, bạt cho phẳng những ích kỷ tự kiêu...Nhưng để được hoán cải trước tiên phải là một ân ban của Thiên Chúa sau là con người thật của mình. Thiên Chúa thì luôn tha thứ cho con người nên việc hoán cải tùy thuộc vào mỗi người chúng ta. Hoán cải phải được thực hiện liên lỷ vì khi còn sống trong thân xác ta vẫn còn phải chiến đấu với ba thù đang rình rập chống lại ta. Hoán cải chính là nhận ra con người thật của mình.

Thứ hai: Thiên Chúa muốn cho mọi người được ơn cứu độ. Thiên Chúa hằng yêu thương con người, Người chẳng bao giờ khước từ đến cư ngụ trong tâm hồn người khao khát. Đây là một ý thức quan trọng vì ta được nên tốt không phải bởi công nghiệp ta lập được nhưng là do lòng nhân từ của Thiên Chúa. Lễ vật của Abel không được chọn vì Abel công chính nhưng Abel công chính vì đã được chọn. Thế nên, ơn gọi người Kitô hữu là ơn gọi nên thánh trong bậc sống, trong hoàn cảnh của mình nhờ ơn Chúa trợ giúp. Chắc chắn với tấm lòng quảng đại Thiên Chúa sẽ lấp đầy những yếu đuối còn thiếu trong ta.

Thứ ba: Sống chứng nhân cho thời đại. Gioan đã có một thời gian dài cô tịch trong hoang địa để đón nhận Lời Chúa và hôm nay ông rao giảng cho những người cùng thời với ông. Ông đã thâm tín lời dạy của các tiên tri xưa hôm nay ông nhắc lại. Giống như ơn gọi của Gioan, ơn gọi Kitô hữu của chúng ta là trở nên chứng nhân cho thời đại chúng ta. Con người ngày nay muốn nhìn thấy những chứng nhân hơn là những thầy dạy suông. Thế nên cách thế để đón Chúa trở lại là cầm đèn sáng chính là thực thi ý Chúa trong đời sống hằng ngày và chiếu tỏ ánh sáng đó cho mọi người chung quanh.

Lời Chúa hôm nay mời gọi ta hãy hoán cải tâm hồn, sửa đổi những quanh co, lồi lõm, những nghi kỵ ghét ghen...biến đổi con người để xứng đáng là một con người mới, một con người đã được Đức Kitô cứu chuộc. Nhưng việc đổi mới này không phải là một việc làm vu vơ nhưng phải được thực hiện hằng ngày trong cuộc sống của ta, phải nâng cấp con người của ta hầu xứng đáng đón nhận ơn cứu độ của Thiên Chúa.

DỌN ĐƯỜNG ĐÓN CHÚA
Lc 3, 1-6

Gioan Tẩy Giả là anh em bà con với Chúa Giêsu, là con ông Dacaria và bà Êlisabét. Ông xuất hiện như một ngôn sứ, để công bố sự thật, nhiệm vụ của ông là dẫn đường chỉ lối cho dân chúng đi về sự sống. Gioan rất ý thức về vai trò tiền hô của mình, là dọn đường cho Đấng Messia sắp đến nay mai. Ông mặc áo lông lạc đà, chứ không mặc áo rộng thùng thình như các ông Pharisêu, ông ăn châu chấu với mật ong rừng, ông dốc toàn lực rao giảng, kêu gọi dân chúng chuẩn bị dọn đường để Chúa đến. Ông cảnh cáo rằng: nếu ai không thay đổi đời sống, không ăn năn sám hối, thì sẽ bị trừng phạt, bị lửa thiêu rụi.

Lời kêu gọi của Thánh Gioan xem ra thật gay gắt, không thay đổi đời sống nên tốt hơn, không nhận lỗi, không sám hối sẽ phải chết. Nhưng phải thay đổi đời sống như thế nào đây ? Đó là: "Hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi. Mọi thung lũng, phải lấp cho đầy, mọi núi đồi, phải bạt cho thấp, khúc quanh co, phải uống cho ngay, đường lồi lõm, phải san cho phẳng".

Hãy dọn sẵn con đường, nhưng con đường nào đây ? Có phải đó là những con đường nhựa, những con đường "Xi-măng", chưa khánh thành đã hư chăng ? Hay là những con đường sắt kém chất lượng đã làm hại sinh mạng nhiều người trong những năm qua ? Hoặc những con đường lầy lội, trơn trượt hằng năm trong mùa mưa bão ?

Con đường mà lời Chúa qua miệng thánh Gioan, là con đường của cõi lòng con người, đường đi vào tâm hồn chúng ta. Con đường mà lầy lội, trơn trượt, con đường mà quanh co, con đường mà đầy núi đồi hay thung lũng sâu sẽ rất khó đi và đầy nguy hiểm, có thể sẽ không lưu thông được nữa. Đường quanh co, núi đồi làm cản trở và gây nguy hiểm trong lưu thông.

*Trong tâm hồn ta cũng đầy những cản trở:

Của những suy tính quanh co, không ngay thật, không trong sáng, những ước muốn tham lam, chiếm đoạt;

Của những núi đồi của sự kiêu ngạo chẳng xem ai ra gì, coi mình là Chúa để xét xử phê phán anh chị em, mà quên mình cũng đẩy dẫy tội lỗi;

Của những thung lũng tối tăm tội lỗi thầm kín, những ham muốn bất chính, những dục vọng ngông cuồng...

Rất nhiều người đã nghe lời thanh Gioan kêu gọi, từ Giêrusalem đến các vùng phụ cận đều tuôn đến để được Gioan thanh tẩy, họ thú nhận sự bất trung đối với Thiên Chúa và những tội ác đã phạm. Mỗi người chúng ta hôm nay thì sao ? Chúng ta có nghe lời kêu gọi sám hối và sửa đổi đời sống của Gioan không ? Sám hối là dọn con đường của lòng mình để Chúa ngư đến"trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi biết ăn năn sám hối", tâm hồn đẹp nhất là tâm hồn biết ăn năn sám hối vì vậy sẽ làm cho các triều thần thánh trên trời vui mừng hoan hỷ (Lc 15, 10). Biết mình sai lầm, rồi chấp nhận thay đổi bằng một hành động thiết thực, đó là điều Thiên Chúa mong muốn nơi mọi người chúng ta.

Xin Chúa cho chúng ta biết "tiên trách kỷ, hậu trách nhân" để luôn nhận ra lỗi lầm của mình, cố gắng sửa sai, tránh mọi tật xấu, để dễ dàng đón nhận ơn Chúa.

DỌN ĐƯỜNG CHÚA ĐẾN 
Lc 3, 1-6

Cuộc sống hôm nay có nhiều phương tiện giúp con người có thể đến với nhau và gần nhau dễ dàng. Hệ thống giao thông đường bộ thì có các loại xe từ bình dân đến đắt tiền. Muốn nhanh hơn thì có máy bay. Còn muốn nhanh và đỡ mất thời gian hơn thì có các loại phương tiện thông tin liên lạc hiện đại hơn như điện thoại, internet...Nói chung phương tiện không thiếu nhưng điều cần là đường để nối lại phải thông thoáng. Chẳng hạn trên đường bộ, xe có hiện đại cách mấy mà gặp phải đường gồ ghề và chật hẹp thì cũng phải chịu.

Là con Thiên Chúa, cần nhất là ta nên giữ cho mình mối liên lạc thật tốt với Ngài. Thiên Chúa đã dọn sẵn đường cho, nhưng nhiều khi ta lại tạo nên những trở ngại khiến sự liên lạc quý báu ấy không còn tốt nữa. Điều đáng nói bấy lâu để mất liên lạc với Chúa do những trở ngại ấy thì ta sẽ phải đi trong mù tối. Muốn được ánh sáng Chúa soi dẫn nhất thiết ta cần phải khai thông. Như vậy, ta phải khai thông bằng cách nào?

Rất may mắn, Thánh Gioan đã chỉ cho ta: "Mọi thung lũng, phải lấp cho đầy, mọi núi đồi, phải bạt cho thấp, khúc quanh co, phải uốn cho ngay, đường lồi lõm, phải san cho phẳng. Rồi hết mọi người phàm sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa." (Lc 3, 4 - 6)

Đây là việc làm của mỗi cá nhân, không ai có thể giúp ai được. Bởi lẽ, con đường nối kết giữa ta với Chúa là con đường riêng tư. Vả lại, trên con đường ấy mỗi người tự biết mình cần phải khai thông những gì và chỗ nào.

Có khi ta đang gặp trở ngại bởi thung lũng ngăn cách tình người. Sự ngăn cách ấy có thể xảy ra giữa ta với bạn bè, lối xóm hay đồng nghiệp. Có khi sự ngăn cách ấy lại xảy ra với chính những người thân thuộc hay chính trong gia đình ta.

Có khi ta gặp trở ngại bởi núi đồi kiêu căng. Kiêu căng từ trong suy nghĩ đến việc làm. Sự kiêu căng ấy thể hiện ở chỗ tự cho mình là nhất và không coi ai ra gì. Nguy hiểm hơn, thái độ này ta lại đem áp dụng với cả Thiên Chúa. Bất cần ơn Chúa là thái độ hết sức nguy hiểm.

Có khi ta lại gặp trở ngại bởi những lời nói và cách sống gian dối. Câu "Thật thà thẳng thắn thường thua thiệt. Lươn lẹo luồn lách lại lên lương"dường như là châm ngôn sống cho mình.

Trên đây chỉ là một vài trở ngại trong vô số những trở ngại khác. Ước mong nhờ ơn Chúa giúp mỗi người sẽ thấy được những trở ngại của mình. Khi đã thấy được những trở ngại, hãy can đảm và mạnh dạn dẹp bỏ nó. Hãy luôn nhớ, bao lâu những trở ngại ấy còn lại trong ta thì bấy lâu ánh sáng Chúa không thể soi bước đường ta đi. Mà nếu như không được ánh sáng Chúa soi dẫn, thì có lẽ ơn cứu độ của Thiên Chúa sẽ khó mà đến được với ta. 

DỌN TÂM HỒN ĐÓN MỪNG CHÚA ĐẾN
Lc  3, 1 - 6

1. LỜI CHÚA: "Hãy sửa lối cho thẳng để Người đi"(Lc 3,4b).

2. CÂU CHUYỆN: GIẢI NÔ-BEN HÒA BÌNH

AN-PHỚT NÔ-BEN (ALFRED NOBEL) sinh ngày 21 tháng 10 năm 1833 tại SÌ-TỐC-KHÔM (Stockholm) Thụy Điển, là con trai thứ ba của nhà khoa học Imanuel Nobel. Từ nhỏ Nobel đã theo gia đình đến sinh sống tại Le-nin-grad nước Nga.

Nobel đặc biệt thích văn học, nhưng vâng lời cha, ông theo học ngành khoa học kỹ thuật và nghiên cứu về thuốc súng và thuỷ, địa lôi. Ông đã phát minh ra chất nổ và cũng nhờ bán đi bằng sáng chế này mà ông đã trở thành một nhân vật nổi tiếng giàu có nhất thế giới thời bấy giờ.

Vào ngày 3 tháng 9 năm 1864, nhà máy Nobel phát nổ, rất nhiều công nhân bị thiệt mạng, trong đó có cả Emil Nobel là em út của Nobel. No-ben bàng hoàng khi ngay từ sáng sớm hầu hết các tờ báo phát hành đều loan tin sai lạc về cái chết của chính ông, người mà họ mô tả là kẻ đã sáng chế ra cốt mìn, một thứ vũ khí giết người hàng loạt. Các bài viết mang những tựa đề lớn như: "Nhà buôn cái chết đã chết" - hoặc: "Tiến sĩ Alfred Nobel, người đã trở nên giàu có sau khi phát minh ra cách thức giết con người nhanh chóng hơn bao giờ hết, đã qua đời ngày hôm qua". Thực ra báo chí đã hiểu lầm về bản chất con người ông. Việc phát minh ra chất nổ của No-ben ban đầu chỉ là công trình khoa học nhằm phục vụ cho nhân lọai. Chẳng hạn: Phá đá làm đường hầm xuyên qua núi, hoặc lấy đá làm nguyên liệu xi măng xây dựng đường xá, cầu cống, nhà cửa và các công trình phục vụ công ích. Nhưng về sau khi chiến tranh nổ ra, chính quyền đã lạm dụng phát minh của No-ben chế tạo mìn sát thương trái với ý muốn nhân đạo của ông.

Ngay sáng hôm đó, Nô-ben đã quyết định nhờ luật sư làm di chúc để tình nguyện hiến toàn bộ tài sản to lớn phục vụ nhân lọai. Đó là nguồn gốc của giải thưởng Nô-ben được công bố hằng năm ngày nay. Mỗi năm, số tiền lời phát sinh từ tài sản kếch xù ban đầu của No-ben đã được sử dụng làm giải thưởng có giá trị cao cho bất cứ ai, không phân biệt quốc tịch, có công sáng chế phục vụ nhân lọai về năm lãnh vực: vật lý, hoá học, y học, văn học và đấu tranh cho hòa bình.

3. SUY NIỆM:

- BÀI HỌC TỪ NÔ-BEN: Chính nhờ có cái tâm bác ái quảng đại, sẵn sàng hy sinh toàn bộ tài sản phục vụ công ích, cũng như nhờ biết ứng xử khôn ngoan, mà No-ben đang từ một kẻ bị người đời nguyền rủa là tác nhân gây ra chết chóc... trở thành một nhân vật được cả thế giới ngưỡng mộ, và được công nhận là ân nhân của nhân lọai, vì đã cổ võ hòa bình, mang lại niềm vui và hạnh phúc cho các dân tộc trên thế giới. Còn bạn, bạn sẽ làm gì trong những ngày này để phục vụ công ích và gây hòa thuận giữa các thành viên trong gia đình, khu xóm và nơi làm việc của bạn?

- "HÃY SỬA ĐƯỜNG CHÚA CHO NGAY THẲNG": Trong Mùa Vọng này Giáo Hội mời gọi các tín hữu chuẩn bị mừng lễ Giáng Sinh bằng việc thực hành theo lời thánh Gio-an Tiền Sứ: "Sửa đường cho ngay thẳng đón Chúa đến" như sau:

* Mọi thung lũng phải lấp cho đầy: Cần lấp đầy tâm hồn bằng sự tha thứ, hoà giải trong tình huynh đệ yêu thương thay cho chia rẽ, thù ghét lẫn nhau...

* Mọi núi đồi phải bạt cho phẳng: Cần tránh khoe khoang thành tích, làm việc để tìm tiếng khen. Cần tỏ lòng kính trọng tha nhân bằng cách xưng hô xứng hợp với địa vị mỗi người. Tránh tự cao khi nghĩ mình hơn kẻ khác và khinh thường những ai không bằng mình về trình độ, địa vị, tiền bạc, tài năng....

* Đường quanh co phải uốn cho ngay: Cần tránh những lời nói thiếu trung thực, dối trá, chua cay hay tục tĩu.

* Đường lồi lõm phải san cho bằng: Phải tránh tính nóng giận bằng sự làm chủ bản thân, thay nét mặt cau có bằng nụ cười thân ái. Tránh tranh cãi to tiếng. Tránh thói ganh tị nhỏ nhen, gàn dở cố chấp và ích kỷ hại nhân...

- HÃY ĂN NĂN SÁM HỐI: Nội dung chính trong lời kêu gọi của Gio-an Tiền sứ là "Hãy sám hối". Sám hối bao gồm sự nhìn nhận tội lỗi của mình, hối tiếc vì tội đã phạm tội, và quyết tâm chừa cải để quay về xin lỗi làm hòa với Chúa. Thiếu một trong ba yếu tố trên thì không còn là sám hối. Giu-đa biết tội của mình, hối tiếc vì tội đã phạm và lẽ ra phải quay về xin Chúa tha thứ, thì ông ta lại đi treo cổ tự tử! (x. Mt 27,5) nên ông đã bị Chúa trách: "Thà nó đừng sinh ra thì hơn!" (x. Mc 14,21). Còn thánh Phê-rô sau khi ý thức tội chối Thầy của mình, đã hồi tâm sám hối (x. Mt 26,75) và trông cậy vào lòng khoan dung của Chúa, nên đã được Chúa tha tội. Cũng nhờ  đã yêu mến Chúa nhiều, nên ông còn được trao quyền chăn dắt đòan chiên (x. Ga 21,15-17).

4. THẢO LUẬN:

1) Mỗi người chúng ta đều có tính kiêu căng tự mãn. Thói xấu ấy thường được thể hiện qua những thái độ, lời nói và hành động nào?

2) Ta phải làm gì để chừa bỏ thói tự cao tự đại trong mùa Vọng này?

5. NGUYỆN CẦU:

- LẠY CHÚA GIÊ-SU. Sám hối không phải là điều dễ thực hiện, bởi lẽ chúng con không đủ khiêm tốn để nhận ra lầm lỗi của mình. Xin cho chúng con học tập nơi Chúa sự hiền lành và khiêm nhường trong lòng. Chúa là Đấng trong sạch thánh thiện, thế mà lại tình nguyện đến xếp hàng, đứng chung với các tội nhân để xin Gio-an làm phép rửa. Tuy vô tội, nhưng Chúa đã muốn trở nên bạn đồng hành của lòai người chúng con khi mang lấy thân phận mỏng dòn yếu đuối của chúng con.

- LẠY CHÚA. Xin cho chúng con biết điều chỉnh cách suy nghĩ và lối sống của chúng con: Luôn tỉnh thức để khỏi rơi vào ảo tưởng, thành thật để không tự dối mình. Ước gì Chúa ban cho chúng con được ơn sám hối thực sự trong mùa Vọng này. Cho chúng con quyết tâm làm những việc lành cụ thể, và can đảm chấp nhận những lời phê bình của tha nhân để ngày một nên tốt hơn, như người đời thường nói: "Thuốc đắng dã tật".

X. Hiệp cùng Mẹ Maria
Đ. Xin Chúa nhậm lời chúng con

LM ĐAN VINH. www.hiephoithanhmau.com

HÃY DỌN ĐƯỜNG CHO CHÚA
Lc  3, 1 - 6

Hôm nay thánh Luca đưa chúng ta tiến thẳng vào giữa lịch sử. Ở những câu mở đầu của bài Tin mừng hôm nay, không thấy có các thiên thần, mục đồng, chiên cừu hay một đêm đầy sao. Bài Tin mừng hôm nay không có một khởi đầu nên thơ, nhưng là một thực trạng lạnh lẽo của thế giới mà Đức Giêsu bước vào và khởi sự rao giảng ở đó.

Chúng ta vẫn còn trong mùa Vọng, dù trong các nơi mua sắm đang bày bán đầy rẫy những đồ trang trí hay nhạc Giáng Sinh. Chính thế giới còn mệt mỏi và cũ kỹ của chúng ta cần được hồi sinh, uốn nắn và đánh bóng lại cho sáng sủa hơn, đó là những gì nên diễn ra. Khởi đầu Tin mừng hôm nay, thánh Luca cho ta thấy một bức tranh của thế giới, trong đó ông Gioan Tẩy giả loan báo về việc Đức Giêsu ngự đến. Thánh sử bắt đầu một trình thuật lạnh lùng, bởi lẽ ông kể chi tiết về cảnh tượng tôn giáo và chính trị cùng với những tên tuổi mà vài người trong số họ nghĩ rằng mình có trách nhiệm trong các biến cố đó.


Ông Gioan Tẩy giả xuất hiện trong một thế giới thuộc vùng chính trị và địa lý của Đế quốc Rôma,"triều hoàng đế Tibêriô". Những người lãnh đạo bù nhìn của dân Dothái là Antipas, Asêlus và Philiphê, các con trai của Hêrôđê Cả. Khi Asêlus bị trục xuất vào năm 6 TCN, những người đại diện chính quyền Rôma đã lên thay thế. (Chúng ta không biết nhiều về Lysania người trị vì ở vùng Abilên). Thánh Luca cũng kể đến tên thượng tế Anna và con trai của ông là Caipha, người trở thành tư tế khi Đức Giêsu chịu chết.


Bối cảnh được đưa vào, giống như việc mở màn với âm thanh của những cái chũm choẹ, ông Gioan Tẩy giả xuất hiện để rao giảng về "phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội." Thánh Luca trích dẫn lời ngôn sứ Isaia để loan báo rằng "hết mọi người phàm sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa." Không phải chỉ những người đạo đức được phép rửa của ông Gioan tác động, nhưng cả trật tự tạo dựng cũng sẽ được biến đổi - đường đi, hố sâu và đồi núi.


Thánh Luca không kể cho chúng ta nghe về một câu chuyện thần tiên dành cho trẻ con. Tin mừng của thánh sử đưa chúng ta vào một dòng chảy mênh mông của lịch sử. Người phân chia lịch sử thành ba thời kỳ. Trước hết, từ thời kỳ tạo dựng cho đến ông Gioan Tẩy giả, vị này đã loan báo kết thúc giai đoạn cũ, đồng thời loan báo việc khai mở cho giai đoạn mới. Giai đoạn thứ hai là thời sứ vụ của Đức Giêsu, từ lúc Người chịu phép rửa cho đến khi lên trời. Sau đó, theo sách Công vụ của các Tông đồ, giai đoạn thứ ba của lịch sử chính là Giáo hội. Giai đoạn này sẽ chấm dứt khi Đức Giêsu trở lại kết thúc lịch sử.


Chúng ta đang sống trong thời kỳ thứ ba, nhưng Tin mừng ngày hôm nay quay trở lại lúc khởi đầu của giai đoạn thứ hai khi ông Gioan Tẩy Giả xuất hiện để báo tin. Liệu chúng ta có thể nghe ông Gioan với đôi tai nhạy bén qua những gì mà chúng ta biết được về hoàn cảnh lịch sử của một dân tộc như họ đã nghe ông ấy từ thuở đầu hay không? Đối với một dân tộc nằm dưới ách thống trị của Đế quốc Rôma và những tay sai bù nhìn của họ, ông Gioan công bố một điều quan trọng mà Thiên Chúa sắp thực hiện, đó là ứng nghiệm lời hứa mà Người đã nói qua các ngôn sứ của mọi thời: cuối cùng họ cũng được nhìn thấy, "Thiên Chúa sẽ dẫn Israel đi trong hoan lạc".


Chúng ta đã nghe lời hứa đó trong bài đọc một. Ngôn sứ Barúc hứa không còn những lưu đày ở Babylon nữa, nhưng "Thiên Chúa lại đưa chúng trở về"; sẽ có một cuộc xuất hành mới từ việc giam cầm này. Bấy giờ ông Gioan Tẩy giả loan báo rằng một sự phục hưng lâu dài của Israel sắp diễn ra. Hơn thế nữa, một vị vua mới không chỉ có lợi cho một số người được lựa chọn, mà "tất cả mọi người phàm sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa".


Trong một bài giảng về Mùa Vọng, cha Robert Waznak, SS ("Like Fresh Bread: Sunday Homilies and the Parish". New York: Paulist Press, 1993) chia sẻ cho chúng ta những điều mà cha đã nhìn thấy và đã khơi lên niềm hy vọng cho Mùa Vọng của cha. Khi Cha lái xe ngang qua trường tiểu học thì nhìn thấy một cô giáo cùng với các học trò trong lớp. Thay vì treo đèn Giáng sinh hay trưng bày ông già Noel, họ lại đào lỗ dưới mảnh đất mới đóng băng để trồng những củ hành tượng trưng cho mùa Xuân sắp đến. "Cô giáo dạy cho học sinh về những lời hứa sẽ được hoàn tất" (tr.22).


Đó là điều mà các ngôn sứ khác cũng như ngôn sứ Barúc đã làm là rao giảng về niềm hy vọng. Quả thế, ngôn sứ Barúc đang nói với một dân tộc bị hủy diệt vì họ không nhìn thấy điều tốt lành để hy vọng cho tương lai của mình. Qua lời rao giảng, vị ngôn sứ đã đào xuống dưới mặt đất cứng cỏi của sự tuyệt vọng nơi dân tộc này. Quân Babylon sắp tiêu diệt vương quốc ở phía Nam là Giuđa và Giêrusalem, sau đó bắt dân chúng đi đày. Dân tộc bị đánh bại nơi lưu đày đang cần những lời hứa đầy hy vọng của ngôn sứ Barúc, "Thiên Chúa sẽ dẫn Israel đi trong hoan lạc, dưới ánh sáng vinh quang của Chúa, cùng với lòng từ bi và sự công chính của Người."


Trong bài giảng, cha Waznak cũng nói rằng, "Cô giáo đó giống như Giáo hội, đang giúp chúng ta đào sâu hơn nữa vào ý nghĩa đức tin của mỗi người"; Giáo hội đang thúc dục chúng ta tận dụng thời gian trong mùa đội trông này để gieo trồng những hạt mầm hy vọng nơi Thiên Chúa, Đấng sẽ đến cứu độ hết thảy mọi người" (tr.22).


Trong bài giảng giữa mùa Vọng này, ông Gioan kêu gọi mọi người hãy sám hối và thay đổi lối nghĩ cũng như cách hành động. Vậy những gì cần dọn dẹp điều gì để cho Thiên Chúa đi sâu hơn nữa vào cuộc đời của chúng ta? Ngôn sứ Barúc và ông Gioan Tẩy giả đã loan báo rằng, Thiên Chúa sẽ đến để thiết lập mọi sự theo đúng trật tự. Trong cuộc sống chúng ta và thế giới này có quá nhiều hố sâu tuyệt vọng cần được lấp đầy; những núi đồi của lòng kiêu ngạo cần được san bằng; những con đường quanh co của sự hỗn loạn cần được uốn nắn cho ngay thẳng, và những con đường gồ ghề, gập gềnh cần phải được san cho phẳng phiu. Chúng ta không thể tự mình làm được những điều này, nhưng trước hết hãy đặt những điều ngay thẳng đó cho Thiên Chúa, nhờ vào công nghiệp của Đức Giêsu Kitô. Thánh Phaolô đã nhắc chúng ta nhớ rằng Thiên Chúa đã khởi sự công việc tốt lành nơi chúng ta. Đường lối thì êm ái, vì thế bây giờ chúng ta có thể đáp trả lại bằng tình yêu. Chúng ta là những người tiếp nhận công việc cứu độ "nhờ Đức Giêsu Kitô, để tôn vinh và ngợi khen Thiên Chúa."


Chuyển ngữ: Anh em HV Đaminh Gò-Vấp

Lm Jude Siciliano, OP

CẢN TRỞ
Lc  3, 1 - 6

Ngày kia tôi đứng trên đồi cao phóng tầm mắt tận chân trời. Hàng hàng lớp lớp núi non bao bọc, ngọn này che khuất ngọn kia. Hùng vĩ mấy cũng có ngọn khác hùng vĩ hơn. Tôi thấy cây cao phủ bóng che nắng của cây thấp và cây thấp cố vươn lên hút ánh nắng trời cho lá thêm xanh. Những tia sáng mặt trời dọi chiếu trên cành lá tạo ra những mảng màu sắc khác nhau. chỗ ươm vàng óng ả, chỗ lại sáng chói chang, chỗ màu xanh lục gần như tím thẫm. Đảo mắt quanh chỗ nào cũng gợi lên cảm giác hữu tình, ngây ngất lòng người, tâm thanh thản, lòng trải rộng và trí bay bổng tận cao xanh. Lồng trong rừng lá xanh tươi có những đường mòn chân thú chạy ngược, xuôi, lớn nhỏ, đan chéo chằng chịt. Bỗng một cơn gió bay đến làm rung động cành lá, cành lá vươn dài che khuất lối mòn như trò chơi trốn, bắt của gió rừng.

Phía kia là đại dương xanh ngắt mang nhiều lớp sóng bạc thi nhau vỗ bờ. Hết lớp này đến lớp khác thi nhau nhảy múa trên sóng nước. Mỗi lớp sóng đến tạo thành một sợi chỉ nhỏ màu trắng lăn theo chiều gió, lúc hai lớp sóng hợp, khi xé ra. Cảnh hợp tan xảy ra trong nháy mắt. Gần hơn nữa trên đỉnh đầu là lớp mây nhảy múa, thành quả nước biển bốc hơi tạo thành.


Khung cảnh thiên nhiên tuyệt vời trên sẽ giảm sức thu hút lòng người nếu núi có chiều cao như nhau, nếu các đồi đều là đồi trọc, nếu cây cối cùng màu sắc và các đường mòn thẳng tắp như kẻ. Thử hỏi làm sao còn tạo được sức hấp dẫn nữa. Đây không phải í nghĩa những gì thánh Gioan Tẩy Giả kêu gọi trong bài Phúc Âm thánh Luca 3,4


Có tiếng người hô trong hoang địa: hãy dọn sẵn con đuờng cho Đức Chúa, sửa lối thẳng để Người đi. Mọi thung lũng phải lấp cho đầy, mọi núi đồi phải bạt cho thấp, khúc quanh co phải uốn cho ngay, đường lồi lõm phải san cho bằng. Rồi hết mọi người phàm sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa.


Lời nguyện nhập lễ Chúa Nhật thứ hai Mùa Vọng giải thích làm sáng tỏ điều Gioan kêu gọi.


Xin phá vỡ những gì ngăn cản chúng con được vui mừng đến gần Chúa, để chúng con chia sẻ ơn khôn ngoan Chúa ban và được liên kết khi Ngài đến trong vinh quang.


Có ai ngờ cảnh rừng xanh bao la tuyệt vời làm rung động lòng người ẩn dấu bao hiểm nguy. Ẩn nấp sau vỏ cây khô là những con bò cạp rừng. Dưới hốc đá nào đó có rắn hổ ẩn mình và đâu đó nhện cắn độc đang rình rập con mồi. Không ai đoán biết khi nào chết chóc xảy đến, đâu đâu cũng có hiểm nguy. Gioan Tiền Hô dùng kinh nghiệm hoang địa bản thân cho biết cảnh rừng bao la, bát ngát là nơi thanh tĩnh để ngắm nhìn, không phải là chốn an toàn để náu thân bởi vì rắn độc, bò cạp và khí độc đến lúc chúng ta không ngờ. Gioan liệt kê một số những chứng bệnh thời đại làm hại đến tâm hồn con người, ngăn cản con người đến gần Chúa, ngăn cản con người đón nhận Lời Chúa. Thánh nhân kêu gọi con ngưòi sống đường lối ngay thẳng, đừng quanh co, uấn éo, lươn lẹo trong lối sống. Gioan hy vọng con người sống đường lối công chính, thật thà. Gioan mời gọi con người hãy san bằng gánh nặng cuộc đời, đừng để công việc chồng chất trên đôi vai gầy, đừng để gánh nặng mối lo làm còng lưng son trẻ. Gioan hướng dẫn cuộc sống mới bằng cách cân bằng thời gian giữa làm việc và cầu nguyện, dành thêm giờ cho tâm linh và biết để giờ cho việc truyền bá Phúc Âm, Tin Mừng. Quan trọng hơn hết là hãy làm cho tình yêu Chúa mỗi ngày mỗi lớn lên trong cuộc sống. Làm được những điều trên con người sẽ cảm thấy cuộc sống nhiều í nghĩa hơn và ơn cứu độ là điều nằm trong tầm tay với.

Lm Vũ đình Tường

GIOAN TẨY GIẢ, NGƯỜI LÀ AI ?
Lc  3, 1 - 6

Thường Chúa nhật thứ hai và Chúa nhật thứ ba Mùa vọng, Giáo Hội cho chúng ta hiểu và biết thấu đáo về vai trò của Gioan Tẩy Giả. Sở dĩ, Giáo Hội trình bầy hai tuần liên tiếp về Gioan Tảy Giả bởi vì Gioan Tẩy Giả có một mối liên hệ thật đặc biệt với Chúa Giêsu.

Đọc lại Tin Mừng, chúng ta thấy việc Gioan Tẩy Giả được sinh ra là một sự lạ lùng. Diệu kỳ và mầu nhiệm vì Gioan Tẩy Giả được sinh ra trong khi cha mẹ của Ngài đã già nua, không còn khả năng sinh con xét theo sinh lý học và khoa học. Rõ ràng, Gioan Tẩy Giả được bà Élisabeth cưu mang là bởi quyền phép của Chúa khi mà chính Giacaria là cha của Gioan Tẩy Giả lại không tin vào lời của Chúa. Và ngày Gioan Tẩy Giả được cắt bì và đặt tên theo tục lệ của người Do Thái thì mọi người đều muốn lấy tên Giacaria là tên của con trẻ để đặt tên cho con trẻ. Nhưng ông Giacaria đã nhất mực đòi đưa một tấm bảng vì lúc đó ông đang bị câm vì tội không tin. Ông đã viết tên con trẻ là Gioan Tẩy Giả. Lúc đó lưỡi của Giacaria được mở ra và ông tuyên bố to lên rằng: " ...Con trai của ta sẽ được gọi là tiên tri của Đấng Tối Cao, vì con trẻ sẽ đi trước Chúa và sửa soạn đường cho Người ". Quả thực lời tiên báo này đã được ứng nghiệm và Chúa nhật thứ hai Mùa vọng cho nhân loại, cho mỗi người chúng ta được biết sứ điệp về Gioan Tẩy Giả: " Có tiếng người hô trong hoang địa: hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi. Mọi thung lũng, phải lấp cho đầy, mọi núi đồi, phải bạt cho thấp, khúc quanh co, phải uốn cho ngay, đường lồi lõm, phải san cho phẳng. Rồi hết người phàm sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa " ( Isaia). Thánh Gioan làm chứng về Đấng Thiên Sai, Đấng Mêsia. Cả cuộc đời của Người là một lời chứng. Chúa nhật thứ ba Mùa vọng nói lên lời chứng của Gioan: " Có Đấng đến sau tôi nhưng quyền năng hơn tôi và tôi không xứng cởi giây dép cho Người " và " Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại ". Thánh Gioan Tẩy Giả kêu gọi mọi người ăn năn, sám hối để chờ đón Đấng Cứu Thế. Do đó, nói tới Gioan Tẩy Giả là chúng ta phải nghĩ tới Chúa Giêsu. Bởi vì, vai trò của gioan Tẩy Giả chỉ là dọn đường, còn khi Chúa Giêsu xuất hiện Gioan đi vào bóng tối để vai trò, sứ mạng của Chúa Giêsu nổi bật lên đúng như lời Kinh thánh viết: " Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt con, người sẽ dọn đường cho Con đến ". Lời Kinh Thánh nói về vai trò của Gioan Tẩy Giả nhưng một cách nào đó cũng nói với mọi người chúng ta. Mỗi người chúng ta khi được lãnh nhận phép rửa chúng ta được gọi là Kitô hữu nghĩa là người thuộc về Chúa, là môn đệ của Chúa, chúng ta cũng có trách nhiệm, nghĩa vụ và sứ mạng làm cho Chúa Giêsu nổi bật trong con tim của chúng ta và thông truyền Ngài cho những người khác.


Là ngôn sứ của Chúa Giêsu, chúng ta có bổn phận mặc lấy Đức Kitô, cởi bỏ con người cũ và luôn sống trong Người, với Người và vì người. Điều này cho chúng ta xác tín mạnh mẽ, và sâu xa, chúng ta hoàn toàn thuộc về Đức Kitô, nên chunhg1 ta phải mạnh dạn nói như thánh Phaolô: " Tôi sống nhưng không còn phải tôi sống mà là Đức Kitô sống trong tôi ".


Trong năm đức tin, chúng ta phải đào sâu đức tin của chúng ta hơn bằng cách học Giáo lý, đọc Kinh Thánh và học hỏi các Giáo huấn của Hội Thánh, nhờ đó càng ngày chúng ta càng hiểu sâu về Chúa Giêsu, nhận ra Ngài và yêu mến Ngài. Chúng ta hãy bắt chước thánh Gioan Tẩy Giả can đảm làm chứng cho Chúa và luôn luôn minh chứng cho Chúa là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống, đồng thời thông truyền cho người khác về Đức Kitô.


Chúng ta cùng nhau cầu nguyện:

Từ trần gian con ngước mắt khẩn nguyện
Hỏi Chúa Trời, Chúa cứu độ thế gian ?
Bao năm tháng, con một lòng cầu khẩn
Mong đợi chờ Đấng Cứu Thế giáng sinh
Vâng lạy Chúa, muôn người chờ mong Chúa
Hơn lính canh mong chờ ánh hừng Đông
Chúa yêu thương, sai Giêsu Con Chúa
Đến gian trần ban hạnh phúc bình an
Giêsu Con Chúa vô cùng nhân hậu
Ngự cung lòng Đức Trinh Nữ Maria
Bởi Thánh Thần, Đấng rợp bóng trên Mẹ
Đức Giêsu là Con Chúa Trời cao
Lời nguyện ước của con đầu Mùa Vọng
Hát vang lên cùng toàn thể Thiên Triều
Maranatha, Người ơi mau hãy đến !

Và để chuẩn bị sốt sắng tâm hồn đón mừng Con Chúa giáng sinh, chúng ta hãy sốt sắng hiệp dâng thánh lễ và rước Mình Máu Chúa bởi vì thánh Tôma Aquinô đã xác tín sâu xa: " Trong bữa tiệc thần linh này, Đức Kitô đã bị thiêu hủy để khi tưởng nhớ cuộc tử nạn thương khó của Người, linh hồn chúng ta được đầy tràn ân sủng và chúng ta được lãnh nhận một bảo đảm cho vinh quang mai sau ".

Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

DỌN ĐƯỜNG, DỌN LÒNG
Lc  3, 1 - 6

Hơn bao giờ hết, người Việt Nam đang phải đối diện với "văn hoá giao thông" vì lẽ mở mắt bước chân ra đường lúc nào thì đều ngán ngẫm với cảnh kẹt xe. Nguyên nhân kẹt xe do lòng đường thu hẹp bởi các công trình đang thi công. Thế nhưng, nguyên nhân chính vẫn không phải là nguyên nhân ấy nhưng lại là nguyên nhân do lòng con người bị thu hẹp lại. Khi ra đường, ai cũng giành đi trước thì ai sẽ nhường cho ai để rồi kẹt xe là chuyện dĩ nhiên. Người ta càng gào càng thét nhưng lòng người ta không lay chuyển, không biến đổi thì muôn đời vẫn bị kẹt xe.

Để đi đến một nơi nào đó thì cần lắm một cái lòng đường thông thoáng cộng với lòng người vui tươi hớn hở. Đối diện với cái cảnh kẹt xe thì chẳng tìm thấy một nụ cười trên môi được. Có chăng là những tiếng xì xầm khó chịu. Lòng đường và lòng người có cái gì đó đi đôi với nhau thì phải. Lòng người đủ lớn thì lòng đường mới lớn lên được. Lòng đường lớn lên thì người đi trên đường cảm thấy thoải mái và vui tươi.


Để đón một ai nào đó đến chơi nhà, điều hết sức tự nhiên là ta phải dọn con đường dẫn vào nhà ta được thông thoáng cũng như lòng ta phải rộng mở. Đơn giản thế thôi.


Để đón Chúa vào nha thì ta cũng cần có một lòng đường đủ lớn và lòng ta cũng đủ rộng.


Thánh Luca có nét đặc biệt hơn các thánh sử khác đó chính là khai mở sứ vụ rao giảng của Gioan. Sứ vụ rao giảng ấy được Luca mô tả trong một bối cảnh lịch sử khá chi tiết của thế giới ngoại giáo và của thế giới dân thánh. Mục đích của thánh sử nhằm đánh dấu thời gian bắt đầu sứ mệnh của Chúa Giêsu mà Gioan chỉ là kẻ dọn đường.


+ Hoàng đế Cêsarê Tibêriô kế nghiệp Augustô lên ngôi trị vì ngày 19 tháng 8 năm 14 sau Công nguyên. Như vậy năm thứ 15 của vua này là khoảng tháng 8 năm 28 hay năm 29. Nhưng hầu chắc Thánh Luca sử dụng niên lịch của người Syriên: theo lịch Syriên, năm mới bắt đầu ở đầu tháng 10. Vì thế từ tháng 9 trở về trước, được kể như là thuộc năm trước. Như vậy năm thứ 15 ở vào khoảng ngày 1 tháng 10 năm 27 hay 30 tháng 9 năm 28: lời rao giảng của Gioan cũng như khởi đầu sứ mệnh của Chúa Giêsu xảy ra khoảng năm 27 hay 28 (sau Công nguyên).


+ Philatô cai quản xứ Giuđêa với tước hiệu tổng trấn (thái thú), vào năm 26 đến 36 (sau Công nguyên). Ông thuộc quyền quan toàn quyền xứ Syria. Lãnh thổ của ông còn bao gồm cả Samaria và Idumêa.


+ Hêrôđê Antipa con của Hêrôđê Đại đế và của Malthakê. Đây là kẻ mà sau này Chúa Giêsu gọi là "con cáo già" (Lc 13,32). Arkêlaô cũng là con của Hêrôđê Đại đế và Malthakê song bị truất phế vào năm 6 (trước Công nguyên). Hêrôđê Antipa làm quận vương xứ Galilêa và Pêrêô vào năm thứ 4 (trước Công nguyên). Ông cai trị cho đến năm 39 (sau Công nguyên). Tước hiệu quận vương chỉ một thứ phó vua cai quản một phần lãnh thổ của Hoàng đế Thánh sử Maccô (6,14) gọi Hêrôđê là Vua theo cách xưng hô bình dân.


+ Philip cũng là con của Hêrôđê Đại đế và Clêopâtre (không phải hoàng hậu Ai Cập), tức là anh em cùng cha khác mẹ với Hêrôđê Antipas. Làm quận vương xứ Iturê và Trakhônitô, cũng như gồm cả Auranitô, Batanêa, Gaulinitô. Philip cai quản năm 4 trước Công nguyên cho đến chết vào năm 34 sau Công nguyên. Vì không có con nối ngôi, vua Tibêriô sáp nhập phần đất này vào miền Syria.


+ Lysania, không thuộc về gia đình Hêrôđê. Làm quận vương xứ Abilênê. Vùng này Chúa Giêsu ít qua lại.


+ Anna và Caipha: vị thượng tế chính thức là Giuse tên gọi Caipha. Ông làm thượng tế từ năm 18 đến năm 36 (sau Công nguyên). Anna là cha vợ của Caipha, làm thượng tế trước đó, từ năm 6 (trước Công nguyên) đến năm 15 thì bị hoàng đế Gratô bãi chức. Tuy thế, uy tín của ông vẫn còn lớn đối với dân Do Thái.


Các ngôn sứ trước hoạt động trong khung lịch sử của Guđêa hay Israel (x. Is 1,1; Gr 1,2; Ed 1,2; Hs 1,1; Am 1,1 v.v...). Chắc hẳn Thánh Luca có dụng ý khi nới rộng khung cảnh lịch sử trong toàn đế quốc Rôma nhắm đến sự phổ quát của ơn cứu độ. Đấng Cứu thế sẽ đem ơn cứu độ đến cho mọi dân không trừ ai, trong mọi lãnh thổ và dưới mọi sinh hoạt xã hội khác nhau.


Để được cứu độ thì con người phải thay đổi con người cũ của mình, phải ăn năn thống hối như Gioan mời gọi.


Gioan, con của Giacaria (câu 2b): Thánh Luca quy chiếu vào Gr 1,1: "Xảy đến lời của Thiên Chúa cho Giêrêmia, con của kelkiel...". Thánh sử đặc biệt lưu ý tới sứ mệnh của Gioan tiếp tục vai trò ngôn sứ của Giêrêmia. Được thánh hiến từ trong dạ mẹ (Gr 1,1; Lc 1,13) vị ngôn sứ loan báo cuộc phán xét cánh chung (Gr 1,10; Lc 3,9t) công bố vinh quang Đấng Thiên Sai (Gr 31; Lc 1,14; 3,15t) và giao ước mới của Thiên Chúa ký kết với mọi người dù họ là kẻ thấp hèn nhất (Gr 31,31-34; Lc 7,18-23).


Mọi xác phàm sẽ thấy sự cứu thoát của Thiên Chúa (câu 6): Đối với Thánh Luca, điều quan hệ không phải là những niên biểu chi tiết của lịch sử trần tục mà Thánh sử nêu ra. Ngài sử dụng khung cảnh đó để trình bày lịch sử cứu độ.


Khi trích dẫn lời ngôn sứ Isaia 40,3-5 Thánh Luca minh chứng rằng nơi những sự việc này đã hoàn tất lời tiên báo của Cựu ước. Thánh sử cho thấy tầm vóc chính xác: sứ mệnh của Gioan chính là loan báo lần cuối về ơn cứu rỗi của Thiên Chúa. Và sứ mệnh của Chúa Giêsu: Người là "Con Thiên Chúa đến ban ơn cứu rỗi cho mọi xác phàm".


Qua những lời tiên báo trên của Isaia, độc giả Tin mừng, nhờ ánh sáng phục sinh chiếu dọi, có thể nhận ra thiên tính của Chúa Giêsu cũng như ơn cứu rỗi Người mang đến cho mọi người.


Bởi vì ơn cứu rỗi được mời gọi đón nhận một cách phổ quát, nên Thánh Luca đặt nó vào trong bối cảnh lịch sử dân Chúa (ở Giuđêa, Galilê khắp vùng quanh sông Gardan dưới thời thượng tế Caipha v.v...) cũng như trong lịch sử dân ngoại (ở Iturê, Abilênê, dưới thời hoàng đế Tibêriô Gêdarê v.v...)


Tất cả những ai nghe lời hối cải, "hạ thấp đồi cao, lấp hố sâu", thì sẽ nhìn thấy Đấng Thiên Sai. Hay nói cách khác, điều kiện ắt có của ơn cứu độ là phải thay đổi tâm hồn. Gioan Tẩy giả cũng như các ngôn sứ Cựu ước đều rao giảng sứ điệp đó.


Ngôn sứ Baruc trong bài đọc thứ nhất mà chúng ta vừa nghe cũng thấp thoáng tâm tình hạ đồi lấp hố hay đơn giản là dọn đường và dọn lòng để Chúa đến:


Vì Thiên Chúa đã ra lệnh phải bạt thấp núi cao

và gò nổng có tự lâu đời,
phải lấp đầy thung lũng cho mặt đất phẳng phiu,
để Ít-ra-en tiến bước an toàn
dưới ánh vinh quang của Thiên Chúa.
Theo lệnh của Thiên Chúa, rừng xanh và đủ loại quế trầm
sẽ toả bóng che rợp Ít-ra-en,
vì Thiên Chúa sẽ dẫn Ít-ra-en đi trong hoan lạc,
dưới ánh sáng vinh quang của Chúa,
cùng với lòng từ bi và sự công chính của Người. (Br 5, 7-9)

Sứ điệp, tâm tình của Baruc và của Gioan Tẩy giả gửi đến chúng ta hết sức rõ ràng. Chúa thật sự đã đến trong cuộc đời này rồi, Chúa đã vào nhà của Người nhưng hình như người nhà không đón tiếp.


Dừng lại một chặng đường để nhìn lại cuộc đời, đôi lần đôi lúc chúng ta đã để những hố thật sâu, những núi thật cao của tiền tài và danh vọng trong cuộc đời của ta che lấp lối đi cũng như chỗ của Chúa trong lòng chúng ta. Chúa thì đã sẵn, phần còn lại lại của chúng ta. Nguyện xin Chúa cho chúng ta biết thay đổi lòng dạ chúng ta, biến dọn đường trong cuộc đời chúng ta để Chúa đến và ở lại trong cuộ đời chúng ta. Chỉ có Chúa mới là nguồn bình an đích thực và là Chúa của cuộc đời chúng ta mà thôi.

Anmai, CSsR

ĐỂ MỌI NGƯỜI NHẬN BIẾT ƠN CỨU ĐỘ
Lc  3, 1 - 6

Ngày khai mạc năm thánh nhân kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Hàng Giáo Phẩm Việt Nam vừa qua tại Sở Kiện, những ai trực tiếp tham dự hay theo dỏi cách nào đó đêm diễn nguyện, hẳn ít nhiều cũng cảm thấy xúc động về phần sám hối của giáo hội Việt Nam. "Giáo Hội chúng con xin chân thành thú tội. Giáo hội chúng con xin cúi đầu tạ tội." Câu ca thú lỗi lặp đi lặp lại sau những lời xưng thú với từng đối tượng về những lỗi lầm cụ thể khiến lòng người chìm hẳn xuống trong sự khiêm nhu. Một trong những lỗi lầm mà đoàn con Chúa dân Việt cần xưng thú đó là thái sống đạo ích kỷ, nghĩa là chỉ biết lo giữ đạo cho mình mà quên, đúng hơn là xao nhãng nghĩa vụ chia sẻ hồng ân tin mừng cứu độ mình đã lãnh, cụ thể là chưa tạo điều kiện để cho mọi người nhận biết ơn cứu độ.

Các bài trích đọc lời Chúa trong Chúa Nhật II Mùa Vọng C, đặc biệt bài trích sách Tiên tri Baruc và bài Tin mừng theo thánh Luca hướng cái nhìn của chúng ta đến hạnh phúc của tha nhân. Để cho đoàn dân đã bị lưu đày khắp cõi Đông Tây hân hoan thấy Chúa nhớ đến họ, đem họ trở về Giêrusalem trong vinh dự như các ông hoàng, Thiên Chúa ra lệnh hãy triệt hạ mọi núi cao, lấp bằng mọi hố sâu ( x. Bar 5,7 ). Thánh Gioan Tẩy Giả đã lấy lại lời ngôn sứ Isaia để xác định sứ vụ của mình là kêu gọi người ta "hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng, hãy lấp mọi hố sâu và hãy bạt mọi núi đồi; con đường cong queo hãy làm cho ngay thẳng, con đường gồ ghế hãy san cho bằng. Và mọi người sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa." ( Lc 3, 4-6 )


Mùa Vọng về, chúng ta vốn quen với nhiều lối suy tư mang tính luân lý như hãy bạt đi những núi đồi của sự cao ngạo, hống hách; hãy lấp đầy các hố sâu chia rẽ hay hố sâu của lòng tham vô đáy; hãy sửa cho ngay các con đường gian dối, xảo trá, bất công...Tuy nhiên cần để ý rằng những suy tư này thường mang tính cá nhân vị kỷ, nghĩa là hãy sửa lại những tâm tư, lối sống sai lạc, bất chính của mình để bản thân mình có khả năng hay gọi là xứng đáng đón nhận Đấng Cứu Độ.


Xin được hướng cái nhìn ra khỏi lòng mình để đến với tha nhân theo thánh ý Chúa là muốn cho mọi người nhận biết chân lý hầu được hưởng ơn cứu độ ( x.1Tim 2,4 ). Theo viễn kiến này thì việc bạt núi đồi, lấp hố sâu, sửa đường quanh co... không hạn chế ở chiều kích cá nhân mà còn mang chiều kích xã hội.


Bạt đi núi đồi kiêu căng, ngông cuồng: Chước cám dỗ thưở ban đầu sáng tạo vẫn còn đó. Nhân loại hôm nay dường như tiến bộ vượt bực trong các lãnh vực khoa học kỹ thuật. Dù còn nhiều hạn chế và bất cập, nhưng có thể nói rằng con người ngày nay có thể làm chủ các quy luật tự nhiên một cách nào đó. Và rồi đã có lúc con người những tưởng rằng mình có thể không chỉ thay trời làm mưa mà có thể tự mình làm ra cả trời. Việc kiếm tìm sự thiện, việc phân biệt điều thiện ác, lành dữ là việc đáng làm và phải làm hầu xứng với phận người. Tuy nhiên con người lại bị cám dỗ lấy bản thân mình làm điểm quy chiếu cho sự thiện sự ác. Khi chủ trương rằng không có sự thiện sự ác khách quan mà chỉ có điều dữ, điều lành theo sự thẩm định chủ quan của mình thì vô tình hay hữu ý con người muốn tự phong thần phong thánh cho bản thân. Cái nguy hiểm của sự kiêu ngạo còn nhân lên gấp bội khi được khoác chiếc áo tập thể. Biết rằng cái đa số chưa hẳn là chân lý, thế nhưng người ta cũng dễ an tâm khi thuộc về số đông ngay cả trong những điều nghịch lý hay vô luân. Người ta lại còn dễ bị cám dỗ đề cao cái tập thể của mình lên hàng muôn năm để rồi cá nhân của mình trở thành bất diệt. Chúng ta đừng quên bất cứ tập thể nào cũng do từng cá nhân gộp lại.


Khi nói đến các hố sâu, chúng ta dễ liên tưởng đến lòng tham lam vô đáy của con người. Thánh Kinh đã từng ví sự tham lam là một hình thức thờ ngẫu tượng. Cần nhìn nhận rằng sự tham lam khi mang tính cá nhân thì dễ bị trách cứ hay lên án, thế nhưng khi nó mang tính tập thể thì rất dễ được châm chước hay được biện minh, cho dù lắm khi chỉ là sự ngụy biện. Xin được nói đến các hố sâu của sự chia rẽ. Cần phải lấp đầy những hố sâu chia rẽ do hận thù, do bất đồng quan điểm, do khác nhau về niềm tin, về chính kiến. Ở đây không bàn đến những khác biệt mang tính cá nhân. Những sự khác biệt mang chiều kích tập thể, xã hội rất có thể là nguyên nhân phát sinh nhiều sự tranh chấp, loại trừ khủng khiếp. Các cuộc chiến tranh mang tính tôn giáo hay mang tình ý thức hệ mà lịch sử ghi lại cho chúng ta xác tín sự thật này.


Và cuối cùng là hình ảnh con đường quanh co. Với cá nhân thì có thể nghĩ đến sự thiếu ngay thẳng trong tâm tư, ý nghĩ và hành động của con người. Tuy nhiên dưới chiều kích xã hội thì chúng ta có thể nói đó là sự thiếu công minh trong các chủ trương, đường lối, chính sách, luật lệ. Hoặc nếu có luật lệ, chủ trương chính sách xem ra công minh nhưng việc áp dụng lại không công bình. Hiện tương "quan xử tình, dân xử nhặt" là một đan cử. Chính cái quanh co của các thể chế luật lệ đã hình thành nhiều tệ nạn như gian dối, tham ô, hối lộ, cửa quyền... mà không dễ gì diệt trừ ngày một ngày hai.


Phải sửa, phải lấp, phải bạt những gì cần bạt, cần lấp, cần sủa nơi con người mỗi người chúng ta. Thánh Gioan Tẩy giả đã nói với đám đông dân chúng là: "Ai có hai áo thì chia cho người không có; ai có của ăn cũng hãy làm như vậy". Với người thu thuế thì rõ ràng "đừng thu thuế quá mức ấn định" Với binh lính thì "đừng hà hiếp dân, hãy bằng lòng với lương bổng của mình" ( x. Lc 3,-14 ). Thế nhưng với nhiều người Pharisiêu và nhóm Sađốc thì Ngài mạnh mẽ vạch mặt: "Nòi rắn độc kia, ai đã chỉ cho các anh cách trốn cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sắp giáng xuống vậy ?" ( Mt 3,7 ).


Đọc Tin Mừng chúng ta thấy Chúa Giêsu rất độ lượng, khoan dung với những người bé mọn, yếu đuối và cả tội lỗi, thế nhưng Người lại có vẻ cương quyết và nghiêm khắc với nhiều người lãnh đạo Do Thái giáo, hoặc có vai vế, có ảnh hưởng trên dân thời bấy giờ. Cái nguyên nhân chính đó là vì không chỉ cung cách sống của họ bất minh mà còn vì lề lối hướng dẫn, sự chỉ đạo của họ không ngay thẳng khiến cho nhiều người lầm lạc. "Khốn cho các ngươi, hỡi các kinh sư và người Pharisiêu giả hình ! Các ngươi khóa cửa Nước Trời không cho thiên hạ vào ! Các ngươi đã không vào mà những kẻ muốn vào, các ngươi lại không để họ vào...Các ngươi rảo khắp biển cả đất liền để rủ cho được một người theo đạo; nhưng khi họ theo rồi, các ngươi lại làm cho họ đáng xuống hỏa ngục gấp đôi các ngươi..." ( Mt 23, 13-32; x. Lc 11,39-48 ).


Sự cao ngạo, xấu xa, bất minh, quanh co...trong đời sống cá nhân là điều đáng trách nhưng cũng có thể đáng thương vì ít nhiều còn vấn vương sự yếu đuối. Sự xấu xa, quanh co, bất chính, bất minh, ngông cuồng trong các chủ nghĩa, chủ trương, đường lối, chính sách...và cơ chế vận hành của chúng thì cần phải mạnh mẽ lên án và loại trừ, không nguyên chỉ vì chúng được hình thành bằng sự chủ ý, mà con vì hậu quả khôn lường mà chúng di hại cho xã hội, đặc biệt cho những người bé mọn.


Vừa qua, giám mục Thomas J. Tobin, giám mục Providence đã mạnh mẽ khẳng định rằng trong việc tranh luận" ( bàn về chân lý ), thì không thể chấp nhận chuyện đưa má bên kia cho người ta tát, nghĩa là luôn luôn tỏ ra dịu dàng, dễ thương. " Khi đối chứng với điều ác, Chúa Giêsu đã không dễ chịu, tử tế, nhẹ nhàng, và dịu ngọt ". " Chuá đã sống trong một thế giới thô bạo và đảo ngược và Người đã tuyên xưng thông điệp của Người trên đường phố." ( x. Chân dung một Giám Mục Mỹ: Khi tranh luận, sẽ không đưa ra má bên phải -VietCatholic News (12 Nov 2009 18:17)


Để mọi người nhận biết ơn cứu độ, thì còn đó rất nhiều việc Kitô hữu chúng ta, con chiên lẫn chủ chiên, cần phải làm, và lắm khi phải can đảm lội ngược dòng. Dĩ nhiên khi đã làm thì chúng ta khó tránh khỏi chuyện phải vác thập giá. Và chuyện cũng đương nhiên đó là có vác thập giá mình đi theo Đấng đã bỏ trời xuống làm người để làm chứng cho sự thật thì mới đích thực là môn đệ của Người ( x. Lc 14,27; Ga 18,37 ).

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

HÃY SÁM HỐI VÀ ĐỔI MỚI
Lc  3, 1 - 6

Mỗi khi mùa vọng tới, chúng ta như được đánh động bởi mẫu gương của Gioan Tẩy Giả. Một con người sống đời sống đơn giản và được trao cho sứ mạng dọn đường cho Đấng Cứu Thế: " Có tiếng kêu trong hoang địa.Hãy dọn đường cho Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi " ( Lc 3, 4 ). Gioan Tẩy Giả đã chứng kiến cuộc đời muôn mặt và lòng người thì đầy nham hiểm, hố sâu, lồi lõm. Do đó, thánh nhân đã mời gọi mọi người hãy ăn năn sám hối, canh tân đổi mới để đón chờ Đấng Cứu Độ.

Đọc kỹ đoạn Tin Mừng của thánh sử Luca 3, 1-6, chúng ta sẽ thấy bối cảnh chính trị khi Gioan Tẩy Giả xuất hiện. Tin Mừng vạch rõ đủ mặt các vị vì vọng như hoàng đế Tibêriô, Phongxiô Philatô, các tiểu vương vùng Palettin là Hêrôđê, Philip, Lysiana, sau cùng là các vị lãnh đạo tôn giáo Do Thái: Ông Anna và ông Caipha. Gioan chỉ là một người vô danh tiểu tốt, một người khó nghèo, khiêm tốn và đơn sơ. "
Có lời Thiên Chúa phán cùng con ông Dacaria là ông Gioan trong hoang địa...".Vâng, đã từ lâu từ thời các ngôn sứ, dân Israen không được nghe chính Thiên Chúa trực tiếp dạy bảo. Nay, Thiên Chúa lên tiếng qua một con người xem ra rất dân dã, hoang dã mình khoác mảnh da lạc đà. Thiên Chúa không lên tiếng trong đền thờ nhưng Ngài lên tiếng trong hoang địa, gần sông Giođanô.Gioan Tẩy Giả là người hoang dã, nhưng ông được Thiên Chúa ban ơn. Nên, ông thông minh, ăn nói lưu loát, miệng lưỡi đầy Thần Khí của Chúa. Thánh nhân trưng dẫn lời ngôn sứ Isaia rằng dân Israen đã được Thiên Chúa giải thoát ra khỏi cảnh lưu đầy ở Babylon, họ được trở về quê hương cũ và được chính Thiên đến nâng đỡ, an ủi, vỗ về. Gioan Tẩy Giả đã loan báo rằng: " Mọi thung lũng, phải lấp cho đầy; khúc quanh co, phải uốn cho ngay; đường lồi lõm, phải san cho phẳng " ( Lc 3, 5 ). Thánh Gioan đã làm phép rửa thống hối. Ngài đã dìm những hối nhân xuống nước để họ chết đi cho tội lỗi và tâm hồn được sạch hầu đón nhận ơn cứu rỗi mà Thiên Chúa sẽ ban cho họ. Đây là nghi thức nói lên rằng con người phải thay đổi tận gốc rễ.Con người phải ăn năn sám hối, đổi mới con tim, chia sẻ với tha nhân và chờ đợi Chúa Kitô đến.

Hậu quả việc làm của Gioan là làm cho cả xã hội lúc đó biến đổi khiến những nhà lãnh đạo đời và cả đạo đâm ra lo lắng, hoang mang. Gioan Tẩy Giả bị hành hình, nhưng "
Đấng đến sau Gioan quyền năng hơn ông đến nỗi ông nói không sợ hãi rằng ông không xứng đáng cỏi giây giầy cho Ngài ". Đấng đến sau là Chúa Kitô lại tiếp tục đương đầu với bọn cầm quyền đạo đời khiến họ cũng theo một sách lược là kiếm cách khử trừ Ngài để tránh hậu họa.

Tuy nhiên,trước mặt họ những nhà cầm quyền đạo đời lúc đó chỉ thấy một vị vua phục vụ: "
Đến để hầu hạ chứ không để được hầu hạ ". Nhưng họ vẫn cam tâm khử trừ Ngài.

Gioan Tẩy Giả luôn lớn tiếng kêu mời mọi người sửa sang đường sá. Nhưng ý của Gioan Tẩy Giả là đường vào tâm hồn mới thật quan trọng:


Con người phải lấp cho đầy những tỵ hiềm, tham lam, ích kỷ hẹp hòi, nông cạn. Con người phải uốn cho những lối nghĩ đúng theo suy nghĩ của Chúa. Phải san cho bằng những nẻo đi trệch đường của ngạo mạn, tự tôn, tự đắc. Phải bạt cho thấp, cho bằng những gồ ghề của bất chính, bất công, bất nghĩa.


Những chướng ngại ngăn cản con người đến với Chúa, chúng ta phải thật lòng ăn năn sám hối, đổi mới tâm hồn để Chúa có thể đến và ngự lại trong tâm hồn chúng ta. Gioan Tẩy Giả là ngôn sứ đến dọn đường cho nhân loại đón Chúa lần đầu, chúng ta là ngôn sứ chuẩn bị cho Chúa đến từng ngày trong cuộc sống của tha nhân.


Chúa Kitô chỉ có thể đến với con người trên những con đường ngay nẻo chính. Ơn cứu độ của Chúa cũng chỉ được ban cho những con tim, những tâm hồn, những bàn tay biết mở rộng.


Lạy Chúa, xin cho chúng con biết nhận ra những lỗi lầm của chúng con để chúng con biết ăn năn, sám hối hầu Chúa thứ tha và thi ân giáng phúc cho chúng con. Amen
.

HÃY DỌN ĐƯỜNG CHO CHÚA
Lc  3, 1 - 6

Chúa đang đến! Hãy nhìn để thấy, hãy chuẩn bị tâm hồn, Chúa sẽ hoàn tất những gì người đã khởi sự nơi mỗi người chúng ta.

1. Hãy đứng lên cao và hãy quan sát, để thấy. ..


Dân chúng, số sót lại tại Yêrusalem thời Barúc rất bi quan vì vua quan và những người tài giỏi đã phải đi đày ở Babylon. Đất nước tiêu điều tang thương. Làm sao mà vui được khi đất nước trong hoàn cảnh như vậy!


Chính trong hoàn cảnh âu sầu đó, tiên tri loan báo cho dân một tin mừng: dân con Do Thái sẽ trở về từ khắp đông tây. Chính Thiên Chúa sẽ đem con dân Ngài trở về quê hương thoát cảnh lưu đày biệt xứ.


Vui mừng trên toàn đất nước, cả đến suối nước rừng cây cũng cùng dân vui mừng hoan hỉ, vì chính Thiên Chúa lãnh đạo dân và tình thương lan toả trên khắp đất nước.


2. Thiên Chúa đã và đang làm những điều vĩ đại


Đưa dân Do Thái trở về từ nơi lưu đày, làm sao người có thể làm được. Làm sao người Do Thái có thể mạnh, để đánh thắng nước đang bắt những người Do Thái lưu đày để giải phóng họ, khi "số sót" những người không bị lưu đày là những người hèn yếu kém tài? Thiên Chúa đã sai Đấng Kitô của Ngài tới để giải phóng dân Do Thái đang bị lưu đày trở về, đó là vua Kyrô, một vua ngoại không phải là người Do Thái, đã ban lệnh cho người Do Thái lưu đày được trở về quê hương, và được phép tái thiết đền thờ đã bị vua Babylon phá hủy (Is.45, 1). Điều con người không thể ngờ, không dám mong chờ thì Thiên Chúa vẫn làm cho con người. "Đức Chúa đã làm những điều trọng đại cho chúng tôi, nên chúng tôi mừng rỡ hân hoan"!


"Tin vào Tin Mừng, tin rằng Đức Giêsu là Thiên Chúa nhập thể, là Thiên Chúa làm người", là điều vô cùng khó đến độ có thể nói, không ai có thể làm được. Ấy thế mà Thiên Chúa vẫn làm; Ngài đã cho chúng ta và bao người tin vào Thiên Chúa, tin vào Đức Giêsu.


Yêu người, cũng là những điều khó mà Thiên Chúa vẫn giúp chúng ta thực hiện. Người ta có kinh nghiệm yêu thương khó đến mức nào, khi người đó bị xúc phạm hay bị làm hại nặng nề. Con người không thể làm được, thì Thiên Chúa vẫn có thể và luôn giúp con người thực hiện.


3. Chúa đang tới


Những nhân vật quan trọng trước khi đến đâu, thường có những người tới trước để dọn đường, để chuẩn bị. Chúa sắp tới, nên Gioan Tẩy Giả đã được sai tới để chuẩn bị cho dân đón Chúa. Điều Gioan Tẩy Giả hô hào dân chúng chuẩn bị đón mừng Đấng Thiên Sai, là "hãy dọn đường cho Chúa trong tâm hồn mỗi người, hãy uốn cho thẳng những chỗ quanh co không ngay thẳng, san bằng những hố sâu ngăn cách".


Chỉ khi nào con người chuẩn bị sẵn sàng đón Chúa, con người mới có thể nhận ra Chúa mà thôi. Ngày xưa dân Bêlem không nhận ra Chúa tới với họ, nên Chúa đã phải được sinh trong chuồng chiên cừu; dân chúng không nhận ra Chúa, nên đã không tin theo và còn đóng đinh Ngài vào thập giá.


Hôm nay, tôi có nhận ra Chúa tới với tôi qua những "dấu chân" không? Tạo vật và mỗi người chúng ta, cũng có thể trở thành "dấu chân" của Chúa.

Nếu tôi không biết nhìn, không biết trèo lên nơi cao để nhìn, hoặc không biết vào nơi kín đáo để thấy, hoặc không sẵn sàng, thì không thể thấy Ngài được. Xin cho chúng ta cũng biết lên núi (cầu nguyện) để nhận ra Chúa đang tới, đang ở với chúng ta.

Hãy dọn đường Chúa, hãy bạt cho bằng, hãy uốn cho ngay....! Nếu không làm vậy, không thể nhận ra Chúa được. Xin Chúa giúp chúng con chuẩn bị bằng từ bỏ chính mình, để nhận ra và đón mừng Chúa.

LM Phạm Thanh Liêm, SJ

LÁ PHẢI THAY ĐI
Lc  3, 1 - 6

Cứ thử tưởng tượng khuôn mặt của bạn bị dị hình vì bẩm sinh, hoặc do tai nạn, và bạn đuợc 'ráp' một khuôn mặt khác của ai đó đã... chết rồi! Thân hình "quanh co uốn cho ngay" hoặc "lồi lõm san cho phẳng" thì còn có thể tin đuợc, nhưng thay cả khuôn mặt thì cứ như trong chuyện thần thoại hoang đuờng.

Mà không thần thoại hoang đuờng làm sao đuợc vì chỉ cách đây vài thập niên, đã có ai dám nghĩ dám tin rằng tim gan mình đuợc thay bằng tim gan người khác! Hoặc phẩu thuật mà chẳng cần kéo cần dao! Và với những tiến bộ vượt bực về y khoa, chuyện tưởng chừng như không thể kia sẽ trở thành hiện thực một ngày không xa lắm.


Nhưng thay hình đổi dạng bên ngoài không phải là trọng tâm và chủ đích của mùa Vọng. Mùa mong "trời cao đổ sương xuống" và mùa đợi "mây mưa Đấng Cứu Tinh" đòi buộc sự lột xác toàn diện của mỗi một người. Một thay đổi từ tận nguồn căn. Từ trong ra và từ đáy rễ.


Như tiên tri Ba-rúc bắt đầu bằng thay đổi xiêm y: "Hỡi Giêrusalem! Hãy cởi bỏ áo tang khổ nhục, và muôn đời mặc lấy ánh huy hoàng của vinh quang Thiên Chúa, hãy khoác vào mình đức công chính của Thiên Chúa như tấm áo choàng, đội lên đầu vinh quang của Đấng vĩnh cửu.."


Và thay đổi ngay cả tên gọi mình: "Mãi mãi Người sẽ gọi tên ngươi là 'Bình-an-xây-dựng-trên-công-chính' và 'Vinh-quang-phát-xuất-tự-lòng-tôn-sùng-Thiên-Chúa." Từ nơi hoang địa, Gioan Tiền Hô chân đất mình trần kêu gọi mọi người quanh bờ sông Giođan trù phú hãy vuợt ra khỏi những sa mạc hoang vắng đời mình. Thật thế, tuy sống thảnh thơi trong dinh thự lầu cao giữa những phố phường ngựa xe tấp nập, chúng ta dễ tự tạo cho mình những sa mạc xa vắng cách ly. Với gia đình. Với bà con chòm xóm. Với bạn hữu thân quen...


Và điều cực kỳ nguy hiểm là khi sống cô lập trong những hoang địa tự tạo kia, chúng ta xem thường và dần quen với ngàn muôn thú dữ. Thú dữ của ganh tỵ ghen tương. Thú dữ của đua đòi thèm muốn. Thú dữ của quyền bính tham lam.


Mùa Vọng, vì thế, không phải là thời gian thụ động bó gối chờ mong mưa mây và sương mai từ trời cao đổ xuống, mà là lúc tay áo xắn cao vượt ra khỏi những tháp ngà cao đóng khung vị kỷ. Hãy xẻ núi phân chia và hãy bạt đồi hiềm khích. Hãy uốn nắn những dối trá quanh co và hãy san bằng những đảo điên lồi lõm.


Thật dễ dàng khi thản nhiên sống nhỡn nhơ trong sa mạc cô vắng đời mình. Nhưng một đời sống xiềng xích không biết người chỉ biết mình kia không mang nghĩa "tốt lành" theo ý Đấng Tạo Thành. Mùa Vọng không chỉ là mùa của đợi chờ. Đó là mùa lá vàng phải rụng xuống. Là mùa cây cỏ phải khô đi...

Lm Nguyễn Khoa Toàn

DỌN ĐƯỜNG
Lc  3, 1 - 6

Tiên tri Barúc sống trong thời dân Chúa bị lưu đầy, ông đã lên tiếng an ủi dân bằng việc loan báo ngày giải thoát sắp đến "Thiên Chúa sẽ dẫn Israel đi trong hoan lạc dưới ánh vinh quang của Chúa, cùng với lòng từ bi và sự công chính của Ngài" với điều kiện hãy bạt thấp núi cao và gò nổng có từ lâu đời, phải lấp đầy thung lũng cho mặt dất phẳng phiu" (Br.5,1-9), và Thánh Gioan Tẩy Giả cũng kêu gọi dân chúng trong thời Tân Ước hãy dọn đường cho Chúa đến bằng cách sám hối, hoán cải đời sống ( Lc.3,1-6). Còn Thánh Phaolô mời gọi dân thành Philipphê hãy dọn đường một cách tích cực hơn, qua việc bồi dưỡng tình mến ngày càng thêm dồi dào, và cố gắng sống tinh tuyền để không có gì đáng trách trong ngày Chúa đến (Pl.1,4-6.8-11))

Trong Cựu Ước thời ngôn sứ Barúc, dân tộc Israel bị rơi vào tình trạng bị đô hộ, thành Giêrusalem bị tàn phá, và con cái họ bị lưu đầy sống trong cảnh lưu vong khổ cựu, họ đã than phiền " Thiên Chúa ở đâu?" phải chăng Ngài quên lời hứa....Chính vì những lời than vãn ấy, tiên tri đã phải trấn an họ và nhắc nhở rằng: Thiên Chúa không bao giờ quên. Những khốn khó họ đang chịu sẽ chấm dứt, nhưng họ cần phải dọn đường cho Ngài.


Dọn đường đó là gì thì Gioan Tiền Hô đã dạy : Hãy làm cho đường cong queo thành ngay thẳng, thung lũng lấp cho đầy, núi đồi san cho bằng và mọi người sẽ thấy ơn cứu độ của Chúa chúng ta. Lời của ông của ông đã đến với mọi người vùng ven sông Giodan. Lời Chúa ông nghe trở thành Lời Chúa ông công bố. Tiếng Chúa gọi ông trở thành tiếng ông mời gọi mọi người. Ong kêu gọi mọi người sửa sang đường sá. Nhưng con đường quan trọng là con đường nội tâm: Phải lấp đầy những hố tham sân si. Phải uốn ngay nhưng suy nghĩ quanh co, tính toán sai lạc. Phải san cho phẳng những núi đồi ngạo nghễ của tự ái, kiêu căng. Phải phạt cho thấp những chỗ gồ ghề lồi lõm của bất công, bất chính.


Gioan Tiền Hô mời dân chúng phải hoán cải, không thể tiếp tục sống như xưa nữa. Đã đến lúc phải đổi đời, đổi lối nhìn, lối suy nghĩ. Ong kêu gọi cả Thành Giêrusalem hãy sửa sang đường sá để đón vua Israel, Đấng ông không dám cởi dây giầy. Con đường quan trọng chính là đường vào cõi lòng. Bao nhiêu toan tính quanh co lệch lạc. Bao nhiêu lũng sâu tăm tối thiếu vắng ánh sáng tình yêu đều phải canh tân. Canh tân những thứ đó chính là sám hối. Dẹp bỏ những chướng ngại tâm hồn để Chúa có thể đến và ngự lại đó. Thiên Chúa chỉ có thể đến gặp con người trên những con đường ngay thẳng, phẳng phiu, và ơn cứu độ của Người cũng chỉ ban cho những ai rộng tay đón nhận.


Lời mời gọi của Tin mừng hôm nay thật dễ hiểu, công việc dọn đường của chúng ta là chấn chỉnh đời sống, điều chỉnh tư tưởng, lời nói, việc làm của mình. Đó chính là hoán cải, là trở lại, không chỉ trong hành động vi phạm các nguyên tắc luân lý, mà cả trong lời nói và suy nghĩ, não trạng, trong hiểu biết của chúng ta. Ngày nay chúng ta thường đón Chúa bằng cách lo cho hang đá thật đẹp, đủ kiểu, đủ màu, đèn hoa rực rỡ. Những hình ảnh ấy rất xa lạ với hang đá Belem. Chúng ta còn lo đón Chúa với những bữa tiệc linh đình mà quên đi phần thiêng liêng. Hãy sám hối những lầm lỗi ấy mà lo dọn đường tâm linh. Tuy nhiên việc dọn đường này không dễ, nó gây cho chúng ta nhiều đớn đau lắm. Đớn đau vì phải lội ngược dòng, chấp nhận bị khai trừ. Chúa Giêsu hôm nay cũng mời gọi chúng ta trở thành Gioan Tẩy Giả, biết kêu lên bằng chính cuộc sống canh tân của mình, dám sống điều mình nói và dám nói điều mình sống.


Chúng ta đã bước vào Tuần II Mùa Vọng, hãy thức tỉnh và suy nghĩ, con đường chúng ta phải dọn cho Chúa đến là con đường nào? Con đường vật chất hay tinh thần? Con đường Chúa mong muốn đi qua đó là con đường nội tâm, thu xếp trong tâm hồn chúng ta những con đường ngay thẳng, cách sống đáng khen, những việc làm tuyệt đẹp để con đường Ngôi Lời có thể đi mà không gặp cản trở nào, đó là con đường mà thánh gioan Tẩy Giả vạch ra. Mùa Vọng trở về chúng ta phải nghe theo lời của thánh Gioan và dọn đường ngay đi kẻo không kịp.


Lạy Chúa, xin lửa tình yêu Chúa lấp đầy những hố sâu chia rẽ, tị hiềm. San bằng những núi đồi kiêu căng tự mãn. Uốn ngay những thành kiến cong queo nơi mỗi người chúng con. Để chúng con xứng đáng là hiện thân của Thánh Gioan Tiền hô trong ơn gọi Kitô hữu, giúp mọi ngừơi và bản thân chúng con chuẩn bị lòng đón Chúa đến.

Sr Mai An Linh OP

HÃY DỌN SẴN CON ĐƯỜNG
Lc  3, 1 - 6

Hàng năm, cứ vào Mùa Vọng, Giáo Hội lại giới thiệu cho chúng ta một nhân chứng sống động là thánh Gio-an Tiền Hô, để thúc đẩy chúng ta bắt chước thái độ của ngài, trước sứ điệp cứu độ. Có lẽ đôi khi chúng ta có cái nhìn "hơi hà tiện" đối với thánh Gio-an, và cho rằng đời ngài chỉ là thứ "quét dọn mở đường". Dĩ nhiên đó là hình ảnh trước Chúa Cứu Thế. Nhưng thật ra danh hiệu và sự nghiệp của ngài gắn liền với chương trình cứu chuộc của Chúa Giêsu, thậm chí không thể nào nói đến Chúa Giêsu mà không nhắc đến vị Tiền Hô của Người. Chính phụng vụ đã để cả Mùa Vọng nhắc đến ngài.

Ngài là con hiếm muộn duy nhất của ông Da-ca-ri-a và bà Ê-li-sa-bét. Ngay từ trong lòng mẹ ngài đã được thánh hiến cho Thiên Chúa, nghĩa là được Thiên Chúa cho khỏi tội tổ tông khi còn trong lòng mẹ và được tràn đầy Chúa Thánh Thần. Lớn lên, ngài sống một cuộc đời khắc khổ : vào trong "hoang địa" tu thân, ăn châu chấu với mật ong rừng và mặc áo nhặm. Tới tuổi trưởng thành, ngài được Thiên Chúa thúc đẩy đi hành nghề ngôn sứ : vào năm 15, thời hoàng đế Ti-bê-ri-ô là vị vua uy hùng lúc ấy. Trong bối cảnh lịch sử đó còn có tổng trấn Phi-la-tô, vua Hê-rô-đê, quan Phi-líp-phê, tiểu vương Ly-xa-ni-a làm mốc thời gian. Về phần tôn giáo có thượng đế Kha-nan và Cai-pha làm nhân chứng cho ngài.


Ngài xuất hiện trong lịch sử Do Thái sau 5 thế kỷ vắng bóng ngôn sứ. Ngài hành nghề khắp vùng sông Gio-đan. Dân chúng từ khắp Giê-ru-sa-lem và cả miền Giu-đê tuôn đến với ngài. Ngài rao giảng kêu gọi thống hối và làm phép rửa cũng nhắm tới sự thống hối. Ngài tha thiết kêu gọi dân chúng trở về với Chúa bằng cách đoạn tuyệt với tội lỗi.


Sứ mạng của ngài là dọn đường cho Đấng Cứu Thế đến, nên ngài kêu gọi mọi người hãy thay đổi đời sống : "Hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi. Mọi thung lũng phải lấp cho đầy, mọi núi đồi phải bạt cho thấp, khúc quanh co phải uốn cho ngay, đường lồi lõm phải san cho phẳng".


Cụ thể, bạt núi đồi là hãy dẹp bỏ tính kiêu ngạo, khoe khoang, tự hào, tự phụ, khoác lác ba hoa. Lấp mọi hố sâu là hãy điều chỉnh lại cho tròn đầy những thiếu sót bổn phận đối với Chúa, đối với người, đối với gia đình và với chính bản thân mình. Uốn nắn lại những quanh co, cong queo là hãy sửa chữa lại những gian dối, giả hình, ăn không nói có, thay trắng đổi đen, thay đen đổi trắng, ngôn hành bất nhất, lời nói và việc làm không đi đôi với nhau. San phẳng những gồ ghề lồi lõm là từ bỏ những tính khó nết, khó sống, chẳng sống được với ai và cũng chẳng ai sống được với mình v.v...


Thánh Gio-an đã lãnh sứ mạng Thiên Chúa trao phó cho ngài trong một khung cảnh của lịch sử thời ngài, và làm tròn sứ mạng là chuẩn bị tâm hồn mọi người đón Chúa Cứu Thế đến. Chúng ta cũng lãnh nhận sứ mạng Ki-tô hữu trong thời đại chúng ta. Sứ mạng của chúng ta vẫn là dọn đường cho mọi người được thấy, được biết ơn cứu độ của Thiên Chúa. Thánh Gio-an đã dạy cho người thời ngài : bạt đồi lấp hố, uốn nắn cong queo, san bằng lồi lõm để dọn đường cho Chúa. Chúng ta hôm nay cũng phải dọn đường cho Chúa như thế. Đâu là những đồi cao, những hố sâu, những cong queo, những lồi lõm gồ ghề nơi bản thân, trong gia đình, trong cộng đoàn, trong xã hội. Và chúng ta phải quyết tâm sửa chữa những sai lầm, những thiếu sót ấy.


Mùa Vọng là dịp nhắc nhở chúng ta hãy xét mình, kiểm điểm đời sống qua lời kêu gọi của thánh Gio-an Tiền Hô, để cải thiện đời sống mỗi ngày thêm tốt đẹp hơn. Mỗi người chúng ta đều có một giấc mơ về một thế giới tốt đẹp hơn, đầy yêu thương và an hòa. Nhưng phương thế duy nhất để xây dựng một thế giới tốt đẹp là xây dựng con người chúng ta tốt đẹp hơn, thiện hảo hơn.


Đối với chúng ta hôm nay, ơn kêu gọi của chúng ta cũng là làm chứng cho Chúa. Thánh Gio-an Tiền hô đã làm chứng cho Chúa trong thời đại của ngài bằng lời nói, bằng việc làm và bằng chính đời sống của ngài. Chúng ta cũng vậy, chúng ta phải làm chứng cho Chúa trong môi trường chúng ta sống. Nhưng muốn cho lời chứng hay bằng chứng của chúng ta có hiệu quả, trước hết chúng ta phải có một đời sống xứng đáng, đoạn tuyệt với tội lỗi và những tính mê nết xấu và thể hiện một đời sống bác ái yêu thương. Đó là những việc chúng ta cần làm để chuẩn bị mừng Chúa giáng sinh.


Tóm lại, dù chúng ta sống trong hoàn cảnh nào thì lời Chúa hôm nay vẫn là một lời khẩn thiết. Xin mỗi người hãy lắng nghe và thực thi để kinh nghiệm được ơn lộc của Mùa Vọng năm nay như cách đây hai ngàn năm, những người Do Thái đã nghe lời Gio-an Tiền Hô. Xin Chúa cho mỗi người chúng ta đều hăng say nhiệt tình thực hiện lời Chúa hôm nay để đổi mới cuộc đời mình, vừa chuẩn bị mừng lễ Giáng Sinh vừa lãnh nhận được nhiều hồng ân của Chúa.

Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP

ĐỔI MỚI TÂM HỒN
Lc  3, 1 - 6

Đổi mới tâm hồn, chuyển hóa nội tâm là điều kiện cần thiết nhất để con người được sống tốt hơn, trong sáng hơn và gần gũi Chúa nhiều hơn. Xem ra việc đổi mới con người, cải tà qui chánh, biến đổi tâm hồn vẫn là những việc đòi con người phải cố gắng, phấn đấu, hy sinh từ bỏ. Bởi vì ai cũng ngại vác thánh giá mà thánh giá lại là con đường giúp người ta nên thánh, con đường giúp con người tốt hơn, đẹp hơn vv...Muốn đổi mới nội tâm, biến đổi con người nên tốt cần phải có người nhắc bảo, chỉ vẽ...Thánh Gioan Tẩy Giả đã làm công việc dọn đường cho Chúa, ông kêu gọi con người ăn năn, sám hối : " Đồi cao phải bạt xuống, hố sâu phải lấp cho đầy, quanh co phải uốn cho ngay...". Đó là lời kêu gọi của Gioan Tẩy Giả để con người có thể đón nhận được Đấng Cứu Độ.

Tin Mừng của thánh Luca 3, 1-6 trình bầy bối cảnh chính trị khi Gioan Tẩy Giả xuất hiện. Các bộ mặt lớn lúc đó đều hiện nguyên hình : hoàng đế Tibêriô, còn Phongxiô Philatô đại diện hoàng đế làm tổng trấn miền Giuđêa, Hêrôđê làm tiểu vương miền Galilê, người em là Philíp làm tiểu vương Iturê và Trakhônít, Lyxania làm tiểu vương miền Abilê, Hanna và Caipha làm thượng tế. Với thế lực cường quyền mạnh nhất lúc đó, Gioan Tẩy Giả chỉ là một con người vô danh tiểu tốt, trần trụi và thấp bé theo nghĩa trần gian: "...Có lời Thiên Chúa phán cùng con ông Dacaria là ông Gioan trong hoang địa" ( Lc 3, 2 ). Đã lâu lắm rồi, từ thời các ngôn sứ, dân Do Thái không được nghe tiếng Thiên Chúa dậy bảo. Hôm nay, Ngài lại lên tiếng. Tiếng của Ngài không phải qua miệng các Vua chúa quan quyền, những người có thế lực trong xã hội, mà ngang qua một con người dân dã, chân quê. Thiên Chúa cũng không lên tiếng trong Đền Thờ, trong nơi thờ phượng mà Ngài lên tiếng trong vùng hoang địa, gần sông Gio- đan.


Gioan Tẩy Giả là con người dân dã, nhưng lòng ông không phải tầm thường, trí khôn ông thì khôn lường, ông đầy chữ nghĩa của các bậc thánh hiền, ông trưng ra những câu sấm ngôn, những lời nói của ngôn sứ Isaia loan báo cuộc lưu đầy tại Babylon đã chấm dứt, dân Do Thái trở về quê cha đất tổ và Thiên Chúa đích thân đến an ủi dân của Ngài. Ông Gioan đi khắp ven vùng sông Gio-đan, rao giảng phép rửa sám hối. Phép rửa của Gioan là dìm tội nhân xuống nước có ý nói rằng con người phải chết đi cho tội lỗi, rồi mới được tái sinh mà lãnh nhận ơn cứu độ của Thiên chúa sắp ban cho con người. Đây là một biểu tượng cụ thể kêu gọi con người "dìm xuống", tức chết đi, thay đổi tận cội nguồn gốc rễ để trở thành con người mới mà đón nhận Thiên Chúa đến. Việc làm của Gioan Tẩy Giả mang theo sự đổi mới của toàn xã hội khiến những người cầm quyền xã hội và những nhà lãnh đạo tôn giáo lúc đó lo âu, sợ sệt. Họ hốt hoảng vì sợ ông Gioan, do đó, họ bắt giam và hành hình ông Gioan, nhưng có người tới sau ông là" Chúa Giêsu, người có đầy quyền năng, uy dũng hơn ông", lại phải tiếp tục đương đầu với giới cầm quyền và những người lãnh đạo tôn giáo. Họ sợ Người, nên họ muốn ra tay trừ khử Người vì sợ hậu hoạ.


Sợ Gioan Tẩy Giả vì những lời rao giảng thống hối, lãnh nhận phép rửa do ông loan báo, các vị cầm quyền xã hội và các vị lãnh đạo tôn giáo thời đó đã loại trừ Gioan ra khỏi xã hội con người bằng việc hành hình man rợ. Chúa Giêsu đến. Họ vẫn sợ Chúa Giêsu. Họ đã tìm đủ cách để loại trừ Ngài. Nhưng họ đã thấy gì nơi Chúa Giêsu ? Phải chăng họ đã thấy một Chúa Giêsu ham danh vọng, ham chức tước, một Chúa Giêsu giầu sang, phú quý. Không, nhất định là không, vì Chúa Giêsu chỉ là vị Vua phục vụ, Vua tôi tớ: " Đến để phục vụ, chứ không đến để được hầu hạ ". Chúa đến để thiết lập một xã hội mới, một Vương Quốc hòa bình và yêu thương. Vương quốc của Ngài không thuộc về thế gian:" Nước Tôi không thuộc thế gian này "


Chúa là Vua nhưng Vua yêu thương, Vua hiền hậu, Vua khiêm nhượng, cỡi lừa đi vào Thành Thánh. Chúa đến để khai mở một tương lai mới, một trời mới đất mới. Chúa đến để thiết lập một Vương Quốc công bình, hiệp nhất và đầy tình bác ái, một Vương Quốc mà những người có lòng tin luôn luôn hướng tới và mong chờ.


Gioan Tẩy Giả đã chết đi để nói lên sự thật, làm chứng cho sự thật và minh chứng cho Đức Kitô Giêsu :" Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại ".


Vâng, "...Có tiếng người hô trong hoang địa : hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi...Rồi hết mọi người phàm sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa " ( Lc 3, 4-6 ).


Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến ! Maranatha, Người ơi, xin mau đến. Amen.

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT

DỌN ĐƯỜNG CHO CHÚA ĐẾN
Lc  3, 1 - 6

Một chiều gần áp ngày lễ Giáng Sinh, quan tòa hỏi một tù nhân: "Anh bị cáo về tội gì?" Bị cáo đáp: "Dạ thưa vì tội shopping đồ Giáng Sinh quá sớm." "Cái gì? Shopping sớm đâu có phải là tội," Quan tòa hỏi tiếp: "Anh nói sớm vậy sớm như thế nào?" Bị cáo giải thích: "Dạ, dạ, dạ thưa sớm là trước khi tiệm mở cửa."

Chưa đến lễ Giáng Sinh, nhưng đó đây đã thấy đầy dẫy những cửa tiệm, các dịch vụ quảng cáo hấp dẫn mời gọi mua sắm chuẩn bị mừng lễ.


Hôm nay Giáo Hội dùng lời Chúa mời gọi chúng ta dọn lòng để đón mừng Chúa đến: "Hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng. Hãy lấp mọi hố sâu, và hãy bạt mọi núi đồi' con đường cong queo hãy làm cho ngay thẳng, con đường gồ ghề hãy san cho bằng." Khi còn giúp xứ ở Buffalo và Rochester, NY, một lần tôi có dịp trở lại Boston, và trong lúc kẹt xe trên đường, ngồi suy nghĩ lẩn thẩn: Như những thành phố khác, Boston cũng có những đồi núi và thung lũng. Là một trong những thành phố cổ kính nhất nước Mỹ ngày xưa có những con đường mòn nhỏ hẹp đơn sơ, ngày nay vì dân số gia tăng, nhu cầu xã hội văn minh đòi hỏi, người ta đã phải xây thêm cầu, thêm những con đường hầm vậy mà vẫn còn kẹt xe nhất là vào những giờ đến sở và tan sở. Nếu dân chúng biết hy sinh sắp xếp đi xe chung với nhau và chỉ đi khi cần thiết thôi thì có lẽ việc kẹt xe sẽ đỡ hơn nhiều.


Liên tưởng tới cuộc sống tâm linh, có lẽ tâm hồn mỗi người chúng ta cũng giống như thành phố Boston, do ảnh hưởng của tội nguyên tổ, chúng ta đã có những đồi núi kiêu ngạo, những thung lũng ích kỷ hẹp hòi, ngày xưa khi còn bé tâm hồn chúng ta đơn sơ, nhưng rồi lớn lên chung đụng và do ảnh hưởng của xã hội, chúng ta đã xây thêm cho mình những cây cầu tự ái khoe khoang, đã làm thêm những con đường hầm u tối của tội lỗi kỳ thị thiên lệch, đã tạo nên những con đường quanh co của gian dối thiếu công bằng. Chúng ta đã mua sắm đưa vào tâm hồn chúng ta thêm nhiều xe cộ đồ đạc dư thừa không cần thiết để rồi làm cản trở lưu thông, cản trở chúng ta đến với Chúa.


Một lần khác, đi từ Toronto, Canada về Mỹ phải đi qua một cây cầu nối giữa hai nước. Nếu không có cây cầu này thật khó mà qua lại với nhau. Tuy rằng có được cây cầu nối liền hai nước là một chuyện cần thiết nhưng có sang đến được với nhau hay không lại là một chuyện khác, vì đến trạm kiểm soát thấy có những người Canada phải quay xe trở lại không vào Mỹ được, có lẽ vì thiếu giấy tờ hay trục trặc chuyện chi đó nên nhân viên an ninh di trú của Mỹ không cho vào, sợ vào rồi ở lậu làm thiệt hại cho nước Mỹ.


Liên tưởng tới ơn cứu chuộc, Chúa Kitô đã đến trần gian bắc một cây cầu nối liền giữa trời và đất, giữa Thiên Chúa và nhân loại, để nhân loại và Thien Chúa có thể gặp gỡ nhau, nhưng điều đáng buồn là Thiên Chúa đến, nhưng con người, vì lý do nào đó, nhiều khi đã không để cho Thiên Chúa nhập cảnh, không cho phép Thiên Chúa định cư sống với con người, trái ngược lại với lời kêu gọi của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong năm Thánh 2000: Hãy mở rộng cửa đón nhận Chúa Kitô.


Rồi mới đây, có dịp từ Houston đi Port Arthur, Texas để thăm hai cha bạn chúc mừng và chung vui với các ngài có được ngôi thánh đường mới. Một điều làm ngạc nhiên thích thú là con đường 73 dẫn tới Port Arthur nay được mở rộng chạy hai chiều bằng phẳng thoải mái. Trước đây, đoạn đường Houston-Port Arthur phải chạy mất khoảng 1 giờ 45 phút hoặc 2 giờ đồng hồ xe hơi, nhưng nay thời gian đã có thể rút ngắn đi nhiều. Câu hỏi được nêu lên là con đường từ ta đến với Chúa và đến với anh chị em phải chăng cũng đã được mở rộng để chúng ta có thể gặp Chúa và anh chị em một cách mau lẹ hơn, an bình hơn đem lại nhiều niềm vui niềm hạnh phúc? Để có được con đường tốt, bằng phẳng rộng rãi dễ đi, người ta đã phải tốn nhiều tiền bạc, thời giờ, cũng như nhân lực... Để con đường dẫn đến với Chúa được dễ dàng, phải chăng chúng ta cũng đã đang can đảm hy sinh dấn thân?


Mùa Vọng là thời điểm thuận lợi mời gọi mỗi người chúng ta kiểm điểm lại con đường dẫn đến tới Chúa. Nếu khi Chúa đến, Chúa thấy con đường chúng ta không còn "hố sâu, núi đồi, cong queo, gồ ghề, và mọi người đã gặp thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa" thì Năm nay sẽ là một Năm đầy ý nghĩa.

Lm. Louis Minh Nhiên, CMC

CHÚA NHẬT II MÙA VỌNG C
Lc  3, 1 - 6

Tin Mừng của Chúa Nhật Thứ 2 Mùa Vọng năm C theo thánh sử Luca đã đặc biệt ghi lại bối cảnh lịch sử và địa dư lúc Gioan Tẩy Giả bắt đầu thi hành sứ vụ "dọn đường cho Đức Chúa: "Năm thứ mười lăm dưới triều hoàng đế Tibêriô, thời Phongxiô Philatô làm tổng trấn miền Giuđêa, Herôđê làm tiểu vương miền Galilê". Chúng ta nên lưu ý đến những nhân vật lịch sử cùng thời với vị Sứ giả của Chúa Giêsu và cũng sẽ có liên quan tới cuộc đời Chúa Cứu Thế sau này.

Đoạn kết của Tin Mừng Chúa nhật hôm nay đã mở ra một viễn tượng mới thật huy hoàng, thật an ủi cho bạn, cho tôi và cho mọi chúng sinh: Rồi hết mọi phàm nhân sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa. Hết mọi người phàm sẽ được "thấy" ơn Cứu Độ của Thiên Chúa. "Thấy" Thiên Chúa tận mắt (Isaia 52,8) vẫn là niềm mơ ước sâu xa nhất của mọi chúng sinh. Ai cũng mong được "thấy" ơn cứu độ của Chúa như cụ già Simeon ẵm Hài Nhi Giêsu trên đôi tay và ca lên rằng: "Vì chính mắt con được thấy ơn cứu độ". (Lc 2, 27-32).


Ước mơ lớn lao nhất của bạn và của tôi vẫn là được sống hạnh phúc, được sống mãi không phải chết. Nhưng thực tế và kinh nghiệm sống hé mở cho chúng ta thấy "cuộc đời là bể khổ". Từ khi ta cất tiếng khóc oe oe chào đời, cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay xuống, mấy ai được hưởng hạnh phúc trọn vẹn?! Lúc nào tâm trí ta cũng lo âu khắc khoải với những câu hỏi vẫn ám ảnh con người trong mọi nơi và mọi thời: tôi sinh ra đời để làm gì? Tại sao cuộc đời của tôi bị đau khổ triền miên? Sau khi chết tôi sẽ đi về đâu? Tôi có thể tự giải thoát và tự cứu mình khỏi chết không? Chả nhẽ cuộc đời là vô nghĩa như các triết gia vô thần đã chủ trương: con người sinh ra để rồi chết.


Mỗi tôn giáo đã đem đến cho con người một câu giải đáp, một lóe sáng hy vọng, đồng thời đề nghị những phương dược để được trường sinh bất tử. Ở đây, Gioan Tẩy Giả loan báo một sứ điệp cứu rỗi mới và đề nghị một giải đáp căn bản để đạt tới cứu cánh: "Ông liền đi khắp vùng ven sông Giođan, rao giảng, kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội". Gioan Tẩy Giả tiếp tục sứ mệnh của ngôn sứ Isaia: kêu gọi con người "dọn đường cho Đức Chúa", tức là chuẩn bị tâm hồn đón nhận Đấng Thiên Sai đến.


Ở ngưỡng của Tân Ước, sứ điệp hoán cải của các Ngôn Sứ trong Cựu Ước đã được kết tinh lại trong lời giáo huấn của Gioan Tẩy Giả, vị Ngôn Sứ sau cùng: "Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã gần" (Mt 3,2). Dân Do Thái xưa bị các Ngôn Sứ cho là một "dân cứng đầu cứng cổ" (Mt 13,15, Is 6,10), lòng chai dạ đá, không thèm lắng nghe lời mời gọi của Thiên Chúa. Thử hỏi, lời rao giảng của Gioan Tẩy Giả vang vọng cách đây 2000 năm, cũng đã là lời kêu gọi của các ngôn sứ bao ngàn năm trước Chúa giáng sinh được lập đi lập lại cho dân của Chúa chọn, có còn giá trị bạn, cho tôi, cho thời đại văn minh ngày nay nữa không?


Câu trả lời thật rõ ràng: sứ điệp "Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã gần" vẫn còn hiện thực và càng khẩn thiết hơn bao giờ hết, nhất là trong Năm Toàn Xá 2000 này. Bạn và tôi cứ thử đưa mắt nhìn vào cuộc sống cá nhân của mình, cuộc sống của gia đình bạn, của xóm làng mình sinh sống, của môi trường và công xưởng bạn làm việc, nói rộng ra của xã hội và thế giới hôm nay... Bạn sẽ thấy chính bạn, chính gia đình bạn, chính cộng đòan và xã hội thụ hưởng vật chất hôm nay, đang cần được giải thoát, đang cần được cứu độ.


Thánh Gioan Tẩy Giả mời gọi bạn, mời gọi tôi, mời gọi con người hôm nay hãy bắt tay vào việc bằng các việc sám hối cụ thể sau:


1. Mọi thung lũng phải lấp cho đầy: Lũng sâu bao giờ cũng là tượng trưng cho hố thẳm của mọi nguy hiểm, mọi bất trắc. Hố sâu tượng trưng cho túi tham vô đáy của con người. Vì gian tham, con người có thể thực hiện đủ mọi tội ác để vơ vớt. Tưởng rằng càng vơ vét nhiều, mình càng giầu, càng đầy. Nhưng oái oăm thay, mình càng thấy cuộc đời trỗng rỗng. Hành động "lấp đầy" theo nghĩa siêu nhiên ở đây là lấp đầy những hố thẳm mênh mông (những khát vọng vô biên) của con người bằng đạo đức, bằng công chính, bằng chính Thiên Chúa, là Đấng Cội Nguồn sự sống, là chính Chân Thiện Mỹ.


2. Mọi núi đồi phải bạt cho thấp: Mãi mãi con người chỉ là tạo vật, không phải là "Chúa", dù có cố gắng bắt chước con ếch để hít hơi phình bụng, nhưng ếch vẫn là ếch! Ý thức được sự bất toàn và giới hạn của mình, hay đúng hơn "biết mình" để đừng tự cao tự đại, để "cải quá tự tân". Từ bỏ tính kiêu căng, "coi trời bằng vung" của mọi tạo vật, biết nhìn nhận thân phận yếu đuối mỏng dòn của mình. "Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi" (Lc 18,13). Nước mưa chỉ có tuôn chảy xuống lũng sâu và ở lại đó làm cho cây cối quanh bờ sinh hoa kết trái. Ơn Thiên Chúa cũng như dòng nước tuôn trào vào lòng kẻ khiêm nhu, để nhuần thấm, để tưới gội và làm cho cuộc sống con người đâm chồi nẩy lộc và đơm bông kết trái, hức hẹn một mùa gặt phong phú.


3. Khúc quanh co phải uốn cho ngay: Phải sống lương thiện. Con tim phải trở nên "nhân chi sơ tính bản thiện" của một trẻ em (Mt 18,3) mới có thể vào được Nước Trời. Sống quanh co lươn lẹo vì tự ái, vì danh lợi dục chỉ làm cho mình xa người khác và xa Thiên Chúa.


4. Đường lồi lõm phải san cho phẳng: Phải nỗ lực chỉnh đốn và sửa sang lại những chỗ "lồi lõm" chính là các tính mê tật xấu lớn nhỏ, những sỏi đá làm cho Lời Chúa không thể đâm chồi lẩy lộc và đâm rễ sâu vào tâm hồn. Luật Mới của Nước Thiên Chúa đòi hỏi con người phải "san cho phẳng" những gì là "lồi lõm". Lòng "ăn năn sám hối" hoán cải nội tâm và luân lý (metanoia) buộc con người phải "từ bỏ" các đam mê và các tà thần để quay về với Thiên Chúa hằng sống và chân thật.


5. Lãnh nhận Phép Rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội: Lãnh nhận Phép Rửa để được ơn tha thứ mọi tội lội và được thánh hóa (Lc 24,47). Chúa Giêsu, trước khi lên trời, đã ra lệnh cho các môn đệ rao giảng Tin Mừng cho khắp thế giới và rửa tội muôn dân: "Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo. Ai tin và chịu phép Rửa, sẽ được cứu độ; còn ai không tin sẽ bị kết án" (Mc 16, 15-16).


Sám hối để nhập tịch Nước Thiên Chúa, bước theo Thầy Giêsu như vị Sư Phụ chí thánh và thực hành linh đạo của Ngài: Đức Giêsu không những đến để loan báo Nước Thiên Chúa, nhưng Ngài còn khai mở với quyền năng (Mt 1,15; Mt 4,17). Ngài đã đến, chính là để " kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn" (Luca 5,32). Nhưng lời kêu gọi "sám hối ăn năn" của Chúa Giêsu gặp nhiều ngáng trở: tính tự mãn và ngoan cố của người dưới mọi hình thức, mọi đam mê danh lợi dục, như những dây chằng chịt trói buộc con người lại. Còn con người ngày nay, còn Bạn, còn tôi? Lòng của mỗi người chúng ta ra sao trước lời mời gọi hoán cải nội tâm của Thiên Chúa.

Lm. Stêphanô Bùi Thượng Lưu

DỌN ĐƯỜNG CHO ƠN CỨU ĐỘ PHỔ QUÁT
Lc  3, 1 - 6

Luca là tác giả phúc âm về lịch sử cứu độ, ông triển khai lịch sử này thành ba phân cảnh hay thành một bức tam bình, chẳng hạn như trong câu rất cô đặc sau đây: "Cho đến thời ông Gioan, thì có Luật và các ngôn sứ (Israen); từ thời đó thì Tin Mừng Nước Thiên Chúa được loan báo (Đức Giêsu), và ai cũng dùng sức mạnh mà vào (Giáo Hội)" (16,16). Luca cũng thích dựng lên nhiều hàng hiên (trụ lang) qua đó ông đưa chúng ta long trọng đi vào lịch sử. Khi Đức Giêsu sinh ra thì: "Thời ấy, hoàng đế Augustô ra chiếu chỉ..." (2,1). Khi Người khởi sự cuộc sống công khai, với Gioan Tẩy giả kéo màn, như trong bài Tin Mừng hôm nay, thì: "Năm thứ mười lăm dưới triều hoàng đế Tibêriô, thời Phongxiô Philatô làm tổng trấn, Hêrôđê làm tiểu vương... Khanan và Caipha làm thượng tế..."

1. Thiên Chúa muốn cứu rỗi mọi người...


Tại sao Luca đã quy tụ cả một loạt nhân vật lịch sử như vậy chung quanh chân trời từ đó Đức Giêsu sắp nổi lên? Đó là vì ông muốn trình bày cho thấy chúng ta chẳng phải sắp trải qua một kinh nghiệm thần bí, khôn tả và nội tâm, nhưng sắp chứng kiến một sự xâm nhập của Thiên Chúa vào bên trong những năm tháng và những con đường của loài người, nghĩa là vào bên trong lịch sử nhân loại. Trung tâm điểm và độc đáo tính của Kitô giáo là thế, sự lạ bất ngờ ta phải loan báo là thế. Như một triết gia Kitô giáo Đan mạch thế kỷ vừa qua là Soren Kierkegaard đã viết, hai thế giới của Thiên Chúa và của con người, của trời và của đất trong Đức Kitô đã đụng chạm nhau, không phải để nổ tung nhưng là để kết hợp. Hầu thực hiện một công trình vĩ đại là ban bố ơn cứu độ phổ quát.


Quả thế, lời mở đầu với những nhân vật đương thời vừa thấy là tiếng cồng lớn nhất của lịch sử, công bố một chuyện phi thường: "Mọi người phàm sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa". Điều mà cụ già Simêon đã loan báo cách âm thầm hơn: "Chính mắt con được thấy ơn cứu độ Chúa đã dành sẵn cho mọi người: Israen và dân ngoại". Chúng ta đã thường quá thu hẹp các chân trời này, lãng quên hạng người đầu, loại bỏ hạng người sau. Và chúng ta luôn liều mình đánh mất, trên các con đường của lịch sử, cái lẽ ra phải là nỗi ám ảnh của chúng ta: Thiên Chúa là Thiên Chúa của mọi người, Người muốn cứu họ tất cả. Như Đức Gioan-Phaolô II nói trong số 5 sứ điệp Truyền giáo năm 2000: "Viễn cảnh cuộc Đại Toàn xá chúng ta đang cử hành, cũng dẫn chúng ta tới một sự dấn thân truyền giáo mạnh mẽ hơn cho muôn dân. Hai ngàn năm sau khi việc truyền giáo khởi sự, vẫn còn nhiều khu vực địa lý, văn hóa, nhân loại và xã hội rộng lớn trong đó Đức Kitô và Tin mừng của Người chưa xâm nhập vào... Chúng ta phải xác tín sâu xa rằng phúc âm hóa là một việc phục vụ tuyệt hảo làm cho nhân loại, vì nó chuẩn bị cho nhân loại thực hiện chương trình của TC, Đấng muốn tất cả mọi người kết hiệp với mình, để biến họ thành một dân gồm những anh chị em được giải thoát khỏi những bất công và được sinh động bởi những tâm tình liên đới đích thực".


Người muốn thực hiện tất cả những điều ấy nhờ Đấng Mêsia. Dân Do thái thời ấy nóng lòng chờ đợi vị này tới độ trái tim họ bắt đầu đập khi nhìn nhà ngôn sứ mới, Gioan Tẩy giả: "Biết đâu ông ta lại chẳng là Đấng Mêsia!" Thế nhưng, sẽ có điều lạ thường hơn nữa! Rồi đây, nhờ Tin Mừng, nhờ cuộc Phục sinh và nhờ cuộc Hiện xuống, những người Do thái độc thần cách quyết liệt sẽ thấy mở ra trước mắt cũng như được mời gọi đón nhận điều không thể tưởng tượng: Đấng Mêsia, ấy là Đức Giêsu, và Đức Giêsu lại là Thiên Chúa. Và Gioan Tẩy giả đã phác họa chân dung đầu tiên về Người: "Một Đấng quyền thế hơn tôi đang đến...". Nhưng cũng sẽ phải cần các đại thần học gia của những thế kỷ đầu, kinh nghiệm của các thánh, và nhất là Thánh Thần, mới ấp úng được điều không thể trình bày: Thiên Chúa độc nhất là Cha, Con và Thánh Thần; và Ngôi Con đã nhập thể, dưới triều hoàng đế Augustô và hoàng đế Tibêriô.


2.... qua việc hoán cải bản thân chúng ta.


Mùa Vọng đặt ta lại trước các chân trời bao la ấy của ơn cứu độ, ơn cứu độ dành cho mọi người mà Chúa Cha đã sai Con mình đến với. Nhưng còn phải đón nhận Người Con đó! Và Gioan Tẩy giả, con người trần trụi trước đám nhân vật tai to mặt lớn trong thiên hạ đương thời, đã yêu cầu chúng ta chuẩn bị cho Người một con đường, một lời yêu cầu không khoan nhượng, đầy thách thức. Muốn hiểu con đường này, ta hãy lên lại bài đọc thứ nhất hôm nay, trong đó ngôn sứ Barúc (5,7), bắt chước Isaia, đã viết: "Thiên Chúa đã ra lệnh bạt thấp mọi núi cao và gò nổng có tự lâu đời, lấp đầy các thung lũng, cho mặt đất trở nên bằng phẳng, để Israen tiến bước vững vàng dưới ánh vinh quang của Thiên Chúa". Thành thử con đường ấy là con đường thẳng, hướng đến một mục tiêu có ánh sáng tràn ngập. Đó là "con đường thiêng" (thần lộ) mà ở Tây Á cổ vẫn thường được xây dựng trước các đền thờ: chúng phải thật bằng phẳng và thẳng tắp, dấu chỉ sự hoàn hảo và niềm hân hoan.


Đây là một hình ảnh nhắc cho kitô hữu chúng ta nhớ rằng để gặp Đấng Mêsia đang đến, gặp ánh sáng của tương lai, gặp niềm vui của tự do trọn vẹn, chúng ta phải mở cho được một con đường thẳng giữa bao chuyển động quanh co của lịch sử, bao mưu toan mờ ám nhằm áp đặt ách toàn trị độc tài; phải kiên trì phá hủy các ngọn núi của chủ nghĩa vô thần hay của thói thờ ngẫu tượng vốn án ngữ chân trời của chúng ta; phải lấp đầy vực sâu của phi lý, của vô nghĩa, của trống rỗng nội tâm tạo nên bởi một não trạng duy vật hưởng thụ. Cụ thể nơi bản thân và trong hoàn cảnh chúng ta, "giải tỏa" và "dọn sạch" thần lộ là làm bay tung những cánh cửa gài then quá chặt vì sợ hãi, chẳng dám công khai lên tiếng trước quyền lực bất công, là phá hủy những ngọn núi ngập ngừng và vấn nạn, chẳng muốn dấn thân để làm chứng nhân cho chân lý, lý luận rằng chỉ cần làm chứng nhân cho bác ái đã đủ, là lấp đầy những hố sâu ích kỷ, chỉ tìm an thân và dễ dãi cho chính mình, tìm ân huệ từ những kẻ nắm quyền lực, bất chấp chuyện anh em mình đang đau khổ vì mất những điều kiện căn bản để làm con người và làm con Chúa. Như Đức Gioan-Phaolô II đã nói trên đây: "Chương trình TC là muốn tất cả mọi người kết hiệp với mình, để biến họ thành một dân gồm những anh chị em được giải thoát khỏi những bất công và được sinh động bởi những tâm tình liên đới đích thực". Đây là một công việc đầy kiên nhẫn và can đảm, vì đòi trả giá bằng mồ hôi và nước mắt; nhưng cuối cùng trên con đường ấy, sẽ đi vào một đoàn người thật đông đảo "thuộc mọi dân, mọi nước, mọi chi tộc và mọi ngôn ngữ", như Khải huyền sẽ mô tả (7,9).


Thưa với Chúa mùa Vọng: "Xin đến cứu hết thảy chúng con!" sẽ là một lời cầu nguyện của kẻ mơ mộng nếu nó không làm ta nhớ tới cái phải được cứu trong mỗi người chúng ta.


Nghe một lãnh chúa Tây Ban Nha phàn nàn: "Mọi chuyện ra tồi tệ!", thánh Phêrô Alcantara đã trả lời: "Nếu ông tạo cho mình một con tim nhân lành, thì chính một phần của thế giới đã nên tốt đẹp".


Bà Elisabeth Leseur, một giáo dân sắp được Giáo Hội đưa lên bàn thờ, cũng trong hoàn cảnh tương tự. Chồng bà là một nhà trí thức vô thần hết sức cực đoan. Không làm sao khuyên nhủ được chồng, bà đã cố gắng làm một người vợ rất hiền thảo và làm một tín hữu rất thánh thiện. Bao nhiêu tâm sự chẳng bày tỏ được với chồng, bà đã bày tỏ với Chúa trong nhật ký. Sau khi bà chết, ông Leseur không khỏi tiếc thương người vợ có tâm hồn quảng đại dịu dàng của mình, và vì muốn "đập cổ kính ra tìm lấy bóng, xếp tàn y lại để dành hơi", ông đã lục tìm những tập nhật ký của bà để đọc. Ông đã say sưa theo dõi từng hàng chữ tâm sự và đã hiểu ra ước vọng tha thiết của vợ là thấy ông nhìn nhận trở lại tình yêu của Thiên Chúa. Cuối cùng thì ông đã hồi tâm, xin học giáo lý và chịu bí tích Thánh tẩy năm 1915. Không bao lâu sau đó, ông xin vào nhà tập dòng Đa Minh, nơi đây ông thành tâm kiên nhẫn theo đuổi cuộc sống tu trì và được thụ phong linh mục. Khi gương sống thánh thiện của bà Elisabeth Leseur bắt đầu có ảnh hưởng rộng và sâu sắc trên xã hội thì bề trên dòng đã mạnh dạn chỉ định linh mục Leseur lên đường đi diễn thuyết ở nhiều nơi về đời sống gương mẫu của người vợ đã chết trước đây của mình. Lúc đầu, cha Leseur rất e ngại chần chừ, nhưng cuối cùng cha đã vâng lời. Năm 1930, cha soạn cuốn "Hạnh bà Elisabeth Leseur" trong khi tập Nhật ký trước đây của bà đã xuất bản tới hàng trăm ngàn cuốn.

Lm. Phêrô Phan Văn Lợi

HÃY DỌN SẴN CON ĐƯỜNG CHO ĐỨC CHÚA
Lc  3, 1 - 6

Mỗi năm vào ngày 31 tháng 1, cả thế giới mừng ngày Quốc Tế Phong Cùi. Người có công thiết lập nên ngày đáng ghi nhớ này là ông Raoul Follereau (1903-1977).

Raoul Follereau còn khởi xướng nhiều chiến dịch khác nữa, luôn để góp phần xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn. Năm 1942, ông kêu gọi: "Hiến một giờ tiền công cho người nghèo". Năm 1946, ông đề nghị ai nấy tham gia xây dựng "Nền trật tự bác ái" theo khả năng sẵn có của mỗi người, khởi đi từ cách mỗi người suy nghĩ và hành động nhằm xây dựng nền văn minh tình thương.


Đặc biệt ngày Thứ Sáu Tuần Thánh 1947, Raoul Follereau phát động một chiến dịch gọi là "Tổng đình công và bãi thị chống lại ích kỷ". Chiến dịch này bắt đầu đúng ba giờ chiều hôm đó, lúc mà mọi Kitô hữu khắp nơi trên thế giới tưởng niệm cái chết hoàn toàn tự nguyện của Đức Giêsu, Đấng đã hy sinh tính mạng để đưa đồng loại bước ra khỏi ích kỷ.


Ngay thời còn nhỏ, cậu Raoul Follereau đã ham văn chương thi phú. Là con của một kỹ nghệ gia giàu có ở Pháp, cậu được chỉ định chuyên học kỹ thuật để kế nghiệp người bố chết sớm. Sau cậu tìm cách theo học văn chương và đỗ tiến sĩ triết tại đại học Paris ở tuổi 24. Thơ văn mà Raoul Follereau sáng tác được biết đến trên văn đàn Bình Minh của kịch trường Pháp. Bài "những con búp bê" chẳng hạn, được đọc cả ngàn lần. Hơn nữa, Raoul Follereau còn nổi tiếng về tài hùng biện bẩm sinh. Ông được mời đi diễn thuyết nhiều nơi trên thế giới nói tiếng Pháp, theo chương trình Liên Minh Văn Hoá Pháp tổ chức.


Ông Raoul Follereau là tiếng nói thay cho lớp người nghèo bị xã hội gạt sang bên lề. Ngay với bài "Những con búp bê", Raoul Follereau đã sớm lên tiếng bênh vực người nghèo. Những công trình lớn nhất của ông là tạo được tình liên đới dành cho bệnh nhân phong cùi khắp nơi trên thế giới. Người gây khởi hứng cho ông trong công trình này chính là các nữ tu Công Giáo tại Bắc Phi Châu. Bằng mọi giá các nữ tu này đã cứu các bệnh nhân phong cùi khỏi bị đẩy ra bên lề xã hội. Năm 1942, ông Raoul Follereau đã quảng đại đáp lại lời yêu cầu của các nữ tu này, để phát động chương trình diễn thuyết ở nhiều nơi. Ở đâu Raoul Follereau cũng vạch cho cử tọa thấy tình trạng bi đát của người bệnh phong. Ông đã làm chấn động nhiều cử tọa, khơi dậy cả một phong trào cho tình liên đới dành cho người phong.


Thế là nhiều nơi trên thế giới vang lên tiếng kêu cứu của người phong cùi. Chính ông Raoul Follereau đã vượt qua 2 triệu cây số đường trường, xuyên qua 55 quốc gia, thu về cho người phong cùi số tiền cứu trợ là 3 tỷ đồng quan Pháp. Nhưng quan trọng hơn gấp bội chính là tình thương mà ông khơi dậy nơi lòng người để thính giả nghe ông tích cực, giúp bệnh nhân phong cùi bước ra khỏi tình trạng bị cô lập.


Đi thăm người phong cùi ở đâu trên thế giới, ông cũng mang lại cho họ mối tình ấm áp theo gương Chúa Giêsu xưa. Việc ông bắt tay hoặc ôm hôn họ là điều hết sức tự nhiên.


Chuyến viếng thăm đầu tiên ông Raoul Follereau thực hiện tại đảo Hawai vào năm 1948 đáng kể, vì đó là nơi cha Phêrô Đa Miêng (1840-1889), vị tông đồ người phong, đã từng sinh sống và phục vụ họ; Ngài đã được Đức Gioan Phaolô II phong chân phước.


Năm 1964, ông Raoul Follereau thành lập Liên Hiệp chống bệnh phong. Trong thập niên 60, hai ông bà Raoul Follereau đã đến đã đến viếng thăm các trại phong Việt Nam, như Quy Hoà, Bến Sắn và Kon Tum.


Cuộc chiến chống bệnh phong còn được Raoul Follereau nới rộng để bao gồm mọi căn bệnh khiến cho con người xa cách nhau và loại trừ nhau, như nghèo đói, ích kỷ và chiến tranh. Ông đặt người ta trước chọn lựa giữa "bom nguyên tử hoặc yêu thương". Năm 1954, ông kêu gọi hai nguyên thủ quốc gia là Mỹ và Nga, khi ấy là hai ông Eisenhower và Malenkov: Mỗi quốc gia hãy tặng số tiền trị giá một chiếc máy bay ném bom mà thôi cũng đủ để săn sóc mọi người phong trên toàn thế giới! Năm 1964, ông yêu cầu Liên Hiệp Quốc thiết lập cơ chế khuyến khích mỗi quốc gia dành tiền chi phí một ngày cho khí giới vào công cuộc chống nạn nghèo đói và bệnh tật. Ông đã nhận được ba triệu chữ ký của người trẻ từ 14 đến 20 tuổi, thuộc 125 quốc gia. Kết quả là năm 1969, Liên Hiệp Quốc đã chấp nhận việc thiết lập nên "Ngày chiến đấu cho hoà bình".


Sửa Lối Cho Thẳng (Lc 3,4)


Raoul Follereau qua đời năm 1977, nhưng những tổ chức ông thiết lập vẫn còn góp phần xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn. Liên Hiệp Chống Bệnh Phong do ông thiết lập vẫn làm việc đắc lực. Hội Thân Hữu Raoul Follereau được thiết lập từ hơn 30 năm nay, hiện còn hoạt động tại 56 quốc gia, trong đó có 26 nước Phi Châu, 4 nước Châu Mỹ La Tinh, 7 nước Á Châu, 1 nước Châu Đại Dương và 4 nước Au Châu; trong số các nước Á Châu có Miến Điện, Trung Hoa, Indonêsia, Ấn Độ, Băng-la-đét, Pakistan và Phi Luật Tân. Số bệnh nhân phong được Hội này chữa lành và giúp tái gia nhập xã hội gồm trên 700 ngàn người. Ngoài ra, Hội còn phát động chiến dịch canh tân đời sống, loại bỏ những nguyên nhân làm cho con người bị băng hoại, như tệ nạn chiến tranh, thù hằn, bất công, khai thác và bóc lột những thành phần yếu kém trong xã hội. Lý tưởng mà Hội nhắm tới là góp phần xây dựng một nền văn minh tình thương, trong đó mọi người được kính trọng và yêu thương.


Nhưng nguồn khởi hứng đầu tiên thúc đẩy ông Raoul Follereau trở nên tiếng nói cho bệnh nhân phong cùi, chính là các chị nữ tu Công Giáo tại Bắc Phi Châu. Các chị không những nói thay cho họ, các chị còn dâng hiến đời mình để phục vụ họ. Và trước các chị nữ tu này còn có vị tông đồ người phong là cha Phêrô Đa Miêng, vị linh mục 23 tuổi đã tự nguyện đến thưa với Đức Giám Mục của mình rằng: "Này con đây, con sẵn sàng để được chôn sống với anh em bệnh phong"; và quả thực, 17 năm sau, cha Đa Miêng đã qua đời do bệnh phong cùi mà Ngài đã tự nguyện nhiễm lấy cho mình vì tình yêu mà ngài dành cho anh chị em mắc bệnh phong.


Để Người Đi (Lc 3,4)


Đó là những con người nối tiếp nhau phần nào thể hiện điều tông đồ Phaolô nói về chính Đức Kitô, Đấng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế... Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người (Pl 2,7-9).


Điều khiến loài người phải thán phục là Thiên Chúa đã an bài để sai sứ giả đến trước loan báo về việc xuất hiện Đấng Cứu Thế là Đức Giêsu Kitô. Sứ giả ấy chính là Gioan Tẩy Giả mà cuộc đời và sự nghiệp được chỉ định gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp của chính Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ trần gian.


Sách Tin Mừng Luca cho thấy ngay từ khi còn trong lòng mẹ, Gioan đã nhảy mừng để loan báo về cuộc viếng thăm của Đức Maria, người em họ mà được chị là bà Isave, nhận là "Thân Mẫu Chúa tôi đến viếng thăm tôi" (Lc 1,43).


Ba tháng sau, khi Gioan Tẩy Giả chào đời, người bố đang câm bỗng nói được để tiên báo "Hài nhi hỡi, con sẽ mang tước hiệu là ngôn sứ của Đấng Tối Cao: con sẽ đi trước Chúa, mở lối cho Người, bảo cho dân Chúa biết: Người sẽ cứu độ là tha cho họ hết mọi tội khiên" (Lc 1,77).


Ba mươi năm sau, chính Gioan Tẩy Giả xuất hiện nơi hoang địa vùng ven sông Giođan. Ông tự xưng là tiếng hô trong hoang địa: "Hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi" (Lc 3,4).


Ngày nay, Giáo Hội rất coi trọng cuộc đối thoại bằng hành động qua đó các Kitô hữu cùng với tha nhân cộng tác nhằm phát triển và giải phóng con người toàn diện (x. Dialogue and Proclamation, Hội Đồng Toà Thánh về Đối Thoại Liên Tôn và Bộ Phúc Âm Hoá các Dân Tộc, 1991, số 42). Đó quả là cách đối thoại và công bố Tin Mừng có tính khả tín đối với người thời nay. Ông Raoul Follereau, các chị nữ tu phục vụ người phong cùi tại Hawai, tại Quy Hoà, và Bến Sắn; cha Phêrô Đa Miêng tự nguyện trở nên người phong cùi và chết cho họ, mỗi người mỗi cách đều góp phần thể hiện lời ông Gioan Tẩy Giả hô to trong hoang địa: "Hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi" (Lc 3,4).

Lm. Augustine, S.J

Nguồn vietcatholic.org

6575    08-12-2012 10:46:51