Sidebar

Thứ Ba
05.03.2024

Chúa Nhật III Phục Sinh_3

ĐỒNG HÀNH 

Khi xưa tại vùng Trung Đông có một vương quốc nhỏ bé, nhưng họ lại có vị vua một rất khôn ngoan và dũng cảm. Ông là một vị vua anh minh, hết lòng lo lắng cho dân. Dưới triều đại của ông, đất nước phát triển có thể nói là cực thịnh, đến nỗi các đế quốc rộng lớn xung quanh dù thèm thuồng, mảnh đất xinh đẹp, cũng không dám có ý định dòm ngó. Thế nhưng, sau khi nhà vua băng hà, con cháu của ông đã không giữ được di huấn của tổ tiên. Nhà vua cũng như các quan lại triều đình thay vì lo lắng, phục vụ dân chúng, họ lại lao vào nếp sống ăn chơi, sa đoạ, tham nhũng,... rồi còn sưu cao, thuế nặng, khiến dân phải ca thán lầm than. Đất nước từ chỗ cực thịnh đi đến chỗ ngày càng suy sụp, trở nên miếng mồi ngon cho các đế quốc xung quanh đang muốn bành trướng. 

Thế rồi, việc gì phải đến đã đến. Vào khoảng năm -587, vương quốc xinh đẹp này đã rơi vào tay ngoại bang. Họ đã bắt dân chúng đi lưu đày, làm nô lệ. Tiếng than van, khóc lóc, như vọng thấu trời xanh. Và rồi kể từ đó, họ như một quả bóng, nay bị đế quốc này xâm chiếm, mai lại đế quốc khác đô hộ. Thế nhưng, ngay trong hoàn cảnh cơ cực đó, dân chúng vẫn không mất niềm hy vọng. Trong dân vẫn lưu truyền một lời tiên tri về một vị cứu tinh sẽ được sinh ra để giải phóng cho dân khỏi ách nô lệ. Đất nước đó, chính là đất nước Do-thái của dân Israel. 

Trong bối cảnh đó, Đức Giêsu đã xuất hiện. Trước mắt của dân chúng lúc bấy giờ, Đức Giêsu "là một vị tiên tri có quyền lực trong hành động và ngôn ngữ trước mặt Thiên Chúa và toàn thể dân chúng", bởi đó đã có một số người đã đi theo làm môn đệ của Ngài, với hy vọng Ngài "sẽ cứu Israel" khỏi ách nô lệ của đế quốc Roma. Thế nhưng, sự thật lại phũ phàng, Đức Giêsu đã bị chính các vị thủ lãnh của dân Do-thái bắt nộp, xử tử và đóng đinh trên thập giá. Sau khi Đức Giêsu bị bắt, các môn đệ của Ngài tan tác, trốn chạy"như đàn chiên không người chăn" (Mt 26, 31b), mỗi người mỗi ngã.Trong số đó, có hai môn đệ trở về lại làng Emmaus mà chúng ta vừa nghe trong bài Tin mừng. Đức Giêsu chết, họ cảm thấy như mất đi tất cả, tương lai của dân tộc và cuộc đời của họ như đi vào ngõ cụt, không lối thoát. Họ chẳng biết làm gì hơn là lê bước trở về quê cũ trong tâm trạng nặng nề, u ám. 

Thế nhưng, ngay giữa lúc họ cảm thấy hoàn toàn cô đơn, tuyệt vọng đến cùng đường như thế, thì "Chúa Giêsu tiến lại cùng đi với họ". Đấng Phục Sinh đã đến và đồng hành với họ, nhưng "mắt họ bị che phủ, nên không nhận ra Người". Mắt họ, hay đúng hơn, tâm hồn họ đang bị che phủ bởi những suy nghĩ chủ quan của họ. Họ không nhận ra Đức Giêsu, bởi tâm trí họ cứ quanh quẩn với mồ mả, với những đau khổ, thử thách trước mắt của họ, mà không khám phá ra người bạn đồng hành đang cùng đi với họ, đang cùng trò chuyện với họ, chính là Đấng Phục Sinh.

Đấng Phục Sinh đã đến cùng đồng hành với họ. Ngài dùng chính Lời Chúa để sưởi ấm tâm hồn đang lạnh giá vì tuyệt vọng của họ. Ngài giúp họ khám phá và hiểu rõ chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa. Ngài nói với họ: "Chớ thì Đức Kitô chẳng phải chịu đau khổ như vậy rồi mới được vào vinh quang sao? Đoạn Người bắt đầu từ Môisen đến tất cả các tiên tri, giải thích cho hai ông tất cả các lời Kinh Thánh chỉ về Người". Nghe lời Đức Giêsu giải thích Kinh Thánh, lòng các môn đệ đã "sốt sắng" lên, nhưng mắt họ chỉ thực sự mở ra khi họ được cùng đồng bàn với Đấng Phục Sinh. Trong bữa ăn này, họ đã nhận ra cử chỉ quen thuộc, thân thương của Thầy mình, khi Ngài "cầm lấy bánh, đọc lời chúc tụng bẻ ra và trao cho hai ông".

Nghe được Lời Chúa, nhận được tấm bánh bẻ ra từ tay Đấng Phục Sinh, hai môn đệ này đã thực sự xác tín về sự Phục Sinh của Đức Giêsu. Và thế là "ngay lúc ấy, họ chỗi dậy trở về Giêrusalem", để chia sẻ cho các môn đệ khác niềm vui mừng lớn lao này. Đức Giêsu đã chết thật, nhưng Ngài cũng đã thực sự Phục Sinh, đó là xác tín của hai môn đệ trên đường Emmaus, và cũng là của các tông đồ tại Giêrusalem. Chính trong niềm xác tín đó, sau ngày lễ Ngũ Tuần, thánh Phêrô đã mạnh mẽ tuyên bố với toàn thể đám đông dân chúng tại Giêrusalem: "Đức Giêsu Nagiarét là người đã được Thiên Chúa chứng nhận giữa anh em bằng những việc vĩ đại, những điều kỳ diệu và những phép lạ... Người đã bị nộp và anh em đã dùng tay những kẻ độc ác mà hành hạ rồi giết đi. Sau khi bẻ gãy xiềng xích tử thần, Thiên Chúa đã giải thoát Người khỏi những đau khổ của chõi chết mà cho Người Phục Sinh, vì không thể nào để cho Người bị cầm giữ trong đó".

Đức Giêsu đã Phục Sinh, từ đây, sự chết không còn quyền lực gì đối với Ngài nữa. Với sự Phục Sinh của mình, Đức Giêsu trở niềm hy vọng cho tất cả những ai đang ngồi trong bóng tối của sự chết. Từ đây, Ngài trở nên người bạn đồng hành, chia vui, sẻ buồn với mỗi người chúng ta trên khắp nẻo đường đời. Hơn nữa, Đức Giêsu Phục Sinh còn hơn cả một người bạn đồng hành bình thường, bởi lẽ không chỉ đồng hành, Đức Giêsu còn giải thoát chúng ta khỏi ách nô lệ của tội lỗi, đem lại cho chúng ta một sự tự do đích thực, tự do của con cái Thiên Chúa. Trong bài đọc hai, thánh Phêrô nhắc lại cho chúng ta: "Anh em biết rằng không phải bằng vàng bạc hay hư nát mà anh em đã đựơc cứu chuộc khỏi nếp sống phù phiếm tổ truyền, nhưng bằng máu châu báu của Đức Kitô, Con Chiên tinh tuyền, không tì ố". 

Ngày hôm nay, Đức Giêsu Phục Sinh vẫn đang tiếp tục đồng hành với mỗi người chúng ta trong từng phút giây của cuộc sống. Ngài vẫn bước đi bên cạnh chúng ta, thậm chí còn bồng bế chúng ta trên đôi tay Ngài để giúp chúng ta vượt qua các thử thách, gian truân trong cuộc sống. Chúng ta cần ý thức điều này, để rồi trong cuộc sống của mình, cho dù chúng ta có yếu đuối, lỗi lầm đến đâu đi chăng nữa, chúng ta cũng không được phép ngã lòng, tuyệt vọng, nhưng hãy vững tin vì chúng ta có một "Người Anh" đang hết lòng yêu thương và sẵn sàng tha thứ mọi tội lỗi của chúng ta.

Chúng ta còn học được nơi hai môn đệ tinh thần khiêm tốn, lắng nghe và học hỏi lời Chúa. Cho dù chưa biết người khách lạ là Đấng Phục Sinh, nhưng khi nghe Ngài quở trách: "Ôi kẻ khờ dại, chậm tin các điều tiên tri đã nói!", họ vẫn không tự ái, nhưng vẫn khiêm tốn lắng nghe lời giải thích của người khách lạ. Lòng nhiệt thành, khiêm tốn học hỏi của họ còn được tỏ hiện qua việc họ cố "nài ép" người khách lạ ở lại để tiếp tục giải thích Lời Chúa cho họ và đồng bàn với họ. Theo gương hai môn đệ trong bài Tin mừng hôm nay, chúng ta cũng cần dẹp bỏ tính kiêu căng, tự ái, để có thể nhận ra tiếng nói của Chúa nơi những người anh chị em đang cùng sống, cùng làm việc bên cạnh chúng ta. 

Và cuối cùng, theo chân các môn đệ trên đường Emmaus, chúng ta hãy siêng năng đến với bí tích Thánh Thể, bằng việc siêng năng, sốt sắng tham dự Thánh lễ và hiệp lễ mỗi ngày. Trong bí tích Thánh Thể, Đức Giêsu Phục Sinh vẫn đang hiện diện và chờ đợi để được đồng hành, nâng đỡ mỗi người chúng ta mỗi ngày trong đời sống. Ngay từ bây giờ, chúng ta hãy đến đồng bàn với Đấng Phục Sinh nơi bàn tiệc Thánh Thể, để ngày sau chúng ta cũng sẽ được đồng bàn với Ngài trong nhà Cha muôn đời. Amen.

Lm Trần Thanh Sơn

EMMAU - CÂU CHUYỆN CỦA SỰ TRỞ VỀ
Lc 24, 13-35

Câu chuyện "Trên đường Emmau" là một trong những câu chuyện Tin mừng tuyệt tác và rất riêng của thánh sử Luca. Nó không chỉ phong phú về phương diện văn chương mà còn đặc trưng về phương diện thần học. Chúng ta tìm thấy ở đây câu chuyện của một cuộc "trở về" với niềm tin của con người mà hôm nay, hai môn đệ làng Emmau là đại diện.

Sau những gì xảy đến cho Chúa Giêsu- sự kiện làm chấn động dư luận cả trong lẫn ngoài thành Giêrusalem, hai môn đệ quyết định trở về quê nhà là làng Emmau. Bước chân mỏi mệt chán chường. Các ông rơi vào trạng thái tuyệt vọng và trở thành những con người cô đơn trên cuộc lữ hành. Vì sao các ông tuyệt vọng, chán chường và cô đơn như vậy? Tất cả cũng chỉ vì liên quan đến một người tên là Giêsu. Vâng, sự việc bắt đầu từ khi các ông chia tay bố mẹ, giả từ vợ con, tạm biệt ngôi làng thân yêu để lên đường, bước theo người mà các ông cho rằng có thể đem lại cho đất nước, cho gia đình một sự hoà bình, thoát khỏi ách thống trị của đế quốc. Ba năm ròng rã bước theo con người này cũng là ngần ấy năm các ông mong cho ngày ấy mau tới. Thế nhưng, sự việc xảy đến với người đó thật thê thảm. Các ông không thể hiểu nổi một người đầy quyền năng, đầy lòng nhân ái như Thầy lại có một kết cục quá bi đát và nhục nhã như vậy. Không còn chút hy vọng, mất hết niềm tin, cách tốt nhất là trở về quê, tiếp tục công việc thường nhật mà thôi. Vì thế, các ông lên đường, buồn bã và thất vọng ê chề...

Các ông có biết đâu, trên hành trình thất vọng và cô đơn đó, có một người vẫn hằng dõi theo từng bước đi, chú ý từng tâm sự nhỏ to của các ông. Người ấy tiến về phía các ông, trò chuyện và đồng hành với các ông mà các ông nào hay biết. Các ông không nhận ra Người mặc dù Người vẫn có đó, vẫn hiện diện và chia sẻ với các ông. Các ông nghe- thậm chí nghe rất rõ, lời trách mắng của vị khách lạ: "Các anh chẳng hiểu gì cả! Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các Ngôn sứ! Nào Đức Kytô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao?". Nhưng các ông không nhận ra Người; Các ông còn được vị khách này giải thích tường tận những gì đã nói về Đấng Mêsia mà Môsê và các Ngôn sứ, tức là toàn bộ Kinh thánh, đã loan báo. Nhưng các ông vẫn không thể nhận ra Người là ai. Điều đó cho chúng ta thấy, Đấng Phục sinh vẫn có đó, vẫn hiện diện bên chúng ta. Nhưng cách hiện diện của Người là hoàn toàn mới lạ, khác với cách hiện diện thông thường, thể lý mà mắt thường có thể nhìn thấy được.

Tuy thế, chỉ đến khi được đồng bàn với Người, tận mắt chứng kiến Người cầm bánh, dâng lời chúc tụng tạ ơn, bẻ ra và trao cho, mắt các ông mới bừng sáng. Các ông hân hoan vui mừng. Tâm hồn các ông được Đấng Phục sinh chiếu dọi. Tâm trí các ông được Người khai mở. Đức Kytô, Thầy của các ông đã thực sự sống lại. Không nghi ngờ gì nữa, vị khách bộ hành- người đã giảng dạy Kinh thánh và cùng với các ông chia sẻ nghi lễ Bẻ Bánh chính là Đức Kytô Phục sinh. Niềm vui vì được gặp Chúa Phục sinh, được Người dạy dỗ và chia sẻ bàn tiệc Thánh, khiến cho các môn đệ Emmau quên hết nhọc nhằn. Các ông lập tức lên đường. Chúng ta có thể thấy bước chân vội vã cùng với niềm vui mừng của các ông khi trở về Giêrusalem thay cho bước chân chậm chạp, chán chường, cô đơn trước khi được gặp Đấng Phục sinh. Các ông ra đi không chỉ báo cho 11 môn đệ đang ở Giêrusalem mà còn muốn công bố tin mừng Phục sinh đó cho khắp cả nhân trần. Kể từ đó, Tin mừng Phục sinh theo dấu chân của các ông lan rộng khắp hoàn cầu.

Như hai môn đệ trên đường Emmau, người Kytô hôm nay cũng vui mừng và hân hoan vì tin vào Đức Kytô Phục sinh. Câu chuyện Emmau giúp mỗi người chúng ta nhận ra điều này : Bất luận chúng ta là ai, địa vị thế nào, hoàn cảnh sống ra sao; dù chúng ta có suy nghĩ thế nào, nói năng ra sao hoặc thực hiện điều gì, tất cả đều có sự hiện diện, có sự "quan sát", có sự đồng hành của Đấng Phục sinh. 

Chúa Phục sinh vẫn luôn đồng hành trong cuộc sống của mỗi người chúng ta. Điều đó thật hiển nhiên. Vấn đề ở chỗ, chúng ta có nhận ra sự hiện diện thực sự của Người trong đời sống của chúng ta hay không, để như hai môn đệ Emmau, chúng ta vui mừng và không ngừng ra đi loan báo Tin mừng Phục sinh cho thế giới này.

Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb

MỘT THIÊN CHÚA ĐỒNG HÀNH VỚI CON NGƯỜI  

Trong hành trình cuộc sống, nhiều khi chúng ta tự hỏi: Thiên Chúa ở đâu? Người tín hưũ đôi khi cũng bị người khác hỏi: Thiên Chúa bạn ở đâu? Bài Tin Mừng về Chúa Giêsu phục sinh đồng hành với 2 môn đệ đi Emmau giúp chúng ta trả lời được những thắc mắc như vậy. 

Hai môn đệ ở trong hoàn cảnh "mộng vàng tan mây, nhọc nhằn lê gót chân buồn đường dài" như cha Thành Tâm diễn tả. Lúc ấy hẳn là họ nghĩ Thiên Chúa ở nơi đâu hết sức cao xa. Nhưng thật ra Chúa Giêsu phục sinh đang đồng hành với họ mà họ chưa nhận ra ngay. Trên đường, Chúa cắt nghĩa Kinh Thánh cho họ, khiến lòng họ nóng lên. Lúc đồng bàn, Chúa bẻ bánh trao cho họ, khiến họ nhận ra Chúa. Từ chỗ hoang mang bỏ Giêrusalem ra đi, họ vui mừng quay trở lại Giêrusalem với anh em. Hôm nay Chúa Giêsu phục sinh vẫn đồng hành với chúng ta như vậy. 

Và Chúa cũng muốn đồng hành với con người thời nay như vậy. Có người không biết tại sao mình có mặt trên đời để. Có người đau khổ vì bệnh tật hay vì ác tâm của người đời. Có người buồn sầu vì những mất mát... Chúa muốn đồng hành với họ, soi sáng họ, dẫn đưa họ vào con đường Chúa đã đi để đến nơi Chúa đã đến. Chúa thực hiện điều ấy qua các môn đệ của Chúa. Tôi phải đóng vai của Chúa Giêsu phục sinh đối với người này, bạn phải đóng vai Chúa Giêsu phục snh đối với người kia. Chúng ta trở thành Chúa Giêsu phục sinh cho nhau.

Lạy Chúa Giêsu phục sinh, xin Chúa ở lại với chúng con, để chúng con vượt qua những hoang mang trong cuộc sống, đạt gới niềm vui, nhờ đó chúng con cũng có thể giúp anh em như vậy trong cuộc sống của họ.

Gm Cosma Hoàng Văn Đạt SJ

THÁNH THỂ VÀ HÀNH TRÌNH EMMAUS CỦA CHÚNG TA
Lc:24,13-35.

Mỗi con ngừơi đều có một câu truyện đời mình để mà kể. Nhưng kể được rành rẽ, chúng ta phải làm chủ về mọi mặt: sáng tối, vui buồn, tốt xấu, ngọt ngào, đắng cay. Tuy nhiên về mặt tích cực dễ kể hơn, còn mặt tiêu cực thật khó nói, trừ phi có những người biết lắng nghe và thông cảm. Nhiều trường hợp quá đau xót khiến đương sự phát triển bệnh tâm lý. Những ai giầu kinh nghiệm về cuộc sống biết rõ điều này. Câu truyện sau đây có thể minh họa chút ít. 

Một người đàn ông trung niên phỏng 35 tuổi, ăn vận lịch sự, tay sách một chiếc vali còn tương đối mới, bước vào một khách sạn ở Luân Đôn. Ông hỏi thuê một căn phòng nhỏ, nói là trú ngụ vài ngày. Cô tiếp viên hỏi tên tuổi để ghi vào sổ. Lạ lùng người đàn ông đỏ mặt bối rối. Cô thơ ký ngạc nhiên hỏi lại:"Xin cho cháu biết quí danh?" Người khách ngơ ngác:"Cô thông cảm, tôi không nhớ rõ?" Cô gái trẻ càng sửng sốt hơn:"Vậy làm sao cháu ghi số phòng cho ông?" Người đàn ông ấp úng:"Cô làm ơn thông cảm, ghi là Jeanne Brown đựơc không?". "Nhưng thưa ông, đó là tên phụ nữ". Rồi cô gái giúp đỡ người khách lục lọi các túi áo, mở cả vali nữa, nhưng chẳng tìm thấy chi hết. Ông ta không nhớ tên mình là gì, từ thành phố nào tới, quá khứ của ông hòan tòan bị xóa bỏ. Ông đang mặc bệnh mất trí nhớ (amnesia). 

Người ta đưa người khách lạ vào nhà thương. Một bác sĩ tâm lý cố gắng chữa trị cho ông. Sau những tuần lễ kiên nhẫn và với kỹ thuật tinh tế, người bác sĩ đã thành công mở lại quá khứ cho người đàn ông. Ông là một đứa trẻ mồ côi, được một gia đình tốt bụng đưa về nuôi. Lớn lên ông kết hôn với một thiếu nữ xinh đẹp, con nhà thượng lưu giầu có. Cô ta chẳng cần đến đồng lương còm cõi của người chồng làm nghề ống nước. Dân hàng xóm láng giềng giầu có khinh thường vợ chồng ông. Dần dà người vợ cũng chán anh chồng thuộc tầng lớp hạ lưu. Ông ta phát triển căn bệnh tự ti mặc cảm, cố quên đi những bất hạnh của mình. Cuối cùng hai vợ chồng lâm vào khủng hỏang. Cô ta có nhân tình mới, và người đàn ông cũng kiếm được nhân ngãi trẻ đẹp hơn, tuy thuộc tầng lớp tiện dân. Vừa khi hai vợ chồng bàn tính ly dị thì người vợ ngã bệnh nặng. Người chồng âu lo, cố quên đi tất cả. Đó là con đường duy nhất ông ta có thể làm để đối phó với hòan cảnh. Hậu quả bi thảm là ông mất trí nhớ. 

Câu truyện điển hình này là của mỗi người chúng ta. Có những linh hồn chịu đựng quá nhiều buồn đau hoặc lo lắng và cảm thấy hòan tòan bị bỏ rơi, thất vọng nếu không có người khác biết tới. Nghe chuyện của chúng ta là nghe cuộc đời chúng ta đã trải qua. Từ chối nghe là từ chối chính chúng ta. Lắng nghe là người ta đã chia sớt nỗi khổ tâm của kẻ khác và chữa lành về phần tâm lý. Mỗi người đều có một câu truyện để nói, nếu không gặp tri âm thì kể như chúng ta đã chôn quá khứ vào nấm mồ. 

Hai môn đệ đi làng Emmaus của Phúc âm hôm nay cũng rơi vào trường hợp này. Họ đang bị dầy vò vì cuộc vỡ mộng quá lớn. Biến cố thày chết làm cho họ hòan tòan thất vọng. Chính miệng họ đã thố lộ điều đó:"Chúng tôi đã những hy vọng, người sẽ cứu vớt Israel". Hy vọng của họ là dân tộc được giải phóng, tôn giáo được tự do và bản thân được vinh hoa phú quí với địa vị cao. Nhưng lúc này thì tan nát tất cả. Thày đã chết và mọi hy vọng được chôn chặt trong mồ cùng với thày. Chẳng còn chi để mà tin tưởng. Vỡ mộng và hổ thẹn đầy ắp với tâm trí họ, họ thầm thì to nhỏ về biến cố trên đường trở về làng cũ Emmaus, bây giờ là El Qubeiba, chừng 10 cây số đông bắc Giêrusalem. 

Đúng là Phúc âm có câu truyện để kể, hai môn đệ vỡ mộng có câu chuyện để nói và câu truyện làm cho họ rối lòng. Một khách lạ tế nhị áp sát họ lắng nghe. Tâm lý thường tình cho hay dốc bầu tâm sự cho người lạ dễ dàng biết bao! Bạn chẳng cần ý tứ, dè dặt. Kiểu như người ta đi xa về tha hồ mà khoác lác, chẳng ai có khả năng kiểm chứng thật hay bịa. Phần người lạ cũng rất tế nhị, ông lắng nghe, đi sâu vào chi tiết câu truyện và giải thích ý nghĩa Kinh thánh cho họ. Ông tạo cho họ bầu khí thuận lợi để họ bộc bạch tâm can, những đau buồn, những thất vọng. 

Rồi người khách lạ làm chi? Ông cũng kể câu truyện đời ông cho họ nghe. Đời của ông chứ không phải của người khác. Đối với hai môn đệ thập tự là một thất bại hòan tòan, một cản trở không thể vượt qua. Nhưng đối khách lạ không nhất thiết phải như vậy, rồi ông giải thích cho họ, bắt đầu từ Môsê và các ngôn sứ, những nội dung mà họ đã từng học tập, nhưng không hiểu:" Nào Đấng Kitô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào vinh quang của Người sao?". Vị khách lạ chỉ dẫn cho họ hay khổ giá không hẳn là kết thúc của một giấc mơ, nhưng là khởi điểm của một thực tại mới. Ông giúp đỡ hai môn đệ tìm ra ý nghĩa trong câu truyện của họ bằng cách cho họ biết ý nghĩa câu truyện của riêng ông. Nhờ đó họ có khả năng xem lại sự thật mà họ vừa trải qua ở Giêrusalem. Phúc âm kể :"Họ bảo nhau: Dọc đường khi Người nói chuyện và giải thích Kinh thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao?". Lòng họ sốt sắng vì đó là câu truyện của chính họ chứ không phải của người khác. 

Sở dĩ người đàn ông mất trí nhớ có thể trở lại trạng thái bình thường là vì vị bác sĩ lắng nghe câu truyện của ông ta. Những rắc rối, những tối tăm, đau khổ của ông ta được tự do giãi bày. Nhờ đó cơn bệnh biến mất. Bệnh tật thiêng liêng của chúng ta cũng được chữa trị tương tự. Xin đừng kiêu căng cho mình chẳng hề mắc bệnh. Thực tế, chúng ta nhiều bệnh lắm, và còn nặng hơn ông khách thuê khách sạn: Bệnh điếc, bệnh mù, bệnh giả hình, thôi thì đủ cả, thậm chí cả những bệnh đưa đến cái chết. Vậy mà vẫn cứ nhởn nhơ coi mình là thánh thiện, lại còn sẵn sàng lên lớp cho thêin hạ. Mỗi người có một câu truyện cần phải được bộc bạch. Nếu như không gặp khách lạ thì chẳng bao giờ nói ra. Nếu khiêm tốn nhận ra vấn đề của mình, thì chẳng bao giờ còn tâm lý tự cao tự đại, ăn vận diêm dúa, trang hòang lãng phí để đánh bóng danh tiếng mình, tổ chức mình. Chúng ta sẽ sẵn sàng chấp nhận phần tối tăm của linh hồn mình mà nhận ra thiếu thốn ơn Chúa soi sáng. Thực ra, xét cho cùng, thì chỉ câu truyện của Đức Kitô qua khổ nạn và cái chết rồi mới được vinh quang, chúng ta mới hiểu ra ý nghĩa trọn vẹn của cuộc sống mình. Mọi sự khác đều không thỏa đáng. Hai môn đệ chỉ nhận Chúa Phục sinh khi dùng bữa tối với Ngài. Lý do nằm ở chỗ, theo tục lệ Do thái, giai đọan cúôi cùng của tế lễ hy sinh là một bữa tiệc thánh thiện. Sách Lêvi ký thuật lại rất nhiều lần kết thúc của các hy lễ là chia sẻ bữa ăn với Đức Chúa tại bàn tiệc hy tếtsúc vật mà thày tư tế vừa thực hiện. Chắc chắn những tín hữu đầu tiên (đa số là Do thái) nghỉ rằng họ sẽ mất gốc nế không biết liên hệ với truyền thống này. Vì thế lễ bẻ bánh của họ là sau bữa ăn để tưởng niệm Đức Kitô. Truyền thống này còn mãi đến ngày hôm nay. Những ai không nhận ra ý nghĩa của nó, thì quả thật không phải là tín hữu chân chính. 

Khi Chúa vào dùng bữa với họ và Ngài vừa cầm bánh bẻ thì họ nhận ra Ngài. Chúng ta cũng chỉ nhận được ân huệ ấy sau khi đã đồng lao cộng khổ với Chúa. Đức Giáo Hòang Phaolô VI đã mô tả thánh lẽ bằng ba chữ:" Một hy lễ, một tưởng niệm và một bữa tiệc" là ở trong ý nghĩa ấy. Đức tin chúng ta sẽ không nhận ra Chúa trong thánh lễ nếu trước hết không suy niệm về khổ nạn, cái chết và phục sinh của Ngài. Đây là tư tưởng của thánh Augustinô và nhiều vị khác trong Gíao Hội. Làm ngược là chúng ta thất bại không nhận ra Chúa. 

Nhiều người nói rằng việc sống lại của Chúa, chỉ là suy nghĩ viển vông của các tín hữu. Họ không muốn chấp nhận thày mình đã chết, sự nghiệp đã tiêu tan. Họ ước ao mãnh liệt Ngài vẫn sống với họ, cho nên tạo ra những ảo ảnh rằng Ngài hiện ra đó đây nhiều lần. Họ "trông" thấy ngài đúng như lòng mong ước và đặt tên là Đức Kitô Phục sinh. Kỳ thật chẳng có chi là thực tế cả. Dân chúng chẳng bao giờ được chứng kiến "nội dung" họ từng kể lại. Đúng là đám môn đệ đã ở tận cùng hất vọng. Câu chuyện của các ông tỏ lộ một sự mất mát tòan diện và các ông đang làm chuyện mà ngày nay các người thất bại thường làm: Co cụm lại để băng bó vết thương, trở về công việc cũ, xây dựng lại tương lai. Một vài người trong bọn trở lại nấm mồ, như người ta thường làm, thăm viếng chỗ chôn cất và đau đớn khóc than. Có vậy thôi. 

Hai môn đệ đi làng Emmaus nói là gặp khách lạ thì chỉ là sản phẩm của óc tưởng tượng quá mạnh mẽ và ký ức còn quá sống động. Họ kể lại cho ông khách "ảo" điều mà các phụ nữ đồn thổi về thày đã trỗi dậy, thì chính họ cũng không tin. Đúng là câu truyện hoang đường mà ngày nay vẫn thừơng nghe thấy. Về phần Giáo hội tiên khởi cũng cùng một ruộc âm mưu lừa dối thiên hạ. Nhưng làm sao lừa được cả thiên hạ, cấp lãnh đạo Do thái, cho tới nay, có tin đâu? Xét trong tư tưởng của hai ông, thì họ đã kết thúc một quãng đời mộng mơ và trở về cuộc sống đời thường. 

"Chúng tôi những tưởng người sẽ cứu Israel". Câu nói rất phổ thông giữa chúng ta ngày nay: Chúng tôi những tưởng công trình này rất thành công. Những tưởng cuộc hôn nhân này hạnh phúc, con cái rất ngoan ngõan, dịch vụ này mang lại nhiều lợi ích, viên thuốc này rất hiệu nghiệm, ông nọ ba kia rất tốt bụng....ai dè! Hy vọng và mơ ước của chúng ta thường gặp thất bại. Thất bại này kế tiếp thất bại khác, khiến chúng ta nhát đảm, rụt rè, chột dạ, nghi nan không tin tưởng vào mình nữa, nản chí trong bất cứ công việc nào, kể cả đàng thiêng liêng. Nhưng có một thực tại không thể chối cãi được, là hai môn đệ ngay đêm hôm ấy trở về Giêrussalem để gặp các tông đồ, thuật lại cho họ ngay kinh nghiệm xem thấy thày của mình. Các ông cũng ngỡ ngàng nghe kể lại cùng một câu truyện: Họ cũng nói với hai ông:"Chúa trỗi dậy thật rồi và đã hiện ra với Simon". Simon là tên cũ của Phêrô, đứng làm biểu tưởng cho đạo cũ. Tức Kinh Thánh đã được ứng nghiệm mà Kinh thánh thì không thể sai lầm. Cho nên lương tri ngay chính buộc phải công nhận sự Phục sinh của Chúa là chân lý. Và khi nhận lãnh chân lý thì không thể giấu kín. Cleopha và bạn đồng hành trở về Giêrusalem báo tin cho các tông đồ và những môn đệ khác đang tụ họp. 

Câu truyện Emmaus là câu truyện của mỗi tín hữu. Nó thường xẩy ra với chúng ta mỗi khi rước lễ. Nếu thực sự chúng ta gặp gỡ Chúa trong thánh thể, chúng ta chẳng thể giữ Tin Mừng ấy cho riêng mình. Nó phải được loan ra bằng hành động, lời nói, trừ phi chẳng gặp Ngài mà chỉ giả đò gặp mà thôi. Cùng với Giáo Hội, chúng ta làm những cuộc hành trình giữa trần gian, cuộc hành trình súôt cả cuộc đời. Chúa Giêsu luôn đi sát bên mỗi người, giải thích, hướng dẫn mỗi linh hồn về quê Trời ngay cả khi không nhận ra Ngài. Chúng ta là thành phần của Dân Thiên Chúa, cần sống xứng đáng với những chi mình tin tưởng. Vì mỗi người đều phải kể lại câu chuyện đời mình. Câu chuyện đó có ý nghĩa hay không tùy thuộc vào thái độ sống của chúng ta. Amen, Alleluia.

Lm Thomas Trần Ngọc Túy, OP.

HỌ NHẬN RA CHÚA GIÊSU PHỤC SINH
Lc 24, 13-35

Cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi đã có một truyền thống rất đặc biệt, đó là luôn tự họp nhau cầu nguyện, chia sẻ tình thương, hiệp thông, san sẻ của cải vật chất cho nhau và cùng nhau cử hành lễ bẻ bánh. Đó là hình thức đầu tiên để cộng đoàn các thế hệ sau này, noi gương bắt chước và cử hành hy lễ tạ ơn. Những câu chuyện về Chúa, về Giáo Hội được các Thánh sử ghi lại theo sự linh ứng của Chúa Thánh Thần được đọc đi đọc lại trong các Thánh lễ hằng ngày và ngày Chúa nhật, lễ Trọng đã nói lên niềm tin của Hội Thánh, của những người theo chúa.

Hôm nay, Chúa nhật III Phục Sinh, Giáo Hội cho đọc lại câu chuyện rất ấn tượng, nhưng rất cảm động của hai môn đệ trên đường Emmau. Hai môn đệ này đã gặp gỡ Chúa Giêsu Phục Sinh vào đêm Chúa sống lại nhưng lại không nhận ra Người. Trên đường đi về làng Emmau, Chúa Phục sinh dưới dáng dấp của người khách bộ hành đã cắt nghĩa Kinh Thánh cho hai môn đệ khiến lòng họ bừng cháy ngọn lửa bên trong. Tuy nhiên, họ chỉ nhận ra Chúa khi Chúa đồng bàn với họ trong quán trọ vào xế chiều, lúc Chúa cầm lấy bánh đọc lời chúc tụng, bẻ ra và phân phát cho họ, mắt họ mở ra và nhận ra Người, nhưng Người đã biến mất. Khi kể lại câu chuyện này, thánh sử Luca không những cho chúng ta hiểu thế nào về hạnh phúc hai môn đệ trên đường Emmau đã nhận ra Chúa, nhưng cũng nhấn mạnh những gì Chúa sống lại đã làm cho hai môn đệ xưa, Chúa Phục sinh vẫn tiếp tục làm cho chúng ta. Các môn đệ thực sự lúc đầu không hề hiểu gì về sự đau khổ, cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu. Nhưng từ từ với ơn Chúa Thánh Thần họ nhận ra cuộc đau khổ của Chúa Giêsu là một cuộc hành trình tăm tối Người phải vượt qua để tiến tới vinh quang ánh sáng. Cuộc đau khổ, chịu chết của Chúa Giêsu không phải là một tai nạn bất ngờ, không phải là một sự luống công vô ích nhưng là một chương trình cứu độ đầy yêu thương của Chúa Giêsu.

Đức Giêsu Phục sinh vẫn đang thực hiện cho nhân loại, cho mỗi người chúng ta nhiều điều ngoài sức tưởng tượng của chúng ta. Khi chúng ta sốt sắng tham dự thánh lễ hằng ngày, thánh lễ trọng và thánh lễ ngày Chúa nhật, ngôi nhà thờ giáo xứ sẽ trở thành Emmau của chúng ta. Nơi nhà thờ, những bài Sách Thánh sẽ soi chiếu cho chúng ta, tuy nhiều lúc chúng ta chưa hiểu nhưng rồi chúng ta sẽ nhận ra Chúa đang nói với chúng ta. Chúa Phục sinh đang hiện diện với chúng ta. Chúa Phục sinh đang dạy dỗ chúng ta. Chính lời Chúa sẽ như đuốc sáng soi đường cho mỗi người chúng ta và như ngọn đèn pha định hướng cho con tầu đức tin của chúng ta cập bến bình an và giúp chúng ta vượt qua những thử thách gian nan.

Vâng, đọc lại Tin Mừng chúng ta hiểu được rằng " chính khi Chúa Giêsu bẻ bánh, tạ ơn thì hai môn đệ trên đường Emmau đã nhận ra Chúa Phục sinh ". Nên, Bí Tích Thánh Thể sẽ giúp người môn đệ Chúa lấy lại được sức mạnh của lòng tin. Bí Tích Thánh Thể sẽ giúp người Kitô hữu thắng vượt mọi sự trên cuộc đời của mình và Bí Tích Thánh Thể đem con người từ thân phận tối tăm tới bến bờ sự sáng. Người Kitô hữu được mời gọi qui tụ đến Nhà thờ để cầu nguyện, giúp đỡ lẫn nhau và hiệp dâng thánh lễ.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã hứa " Thầy sẽ ở cùng chúng con mọi ngày cho tới tận thế ", chúng con tín thác nơi Chúa, chúng con rất cần Chúa, xin Chúa giải thoát chúng con khỏi những cơn bão tố của cuộc đời. Amen.

Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT (nguồn sưu tầm vietcatholic.org)

2300