Sidebar

Chúa Nhật

14.07.2024

Chúa Nhật IV MV B_3

CHÚA NHẬT IV MÙA VỌNG NĂM B
Lc 1:26-38

1. Đức Maria hỏi "Việc ấy xảy ra cách nào được, vì...". Thiên sứ đáp "Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được" (câu 37). Rất nhiều điều con người tưởng không thể nào làm được thế mà Thiên Chúa vẫn làm được: Ngài đã làm cho Êlisabét son sẻ được có con, đã làm cho Đức Maria đồng trinh sinh ra Đấng Cứu Thế. Thiên Chúa cũng có thể làm nơi mỗi người chúng ta những việc trọng đại, miễn là chúng ta sẵn sàng để Ngài hoạt động trong chúng ta.

2. Mặc dù "
Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được", nhưng thường Thiên Chúa không làm một mình, Ngài thích có sự hợp tác của con người. Để cho Đấng Cứu Thế nhập thể, Thiên Chúa đã nhờ Đức Maria hợp tác. Và Đức Maria đã hợp tác bằng cách ngoan ngoãn để cho ơn Chúa hành động trong mình và qua mình: "Xin cứ làm cho tôi...".

3. Một thanh niên kia có thói quen ngủ rất say, luôn cần có mẹ gọi mới thức dậy được. Sau khi tốt nghiệp, anh đi làm ở một chỗ xa nhà. Mẹ anh mua cho anh một chiếc đồng hồ báo thức. Ngày đầu tiên anh quên vặn đồng hồ trước khi ngủ nên đến sở làm trễ. Ngày thứ hai, anh nhớ vặn đồng hồ, nhưng sáng sớm khi nó reo thì anh đưa tay tắt bỏ, nên lại đi làm trễ. Và anh bị đuổi việc. Khi anh trở về gia đình, mẹ anh hỏi về chiếc đồng hồ. Anh đáp:


- Chiếc đồng hồ đó hoàn toàn vô dụng đối với con.


- Nó vô dụng là vì con không chịu dùng nó. Mẹ anh đáp.


Bao nhiêu ơn Chúa ban cho ta cũng đều vô dụng nếu ta không xử dụng đến. (Góp nhặt)


4. "
Sứ thần vào nhà Trinh nữ và nói: Mừng vui lên hỡi đấng đầy ân sủng. Đức Chúa ở cùng cô. Nghe lời chào ấy, Maria rất bối rối và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì" (Lc 1,28-29)

Đứng trước một biến cố trọng đại, bất ngờ, Mẹ đã bối rối. Sự bối rối ấy không đến từ sự hoang mang nghi ngờ như trường hợp ông Dacaria, nhưng đến từ sự băn khoăn muốn tìm hiểu thánh ý Thiên Chúa.


Phần tôi, đứng trước những khó khăn xảy đến trong cuộc sống thì hầu như chỉ biết than vãn, kêu trách Chúa mà không thử tìm xem Chúa muốn nói gì với tôi qua những biến cố ấy. Chúa vẫn đi ngang qua đời tôi nhưng tôi đã không gặp được Ngài. Chúa đứng ngoài và gõ cửa nhà tôi nhưng tôi đã không nghe được tiếng Ngài. Lòng tôi vẫn khép kín.


Lạy Chúa. Xin cho con biết lắng nghe tiếng Chúa trong từng biến cố của cuộc sống, và biết xin vâng như Mẹ
. (Epphata).

Lm. Trọng Hương

KHIÊM NHƯỜNG ĐÓN NHẬN
Lc 1, 26-38

Đoc Tam Quốc Chí, ai cũng mến mộ Trương Lương, một trong những vị tướng tài ba của Lưu Bang. Thuở nhỏ, Trương Lương đi dạo chơi ngoài bờ sông. Thấy một ông lão ăn mặc rách rưới nằm ngủ trên cầu. Ông lão ngủ say làm rơi một chiếc dép xuống sông. Thấy Trương Lương, ông sai bảo : Thằng bé, nhặt chiếc dép cho ta. Trương Lương vui vẻ xuống sông nhặt chiếc dép kính cẩn đưa lại cho cụ già. Cụ cầm lấy. không một lời cám ơn. Loay hoay xỏ mãi không vào, cụ đánh rơi chiếc dép một lần nữa. Cụ lại quát bảo Trương Lương : Thằng bé, xuống nhặt dép cho ta. Trương Lương vẫn vui vẻ giúp cụ. Lần thứ ba cũng thế. Thấy vậy, ông lão khen : Thằng bé này dạy được đây. Thì ra cụ là một cao nhân lỗi lạc. Và cụ nhận Trương Lương làm học trò, truyền dạy binh pháp cho ông. Nhờ thế, Trương Lương trở nên một danh tướng văn võ song toàn, đã giúp cho Lưu Bang dựng nên nghiệp đế vương.

Trương Lương gặp đựoc thầy giỏi một phần nhờ cơ may. Nhưng phần lớn là nhờ sự khiêm nhường phục vụ của ông. Đọc truyện Trương Lương, tôi lại nhớ đến Đức Mẹ. Thời Đức Mẹ, ai cũng mong chờ Đấng Cứu Thế, nhưng chỉ mình Đức Mẹ được diễm phúc đón nhận. Chúa chọn Đức Mẹ, đó là do ơn lành nhưng không của Chúa, nhưng cũng vì Đức Mẹ có tâm hồn khiêm nhường đón nhận.


Đức Mẹ khiêm nhường trong đời sống bình dị. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo. Sống trong một thôn xóm nghèo hèn vô danh. Ngày ngày chu toàn những công việc tầm thường như nấu nướng, may vá, dọn dẹp nhà cửa.


Đức Mẹ khiêm nhường trong thái độ ứng xử. Trước mặt thiên sứ Gabriel, Đức Mẹ xưng mình là nữ tỳ của Thiên Chúa, dù thiên sứ đã loan báo Mẹ sẽ là Mẹ Thiên Chúa. Sau đó, Đức Mẹ đến thăm bà chị họ Elidabet. Vừa nghe Đức Mẹ chào, bà Elidabet đã ngợi khen Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa. Đáp lại, Đức Mẹ chỉ nhận mình là phận hèn bé nhỏ. Nếu có được ơn gì là do Thiên Chúa thương ban.


Vì khiêm nhường nên Đức Mẹ hoàn toàn vâng phục thánh ý Thiên Chúa. Đức Mẹ đã có chương trình riêng. Chương trình đó là sống độc thân trinh khiết. Đó là một chương trình tốt đẹp. Nhưng khi Thiên Chúa ngỏ ý muốn Đức Mẹ theo chương trình của Chúa, Đức Mẹ đã mau mắn từ bỏ chương trình riêng tư để đi vào chương trình của Thiên Chúa. Đức Mẹ nhận biết rằng, chương trình của Chúa là vô cùng tốt đẹp, còn chương trình riêng chỉ là bất toàn. Thánh ý Thiên chúa là tuyệt đối, còn ý riêng chỉ là khiếm khuyết.


Vì khiêm nhường nên Đức Mẹ phó thác trọn vẹn vận mạng trong tay Chúa. Khi thưa Xin vâng, Đức Mẹ đã mạnh dạn vượt qua những toan tính dè dặt của người đời để nép mình vào bàn tay quan phòng của Thiên chúa. Nếu ta hiểu luật lệ khắc nghiệt của người Do thái đối với phụ nữ không chồng mà có con, ta sẽ thấy Đức Mẹ liều lĩnh biết bao, và sự phó thác của Mẹ vào Thiên chúa mãnh liệt đến thế nào.


Vì đã thưa Xin vâng, nên Đức Mẹ chấp nhận tất cả, dù chưa hiểu hết Thánh ý Thiên chúa. Tại sao Con Thiên Chúa phải sinh ra trong cảnh thiếu thốn nghèo nàn ? Tại sao Vua trời đất lại phải chạy trốn như một kẻ yếu hèn ? Tại sao Đấng Cứu thế làm nhiều phép lạ đến thế để cứu nhân độ thế lại bị người ta chống đối, hành hạ, giết chết nhục nhã như một tội nhân ? Hoàn toàn không hiểu, nhưng Đức Mẹ vẫn khiêm nhường chấp nhận và tin tưởng phó thác. Vì thế Đức Mẹ vẫn kiên trì theo Chúa Giê su trên khắp mọi nẻo đường, cho đến dưới chân thánh giá.


Thái độ khiêm tốn chấp nhận của Đức Mẹ đã được Thiên Chúa yêu thương. Nước chảy xuống chỗ trũng. Ân huệ Thiên chúa đổ xuống tâm hồn khiêm nhường. Càng khiêm nhường càng nhận được nhiều ân phúc. Đức Mẹ có một tâm hồn khiêm nhường thẳm sâu, nên Đức Mẹ đã nhận được đầy tràn ân phúc của Thiên chúa, nhận được chính Ngôi Hai Thiên Chúa, là nguồn mạch mọi ân phúc.


Mùa Vọng là mùa chờ đón Chúa đến. Ta mong được đón rước Chúa vào tâm hồn. Ta mong được ân huệ dư đầy của Thiên Chúa. Ta hãy noi gương Đức Mẹ, biết khiêm nhường nhận mình tội lỗi yếu hèn, biết khiêm nhường từ bỏ ý riêng để thi hành ý Chúa, biết khiêm nhường vâng theo ý Chúa trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời, biết khiêm nhường phó thác vân mệnh trong tay Chúa dù không hiểu hết những ý định mầu nhiệm của Người. Chỉ khi khiêm nhường tan biến thành hư không, ta mới được Chúa thương đổ đầy tràn ân phúc vào tâm hồn.


Lạy Đức Mẹ Maria, xin dạy con biết sống khiêm nhường để con đi vào chương trình của Thiên chúa.

Đức Giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt

XIN VÂNG
Lc. 1,26-38

Có một người kia đã nói : "Nếu tôi có quyền chọn người mẹ sinh ra tôi, tất nhiên tôi sẽ chọn một người hết sức xinh đẹp và thánh đức. Xinh đẹp đến nỗi làm cho tất cả các phụ nữ khác đều phải ghen tuuông sửng sốt. Thánh đức đến nỗi làm cho mọi người đều phải cảm phục, ngợi khen".

Loài người muốn chọn người mẹ sinh ra mình. Nhưng không bao giờ được. Chúng ta phải chịu nhận lấy người mẹ mình như một số mệnh bắt buộc, như một cái may cái rủi, tốt ai nấy được, xấu ai nấy chịu. Không ai có quyền chọn người mẹ sinh ra mình. Nhưng đối với Thiên Chúa thì khác hẳn, Ngài đã sinh ra bởi một người được lựa chọn. Ngài đã chọn người mẹ sinh ra mình. Một người con chọn một người mẹ. Đây là trường hợp độc nhất vô nhị trong lịch sử loài người.


Tuy nhiên, Thiên Chúa không chọn một cách độc đoán. Ngài không yêu cầu người phụ nữ được chọn phải làm theo ý Ngài vô điều kiện. Nhưng Ngài rất tôn trọng tự do của người phụ nữ ấy, và muốn người phụ nữ ấy hoàn toàn ưng thuận theo suy nghĩ và sự tự do của mình. Nói cách khác, Thiên Chúa đã nhất định chọn một người phụ nữ để làm mẹ mình. Nhưng Ngài cũng muốn để cho người phụ nữ ấy chọn mình làm con nữa. Vì thế, sau khi đã tuyển chọn và trang điểm cho người phụ nữ ấy với muôn vẻ đẹp và ơn phúc, Ngài đã sai một sứ thần cao cấp đến báo tin và thỉnh ý người phụ nữ ấy. Đó chính là câu truyện truyền tin trong bài Tin Mừng hôm nay.


Sứ thần cao cấp đó là tổng thần Gáp-ri-en; và người phụ nữ được truyền tin đó là trinh nữ Maria. Qua cuộc đối thoại giữa tổng thần Gáp-ri-en và Đức Maria, chúng ta biết, cuối cùng Đức Maria đã trả lời : "Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Người thực hiện cho tôi như lời sứ thần nói".


Tiếng "
Xin vâng" vừa thoát khỏi môi miệng Đức Maria, thì Ngôi Hai, Con Thiên Chúa, ngự xuống mặc lấy xác phàm trong cung lòng Đức Mẹ. Sự hiệp nhất bản tính Thiên Chúa với bản tính loài người được thực hiện. Và ngay lúc đó, Thiên Chúa ban cho Đức Mẹ được đầy đủ mọi ơn phúc cần thiết nối kết với chức vụ Mẹ Thiên Chúa, để chu toàn vai trò quan trọng này. Đồng thời Đức Mẹ trở nên Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người.

Chúng ta thấy Thiên Chúa tôn trọng sự tự do của Đức Mẹ và Đức Mẹ cũng đã tự do đáp lại lời Chúa. Đức Mẹ đã chấp nhận cộng tác vào chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa, vì sự ưng thuận của Đức Mẹ đã mở đường cho việc Con Thiên Chúa nhập thể để cứu chuộc chúng ta : Con Thiên Chúa đã xuống thế trong cung lòng Đức Mẹ. Ngôi Lời đã hóa thành con người. Con Thiên Chúa đã trở nên con Đức Mẹ.


Nếu chúng ta muốn hiểu thêm về vai trò của Đức Mẹ trong công cuộc cứu chuộc, chúng ta có thể đặt song đôi hai mẩu đối thoại : từ một mẩu đối thoại thì phát xuất ra sự diệt vong của chúng ta, đó là mẩu đối thoại giữa con rắn và bà E-và trong cuộc cám dỗ đầu tiên ở vườn địa đàng; và từ mẩu đối thoại kia thì phát xuất ra ơn cứu chuộc cho chúng ta, đó là mẩu đối thoại giữa sứ thần Gáp-ri-en và Đức Maria trong cuộc truyền tin. So sánh cách thức con rắn tiếp xúc với Đức Mẹ, chúng ta thấy một bên là sự ngạo mạn và bên kia là sự kính trọng. Con rắn đề nghị những gì ? Một nỗi ngờ vực, một sự dối trá, một cuộc nổi loạn. Còn sứ thần Gáp-ri-en đề nghị : một sự ưng thuận và ơn cứu chuộc. Bà E-và ưng thuận và thế là có các hậu quả tai hại; Đức Maria thưa "Xin vâng" và Ngôi Lời đã làm người. Nhờ Đức Maria, nhờ thái độ tin tưởng và vâng phục của Đức Mẹ, nhân loại được liên kết trở lại với Thiên Chúa.


Qua mầu nhiệm này, chúng ta thấy có nhiều bài học : mầu nhiệm nhập thể, Con Đức Mẹ chính là Con Thiên Chúa, quyền năng của Thiên Chúa, đức tin của Đức Mẹ, lòng khiêm nhường của Đức Mẹ, sự đồng trinh của Đức Mẹ, sự "Xin vâng" của Đức Mẹ. Hôm nay chúng ta ghi nhớ bài học sau cùng thôi. Đó là theo gương Đức Mẹ, vâng theo thánh ý Chúa trong mọi sự. Chúng ta có thể nói : nếu có một chân lý nào được gọi là quan trọng nhất của đời Đức Mẹ, thì chân lý quan trọng đó là câu "
Xin vâng thánh ý Chúa". Cũng vậy, nếu có một chân lý nào được coi là quan trọng nhất của cuộc đời Đức Kitô, thì chân lý quan trọng ấy cũng là "Con đến để làm theo ý Cha". Vậy nếu Chúa Giêsu, nếu Đức Mẹ đã chọn chân lý cho đời sống mình là "Vâng theo thánh ý Chúa", thì chân lý ấy cũng phải là chân lý quan trọng nhất của đời sống tất cả chúng ta.

Chúng ta đang chuẩn bị mừng lễ Giáng Sinh. Chúng ta hãy xin Đức Mẹ giúp chúng ta. Mẹ là người đã chuẩn bị một lễ Giáng Sinh đẹp nhất, công phu nhất, dài nhất bằng cả chín tháng cưu mang trong tình yêu.
Xin Mẹ cũng giúp chúng ta chuẩn bị mừng lễ Giáng Sinh với tâm tình như Mẹ.

Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP.

FIAT
Lc.1,26-38

Để chuẩn bị cho Con Chúa Nhập Thể và Nhập Thế Thiên Chúa đã dọn sẵn cung lòng trinh khiết của Đức Maria ơn Vô Nhiễm nguyên tội, và Đức Maria với lòng khiêm tốn, tin tưởng phó thác hoàn toàn vào tình yêu Thiên Chúa đã lên tiếng " Này tôi là tôi tớ Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như Sứ Thần nói"(Lc.1,38).

Với lời xin vâng mà bao đời đã trông đợi nay được thực hiện, khai mở một kỷ nguyên mới mà Thánh Phaolô đã diễn tả " Toàn thể tạo vật rên siết chờ ngày được cứu rỗi". Vâng, một thế giới tuyệt vọng trong tội lỗi mà Satan thống trị, nay được giải thoát và nhân lọai được trở thành Con Thiên Chúa.


Lời xin vâng ấy được thành sự nhờ Đức Maria đã mở lòng ra để Thiên Chúa làm và Thiên Chúa đã làm. Ngài đã biến cung lòng nhân lọai thành Đền Thờ Thiên Chúa, đã làm cho lòng trinh nguyên không sinh con lại hạ sinh Đấng Cứu Thế.


Thiên Chúa đã làm nơi Đức Maria để giải thoát cho Ngài khỏi ách lề luật "ném đá" khi mang thai Con Chúa mà Thánh Giuse không hay biết. Đức Maria chắc chắn lo lắng trước những thắc mắc mà Thánh Giuse đang mang trong lòng, Ngài không thể tự giải quyết được nhưng tin rằng Thiên Chúa sẽ làm cách nào đó cho Thánh Giuse hiểu và Thiên Chúa đã hành động.


Thiên Chúa đã làm cho Đức Maria khi sinh con trong cảnh cô thế cô thân bị " người nhà không tiếp nhận " và nghèo nàn, nhưng lại để cho Con Chúa hạ sinh an toàn và mở đường cứu độ cho dân ngoại.


Thiên Chúa đã làm khi Đức Maria bồng con trốn qua Ai Cập vì bị thế gian ham mê quyền lực ghét bỏ, để rồi khi trở về Đức Giêsu đã như một Moisen trong cuộc Xuất Hành mới giải thoát dân Người khỏi nô lệ tội lỗi.


Thiên Chúa đã làm nơi Mẹ trong quãng thời gian Chúa Giêsu sống ẩn dật nơi Nagiareth, một con người tầm thường, phải lệ thuộc vào nhân lọai như bao người khác. Đúng là Đức Maria phải sống trong thử thách đức tin nhưng Mẹ vẫn mở lòng ra để cho Thiên Chúa làm những gì Ngài muốn.


Đặc biệt hơn cả là Thiên Chúa đã làm cho Đức Maria can đảm đứng dưới chân cây Thập Giá, tưởng chừng như một cuộc thất bại nặng nề, mọi sự như chấm hết, nhưng Thiên Chúa đã làm cho mọi người phải nhìn nhận : " Quả thật ông này là Con Thiên Chúa"


Vâng, "Đối với Thiên Chúa không có gì là không thể làm được" và Đức Maria xứng đáng là Người Nữ vẹn toàn, Mẹ tín thác hoàn toàn vào Thiên Chúa và luôn sống tinh thần của ngày " Xin Vâng" ấy.


Còn chúng ta thì sao? Thiên Chúa có thể làm được gì nơi bản thân chúng ta? Có biết bao nết xấu đã đâm rễ sâu trong người, và nó đã trở thành cội rễ cho những tính mê nết xấu khác, tôi có để cho Thiên Chúa bứng nó đi không ? Tôi có muốn nên thánh dầu tôi tội lỗi không ? Tôi có để cho Thiên Chúa dùng tôi mà làm những việc quá sức tôi không? hay lại viện lý do : it khả năng, thiếu sức khỏe ? Hãy học nơi Đức Maria " Xin Chúa cứ làm cho tôi như Sứ Thần nói" dù tôi tội lỗi, dù tôi tài hèn sức yếu, nhưng sức mạnh của Thiên Chúa có thể làm được mọi sự.


Lạy Chúa, kế hoạch Cứu Độ của Chúa đã khai mở qua sự suy phục Thánh Ý Thiên Chúa của Đức Maria. Xin cho chúng con biết noi theo cuộc sống âm thầm, khiêm tốn của Mẹ, luôn sẵn sàng tuân phục Ý Chúa qua các vị chủ chăn và sự soi động sâu xa của Chúa Thánh Thần trong tâm hồn, để xứng đáng đón nhận ơn cứu độ gần kề.

Sr Mai An Linh, OP

DẤN BƯỚC TRONG NIỀM TIN XIN VÂNG
Lc 1, 26-38

Tạm biệt vị Tiền hô của Thiên Chúa - Thánh Gioan Tẩy Giả, từ nay cho đến Lễ Giáng Sinh, chúng ta cùng nhau chiêm ngắm chân dung một nhân vật rất ư quan trọng trong lịch sử Cứu độ: Đức Trinh nữ Maria. Chính Đức Maria là mẫu gương tuyệt vời, là nguồn cảm hứng cho toàn thể địa cầu. Chính nhờ Mẹ và nơi Mẹ, Chúa Giêsu Kytô- Đấng Cứu độ trần gian, mặc lấy xác phàm nhân loại, giáng sinh làm người để cứu chuộc nhân loại. Chúa nhật cuối cùng của Mùa Vọng mời gọi chúng ta chiêm ngắm chân dung tuyệt mỹ cũng như sứ mạng cao quý mà Thiên Chúa đã ưu ái dành cho Mẹ.

Khác với việc truyền tin cho Dacaria, diễn ra trong bối cảnh huy hoàng của Đền thờ Giêrusalem, việc truyền tin cho Đức Maria ở một nơi thật khiêm tốn và bé mọn- nơi "một thành xứ Galilê", trong căn nhà đơn sơ tại Nazarét. Khung cảnh tuy đơn sơ bé mọn nhưng chứa đựng một bầu khí tuyệt vời thánh thiện. Bầu khí ấy cho phép chúng ta chiêm ngưỡng trước mầu nhiệm Nhập Thể của Con Thiên Chúa tuy vô cùng cao quý nhưng lại thật gần gũi, thật thân thiết với cái nghèo đói - nghèo đến trần trụi, nhất của kiếp người.


Thánh sử Luca dường như có ý muốn nhấn mạnh đến Mẹ - thiếu nữ Sion, là một trinh nữ trong vai trò của người nhận sứ điệp Thiên Chúa. Từ Trinh nữ ở đây phải hiểu như thế nào? Trinh nữ, tiếng Hylạp là Parthenos để chỉ mọi thiếu nữ và, mặc nhiên, được xem là đồng trinh. Điều này càng được khẳng định cách vững chắc trước câu hỏi mà Đức Mẹ đặt ra với sứ thần: "Việc ấy xảy đến thế nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng?".


Không chỉ là Trinh nữ, Đức Maria còn được biết đến qua danh hiệu "Đấng đầy ân sủng" của Thiên Chúa- tên mới mà sứ thần đặt cho Mẹ. Chúng ta biết đây là kiểu nói rất hiếm gặp trong Kinh thánh, chỉ vài lần mà thôi (x. Hc 18,17; Ep 1,16). Đấng đầy ân sủng (Kekhritomene) ở thể thụ động và có thể hiểu rằng Đấng ấy đã, đang và sẽ đầy ân sủng. An sủng ở đây không chỉ hiểu là đặc sủng của nhà vua và lòng sủng ái của người yêu mà còn là người làm đẹp lòng Thiên Chúa, nó không còn chỗ cho tội lỗi xâm chiếm.


Trước sứ điệp của sứ thần, Đức Maria chỉ bối rối chứ không sợ hãi như trường hợp Dacaria. Đức Mẹ cố tìm hiểu ý nghĩa của mầu nhiệm vừa được mạc khải một cách bất ngờ. Cũng như Dacaria, Mẹ cũng đặt vấn đề với sứ thần nhưng khác với Dacaria, Mẹ không hoài nghi mà xuất phát từ lòng tin đi tìm ánh sáng. Đặt vấn đề như thế, Mẹ đã làm hài hoà giữa đức tin và lý trí, và đó là dấu hiệu của một niềm tin biết vận dụng lý trí để truy tìm chân lý. Chúng ta biết đức tin không lý trí là đức tin mù quáng; và, lý trí mà không có đức tin thì không còn mầu nhiệm, không còn sự linh thánh nữa. Thế nên câu hỏi của Đức Maria- cách nào đó, đưa đến một mạc khải rõ ràng về Chúa Giêsu. Qua đó chúng ta biết tường tận người con mà Mẹ sinh ra chính là "Con Thiên Chúa" - tước hiệu mà Cựu ước và Luca dùng để chỉ Đấng Mêsia, tức Chúa Giêsu, con Mẹ, người sẽ làm thay đổi bộ mặt địa cầu, sẽ dẫn đưa nhân loại từ trong bóng đêm tội lỗi về với ánh sáng Tin mừng cứu rỗi.


Lý trí đã dẫn đưa Mẹ tìm hiểu mầu nhiệm cao siêu này và nhờ ơn Thiên Chúa qua sự hướng dẫn của sứ thần, giờ đây Mẹ đã hiểu ý định của Thiên Chúa- tuy chưa trọn vẹn, nhưng cũng đủ để mẹ phó thác, dấn bước trong niềm tin của mình. Lời thân thưa "Xin vâng" không chỉ biểu hiện của một thái độ khiêm nhường mà còn là một hành động của niềm tin. Tiếng "Xin vâng" của Mẹ, chứng tỏ rằng Mẹ đã hiểu phần nào về mầu nhiệm cao quý mà Thiên Chúa ưu ái dành cho Mẹ. Dấn bước trong niềm tin "Xin vâng", Mẹ đã cho chúng ta bài học về sự dấn thân, về "đêm tối của niềm tin " là gì. Cho hay, đức tin không phải là ngọn đèn cao áp để có thể nhìn tường tận nhưng chỉ như con đom đóm lúc ẩn lúc hiện; như tiếng sấm trong màn đêm, lúc sáng lúc tối để chúng ta bước từng bước một. Nó vừa đủ sáng cho những ai vững tin dấn bước nhưng đồng thời, nó cũng làm chồn chân cho những ai e dè ngần ngại dấn thân. Và vì thế, chúng ta mới hiểu tiếng Xin vâng của Mẹ chính là tiếng Xin vâng lên đường, là chặng tới của một niềm tin mà Mẹ đã trọn vẹn phó thác trong sự quan phòng của Thiên Chúa.


Lễ Giáng sinh đang đến gần là dịp nhắc nhớ mỗi người Kytô hãy mở rộng tâm hồn đón Chúa ngự đến. Chúa đã đến, đang đến và sẽ đến trong chính ngôi nhà thiêng liêng của mỗi người. Người đang đứng bên ngoài, gõ cửa và chờ đợi chúng ta. Thiên Chúa mong chờ tiếng đáp trả "xin vâng" của mỗi người chúng ta như xưa Đức Maria đã quảng đại đáp trả mà không cần tính toán so đo. "Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần truyền". Tiếng "Xin vâng" của mẹ vẫn còn mãi vang vọng và mời gọi chúng ta mỗi ngày...

Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb

CHÚA NHẬT CỦA MẸ
Lc 1,26-38

Chúa nhật 4 Mùa Vọng là Chúa nhật cuối cùng dọn mừng đón Chúa giáng sinh. Thực tế mà nói, Chúa nhật này phải gọi là Chúa nhật của Đức Mẹ. Bởi vì, năm nào cũng vậy, Giáo Hội luôn dành riêng Chúa nhật 4 Mùa Vọng để nói đến vai trò hết sức quan trọng của Đức Mẹ. Nếu không có Đức Mẹ, không có lời xin vâng của Mẹ theo ý nhiệm mầu của Thiên Chúa. Chắc chắn, lịch sử cứu độ đã bước vào một khúc ngoặt khác.Hôm nay, gần đến lễ Giáng Sinh, Giáo Hội khẩn khoản kêu mời nhân loại, con người hướng về mầu nhiệm yêu thương của Thiên Chúa. Mầu nhiệm đã được các ngôn sứ loan báo từ bao ngàn năm và cuối cùng được thực hiện nơi chính cung lòng trinh khiết của Đức trinh nữ Maria, một người nữ tử Sion, một cô thiếu nữ hiền lành, đạo đức và hết mực thánh thiện: " Trinh nữ Maria đã cưu mang Con Thiên Chúa bởi phép Chúa Thánh Thần " và Mầu nhiệm cứu độ đã đến trần gian nơi Hài Đồng Giêsu...

Ở đây dựa theo Giáo lý Công Giáo chúng ta phác họa vài nét cơ bản về Mẹ Maria để qua đó chúng ta hiểu Mẹ là ai ? Đức Maria là Mẹ Đấng Cứu Thế, người đã sinh ra Chúa Giêsu. Đức Mẹ Maria thuộc dòng dõi vua Đavít, thân sinh người là ông thánh Gioankim và thân mẫu người là bà thánh Anna. Theo như truyền thống kể lại thì hai ông bà đã già chỉ có Maria là người con duy nhất. Maria sinh ra và lớn lên tại làng Nagiarét, trong xứ Galilêa ở mạn Bắc nước Palestina. Khi Maria đến tuổi thành hôn thì kết hôn với một người tên là Giuse cũng thuộc chi họ vua Đavít, làm nghề thợ mộc ở Nagiarét. Chính trong thời kỳ Maria đính hôn với Giuse, trước khi về chung sống với nhau, thì thiên thần Gabriel đã được Thiên Chúa sai đến truyền tin cho Maria cho cô biết là cô sẽ thụ thai và sinh ra Đấng Cứu Thế. Và tuy đã đính hôn nhưng Maria đã khấn giữ mình đồng trinh, nên thưa lại cùng vị Thiên sứ rằng: " Việc đó làm sao thực hiện được vì tôi không biết đến người nam ?". Nhưng Thiên sứ đã giải thích cho Maria biết là cô đã thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần chứ không theo thói thường nhân loại, nên sinh con mà cô vẫn còn đồng trinh. Lúc ấy Maria mới thưa lại cùng Thiên sứ: " Này tôi là nữ tỳ Chúa, xin vâng như lời Thiên Thần truyền".Chính lúc ấy Ngôi Hai đã xuống đầu thai trong lòng trinh nữ Maria.


Mẹ Maria hoàn toàn được đắc sủng với Thiên Chúa. Vì được tuyển chọn, Mẹ Maria đã được những ơn huệ cao quí mà bất cứ người nào trên trần gian này cũng không có được. Bởi vì là người được Thiên Chúa cất nhắc làm Mẹ Đấng Cứu Thế, nên ngay khi Mẹ Maria được cưu mang trong cung lòng bà Thánh Anna, Thiên Chúa đã gìn giữ Mẹ khỏi mọi tì ố, bợn nhơ của tội lỗi. Đây là mầu nhiệm:"Thiên Chúa ban cho Mẹ ơn vô nhiễm nguyên tội ". Chính vì thế, Thiên Chúa luôn gìn giữ sự thánh thiêng của Mẹ, gìn giữ Mẹ không vương bất cứ một chút bợn nhơ của tội lỗi trong suốt cuộc đời của Mẹ. Trong những tháng cưu mang Chúa Giêsu, Thiên Chúa luôn tuôn đổ hồng ân đặc biệt xuống trên Mẹ để Mẹ nhận ra rằng Chúa Giêsu đang sống trong Mẹ. Mầu nhiệm này thật lạ lùng đến nỗi thánh sử Luca đã nhận xét về Mẹ Maria sau cuộc phục sinh của Chúa Giêsu rằng: "Mẹ Maria đã ghi nhớ tất cả, và suy đi nghĩ lại trong lòng " ( Lc 2, 19).


Có thể nói đây là biến cố hết sức kỳ diệu Chúa đã làm cho Mẹ Maria và qua Mẹ Maria, Chúa cũng làm cho nhân loại qua chương trình cứu độ của Ngài. Thiên Chúa đã ban cho Mẹ những đặc ân cao quí nhất, Mẹ đã đem Chúa Giêsu cho nhân loại và nhân loại đã lãnh nhận ơn cứu rỗi nơi Chúa Giêsu. Đó là mầu nhiệm tuyệt vời Thiên Chúa đã trao ban cho Mẹ Maria và trao ban cho con người, cho thế giới, cho loài người.


Sự cưu mang Chúa Giêsu và sinh ra Chúa Giêsu bởi cung lòng Đức Trinh Nữ Maria là một ân sủng lạ lùng Thiên Chúa đã làm cho nhân loại, cho thế giới, cho từng người chúng ta.


Mẹ Maria không chỉ nói lời xin vâng một lần với Thiên Chúa, nhưng lời xin vâng của Mẹ là lời xin vâng bao trùm trọn cả kiếp người của Mẹ. Mẹ đã nói lời xin vâng làm theo ý Thiên Chúa ngày truyền tin, nhưng lời xin vâng của Mẹ đã đi theo suốt đời của Mẹ và điều vô cùng ý nghĩa và là của lễ sống động nhất, đó là Mẹ đã chấp nhận đứng dưới chân Thập Giá để dâng Con của Mẹ cho Đức Chúa Cha.


Cuộc đời của người môn đệ Chúa, của tất cả chúng ta sẽ vô cùng ý nghĩa nếu biết sống trọn theo ý Chúa bằng việc giữ Đạo và sống Đạo. Chúng ta sống phải như thánh Phaolô: " Tôi coi mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Kitô " hoặc " Tôi sống nhưng không phải tôi sống mà là Đức Kitô sống trong tôi ".


Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ tăng thêm đức tin cho chúng con để chúng con luôn biết nói lời xin vâng như Mẹ trong suốt cuộc lữ hành trần thế của chúng con. Amen.

Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT (Nguồn vietcatholic.org)

1716    16-12-2011 10:12:45