Sidebar

Thứ Ba
16.07.2024

Chúa Nhật IV Mùa Vọng A

  1. Emmanuel, Thiên Chúa Ở Cùng Chúng Ta
  2. Ðược Mời Gọi Cộng Tác Vào Chương Trình Cứu Ðộ
  3. Chúa Bước Vào Đời Tôi
  4. E Sợ
  5. Vâng Phục Trong Trách Nhiệm
  6. Sống Công Chính Và Toàn Tâm Phụng Sự Chúa
  7. "Giuse, Con Vua Đavit"
  8. Chúa Nhật 4 Mùa Vọng
  9. Rước Đức Maria Về Nhà
  10. Chúa Nhật 4 Mùa Vọng
  11. Đừng Sợ
  12. Đức Giêsu Là Ai?
  13. Thiên Chúa Ở Cùng Chúng Ta
  14. Thánh Giuse Con Người Của Niềm Tin
  15. Theo Gương Mẹ Maria Sống Tâm Tình Mùa Vọng
  16. Truyền Tin Cho Ông Giuse
  17. Điều Kiện Để Đón Tiếp Chúa
  18. Chúa Nhật 4 Mùa Vọng
  19. Người Ta Sẽ Gọi Tên Con Trẻ Là Emanuel
  20. Mẹ Maria Và Thánh Giuse
  21. Ơn Cứu Độ

EMMANUEL, THIÊN CHÚA Ở CÙNG CHÚNG TA
Mt 1, 18 - 24.

Anh chị em thân mến.

Thời gian gần đây có một bộ phim đã đi vào trong lòng người, đó là phim Hoàng Châu Công Chúa. Khi xem qua bộ phim, mọi người đều có cảm tình với nhân vật chính, một người có lòng nhân ái, nhưng vì thẳng thắng nên thường gặp những đều trắc trở. Mọi người càng thỏa mản hơn khi những trở ngại đó dần dần cũng bị phá vở và an bình lại đến. Đó là vì cô công chúa nhờ có bùa hộ mệnh. Vị thần hộ mệnh rất đắc lực, ngài là một vị vua công minh, một người cha nhân hậu. Khi nào có Ngài ở bên cạnh thì vị công chúa và những người thân không còn phải lo sợ gì hết. Chỉ khi vắng bóng ngài, mọi thế lực thù nghịch mới tìm cách hảm hại. Nhưng tất cả đều được hóa giải khi có ngài ở cùng, khi đó những nguy hiểm, những khổ đau không còn tồn tại được nữa.

Giuse lo sợ vì chưa hiểu được Thánh Ý Chúa. Ông đã có những toan tính riêng tư của mình, những toan tính của sự sợ hãi, những toan tính của con người không có Thiên Chúa Ở Cùng. Ông lo âu bối rối không biết giải quyết như thế nào. Nhưng khi ông tỉnh dậy, ông hành động không do dự nữa, hành động cách can đảm, hành động trong sự bình an và vui mừng. Vì ông đã được biết Thánh Ý Chúa, ông biết có Thiên Chúa Ở Cùng ông, ông biết ông không còn hoạt động cách cô đơn nữa. Khi đó mọi thắc mắc đã được tháo cởi, mọi lo âu đã được cất đi, mọi nguy hiểm mà ông nghĩ tới không còn tồn tại nữa. Ông chỉ còn biết vâng phục trong vui mừng, trong hân hoan, vì Có Thiên Chúa Ở Cùng.

Trong cuộc sống đời người không thiếu những lo âu sợ hãi. Có những điều do hoàn cảnh khách quan đưa đến, cũng có những cái do chủ quan từ bên trong con người. Nếu xét từ nguyên nhân, thì tất cả mọi lo âu sợ hãi trong đời sống đều phát xuất từ cảm giác cô đơn, từ lòng ích kỷ, từ những việc chỉ nghĩ đến bản thân mà quên đi người khác. Quan trọng hơn, đó là vì không thấy Chúa hiện diện ở trong con người của mình, cùng hành động với mình, mà chỉ hành động cách đơn lẻ.

Mỗi người trong chúng ta cũng đã từng trải qua cảm giác cô đơn sợ hãi. Chúng ta cũng đã từng giải quyết nhiều vấn để khúc mắc. Nhưng đã giải quyết như thế nào? Chúng ta đã vượt qua cách khổ sở như lần từng bước đi trong đêm tối, để rồi niếm mùi chua cay thất bại và trải qua nỗi thất vọng ê chề. Chúng ta đã trải qua với sự lo âu thắp thỏm, cùng với những toan tính hại người, nên sợ sẽ bị trả thù. Hay chúng ta đã vượt qua với những bực tức và khó chịu vì không được như ý muốn. Đó là vì chúng ta đã hành động cách cô đơn, hành động mà không Có Chúa Ở Cùng, hành động trong cơn mê, hành động trong đêm tối.

Nếu khi nào chúng cảm thấy bình an thư thái, cho dù bao tai vạ ập đến, những khổ đau cứ dồn vào, những bất hạnh cứ tiếp diễn, mà chúng ta vượt qua cách an toàn, không để lại chút vương vấn trong lòng. Đó là vì chúng ta đang Có Chúa Ở Cùng. Đó là vì chúng ta đã được bừng tỉnh dậy. Nếu chúng ta nhìn thấy được ích lợi chung, nhìn thấy được nhu cầu của bao nhiêu người chung quanh, để sẵn sàng hành động theo tiếng gọi của con tim chân chính, hành động không còn ỷ lại vào con người riêng tư của mình nữa, mà hành động với Chúa Ở Cùng. Nếu được như thế, chúng ta mang được tâm trạng của Hoàng Châu Công Chúa khi có Vua Cha ở Cùng. Quang trọng hơn nữa chúng đang đi trên con đường mà Thánh Giuse đã đi vì vâng nghe Lời Chúa, bởi Ngài đã nhận ra được Có Thiên Chúa Ở Cùng.

Chúng ta cùng nhau cầu xin Chúa ban ơn cho mỗi người được sáng suốt, để nhận ra Chúa Ở Cùng Chúng Ta trong hoàn cảnh sống, trong những người chúng ta gặp hằng ngày, trong những công việc chúng ta đã và đang làm, để biết sống và hành động theo Thánh Ý Chúa.

ÐƯỢC MỜI GỌI CỘNG TÁC VÀO CHƯƠNG TRÌNH CỨU ÐỘ
Mt 1, 18 - 24

Dường như theo cách nghĩ thông thường của con người thì ai càng yếu đuối thì càng cần nhiều đến sự giúp đỡ của người khác. Thiên Chúa chúng ta là Ðấng Toàn Năng quyền phép vô cùng nhưng Người vẫn cần nhờ đến sự cộng tác của con người là thụ tạo của mình. Phụng vụ Lời Chúa hôm nay cho thấy Thiên Chúa mời gọi hai con người cộng tác đặc biệt vào chương trình cứu độ loài người.

"Này đây một thiếu nữ sẽ mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên là Em-ma-nu-en" (Is 7, 14) Ðây là lời loan báo của tiên tri Isaia ở cuối Bài đọc I cho biết Thiên Chúa đã có dự định từ lâu về chương trình cứu độ loài người. Đến giờ đã định Người đã sai thiên sứ Gapriel đến mời gọi Ðức Maria cộng tác bằng cách cưu mang, sinh hạ và nuôi dưỡng Ðấng Cứu Thế Giêsu.

Cũng vậy, trong đoạn Tin mừng hôm nay Thiên Chúa tiếp tục cho thiên sứ đến mời gọi Giuse: "Này ông Giu-se, con cháu Ða-vít, đừng ngại đón bà Ma-ri-a vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần". (Mt 1, 20b). Thiên Chúa mời gọi Giuse làm cha Ðấng Cứu Thế Giêsu cho hợp với luật pháp dân sự.

Với lời thưa: "Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời thiên thần truyền" (Lc 1, 38) Ðức Maria đã thật sự đón nhận lời mời gọi của Thiên Chúa. Còn Giuse thì: "Khi tỉnh giấc, ông Giu-se làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà." (Mt 1, 24). Cả hai Ðấng đã đón nhận lời mời gọi của Thiên Chúa một cách vui vẻ. Với sự đón nhận ấy trước mắt họ chẳng có ích lợi gì cho bản thân mình. Một trinh nữ mà phải mang thai khi chưa hề biết đến chuyện vợ chồng. Một thanh niên phải đón nhận Maria về để chăm sóc và phụ với nàng nuôi dưỡng đứa con không phải của mình.

Dầu v ậy, nhờ đó Ðấng Cứu Thế được sinh ra đến trong thế gian này . Người được sinh ra và lớn lên trong một gia đình có đầy đủ cha mẹ như bao trẻ thơ khác.

Thánh Augustinô đã có lần nói: "Ðể sinh ra con Nguời không hỏi ý kiến con nhưng để cứu chuộc con Nguời phải hỏi ý kiến con". Như vậy, Thiên Chúa đã hoàn tất chương trình cứu độ của Người nơi Ðấng Cứu Thế Giêsu. Tuy nhiên Thiên Chúa vẫn tiếp tục mời gọi chúng ta tùy theo cương vị và bậc sống cộng tác với Người trong việc cứu độ chính mình và anh chị em. Chúng ta hãy noi gương Ðức Maria và Thánh Giuse đón nhận Chúa Giêsu vào cuộc đời mình. Khi có Chúa Giêsu ở cùng thì dù có khó khăn mấy chúng ta vẫn có thể cộng tác tốt với Chúa..

CHÚA BƯỚC VÀO ĐỜI TÔI
Mt 1, 18 - 24

Người ta thường nói "nhập gia tuỳ tục", nghĩa là khi một vị khách vào nhà của ai đó thì người khách đó phải làm theo những lề thói mà gia chủ đang có, chứ không khi nào đòi hỏi người chủ phải làm theo ý mình. Điều đó nói lên thái độ lịch sự và tôn trọng của người khách đối với chủ nhà. Đó cũng là điều thường tình mà con người vẫn đã và đang làm trong cuộc sống.

Có một người bước vào căn nhà cuộc đời của Đức Maria,Thánh Giuse và tất cả chúng ta nhưng lại không làm theo những gì chúng ta đã sắp xếp, mà lại làm "xáo trộn" mọi sự của chúng ta. Người đó chính là Thiên Chúa.

Thiên Chúa bước vào cuộc đời của ai thì Ngài không để yên những gì con người đã định liệu sẵn. Ngài không muốn để cho con người "bình yên", một thứ bình yên của xác chết, của nghĩa trang lạnh lùng và đầy dẫy xác chết. Ngài đổi mới mọi sự. Vì thế, có rất nhiều người sợ Thiên Chúa bước vào cuộc đời của mình lắm. Nói điều này xem ra có vẻ nghịch lý, nhưng thực tế là như thế đó. Chúng ta còn nhớ câu chuyện Chúa Giêsu chữa một người bị quỷ ám, sống ở mồ mả và rất hung hung dữ. Kết quả là Ngài để cho "bầy quỷ" xuất khỏi người ấy và cho phép chúng nhập vào một đàn heo khoảng 2000 con, lao xuống biển chết hết. Dân chúng trong làng run sợ và thán phục trước phép lạ lớn lao ấy, nhưng họ lại nài xin Ngài rời khỏi họ. Nhự vậy là rõ ràng họ sợ Chúa đến với họ rồi. Họ chỉ thấy sự hiện diện của Chúa là quấy rối cuộc sống bình thường của họ, làm họ thua thiệt. Hay chúng ta còn nhớ câu chuyện các tông đồ chèo thuyền đi trên biển, gặp sóng to bão lớn. Vậy mà họ không sợ. Nhưng khi Chúa hiện ra, đi trên mặt biển mà đến với họ thì họ hoảng sợ. Hay câu chuyện Chúa Giêsu vào Đền Thờ Giêrusalem, Ngài đánh đuổi các người buôn bán ra khỏi đền thờ, lật tung bàn ghế của những người đổi tiền . . . Cho nên, chúng ta thường là sợ Chúa đến với mình lắm, nếu chúng ta không chuẩn bị một tâm thế đón nhận và có một đức tin vững vàng vào tình thương của Thiên Chúa.

Tin mừng hôm nay cho chúng ta thấy rõ ý tưởng mà chúng ta vừa nói ở trên. Chúa bước vào cuộc đời của Đức Maria và thánh Giuse và Ngài làm thay đổi hết những dự tính của các ngài. Chúa dắt các ngài bước đi theo một con đường hoàn toàn mới mẻ và xa lạ, nằm ngoài những dự tính ban đầu của các ngài. Có thể nói, Chúa đã làm xáo trộn kế hoạch vốn cũng rất tốt đẹp và thánh thiện nơi cuộc đời của Đức Maria và thánh Giuse.

Đọc Tin mừng, chúng ta thấy rõ là Đức Maria đã đính hôn với Giuse. Một kế hoạch xem ra rất bình an và hạnh phúc đối với những con người bình thường sống trong xã hội rồi. Nhưng rồi Thiên Chúa "không để yên" cho các ngài. Chúa giao cho các ngài một sứ mạng xem ra kỳ cục và nghịch lý lắm; xem ra Chúa muốn phá vỡ hạnh phúc của các ngài. Nhưng đó là cách thức Chúa hành động trên những kẻ Ngài yêu thương cách riêng.

Dù Chúa làm chủ cuộc đời của chúng ta, có có quyền bước vào căn nhà cuộc đời của chúng ta và hành động cách "nhập gia không tuỳ tục", nhưng Chúa vẫn chờ đợi thái độ đáp trả của con người vốn chỉ là những người quản lý cuộc đời của mình trong tự do và trách nhiệm mà Thiên Chúa ban cho mà thôi. Một tiếng "xin vâng" tự nguyện của Đức Maria, một thái độ sẵn sàng của thánh Giuse đã làm cho chương trình của Thiên Chúa được thực hiện cách trọn vẹn và tốt đẹp. Có được thái độ đó là nhờ các ngài hết lòng tin tưởng và phó thác nơi Thiên Chúa của mình, không chút nghi ngờ hay tính toán hơn thua. Các ngài đã để cho Thiên Chúa tự do hành động trên cuộc đời của mình, dù có những lúc các ngài cảm thấy mình đang bước đi trên những nẻo đường không chút hy vọng và khó hiểu nhìn theo phương diện con người. Dù các ngài là những con người được Chúa chọn cách riêng để làm theo chương trình của Chúa, nhưng các ngài đã chấp nhận biết bao khổ cực và cay đắng, chịu đựng biết bao những hy sinh và mất mát. Và nhờ thái độ tin tưởng và phó thác đến cùng đã làm cho các ngài trở thành những con người được "muôn đời ca tụng".

Thiên Chúa không thể chịu thua con người về sự quảng đại và lòng thương xót. Những ai không hoài nghi vào tình thương của Ngài thì chắc chắn sẽ đạt được hạnh phúc viên mãn và tròn đầy cách tuyệt đối.

Chúa đã đến và đang đến với mỗi người chúng ta. Chúa đang bước vào cuộc đời của mỗi người chúng ta, nhưng chúng ta có đón tiếp Chúa không hay chúng ta muốn tự mình lãnh đạo cuộc đời của mình vì sợ Chúa đến "quấy rối" chương trình của mình, hoặc chúng ta nghi ngờ lòng thương xót của Chúa, sợ Chúa dẫn mình đi trên con đường xem ra không giống ai. Chúa nói: "Ta đứng ngoài của và gõ, ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy và dùng bữa với người ấy" (Kh 3, 12).

Chúng ta nên biết là, nếu chúng ta tự định liệu số phận cho mình thì cuộc đời của chúng ta sẽ là những con người đáng thương nhất trên hành tinh này. Bởi lẽ, chúng ta có khó nhọc, có tất bật chạy ngược, chạy xuôi thì cũng hoài công vô ích mà thôi, vì chúng ta đang xây dựng đời mình trên cát và thiếu viên đá gốc tường. Lời của Thánh Vịnh đã nói: "Nếu như Chúa chẳng xây nhà, thợ nề vất vả cũng là uổng công". Hãy để Chúa giúp ta xây dựng cuộc đời của chúng ta, và chúng ta hãy tích cực cộng tác với Chúa và ngoan ngoãn bước theo Chúa, làm theo những gì Chúa đang thiết kế cho đời ta. Đó là thái độ của những con người khôn ngoan và đó cũng chính là thái độ của Đức Maria và Thánh Giuse ngày xưa, nhờ thái độ đó mà Thiên Chúa đã làm cho các ngài thành những con người diễm phúc muôn đời trên thiên quốc.

E SỢ
Mt 1, 18 - 24

Chuyện xưa kể lại rằng: Đức Khổng Tử thấy người giăng lưới chim sẻ, chỉ đánh được các chim sẻ con, còn non, vàng mép. Ngài liền hỏi rằng: "Không đánh được chim sẻ già là làm sao?". Chim sẻ già bíết sợ nên khó được, sẻ non ham ăn cho nên dễ bắt. nếu sẽ non mà theo sẻ già thì bắt sẻ non cũng khó. Nhưng nếu sẽ già mà theo sẽ non thì bắt sẽ già cũng dễ. Đức Khổng Tử nghe vậy hỏi học trò rằng biết sợ để tránh tai hại tham ăn mà quên nguy vong . Điều đó là tính tự nhiên vậy.

Qua câu chuyện trên ta thấy những con chim sẻ già biết sợ nên sống, đó là một cái sợ khôn ngoan, cái sợ của một con chim có nhiều năm kinh nghiệm, nên nó biết chọn chỗ nào nguy hiểm chỗ nào không nguy hiểm, có thể nói con chim sẽ già biết sợ để được sống chứ không phải là bị sợ vì nó hoàntoàn chủ động chứ không phải vào thế bị động.

Trong tâm lý học cho thấy, có rất nhiều cái làm cho người ta sợ. Sợ có thể là do bị mặc cảm tự ti, sợ không bằng người khác, sợ không thể làm được trước một công việc mà họ cho là quá lớn lao. Cái sợ thứ hai gần giống như sự xao xuyếnbăn khoăn thổn thức, nội tâm cảm thấy bất an sâu xa mà không có nguyên do khách quan nào. Họ sợ bị bất hạnh ập đến, một tai nạn gần kề trí tưởng tượng sẽ xảy ra cho họ rằng có những biến động bất ngờ đôi khi rất kinh sợ mà họ không tài nào xua đuổi được.

Bài Tin Mừng hôm nay cho ta thấy một cái sợ mới, rất độc đáo. Nó không giống cái sợ từng trải của con chim sẻ già, cũng không giống một cái sợ mặc cảm tự ti, cũng không xao xuyến bất an, một cái sợ thật dễ thương biết mình là thụ tạo được tuyển chọn, biết mình để mà sợ sống phó thác, sống vâng lời. Đó chính là cái sợ của Đức mẹ Maria cô trinh nữ làng Nazareth và anh chàng thợ mộc Giuse nghèo nàn, ít nói và luôn sống âm thầm.

Không phải tự nhiên ta có thể khẳng định Đức Meria sợ hãi. Điều đó đã được chứng minh qua việc khi sứ thần truyền tin. "Maria đừng sợ, Bà đã được Thiên Chúa sủng ái" Chắc Maria lại càng sợ hơn khi nghe nói mình sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai và đặt tên là Giêsu . Không phải chỉ có Đức Mẹ khi nghe lời đó sợ hãi mà hầu hết tất cả các thiếu nữ Do Thái khi nghe đều sợ. Vì theo lật Do Thái người phụ nữ nào có chồng mà có con trong khi Đức Mẹ lại là người phụ nữ đẹp nết đẹp người, Hơn nữa Đức Maria lại là con ông Gioan Kim và Anna sống tốt lành thánh thiện thì lại càng sợ hơn nữa. Nhưng cái sợ của Đức Maria khi nghe truyền tin không giống như cái sợ của những người phụ nữ Do thái khác. Sợ vì có một chút bất ngờ một chút bỡ ngỡ, vì không ngờ một thụ tạo hèn kém như mình lại được Chúa chọn, được Chúa ban cho hồng ân to lớn đến thế. Có thể nói cái sợ của Mẹ Maria như lời tạ ơn đơn sơ đẹp lòng Chúa nó cũng chứng tỏ nơi Mẹ một tâm hồn phó thác vì biết sợ trong Chúa vì biết tin tưởng nới Thiên Chúa mà Mẹ đã biến nỗi sợ hãi bằng lời thưa trong sự can đảm và vâng phục thánh ý Thiên Chúa

Khi nói đến Thánh Giuse, người ta nghĩ ngay đến một người công chính, ngay thẳng sống âm thầm, ít nói. Suốt cuộc đời trong Kinh Thánh không ghi lại một lời nào của ông nhưng ta biết được ông cảm thấy e ngại khi biết Đức Maria có thai, ông không hề nói cho ai biết điều làm ông e ngại đó, nhưng Thiên Chúa đã thấy và biết được sự lo lắng trong lòng ông. Do đó Thiên Thần đã đến với ông trong giấc mơ và nói với ông hỡi Giuse đừng sợ đón nhận Maria về nhà làm vợ vì nàng đã thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần. sau khi tỉnh giấc Giuse đã tin tưởng vào Thiên Chúa và đường lối hành động của người. Do đó ông cũng vượt qua được nỗi sợ hãi và làm theo ý Chúa. Tất cả chúng ta đều đã đụng chạm đến nỗi sợ hãi và chắc chắc cũng còn gặp nhiều nỗi sợ hãi nhưng đường để nỗi sợ hãi đó làm ta không thể đến được với Chúa nhưng hãy biết chuyển đổi nỗi sợ hãi để thành niềm tin.

Trong mùa giáng sinh này hãy biến nỗi sợ hãi thành lòng khao khát đợi Chúa đến, và chỉ có Chúa ta mới nhận được niềm vui lớn lao như Đức Mẹ và thánh Cả Giuse đã nhận hơn 2000 năm trước.

VÂNG PHỤC TRONG TRÁCH NHIỆM
Mt 1, 18 - 24

Học cùng buổi, là anh lớn, tôi được cha mẹ giao cho trách nhiệm quản lý chiếc xe và đưa rước em út học ở trường mầm non gần trường tôi. Tôi chẳng thích tí nào, vì như thế tôi chẳng bao giờ được đi chơi cùng đám bạn mỗi khi tan học. Nhưng tôi chẳng còn cách nào khác vì cha mẹ phải đi làm, em út thì chưa thể tự đi được.

Lần nọ, cô giáo bị bệnh đột ngột. Chúng tôi được nghỉ tiết cuối. Tôi theo đám bạn ra sân vận động chơi đá banh. Mãi chơi quên cả giờ giấc phải đón em. Chờ mãi không thấy tôi đến rước, cô giáo nhà trẻ đưa luôn em tôi về nhà cô và điện qua nhà tôi bảo mẹ tôi qua rước em. Còn tôi, khi chơi chán thì đã trễ giờ, đến trường của em thì được biết em đã được cô đưa về. Tôi đành lững thững về nhà chịu tội. Về đến nhà, đứa em út nhìn tôi khóc tức tưởi: "Anh hai đi đâu không đón em!".

Phúc Âm ngày hôm nay giới thiệu cho chúng ta một khuôn mặt - một người thầm lặng, thầm lặng nhưng rất vâng phục; ít nói nhưng đầy trách nhiệm. Thánh sử gọi ngài là người công chính. Đó là thánh Giuse.

Trình thuật bài Phúc Âm cho biết Giuse đã đính hôn với Maria, nhưng trước khi về chung sống thì Maria đã mang thai bởi phép Chúa Thánh Thần. Giuse thì lòng bối rối như tơ vò, "bỏ thì thương vương thì tội". Tố cáo thì Maria sẽ chết, bởi luật lệ Do thái thời ấy rất khắt khe với những phụ nữ chửa hoang. Rước nàng về chung sống thì sao quá bất công cho mình. Cuối cùng Giuse đã chọn giải pháp âm thầm ra đi. Đành chấp nhận dang dở một cuộc tình đẹp... Nhưng có phải vì sự âm thầm đó mà Giuse được gọi là người công chính? Hay là vì lòng nghĩa hiệp không muốn phanh phui ra ánh sáng một bào thai đang lớn lên từng ngày trong bụng Maria?

Nếu chỉ đơn giản như thế thì cần gì phải nêu ra cho mọi người học hỏi làm gì! Vì thực tế mẫu anh hùng như thế không phải làm hiếm.

Mặc dù Phúc Âm không nói gì về cuộc đời thánh Giuse, nhưng chắc rằng ngài là một người tốt lành, có đạo đức, có học thức. Sự công chính của Giuse được các nhà chú giải cho rằng: Giuse đã biết được thai nhi trong bụng Maria là ai, ngài cũng hiểu được rằng Thiên Chúa đã chọn Maria cho công trình cứu rỗi của Người. Giuse tự thấy mình không có quyền giành Maria với Thiên Chúa, càng không xứng đáng tham dự vào công trình quá cao vời của Thiên Chúa. Giuse chấp nhận hy sinh tình yêu của mình để ý định của Thiên Chúa được thành sự. Giuse công chính là vì ngài đã nhận ra được điều Chúa muốn ngài phải hy sinh và vâng theo điều đó với cả ý thức và trách nhiệm.

Cho tới khi suy nghĩ của Giuse được xác nhận bởi lời của sứ thần, thì sự vâng phục của Gisue được chuyển sang hướng khác và nâng lên cao hơn. Giuse không là kẻ đứng ngoài công trình cứu rỗi. Rối rắm trong lòng Giuse được hoá giải. Trách nhiệm của Giuse giờ đây là công nhận người con Giêsu trong tư cách pháp lý cũng như cho Giêsu được đứng vào hàng con cháu Đavit. Giuse không hề đắn đo hối tiếc trong vai trò cha nuôi của mình. Ngược lại, ngài còn vui mừng vì đã được cộng tác, vì đã được mời gọi. Việc nầy xem ra quan trọng hơn so với việc chấp nhận người khác đứng vào dòng tộc mình. Giuse đã hoàn toàn để ý Chúa "được như lời sứ thần truyền".

Là người Công giáo, chắc hẳn phải hơn một lần bạn nghe nói về sự vâng phục của thánh Giuse, hay của Đức Maria, hay của một vị thánh nào đó. Thế bạn nghĩ gì về điều nầy? Các ngài không phải vâng phục lề thói xã hội không đâu, mà là vâng phục ý Chúa. Và khi đã chấp nhận xin vâng như vậy, các ngài cũng phải đảm đương một trách nhiệm đi cùng.

Như câu chuyện tôi đã kể ở phần đầu, tôi đã miễn cưỡng vâng phục. Tôi không phản ứng nhưng tôi không làm tròn trách nhiệm. May là hôm ấy em tôi không xảy ra sự cố gì rắc rối. Nếu không chắc tôi phải ân hận suốt đời.

Cuộc sống đòi buộc bạn phải dấn thân, đòi buộc bạn phải đáp trả lời mời gọi cộng tác. Bạn không thể ăn bám gia đình mãi. Bạn không thể ngồi đó oán trách số phận đen đũi. Bạn càng không thể trốn chạy trước tương lai của chính đời bạn. Khi bạn chưa bắt tay vào làm bất cứ điều tốt nào thì bạn không được quyền nói bạn không có khả năng. Bạn đã thấy thánh Giuse cũng nghĩ rằng ngài không thể, nhưng với lòng tin vào Chúa và vào chính mình, ngài đã làm được.

Hãy đến chiêm ngắm sự vâng phục của Giêsu - Maria - Giuse nơi hang đá trong đêm Giáng Sinh và nguyện cầu để được các Ngài hướng dẫn cuộc đời bạn. Chúc bạn Giáng Sinh an lành.

SỐNG CÔNG CHÍNH VÀ TOÀN TÂM PHỤNG SỰ CHÚA
Mt 1, 18 - 24

1. LỜI CHÚA: Ông Giu-se chồng bà là người công chính (Mt 1,19). Khi tỉnh giấc, ông Giu-se làm như sứ thần Chúa dạy (Mt 1,24).

2. CÂU CHUYỆN: MỘT HÀNH ĐỘNG KHIÊM TỐN VÀ TRUNG THỰC

Khi vụ OÁT-TƠ GHẾT (Water Gate) xảy ra, thì Tổng Thống NÍCH-SƠN (Nixon) vốn được dân chúng Hoa Kỳ tín nhiệm và đánh giá cao, đang ở trong tình trạng tiến thoái lưỡng nan. Cũng vì muốn thắng cử mà Ních-sơn tuy đã biết nhưng vẫn làm ngơ cho thuộc hạ tổ chức nghe lén điện thoại của đảng đối lập. Bây giờ bị họ phát hiện và ghép vào tội nghe lén, một hành động vi phạm pháp luật Hoa Kỳ. Ông mất ăn mất ngủ trong nhiều ngày để tìm lối thoát trong danh dự. Thế rồi một ngày nọ, sau khi làm việc ở văn phòng tại Tòa Bạch Ốc về nhà, Ních-sơn ngồi một mình khá lâu trong phòng riêng. Bỗng ông nhìn thấy cuốn Thánh Kinh đang nằm trên bàn làm việc. Ông đã cầm lấy mở ra và đọc được câu Lời Chúa sau: "Sự thật sẽ giải thoát các ngươi". Về sau ông cho biết: Chính câu Lời Chúa đó đã nhắc nhở ông phải trung thực trong hành động. Thế là ông mau chóng quyết định dứt khoát. Mấy ngày sau đó, người ta thấy ông xuất hiện trên truyền hình phát đi toàn nước Mỹ lời nhận lỗi và xin tha thứ. Ông cũng chính thức xin từ chức Tổng Thống, một chức vụ đầy quyền lực và vinh quang mà nhiều chính khách luôn mơ ước. Đây là một hành động được đánh giá là can đảm và có một không hai trong lịch sử Hoa Kỳ. Chính nhờ sự can đảm trung thực và khiêm tốn nhận lỗi đó mà dân chúng đã thông cảm và kính phục ông như trước.

3. SUY NIỆM:

Tin mừng Chúa Nhật IV Mùa Vọng hôm nay mời gọi các tín hữu chúng ta dọn tâm hồn đón nhận ơn cứu độ của Đức Giê-su bằng việc noi gương thánh cả Giu-se và Trinh Nữ Ma-ri-a như sau:

1) Noi gương công chính của thánh Giu-se: Sự công chính của Giu-se được Tin Mừng diễn tả như sau: "Ông Giu-se chồng bà là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo". Vậy tại sao Giu-se được khen là người công chính? Trong những ngày chuẩn bị đón mừng lễ Giáng Sinh, chúng ta phải sống thế nào để noi gương công chính của thánh Giu-se?

a) Công chính là ứng xử công bình ngay chính: Trước sự kiện Ma-ri-a tuy đã thành hôn nhưng chưa về chung sông mà đã có thai nên chắc không phải con của mình, Giu-se đã suy đi nghĩ lại trong lòng và đã bình tĩnh chọn lối ứng xử công bình ngay chính như sau: Ông "không tố cáo bà" tội ngoại tình vì không dám xét đoán ý trái cho Ma-ri-a, một người mà ông biết rõ rất mực thánh thiện. Nhưng đàng khác, ông cũng không thể tổ chức lễ rước dâu để đón Ma-ri-a về nhà làm vợ và nhắm mắt thừa nhận bào thai Ma-ri-a đang cưu mang là con mình vì không đúng sự thật và cũng vì chưa nhận được chỉ thị nào từ nơi Thiên Chúa. Cuối cùng Giu-se đã chọn giải pháp "âm thầm lìa bỏ" bà để vừa tôn trọng sự thật lại vừa bào toàn danh dự cho Ma-ri-a, tránh cho bà khỏi bị kết tội cách oan ức trước mặt người đời.

b) Công chính cũng là vâng theo thánh ý Thiên Chúa: Giu-se còn thể hiền đức công chính qua thái độ luôn vâng phục thánh ý Thiên Chúa. Khi được sứ thần hiện ra báo mộng và cho biết ý Chúa muốn, Giu-se đã thức dậy và làm theo ý Chúa như sau: Một là tổ chức lễ rước dâu để "đón vợ về nhà": Để làm được điều này, ông phải làm chủ tính tự ái và can đảm bỏ ngoài tai các dư luận bất lợi chung quanh. Hai là "Ông không ăn ở với bà": Điều này cho thấy bản lãnh và sức mạnh tinh thần cao cả của ông, để có thể tôn trọng lời khấn hứa trọn đời đồng trinh của Đức Ma-ri-a. Ba là "Cho đến khi bà sinh một con trai, ông đặt tên cho con trẻ là Giê-su": Đặt tên là xác nhận tư cách làm cha của Hài nhi Cứu Thế về mặt luật pháp.

c) Học tập gương công chính của thánh Giu-se: Như vậy, cách ứng xử của thánh Giu-se nói trên cho thấy ngài là một người công chính vì đã dành cho Đức Ma-ria một tình yêu chân thành, có lòng khoan dung nhân hậu, tự chủ mực thước, bản lĩnh và có lập trường vững chắc... Qua đó cho thấy Giu-se là một người công chính, xứng đáng là cha nuôi của Hài nhi Cứu Thế Giê-su và là bạn trăm năm của Ðức Ma-ri-a, đồng thời nêu gương thánh thiện cho các tín hữu chúng ta hôm nay. Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta cần tránh thái độ hồ đồ, hay xét đoán ý trái cho tha nhân theo thiên kiến chủ quan "suy bụng ta ra bụng người". Chúng ta cũng cần ứng xử bình tĩnh tự chủ trước mọi tinh huống bất ngờ, luôn phản ứng theo cách khôn ngoan vị tha và trung thực, luôn tìm kiêm thánh ý Thiên Chúa bằng cách tự hỏi: "Nếu Chúa Giê-su ở trong hoàn cảnh của tôi bây giờ thì Người sẽ làm gì?" rồi làm theo lời Chúa dạy để ngày một trở nên công chính thánh thiện noi gương thánh Giu-se.

2) Noi gương đức đồng trinh về tâm hồn như Trinh nữ Ma-ri-a: Tin Mừng hôm nay không những đề cao sự công chính của thánh Giu-se mà còn đề cập đến việc thụ thai kỳ diệu của Trinh Nữ Ma-ri-a do quyền năng Thánh Thần. Thông thường, nói tới sự đồng trinh của Ðức Ma-ri-a, người ta thường chỉ nghĩ tới đồng trinh về thể xác, mà ít nghĩ tới đức đồng trinh về tâm hồn của ngài. Thực ra cả hai mặt của đức đồng trinh ấy đều quan trọng và cần thiết. Nếu chỉ đồng trinh về thể xác mà thiếu đồng trinh tâm hồn thì sự đồng trinh ấy cũng không có giá trị bao nhiêu! Chính sự đồng trinh tâm hồn nơi Ðức Ma-ri-a mới quan trọng và nêu gương cho chúng ta hôm nay.

Đức Ma-ri-a đồng trinh trong tâm hồn biểu lộ qua việc Mẹ luôn quy hướng về Thiên Chúa và toàn tâm toàn ý phụng sự Chúa. Khi thưa Xin Vâng với sứ thần, Trinh nữ Ma-ri-a đã như một nữ tu khấn trọn: tuyên khấn thuộc trọn về Chúa. Qua lời khấn đó Mẹ đã tự hủy để toàn tâm toàn ý thuộc về Thiên Chúa và sống chết cho Ngài như Đức Giê-su nói: "Tôi tự trời mà xuống không phải để làm theo ý tôi, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai tôi" (Ga 6,38), hoặc như thánh Phao-lô: "Tôi sống nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi" (Gl 2,20). Khi thưa với sứ thần: "Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói" (Lc 1,38), Đức Ma-ri-a đã chứng tỏ đức đông trinh tâm hồn và trở thành gương mẫu cho các tín hữu hôm nay. Mọi tín hữu kể cả những người sống bậc hôn nhân gia đình đều có thể và được mời gọi sống đức đồng trinh trong tâm hồn, nghĩa là trọn vẹn phụng sự Thiên Chúa noi gương Mẹ Ma-ri-a.

3) "Em-ma-nu-en"- "Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta": Tin Mừng Chúa Nhật IV Mùa Vọng hôm nay cũng đề cập đến danh hiệu của Đức Giê-su đã được ngôn sứ I-sai-a tuyên sấm trước đó bảy trăm năm: "Này đây, Trinh nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là "Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta."  (Mt 18,23). Em-ma-nu-en là danh hiệu cho thấy ý Thiên Chúa muốn ở với loài người mọi nơi mọi lúc như Đức Giê-su đã xác nhận trước khi lên trời: "Và đây Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế"  (Mt 28,20).

Ngày nay Chúa Giê-su vẫn tiếp tục ở cùng chúng ta bằng nhiều cách như sau:

1- Khi Hội Thánh công bố Lời Chúa trong phụng vụ: Bấy giờ chính Đức Giê-su hiện diện để nói với chúng ta qua các vị chủ chăn: "Ai nghe anh em là nghe Thầy" (Lc 10,16). 

2- Khi cộng đoàn hội họp nhau nhân danh Đức Giê-su trong các buổi học sống Lời Chúa hằng tuần hằng tháng thì có Người hiện diện để dạy dỗ: "Ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ" (Mt 18,20). 

3- Khi chúng ta yêu mến Chúa Giê-su và biểu lộ bằng việc lằng nghe và vâng giữ lời Người thì Ba Ngôi Thiên Chúa sẽ đến ngự trong chúng ta: "Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha của Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy" (Ga 14,23).

4- Khi chúng ta cử hành thánh lễ và rước lễ sốt sắng là chúng ta được kết hiệp mật thiết với Chúa như Người dạy: "Ai ăn thịt và uống máu Tôi, thì ở lại trong Tôi, và Tôi ở lại trong người ấy" (Ga 6,56). "Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được" (Ga 15,5).

5- Khi chúng ta phục vụ những người nghèo đói bệnh tật và bị bỏ rơi là chúng ta đã phục vụ chính Chúa Giê-su đang hiện thân nơi họ như Người đã nói: "Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy" (Mt 25,40).

Tóm lại: Thiên Chúa muốn ở cùng con cái loài người chúng ta mọi ngày cho đến tận thế qua Đấng Em-ma-nu-en là Chúa Giê-su. Tuy nhiên hiện nay nhiều người vẫn đang từ chối đón nhận Người như Tin Mừng Gio-an đã viết: "Người ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng lại không nhận biết Người. Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận" (Ga 1,10-11). Vậy trong những ngày này chúng ta sẽ làm gi để gặp gỡ tâm sự với Chúa, lắng nghe Lời Chúa và phục vụ Người nơi những người nghèo khổ bệnh tật và bị bỏ rơi?

4. THẢO LUẬN:

1) Trong những ngày Mùa Vọng này, bạn quyết tâm làm gì để trở thành một người công bình ngay chính noi gương thánh cả Giu-se ?

2) Bạn sẽ làm gì cụ thể để noi gương Trinh Nữ Ma-ri-a toàn tâm toàn ý phụng sự Tin Mừng Nước Thiên Chúa ?

5. NGUYỆN CẦU:

- LẠY CHÚA GIÊ-SU. Xin cho chúng con biết hy sinh quên mình để lo công việc của Chúa như thánh Giu-se hôm nay. Xin cho chúng con luôn sẵn sàng làm theo ý Chúa như ngài. Ước gì mỗi ngày con tập bỏ đi một sở thích không cần thiết, bỏ qua một lời nói đụng chạm đến tha nhân. Ước gì chúng con nhìn thấy Chúa đang ở trong những người đau khổ nghèo hèn chung quanh để ân cần an ủi phục vụ họ, hầu sau này chúng con đáng được Chúa đón về quê trời hưởng hạnh phúc muôn đời như thánh Giu-se khi xưa.

- LẠY CHÚA. Xin cho chúng con luôn sẵn sàng tận hiến cuộc đời để phục vụ Thiên Chúa và tha nhân noi gương đức đồng trinh trong tâm hồn của Trinh Nữ Ma-ri-a. Trong những giờ phút đen tối của cuộc đời, khi bị người thân hiểu lầm, bị người chung quanh nói xấu và xa lánh mà không thể tự giải oan, xin giúp chúng con biết bình tĩnh cậy trông và phó thác mọi sự trong tay Chúa quan phòng noi gương Mẹ khi xưa. Chúng con tin rằng Chúa sẽ kịp thời giải oan và còn "biến sự dữ ra sự lành" để giúp chúng con được hưởng ơn cứu độ của Chúa.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A. - Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

LM ĐAN VINH -  HHTM

"GIUSE, CON VUA ĐAVIT"
Mt 1, 18 - 24
Lm Nguyễn Hùng

Theo C.G.Jung, một nhà tâm lý nổi tiếng của Tây phương, giấc mơ bày tỏ chiều kích vô thức của tâm trí con người, hướng về biến cố tương lai, và bộc lộ lãnh vực bị quên lãng nơi cá tính đương sự. Giấc ngủ là nhu cầu của thân xác hơn là của linh hồn. Do đó có thể nói rằng khi ngủ linh hồn vẫn tiếp tục sinh hoạt qua tiềm thúc, tức là giấc mơ. Tuy nhiên vì linh hồn không được nối kết chặt chẽ với thế giới linh thiêng, giấc mơ chỉ là sự ráp nối hỗn tạp những gì hình ảnh tồn đọng trong trí nhớ, hầu hết không có ý nghĩa gì.

Trong Thánh Kinh, giấc mơ đóng vai trò khá quan trọng. Tổ phụ Giuse đã bị anh em chế nhạo là "kẻ mơ màng" vì ông đã kể ra mình nằm mơ thấy bó lúa của các anh em cúi xuống thần phục bó lúa của mình; và trong một giấc mơ khác ông thấy mặt trời, mặt trăng, và 11 ngôi sao cúi mình trước mặt ông (Gn 37:5-9). Đây là điềm báo trước ông sẽ lên chức tể tướng của nước Ai cập. Ở đây giấc mơ làmạc khải bí nhiệm của Thiên Chúa về tương lai của đương sự. Thiên Chúa hé mở một phần chương trình của Ngài cho con người biết. Tổ phụ Giuse là người được Thiên Chúa tuyển chọn để cứu nước Ai cập và gia đình khỏi nạn đói. Ông là người công chính, biết kính sợ Chúa, nên tâm hồn nhạy cảm dễ đón nhận mạc khải của Thiên Chúa.

Vào Chúa nhật 4 mùa Vọng, Giáo hội muốn giới thiệu một nhân vật có vai trò quan trọng trong mầu nhiệm Thiên Chúa Giáng sinh; đó là thánh Giuse. Ngài được Phúc âm giới thiệu là người công chính, người sống gần Thiên Chúa. Thánh Giuse đã đính hôn Đức Mẹ, nhưng không hề biết Mẹ thụ thai bởi Chúa Thánh Thần. Nên khi thấy có dấu hiệu khác thường nơi Đức Mẹ, thánh Giuse bị bối rối không biết làm sao, nên định âm thầm rút lui có trật tự. Thiên Chúa đã dùng giấc mơ để mạc khải cho thánh Giuse vai trò của thánh nhân trong chương trình cứu chuộc nhân loại. Khi hiện ra trong giấc mơ, thiên thần đã gọi: "Hỡi Giuse, con vua Đavít". Tuy thánh Giuse chỉ là cha nuôi, nhưng theo truyền thống của Do thái, người cha xác định dòng dõi của con cái. Chúa Kitô được tiên báo sinh ra trong dòng dõi vua Đavít. Ngài là Vua theo dòng dõi vương giả chính tông của Do thái. Sứ mệnh cứu thế của Ngài gắn liền với uy quyền của một Vị vua trên hết các vua.

Thánh Giuse là nhân vật quan trọng trong biến cố Chúa Giáng sinh, nhưng Phúc âm không ghi lại lời nói nào của Ngài. Thánh Giuse tỏ ra là người quản gia trung tín săn sóc hai kho tàng quí giá nhất trần gian đó là Chúa Giêsu hài nhi và Mẹ Maria. Tinh thần âm thầm phục vụ như người tôi tớ của Thiên Chúa là tiếng nói sâu xa mà thánh Giuse để lại cho nhân loại.

Trong mùa Vọng, Giáo hội kêu gọi các tín hữu chuẩn bị tâm hồn đón mừng Chúa đến với tâm tình chờ đợi như người đầy tớ gọi chủ đến bất ngờ, như những trinh nữ khôn ngoan đi đón chàng rể. Thánh Giuse chính là gương mẩu để chúng ta học hỏi. Chúng ta hãy mặc lấy tâm tình khiêm tốn, âm thầm, tận tụy, và nhất là sống liên kết với Thiên Chúa qua lời cầu nguyện. Bầu khí ồn ào của những ngày lễ Giáng sinh khiến chúng ta xa rời ý nghĩa chân thực của Ngày Lễ. Chúng ta vui mừng nhưng không phải bằng cách say sưa, chè chén, nhậu nhoẹt linh đình. Chúng ta vui mừng bằng sự chia sẻ của ăn, áo mặc, với những người nghèo khổ; bằng những nụ cười với người không quen biết, không ưa thích; bằng lời nói tốt cho người súc phạm đến mình; bằng lòng rộng rãi bao dung với con cái; bằng những lời nói, cử chỉ yêu thương, biết ơn đối với cha mẹ; và hơn hết bằng lời cầu nguyện cho thế giới được hòa bình, cho những tấm lòng hận thù bị tan biến, thay vào đó là những trái tim đầy ắp tình người.

CHÚA NHẬT 4 MÙA VỌNG
Mt 1, 18 - 24
Lm Jos Vũ Mộng Thơ

Với bài Tin Mừng hôm nay cũng như bài đọc I, sách Tiên tri Isaia, Giáo Hội muốn chứng minh cho ta một điều: Chúa Cứu Thế sinh bởi một Trinh Nữ.
Ai trong chúng ta cũng biết từ khuya điều đó, nhất là đối với người tín hữu Công Giáo Việt Nam, chúng ta coi như là một điều hầu như hiển nhiên hay ít là không có gì "trục trặc" và bận tâm với niềm tin sẵn có nơi Chúa Toàn Năng ("điều gì mà Thiên Chúa cả làm được") và nhất là đối với Mẹ Maria "trọn đời đồng trinh". Nhưng thực ra với người Âu Tây vấn đề này (cũng như thiên chức của Đức Trinh Nữ Maria) đã và vẫn còn là nguồn tranh luận sôi nổi không ngừng nơi các nhà thần học và triết gia hiện tại cũng như một số giáo dân với khuynh hướng "cấp tiến"... Rồi từ đó kéo theo luôn vấn đề phụng vụ và các nghi lễ liên hệ trong việc sùng kính Đức Trinh Nữ Maria rất khác nhau ngay trong chính một địa phận Công Giáo Âu Châu. Đấy là chúng ta chưa dám bàn luận đến vấn đề tín lý giữa Giáo Hội Công Giáo và Giáo Hội Tin Lành về sứ mạng "đồng công cứu chuộc" của Đức Trinh Nữ Maria.

Cho nên người giáo dân Việt Nam thường nói với tôi: "Bên Tây Phương này lòng sùng kính Đức Mẹ không như xứ mình... có người giáo dân Tây còn cho rằng việc lần hạt là cách đọc kinh của mấy cụ già..."

Điều này không lạ. Tuy nhiên ở đây chúng ta không bàn về vấn đề mục vụ Tây phương khác với Ta thế nào nhưng là bài suy niệm về mầu nhiệm cứu chuộc.

Chúng ta có 3 bằng chứng xác định rõ về sự trinh tiết của Mẹ Maria:

1. Sách Isaia 7,14: "Chúa sẽ cho các ngươi một dấu lạ, này đây một trinh nữ sẽ thụ thai, hạ sinh một con trai, và tên con trẻ gọi là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta". Điều này cũng có nghĩa là từ xưa đến nay chưa bao giờ xẩy ra điều đó, chỉ có một mình Thiên Chúa Toàn Năng đã sáng tạo nên vũ trụ mới có thể làm được, mà điều Ngài thực hiện với chỉ một mục đích là ban tặng cho nhân gian từ khi biến cố Adong và Evà.

2. Phúc Âm Mt 1,21 lập lại và xác định rõ ràng lời tiên tri trên đây qua miệng thiên thần Chúa nói với thánh Giuse trong giấc mộng: "Này đây một trinh nữ sẽ mang thai và hạ sinh một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta..." Đoạn đầu bài Phúc âm còn xác định thật rõ: "Maria đính hôn với Giuse, trước khi về chung sống với nhau, đã thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần..."

Không còn nghi ngờ gì nữa vì có lời tiên báo từ ngàn xưa, vì có bằng chứng chính xác về sự kiện trên đây trong chính thời của Đức Mẹ và các thánh tông đồ, Giáo Hội đã xác quyết và tuyên xưng đức tin của mình mỗi Chúa nhật trong kinh Tin Kính (Credo) tín điều nhập thể của Chúa Cứu Thế.

3. Kinh Tin Kính: "Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, Người đã nhập thể trong lòng Trinh Nữ Maria và đã làm người..."

Nhưng điểm quan trọng hơn cả ở đây mà Giáo Hội muốn tuyên xưng và xác quyết là "Bởi phép Đức Chúa Thánh thần" tức là bởi quyền năng của Ngài, chính Chúa Thánh Thần đã và còn đang thực hiện muôn ngàn việc lạ lùng mà trí khôn ta cũng như khoa học hiện nay dù có tân tiến đến đâu cũng không bao giờ suy cho thấu. Xác quyết và tuyên xưng rằng Đức Mẹ đồng trinh trọn đời là tuyên xưng Thiên Chúa toàn năng. Ngài đã chọn một thiếu nữ dù bình thường như chúng ta lên thiên chức Nữ Vương Mẹ Thiên Chúa và Đồng công cứu chuộc với Con Ngài.

Hôm nay là Chúa nhật cuối cùng của Mùa Vọng và ít ngày nữa chúng ta sẽ mừng Chúa ra đời trong đêm Giáng Sinh. Ngoài trời thông reo và gió tuyết cùng ngàn vạn vì sao lấp lánh hợp với muôn tiếng nhạc du dương của bản thánh ca Noel hiền hoa... ai ai chúng ta cũng rộn rã trong tim một niềm vui thánh miên man đầm ấm khó tả. Hồn chúng ta bỗng chùng hẳn lại... bâng khuâng nhớ về những mùa Giáng Sinh thật đẹp năm xưa tại quê nhà dù không có tuyết rơi gió lạnh nhưng với ngàn vạn kỷ niệm yêu dấu không bao giờ quên.

Mẹ Maria và thánh Giuse năm xưa cũng xa quê nhà như chúng ta: thiếu thốn mọi sự ngay cả nơi trú thân. Cùng quỳ gối và suy niệm trước Chúa Hài Đồng trong máng cỏ, Mẹ Maria và các thiên thần sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn trong đức tin về mầu nhiệm giáng trần của Con Một Thiên Chúa sinh bởi một trinh nữ là Mẹ Thiên Chúa và là mẹ chúng sinh.

RƯỚC ĐỨC MARIA VỀ NHÀ
Mt 1, 18 - 24
Lm Phạm Quốc Hưng, CSsR

 "Tỉnh giấc, Giuse đã làm như thiên thần Chúa truyền cho ông, và ông đã rước vợ về nhà."
Hôm nay là Chúa Nhật cuối cùng trong mùa Vọng trước khi chúng ta long trọng đón mừng lễ Chúa Giáng Sinh. Lần lượt trong ba tuần vừa qua, Giáo hội mời gọi chúng ta phải tỉnh thức sẵn sàng, phải ăn năn hối cải và phải nhìn nhận Chúa Giêsu là Đấng Thiên Sai, Đấng duy nhất đem lại ơn cứu độ mà nhân loại hằng mong đợi. Trong Tin mừng hôm nay, Giáo hội đặt trước mắt chúng ta gương mẫu tuyệt vời của một con người đã biết sẵn sàng đón nhận Chúa Cứu thế vào cuộc đời mình. Đó là thánh Giuse - cha nuôi Chúa Giêsu và phu quân Đức Maria.

Chúng ta biết thánh Giuse không phải là người đầu tiên nhận biết việc nhập thể của Chúa Giêsu và đón tiếp Người vào đời. Người đầu tiên được diễm phúc độc nhất vô nhị ấy chính là Mẹ Maria, khi Mẹ nói tiếng "Xin vâng" để đáp lời truyền tin của Tổng lãnh Thiên thần Gabriel và trở nên Mẹ, Chúa Cứu Thế, như đã được thánh Luca thuật lại (Lc 1:26-38). Việc Mẹ Maria thụ thai Chúa Giêsu cách nhiệm lạ cũng đã được ngôn sứ Isaia báo trước, như chúng ta được nghe trong bài đọc Cựu Ước và bài Phúc âm của phụng vụ hôm nay. "Này, nữ trinh sẽ thụ thai và sinh con và người ta sẽ gọi tên ngài là Emmanuel, dịch được là Thiên Chúa ở cùng chúng tôi" (Is 7:14 & Mt 1:23)

Là người đầu tiên đón nhận Tin mừng Chúa nhập thể và cũng là người cưu mang Chúa Cứu Thế, Đức Mẹ đồng thời đã trở thành người chứa đựng chính nguồn ơn cứu độ, nguồn hy vọng cho toàn thể nhân loại qua mọi thời đại. Chúa Giêsu còn được gọi là Emmanuel - Thiên Chúa ở cùng chúng tôi. Và người được Thiên Chúa ở cùng trước tiên và trên hết chính là Mẹ Maria. Chỉ qua Mẹ Maria và nhờ Mẹ Maria, nhân loại mới được đón nhận Chúa Cứu Thế.

Đây chính là thánh ý Chúa để thực hiện chương trình cứu độ Người dành cho nhân loại từ đời đời.

Và thánh Giuse đã là người được Thiên Chúa ưu ái tuyển chọn làm bạn trăm năm của Đức Maria và được Chúa mạc khải cho biết thánh ý nhiệm lạ này, như Chúa đã chọn Đức Maria để mạc khải cho biết việc nhập thể của Chúa Giêsu.

Thánh Giuse đã chú tâm lắng nghe và mau mắn thực hiện thánh ý Chúa qua lời thiên sứ nói ngài với một lòng tin yêu vâng phục tuyệt vời đối với Thiên Chúa, cũng hệt như thái độ "Xin vâng" của Mẹ Maria trong biến cố truyền tin.

Sự việc này đã được thánh Matthêô thuật lại trong Tin mừng hôm nay: "Tỉnh giấc, Giuse đã làm như thiên thần Chúa truyền cho ông, và ông đã rước vợ về nhà." (Mt 1:24)

Những lời này cho thấy là liền sau Mẹ Maria, thánh Giuse đã xứng đáng được gọi là người môn đệ tuyệt hảo nhất của Chúa Giêsu. Vì cũng như Mẹ Maria, ngài là người đã mau mắn lắng nghe và thực thi Lời Chúa trong mọi việc. Đồng thời, cũng như người môn đệ Chúa yêu sau này sẽ vui nhận Đức Maria làm Mẹ và hân hoan đưa Mẹ về nhà mình sau khi nghe lời trối của Chúa Giêsu lúc Người hấp hối trên thánh giá (Ga 19:27), Thánh Giuse ở đây - ngay khi Chúa Giêsu còn ngự ttong lòng đồng trinh của Mẹ Maria - đã vui nhận Đức Maria làm Bạn Trăm Năm và đưa Người về nhà sau khi được thiên thần phán bảo trong giấc mơ (Mt 1:24).

Như thế, nơi thánh Giuse cũng như nơi người môn đệ Chúa yêu - biểu tượng của tất cả những môn đệ đích thực của Chúa Kitô qua mọi thời đại - việc nhìn nhận Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế bao gồm việc đón nhận và tích cực thực thi thánh ý và chương trình yêu thương của Thiên Chúa được bày tỏ cho mình. Thánh ý ấy bao gồm việc bước vào liên hệ yêu thương thân mật với Đức Maria-Mẹ Chúa Giêsu-và đưa Người về nhà mình, nghĩa là đưa Mẹ Maria vào trong mọi chiều kích của cuộc sống của mình.

Vì Mẹ Maria là Người đẹp lòng Chúa hơn tất cả mọi tạo vật và đã được diễm phúc cưu mang và sinh hạ chính Ngôi Lời của Chúa, Mẹ sẽ giúp tất cả chúng ta biết cách sống đẹp lòng Chúa, biết cách đón nhận Chúa vào tâm hồn mình, nhất là biết lắng nghe và thực thi Lời Chúa, nếu chúng ta biết noi gương thánh Giuse trong Tin Mừng hôm nay tiếp nhận Mẹ về nhà mình.

Thánh Louis Maria Montfort và nhiều vị đại thánh khác trong Giáo hội cho rằng sở dĩ ngày nay nhiều người chưa nhận biết và yêu mến Chúa cách xứng hợp là vì họ chưa nhận biết và yêu mến Mẹ Maria đúng như ý Chúa muốn. Như Chúa đã dùng Mẹ Maria để đến với chúng ta, Người cũng muốn chúng ta nhờ Mẹ Maria để đến với Người.

Vì vậy, để dọn mình cách tốt đẹp nhất mừng đại lễ Chúa Giáng Sinh cũng như để sống trọn vẹn ơn gọi Kitô hữu của mình, chúng ta hãy noi gương thánh Giuse mau mắn từ bỏ mọi bối rối nghi nan về sự cần thiết phải đón nhận Mẹ Maria vào cuộc sống tâm linh của mình. Rồi cùng với thánh Giuse, chúng ta hãy nỗ lực tích cực thực hiện thánh ý và chương trình tình yêu Chúa dành cho chúng ta từ đời đời bằng cách bước vào liên hệ yêu thương mật thiết với Mẹ Maria để nhờ Mẹ, với Mẹ, trong Mẹ và vì Mẹ, chúng ta sẽ đón nhận và yêu mến Chúa Giêsu.

Lạy Mẹ Maria, nay đã gần đến đại lễ Chúa Giáng Sinh. Chúng con khao khát được Chúa Giêsu ngự vào tâm hồn chúng con như xưa Chúa đã ngự vào lòng Mẹ và ngự nơi máng cỏ Bêlem. Nhưng như Mẹ biết đó, tâm hồn chúng con thật nhơ nhớp vì biết bao tội lỗi và chật hẹp vì còn chứa đựng bao sự phù vân. Chúng con không thể tự mình dọn cho Chúa một chỗ xứng đáng trong tâm hồn chúng con. Vì vậy, chúng con xin noi gương thánh Giuse rước Mẹ vào nhà linh hồn chúng con, để chính Mẹ sẽ giúp biến đổi tâm hồn chúng con nên giống tâm hồn Mẹ. Nhờ vậy, Chúa Giêsu sẽ sung sướng ngự vào lòng chúng con như Người đã sung sướng ngự vào lòng Mẹ năm xưa. Vậy giờ đây, xin Mẹ hãy đến và ở cùng chúng con trong mọi nơi mọi lúc của cuộc đời chúng con. Amen.

CHÚA NHẬT 4 MÙA VỌNG
Mt 1, 18 - 24
John Nguyễn

1. Giu-se là người công chính
Giu-se và Ma-ri-a đã đính hôn với nhau, dự tính sẽ tiến tới một cuộc hôn nhân để có thể sống bên nhau trọn đời. Chắc chắn hai người rất thương yêu nhau. Mọi sự đang diễn biến tốt đẹp thì Giu-se bỗng thấy Ma-ri-a có thai mà không phải do mình. Ta thử đặt mình trong hoàn cảnh của Giu-se để cảm thông nỗi thắc mắc và buồn khổ vô hạn của Giu-se. Trước tình huống này, là con người, chắc chắn Giu-se phải có lúc nghĩ rằng mình đã bị người yêu phản bội. Càng yêu Ma-ri-a, ông càng cảm thấy bị xúc phạm, ghen tức và đau khổ. Những chàng trai khác mà gặp hoàn cảnh này có thể sẽ phản ứng bằng cách trả thù và rửa nhục. Cách trả thù hợp pháp nhất là đi tố cáo, vì sách Đệ nhị luật đã qui định: «Khi một cô gái còn trinh đã đính hôn với một người đàn ông, mà một người đàn ông khác gặp cô và nằm với cô, thì cả hai phải bị lôi ra cửa thành để chịu ném đá, và chúng sẽ phải chết» (Đnl 22,23-24).

Nhưng cách hành xử của Giu-se là «định tâm bỏ bà cách kín đáo». Chàng không muốn để người yêu của mình phải đau khổ và chết trong nhục nhã. Cho dù không được sống gần người mình yêu, cho dù nàng có phản bội mình và thuộc về người khác, Giu-se vẫn luôn mong cho người mình yêu được hạnh phúc. Đó mới là tình yêu đích thực. Vì thật ra, có hai thứ tình yêu:

· Tình yêu vị kỷ: tức yêu người khác vì hạnh phúc của chính mình. Do đó, luôn luôn coi hạnh phúc của mình quan trọng hơn hạnh phúc của người mình yêu. Đây chỉ là một tình yêu giả hiệu, vì xét cho cùng thì hóa ra mình đã yêu chính mình qua người kia, chứ không phải là yêu người ấy thật sự. Người kia chỉ là một phương tiện đem hạnh phúc đến cho mình. Giu-se đã không yêu Ma-ri-a bằng thứ tình yêu này. Người Ki-tô hữu cũng không nên yêu bằng thứ tình yêu vị kỷ này.

· Tình yêu vị tha hay tình yêu dâng hiến: yêu người khác vì chính người mình yêu, coi hạnh phúc của người yêu quan trọng hơn hạnh phúc của mình, nên sẵn sàng chấp nhận đau khổ hoặc hy sinh hạnh phúc của mình cho người mình yêu. Đây mới là tình yêu đích thực mà Giu-se đã dành cho Ma-ri-a. Đúng ra, mọi cặp vợ chồng Ki-tô hữu đều phải yêu thương nhau bằng thứ tình yêu này thì họ mới đúng là Ki-tô hữu đích thực, nhờ đó gia đình họ sẽ luôn luôn hạnh phúc.

Thế rồi Giu-se nằm mơ thấy sứ thần cho biết sự thật về Ma-ri-a, và sứ thần khuyên ông: «đừng ngại đón bà Ma-ri-a vợ ông về». Chỉ có lòng khoan dung và tình yêu mạnh mẽ chân thật đối với Ma-ri-a, cộng với tinh thần nhạy cảm với thánh ý Thiên Chúa, Giu-se mới có thể làm theo lời sứ thần bảo trong giấc mơ. Vì bình thường những người có đầu óc thực tế mấy ai lại tin vào giấc mơ. Do đó, ta thấy có một sự dằng co mãnh liệt trong tâm hồn Giu-se. Và để đưa Ma-ri-a về nhà mình, ông đã phải thắng được tính tự ái cá nhân, đã can đảm bất chấp dư luận bất lợi của những người ngoài cuộc, và chấp nhận sự nhục nhã có thể xảy ra (khi nhận ra giấc mơ chỉ là ảo ảnh). Tin Mừng còn cho biết: sau đó, «ông không ăn ở với bà, cho đến khi bà sinh một con trai»; điều đó nói lên khả năng tự chủ, bản lĩnh và sức mạnh tinh thần cao độ của Giu-se.

Như vậy, cách hành xử của Giu-se trong bài Tin Mừng cho thấy ông là người có tình yêu chân thực, khoan dung, nhân hậu, kín đáo, tự chủ, có bản lĩnh, có lập trường vững chắc, nhẫn nhục và rất nhạy cảm với thánh ý Thiên Chúa. Những đức tính ấy chứng tỏ ông đúng là một người công chính, xứng đáng là cha nuôi Đức Giê-su, là bạn trăm năm của Đức Maria, và là mẫu gương thánh thiện rất thực tế cho chúng ta.

2. Đức Giê-su sinh ra bởi mẹ đồng trinh

Chủ ý của bài Tin Mừng hôm nay không nhắm vào sự công chính của Giu-se cho bằng sự thụ thai kỳ diệu của Đức Giê-su nơi cung lòng đồng trinh của Ma-ri-a do quyền năng Thánh Thần. Thông thường, nói tới sự đồng trinh của Đức Ma-ri-a, người ta thường nghĩ tới sự đồng trinh thể chất, ít ai nghĩ tới sự đồng trinh về mặt tinh thần của Ngài. Cả hai mặt của sự đồng trinh ấy đều quan trọng và cần thiết. Nhưng nếu chỉ đồng trinh về mặt thể chất mà không có mặt tinh thần thì đồng trinh ấy chẳng còn ý nghĩa! Sự đồng trinh về tinh thần nơi Đức Ma-ri-a quan trọng hơn rất nhiều.

Trước mặt Thiên Chúa, đồng trinh về mặt tinh thần có nghĩa là có tâm hồn trọn vẹn hướng về Ngài, hoàn toàn dâng hiến bản thân cho Ngài để hoàn toàn thuộc về Ngài, không còn thuộc về chính mình nữa. Trong chiều hướng đó, Đức Ma-ri-a đã sống tinh thần «tự hủy», để hoàn toàn sống cho Thiên Chúa và tha nhân. Biểu hiện quan trọng và rõ rệt nhất là không còn coi ý riêng của mình là quan trọng, thậm chí không còn ý riêng nữa, để chỉ biết có thánh ý Thiên Chúa mà thôi. Vì thế, Đức Ma-ri-a cũng có thể nói như Đức Giê-su: «Tôi không tìm cách làm theo ý riêng tôi, nhưng theo ý Đấng đã sai tôi» (Ga 5,30; x. 6,38), hay như thánh Phao-lô: «Tôi sống nhưng không phải tôi sống, mà là Thiên Chúa sống trong tôi» (Gl 2,20). Trọn cuộc đời của Ngài đã chứng tỏ sự đồng trinh tinh thần ấy, được biểu hiện qua mọi hành vi của Ngài, cụ thể nhất qua hai chữ «Xin vâng» khi sứ thần truyền tin cho Ngài.

Mọi người Ki-tô hữu, kể cả người sống bậc vợ chồng, nhất là những kẻ quyết tâm theo Chúa, quyết tâm nên thánh, đều có thể và cần phải sống «đồng trinh» hiểu theo nghĩa tinh thần, nghĩa là sống trọn vẹn cho Thiên Chúa và thuộc về Thiên Chúa. Trước mặt Thiên Chúa, một người đồng trinh về mặt thể chất, nhưng lại không đồng trinh về mặt tinh thần, chắc chắn không có giá trị bằng những người tuy không đồng trinh về mặt thể chất, nhưng lại đồng trinh về mặt tinh thần. Vì đồng trinh thể chất chỉ là phương tiện đồng thời là một dấu chỉ hay hình thức cụ thể nhất của sự đồng trinh tinh thần vốn phải là bản chất và nội dung của đồng trinh thể chất. Quá nhấn mạnh và đề cao sự đồng trinh thể chất mà quên lãng hay không đề cao sự đồng trinh tinh thần là một thứ tu đức què quặt và bị lạc hướng. Sự đồng trinh tinh thần bao giờ cũng có giá trị hơn rất nhiều, cho dù đồng trinh thể chất vẫn có giá trị riêng của nó.

3. Đức Giê-su, Con Thiên Chúa, cũng làm người giống y như ta

Qua bài Tin Mừng, ta thấy: để là một con người, Đức Giê-su đã sống trong một gia đình, có cha có mẹ, trong một xã hội có vua có quan, có phép có tắc, trong một tôn giáo có phẩm có trật, là luật có lệ, y trang như mọi người. Ngài đã hoàn toàn «trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế» (Pl 2,7), cũng «sinh làm con của một người đàn bà, và sống dưới Lề Luật» (Gl 4,4) như chúng ta, cũng «phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục» (Dt 5,8-9). Vì thế, Ngài «không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội» (Dt 4,15-16). Chắc chắn Ngài có thể nói như một triết gia nào đó: «Không có gì thuộc về con người mà xa lạ đối với tôi».

Ngài cũng từng kinh nghiệm những yếu đuối của con người khi bị ma quỉ cám dỗ (x. Mt 4,1-11). Vì thế, khi tôi yếu đuối, sa ngã, tội lỗi, tôi cảm thấy Ngài có thể thông cảm với tôi một cách sâu xa, và tôi biết Ngài sẵn sàng tha thứ chính vì Ngài đã từng cảm nhận được sự yếu đuối của con người như tôi.

Những điều của con người mà Ngài cảm nghiệm được nhiều nhất chính là đau khổ và sự chết. Dường như mọi hình thức quan trọng của đau khổ Ngài đều đã cảm nghiệm: phản bội, oan ức, bị đàn áp, bóc lột, mất mát, roi vọt, nhục nhã... Điều này làm tôi cảm thấy rất được an ủi khi gặp đau khổ. Tôi nhận ra Ngài đã dùng đau khổ của chính mình để xoa dịu những đau khổ của tôi. Ngài đã dùng thương tích của chính Ngài để chữa lành những vết thương của tôi (x. l Pr 2,24b). Nghĩ như thế, tôi không cảm thấy cô đơn trong đau khổ, vì tôi cảm thấy như Ngài đang cùng đau khổ với tôi, để biến những đau khổ của tôi thành một giá trị cao cả.

Cầu nguyện
Lạy Cha, xin cho con học được tình yêu chân thật, vị tha nơi Đức Giê-su, Đức Ma-ri-a và thánh Giu-se. Cho con biết yêu Cha vì Cha, yêu mọi người vì mọi người. Như vậy để yêu chân thực, con phải có tinh thần tự hủy, quên mình. Xin cho con thực hiện được thứ tình yêu chân thực ấy trong đời sống thường ngày của con. Amen.

ĐỪNG SỢ
Mt 1, 18 - 24
Lm JB. Nguyễn Minh Hùng

Lần giở lại những trang Tin Mừng, bạn và tôi sẽ bắt gặp ở đó đến bốn cuộc truyền tin của Thiên Chúa nói với loài người, liên quan đến mầu nhiệm Con Chúa giáng sinh. Ba cuộc truyền tin được ghi trong Tin mừng theo thánh Luca và một trong Tin mừng theo thánh Mathêu. Cả bốn cuộc truyền tin đều do thiên thần mang sứ điệp của Thiên Chúa đến cho con người. Quan trọng hơn, cả bốn cuộc truyền tin, thiên thần đều có chung một lời trấn an: "Đừng sợ!"

Đối với ông Giacaria: "Giacaria, đừng sợ! Vì lời cầu của ngươi đã được chấp nhận". Sau đó, thiên thần cho biết ông sẽ có một con trai như lòng mong ước. Người con này sẽ nên cao trọng vì "nó sẽ làm lớn trước mặt Chúa" (Lc 1, 5- 20).

Đối với Đức Maria: "Maria, đừng sợ! Vì Người đã đắc sủng nơi Thiên Chúa". Qua lời thiên thần, Thiên Chúa mời gọi Mẹ làm mẹ Đấng Cứu Thế (Lc 1, 26- 38).

Đối với các mục đồng: "Đừng sợ! Ta báo cho các ngươi một tin mừng trọng đại". Qua lời thiên thần, các mục đồng là những người được Thiên Chúa báo tin mừng giáng sinh trước tiên (Lc 2, 8- 15).

Đối với thánh Giuse: "Giuse, đừng sợ! Vì thai nơi bà là do Chúa Thánh Thần" (Mt 1, 18- 24).

Hôm nay Chúa nhật áp lễ Giáng sinh, Giáo Hội muốn ta suy niệm cuộc truyền tin cho thánh Giuse. Để rút ra cho mình bài học Thánh Kinh từ câu chuyện truyền tin này, tôi lại rút ra bài học từ lời của thiên thần: "Đừng sợ".

Lần giở tiếp những trang Tin Mừng, ta sẽ phát hiện rất nhiều lần Chúa bảo các môn đệ "đừng sợ". Khi căn dặn các ông làm chứng cho Người, Chúa nói: "Các con đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn" (Mt 10, 28). Trong bữa tiệc ly, ngay trước giờ tử nạn của mình, Chúa căn dặn: "Lòng các con đừng xao xuyến và đừng sợ hãi" (Ga 14, 27). Sau khi sống lại, ban bình an hoặc trấn an môn đệ "Đừng sợ! Hãy đi báo tin cho anh em của Thầy" ( Mt 28, 10).

"Đừng sợ"! Lời Chúa ngày xưa nói với Giacaria, Đức maria, các mục đồng, thánh Giuse, và các môn đệ. Ngày nay lời này của Thiên Chúa cũng đang là lời nhắn gởi bạn và tôi. Bạn có sợ không? Riêng tôi, tôi thấy bạn và tôi sống trong cuộc đời này mà như chìm trong nỗi sợ. Tôi không bi quan đâu, sự thật đấy. Ngày nhỏ chúng ta sợ ma, sợ đòn. Lớn hơn một chút: sợ học tập thua sút bạn bè. Lớn hơn một chút nữa: sợ người yêu bội phản. Ngày ta lập gia đình, cũng là ngày ta sợ mình không tròn trách nhiệm của một người sống đời gia đình. Và cả cuộc đời ta, nỗi sợ lớn nhất, có lẽ là sợ chết.

"Đừng sợ, hãy mở rộng cửa đón Chúa Kitô". Nếu tôi nhớ không lầm, thì ngay sau khi làm giáo hoàng, đức Gioan Phaolô II đã mở đầu triều đại của mìn bằng một sứ điệp với những lời lẽ như thế. Trải dài trên 20 năm làm giáo hoàng của mình, Đức thánh cha không ngừng nhắc đi nhắc lại với thế giới: "Đừng sợ!". Xoay quanh hai tiếng "đừng sợ", Đức thánh cha mở ra cho ta thấy có những cái sợ rất nghịch lý. Lẽ ra ta không được sợ, lẽ ra ta phải xây dựng nó, thì ta lại sợ. Bằng chứng là hai sứ điệp ngày Quốc tế Giới trẻ lần thứ 15 và lần thứ 16, Đức thánh cha nhắc tới nỗi sợ nghịch lý này: "Các con đừng sợ trở nên những vị thánh của thiên niên kỷ mới" (ngày QTGT lần thứ 15, số 3), và các con đừng sợ đi trên con đường Chúa đã đi" (ngày QTGT lần thứ 16, số 6). Nên thánh mà sợ? Đi con đường của Chúa mà sợ? Đúng lắm! Vì đi trên con đường của Chúa để được nên thánh là khổ nạn, là từ bỏ bản thân, là sống các giá trị Tin Mừng như nghèo khó, khiêm nhu, hiền từ, vâng lời... Suy nghĩ như thế, cho tôi cảm nhận trọn vẹn lời của Đức thánh cha: "Các con đừng sợ nen thánh, đừng sợ đi trên con đường của Chúa". Đức thánh cha chắc phải có một cảm nghiệm thiêng liêng sâu đậm lắm, người mới vượt lên trên sự sợ hãi, tông du khắp thế giới làm cho nhiều tâm hồn thay đổi, Lời Chúa được loan báo.

Nhưng chắc chắn, khi nói tới sợ hãi, thì cái sợ của chúng ta không chỉ là sợ ma, sợ học thua sút, sợ mất người yêu, sợ không tròn trách nhiệm gia đình... mà nỗi sợ còn lớn hơn nhiều. Đó là nỗi sợ trước một thế giới mà giá trị của Tin Mừng bị xem nhẹ. Một thế giới màvật chất đang lên ngôi, quyền lực đang thắng thế, tự do tình dục đang được ưa chuộng, quyền của trẻ thơ, của thai nhi bị tước mất. Có khi chính những người cha, người mẹ lại tước mất quyền sống của con mình. Một thế giới mà ngòi nổ của khủng bố, chiến tranh lúc nào cũng sẵn sàng. Sự bình an của tôi, của anh chị em, của cả nhân loại luôn bị đe dọa. Ngay trên quê hương của Chúa Giêsu, nơi mà ngày xưa Chúa sinh ra, lại không có được một thánh lễ trong đêm sinh nhật Chúa, vì người ta đang gieo rắc bạo lực và chiến tranh...

Trước viễn cảnh của thế giới như thế, người Kitô hữu lại được mời gọi hãy sống các giá trị của Tin Mừng. Nghĩa là phải ngay thẳng trong một thế giới nhiều gian dối, yêu thương trong những hận thù, có tinh thần nghèo khó trong một xã hội đề cao tiền của, sống tha thứ giữa những chống đối và bạo lực... Sống như thế chỉ toàn là thiệt thòi thôi. Bởi đó ai mà không sợ. Tôi cũng sợ lắm bạn ạ! Nhưng chính trong lúc này đây, chuẩn bị mừng lễ Giáng sinh, bạn và tôi được mời gọi "đừng sợ", để có thể sống trong bình an của ngày Giáng sinh. Để có bình an, bạn và tôi hãy đặt hết niềm tin vào Chúa. Tin rằng Chúa sẽ thực hiện chương trình của Người theo ý mà Người muốn. Và xin cho Thánh Ý được thể hiện nơi trần gian trong mọi hoàn cảnh của thế giới, của nhân loại, của Giáo Hội, và của mỗi người. Tin nơi Thiên Chúa là gói trọn cuộc đời mình trong tay Người, để mặc Ý Chúa được thể hiện, chắc chắn ta sẽ có bình an. Tôi xin mượn lời thiên thần lặp lại một lần nữa: "Bạn và tôi, đừng sợ!".

ĐỨC GIÊSU LÀ AI?
Mt 1, 18 - 24
Lm Augustine S.J.

Người phụ nữ Hoa Kỳ gốc Do thái Ross Price. Năm 1940, Ross Price mới 13 tuổi, đã bị lính Đức Quốc Xã bắt giam ở trại Đỗ Bình Cang (Robincaz) sau được chuyển về Darkham của Ba Lan. Năm 1945, khi quân đội đồng minh tới giải phóng Au Châu, cô Mai khi ấy lên 18 tuổi, may mắn được sống sót và được định cư tại Hoa Kỳ. Điều bà Ross Price không thể nào quên được là những năm kinh hoàng nơi trại tập trung Đức Quốc Xã.

Đêm Noen ấy, bà không thể tưởng được rằng chính những người lính Đức và quản giáo đã họp nhau mừng lễ Giáng sinh với những bài hát để tung hô vị Cứu Tinh mà người Do thái hằng mong đợi qua nhiều thế kỷ. Bà tự hỏi Vị Cứu Tin Thiên Chúa đã hứa cho dân tộc bà nay ở đâu? Sao Ngài không đến tiêu diệt bọn dã man ấy đi để chúng khỏi tiếp tục hành hạ dân tộc bà?

Xảy ra vào năm 1980 Ross Price được mời phát biểu tại một cuộc họp để lên án Đức Quốc Xã ở thành phố Bá Linh. Bà đã quỳ cầu nguyện lâu giờ trước khi nhận lời mời. Năm 1981, bà đã có mặt tại sân vận động Bá Linh của nước Đức. Trước mặt cử tọa gồm 40 ngàn người, Ross Price đã kể lại chuỗi ngày đen tối của bà nơi các trại tập trung. Để kết thúc, Ross Price đã trích lời ngôn sứ Isaia nói rằng: "Đẹp thay những bước chân người sứ giả đã loan báo Tin Mừng - Chính những nỗi khổ đau của chúng tôi Người đã gánh chịu và Người đã bị đâm thâu qua vì tội lỗi chúng tôi; Người đã hiến thân chịu chết và đã bầu cử cho những tội nhân" (Is 52,7).

Ross Price thuật lại rằng khi bà trở về chỗ ngồi, thì có một số người tiến lại bên cạnh bà. Họ van xin với một giọng rất cảm động khi nói: "Chúng tôi chính là những người canh tù tại các trại tập trung nơi bà bị nhốt. Vậy bà có sẵn sàng tha thứ cho chúng tôi không?" Ross Price đã trả lời giữa hai dòng lệ: "Nếu Thiên Chúa đã tha thứ cho tôi nhờ nỗi chết của Con Ngài, thì tại sao tôi lại không tha thứ cho các ông?" Một người đàn ông đã quỳ khóc dưới chân Ross Price. Từ đó Ross Price không còn nghi ngờ gì về Chúa Kitô nữa.

Người cứu dân Người khỏi tội khởi đi từ hoàn cảnh nào?
Câu chuyện kể trên cho thấy ý nghĩa của danh xưng Giêsu là Đấng Thiên Chúa cứu dân Ngài khỏi tội lỗi của họ (c.21). Toàn bộ Tin Mừng Matthêu (1,1-25) một đàng định vị Đức Giêsu vững vàng giữa dân Thiên Chúa; đàng khác nó còn cho thấy địa vị ngoại thường của Người vượt trên mọi nhân vật được đề cập trong bản gia phả của Matthêu (Mt 1,2-16). Ngay trong bản gia phả này điều nổi bật là sự có mặt của bốn phụ nữ (Tama, Rakháp, Urigia và Rút) mà hoàn cảnh làm mẹ chẳng được coi là thánh thiện theo luật Do thái giáo. Nhưng chính giữa hoàn cảnh đó, Đức Giêsu đã đến cứu dân Ngài khỏi tội lỗi của họ (c.21).

Nếu muốn thực tế, người Kitô hữu cũng phải khởi đi từ cái thế giới mình đang sống. Đó là một thế giới chẳng thánh thiện gì; ngược lại, còn có nhiều đổ vỡ cần được hàn gắn.

Quả thật, con người được dựng nên để tán dương tôn kính và phụng sự Thiên Chúa, nhờ đó hưởng được hạnh phúc vĩnh viễn ở bên Chúa. Nhưng cái thế giới ta đang sống không nghiêng theo chiều hướng tốt lành đó. Đúng là có khó khăn để con người trung thành với ơn tạo dựng là tán dương, tôn kính và phụng sự Thiên Chúa nơi bản thân, trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Không thiếu những tội ác xảy ra như cơm bữa. Tệ nạn xã hội, như ma túy chẳng hạn, đang đe dọa giới trẻ cách khủng khiếp. Trầm trọng hơn nữa là nội tâm con người như chính Đức Giêsu đã vạch ra khi nói: "Vì từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu: tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tị, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng. Tất cả các điều xấu xa đó, đều từ bên trong xuất ra, và làm cho con người ra ô uế" (Mc 7,21-23).

Vậy tội là gì?
Tội thường được quan niệm là hành vi lỗi luật Thiên Chúa. Đúng như vậy. Nhưng quan niệm đó có tính cá nhân và luật định, chưa nói hết được bản chất của tội.

Đúng hơn, nên hiểu tội là từ khước tình yêu, từ khước chính kế hoạch của Thiên Chúa. Thiên Chúa không chỉ là Đấng ban luật buộc ta phải giữ để được hạnh phúc. Đúng hơn, Thiên Chúa là Tình Yêu: Người luôn bao bọc và săn sóc ta. Chính Tình Yêu Thiên Chúa phải lôi kéo ta đến với Ngài hơn là luật đòi buộc ta.

Cần nhìn tội dưới cái nhìn của Phúc Âm cho thấy đó là sức phá hoại đã thấm nhuần vào thế giới ta đang sống, khiến con người bị lệch lạc ngay nơi tiềm thức của mình. Khi sức phá hoại của tội thấm sâu nơi lòng con người, nó phát sinh ra ác ý và hình thành nên những cơ cấu xã hội, chính trị, kinh tế, khiến xã hội cứ vậy đi xuống thay vì đi lên theo lý tưởng cao đẹp. Con người trở nên chai lì trong sự tự mãn, bất kể tới Thiên Chúa là Đấng sinh thành nên mình, và bất kể tới đồng loại lẽ ra phải được xử đối như anh chị em một nhà.

Vì phạm tội, con người tách rời mình khỏi Thiên Chúa là nguồn suối của tình yêu và mọi ơn lành. Đó là tình trạng cách ly từ tận gốc rễ do tội gây nên. Con người tự phá vỡ kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa, tự đặt mình làm mục đích cho đời mình, kể mình là trung tâm cho sự sống nơi mình và trung tâm cho mọi hành động của mình.

Nếu Đức Giêsu đến cứu dân Người khỏi tội, Người cho ta biết tội là gì dưới cái nhìn của Người. Tin Mừng Matthêu ghi lại lời Đức Giêsu quở trách giới lãnh đạo Do thái giáo, trong đó ta đọc được ý của Đức Giêsu về tội. Thành Giêrusalem là biểu tượng của những người có trách nhiệm lãnh đạo dân.

Tội dưới cái nhìn của Chúa Giêsu
Đức Giêsu nói: "Giêrusalem, Giêrusalem! Ngươi giết các ngôn sứ và ném đá những kẻ được sai đến cùng ngươi! Đã bao lần Ta muốn tập hợp con cái ngươi lại, như gà mẹ tập hợp gà con dưới cánh, mà các ngươi không chịu. Thì này, nhà các ngươi sẽ bị bỏ hoang mặc cho các ngươi. Thật vậy, ta nói cho các ngươi hay, từ nay các ngươi sẽ không còn thấy Ta nữa, cho đến khi các ngươi nói: "Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa!" Khi Đức Giêsu từ trong Đền Thờ đi ra, thì các môn đệ của Người lại gần chỉ cho Người xem công trình Đền Thờ. Nhưng Người nói: "Anh em nhìn thấy tất cả những cái đó, phải không? Thầy bảo thật anh em: Tại đây sẽ không còn tảng đá nào trên tảng đá nào; tất cả đều sẽ bị phá đổ" (Mt 23,37-24,2).

Tội chống lại Tình Yêu Thiên Chúa. Đức Giêsu mô tả tình yêu ấy bằng hình ảnh rất dễ thương của gà mẹ ấp ủ gà con dưới cánh.

Tội chính là từ khước tình yêu Thiên Chúa, như Đức Giêsu trách giới lãnh đạo Do thái giáo và còn trách qua lương tâm mọi Kitô hữu vì không chịu nghe tiếng nói của Tình Yêu Thiên Chúa.

Thì đây nhà các ngươi sẽ bị bỏ hoang - Trong thực tế, thành Giêrusalem sẽ bị phá hủy. Cuộc tàn phá ấy tượng trưng một sự phá sản do tội gây nên. Với người Do thái, gốc gác của tội là do họ không tin. "Ai không tin thì đã bị kết án rồi" (Ga 3,18). Riêng với các Kitô hữu, họ cần khám phá ra bộ mặt thực của tội họ từng phạm. Thiên Chúa ban cho ta tự do. Người tôn trọng tự do chính Người ban. Người chờ đợi ta chọn con đường yêu mến. Đó là con đường danh dự và trách nhiệm. Cần chọn giữa sự sống và sự chết (Đệ Nhị Luật 30,15).

Ý hướng cơ bản là Tán Dương, tôn kính và phụng sự Thiên Chúa
Không còn hòn đá nào trên hòn đá nào. - Đền thờ vẫn đứng vững. Nó vẫn huy hoàng, rực rỡ khiến các môn đệ tắc lưỡi ngợi khen. Nhưng Đức Giêsu đã thấy rõ số phận của Đền Thờ ấy. Người Kitô hữu cũng cần nhìn thấu hiện trạng của mình dưới cái nhìn của Thiên Chúa. Bề ngoài cho dầu ta có thành đạt mấy đi nữa, giá trị thực chất của đời Kitô hữu của ta vẫn là ý hướng cơ bản mà ta cần theo đuổi. Thử hỏi ý hướng ấy có phải để tán dương, tôn kính và phụng sự Thiên Chúa chăng?

THIÊN CHÚA Ở CÙNG CHÚNG TA
Mt 1, 18 - 24
Lm Bùi Quang Tuấn, CSsR.

John P., một linh mục Ái nhĩ lan, sau nhiều năm tận tâm thuyết phục một thanh niên bỏ đạo trở về với Giáo hội, đã phải hoài công vô vọng. Bao lời khuyên răn cứ như "nước đổ lá môn."

Một lần kia, Mẹ Têrêsa Calcutta được mời đến thăm Ái nhĩ lan. Ban tổ chức có thu xếp một buổi nói chuyện thân mật giữa Mẹ với các bạn trẻ. Mẹ chỉ nói giản dị về tình yêu Thiên Chúa: Chúa yêu thương các bạn; Ngài luôn đồng hành với các bạn. Sau đó Mẹ rời thành phố. Ai về nhà nấy.

Trời mỗi lúc mỗi khuya! Khi mọi vật đang chìm vào tĩnh mịch, chợt một hồi chuông điện thoại reo vang phá tan giấc ngủ của cha John. Ngài nhấc vội chiếc điện thoại, và đầu giây bên kia là giọng nói của chàng thanh niên năm nào:

- "Alô, con muốn xưng tội với cha. Con muốn trở về cùng Giáo hội."
- "Chuyện gì xảy ra cho anh vậy?" Vị linh mục hỏi lại. Ngài tưởng chừng chàng thanh niên đang bị tai nạn hiểm nghèo nào đó nên vội dọn mình ra đi.
Nhưng anh ta trả lời:
- "Thưa cha, vì chiều nay Mẹ Têrêsa đã nói với con một lời đánh động lòng con rất nhiều."
Vị linh mục ngạc nhiên:
- "Mẹ nói lời gì, và nếu tôi không lầm thì nhà thờ chật ních. Mẹ lại đâu có cơ hội để gặp riêng anh?"
- "Vâng thưa cha, Mẹ không gặp riêng con, nhưng Mẹ đã nói với mọi người, trong đó có con. Mẹ nói rằng: "Chúa ở với các con."
Nghe thế, vị linh mục càng ngạc nhiên hơn nữa:
- "Ủa, đã nhiều lần tôi cũng nói với anh như thế, nhưng sao hôm nay anh lại bị thuyết phục bởi lời nói ấy của Mẹ Têrêsa?"

Anh thanh niên chậm rãi giải thích:
- "Thưa cha, vì Mẹ đã nói câu đó từ thẳm sâu của tâm hồn. Mẹ đã nói với con bằng tất cả con tim của mình."

Một câu nói không phát ra từ một công thức có sẵn hay do một thói tục xã giao thông thường thúc đẩy, nhưng khởi đi từ chốn thâm sâu của một tâm hồn yêu thương mới có khả năng thuyết phục, hoán cải, và truyền đạt được ý nghĩa chân thực nhất của danh hiệu Emmanuel-Thiên Chúa-ở-cùng-chúng-ta.

Trong một Thánh lễ, biết bao lần vị linh mục đọc lên cầu chúc: "Chúa ở cùng anh chị em," nhưng thử hỏi có mấy lần lòng tôi bồi hồi xúc cảm vì sung sướng trước sự kiện này? Rất nhiều lần tôi nghe, đáp, hát, đọc những lời kinh nguyện có cùng một nội dung như thế, nhưng có mấy lần tôi cảm nhận được Thiên Chúa hiện hữu thật sự trong cuộc đời của mình? Tôi không có, phải chăng vì đã chưa đọc và nghe với tất cả tâm hồn?

Nếu thấu hiểu được thế nào là "Thiên Chúa ở cùng chúng ta," chắc chắn sẽ không có một tác nhân gì có thể làm cho con người phải run sợ bất an hay ưu sầu lo lắng.

Ngày xưa, khi Môisen đang chạy trốn người Aicập, tránh né bàn tay ác độc của Pharaô, Giavê đã hiện ra và bảo ông trở về đất Ai để giải thoát dân Israel. Trước một trách nhiệm lớn lao cùng bao hiểm nguy cho tính mạng như thế, Moisen can đảm lên đường, vì Thiên Chúa đã nói với ông: "Ta sẽ ở với ngươi" (Xh 3:12).

Rồi khi Giêrêmia được Giavê kêu gọi ra đi làm tiên tri cho các dân tộc, ông đã tìm cách thoái thác: "Tôi đâu có biết nói năng gì. Tôi chỉ ú ớ như một đứa trẻ con." Nhưng Chúa nói: "Đừng sợ, vì Ta ở cùng ngươi" (Gr 1:8). Với lời hứa ấy của Giavê, Giêrêmia lên đường.

Trong Tân ước, khi Chúa Giêsu sai các môn đệ đi vào thế gian rao giảng Tin mừng. Sứ mạng chất đầy gian nan, không khác chi như chiên con đi giữa sói rừng. Ấy thế mà sự bảo đảm lại chỉ là một lời hứa: "Ta sẽ ở cùng các ngươi mọi ngày cho đến tận thế" (Mt 28:20). Vậy rồi các ông ra đi.

Sẽ không lời hứa nào bày tỏ trọn vẹn nỗi lòng yêu thương của một con người cho bằng lời hứa "ở cùng người yêu," và sẽ không có nỗi lòng khát khao nào mãnh liệt cho bằng được "sống chung với người yêu." Một chàng thanh niên có thể hứa với người con gái: "Anh sẽ mua cho em một chiếc nhẫn kim cương làm quà Giáng sinh; anh sẽ cố học thành tài để em không phải lam lũ sau này...," nhưng nếu không có lời hứa "ở cùng em" thì vô ích hết. Cao điểm hạnh phúc trong ngày thành hôn của hai người nam nữ không phải nơi chiếc áo cưới soirée lộng lẫy, cũng chẳng phải nơi chiếc nhẫn cưới hay lời chúc tụng của thân hữu đôi bên, nhưng là nơi giao ước tình yêu đã được thiết lập. Trong giao ước đó họ hứa "ở cùng nhau suốt đời."

Một linh mục đã nhận xét: "ở cùng" chính là ngôn ngữ của tình yêu, vì chỉ có yêu ai người ta mới nghĩ đến "ở cùng."

Vì yêu nên mới có việc Thiên Chúa đến "ở cùng" con người, mới có danh hiệu Emmanuel, mới có cảnh Giavê mang kiếp lầm than để thông chia nỗi đau của con người, và chưa hết, mới có danh hiệu Giêsu, nghĩa là Giavê cứu thoát.

Vì yêu thương con người nên Thiên Chúa muốn cứu thoát. Để cứu thoát, Ngài đã đến ở cùng. Có lẽ không nỗi đợi chờ hay một thoả mãn nào đáng giá hơn hình ảnh của Chúa Hài đồng nằm trong máng cỏ, hiện thân của tình yêu ở cùng.

Danh hiệu Emmanuel không chỉ gợi lên trong tôi ý thức về ân phúc tình yêu Thiên Chúa dành cho con người, về những lời cầu chúc được lập đi lập lại trong các Thánh lễ đang cần được nói và nghe với tất cả tâm hồn, nhưng còn là lời mời gọi bạn và tôi hãy ở cùng tha nhân, hãy xích lại gần nhau và sống thân ái hơn trong tình người.

Như Thiên Chúa đã phá đổ bức tường ngăn cách, dù đó là sự ngăn cách vô biên--giữa Tạo hoá và loài thụ tạo, giữa trời cao với đất thấp, giữa vô hình và hữu hình--chúng ta cũng được mời gọi hãy phá đổ những ngăn cách giữa con người với con người, để việc tôi "ở cùng" tha nhân trong an hoà sẽ là một phản chiếu rõ nét khuôn mặt của Thiên Chúa-ở-cùng-chúng-ta.

THÁNH GIUSE CON NGƯỜI CỦA NIỀM TIN
Mt 1, 18 - 24
Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Chẳng có gì làm chúng ta bối rối cho bằng khi chúng ta phải đương đầu với những nghịch cảnh của cuộc đời hay chính chúng ta đang phải đối diện với một điều thật khó giải quyết. Thánh Giuse hôm nay cũng nằm trong trường hợp ấy. Tin Mừng viết :" Trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần " ( Mt 1, 18 ). Thánh Giuse đang ở trong một hoàn cảnh nan giải theo suy nghĩ của loài người. Vậy, Giuse, người công chính sẽ giải quyết vấn đề này ra sao ?

Giuse và Maria đã đính hôn với nhau. Đây là lúc hạnh phúc của Giuse và Maria. Thời kỳ đính hôn là thời kỳ đẹp và dệt biết bao giấc mộng vàng. Tuy nhiên, bao nhiêu mơ ước, bao nhiêu dự tính, thánh Giuse cảm thấy như đang tan theo mây khói. Maria, một cô gái đạo đức, thánh thiện lại đã có thai trước khi về chung sống với chồng. Đây là điều lạ lùng và khó xử đối với Giuse. Do đó, trong thâm tâm của thánh Giuse dứt khoát rời bỏ Maria cách âm thầm, kín đáo vì thánh nhân không muốn tố cáo Maria bởi vì tội mang thai ngoài hôn nhân thời đó sẽ bị ném đá cho tới chết. Đó là luật lệ và đó cũng là sự công bằng của xã hội thời đó." Ông Giuse, chồng bà là người công chính và không muốn tố giác bà nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo " ( Mt 1, 19 ). Thánh Giuse có đành tâm bỏ rơi người vợ đang mang thai mà Thánh Kinh gọi là người công chính hay không ? Được Thánh Thần tác động do bà ngoại Anna hoặc chính Maria tiết lộ bí mật của thai nhi, thánh Giuse đã hoàn toàn tôn trọng chương trình của Thiên Chúa. Ngài đã quyết định âm thầm rút lui, không dám nhận quyền làm cha đứa trẻ.Giuse chính là người tuyệt đối công chính.

Là người công chính, Thiên Chúa quả thực yêu thương Giuse, nên Thiên Chúa muốn Giuse đổi ý định :" đón Maria vợ ông về" và "đặt tên cho con trẻ là Giêsu ".Theo ngôn ngữ Sémít trong Kinh Thánh và luật pháp lúc đó, việc đặt tên có nghĩa là " nhận lấy quyền làm cha pháp lý " cho đứa trẻ.Chính qua dòng họ Giuse mà Chúa Giêsu mới trở nên " con vua Đavít, để hoàn tất mọi lời hứa của Thiên Chúa " ( Mt 1, 1-17 ). Thánh Matthêu viết tiếp:" Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà" ( Mt 1, 24 ).

Thánh Giuse đã phải vất vả vượt thắng ý định rời bỏ Maria nếu không được Thánh Thần tác động. Nhờ Thánh Thần, Giuse đã khép lại các giấc mơ, để mở ra một thế giới tình yêu, một chân trời mới. Mẹ Maria cũng đã phải lần mò trong đêm tối của đức tin để ánh sáng của Thiên Chúa được bừng sáng. Cả thánh Giuse, cả mẹ Maria khi nhận ra chương trình của Thiên Chúa, mặc dầu chưa được hiểu rõ, chưa biết rành mạnh ý nhiệm mầu, nhưng các Ngài đã mau mắn đáp trả tình yêu của Thiên Chúa. Các Ngài đã mau mắn nói lời xin vâng ý định của Thiên Chúa với niềm tin yêu, cậy trông và phó thác. Các Ngài xem tất cả như là ân huệ của Thiên Chúa như thánh Phaolô đã nói:" Tất cả đều là hồng ân ".

Mùa vọng, đặc biệt chúa nhật 4, năm A mời gọi mọi người, mời gọi từng người noi gương bắt chước thánh Giuse và mẹ Maria mau mắn đáp trả tình yêu nhưng không của Thiên Chúa, đồng thời làm gương cho các bạn trẻ nam nữ hiểu rõ đức khiết tịnh và sự trong sạch của đời hôn nhân: trước khi chung sống và đang lúc chung sống. Mùa vọng giúp con người đổi mới để dọn tâm hồn trong sạch để Chúa Hài Đồng ngự trị.

Lạy thánh Giuse và Mẹ Maria xin cầu thay nguyện giúp cho chúng con để chúng con biết sống trong sạch trong tư tưởng, lời nói và hành động. Amen.

THEO GƯƠNG MẸ MARIA SỐNG TÂM TÌNH MÙA VỌNG
Mt 1, 18 - 24
Lm Giuse Nguyễn Minh Chánh
Mùa vọng là thời gian để chúng ta chuẩn bị tâm hồn đón mừng mầu nhiệm Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người. Trong thời gian này, Giáo Hội đã cho chúng ta chiêm ngưỡng những mẫu gương sống động của các nhân vật trong Kinh thánh như: Tiên tri Isaia, Gioan tẩy giả, cũng như qua cách sống và những tâm tình của các ngài trao gởi lại, thì đó cũng là những bài học rất quý giá để chúng ta sống tốt đẹp hơn trong thời gian mùa vọng.

Thật thiếu sót, nếu chúng ta không kể đến Mẹ Maria trong thời gian mong đợi Con Chúa giáng trần. Bởi vì Mẹ Maria cũng đã từng sống tâm tình mùa vọng như bao người khác. Thế nhưng, hơn ai hết, kinh nghiệm sống tâm tình mùa vọng nơi Mẹ Maria vẫn luôn là tiếng gọi thúc giục lòng ta hãy thành tâm chiêm ngưỡng cách sống mùa vọng nơi Mẹ. Nhờ vậy chúng ta sẽ có những tâm tình xứng hợp trong khi chúng ta hướng về ngày Chúa đến trong trần gian.

1/ Mẹ Maria sống tâm tình mùa vọng bằng đời sống thánh thiện:

Vì ý thức Đấng Thiên Sai muôn dân mong đợi là Đấng thánh, nên thời gian sống tâm tình mong đợi con Thiên Chúa nơi Mẹ Maria, đã được dệt bằng những chuỗi ngày vô tận của sự thánh thiện

Mẹ sống thánh thiện, vì Mẹ xác tín những tâm hồn thánh thiện là những tâm hồn sẽ được đón nhận niềm vui ơn cứu độ cách tròn đầy.

Mẹ sống thánh thiện, vì Mẹ xác tín những tâm hồn thánh thiện là những tâm hồn luôn làm đẹp lòng Chúa là Đấng Thánh. Và Ngài rất vui khi được hiện diện với những tâm hồn như thế.

Về điểm này, chúng ta hãy suy nghĩ lại những hành động của Chúa Giêsu khi Ngài tiến về Giêrusalem để thực hiện cuộc thanh tẩy Đền thờ. Vì phía sau hành động thanh tẩy Đền thờ Giêrusalem, Chúa Giêsu muốn nhắc nhở chúng ta phải tự thanh tẩy đền thờ tâm hồn chính mình, nhờ vậy Thiên Chúa là Đấng thánh mới vui thích ngự trong những tâm hồn trong sạch như Ngài.

Hơn ai hết, cách sống tâm tình mùa vọng của Mẹ Maria đã để lại dấu ấn không thể ngờ và không thể phai mờ.

Không thể ngờ vì qua sự chuẩn bi tích cực để mong đợi Đấng Cứu Độ nơi Đức Maria, Thiên Chúa đã đoái nhìn đến cách sống thành tâm tuyệt vời ấy. Vì thế, một điều bất ngờ xảy ra nơi Mẹ là Thiên Chúa đã tuyển chọn Mẹ, Người Nữ Thánh Thiện được làm Mẹ Đấng Cứu Thế, Thiên Chúa đã chọn cung lòng thanh khiết của Mẹ để trao gởi Người Con Yêu Dấu của Ngài là Đấng Thánh, và qua trung gian Mẹ Maria Thiên Chúa đã trao ban Đấng Cứu Độ cho loài người. Đó là một điều bất ngờ đối với Mẹ Maria. Thế nhưng, qua sự bất ngờ này thì Mẹ Maria đã thể hiện một dấu ấn không thể phai mờ. Vì từ giây phút bất ngờ khi được Con Thiên Chúa nhập thể trong cung lòng mình, cũng từ giây phút ấy, Mẹ Maria đã khiêm tốn chỉ cho chúng ta con đường để chúng ta gặp Chúa, để Chúa đến với chúng ta. Con đường Mẹ chỉ dạy chúng ta đó là hãy trở lại kinh nghiệm của chuỗi ngày vô tận sống thánh thiện nơi Mẹ. Vì chuỗi ngày thời gian sống thánh thiện của Mẹ, đã hình thành nên bài thánh ca muôn thuở để mời gọi mọi người hãy can đảm sống tâm tình mùa vọng bằng đời sống thánh thiện như Mẹ Maria, Trinh Nữ Thánh Thiện

2/ Mẹ Maria sống tâm tình mùa vọng bằng đời sống khiêm nhường:

Khiêm nhường là cách sống Mẹ rất ưa thích. Mẹ thích sống khiêm nhường, bởi vì nhờ những tâm tình ấy mà Mẹ thật sự trở nên một người con bé nhỏ của Thiên Chúa, luôn phó thác cuộc đời mình cho Thiên Chúa, luôn sống theo những gì Chúa đã dạy.

Vì Mẹ thích sống khiệm nhường, nên Mẹ sẵn sàng thưa hai tiếng xin vâng ý Chúa trong ngày truyền tin, để từ giây phút ấy mẹ đã trở nên Thánh mẫu của Đấng Tối Cao.

Vì Mẹ thích sống khiệm nhường, nên Mẹ sẵn sàng thi hành lời Chúa dạy trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống: Lúc vui, lúc buồn, lúc bối rối, lúc lo sợ, lúc an bình...... Nhờ việc hạ mình sống theo Lời Chúa mà Mẹ Maria được gọi là người có phúc. Mẹ có phúc vì Mẹ là người luôn "lắng nghe và tuân giữ Lời Thiên Chúa" ( Lc11,28).

Vì Mẹ thích sống khiêm nhường, nên Thiên Chúa đã chọn Mẹ làm Mẹ Đấng Cứu Thế. Đấng vốn dĩ là Thiên Chúa, nhưng đã khiêm nhường tự hạ mang lấy thân phận con người, và trong thân phận con người Ngài đã mang lấy thân phận nô lệ để phục vụ sự sống cho muôn người.

Vì Mẹ thích sống khiêm nhường, nên qua đời sống gương mẫu tuyệt vời ấy, Mẹ muốn nhắc nhở chúng ta: Thiên Chúa là Đấng khiêm nhường, Ngài rất thích những ai sống khiêm nhường. Chỉ có những tâm hồn sống khiêm nhường như Chúa mới có thể gặp được Chúa và được Chúa đến viếng thăm cư ngụ trong tâm hồn người ấy. Vì Thiên Chúa bản chất là khiêm nhường, nên Ngài không bao giờ đến với những ai kiêu căng, cậy dựa chức quyền, cậy dựa vào sức mạnh của trần thế để bôi nhọ hình ảnh tốt đẹp của Thiên Chúa là Đấng hiền lành và khiêm nhường. Về điềm này chính Mẹ Maria đã nhắc nhở cũng như đã cảnh cáo những ai sống ngược lại với cách sống khiêm nhường của Chúa, khi Mẹ nói: "Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh, dẹp tan phường lòng trí kiêu căng. Chúa hạ bệ những ai quyền thế, người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường" (Lc1, 51-52).

Hôm nay chúng ta bước vào Chúa nhật cuối cùng của mùa vọng. Thiết nghĩ, muốn thay đổi cách sống để cùng với Mẹ Maria sống những tâm tình mùa vọng còn lại cũng chưa phải là muộn. Vì đối với Chúa, những cố gắng quyết tâm chân thành sống phút giây hiện tại, cũng có thể biến chuyển đời sống chúng ta trong tương lai.

Hơn nữa, sống tâm tình mùa vọng không chỉ dừng lại bời thời gian được ấn định trong năm phụng vu. Nhưng tâm tình hướng về Con Thiên Chúa đến trần gian, đến trong cõi lòng chúng ta phải được thực hiện trong từng phút giây của nhịp sống.

Như vậy, khi khám phá hình ảnh sống mùa vọng nơi Đức Maria qua đời sống thánh thiện và khiêm tốn, thì đó cũng là lúc Mẹ chỉ cho chúng ta con đường hoàn hảo nhất, đẹp lòng Chúa nhất để Chúa đến với chúng ta.

Nếu chúng ta thật lòng sống thánh thiện như Mẹ mà không bị giằng co bởi những thú vui giả tạo mau qua của thế gian, chắc chắn đó là con đường hoàn hảo nhất để Chúa là Đấng Thánh giáng sinh trong cõi lòng chúng ta.

Nếu như chúng ta thật lòng sống khiêm nhường như Mẹ trong mọi hoàn cảnh, mà không lo sợ phải thiệt thòi bởi những thứ ham muốn của sức mạnh trần thế, chắc chắn đó là con đường đẹp lòng Chúa nhất để Chúa giáng sinh trong cõi lòng chúng ta.

Lạy Mẹ Maria! Ước gì những tâm tình sống mùa vọng nơi Mẹ sẽ là hành trang luôn đồng hành trong cách sống đức tin chúng con. Nhờ đó chúng con cũng được đón nhận nguồn ơn cứu độ như Mẹ. Lạy Mẹ Maria, xin cho niềm vui giáng sinh sắp đến được khơi dậy bằng ước muốn sống thánh thiện và khiêm nhường trong từng phút giây hiện tại của đời sống chúng con.

TRUYỀN TIN CHO ÔNG GIUSE
Mt 1, 18 - 24
Lm Giuse Dương Hữu Tình

Chúng ta đã bước vào Chúa nhật cuối cùng của Mùa Vọng. Ở Chúa nhật này, Giáo hội mong muốn chúng ta thực sự chuẩn bị tâm hồn xứng đáng cho Đại Lễ Giáng Sinh sắp tới. Bởi thế, Giáo hội đưa ra tấm gương rất tiêu biểu như là khuôn mẫu cho một tâm hồn được chuẩn bị sẵn cho Con Thiên Chúa giáng trần. Khác Chúa nhật năm B và C, Giáo hội đưa ra khuôn mẫu là Mẹ Maria. Chúa nhật IV Mùa Vọng năm A này, Giáo hội muốn chúng ta hướng lòng về một khuôn mặt đặc biệt khác, đó là Thánh Giuse với biến cố được gọi là " Truyền tin cho ông Giuse".

Vẻn vẹn chỉ 8 câu Phúc Âm ngắn gọn mà đã toát lên gần như trọn vẹn khuôn mặt mẫu mực và rất đáng yêu của Thánh Giuse. Chuyện bắt đầu từ việc Mẹ Maria mang thai mà Thánh Giuse không hay biết gì về nguồn gốc. Thánh Giuse thấy thế thế định bỏ Mẹ Maria, nhưng Ngài được giải thích qua giấc mộng. Thế là Thánh Giuse không bỏ Đức Mẹ nữa mà đón Mẹ về nhà mình. Chuyện chỉ có thế thôi nhưng qua sự kiện này, nhân đức của Thánh Giuse được dịp tỏa sáng. Tỏa sáng như thế nào? Thánh sử Matthêu đã trả lời cho chúng ta khi ngài nói về Thánh Giuse một cách rất ngắn gọn: "Ông Giuse, chồng bà, là người công chính". Nếu không phải là một người công chính, thì sự việc đã xảy ra khác nhiều. Nếu không phải là người công chính thì không ai có thể biết số phận con trẻ trong lòng Mẹ Maria sẽ ra sao? nếu không phải là người công chính thì chương trình cứu độ của Thiên Chúa làm sao có thể tiếp tục một cách tốt đẹp?

Thánh Giuse là người công chính, nên đã định tâm bỏ Đức Mẹ. Ông định bỏ Đức Mẹ ít là vì hai lý do này: trước hết vì là người chồng, nên ngài hiểu vợ mình: "Ông Giuse, chồng bà". Thánh Giuse hiểu Đức Maria hơn ai hết, nên ngài tin Đức Mẹ. Ngài biết thai nhi trong lòng mẹ do một quyền năng siêu nhiên nào đấy can thiệp và dường như càng lúc ngài càng cảm thấy Quyền năng ấy choáng ngập vợ mình, dành riêng vợ mình cho một sứ mạng lớn lao khác. Là một người đạo đức, công chính, ông lặng lẽ rút lui.

Lý do thứ hai: chính vì là một người công chính, Thánh Giuse sớm nhận ra đâu là dấu vết của Thiên Chúa và đâu là dấu vết của tà thần. Đó là tâm trạng chung của những tâm hồn đạo đức thánh thiện. Càng đạo đức bao nhiêu thì càng dễ phân biệt đâu là thánh đâu là tà, càng công chính bao nhiêu thì càng bén nhậy trước thánh ý Thiên Chúa bấy nhiêu. Vì thế, Thánh Giuse sớm nhận ra bàn tay vô hình của Thiên Chúa đang can thiệp vợ mình. Phản ứng của ông cũng giống tâm trạng của những người công chính trong Cựu Ước, đó là rút lui. Ông sợ không dám tiết lộ với ai, cũng không dám nhận một người như thế làm vợ, ông âm thầm bỏ đi.

Chính lúc đó, Thiên Chúa can thiệp. Ngài cho Thánh Giuse hiểu rằng Ngài muốn dùng cả bản thân Thánh Giuse cho chương trình vĩ đại của Ngài.

Thánh Giuse quả là một con người vĩ đại. Ngài sớm nhận ra ngay chương trình của Chúa, ông "làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà mình".

Thiên Chúa luôn có sẵn chương trình của Ngài và chương trình nào cũng vì yêu và làm đẹp cho con người. Đáng tiếc ngày nay người công chính ít quá, nên công trình của Chúa bị hỏng nhiều.

Lạy Chúa, xin soi cho con biết ý Chúa trong cuộc đời con và xin cho con đủ sức để mau mắn thi hành.

ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐÓN TIẾP CHÚA
Mt 1, 18 - 24
+TGM Ngô Quang Kiệt

Ngày 17 tháng 12 vừa qua, ta đã đọc bài Phúc Âm nói về gia phả Đức Giêsu, trong đó Chúa Giêsu sinh bởi dòng dõi vua Đavít. Hôm nay, Phúc Âm lại trình bày cho ta một gốc tích khác của Người: Chúa Giêsu sinh bởi Đức Maria do quyền năng của Chúa Thánh Thần. Phải chăng thánh sử Mát Thêu mâu thuẫn khi đưa ra hai gốc tích khác nhau như thế?

Thánh sử Mát Thêu không mâu thuẫn, nhưng khi trình bày cho ta hai gốc tích khác nhau của Chúa Giêsu, thánh sử có một dụng ý thần học. Chúa Giêsu là Thiên Chúa, nên việc thụ thai phải do quyền năng của Chúa Thánh Thần. Nhưng Chúa Giêsu cũng là người nên phải sinh ra bởi một con người. Thiên Chúa ban Con Một cho loài người. Đức Maria đã đại diện loài người lãnh nhận. Nhưng quyền năng Chúa Thánh Thần tác động trên Đức Maria chỉ diễn ra trong riêng tư, âm thầm. Chính thánh Giuse đưa Chúa Giêsu ra công khai khi nhận Ngài vào dòng tộc Đavít. Qua trung gian của thánh Giuse, Chúa Giêsu đã chính thức gia nhập gia đình nhân loại, trong một đất nước, trong một dân tộc, trong một dòng họ. Tên tuổi của Người được ghi trong lịch sử của dân tộc, của dòng họ, của gia đình. Vận mệnh của Người gắn chặt với dân tộc, dòng họ, gia đình ấy. Người thực là Emmanuel, là "Thiên Chúa ở với chúng ta".

Nhờ đâu mà thánh Giuse và Đức Maria được diễm phúc là những người đầu tiên, đại diện nhân loại tiếp đón Đấng Cứu Thế. Qua bài Phúc Âm Truyền tin và bài Phúc Âm hôm nay, ta thấy thánh Giuse và Đức Maria có những đặc điểm sau đây.

1. Các Ngài có tâm hồn khiêm nhường sâu xa.

Đức Maria là một thiếu nữ có tâm hồn khiêm nhường. Từ nhiều thế kỷ qua, lời sấm về Đấng Cứu Thế vẫn được truyền tụng trong dân DoThái. Thiếu nữ nào cũng mong được làm mẹ Đấng Cứu Thế. Đó là một hạnh phúc, một vinh dự không chỉ cho cá nhân mà còn cho cả gia đình, cho dòng họ, cho đất nước. Vậy mà khi nghe thiên thần loan báo tin làm mẹ Đấng Cứu Thế, Đức Marria chỉ khiêm tốn thưa: "Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời thiên thần truyền". Khi bà Êlisabeth ca tụng Ngài, Đức Maria đã đáp lại: "Vì Chúa đã đoái thương phận tôi tớ thấp hèn. Người nâng cao những người bé nhỏ". Đức Maria nhận ra sự thật là: Nếu Ngài được ơn Chúa ban thì không phải vì công trạng của mình, nhưng do lòng từ bi thương xót của Chúa. Vì khiêm tốn, nên Đức Maria âm thầm ghi nhớ tất cả mọi việc Chúa làm, mọi lời Chúa phán. Ghi nhớ để suy gẫm trong lòng. Càng suy gẫm lại càng thêm khiêm nhường. Càng khiêm nhường lại càng kín đáo.

Thánh Giuse cũng có tâm hồn khiêm nhường không kém. Đọc Phúc Âm, ta có cảm tưởng là thánh Giuse luôn tự rút lui vào trong bóng tối. Ngài luôn sống âm thầm khiêm tốn trong công việc tầm thường của thợ thuyền. Sự khiêm tốn ấy đặc biệt thể hiện trong bài Phúc Âm hôm nay. Khi biết tin Đức Mẹ đang mang thai Đấng Cứu Thế, thánh Giuse đã âm thầm bỏ đi. Ngài không dám tự cho mình cái vinh dự được làm cha Đấng Cứu Thế. Ngài không dám chiếm hữu quyền làm cha của Thiên Chúa. Ngài không dám mạo nhận công việc của Chúa Thánh Linh. Ngài là người công chính vì khiêm tốn sống đúng thân phận của mình. Ngài là người công chính vì trả lại cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa.

2. Các Ngài mau mắn vâng lời Thiên Chúa.

Các ngài có chương trình cho đời sống. Chương trình ấy được suy nghĩ kỹ lưỡng vì được thực hành nghiêm chỉnh. Đức Maria khấn giữ mình đồng trinh. Thánh Giuse muốn sống âm thầm trong bóng tối. Nhưng khi nghe biết thánh ý Thiên Chúa các Ngài đã mau mắn xin vâng, bỏ dở chương trình riêng tư, chuyển hướng cuộc đời để thi hành thánh ý Thiên Chúa. Đức Maria đã thưa "xin vâng" bất chấp những đau khổ, khó khăn đang chờ đón. Thánh Giuse đã mau mắn vâng lời dù thánh ý Thiên Chúa chỉ mơ hồ giữa bóng đêm dày đặc, trong một giấc mộng lãng đãng mơ hồ.

Vì Chúa, các Ngài đã từ bỏ ý riêng mình. Vì Chúa, các Ngài đã thay đổi toàn bộ đời sống. Thay đổi quyết liệt. Từ bỏ dứt khoát. Vâng lời mau mắn.

Thái độ của các Ngài rất gần với thái độ của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu xuống trần trong một thái độ tự hạ mình thẳm sâu. Dù là Thiên Chúa, Người đã không đòi cho mình quyền được ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã tự hạ làm một người bé nhỏ nghèo hèn. Người luôn vâng lời Đức Chúa Cha, vâng lời cho đến chết trên thập giá.

Đồng thanh tương ứng, đồng ý tương cầu. Giống nhau thì tìm đến nhau. Chúa Giêsu xuống trần trong một thái độ khiêm hạ và vâng phục thánh ý Chúa Cha đã tìm được nơi cư trú tâm đắc nơi Đức Maria và Thánh Giuse, hai tâm hồn khiêm nhường và tuyệt đối vâng lời.

Lạy Chúa Giêsu bé nhỏ, bây giờ thì con đã hiểu biết phải dọn một máng cỏ như thế nào cho Chúa. Chúa muốn con khoét một hang sâu khiêm nhường trong lòng con, trải trên đó những sợi cỏ vâng lời mau mắn. Như thế con sẽ được hạnh phúc đón tiếp Chúa, Đấng rất khiêm nhường và rất vâng lời. Amen.

CHÚA NHẬT 4 MÙA VỌNG
Mt 1, 18 - 24
Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Thật đẹp đẽ và chí tình khi Giáo Hội trình bầy gương mặt của Đức Trinh Nữ Maria. Nói tới mùa vọng không thể nào giới thiệu Chúa Giêsu Nhập Thể, được sinh ra mà lại quên đi vai trò của Đức Mẹ. Do đó, Chúa nhật IV mùa vọng, có thể nói được rằng đây là Chúa nhật của Đức Mẹ. Chương trình cứu độ của Thiên Chúa được hoàn thành nhờ sự trung gian qua lời xin vâng của Đức Mẹ.

Lịch sử cứu độ là một lịch sử được nối dài từ thời Cựu Ước tới thời Tân Ước. Thiên Chúa đã dùng một thời gian rất lâu dài để Con Một của Người là Đức Giêsu Kitô được sinh ra nơi trần thế với hình hài là một người thật và để thực hiện chương trình đó, Thiên Chúa đã tuyển chọn một người nữ Do Thái để cưu mang bởi phép Chúa Thánh Thần và đản sinh Chúa cứu thế: " Đức Giêsu Kitô ". Chúa Giêsu là con người thật vì Người có gia phả, có ông bà tiên tổ, xuất thân từ dòng dõi vua Đavít, có cha mẹ thật tên là Maria và Giuse ( bài đọc 2 ). Chính vì thế, Chúa Giêsu đã đi vào lịch sử loài người, đã đi vào lịch sử cùa dân tộc Do Thái, có tên, có hộ tịch, hộ khẩu hoàn toàn và làm người như mọi người chúng ta ngoại trừ tội lỗi.

Thiên Chúa đã có một kế hoạch cứu độ và kế hoạch này được chuẩn bị từ lâu đời, được thực hiện qua nhiều giai đoạn, với những biến cố, những dấu chỉ, những con người được Thiên Chúa sắp đặt cho đến khi ý định của chương trình cứu rỗi của Ngài được hoàn tất. Thiên Chúa đã ban cho nhân loại, cho chúng ta và mỗi người chúng ta một cơ hội như Công Đồng Vaticanô II cho chúng ta hiểu về ý nghĩa của việc Chúa Giêsu ngự đến: " Bởi vì, chính Con Thiên Chúa khi Nhập Thể, môt cách nào đó đã kết hợp với tất cả mọi người, Người đã làm việc với bàn tay con người, đã suy nghĩ bằng trí óc con người, đã hành động với ý chí con người, đã yêu mến bằng quả tim con người. Sinh bởi Trinh Nữ Maria. Người đã thực sự trở nên một người giữa chúng ta, giống chúng ta mọi sự ngoại trừ tội lỗi...Người còn mở ra con đường mới để nếu chúng ta theo thì sự sống và cái chết sẽ được thánh hóa và có một ý nghĩa mới " ( số 22, Hiến Chế Về Giáo Hội Trong Thế Giới Ngày Nay ).

Như thế, chúng ta hiểu vai trò lớn lao như thế nào của Đức Mẹ và hiểu thế nào về thánh Giuse, Thiên Chúa đã dùng Ngài để làm nổi bật sứ mạng của Mẹ Maria. Thiên Thần Chúa hiện đến báo mộng cho Giuse khi Ông đang có ý định lìa bỏ Mẹ Maria cách âm thầm, kín đáo: " Người Con, bà Maria đang cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và Ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân khỏi ách thống trị của tội ". Đọc kinh Tiền Tụng thứ ba của Lễ Giáng Sinh chúng ta thấy: " Bằng việc mặc lấy thân phận yếu đuối của con người chúng ta, Người đã ban cho bản tính hay chết của con người chúng ta một giá trị bất tử ". Thực tế, Thiên Chúa luôn yêu thương trần gian và ngay những lúc con người sa ngã, phản nghịch cùng Thiên Chúa. Chương trình yêu thương của Thiên Chúa vẫn luôn được nối tiếp. Thánh Matthêu viết: " Khi tỉnh giấc, Ông Giuse làm như sứ thần chúa dạy và đón vợ về nhà " ( Mt 1, 24 ). Ông Giuse đã vâng theo lời Chúa và mở ra một thế giới tình yêu mới. Một thế giới, trong đó lòng thương xót và yêu thương của Con-Thiên-Chúa-Làm-Người sẽ thay cho hận thù và chia rẽ. Mẹ Maria, thánh Giuse đã nhận ra thiên ý của Chúa và dù chưa hiểu rõ ràng thế nào là chương trình cứu rỗi của Thiên Chúa. Mẹ Maria đã nói lời xin vâng làm theo ý Chúa và thánh Giuse sau khi được báo mộng đã mau mắn vâng lời Thiên Chúa đưa Maria về nhà mình để thực hiện ý nhiệm mầu của Thiên Chúa. Đó là mầu nhiệm. Một mầu nhiệm cao vời vì"đối với Chúa không có gì mà không thể được ".

Lạy Chúa Giêsu, Mẹ Maria đã nói lời xin vâng làm theo ý Chúa, thánh Giuse đã vâng lời làm theo thiên ý. Xin cho chúng con biết noi gương, bắt chước và chiêm ngắm sự thánh thiện cao sang mà Mẹ Maria và thánh Giuse đã nêu gương cho nhân loại, cho mọi người. Amen.

NGƯỜI TA SẼ GỌI TÊN CON TRẺ LÀ EMANUEL
Mt 1, 18 - 24 

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

Emmanuel: Thiên Chúa ở cùng chúng ta quả là một niềm mơ ước bất tận của con người có niềm tin vào Thiên Chúa. Trong cuộc sống, nhất là trong cử hành Phụng Vụ Thánh Thể, không biết bao lần ta chúc nhau đuợc Thiên Chúa ở cùng: "Chúa ở cùng anh chị em - Và ở cùng cha". Xin được chia sẻ đôi nét về sự biểu hiện của tình trạng được có Thiên Chúa ở cùng và một vài điều kiện để được Thiên Chúa ở cùng.

I. Sự biểu hiện của tình trạng có Chúa ở cùng: "Kính chào bà đầy ân sủng, Thiên Chúa ở cùng bà" (Lc 1,28).

Dựa trên lời chào chúc của sứ thần Gabriel với mẹ Maria ta có thể chắc chắn rằng Mẹ chính là người được Chúa ở cùng. Tình trạng được Chúa ở cùng này được trình bày như là tình trạng "đầy ân sủng". Một tâm hồn đầy ân sủng Chúa là tâm hồn được "rợp bóng" Thánh Thần, là Tình Yêu bản vị giữa Chúa Cha và Chúa Con, một Tình yêu hoàn toàn "hướng tha". Chính vì thế người đầy ân sủng luôn lấy lợi ích của tha nhân làm mục đích của lẽ sống, của mọi hành vi của mình.

Tương tự một số nam nhân thời bấy giờ, chẳng hạn nhóm "tu trì" ở Qumrân, khi tự nguyện sống đời trinh khiết, Mẹ Maria đã tự nguyện hiến dâng đời mình, tự nguyện hy sinh hạnh phúc cá nhân để góp phần cầu mong Đấng Thiên Sai mau đến. Sự cao cả của tấm lòng vị tha của Mẹ hiện rõ qua việc Mẹ tự nguyện chọn lấy tình cảnh như bị Thiên Chúa chúc dữ trước mặt người đời. Người Do Thái xưa và thời bấy giờ vẫn xem những phụ nữ không sinh con là đồ bị chúc dữ. Đã đính hôn với thánh Giuse, nghĩa là vẫn lập gia đình, thế mà Mẹ tự nguyện sẽ không có con thì quả là một quyết định anh dũng trong tình yêu vị tha. Không sinh con trong đời độc thân tự hiến đã là một hành vi cao cả, còn lập gia đình mà quyết định sẽ không có con thì có thể nói rằng đó là trường hợp ngoại thường. Căn cứ vào quy định của Giáo Luật về hôn nhân Công giáo thì đây là trường hợp kết hôn không thành sự vì loại bỏ một trong hai mục đích của hôn nhân.

Khi Sứ Thần truyền tin cho Mẹ rằng Mẹ sẽ thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần và sinh một con trai thì tiếng thưa "xin vâng" của Mẹ bày tỏ rõ nét tâm hồn tràn đầy tình yêu vị tha cách hoàn hảo. Các nhà chú giải Thánh kinh cho ta hay nội hàm của hai từ xin vâng không phải là thái độ thụ động mà ngược lại đó chính là tâm tình tích cực trong hân hoan. Vì tha nhân, vì hạnh phúc của nhân loại, Mẹ Maria đã chọn con đường Thiên Chúa vạch ra. Rất có thể bị Giuse hiểu lầm, rất có thể chuốc lấy nhuốc nhơ cho danh giá giá của mình và số phận Mẹ có thể bị kết liễu dưới những viên đá vô tâm vô tình theo luật pháp thời bấy giờ. Mẹ hân hoan đón nhận tất cả chỉ vì hạnh phúc của đồng loại. Đúng là một trái tim tràn đầy ân sủng Chúa.

II. Một vài điều kiện để có Chúa ở cùng:

1. "Đừng ngại nhận Maria về nhà làm bạn mình...người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel (Mt 1,20-23).

Đón nhận nhau là một trong những nghĩa cử yêu thương. Đã yêu thì không chỉ đón nhận những gì dễ yêu, những gì đáng thương hay thích hợp với mình mà còn đón nhận cả những gì khó yêu, những điều mình chẳng muốn. "Thương cả đuờng đi" thì mới là thương yêu thật sự. Đón nhận cả những gì mà lòng mình không mong và nhiều khi chưa hiểu rõ thì mới là tình yêu không tính toán, không tham vọng cách ích kỷ.

Dù chỉ được Sứ Thần tỏ bày qua một giấc mơ thế mà Giuse đã mau mắn "tiếp nhận bạn mình". Động thái tiếp nhận nhau như là bạn hữu đòi hỏi ta từ bỏ mình và tự hủy mình một cách nào đó. Khi đón nhận các môn đồ thành bạn hữu của mình Đức Kitô đã từ bỏ tước vị là Thầy, đã tự hủy thân phận là Chúa của mình (x.Ga 13). Khi đón nhận Maria và Con trẻ trong dạ về nhà, Giuse đã tự nguyện từ bỏ vị thế làm cha của Ngài. Nét cao cả của Giuse còn thể hiện qua việc Ngài đón nhận cả sự hiểu lầm của họ hàng, dòng tộc, xóm giềng khi họ nghĩ rằng Ngài chính cha ruột của con trẻ.

Việc thánh Giuse đón nhận Maria về nhà làm bạn cũng chính là việc Ngài đón nhận chương trình của Thiên Chúa. Dĩ nhiên đây là chương trình ngoài dự kiến, ngoài ý định của Ngài. Tin mừng tường thuật "khi tỉnh dậy, Giuse đã thực hiện như lời Sứ Thần truyền" (Mt 1,24). Sự mau mắn, không đắn đo này nói lên thái độ tin tưởng trong an bình của chính Ngài. Đón nhận tha nhân với toàn bộ hiện trạng tha nhân đang có, đang là trong sự tin tưởng và an bình đó là một trong những điều kiện tuyệt hảo để được Thiên Chúa ở cùng.

2. "Bà sẽ hạ sinh một con trai mà ông sẽ đặt tên là Giêsu"(Mt 1,21).

Theo Thánh kinh, việc đặt tên có ý nghĩa rất quan trọng. Tên là người và tên cũng là sứ mạng. Vì thế người đặt tên là người có trách vụ hướng dẫn, đào tạo. Khi dẫn các con vật đến với Ađam để Ađam đặt tên cho chúng, Thiên Chúa đã trao phó trách nhiệm cai quản, huớng dẫn muôn loài cho con người (x.St 2,19). Khi đặt tên cho Abram thành Abraham, Thiên Chúa đã huấn luyện một người bán du mục cao niên, son sẻ đang chăn nuôi súc vật trong tư thế tìm sự bảo đảm, an toàn thành một người cha của đoàn lũ con cái đông đúc trong niềm tin phó thác (x.St 17,5). Khi đặt tên cho Giacop thành Israel, Thiên Chúa cũng đã huấn luyện một người láu cá "hất cẳng anh" thành một người đã "gặp gỡ, chiến đấu với Thiên Chúa" và dĩ nhiên sau đó tuân phục Thiên Chúa (x.St 32,23-30)

Thánh Giuse đã dùng gương sáng, lời nói, hành vi của mình để dạy dỗ, hướng dẫn con trẻ thành một Giêsu, Đấng cứu nhân độ thế. Quả thật các áng văn Tin Mừng minh chứng cho ta thấy nhân cách và lối hành xử của Chúa Giêsu mang đượm dấu ấn của thánh Giuse. "Cha Ta làm việc liên lỉ, Ta cũng vậy" (x.Ga 5,17). "Lương thực của Ta là làm theo thánh ý Cha Ta trên trời" (x.Ga 4,34). "Ta không làm điều gì mà không nhìn việc Cha Ta làm" (x.Ga 5,19). Các thái độ, hành vi, cung cách ứng xử của Đấng Cứu Thế chắc hẳn có sự góp phần không nhỏ của thánh Giuse, đặc biệt trong thời thơ ấu và ẩn dật của Người.

Có Emmanuel, có Thiên Chúa ở cùng chúng ta chính là hạnh phúc đích thật. Dù rằng ở trần gian này hạnh phúc ấy chưa vĩnh viễn nhưng nó có thể là hoàn toàn một đôi lúc nào đó. Và những thời điểm có được hạnh phúc này chính là bảo chứng cho hạnh phúc đích thực cách hoàn hảo vĩnh viễn mai sau. Hạnh phúc ấy chính là tình trạng khi ta hết lòng vì lợi ích của tha nhân trong sự quên mình. Để có được điều này tiên vàn hãy biết tiếp nhận nhau với toàn vẹn con người của nhau, cả nhưng ưu điểm lẫn những hạn chế, cả những sự tốt lành lẫn những điều tồi tệ. Và đồng thời cần nỗ lực giáo dục dệt xây cho đời những Giêsu. Trước tòa án phong thánh cho Cha Gioan Maria Vianey, một cụ già đã thề trên Thánh Kinh rằng: "Con đã nhìn thấy Thiên Chúa nơi một con người". Mong sao không phải đợi đến những dịp phong thánh mà ngay trong cuộc sống thường nhật người ta, bà con tín hữu lẫn anh em lương dân hay khác đạo có thể thốt lên rằng: "Thiên Chúa đang ở cùng chúng ta".

MẸ MARIA VÀ THÁNH GIUSE
Mt 1, 18 - 24
Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
Chúa nhật IV Mùa Vọng có thể nói dành riêng cho hai nhân vật rất quan trọng trong lịch sử cứu độ đến nỗi người ta có thể nói rằng không có Đức Mẹ, không có thánh cả Giuse, lịch sử cứu rỗi đã diễn ra khác...Nói thế, để chúng ta thấy được vai trò của Mẹ Maria và thánh cả Giuse có một chỗ đứng cao vời như thế trong chương trình của Thiên Chúa.Bởi vì, ngay ca nhập lễ Giáo Hội đã cất vang :" Trời cao hỡi, nào hãy gieo sương, mây hãy đổ mưa, mưa Đấng Công Chính, đất rộng mở, cho xuất hiện Vị Cứu Tinh " ( Is 45, 8).

Ca hiệp lễ hôm nay viết :" Này đây Trinh Nữ sẽ thụ thai, và sinh hạ con trai.Người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en " ( Is 7, 14 ). Như thế, chúng ta hiểu được rằng ngay từ ngàn xưa ngôn sứ Isaia đã loan báo cho nhân loại về Đấng Cứu Thế, và Đấng Cứu Tinh này sẽ được cưu mang trong cung lòng Trinh Nữ Maria. Con trẻ được sinh ra sẽ là Em-ma-nu-en nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta. Tin Mừng thánh Matthêu hôm nay viết rất rõ:" Đức Giêsu Kitô sinh ra thế này : Maria, mẹ Ngài đã đính hôn với Giuse; trước khi ông bà phối hợp cùng nhau, thì xảy ra là ông bà đã có thai do tự Thánh Thần .Giuse, chồng bà, vì là người công chính và không muốn tố giác bà, thì định âm thầm ly dị. Sau khi ông đã quyết tâm như vậy, thì này : Thiên thần Chúa hiện ra cho ông trong mộng bảo rằng :" Giuse, con của Đavít, chớ sợ lấy maria vợ ông ; thai sinh nơi bà là do tự Thánh Thần; bà sẽ sinh con, và ông sẽ đặt tên cho người con là Giêsu, vì chính Ngài sẽ cứu dân Ngài khỏi tội lỗi " ( Mt 1, 18-21 ). Thực tế, Giuse đã có tâm hồn thánh thiện, đạo đức tuyệt vời vì khi nghe lời giải thích của Thiên thần, Giuse đã âm thầm nói lời xin vâng theo ý của Thiên Chúa.Còn Maria theo thánh Luca, Mẹ đã nói lời xin vâng và tạ ơn. Lời xin vâng và tạ ơn chỉ vang lên một lần nhưng mãi mãi vọng vang trong đời Mẹ. Cả thánh Giuse và Mẹ Maria đã được hiến thánh cho Thiên Chúa và được Thiên Chúa cứu chuộc. Cuộc đời của Mẹ Maria và của thánh Giuse đã được Thiên Chúa bao bọc, đỡ nâng, phù trì. Do đó, chính cuộc đời của hai Đấng đã nói lên niềm vui, sự hạnh phúc vì Thiên Chúa đã cứu chuộc hai Đấng, thánh hiến hai Đấng để các Ngài trở nên cánh tay không thể thiếu trong kế hoạch cứu độ của thiên Chúa. Chính vì thế, lời nguyện nhập lễ Chúa nhật IV Mùa Vọng đã viết :" Lạy Chúa, Chúa đã dùng lời thiên sứ truyền tin mà cho chúng con biết thật Đức kitô, Con Chúa, đã xuống thế làm người. Xin đổ ơn thánh đầy lòng chúng con, để nhờ công ơn con Chúa chịu khổ hình thập giá. Chúa cũng cho chúng con được sống lại hiển vinh ". Thánh Giuse trong biến cố truyền tin của Đức Mẹ cũng được Thiên Chúa mời gọi sống mầu nhiệm, sống những điều hết sức bất ngờ, nên thánh nhân cảm thấy bối rối vì Ngài cảm thấy điều ấy vượt quả sức của Ngài. Tuy nhiên, chính Thiên Chúa đã can thiệp, cho Ngài một dấu chỉ và thánh nhân đã nhận ra dấu chỉ ấy của Thiên Chúa, Ngài là con người có lòng tin. Do đó, Ngài đã chấp nhận sự kiện này và chỉ biết vâng phục, tin tưởng nơi thánh ý Thiên Chúa. Thật lạ lùng và kỳ diệu. Thiên Chúa đã đưa mẹ Maria và thánh Giuse đi vào mầu nhiệm cứu chuộc của Ngài, làm cho hai Đấng tin nhận, tín thác và hoàn toàn vâng phục ý Thiên Chúa.

Càng gần lễ Giáng Sinh, chúng ta càng nhận ra ý nhiệm mầu của Thiên Chúa. Trong ý định phổ độ của Thiên Chúa, chính Ngài đã chọn hai Đấng tuyệt thánh, dành riêng cho hai Đấng những ân huệ cao vời mà không một ai trong nhân loại có thể nhận lãnh. Chính vì thế, hai Đấng đã làm cho lời Xin vâng của mình trở nên hiến lễ nhiệm mầu dâng lên Thiên Chúa. Ý định nhiệm mầu ấy là chọn Mẹ Maria và thánh Giuse cộng tác chặt chẽ vào kế hoạch cứu rỗi nhân loại của Thiên Chúa đến nỗi chúng ta không thể sai lầm khi nói:" Nếu không có Mẹ Maria và thánh Giuse " kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa sẽ diễn ra khác với bây giờ, dù rằng ý định cứu rỗi nhạn loại vẫn không ngừng được thiên Chúa thi hành.

Hôm nay, mừng lễ Chúa nhật IV Mùa vọng, chúng ta cảm tạ tri ân thiên Chúa vì Thiên Chúa đã không bỏ rơi con người khi con người phản nghịch lại tình thương của Thiên Chúa, nhưng qua Mẹ Maria và thánh Giuse, Ngài đã thực hiện ý định phổ độ của ngài qua Người Con Một Yêu Dấu là Đức Giêsu Kitô với sự cộng tác nhiệm mầu của hai Đấng.

Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con càng ngày càng yêu mến Mẹ Maria và thánh cả Giuse. Amen.

ƠN CỨU ĐỘ
Mt 1, 18 - 24
Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Đốt lên cây nến thứ tư của Vòng Hoa, chúng ta sắp kết thúc 4 tuần Mùa Vọng. Theo truyền thống lâu đời từ Bắc Âu, trong khí lạnh của mùa Đông, người ta đã đốt lên những cây nến trên những cành cây xanh uốn vòng. Khung vòng tròn và cành cây xanh là biểu tượng của sự sống tiếp diễn. Người ta đã đốt nến trong những đêm tối nhất trong năm, khi mọi người trông chờ những ngày dài hơn của mùa Xuân sẽ xuất hiện. Theo truyền thống, trên Vòng Hoa Mùa Vọng bao gồm có 4 cây nến. Ba cây nến mầu tím và một cây màu hồng. Bốn cây nến của Vòng Hoa biểu tượng ánh sáng dần dần được dọi chiếu vào thế gian. Ba cây nến mầu tím là biểu tượng của hy vọng, bình an và tình yêu. Ba cây nến tím này được đốt vào các Chúa Nhật thứ nhất, thứ nhì và thứ bốn của Mùa Vọng. Cây nến mầu hồng biểu trưng sự vui mừng được đốt vào Chúa Nhật thứ ba. Đôi khi có cây nến thứ năm mầu trắng được đặt ở giữa Vòng Hoa. Cây nến trắng này được đốt lên vào Lễ Giáng Sinh. Mầu trắng biểu trưng sự tinh trắng như các thiên thần và ngày sinh nhật của Chúa Giêsu. Giáo Hội Công Giáo thường dùng các mầu đặc biệt theo từng mùa, như Mùa Vọng, Mùa Giáng Sinh, Mùa Quanh Năm, Mùa Chay và Mùa Phục Sinh để tôn vinh danh Chúa Giêsu.

Tiên tri Isaia đã xuất hiện rao giảng tại Giêrusalem khoảng năm 742-701 trước Công Nguyên. Trong sự mong đời mịt mù giữa bao thử thách, Isaia đã loan báo một tin vui cho dòng dõi Dân Do-thái: Vì thế, chính Chúa sẽ cho các ngươi một dấu: Này đây một trinh nữ sẽ thụ thai, hạ sinh một con trai và tên con trẻ sẽ gọi là Emmanuel, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta" (Is 7, 14). Đọc lịch sử ơn Cứu Độ, chúng ta nhận biết Thiên Chúa đã thực hiện công trình cứu chuộc qua cả ngàn năm. Một diễn tiến rất chậm rãi qua biết bao nhiêu thế hệ và trải qua nhiều biến cố. Thiên Chúa đã sai tiên tri loan tin mừng cứu độ qua một nhóm nhỏ trung tín còn sót lại. Biết rằng xưa kia, người ta không có in ấn sách vở, truyền thanh, truyền hình hay một phương tiện kỹ thuật văn minh nào để phổ biến. Các sứ điệp chỉ được truyền miệng và ghi chép vào các cuốn sách (papyrus) lưu giữ qua nhiều đời.

Dấu chỉ: Một trinh nữ sẽ thụ thai và hạ sinh một con trai là một sứ điệp cao trọng. Sứ điệp này đã từ từ khai mở về ý nghĩa mầu nhiệm Con Chúa giáng trần. Thiên Chúa sẽ thực hiện lời hứa với tổ tiên loài người sau khi đã phạm lỗi. Thiên Chúa phán với con rắn là ma quỉ: Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng dõi mi và dòng dõi người ấy, dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi và mi sẽ cắn gót nó (Stk 3, 15). Chúng ta là hậu sinh được học biết nhiều về qúa trình lịch sử bốn, năm ngàn năm. Đã có biết bao dòng dõi và thế hệ con người liên đới trong công cuộc cứu rỗi này, đặc biệt là Dân Do-thái, dân được tuyển chọn. Dân sống giữa một thế giới đa dân tộc từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam, từ khắp các vùng văn hóa. Đọc lịch sử tôn giáo, chúng ta nhận biết có rất nhiều các tôn giáo cổ đã xuất hiện từ rất sớm trong thời kỳ này như các đạo Hindu, Balamôn, Do-thái Giáo, Phật Giáo, Khổng Giáo, Lão Giáo và vô số đạo thờ các Thần ngoại. Hiện nay, trên thế giới có khoảng 4, 200 tôn giáo lớn nhỏ khác nhau.

Trong cuộc lữ hành của người Do-thái, họ đã va chạm với rất nhiều nhóm người với truyền thống tôn giáo và văn hóa khác nhau. Sứ điệp loan báo về Đấng Cứu Thế cũng dễ bị lu mờ qua thời gian năm tháng. Chỉ có một dòng dõi rất nhỏ đã cưu mang sứ mệnh đón chờ con Chúa giáng trần. Thánh Matthêô đã ghi lại gia phả Đức Kitô, con cháu của Đavít và con cháu tổ phụ Abraham. Matthêo tóm gọn lich sử: từ tổ phụ Abraham đến vua Đavít là mười bốn đời; từ vua Đavít dến thời lưu đầy ở Babylon là mười bốn đời và từ thời lưu đầy ở Babylon đến Đức Kitô cũng là mười bốn đời (Mt 1, 17). Chúng ta suy tư về sứ điệp tin mừng đã được thực hiện nơi dòng dõi Dân tộc đã được Thiên Chúa tuyển chọn.

Trong thơ gởi cho tín hữu thành Rôma, thánh Phaolô đã viết: Tin mừng ấy Thiên Chúa đã hứa trước bằng lời các tiên tri trong Kinh Thánh về Con của Người (Rm 1, 2). Khi thời gian đã mãn, Thiên Chúa thực hiện ý định nhiệm mầu của Người để cứu độ trần gian. Đây là biến cố nhiệm mầu duy nhất xảy ra trong thời gian và không gian. Sự linh thiêng kết hợp giữa thần thánh và con người. Ngôi Lời Nhập Thể trong cung lòng của Đức Trinh Nữ: Chúa Kitô giáng sinh trong hoàn cảnh sau đây: Mẹ Người là Maria đính hôn với Giuse, trước khi về chung sống với nhau, đã thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần (Mt 1, 18). Sự kiện cao siêu nhiệm mầu vượt trên mọi trí hiểu của loài người. Cho dù đã được các tiên tri loan báo, được các thế hệ truyền rao chuẩn bị cả ngàn năm nhưng cho tới ngày hôm nay, nhiều người vẫn chưa thể chấp nhận sự kiện lạ lùng này. Họ không thể tin và chấp nhận Ngôi Hai Thiên Chúa giáng trần làm người như chúng ta.

Nhiều người không tin vào Đấng Cứu Thế giáng trần nhưng họ vui mừng vì dịp Giáng Sinh sắp đến. Cứ mùa Giáng Sinh về, chúng ta thấy phố xá rộn rã, thiệp chúc mừng trao đổi, chuẩn bị qùa cáp, ánh sáng nhấp nháy mọi nơi và chăng hoa kết đèn mọi góc phố. Cho dù con người có niềm tin hay không, đều mừng vui và hớn hở. Ít ra đây cũng là một tin vui cho mọi người trần thế. Một cơ hội tốt để mọi người giao lưu trao đổi tâm tình. Chúa Giêsu vẫn âm thầm đi vào lòng người qua nhiều cách thế. Có biết bao nhiêu nhà hảo tâm chia sẻ món qùa nho nhỏ cho những người kém may mắn. Ánh sáng của niềm hy vọng chiếu tỏa cùng khắp khiến lòng người nao nức mừng vui. Một điều rất lạ là ai cũng muốn sự bình an, giải thoát và được hưởng nhờ ơn cứu độ nhưng lại không muốn chấp nhận Đấng ban ơn cứu độ.

Chúa Giáng Sinh mang lại niềm vui lớn cho nhân loại vì Thiên Chúa sẽ ở cùng chúng ta. Thánh Matthêo diễn tả: Tất cả sự kiện này đã được thực hiện để làm trọn lời Chúa dùng miệng Tiên tri phán xưa rằng: "Này đây một trinh nữ sẽ mang thai và hạ sinh một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta" (Mt 1, 22-23). Chúa sẽ đến với từng tâm hồn. Chúng ta có can đảm mở rộng tâm hồn đón Chúa hay không? Chúa có thể sẽ đến với chúng ta qua hình dáng của một trẻ thơ bọc trong khăn hay một trẻ mồ côi đầu đường xó chợ và không nơi nương tựa. Chúa sẽ đến như một người vô gia cư không có nơi gối đầu hoặc một người bị đánh dầm bập tả tơi ngoài phố chợ. Vì khi đón nhận một người cùng khổ là chúng ta đang đón nhận chính Chúa trong đời sống của chúng ta.

Suy tới đây, dừng lại đôi phút để suy nghĩ và cầu nguyện xem chúng ta đang chọn thái độ nào. Đôi khi chúng ta chỉ mong muốn có một lễ Giáng Sinh hoành tráng bên ngoài, một hang đá tuyệt đẹp và một món qùa đáng giá. Chúng ta tìm mua tượng Chúa Hài Nhi thật dễ thương đặt nằm trong máng cỏ với các mục đồng và súc vật bao quanh. Nếu chúng ta chỉ chú ý chuẩn bị những hình thức tổ chức trang trí bên ngoài mà không dọn tâm hồn thật sự để đón Chúa, thì chúng ta cũng đâu khác gì những người ngoại không tin vào Chúa.

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết mở rộng trái tim yêu thương để đón Chúa. Xin Chúa ở lại với chúng con và ban ơn cứu độ. Xin tẩy sạch tâm hồn chúng con khỏi những sự hoen ố, ích kỷ, tham lam và thơ ơ nguội lạnh. Xin Chúa sưởi ấm tâm hồn với ngọn lửa yêu thương để chúng con biết chia sẻ cuộc sống với tha nhân.

Nguồn vietcatholic.org

5299    20-12-2013 08:52:33