Sidebar

Thứ Ba
16.04.2024

Chúa Nhật Lễ Chúa Hiển Linh năm A

  1. Mỗi Người Là Một Vì Sao Của Hài Nhi Giêsu
  2. Hãy Làm Cho Ánh Sáng Tỏa Sáng
  3. Bền Tâm Tìm Chúa
  4. Tiến Dâng Lễ Vật
  5. Sân Khấu Cuộc Đời
  6. Hành Trình Đức Tin
  7. Đức Kitô Ở Đâu?
  8. Thiên Chúa Tỏ Mình
  9. Đi Tìm Chúa Nhờ Ngôi Sao Lạ
  10. Trở Nên Ánh Sao Dẫn Đường Cho Tha Nhân
  11. Ngôi Sao Đức Tin
  12. Lễ Hiển Linh
  13. Những Ước Mơ Cao Cả
  14. Một Khi Được Giương Cao Lên...
  15. Hành Trình Đức Tin... Ánh Sáng Cho Tất Cả
  16. Món Quà Tình Thương
  17. Lễ Vật Dâng Chúa
  18. Dõi Theo Ánh Sao
  19. Hãy Chiếu Sáng Như Những Vì Sao
  20. Thiên Chúa Tỏ Mình
  21. Niềm Vui Gặp Gỡ
  22. Khát Vọng Tìm Chúa
  23. Thành Tâm Thiện Chí Sẽ Gặp Chúa
  24. Lễ Hiển Linh: Chúa Tỏ Vinh Quang Người Nơi Một Hài Nhi
  25. Gặp Chúa
  26. Chúa Tỏ Mình
  27. Hướng Lên
  28. Dõi Theo Ánh Sao

MỖI NGƯỜI LÀ MỘT VÌ SAO CỦA HÀI NHI GIÊSU
Mt 2, 1 - 12
Jos. Vinc. Ngọc Biển

Lễ Chúa Giáng Sinh là một sự kiện rất quan trọng và vĩ đại trong lịch sử loài người. Vĩ đại bởi vì được khởi đi từ chính Thiên Chúa do lòng yêu thương vô hạn của Người. Quan trọng bởi vì Đức Giêsu chính là Ánh Sáng đến để soi vào trong bóng tối tội lỗi và giải thoát muôn dân khỏi ách tử thần. Hồng ân này không phải chỉ dành riêng cho một thành phần nào, hay cụ thể là độc quyền của dân Israel, mà là cho toàn nhân loại. Việc Chúa tỏ mình ra cho các nhà Đạo Sĩ qua ánh sao lạ dẫn đường và hành trình của các ngài tìm đến để bái lạy Hài Nhi là một dấu chứng về ơn cứu độ phổ quát được ban cho toàn thể nhân loại.

Vì vậy, hôm nay, chúng ta mừng lễ Hiển Linh, tức là lễ Chúa tỏ mình ra cho muôn dân. Có thể nói, lễ này được gọi là lễ Giáng Sinh cho dân ngoại.

1. Các Đạo Sĩ là ai?

Vào thời bấy giờ, thuộc vùng Lưỡng Hà gồm các nước: Iran, Irak và xa hơn một chút có các nước như Afganistan và Ấn Độ. Các vùng này phát triển những nền văn minh, khoa học kỹ thuật tương đối rực rỡ thời bấy giờ. Song song với những phát minh khoa học là những tôn giáo lớn và huyền bí. Trong bối cảnh đó, những nhà hiền triết xuất hiện trong triều đình, nơi đô thị và cả chốn rừng sâu. Họ là những người truy tầm chân lý, khám phá những giá trị tâm linh và chú tâm đến những văn hóa có tính nhân sinh quan trong thiên nhiên, cuộc sống và qua những biến cố.

Bản thân họ là những người công chính, hướng thiện và tôn trọng sự thật, mặc dù chưa biết Chúa là ai. Thật vậy, họ đã dùng khả năng Thiên phú để khám phá và đi sâu vào thế giới tâm linh. Họ thường quan sát bầu trời qua các tinh tú để hiểu được Thiên ý và Thiên mệnh của con người. Những người đó, người ta gọi họ là các nhà Đạo Sĩ hay Chiêm Tinh hoặc vua.

Khi Chúa Giêsu Giáng Sinh, Ngài đã tỏ mình ra cho các Đạo Sĩ qua dấu lạ ngôi sao. Ánh sao đó đã trở nên biển chỉ đường để dẫn các Đạo Sĩ đến gặp Hài Nhi Giêsu mới sinh tại Belem. Chúa đã dùng các ông như là những nhân chứng để loan báo cho muôn dân biết Ngài là Ánh Sáng thật, Ánh Sáng đã chiếu soi muôn dân.

Như vậy, nếu trước Công Nguyên, vào khoảng năm 750 đến năm 150, có các tiên tri như Isaia, Giêrêmia, Êzêkiel và Đaniel đã lần lượt loan báo về biến cố vĩ đại này rằng: "Kìa tối tăm đang bao bọc địa cầu, vì u minh phủ kín các dân, nhưng trên mình ngươi Chúa đang đứng dậy, vì vinh quang của Ngài xuất hiện trên mình ngươi. Chư dân sẽ lần bước tìm về sự sáng của ngươi, và các vua hướng về ánh bình minh của ngươi", thì sau khi Đức Giêsu Gáng Sinh, có 3 Đạo Sĩ Đông Phương là những người đã nhận ra Ánh Sáng kỳ diệu này và đã đến để bái thờ. Sự hiện diện của các ngài chính là một lời chứng cho mọi người rằng: Đức Giêsu là ánh sáng soi cho muôn dân; Là Chúa các chúa; là Vua các vua; là Thủ Lãnh của cả nhân loại.

Các ngài đến để thực hiện những gì đã được loan báo trước đó trong Cựu Ước. Thật vậy: "Muôn dân muôn nước sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi, vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước".

2. Hành trình tìm Chúa của các Đạo Sĩ  

Khi đã lần theo dấu vết ngôi sao lạ dẫn đường, các nhà Đạo Sĩ đã gặp phải không ít khó khăn trên hành trình đó như ánh sao bỗng vụt lặn không còn dẫn đường chỉ lối nữa, họ phải hỏi thăm... nhưng thật không may cho các Đạo Sĩ, họ hỏi thăm ngay phải con cáo già Hêrôđê, vì thế, lập tức họ là những đối tượng truy sát đầu tiên trong tâm trí của vị vua tàn ác này dưới những lời tưởng chừng như ngọt ngào. Câu hỏi: "Vua người Dothái mới sinh ra hiện đang ở đâu? Chúng tôi đã nhận thấy ngôi sao của Người ở Ðông phương, và chúng tôi đến để triều bái Người". Đây cũng chính là khởi đầu của một hành trình gian khó và đầy nguy hiểm đến với các Đạo Sĩ.

Việc các Đạo Sĩ tìm đến với Hài Nhi Giêsu hôm nay đã ứng nghiệm lời tiên tri Isaia đã loan báo mà bài đọc I vừa nhắc lại: "Chư dân sẽ lần bước tìm về sự sáng của ngươi, và các vua hướng về ánh bình minh của ngươi[...]. Những con lạc đà tràn ngập vây phủ lấy ngươi, những lạc đà một bướu tự xứ Mađian và Epha; tất cả những ai từ Saba đi tới, đem theo vàng và nhũ hương, và họ sẽ tuyên rao lời ca ngợi Chúa". Sự kiện Chúa tỏ mình ra cho các Đạo Sĩ là dấu chứng rõ ràng rằng: "nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được nên đồng thừa tự, đồng một thân thể và đồng thông phần với lời hứa của Người trong Chúa Giêsu Kitô".

Quả thật, hôm nay các Đạo Sĩ đã trở thành những chứng nhân của Chúa. Họ đã được Chúa thương mạc khải để ngôi sao dẫn đường. Họ cũng đã nhạy bén để tìm ra những dấu chỉ và tin tưởng đi tìm chân lý. Và, họ cũng đã gặp được Đấng là khởi đầu và cùng đích của con người cũng như thế giới, nên họ đã dâng những lễ phẩm thật ý nghĩa.

Trước tiên là vàng:

Vàng được xếp vào hàng kim loại vua của các loại kim loại. Vàng là loại quý hiếm, nên dâng về cho Vua các vua là điều hợp lý. Khi dâng vàng cho Chúa, ngầm hiểu rằng: Đức Giêsu là Đấng "sinh ra để làm vua". Tuy nhiên là một vị vua hiền từ, nhân hậu và chết vì yêu.

Sau đó là nhũ hương:

Nhũ hương thường được dùng trong những việc thờ phượng. Khi đốt lên, hương và khói bay cao được ví như lời kinh cầu nguyện bay lên trời. Trên trời là nơi được hiểu là chốn của các thần minh. Và, dần dần, người ta hiểu rằng nhũ hương chính là biểu tượng cho Thiên tính của Đức Giêsu.

Cuối cùng là mộc dược:

Khi nói đến mộc dược, người ta nghĩ ngay đến việc dùng để xông hay ướp xác lúc an táng. Khi cắt nghĩa về mộc dược, người ta thường ám chỉ về nhân tính của Đức Giêsu. Nếu nhũ hương ám chỉ Thiên Tính, thì mộc dược muốn nói về nhân tính của Đức Giêsu.

Như vậy, việc dâng cho Chúa vàng, nhũ hương và mộc dược, các đạo sĩ đã xác nhận và làm chứng rằng Đức Giêsu là Vua. Ngài là con Chúa Cha, và do lòng yêu thương Thiên Chúa đã trao ban chính Con Một của mình. Ngài là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, Ánh Sáng bởi Ánh Sáng, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật. Đồng thời, Ngài cũng là con người như chúng ta, Ngài đến để yêu thương và cứu chuộc hết mọi người.

3. Sứ điệp Lời Chúa

Khi nói về lễ Hiển Linh, chúng ta nghĩ ngay lễ này là lễ ánh sáng. Còn hiểu theo nghĩa thần học thì đây là lễ Chúa tỏ mình ra cho các Đạo Sĩ, hay còn gọi là lễ Giáng Sinh cho dân ngoại.

Thật vậy, hôm nay, Chúa tỏ mình ra cho nhân loại, không trừ một ai. Ai cũng cần phải được cứu độ. Tuy nhiên, nhiều lúc, chúng ta nghĩ chỉ có chúng ta mới được cứu độ, còn những người không cùng niềm tin với chúng ta thì không được cứu độ. Đức Giêsu là độc quyền sở hữu của chúng ta, còn những người khác không được đụng hay nghĩ tới... Thực ra, nhiều người không phải là Công Giáo, nhưng họ cũng sống tốt, thậm chí còn hơn cả chúng ta nữa. Đôi khi chúng ta là đạo gốc nhưng lại bị loại ra ngoài hoặc cố tình không nhận ra Chúa như Hêrôđê. Thật vậy: "Từ phương đông phương tây, nhiều người sẽ đến dự tiệc cùng các tổ phụ Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp trong Nước Trời. Nhưng con cái Nước Trời thì sẽ bị quăng ra chỗ tối tăm bên ngoài" (Mt 8,11-12).

Tình trạng này thật đúng khi có dịp đi đến những trung tâm hành hương. Nếu quan sát, chúng ta thấy những người lương dân... họ sùng kính Đức Mẹ, các thánh hay các vị tử đạo còn hơn chúng ta. Ngược lại, người Công Giáo thì lại cho rằng, mình là con ruột của Chúa, nên thế nào cũng được ơn, vì vậy không cần phải biểu lộ ra bề ngoài, mà là đạo tại tâm. Nói vậy có thể đúng với quan điểm, cung cách và lựa chọn của một số cá nhân. Tuy nhiên, cũng cần phải xem lại, vì nếu không, đây chỉ là cách ngụy biện, là bình phong che lấp đi bản chất ươn lười của chúng ta.

Khi suy niệm đến đây, chúng ta nhớ lại lời Chúa nói: "Chính các con là ánh sáng cho trần gian" (Mt 5,14). Và nếu đã là ánh sáng thì phải chiếu tỏa ra như Chúa dạy : "Một thành xây trên núi không tài nào che giấu được. Cũng chẳng có ai thắp đèn lên rồi lấy thùng úp lại, nhưng đặt trên đế, và nó soi sáng cho mọi người ở trong nhà. Cũng vậy, ánh sáng của các con phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp các con làm, mà tôn vinh Cha các con, Đấng ngự trên trời" (Mt 5,15-16).

Mỗi người chúng ta cũng chính là những vì sao soi đường dẫn lỗi cho người khác đến với Chúa: "Anh em hãy chiếu sáng như những vì sao trên vòm trời"(Pl 2,15).

Sao của chúng ta hôm nay không phải là sao: "bóng đá "; "ca nhạc "; "đua xe "; "ăn chơi "; "hận thù"..., nhưng chúng ta phải là những "siêu sao", tức là vượt lên trên tất cả những thứ sao bình thường. Phải trở nên "siêu sao" thì mới tỏa sáng cho mọi sao khác, nếu không chúng ta chỉ có thể chiếu sáng cho những  "fan" hâm mộ chúng ta mà thôi. Hãy là "siêu sao", của "tình yêu"; "tha thứ"; "hy vọng"; "công bình"; "bác ái" và cuối cùng chính là sao "đạo đức". Thật vậy, Thiên Chúa của chúng ta là Thiên Chúa ẩn mình. nhưng Ngài muốn tỏ mình ra cho người ta thấy qua cách sống yêu thương của chúng ta. Nói cách khác, khi chúng ta yêu thương nhau thì Thiên Chúa ở trong chúng ta , bởi vì "Thiên Chúa là tình yêu"(1Ga 4,18).

Trong cuộc sống thường ngày của mỗi chúng ta, từ lời nói, hành động và việc làm, chúng ta hãy biểu lộ ra cho mọi người thấy chỉ có một động lực là tình yêu, chỉ có một hành động là tình yêu, và cũng chỉ có một mục đích là tình yêu. Xác tín như thế, ấy là vì chúng ta đang thực hiện lời Chúa dạy: "Cứ dấu này mà mọi người sẽ nhận biết chúng ta là môn đệ của Chúa, đó là chúng ta yêu thương nhau". Tiếp nối lời giáo huấn của Đức Giêsu, thánh Phaolô cũng khuyên nhủ tín hữu ở Philípphê: "Giữa thế hệ sa đoạ này, anh em phải chiếu sáng như những vì sao trên vòm trời" (Pl 2, 15).

Lạy Chúa, Đông Phương vẫn được coi là huyền bí, là nơi có những suy niệm siêu hình và tinh tế. Xin Chúa hãy thánh hóa Đông Phương và đem những người thành tâm thiện chí về với Giáo Hội. Xin cũng cho chúng con biết ý thức ơn cứu độ mà Đức Giêsu đem lại là ơn cứu độ phổ quát, vì thế, mỗi người chúng con phải trở nên sao sáng dẫn đường cho người khác đến với Chúa. Amen.

HÃY LÀM CHO ÁNH SÁNG TỎA SÁNG
Mt 2, 1 - 12
Linh mục Antôn Nguyễn Văn Độ

Tiếp liền sau Đại lễ Giáng Sinh, Giáo hội cử hành lễ Chúa Hiển Linh hay còn gọi là lễ Chúa Tỏ Mình. Theo một truyền thống rất xa xưa từ thế kỷ thứ II, Thánh Giustinô đã nói tới là Chúa Giêsu đã sinh ra trong một chuồng bò lừa tại Belem. 40 ngày sau, Thánh Giuse và Đức Maria đem Hài Nhi lên Đền thờ Giêrusalem để dâng cho Thiên Chúa như luật dạy. Phúc Âm Thánh Matthêô cho biết: sau khi dâng Chúa trong Đền Thánh, Thánh Gia không trở về Nagiarét ngay. Trong khoảng thời gian này đã xảy ra nhiều việc liên quan với nhau. Từ Đền Thờ, Thánh Gia lại trở về Belem. Chính nơi đây, các đạo sĩ, do một ngôi sao dẫn đường từ Phương Đông tới thờ lạy Chúa Giêsu và dâng cho Ngài lễ vật: vàng, nhũ hương và mộc dược. Hêrôđê thấy các đạo sĩ không trở lại Giêrusalem báo tin như lời mình dặn, sợ ngai vàng của mình bị đe dạo, ông ra lệnh truyền giết các trẻ em ở Belem và các miền phụ cận từ 2 tuổi trở xuống. Thánh Giuse được Thiên thần báo tin, đã đem Chúa Giêsu và Đức Mẹ sang Ai-Cập và ở đó cho tới khi Hêrôđê băng hà.

Như thế, chúng ta thấy Lễ Chúa Hiển Linh trước hết có nghĩa là lễ Chúa tỏ mình ra cho các dân tộc, mà Ba Nhà Đạo sĩ là những đại diện.

"Epiphaino" có nghĩa là  Thiên Chúa tự mặc khải trong nhân tính của Ðức Kitô, tự làm cho mình có thể trông thấy được. Cụ thể như dùng ánh sao đêm biểu lộ cho Ba Ðạo Sĩ biết, dẫn họ lên đường đến nơi Hài Nhi vừa mới sinh để nhận ra Ðức Giêsu là Ðấng Cứu Thế. Nếu lễ Giáng Sinh người ta nêu bật sự dấu ẩn của Thiên Chúa trong sự khiêm hạ với điều kiện là người, trong Trẻ Thơ Belem. Thì trong lễ Hiển Linh lại nêu bật việc Thiên Chúa tự tỏ mình, xuất hiện qua chính nhân tính.

Việc các Ðạo Sĩ đên tôn thờ Chúa Hài Nhi đã sớm được nhìn nhận như là ứng nghiệm những lời tiên tri trong Kinh Thánh. Isaia có viết như sau: "Các dân tộc sẽ bước đi theo ánh sáng của ngươi, và các vua chúa tiến bước theo nguồn sáng của ngươi đang mọc lên" (Is 60,3.6). Ánh sáng của Chúa Kitô, khi xưa như được chiếu tỏa trong hang Bêlem, nay tỏa sáng trên khắp địa cầu.
Trong lễ Chúa Tỏ Mình, Giáo Hội đề nghị một văn bản rất ý nghĩa của ngôn sứ Isaia : " Hãy đứng lên, hãy toả sáng ra, hỡi Giêrusalem! Vì sự sáng của ngươi đã tới, vì vinh quang của Chúa đã bừng dậy trên mình ngươi. Kìa tối tăm đang bao bọc địa cầu, vì u minh phủ kín các dân, nhưng trên mình ngươi Chúa đang đứng dậy, vì vinh quang của Ngài xuất hiện trên mình ngươi. Chư dân sẽ lần bước tìm về sự sáng của ngươi, và các vua hướng về ánh bình minh của ngươi." (Is 66,1-3).

Ðây là một lời mời hướng tới Giáo Hội Chúa Kitô và hướng tới từng người trong chúng ta, mời gọi ta ý thức hơn về sứ mệnh và trách nhiệm của mình đối với thế giới trong việc làm chứng và đem ánh sáng mới của Tin Mừng đến khắp thế gian. Trong số mở đầu Hiến chế về Giáo Hội có viết: "Ánh sáng muôn dân là chính Chúa Kitô, nên Thánh Công Ðồng đang nhóm họp trong Chúa Thánh Thần hết lòng mong ước soi dẫn mọi người bằng ánh sáng của Chúa phản chiếu trên dung nhan Giáo Hội bằng việc rao truyền Phúc âm cho mọi tạo vật" (LG, 1). Tin Mừng là ánh sáng không được dấu đi, nhưng để trên giá. Giáo Hội không phải là ánh sáng, nhưng nhận ánh sáng của Chúa Kitô, tiếp nhận nó để được soi chiếu, và phổ biến ánh sáng đó ra với tất cả sự rạng ngời của nó. Và đây là điều cũng phải xảy ra trong cuộc sống cá nhân...
Các thượng tế tại Giê-ru-sa-lem được Hêrôđê triệu tập để tư vấn cho ông về nơi Đấng Cứu Thế đã được sinh ra, cũng như cung cấp cho nhà vua các thông tin mà họ đã thu thập được trong truyền thống Kinh Thánh. Tuy nhiên, ý Chúa nhiệm mầu, vì ý định của Hêrôđê không trong sạch, ý định đó các nhà đạo sĩ là sứ giả cho những người tìm kiếm Thiên Chúa đã được mộng báo. Việc các nhà đạo sĩ đến kính viếng Chúa Hài Nhi cho ta thấy, sứ mạng của Đức Giêsu không chỉ dành cho Dân được tuyển chọn, nhưng cho cả nhân loại. Việc Ba Nhà Đạo Sĩ đến Giêrusalem hỏi đường, cho thấy mối liên lạc giữa sự khôn ngoan ngoại giáo và mạc khải Kitô Giáo thể hiện nơi con người của Chúa Giêsu thành Nazareth mà con người khát mong tìm kiếm. Sứ vụ phổ quát của Chúa Kitô được Thánh Phaolô gọi là sự mặc khải của mầu nhiệm : " Ấy vì dân ngoại, cùng (với Israel) là kẻ thừa tự, là Thân mình, và là đồng hưởng lời hứa trong Ðức Yêsu Kitô, nhờ bởi Tin Mừng" (Ep 3, 2). Ơn cứu chuộc  sẽ mở ra cho muôn người thuộc mọi quốc gia, và các dân ngoại đã trở thành người đồng thừa tự, cùng được chia sẻ lời hứa trong Chúa Giêsu Kitô "(Ep 3, 6). Sự gặp gỡ giữa sự khôn ngoan của những người sống bên ngoài mạc khải ( là các đạo sĩ, dân ngoại) , và những người hiển nhiên thừa hưởng lời hứa (Dân Do Thái) từ sự ra đời của Chúa Kitô sẽ cho thấy sứ mệnh của Chúa Giêsu trong sứ vụ công khai của mình, và bản chất của Giáo Hội mà Chúa Giêsu sẽ xây dựng.
Giáo Hội với sứ mạng phổ quát của mình, phải là nơi đáp ứng những khát vọng sâu xa của con người mọi nơi, mọi thời đại về Thiên Chúa. Giống như Chúa Kitô, Ngài đã chiếu tỏa vinh quang cho dân ngoại. Giáo Hội cũng mời gọi chúng ta dõi theo ánh sao cùng ba nhà Đạo Sĩ đến chiêm ngắm Hài Nhi Giêsu, Thiên Chúa làm người trong khiêm hạ và nghèo khó, nhất là đón nhận chính Hài Nhi ấy là Ánh Sáng và là Chúa Kitô vào trong chúng ta, để chúng ta có sống là sống chính sự sống của Người, và lấy các tâm tình, tư tưởmg và hành động của Người làm tâm tình, tư tưởng và hành động của chúng ta. Như thế, mừng Giáng Sinh là biểu lộ niềm vui, sự mới mẻ, ánh sáng mà biến cố Giáng Sinh này đã đem lại trong toàn cuộc sống chúng ta, để chúng ta cũng là những người đem niềm vui, sự mới mẻ đích thật, và ánh sáng của Thiên Chúa đến cho mọi người. Amen.

BỀN TÂM TÌM CHÚA
Mt 2, 1 - 12

Mt 1, 18 - 24: Thiên Chúa là Đấng trung tín, Người đang thực hiện lời đã hứa ....

Anh chị em thân mến,

Đọc qua bài Phúc âm ngày lễ hôm nay, có một văn sĩ cảm hứng, nên đã thêu dệt câu chuyện về việc sinh ra của Đấng Cứu thế như sau: tôi xin nói lại, câu chuyện sau đây chỉ là sự thêu dệt và là ý tưởng của văn sĩ nọ thôi... Câu chuyện kể: Chúa Hài Nhi sinh ra trong máng cỏ bò lừa, rất hôi tanh và lạnh giá vì không có lò sưởi. Chúa Nhi biết rõ như thế, nhất là biết cha mẹ của mình đã quá vất vả mới có được chổ ở này, vì họ nghèo quá! Chúa Nhi thông cảm cho họ lắm. Các mục đồng lại đến viếng thăm làm cho cha mẹ và cả Chúa Nhi rất vui... Mấy hôm sau lại có ba đạo sĩ đến thăm, dâng lên Chúa Nhi, vàng, nhũ hương và mộc dược. Chúa Nhi hiểu rõ lòng của họ, nên đã mĩm cười với họ khi họ tiến dâng lễ vật. Sau đó họ lui xuống để bò lừa dâng lên hơi ấm; trong lúc đó ba đạo sĩ nói nhỏ với nhau, nhưng Chúa Nhi nghe rõ lời họ nói: vua Hêrôđê dặn họ khi tìm thấy Vua mới sinh, phải trở về cho ông hay để ông cũng đến triều bái người. Chúa Nhi nhìn thấu ruột gan của Hêrôđê, biết ông đang tìm cách giết mình. Hơi tức giận, Chúa Nhi dùng quyền năng mình, biến nên một tấm lưới vô hình trong suốt, bao bọc xung máng cỏ nhà đang ở, để người ngoài nhìn vào không thấy gì, cũng không thấy ai....Sau khi ba nhà đạo sĩ đi rồi, Chúa Nhi dùng quyền năng của mình, làm cho nơi mình đang ở bay đi sang qua Ai cập; dù bay, nhưng mọi người vẫn thấy căn nhà như đứng yên tại chổ...Chỉ trong nháy mắt, đã tới bên Ai Cập...

a/. Câu chuyện trên đây chỉ là tưởng tượng, không có thật, và cũng đi ngược lại ý nghĩa mầu nhiệm giáng sinh. Thực ra văn sĩ không đồng ý với Chúa Hài Nhi, vì đã để cho vua Hêrôđê rượt đuổi, tìm giết mình. Nhưng điều này lại là cốt lỏi của mầu nhiệm giáng sinh, của bài học của khiêm hạ tột cùng của Đấng cứu thế. Vì yêu thương nhân loại, Chúa Nhi sẵn sàng sinh ra trong cảnh nghèo nàn, vất vả, bị rượt đuổi như thế vì vâng lời Chúa Cha, nhất là để làm trọn chương trình cứu rỗi... Đó là phần Chúa Hài Nhi. Bên dưới đây chúng ta hãy bàn về các nhà đạo sĩ đông phương:

b/. Các đạo sĩ đông phương:

  • Họ phấn đấu đi tìm chân lý và sự khôn ngoan: Các ông đã nhiều năm nghiên cứu, tìm kiếm ánh sao lạ xuất hiện trên bầu trời, từ đó tìm ra ý nghĩa của biến cố. Thái độ của họ là cởi mở, sẵn sàng đi tìm chân lý, nên khi thấy ngôi sao lạ, các ông đã cảm nhận ra đó là dấu lạ từ Thiên Chúa.
  • Họ đã lên đường tìm kiếm Chúa Hài nhi, trong đức tin: với niềm xác tín riêng tư, họ bạo dạng lên đường tìm Chúa. Chính đức tin đã thúc đẩy họ lên đường; họ tự mình dấn thân vào cuộc hành trình vất vả tìm kiếm và mong gặp chân lý. Có khi thiên hạ cho là điên khùng, nhưng họ bất chấp; họ bỏ ngoài tai...
  • Họ đã hỏi thăm sự giúp đở của dân chúng : trên đường đi, có khi ánh sao biến mất, họ vẫn phải nhờ sự giúp đỡ của mọi người xung quanh... nhất là những người khôn ngoan như hỏi các kinh sư trong bài Phúc âm hôm nay...
  • Họ chấp nhận điều Thiên Chúa dẫn họ tới, và tin vào đó : Họ đi tìm vị vua, vất vả biết bao nhiêu, vậy mà khi bước vào nhà, họ chỉ thấy một Hài nhi nhỏ bé với ông thợ mộc và Mẹ Nguời trong cảnh nghèo nàn. Chẳng có gì quý giá, chẳng có gì là dòng dỏi vua chúa cả! Làm sao tin? Thế mà các đạo sĩ đã tin; họ tin vào sự hướng dẫn của Thiên Chúa qua những dấu hiệu rất tầm thường.

c/. Gợi ý sống và chia sẻ: đời sống của mỗi người kitô hữu cũng là một cuộc hành trình tìm kiếm Thiên Chúa, dù không vất vả như ba đạo sĩ, nhưng phần ta, ta có bền tâm đi tìm Chúa như họ không? Ta có để đức tin hướng dẫn ta trong hành trình tìm Chúa không?

TIẾN DÂNG LỄ VẬT
Mt 2, 1 - 12

Anh chị em thân mến.

Trong khung cảnh của ngày lễ khánh thành nhà thờ, nhiều người cùng tiến bước lên đường, hướng về cùng một nơi, đó là nơi mà ngôi nhà thờ mới được hoàn thành. Những người này đã được báo tin qua những cánh thiệp mời, qua những lời tha thiết. Những người tới đây cùng hoà chung niềm vui của biết bao người, cùng tận hưởng niềm vui chung với sự chuẩn bị thật chu đáo, bằng công sức, của cải vật chất mà họ gọi là lễ vật. Còn những người không có mặt thì sao? Có phải không được biết gì hết không?

Có người không hay biết gì hết về ngày lễ hôm nay, nên họ không thể đến được. Có người biết rất rỏ ngày giờ và lý do của ngày lễ, nhưng họ không được mời trực tiếp, nên họ không thể hoà niềm vui chung. Nhưng cũng có những người biết rỏ và được báo tin, được mời gọi tha thiết, vậy mà giờ này họ cũng không có mặt để hoà cùng niềm vui với mọi người. Sự vắng mặt với đầy đủ lý do, có khi chính đáng, cũng có khi không chính đáng. Có những người cũng lên đường nhưng lại không đến nơi được. Có những người không cảm thấy vui cùng niềm vui với mọi người nên họ cũng không đến.

Những nhà đạo sĩ từ phương xa họ nhận được lời mời, họ vui mừng chuẩn bị hành trang lên đường, họ vui mừng vì lễ vật của họ đã được trao một nơi thật xứng đáng, họ càng vui mừng hơn khi họ đã hoà được niềm vui của mọi người và Thiên Chúa.

Những người Do Thái, những người kinh thành và cả Hêrôđê đã nhận được lời mời trước tiên. Họ lại tính toán hơn thiệt, họ không dám lên đường, vì họ sợ. Trước tiên họ sợ cực khổ cho bản thân; họ không muốn vất vã để đến với người khác, vì họ quen ở yên một chỗ để người khác đến với họ và cung phụng cho họ. Tiếp đến họ sợ mất đi danh vọng mà họ cố công để tìm kiếm được, nên giờ đây họ không muốn từ bỏ nó. Họ cũng sợ mất đi những của cải vật chất mà họ rất trân trọng, vì họ sợ phải tiến dâng lễ vật, họ không muốn từ bỏ. Họ còn sợ mất đi bản thân mình vì họ quá coi trọng bản thân và yêu quý nó. Nên họ tìm cách phá đi sự việc mà họ lo sợ. Nhưng họ đâu biết rằng: những gì là của Thiên Chúa thì con người không thể làm gì được. Chính vì thế họ luôn sống trong lo sợ, họ không thể có được niềm vui.

Niềm vui chỉ đến được với những tâm hồn thư thái, biết từ bỏ và cho đi, còn với những tâm hồn luôn tính toán và so đo thì khó mà tìm được niềm vui.

Trong cuộc sống đời người, chúng ta cũng mãi miết đi tìm, nhưng chúng ta có tìm được gì không? Giờ đây, mỗi người để một ít phút suy tư, nhìn lại quãng đời đã qua .... Chúng ta đã từng được mời gọi đến với Chúa, trở về với Chúa, mời gọi sống trong niềm vui của Ngài. Chúng ta càng biết rất rõ mình phải làm gì và chuẩn bị những gì.

Có nhiều lúc trong cuộc sống, chúng cũng cảm thấy hối hận về những việc mình làm cho người khác, hối hận về những bất công, về sự ích kỷ chỉ biết lo cho mình mà quên đi những lời kêu than của người chung quanh, không nhìn thấy nỗi đau xé lòng mà mình gây nên cho họ. Nhưng nỗi lo sợ lại nỗi lên: sợ mất danh dự, mất uy tín, mất thời giờ, tiền bạc .... nên đến giờ nầy, chúng ta vẫn không tìm được niềm vui trong Chúa. Con người của bao nhiêu năm vẫn không khá hơn mà trái lại, có khi giờ nầy, mình còn nham hiểm độc hại hơn trước. Đó có phải là chúng ta lập lại công việc mà ngày xưa vua Hêrôđê và những người kinh thành Jerusalem đã đối xử với Chúa Giêsu và các nhà đạo sĩ phương xa sao?

Nếu có lần trong cuộc sống, chúng ta biết nới rộng vòng tay yêu thương để ban phát cho những người kêu cầu đến. Đó là lúc chúng ta nhận ra được lời mời gọi và cất bước lên đường với những lễ vật trong tay. Nếu chúng ta nhận thấy được những lỗi lầm thiếu sót của mình mà sẵn sàng sữa đỗi cho tốt hơn, nếu chúng ta biết sống quảng đại, để biết thông cảm và tha thứ thì thật hạnh phúc cho chúng ta, vì khi đó chúng ta tìm găp được Chúa và dâng lên Ngài lễ vật mà chính bản thân đã chuẩn bị bằng cả cuộc đời.

Xin Chúa ban cho mỗi người chúng ta được sáng suốt để biết lắng nghe lời mời gọi và đáp lại cho xứng đáng.

SÂN KHẤU CUỘC ĐỜI
Mt 2, 1 - 12

Chúng ta vừa mừng sinh nhật lần thứ 2013 của Đức Giêsu. Nói đến lần thứ 2013, thì có nghĩa là phải có lần thứ nhất. Như vậy, chúng ta lấy mốc thời gian nào để tính là năm thứ nhất. Câu trả lời là dựa vào năm Đức Giêsu sinh ra. Như vậy, biến cố Đức Giêsu ra đời là khởi đầu của một kỷ nguyên mới trong lịch sử nhân loại. Dù ngày hôm nay, các chuyên viên có tính lại là năm Chúa Giêsu sinh ra không phải là năm thứ 1, nhưng Ngài được sinh ra vào khoảng năm thứ 6 trước Công nguyên. Đấy là vì ông Denise thuộc thời Trung cổ tính sai. Dẫu vậy, nhưng trong tâm trí của ông Denise và cũng như của tất cả nhân loại đều lấy ngày Chúa Giêsu giáng sinh là trung tâm của lịch sử. Ngài đã bước vào lịch sử của nhân loại và làm xoay chiều lịch sử ấy. Ngài mặc cho lịch sử trần tục của con người một ý nghĩa mới, lịch sử cứu độ. Từ đây, Thiên Chúa đã làm người và ở với con người. Thiên Chúa đã từ trời cao xuống trần gian để cho con người trần gian được bước lên trời. Đất với trời đã giao duyên!

Hôm nay, chúng ta mừng lễ Chúa Hiển Linh, nghĩa là chúng ta mừng kính việc Đức Giêsu bày tỏ vinh quang của Ngài cho 3 nhà đạo sĩ Đông phương và cũng là cho tất cả chúng ta. Nhưng biến cố ấy thay vì trở thành niềm vui cho hết nhân loại thì lại trở thành tin buồn và thảm hoạ cho một số người. Tại làm sao lại có chuyện ấy xảy ra? Có phải vinh quang của Thiên Chúa không có sức mang lại hạnh phúc cho con người không? Có phải Thiên Chúa đã chịu thua sự nhẫn tâm của con người rồi chăng? Ngày Chúa Giêsu sinh ra, các Thiên thần đồng thanh tung hô rằng: "Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương", nhưng xem ra việc Chúa Giáng trần chỉ mang lại tai hoạ cho con người mà thôi!

Thiên Chúa của chúng ta là Thiên Chúa của tình yêu. Ngài yêu thương hết thảy con người cho dẫu rằng con người có nhận ra điều đó hay không? Chúa không muốn biến con người thành những cổ máy Robot, nên đã trao cho họ tự do. Và vì lạm dụng tự do, nên con người đã chống lại Thiên Chúa; coi Thiên Chúa như đối thủ của mình, như người tranh giành hạnh phúc của mình. Thật là một điều đáng buồn cho con người.

Chúa Giêsu vẫn sinh ra cho con người dẫu rằng con người có đón tiếp Ngài hay không? Và quả thực, con người đã chối từ Ngài ngay từ giây phút đầu tiên của cuộc đời dương thế của Ngài. Nhưng Ngài chấp nhận tất cả và chịu sinh ra trong cảnh nghèo nàn nhất của kiếp người. Nhà bảo sanh là chuồng bò, chiếc nôi là máng cỏ, thời tiết là giữa mùa Đông giá rét run người. Người ta không muốn đón tiếp Chúa vì Chúa đến trong thân phận của người nghèo khổ và quá âm thầm.

Hơn nữa, ngày mà Chúa tỏ vinh quang cho nhân loại thì lại trở thành ngày buồn thảm: Hêrôđê bối rối vì sợ bị chiếm ngôi, các gia đình có con trẻ từ 2 tuổi trở xuống ở vùng Giuđêa và các vùng lân cận phải một trận khóc than thảm thiết vì con trẻ của họ bị giết! Lý do là vì sự độc ác của con người, cụ thể là vua Hêrôđê. Vua Hêrôđê là đại diện cho tất cả những con người ham hố quyền lực trên thế giới. Họ sẵn sàng gây ra bao nhiêu đau khổ, chết chóc cho nhân loại để bảo vệ uy quyền cho mình. Ngày nào trên thế giới còn có những con người ham hố quyền lực thì ngày đó nhân loại còn phải chịu đau khổ và chết chóc.

Sân khấu lịch sử cuộc đời còn có vai của những con người trong vai các kinh sư và luật sĩ. Họ thông thạo Thánh kinh, biết rõ nhiều vấn đề nhưng họ sợ cực khổ, sợ mất mát, ngại hy sinh nên đem những hiểu biết của mình chôn vùi trong tủ kính. Vì thế, những hiểu biết của họ không giúp ích gì cho ai và cũng chẳng mang lại lợi ích gì cho bản thân họ. Họ là hạt giống có lớp vỏ vàng óng. Họ cố bảo vệ lớp vỏ của mình cho thật đẹp và không chịu làm trở thành thân phận của hạt giống, phải chịu thối đi để sinh ra trăm nghìn bông hạt mới. Vì thế, mãi mãi họ là hạt lúa cô đơn, hạt lúa vàng vô ích và sẽ có ngày sẽ hư mất.

Nhưng cũng may là thế giới này cũng còn có những con người khát khao tìm kiếm chân lý như 3 nhà Đạo sĩ Phương Đông. Nếu không, thì cuộc đời này sẽ biến thành nghĩa trang lạnh lùng, đầy dẫy những xác chết, và trái tim con người sẽ hoá đá! Hình ảnh 3 nhà Đạo sĩ Phương Đông trở thành mẫu mực cho những ai khao khát sự thật và sự sống. Khi nhận ra được ánh sáng chân lý rồi, thì họ không ngần ngại hy sinh, sẵn sàng chịu cực khổ, mất mát và nguy hiểm để lên đường tìm kiếm. Và những cố gắng của họ đã được đền bù xứng đáng. Họ đã được Thiên Chúa đong đầy sự khao khát của họ. Vì "Phúc cho ai biết khao khát nên trọn lành và tìm kiếm chân lý, vì họ sẽ được Thiên Chúa ban cho được đầy no".

Mừng lễ Chúa Hiển Linh hôm nay, chúng ta hãy tự kiểm lại chính mình xem chúng ta đang có trong mình hình ảnh của ai? Của Hêrôđê, của những Kinh sư hay của ba nhà Đạo sĩ Phương Đông? Chúng ta có phải là những người đang ham hố quyền lực để sẵn sàng tiêu diệt, loại trừ người khác để bảo vệ uy thế và chỗ đứng cho mình không? Hay chúng ta lại là những người Kinh sư, thông thạo Thánh kinh, biết rất nhiều về Lời Chúa nhưng lại không làm theo và không màng gì đến những Lời ấy? Hay chúng ta là những Nhà Đạo sĩ đang khao khát và kiếm tìm chân lý, để khi nhận ra được chân lý đang soi dẫn cuộc đời của mình thì sẵn sàng chấp nhận mọi gian nan, hy sinh mọi sự để lên đường tìm kiếm chân lý? Phúc cho chúng ta nếu chúng ta đang mang trong mình hình ảnh của những nhà Đạo sĩ Phương Đông ngày xưa!

HÀNH TRÌNH ĐỨC TIN
Mt 2, 1 - 12

Truyện kể trong một khu rừng kia có con cáo mù bị lạc đường. Đamg lúc lo âu sốt ruột, đột nhiên nghe tiếng bước xa xa đến gần, con cáo vội vàng hỏi trong vui sướng:

  • Chào anh bạn, xin hỏi đường về nhà tôi đi bằng cách nào ?
  • Anh không thấy đường sao ?
  • Thấy thì còn hỏi anh làm gì

Đối phương lần chần một chút rồi trả lời:

Được rồi, anh đi với tôi. Con cáo đi sau lưng anh bạn ấy, bảo sao nghe vậy. Đi không bao lâu, hai đứa tập tễnh tiến vào ngõ cụt, đi mãi mà không ra khỏi đó, cuối cùng con cáo chịu không nổi phải thốt lên.

  • Anh dẫn đường nhưng rốt cuộc anh dẫn như thế nào đấy chứ ?
  • Hồi lâu, chỉ nghe đối phương biết lỗi nói: Xin lỗi bởi vì tôi cũng mù như anh vậy
    ( Hàn Lâm Tử)

Câu chuyện trên cho ta thấy con cáo mù rất muốn tìm đường về nhà, chắc chắn là nó rất lo lắng bối rối và sợ lắm. Khi gặp được người bạn dẫn đường thì cáo mừng lắm, nhưng cuối cùng thì cả hai đều bị đi vào ngõ cụt vì không có ai thấy ánh sáng thấy đường để mà đi. Trong cuốc sống rất có thể chúng ta đang là một con cáo mù, vì không biết mở mắt ra để đón lấy ánh sáng. Chúng ta không khác gì dân thành Giêrusalem xưa, trong cùng một cảnh ngộ mà các nhà đạo sĩ từ phương xa lại nhìn thấy ánh sáng để đi tìm Đấng Cứu Thế. Còn họ thì lo mãi mê yêu đời, sống cuộc sống hưởng thụ, vui chơi với tất cả tiện nghi, một cuộc sống không thiếu thốn sự gì. Ngày nay với nên khoa học tiên tiến, đưa con người đến ánh sáng hiện đại nhưng lại đẩy họ vào ánh sáng tội lỗi; biết những nơi ăn chơi thác loạn mà không bao giờ tìm tới nhà thờ, ham thích nhảy múa ca hát mà không bao giờ biết dùng lời kinh cầu nguyện dâng lên Chúa. Các đại gia dám bỏ ra hàng triệu dollar để ăn chơi trác táng, mà không dám bỏ ra 500 đồng để làm việc bác ái... rất nhiều, còn rất nhiều việc làm của chúng ta đang ở trong bóng tối, ngôi sao sáng của Chúa vẫn đang sẵn sàng chiếu tỏa ánh sáng, chỉ cần chúng ta đừng vô tình, đừng dửng dưng nữa mà hãy quyết tâm bằng cả thiện chí đứng lên và bước ra khỏi đời sống tầm thường đó, cùng đi với các đạo sĩ theo ánh sao lạ dẫn đường tìm Đấng Cứu Thế.

Con cáo mù không về nhà được vì người bạn dẫn đường cũng bị mù. Nhiệm vụ truyền giáo là công việc của tất cả những người Kitô hữu, đó là dẫn mọi người "bị mù" tìm gặp ánh sáng Chúa Kitô. Con đường truyền giáo hoàn toàn không dễ như ta tưởng, nếu không khéo ta cũng giống như người bạn của con cáo mù, không những đưa bạn về không được mà cả mình cũng không thể về. Điều cần thiết là mỗi người chúng ta phải là ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và trong tâm hồn những người thiện chí vì như Chúa Giêsu đã nói: "Các con là ánh sáng trần gian" ( Mt 5, 14). Khi nghe câu nói đó, tôi nhận ra ngay một điều là Thiên Chúa muốn gởi đến cho chúng ta một thông điệp truyền giáo và ngay lúc này chúng ta phải là muối là ánh sáng.

Ánh sáng Tin Mừng đã được rao giảng hơn 2000 năm, nhưng cánh đồng truyền giáo vẫn còn bao la bát ngát. Đặc biệt là trong cánh đồng truyền giáo ở Việt Nam , còn rất nhiều người đang mò mẫm tìm đường đi. Do đó, chúng ta phải là ngôi sao dẫn đường cho anh chị em lương dân, ở giữa họ với một con tim cởi mở và yêu thương. Nhất là qua đời sống hàng ngày họ sẽ tìm gặp được Hài Nhi trong hành động của chúng ta.

Chúng ta cũng rất dễ rơi vào thái độ dửng dưng với lời kêu gọi của Giáo hội, cứ nghĩ nếu ta không làm thì vẫn còn người khác làm. Nếu ai cũng nghĩ như ta thì làm gì có các nhà truyền giáo, làm gì có hạt giống Tin Mừng nào được gieo ở Việt Nam và chúng ta vẫn là con cáo mù vẫn chưa tìm được đường về nhà. Nhưng ngược lại, nếu tất cả các tín hữu Việt Nam nghe theo lời mời gọi truyền giáo, và mau mắn đáp trả thì Hội Thánh Chúa đã có những bước tiến rất xa. Vậy ta hãy ý thức mình vẫn là một hạt cát quan trọng trong sa mạc truyền giáo của Chúa.

Lạy Chúa, Xin giúp con trở thành một ánh sao soi đường, dẫn lối cho những người xung quanh trên bước đường tìm gặp Chúa.

ĐỨC KITÔ Ở ĐÂU?
Mt 2, 1 - 12

Mùa Giáng sinh nào tôi cũng rảo qua các Nhà thờ để xem hang đá. Thôi thì đủ loại, đủ cỡ, đủ hình dạng, màu sắc. Có cái rất hoành tráng, trang trí cầu kỳ, từ những vật dụng đắt tiền; nhưng cũng có cái làm từ phế liệu. Đặc biệt nhất là bộ tượng. Ngoài những bộ tượng theo truyền thống Do thái, còn có cả những bộ tượng người Tàu, người Mông Cổ, Ả rập, Châu Âu và cũng không thiếu những bộ tượng người Việt với trang phục khăn đóng - áo dài hay khăn rằn - áo bà ba rặt nam bộ. Nói chung, Tin Mừng đi đến dân tộc nào thì hang đá và các nhân vật trong hang đá mang hình ảnh dân tộc đó. Người thiết kế muốn diễn tả hình ảnh Thiên Chúa thật giống với người bản địa. Điều nầy chắc không làm Thiên Chúa phiền lòng bởi từ trời cao Ngài đã xuống trần chẳng phải là để cho gần con người sao?

Nhưng đáng buồn thay. Trong khi Thiên Chúa đang cố gắng rút ngắn khoảng cách cách giữa Ngài và con người, thì con người lại hững hờ không muốn đón nhận thiện ý đó. Dân tộc mà lẽ ra phải mở tiệc tưng bừng để đón Sinh Nhật Vua Trời thì lại lạnh lùng từ chối. Vua Hêrôđê tỏ ra quan tâm, ân cần với các nhà hiền sĩ Đông phương: "Xin quý ngài đi dò hỏi tường tần về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bài lại Người" (Mt 2,8). Hoàn toàn không phải vì ý tốt mà là muốn giết Chúa Giêsu để níu giữ ngai vàng sắp đổ của mình.

Vào lễ Hiển Linh năm nào ta cũng nghe câu chuyện ba nhà Đạo Sĩ đi theo ngôi sao tìm Chúa. Rồi sau đó dâng lễ vật lên Chúa Hài Đồng. Cảnh tượng thật xúc động! Càng xúc động hơn khi biết rằng cả ba nhà Đạo Sĩ đều là dân ngoại - một dân tộc không biết gì về Thiên Chúa lại được Thiên Chúa tỏ mình ra. Còn dân Do thái đã không hề biết chuyện gì đang xảy ra. "Nay mầu nhiệm được mạc khải là các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp" (Ep 3,6).

Nói vậy, chẳng phải là Thiên Chúa thiên lệch, cho người nầy không cho người khác, nhưng bởi dân Do Thái thiếu lòng tin đó thôi. Hơn thế, chẳng đời nào Ngài lại bỏ đứa con mà Ngài đã từng cưu mang.

Ba nhà đạo sĩ vất vả lên đường tìm Chúa. Họ đã phải luôn miệng hỏi: "Đức Giêsu - Vua dân Do thái mới giáng sinh ở đâu?". Ngày nay, ta không còn vất vả nữa, vì Chúa đã được các nhà truyền giáo đem đến tận tay chúng ta rồi. Chúng ta chẳng còn phải nghi ngờ Đức Giêsu là ai, sinh ra ở đâu nữa. Nhưng liệu chúng ta có giống dân Do Thái xưa không? Thấy đó, nhưng không thể nào tin được? Ngày Rửa Tội ta được xếp vào hàng con cái Chúa. Ngày chịu phép Thêm Sức ta được mời gọi lên đường làm chứng, rao giảng Nước Chúa. Nhưng chính bản thân chúng ta cũng chưa một lần thể hiện được lòng tin của mình thì làm sao chúng ta có thể giới thiệu được một Đức Giêsu bé nhỏ, trần trụi, nghèo nàn đó cho trần gian? Hãy mạnh mẽ đi theo hướng khác mà trở về nhà mình, đừng ù lì trong những lề thói ấu trĩ, ích kỷ của chính mình nữa. Hãy đứng dậy lên đường giới thiệu Đức Kitô bằng đời sống yêu thương của mình.

Hơn 2000 năm qua, Đức Giêsu vẫn giáng sinh mỗi ngày trong trần gian. Ngài không chỉ giáng sinh nơi hang đá Bêlem thuộc xứ Palestine, trong dòng tộc Đavit nữa; mà Ngài hiện diện trong từng con người cụ thể trên khắp hành tinh nầy, trong tất cả mọi sắc tộc, trong mọi nền văn hóa. Ngài ở giữa chúng ta qua Bí tích Thánh thể. Ngài còn ở trong chính ngôi nhà tồi tàn, rách nát của một vùng quê nào đó. Ngài đang bị cầm tù, đang cô đơn trong những nhà dưỡng lão, những trại mồ côi, bệnh viện, trại tập trung. Ngài là em bé bị lạm dụng sức lao động, đang ngày đêm giơ tay cầu cứu sự giúp đỡ. Ngài là những công nhân cần có những đồng lương xứng hợp. Ngài là những nạn nhân của những cuộc xung đột, chạy đua vũ trang, hay của những chế độ độc tài, bất công, nghèo đói... Bạn không cần phải đi qua tận thánh địa xa xôi để mong gặp Chúa, mà bạn hãy đi ra khỏi lòng mình. Ra khỏi những ích kỷ, tư lợi, đam mê thấp hèn của chính bạn. Rồi bạn sẽ gặp Đức Kitô ngay thôi. Ngài đang hiện diện ngay trước mặt bạn đấy!

THIÊN CHÚA TỎ MÌNH
Mt 2, 1 - 12

Không biết từ lúc nào câu chuyện ba nhà đạo sĩ đã gắn liền với biến cố Thiên Chúa giáng sinh làm người. Chúa đến làm người không dành riêng cho người Do Thái nhưng là cho tất cả mọi người thuộc mọi dân tộc. Danh từ Hiển Linh trong Kinh Thánh mang ý nghĩa Thiên chúa tỏ mình ra cho loài người. Theo phụng vụ Giáo hội Đông phương, lễ Hiển linh là lễ Chúa mở đầu việc rao giảng công khai. Nhưng theo phụng vụ Giáo hội La mã, lễ Hiển Linh là lễ Thiên Chúa tỏ mình ra cho dân ngoại, khi ba nhà đạo sĩ tìm đến thờ lạy Hài Nhi Giêsu.

Hình ảnh ba nhà đạo sĩ trở nên rất quen thuộc. Họ là đại diện cho những tâm hồn thiện chí đi tìm sự thật, với một tinh thần khát khao cháy bỏng. Họ luôn nhạy cảm trước một dấu hiệu lạ kỳ, báo hiệu một vì vua đã sinh ra. Các đạo sĩ Đông phương thời ấy rất giỏi về triết học, y học và khoa học tự nhiên. Nhiều người còn gọi họ là những bậc thánh nhân.

Vào thời đó, mọi người tin tưởng ở khoa chiêm tinh. Họ tin rằng dựa vào các vì sao họ có thể tiên đoán tương lai vận mệnh của con người. Số mệnh một người được an bài bởi một ngôi sao đã xuất hiện lúc người ấy sinh ra. Điều này cũng dễ hiểu, thông thường các ngôi sao xuất hiện theo một vị trí cố định. Chúng tượng trưng cho trật tự của vũ trụ. Nếu thình lình có một vì sao sáng xuất hiện thì dường như Thiên Chúa đã can thiệp trực tiếp vào chính trật tự của Ngài để loan báo một sự kiện đặc biệt sắp xảy ra.

Hài nhi Giêsu chính là vì vua tình yêu, là ánh vinh quang mà Thiên Chúa ban cho nhân loại đang khao khát mong chờ Đấng cứu độ. Họ khắc khoải trong sự đợi chờ thì Chúa Giêsu đã đến. Con người từ khắp nơi, từ những phương trời xa xôi nhất đã về tề tựu quanh Ngài. Đó là dấu hiệu và biểu tượng đầu tiên chinh phục thế giới của Hài Nhi Giêsu.

Chúa Giêsu là điểm đến sau cùng cho mọi nỗ lực tìm kiếm của nhân loại. Nhìn vào những lễ vật dâng lên vàng, nhũ hương, mộc dược, người ta nhận thấy mỗi lễ vật đều tương ứng với đặc điểm và sứ mệnh của Ngài. Ngài là vị vua thật, là thầy lế lễ vẹn toàn và là Đấng cứu độ cao cả mà loài người đợi trông.

Chúa Giêsu chính là vua thật
Vàng được mệnh danh là vua của mọi kim loại. Vàng thường được coi là của lễ xứng hợp nhất để dâng tiến vua. Chúa Giêsu sinh ra để làm vua. Vị vua này không cai trị bằng vũ lực nhưng bằng tình yêu. Ngài cai quản lòng người không từ ngai vàng mà từ thập tự giá. Sự có mặt của Ngài đã biến đổi thế giới loài người, mang lại hạnh phúc cho nhân loại. Bệnh tật được chữa lành (Mt 8, 16-17), tang tóc được hân hoan (Lc 7, 11-17), tội lỗi được tha thứ (Mt 2,5), ngay cả sự chết đối với Ngài chỉ là giấc ngủ bình an (Mc 5, 39). Vì vua này xuất hiện luôn ban cho con người một niềm vui, một niềm hy vọng "Phúc cho anh em, là những người nghèo, vì triều đại Thiên Chúa là của anh em. Phúc cho anh em là những người đói khát vì anh em sẽ được no nê. Phúc cho anh em là những người đang khóc vì anh em sẽ được vui cười" (Lc 6, 20-21).

Chúa Giêsu là tư tế.
Nhũ hương dâng cho Hài nhi là thứ hương liệu có mùi thơm dịu mà thầy tư tế thường dùng trong các nghi thức thờ phượng. Thầy tư tế chính là trung gian giữa Thiên Chúa và con người. Vị tư tế cũng chính là người mở đường dẫn lối để con người đến được với Thiên Chúa. Anh sao soi đường đến nơi thì đã tắt, bởi lẽ Chúa Giêsu chính là ánh sáng thật để soi rọi con người tìm ra chân lý. Chân lý con người tìm kiếm là tình yêu và gia nghiệp của Ngài. Chính chúa Giêsu sẽ dẫn đưa con người về với Chúa Cha.Thư gửi Ephêsô, thánh Phaolô đã khẳng định: "Trong Đức Giêsu Kitô và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại cũng được thừa kế gia nghiệp với người do thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa ban" (Eph 3,6).

Chúa Giêsu là hy tế
Mộc dược là lễ vật dành cho người chết, là hương liệu để xông xác người. Chúa Giêsu đến thế gian để sống cho con người và cuối cùng chết cho con người. Cái chết của Ngài biểu lộ sự trung thành đối với loài người mà Ngài đã yêu thương đến tận cùng (Eph13,1). Chúa Giêsu không nghĩ tới mình, vì lẽ đó Ngài có thể đón tiếp mọi người và lắng nghe mọi người đến với Ngài. Cuộc sống Chúa Giêsu là một cuộc tự hiến cho con người để cứu độ con người.

Chúa Giêsu là vì vua chân thật, là thầy tế lễ vẹn toàn, là đấng cứu độ cao cả thế mà Ngài luôn bị con người chối từ thậm chí tỏ ra chống đối. Các Thượng tế, Kinh sư là những người tự cho mình là hiểu biết Kinh Thánh nhưng lại tỏ ra hững hờ, bất lực không muốn ra đi. Trong khi đó các đạo sĩ là những người ngoại giáo lại dám lên đường và họ đã gặp Đấng cứu độ. Vua Hêrôđê cũng chẳng khá hơn gì. Một vì vua đang nắm quyền nhưng lại nơm nớp lo sợ trước một Hài nhi Bêlem vừa mới sinh. Trình thuật Tin Mừng cho ta chứng kiến những hình ảnh đối lập nhau. Một bên là những người đói khát ơn cứu rỗi, họ đang hết tâm vận dụng toàn lực để tìm kiếm Thiên Chúa. Một bên thì đau đớn nghĩ rằng việc vua mới sinh sẽ làm đảo lộn cuộc đời của họ nên đem lòng thù nghịch Đấng Messia.

Vị Vua tình yêu đã giáng sinh, đã cho con người lần tìm ra chân lý. Biết bao lương dân giờ đã nhận biết Ngài, biết bao người tội lỗi đã trở về Thiên Chúa. Chúng ta thật hạnh phúc vì là thần dân của vị Vua đầy tình yêu này. Một vị vua không hề biết nói đến sự tiêu diệt. Một vị vua không ngồi trên ngai để cai trị nhưng luôn hiện diện trên thập giá để sẵn sàng chịu chết thay cho dân Ngài. Đó chính là Vua Giêsu, là hiện thân tình yêu của Thiên Chúa và là Đấng Cứu Độ nhân trần. Tình yêu của Ngài giờ đây trải rộng đến khắp muôn dân.

Hiện nay còn biết bao người đang sống trong tăm tối thiêng liêng, họ đang lầm lủi bước đi trong lầm lạc. Họ đang khao khát chân lý. Họ không ngớt đặt vấn nạn với chúng ta : "Đức Giêsu là ai?". Hãy trả lời cho họ đi. Đức Giêsu chính là tình yêu của Thiên Chúa. Ngài đến phá đỗ mọi hàng rào ngăn cách mà con người đã dựng nên, nhất là những hàng rào kỳ thị: kỳ thị chủng tộc, màu da, tôn giáo, giai cấp, giàu nghèo....

Chúng ta hãy cộng tác với Thiên Chúa để làm bừng sáng mầu nhiệm tình yêu giữa lòng nhân loại. Mỗi người hãy là ánh sao dẫn đường để soi dẫn cho nhiều người biết khám phá gương mặt đích thực của Đức Giêsu trong đời sống thường ngày.

ĐI TÌM CHÚA NHỜ NGÔI SAO LẠ
Mt 2, 1 - 12

Hằng năm cứ gần đến lễ Giáng sinh, đi ngang các Nhà thờ Công giáo hay vào các xóm đạo chúng ta sẽ thấy người ta nô nức cùng nhau làm ngôi sao. Dường như thiếu ngôi sao thì lễ Giáng sinh không thành được. Cho nên bằng mọi cách người ta phải cố gắng làm theo khả năng của mình. Nơi nào khá thì làm ngôi sao đẹp và đắc tiền hơn. Hình ảnh ngôi sao trong mùa Giáng sinh phải chăng là nhắc tới ngôi sao lạ đã dẫn đường cho ba vua đến thờ lạy Hài nhi Giêsu.

Ba vua này được gọi là những nhà chiêm tinh. Họ đã nghiên cứu và thấy được có một ngôi sao lạ xuất hiện bên phương đông. Từ đó họ đã quyết định lên đường tìm Hài nhi Giêsu để thờ lạy cùng mang theo những lễ vật quý giá là vàng, nhũ hương và mộc dược để dâng tiến Người.

Ðiều đáng nói ba vị vua này lại là lương dân từ xa đến. Ðang khi đó vua Hêrôđê là vua Do thái ở kế bên đó thì lại chẳng hay biết. Tại sao ba vua này lại được thấy ngôi sao lạ còn vua Hêrôđê thì không. Chúng ta nhớ có lần Chúa Giêsu đã thưa cùng Chúa Cha: "Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn" (Mt 11, 25). Thật ra Chúa chẳng muốn giấu ai. Người luôn muốn cho tất cả mọi người đều được chiêm ngưỡng Con Mình. Tuy nhiên ở đây còn tùy vào sự đón nhận của con người. Ngôi sao thì có sẵn trên bầu trời nên chỉ có những ai thành tâm thiện chí và thật lòng khao khát thì mới được gặp Người.

Vua Hêrôđê chỉ vì tham quyền cố vị và tưởng rằng mình là nhất trên đời nên chẳng muốn đón nhận gì thêm. Hơn nữa, khi nghe biết có Hài nhi Giêsu sinh ra thì ông lại sợ mất quyền ảnh hưởng nên cũng căn dặn ba vua: "Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Người." (Mt 2, 8). Ðó chỉ là lời lẽ che đậy âm mưu bên trong. Bằng chứng sau đó ông đã ra lệnh: "giết tất cả các con trẻ ở Bê-lem và toàn vùng lân cận, từ hai tuổi trở xuống, tính theo ngày tháng ông đã hỏi cặn kẽ các nhà chiêm tinh". (Mt 2, 16b)

Hằng ngày Thiên Chúa đã gởi đến cho chúng ta rất nhiều ngôi sao lạ. Ðó là tiếng nói của Chúa trong lương tâm.Tiếng nói lương tâm thúc đẩy ta làm lành lánh dữ. Ðó là những lời nhắc nhở của người thân. Ðặc biệt là lời Chúa và những chỉ dẫn của Giáo hội.

Mừng lễ Hiển linh năm nay, chúng ta hãy thành tâm xét mình trước Chúa về cách đón nhận những ngôi sao lạ mà Chúa đã gởi đến cho mình. Hãy xin Hài nhi Giêsu cho chúng ta thêm lòng tin và quảng đại đón nhận những ngôi sao lạ đó để chúng ta ngày càng được đến gần Chúa hơn.

TRỞ NÊN ÁNH SAO DẪN ĐƯỜNG CHO THA NHÂN
Mt 2, 1 - 12

1. LỜI CHÚA: "Họ vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Ma-ri-a, liền sấp mình bái lạy Người, rồi mở bảo tráp, lấy vàng nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến" (Mt 2,11).

2. CÂU CHUYỆN: HÃY CHO NGƯỜI NGHÈO QUẦN ÁO TỐT.

Một buổi chiều nọ, anh con trai thấy một người hành khất áo quần rách nát đứng xin trước cổng nhà. Anh ta liền vào trong nhà lấy ra một bộ quần áo và cho người ăn xin. Bộ đồ này đã cũ và bị rách toạc một miếng ngay tại đầu gối, nên từ lâu anh ta không thèm mặc. Nhận được bộ đồ cũ, người hành khất rất mừng và cám ơn rối rít, vì tuy đã cũ nhưng nó vẫn còn tốt hơn bộ quần áo ông ta đang mặc rất nhiều. Sau đó lão hành khất liền mặc ngay bộ đồ mới vào người. Còn anh thanh niên thì cảm thấy vui mừng vì đã làm được một việc thiện.

Mấy tháng sau, một hôm người hành khất kia lại đến ăn xin. Lần này ông ta mặc bộ đồ lành lặn và tương đối còn mới. Anh thanh niên thấy ông lão mặc bộ đồ màu sắc giống như quần áo của mình liền hỏi: "Sao ông lại có bộ đồ mới kia ?" Lão hành khất tươi cười trả lời: "Thì đây cũng là quần áo của cậu đó ! Số là cách đây một tuần, khi tôi mặc bộ quần áo anh cho hôm trước, đến xin thì gặp ba anh. Thấy tôi mặc bộ đồ đã rách, ông cụ hỏi xem ai cho. Tôi trả lời là một anh ở trong nhà ông. Ông im lặng rồi vào nhà đem ra bộ đồ tôi đang mặc đây và nói: "Xin lỗi ông, lần trước con tôi đã lấy lộn bộ đồ rách bỏ đi mà cho ông. Hôm nay tôi thay nó để biếu ông bộ quần áo tốt này".

Sau khi người hành khất ra về, chàng thanh niên lập tức vào nhà tìm cha và cằn nhằn tại sao ông lại đem cho bộ đồ anh còn đang sử dụng. Bấy giờ người cha liền ôn tồn nói rằng: "Con ơi, cha rất vui khi thấy con biết thương người và cho người nghèo quần áo để mặc. Nhưng cha biết con còn nhiều quần áo không dùng đến mà sao con không cho ? Lần sau nếu cho ai thứ gì, thì con nên cho những gì còn dùng được. Chứ nếu cho họ bộ đồ đã rách thì họ làm sao có thể mặc được hả con ?"

3. SUY NIỆM:

1) "Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông": Hôm nay, các vị chiêm tinh hay cũng gọi là đạo sĩ từ phương xa đã nhận ra dấu hiệu Đấng Cứu Thế mới sinh qua sự xuất hiện của ngôi sao lạ trên bầu trời. Theo ánh sao chỉ đường dẫn lối, các ngài đã lên đường tìm kiếm Đấng Cưu Thế gặp được Chúa Giê-su. Ánh sao chiếu sáng trên bầu trời đêm tối, đã giúp các đạo sĩ tìm ra hướng đi. Rồi lời Chúa trong Sách Thánh cũng là ánh sao giúp các ngài sáng lên niềm tin vào Chúa. Nhưng chính Hài Nhi Cứu Thế Giê-su mới thực là ánh sáng giúp các ngài tin và theo một con đường mới để về quê hương.

Ngày nay có nhiều người cũng đang đi tìm Chúa. Nhưng họ không biết đường và phương hướng nào, nên cần có những ánh sao soi đường dẫn lối. Ngày nay Chúa không còn dùng ngôi sao xuất hiện trên trời, nhưng muốn mỗi tín hữu phải trở thành một vì sao soi dẫn cho mọi người đến với Chúa. Ngôi sao chỉ chiếu sáng khi chính bản thân nó có ánh sáng. Người Kitô hữu chỉ chiếu sáng khi chính cuộc sống của họ phản chiếu ánh sáng nhận được từ nơi Thiên Chúa như lời Đức Giê-su: "Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời" (Mt 5,16).

Người tín hữu phải chiếu ánh sáng hy vọng vào ơn cứu độ của Chúa. Niềm hy vọng vào một "trời mới đất mới" cho chúng ta thêm sức mạnh để tích cực góp phần xây dựng xã hội chúng ta đang sống ngày một tốt đẹp hơn, an toàn sạch đẹp hơn, công bình nhân ái hơn. Niềm hy vọng vào hạnh phúc thiên đàng cũng giúp chúng ta nhận định đúng giá trị của tiền bạc và của cải đời này để sử dụng chúng làm sáng danh Chúa và phục vụ tha nhân. Niềm hy vọng chính là ánh sáng làm con người và cuộc đời của chúng ta ngày thêm tươi đẹp.

Người tín hữu phải chiếu ánh sáng tin yêu: Tin cậy Chúa và yêu thương tha nhân. Tin yêu để xây dựng một cuộc sống chan hoà tình Chúa tình người. Tin yêu để sẵn sàng tha thứ và hoà giải với nhau. Tin yêu để vượt qua mọi bóng tối các mối bất hoà chia rẽ và thù hận.

Người tín hữu còn phải chiếu ánh sáng công bình, bác ái giữa đời thường. Lòng yêu mến Chúa phải được thể hiện qua tình thương đối với người đồng loại. Chính qua ánh sáng hy vọng, tin yêu, công bình bác ái nói trên mà lương dân sẽ dễ dàng nhận biết và tin yêu Chúa để cùng chúng ta đi trên con đường mới để về quê trời hưởng hạnh phúc ở đời sau.

2) "Chúng tôi tìm đến bái lạy Người": Để tìm gặp Chúa, các đạo sĩ đã phải từ giã gia đình để tiếp nhận những điều bất ngờ: Họ nghĩ Đấng Cứu Thế là con của nhà vua tại kinh thành hoa lệ, nhưng Hài Nhi Cứu Thế lại không sinh ở nơi giàu sang phú quý, mà nơi một cái hang chăn giữ chiên cừu trong hình hài một trẻ thơ yếu đuối nghèo khó.

Lễ Hiển Linh là lễ Chúa tỏ mình ra. Tuy nhiên không phải ai cũng gặp được Chúa và được hưởng ơn cứu độ. Các kinh sư và biệt phái tuy hiểu biết Thánh Kinh, nói rõ về nơi Đấng Cứu Thế sẽ sinh là thành Bê-lem, nhưng họ lại không gặp được Chúa, vì họ chỉ hiểu biết Kinh Thánh mà không muốn làm theo lời Chúa dạy bảo. Về phần bạo vương Hê-rô-đê tuy muốn tìm biết Hài Nhi Cứu Thế nhưng đã không gặp được Người. Vì ông ta tìm Chúa không phải để tin yêu, nhưng để giết hại Người. Trái lại, những người nghèo hèn là các mục đồng ở ngoại ô Bê-lem, và những đạo sĩ từ phương xa tìm đến Giê-ru-sa-lem lại gặp được Người. Những người này dù không thông hiểu lời Chúa trong Sách Thánh, nhưng đã gặp được Chúa vì có tâm hồn đơn sơ chân thành. Người tín hữu chúng ta hôm nay cũng chỉ gặp được Chúa nếu chúng ta biết noi gương các đạo sĩ để luôn chân thành muốn tìm kiếm Chúa, sẵn sàng dấn thân phục vụ Chúa đang hiện thân nơi những người nghèo khó, tàng tật và bị bỏ rơi...

3) "Rồi mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến": Năm xưa, các nhà đạo sĩ đã tìm Chúa và đã gặp được Đấng Cứu Thế mới sinh. Họ đã bái quỳ trước một Hài Nhi bé nhỏ yếu đuối nghèo hèn. Họ đã mở bảo tráp lấy bàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến cho Người. Những lễ vật này là biều hiệu của lễ vật nội tâm là đức Tin, đức Cậy và đức Mến. Khi dâng vàng, các đạo sĩ đã tuyên xưng vương quyền của Hài Nhi Cứu Thế; Dâng nhũ hương các ngài bày tỏ lòng tin Người là vị tư tế của Giao Ước Mới; Dâng mộc dược là đề cao mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh của Đấng Thiên Sai.  Khi xuống thế làm người, Con Thiên Chúa đã mang thân phận của một người nghèo: đã sinh ra trong hang chiên cừu nghéo khó cùng cực, đã chọn cha mẹ là hai ông bà Giu-se và Ma-ri-a nghèo khó, đã sống hoà đồng với các người lao động nghèo hèn tại làng quê Na-da-rét. Người đã sống nghèo khó đến độ không có hòn đá gối đầu. Người còn hứa ban hạnh phúc Nước Trời cho những ai có tinh thần nghéo khó, những người đang bị đói khát, tù đầy, bệnh tật và bị người thân bỏ rơi...

Hôm nay, Chúa vẫn đang hiện diện giữa chúng ta qua tha nhân là hình ảnh của Chúa và mời gọi chúng ta quảng đại hiến thân phục vụ Người nơi những người nghéo khó bên cạnh chúng ta Chúa muốn chúng ta trao tặng cho Chúa những món quà cụ thể như cơm, áo, gạo, tiền... kèm theo tinh yêu thương và thái độ chân thành phục vụ họ cách vô vụ lợi... Vậy chúng ta sẽ dâng tặng cho Chúa những gì trong mùa Giáng Sinh này?

4. THẢO LUẬN:

1) Bạn có khi nào cảm phục một ai đó trong số các nhà khoa học gia, nghệ sĩ, diễn viên điện ảnh, thầy cô hay bạn bè ngoại giáo không ?

2) Ngày nay bạn có thấy Chúa tiếp tục tỏ mình ra nơi những người lương dân đang sống bên cạnh mình hay không ?

3) Bạn sẽ làm gì để trở thành ngôi sao lạ dẫn đường cho các bạn bè ngoại giáo này tìm thấy Chúa là Đấng Thiên Sai và tin theo Người ?

5. NGUYỆN CẦU:

LẠY CHÚA GIÊ-SU. Biết bao lần chúng con đến nhà thờ nhưng đã không gặp được Chúa. Đạo con giữ mới chỉ là những thói quen; Lễ con dâng chỉ là những lời kinh sáo rỗng nhàm chán; Của cải con cho người nghèo chỉ là những thứ đồ hư vất bỏ... Nhưng con lại tưởng mình là đạo đức thánh thiện và đang làm chứng nhân cho Chúa. Ước gì hôm nay con nhận ra những thiếu sót của mình, để của lễ con dâng phải là thứ vàng đức tin quý giá, là nhũ hương của đức cậy khiêm nhu, là mộc dược của lòng hy sinh mến Chúa nồng nàn. Hy vọng Chúa sẽ vui nhận, và ban muôn hồng ân cho chúng con. Để khi gặp được Chúa, như các vị đạo sĩ xưa, chúng con sẽ thể hiện đức tin vào Chúa, sẽ tránh xa những thói gian ác lọc lừa để làm theo Lời Chúa dạy, sống hiệp nhất xin vâng và phục vụ tha nhân hầu sau này sẽ được về quê trời hưởng hạnh phúc với Chúa muôn đời.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A. - Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON

LM ĐAN VINH -  HHTM

NGÔI SAO ĐỨC TIN
Mt 2,1 - 12
Lm Giuse Vũ Thái Hòa
Khi đọc bài Tin mừng hôm nay theo thánh Matthêu về "lễ Ba Vua" (ba thánh sử khác không tường trình biến cố này), chúng ta không thấy nói về vị vua nào cả, cũng không phải ba vua, mà chỉ thấy nói về "các nhà chiêm tinh"! Ngày xưa ở Trung Đông, nhất là tại Ba-tư, các vị chiêm tinh, hoặc đạo sĩ, là những người trí thức, thường làm cố vấn cho các vua và chuyên nghiên cứu về khoa thiên văn. Vào thế kỷ thứ 4 và 5, truyền thống dân gian Tây phương tưởng tượng ra các nhà chiêm tinh là những vị vua. Đến thế kỷ thứ 7, tục truyền lại đặt tên cho họ: Melchior, Gaspard và Balthazar. Rồi đến thế kỷ thứ 15, để muốn nói rằng các vị chiêm tinh tượng trưng cho toàn nhân loại, dân gian còn xác định chủng tộc của họ: Melchior là người da trắng, Gaspard người da vàng, và Balthazar người da đen.

Các nhà chiêm tinh tin rằng mỗi ngôi sao là dấu hiệu của một vị thần hay dấu hiệu của một vị vua đã được thần hóa. Do đó, khi khám phá ra một vì sao lạ, và khi đối chiếu với lời tiên báo trong sách Dân Số: "Một vì sao xuất hiện từ Gia-cóp (nhà Đavít), một vương trượng (vua) trổi dậy từ Ít-ra-en"(24:17), các ông tin rằng có một vị vua mới sinh ra ở đất Do thái. Họ lập tức khởi hành, bất chấp đường xa và nguy hiểm để đến thờ lạy người.

Khi đến Giê-ru-sa-lem là thủ đô Do-thái, các nhà chiêm tinh dò hỏi tông tích của tân vương. Nghe tin ấy, vua Hê-rô-đê bối rối, hỏi tất cả các thượng tế, các kinh sư trong dân, và được biết Đấng Kitô sinh ra ở Bêlem dựa theo lời tiên báo trong sách Mi-kha: "Phần ngươi, hỡi Bêlem, miền đất Giuđa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giu-đa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Ít-ra-en dân Ta sẽ ra đời" (5:1). Hài Nhi mới sinh ra chính là vị Cứu Tinh (Mê-si-a) mà Ít-ra-en đã mong chờ từ lâu.

Khi tìm được Vua Hài Nhi, họ sấp mình bái lạy Người và dâng tiến Người vàng, nhũ hương và mộc dược. Đó là ba lễ vật tượng trưng: vàng nói rằng Người là vua, vì vàng là kim loại quý dùng để dâng cho vua; nhũ hương nói rằng Người là Thiên Chúa vì người ta xông hương để tôn kính các thần thánh; mộc dược, hương liệu được dùng để liệm người chết, nói lên nhân tính của Người. Các Kitô hữu nhìn nhận nơi Chúa Giêsu Đấng Thiên Sai được mong đợi (vàng), Con Thiên Chúa (nhũ hương), Đấng hiến dâng mạng sống trên thập giá (mộc dược).

Các vị chiêm tinh này đại diện cho các dân ngoại đã nhìn nhận vương quyền của Hài Nhi ngay từ lúc Người mới chào đời. Họ cũng đại diện cho những người thành tâm thiện chí tìm kiếm chân lý, tìm kiếm Thiên Chúa. Với những bước dọ dẫm và với sự kiên trì, cuối cùng họ đã gặp được Thiên Chúa và dâng cho Người những thứ quý giá nhất.

Trong ngày lễ hôm nay, chúng ta hãy dùng ít phút để suy niệm về mầu nhiệm nhập thể, vược xa trí tưởng tượng của con người. "Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời" (Ga 3:16). Nhưng Con Thiên Chúa ở trong một máng cỏ nghèo nàn. Các nhà chiêm tinh nhận ra Người không phải qua bề ngoài nghèo hèn bằng con mắt nhân loại, nhưng bằng con mắt đức tin.

Cách đây hơn 2000 năm nay, Thiên Chúa tỏ mình cho muôn dân qua sự dẫn dắt của một ngôi sao lạ. Từ đó, Người muốn mỗi người chúng ta là ánh sáng chiếu tỏa cho mọi người chung quanh ("Các con là ánh sáng cho trần gian" -Mt 5:14) để dẩn dắt tha nhân đến với Thiên Chúa, như lời mời gọi của thánh Phaolô: "Anh em phải chiếu sáng như những vì sao trên vòm trời" (Pl 2:15)

Uớc gì mỗi người chúng ta là một ngôi sao đức tin, được chiếu tỏa bởi tình thương và bác ái trong đời sống thường nhật của chúng ta.

LỄ HIỂN LINH
Mt 2, 1 - 12
John Nguyễn

1. Người ngoại cũng được vào Nước Trời
Ngày xưa, những người theo đạo Do Thái quan niệm chỉ có những người theo đạo Do Thái, nghĩa là có chịu phép cắt bì mới được cứu rỗi. Sách Công Vụ Tông đồ cho thấy quan niệm ấy của họ: «Có những người từ miền Giu-đê đến dạy anh em rằng : "Nếu anh em không chịu phép cắt bì theo tục lệ Mô-sê, thì anh em không thể được cứu độ"» (Cv 15,1). Ngày nay, nhiều người Ki-tô hữu cũng có quan niệm tương tự như thế. Nhưng tinh thần của bài Tin Mừng hôm nay mạc khải một sự thật hoàn toàn ngược lại quan niệm ấy.

Qua bài Tin Mừng, ta thấy chính những người Do Thái - mặc dù biết Đấng Cứu Thế sinh ra tại đâu - lại không thèm tìm kiếm Đức Giê-su mới sinh ra. Những người tìm kiếm Ngài và đã thấy Ngài, thờ lạy Ngài và dâng tặng vật cho Ngài lại là dân ngoại từ tận đâu đâu đến. Kinh Thánh còn cho ta biết người Do Thái chẳng những không tìm kiếm Đức Giê-su, mà còn bách hại Ngài nữa. Vì thế, Nước Trời vốn ưu tiên cho người Do Thái, nhưng vì họ từ chối bằng thái độ lãnh đạm, thậm chí chống đối, nên đã được đem đến cho dân ngoại: «Phao-lô và Ba-na-ba mạnh dạn lên tiếng : "Anh em phải là những người đầu tiên được nghe công bố lời Thiên Chúa, nhưng vì anh em khước từ lời ấy, và tự coi mình không xứng đáng hưởng sự sống đời đời, thì đây chúng tôi quay về phía dân ngoại» (Cv 13,46). Và lịch sử cho thấy dân ngoại vô số người đã vào Nước Trời - mà dấu chỉ là Giáo Hội - đang khi người Do Thái lại đứng ở ngoài. Thật đúng với câu Đức Giê-su nói: «Từ phương đông phương tây, nhiều người sẽ đến dự tiệc cùng các tổ phụ Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp trong Nước Trời. Nhưng con cái Nước Trời thì sẽ bị quăng ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng» (Mt 8,11-12). Đức Giê-su cũng đã dùng nhiều dụ ngôn để nói lên sự thật này: xem Mt 21,28-32 (Hai người con kẻ nói vâng người nói không), Mt 21,33-46 (Những thợ vườn nho sát nhân), Mt 22,1-14 (Tiệc cưới).

2. Bài học cho người Ki-tô hữu hôm nay
a) Có Kinh Thánh và giáo lý trong tay... không đủ!
Điều trớ trêu trong bài Tin Mừng hôm nay là người Do Thái - đặc biệt những tư tế và luật sĩ - có Kinh Thánh trong tay, nên họ biết Đấng Cứu Thế sẽ sinh ra ở đâu, và lúc nào họ cũng tỏ ra mong chờ Đấng ấy đến. Thế nhưng những người gặp được đấng Cứu Thế - các đạo sĩ và mục đồng - lại là những kẻ chẳng biết gì về Kinh Thánh. Điều ấy chẳng làm cho chúng ta suy nghĩ sao?

Người Ki-tô hữu hôm nay có đủ mọi phương tiện để được cứu rỗi: Kinh Thánh (Cựu và Tân Ước), giáo lý, giáo huấn Giáo Hội (các văn kiện Tòa Thánh), các sách thần học, tu đức, luân lý, rồi các bí tích, các giờ phụng vụ... Nhưng hãy coi chừng kẻo lịch sử lại lập lại «y trang» như cách đây 2000 năm. Vì bài Tin Mừng cho thấy: để gặp được Đấng Cứu Thế, có Kinh Thánh trong tay không đủ, mà còn phải nhạy bén để biết thời điềm, đồng thời thật sự lên đường tìm kiếm Ngài. Người Do Thái - cụ thể là các tư tế và luật sĩ - có nhiều điều kiện để gặp Ngài hơn các đạo sĩ (có Kinh Thánh, ở gần nơi Ngài sinh ra, được các đạo sĩ báo về ngôi sao của Ngài), nhưng đã không lên đường tìm kiếm Ngài. Họ muốn yên thân với những tập tục đạo đức của họ, với cách giữ đạo cổ truyền của họ, và họ nghĩ rằng Đấng Cứu Thế sẽ chủ động đến để gặp họ, đem sự giải phóng đến cho họ. Nhưng sự thật đã xảy ra không phải như vậy.

b) Điều cốt yếu là tình yêu đích thực đối với Thiên Chúa và tha nhân
Bài Tin Mừng hôm nay mời gọi người Ki-tô hữu xét lại xem: cách sống đạo của chúng ta có giúp chúng ta đến gặp Chúa hay không, nghĩa là có thể đem lại ơn cứu độ cho chúng ta hay không. Chúng ta đừng an tâm tưởng rằng cứ giữ những tập tục đạo đức truyền thống cho tốt là bảo đảm vào được Nước Trời. Như thế không đủ! Điều cốt yếu để vào được Nước Trời không chỉ là tin vào Đức Giê-su mà còn phải thể hiện niềm tin ấy bằng việc sống theo lời Ngài: «Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em» (Ga 13: 34). Nghĩa là chúng ta phải chứng tỏ được tình yêu của chúng ta đối với Thiên Chúa và tha nhân. Mà tình yêu đối với Thiên Chúa lại được thể hiện qua tình yêu đối với tha nhân: «Nếu ai nói : "Tôi yêu mến Thiên Chúa" mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy» (1Ga 4,20).

c) Tình yêu phải được thể hiện thành hành động thật sự
Giấy thông hành để vào Nước Trời chính là tình yêu, mà phải là tình yêu đích thực. Không ai thiếu tình yêu mà vào Nước Trời được, vì Nước Trời là Nước của Tình Yêu. Tình yêu đích thực tự bản chất là phải được thể hiện thành hành động. Nếu «đức tin không có hành động thì là đức tin chết» (Gc 2,17), thì cũng vậy, tình yêu không có hành động là tình yêu giả hiệu. Với tình yêu giả hiệu, chúng ta không thể vào Nước Trời được.

Nhưng làm sao ta dám nói là ta có tình yêu đích thực đối với anh em mình khi họ lâm nạn mà ta lại khoanh tay đứng nhìn? Làm sao tình yêu của ta là đích thực được khi ta thấy rõ ràng anh em mình đang chịu bất công mà ta lại không chịu lên tiếng hay can thiệp, nhất là khi tiếng nói của ta có thể rất hữu hiệu? Nếu ta thấy anh em mình chịu bất công tỏ tường mà vì muốn yên thân ta lại làm chứng với mọi người rằng đó không phải là bất công, thì tình yêu của ta là chân thực sao được? Nếu cách hành động của ta là như thế, thì dù ta có tuân thủ giữ những tập tục truyền thống trong tôn giáo một cách hoàn hảo, không chê vào đâu được, chúng ta vẫn luôn luôn ở ngoài Nước Trời.

d) Cần cảnh giác với thứ đạo đức hương nguyện, thiếu việc làm
Tệ hơn nữa, là khi chính chúng ta đã không chịu thể hiện tình yêu, mà lại cổ võ một thứ đạo đức không việc làm, luôn luôn đề cao việc đọc kinh cầu nguyện, dâng thánh lễ... mà không hề nhấn mạnh bổn phận phải dấn thân cho anh em, phải quan tâm mưu cầu hạnh phúc cho những người chung quanh, biến cải xã hội nên công bằng và tốt đẹp hơn, thì phải chăng chúng ta đang tiếp tay cho kẻ ác ru ngủ quần chúng, làm tê liệt sức đấu tranh cho công bằng xã hội của họ? Phải chăng chúng ta đang biến tôn giáo của chúng ta thành «thuốc phiện» thật sự? Chúng ta quên rằng «điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công lý, tình thương và lòng chân thành» (Mt 23,23). Và có thể chúng ta miệng thì nói về Nước Trời, nhưng thật sự ta lại dẫn quần chúng đến một nơi khác vì những giáo huấn của ta khác hẳn với tinh thần Tin Mừng? Đức Giê-su nói: «Các người rảo khắp biển cả đất liền để rủ cho được một người theo đạo; nhưng khi họ theo rồi, các người lại làm cho họ đáng xuống hoả ngục gấp đôi các người» (Mt 23,15), liệu câu này có đúng với ta chăng? Vì nhiều khi cứ để họ ngoại đạo, họ lại quan tâm đến việc thể hiện tình yêu với tha nhân hơn khi họ vào đạo? Đến khi vào đạo, họ lại nghe lời ta chỉ biết quan tâm tới những tập tục đạo đức cổ truyền?

Trái lại, những người không có Kinh Thánh trong tay, không có giáo lý hay giáo huấn của Giáo Hội, không có bí tích, nhưng họ lại có tình yêu đích thực, tức có giấy thông hành để vào Nước Trời. Rất có thể họ lại vào Nước Trời trước chúng ta, là đối tượng ưu tiên của Nước Trời, là những kẻ lúc nào cũng nói về Nước Trời mà không hành động cho Nước Trời! Thánh Phao-lô nói: «Người ta được Thiên Chúa coi là công chính, không phải vì nghe biết Lề Luật, nhưng là vì tuân giữ Lề Luật» (Rm 2,13), và «nếu người không được cắt bì mà giữ những điều Luật dạy, thì tuy họ không được cắt bì, Thiên Chúa chẳng coi họ như đã được cat bì sao» (Rm 2,26). Bài Tin Mừng hôm nay và nhiều dụ ngôn của Đức Giê-su cho chúng ta thấy viễn cảnh ấy! Và đó cũng là một lời cảnh cáo chúng ta!

Cầu nguyện
Lạy Cha, nhiều khi chúng con làm chuyện hết sức khờ dại. Chúng con luôn luôn đề cao đạo của mình trước mặt mọi người, nhưng chính chúng con lại chẳng sống tinh thần đạo ấy. Đang khi có nhiều kẻ ngoại giáo lại thật sự sống được tinh thần ấy. Việc đề cao tôn giáo của chúng con, tự nó là một điều rất tốt, nhưng nhiều khi lại xuất phát từ một khuynh hướng kiêu ngạo tập thể chứ không phải là tình yêu. Vì nếu nó xuất phát từ tình yêu đích thực, thì chúng con đã phải thể hiện tình yêu ấy bằng sự dấn thân đích thực cho những anh em đang chịu khốn khổ của mình. Sự im lặng trước bất công, sự thụ động trước cảnh khốn cùng của đồng loại chứng tỏ chúng con chưa có tình yêu đích thực. Vì thế, việc đề cao tôn giáo của chúng con chỉ là một hình thức kiêu căng tập thể, là điều Cha rất ghét. Xin cho chúng con biết sống đích thực tinh thần đạo của mình trước khi đề cao nó, để sự đề cao ấy có giá trị đích thực làm sáng danh Cha. Amen.

NHỮNG ƯỚC MƠ CAO CẢ
Mt 2, 1 - 12
Lm Bùi Quang Tuấn, CSsR

Sáng ngày 26 tháng 11 năm 1994, đông đảo giáo dân của địa phận Paterson thuộc tiểu bang New Jersey đã vui mừng sung sướng và bồi hồi chứng kiến biến cố có một không hai trong lịch sử Giáo hội: lễ truyền chức linh mục cho một thầy mù, Michael Joly.

Số là sau lần giải phẩu bướu não khẩn cấp lúc 5 tuổi, thần kinh thị giác của bé Michael đã bị hư hại nặng nề. Thế giới Michael dần dần bị một bức màn đen bao phủ. Cuối cùng, bé bị mù cả hai mắt.

Thế nhưng, từ trong bức màn đen tăm tối đó đã bừng lên một ước mơ. Michael mơ ước được trở thành linh mục để minh chứng cho tình yêu Thiên Chúa dành cho con người. Thế nhưng mơ ước là một chuyện, còn thực hiện ước mơ lại là chuyện khác.

Đối với người bình thường, quan sát một biến cố, phân tích một sự kiện, đoán định chính xác một vấn đề đã không phải dễ dàng chi, đàng này anh Michael lại là một con người mù loà. Thành ra mộng ước của anh quả là táo bạo và xa vời, nếu không nói là chẳng thực tế chút nào.

Thế nhưng với ý chí sắt đá cộng với ơn Chúa chan hoà, anh Michael đã đấu tranh để lướt thắng bao thử thách chông gai trên con đường thực hiện ước mộng làm linh mục kia. Michael tâm sự thế này: "Khó khăn lớn nhất của tôi là việc đọc các sách triết và thần học." Mù thì đọc sách sao được!

Nhưng rồi với sự kiên nhẫn tìm tòi, anh đã phát hiện rằng computer có khả năng ghi nhận tất cả các chữ trong một cuốn sách qua máy scanner, rồi cũng chính computer sẽ đọc chúng lớn tiếng qua bộ phận chuyển âm. Và thế là anh Michael đã không bỏ lỡ cơ hội để biến ước mơ thánh thiện của mình thành hiện thực. Kết quả, anh học xong chương trình triết học và thần học và được phong chức linh mục, phục vụ Giáo hội tại địa phận Paterson.

Lùi về quá khứ cách đây 2000 năm, trên thế gian cũng từng xuất hiện những con người ôm ấp bao mộng ước thánh thiện. Họ đã cất công vượt bao gian nan để đạt đến đích cùng. Đó là ba nhà đạo sĩ hay còn được gọi là ba vua.

Mơ ước của họ là được thấy Đức Kitô, "Vua dân Do thái." Ba vua được biết đến như ba chiêm tinh gia, những người chuyên nhìn ngắm sao trời để đoán biết những biến chuyển của thế giới và con người. Thế nên khi vừa phát hiện một ngôi sao lạ và biết ngôi sao ấy báo hiệu một Đấng Cứu Thế vừa mới sinh ra cho nhân loại, tức thì ba ông lên đường. Họ ra đi với mục đích và khát mong duy nhất: tìm gặp Đấng Cứu Thế mới hạ sinh.

Mơ ước là thế, nhưng đạt được ước mơ lại là chuyện khác. Họ phải băng qua nhiều đồi, vượt qua nhiều núi, lại còn phải tiến vào vùng sa mạc hoang dại Trung Đông với khí hậu khắc nghiệt: ngày nóng cháy da, đêm lạnh thấu xương.

Địa đã bất lợi mà thiên cũng chẳng thời. Dưới đất bao khó khăn trắc trở mà trên trời còn như muốn gây thêm gian nan để thử lòng người. Ấy là có một ngôi sao dẫn lối thì nay lại biến mất. Mất sao dẫn đường thì có khác chi người đang sáng bỗng dưng bị mù. Thế nhưng, dù gặp bao gian nan, dù thiên không thời địa không lợi, dù hoang mang trắc trở vì lạc mất sao, ba nhà đạo sĩ vẫn quyết tâm thực hiện ước mơ. Họ vẫn tìm kiếm hỏi han. Câu hỏi "Vua dân Do thái mới sinh ra hiện đang ở đâu?" đã bộc bạch trọn niềm khao khát được thấy Đức Kitô của họ.

Với những ai thành tâm tìm Chúa, Ngài chẳng để thất vọng bao giờ. Ba vua thiết tha tìm kiếm Đấng Cứu Thế và Ngài đã chẳng để họ về không. Ngài đã cho ánh sao tái hiện. Ngài làm cho họ "hết sức vui mừng." Ngài tỏ mình ra và họ quì gối bái phục.

Cuối cùng, họ đã đạt được ước mơ.

Thế ra, có những người biết dùng tài năng kiến thức để đi tìm Chúa như ba chiêm tinh gia; có người biết tận dụng khoa học kỹ thuật tân tiến làm ánh sao dẫn lối để đạt đến mộng ước cao cả của đời mình như Michael Joly. Không biết tôi có dùng kiến thức, tài năng, khoa học kỹ thuật trong cuộc sống để tìm gặp Đức Kitô chăng, hay tôi đã dùng bao thứ ấy để làm mù loà tâm hồn và méo mó hướng đi cuộc đời?

Phải chăng, thay vì dùng computer hay TV như những phương tiện học hỏi để biết Chúa hơn và phục vụ Ngài nhiệt thành hơn, tôi lại dùng chúng để tiêu tốn thời gian và tìm xem những điều không nên?

Phải chăng đang khi có những người biết dùng kiến thức và khoa học để truyền đạo, dẫn lối những người u mê đến với Tin mừng Đức Giêsu, tôi lại dùng những thứ đó để làm cho niềm tin và hình ảnh Thiên Chúa nhạt nhoà trong bao tâm hồn?

Có nhiều người đang trên đường tìm kiếm. Song mục tiêu kiếm tìm của họ không phải là Chúa mà là tiền bạc, của cải, danh vọng, xác thịt, đam mê... Phải chăng họ không nhận ra giá trị trường tồn và niềm vui tuyệt đối chính là Chúa; hay đời họ đang mù tối vì thiếu ánh sao soi đường?

Sau 2000 năm kể từ ngày ánh sao lạ xuất hiện, vẫn còn cần lắm những ánh sao đưa đường cho bao tâm hồn lạc lối niềm tin hôm nay. Bạn và tôi đang được mời gọi làm nên những ánh sao giữa thế giới vật chất và sa đoạ này.

Có không ít người vẫn đang thắc mắc: "Vua dân Do thái hiện đang ở đâu?"

MỘT KHI ĐƯỢC GIƯƠNG CAO LÊN...
Mt 2, 1 - 12
Lm Augustine S.J.

Đức Giêsu, vua dân Do thái được những người ngoại đạo từ xa tìm đến bái lạy trong khi chính vua Hêrôđê lại tìm cách thủ tiêu. Ông và cả thành Giêrusalem sôi động do tin về ông vua của người Do thái mới sinh ra. Những nhà thông thái của thủ đô tra cứu Kinh Thánh và biết rõ nơi ông vua này chào đời, nhưng họ chẳng hề nhúc nhích tìm đến, dầu chỉ để thỏa mãn tính tò mò. Đó là tóm tắt bản bi kịch ở tâm điểm của Tin Mừng Matthêu: Đức Giêsu bị người đồng hương từ khước và tầy chay. Họ từ chối đón nhận Nước Thiên Chúa như Đức Giêsu giới thiệu, chủ yếu vì Nước đó được mở rộng cho cả dân ngoại gia nhập.

Quả thật, Nước Thiên Chúa mà Đức Giêsu đến thiết lập vượt hẳn tầm nhìn và hy vọng của dân Do thái. Họ vẫn nghĩ rằng người ngoại đạo nếu muốn gia nhập Nước Thiên Chúa cũng được nhưng phải giữ đạo như người Do thái và phải thờ phượng Chúa tại Giêrusalem, chứ không thờ phượng Chúa ở nơi nào khác.

Sự kiện Đức Giêsu sinh ra tại Bêlem (c.1) đã được lịch sử minh chứng. Riêng bài Tin Mừng hôm nay cho phép ta định vị cuộc sinh ra ấy xảy ra trước khi vua Hêrôđê Cả băng hà năm 4 trước công nguyên (lẽ ra Đức Giêsu sinh ra vào năm 1 công nguyên mới đúng, nhưng đã xảy ra một sự tính lầm tới ít là bốn năm.)

Tin Mừng Matthêu nêu câu hỏi quan trọng: "Vua của người Do Thái mới sinh ra ở đâu?" Cũng câu hỏi ấy được đặt lại trước toà án tổng trấn Philatô (Ga 18,33-37) nơi Đức Giêsu khẳng định Nước tôi không thuộc về thế gian này (c.36). Đó là điều các thượng tế từ khước cách quyết liệt khi đáp: "Chúng tôi không có vua nào cả, ngoài Xêdarê" (Ga 19,15). Nhưng Philatô còn quyết liệt hơn khi cho treo trên thập giá Đức Giêsu, tấm bảng viết bằng tiếng Hipri, La tinh và Hy lạp, để ai qua lại cũng đọc được nội dung là Giêsu Nadarét, Vua dân Do Thái (cc.19-20).

Nhưng bảng INRI của Philatô chẳng phải là lời tuyên tín. Đó là lời buộc tội cho thấy lý do tại sao Đức Giêsu chịu đóng đinh trên thập tự.

Trong cả thành Giêrusalem duy một mình Hêrôđê quan tâm về con trẻ mới sinh tại Bêlem, nhưng sự quan tâm ấy lại là lý do cho cuộc chạy tị nạn Ai cập của Thánh Gia Thất Đức Giêsu, Mẹ Maria và thánh Giuse (Mt 2,13-15). Đó cũng là lý do của cuộc tàn sát kinh hoàng tất cả các trẻ em từ hai tuổi trở xuống, tại Bêlem và vùng phụ cận.

Trong bối cảnh đó của Tin Mừng, ta thấy xuất hiện những con người bí nhiệm từ phương Đông (Mt 2,1). Họ là ai? Đó là những nhà đạo sĩ từ Ba Tư hoặc một nước nào khác bên phương Đông. Tin Mừng Matthêu không xác định ho là những ông vua, cũng không nêu số người của phái đoàn.

Điều quan trọng là họ chẳng phải là người Do Thái mà lại biết được nguồn tin mật mà triều đình vua Hêrôđê không biết. Tin ấy tất cả giới lãnh đạo và trí thức của toàn dân họp lại để nghiên cứu mới có thể trả lời được cho nhà vua (cc.3-6). Hậu quả là cuộc tị nạn của thánh gia và cuộc tàn sát dã man các thánh anh hài tại Bêlem như đã nói trên. Tất cả chỉ vì nhà vua sợ mất ngai vàng.

Nhờ được chỉ dẫn đích xác hướng tới Bêlem, những con người bí nhiệm kia lại lên đường. Và lạ lùng cách những người ấy được dẫn tới Bêlem cũng bí nhiệm, bởi lẽ ngôi sao họ thấy ở phương Đông lại xuất hiện. Điều được ám chỉ là sự hiện hữu của ánh sao dẫn đưa họ. Ánh sao ấy đã tắt lịm đi khi họ đi tìm chỉ dẫn nơi những nhà thông thái và quyền thế tại Giêrusalem. Giả như họ không dừng lại ở Giêrusalem, ánh sao đã dẫn đưa họ tới đích lâu rồi. Nhưng chỉ dẫn của Kinh Thánh tự nó vẫn có giá trị. Nó nối kết biến cố ông vua chào đơi tại Bêlem với toàn bộ lịch sử cứu độ được viên mãn nơi Đức Giêsu.

Lễ vật dâng tiến Hài Nhi là những sản phẩm quý từ Arabia. Các đạo sĩ phủ phục trước Hài Nhi Giêsu với những lễ vật đó, cho thấy ứng nghiệm lời loan báo (Tv 72) về vị vương quân cứu tinh trong tương lai, chính là Đức Giêsu. Ngôn sứ Isaia cũng đã loan báo rằng các dân nước sẽ mang lễ vật từ Arabia là vàng, nhũ hương, đến làm vang lên những lời chúc tụng Giavê. (x.Is 60,6).

Khỏi mặt đất
Vậy bài Tin Mừng Matthêu không những cho thấy Đức Giêsu là ông vua Mêsia, thuộc dòng tộc Đavít (c.2) mà còn cho thấy dân ngoại tuốn đến bái lạy Người. Điều đó khác với Tin Mừng Luca (chương 2) nơi chỉ thấy có người Do thái là các mục đồng của Bêlem tới kính chào Hài Nhi mới sinh ra. Sự xuất hiện của các đạo sĩ phương Đông (Mt 2,1) loan báo về điều sẽ xảy ra khi Đức Giêsu còn sinh thời, nhưng nhất là sau đó nơi Giáo Hội sơ khai và sau này. Người Do thái sẽ dửng dưng hoặc thù địch với Đức Giêsu, trong khi dân ngoại đông đảo sẽ đón nhận Tin Mừng Người công bố về Nước Thiên Chúa.

Khi còn sinh thời, Đức Giêsu đã có những người Hy lạp không phải gốc Do thái tìm đến với Người (Ga 12,20). Đó là cơ hội để Người tiên báo "một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi" (Ga 12,32). Đức Giêsu có ý ám chỉ về nỗi chết của Người trên thập giá (x.Ga 12,33). Nỗi chết ấy là dấu chỉ của tình yêu cao cả vì "không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình" (Ga 15,13). Đó là tình yêu có sức mạnh vô song để lôi kéo mọi người về cùng đích nhờ Đức Giêsu Kitô: "Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời" (Ga 3,16).

Tin vào Đức Giêsu là đặt mình để cho tình yêu cao cả của Ngài dẫn đưa. Như xưa các nhà đạo sĩ đã để cho ánh sao từ trời cao dẫn đường, thì nay muôn dân cũng cần để cho tình yêu xả kỷ của Đức Giêsu cuốn hút vào Nước của Thiên Chúa. Chính Ngài lãnh đạo họ bằng con đường thập giá đưa tới vinh quang. Đó là điều đã được loan báo tại Bêlem với cuộc chạy tị nạn sang Ai cập, nhất là được nói rõ hơn nữa khi những người Hy lạp không phải gốc Do thái ngỏ ý muốn được gặp Đức Giêsu. Đó là lúc Ngài tuyên bố: "Đã đến giờ Con Người được tôn vinh! Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo và lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu nó chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác" (Ga 12,23-24).

Tôi sẽ kéo mọi người lên với Tôi (Ga 12,33)

Chính từ nỗi chết tự nguyện của Đức Giêsu trên thập giá, nên mới có Phục Sinh và có lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống với khoảng ba ngàn người chịu phép rửa nhờ đón nhận Lời Tin Mừng được công bố do tông đồ Phêrô.

Sau hai mươi thế kỷ, lễ Hiện Xuống 1998 được tổ chức tại Roma cuối tháng 5/1998 do vị kế nhiệm thứ 263 của thánh Phêrô. Lần này riêng người Công giáo đã có cả tỷ người tin vào Đức Kitô. Lễ Hiện Xuống 1998 được tổ chức do ý muốn của Đức Gioan Phaolô II để quy tụ những phong trào và những cộng đoàn của Giáo hội khắp nơi trên thế giới. Con số của các tập thể vừa nói có mặt là 56 với 280,000 thành viên đại biểu. Mỗi tập thể là một bó đuốc rực sáng của đặc sủng qua đó Chúa Thánh Linh đang cuốn hút hàng triệu người muôn nước dấn thân đáp lại tình yêu của Đấng hy sinh mạng sống mình vì bạn hữu. Sau đây là một số Phong Trào đã có mặt trong lễ Hiện Xuống 1998:

Phong Trào Tân Tòng (Neocatechumenal Way) được Giáo Hội nhìn nhận năm 1990, hoạt động tại 150 quốc gia với 15,000 cộng đoàn trong 800 giáo phận tại 5,000 giáo xứ, góp phần mở 35 chủng viện để đào tạo các thừa sai truyền giáo.

Phong Trào Hội Học Kitô giáo Cursillo với 4 triệu thành viên trên thế giới.

Phong Trào Con Tàu Đức Tin và Ánh Sáng (L"Arche) gồm 105 cộng đoàn tại 25 quốc gia, là cơ sở tình thương bảo vệ phẩm giá của những người tàn tật và bệnh tâm thần. Tại Ấn Độ và Trung Đông người Kitô hữu chung sống với anh em Hồi giáo và Ấn giáo.

Phong Trào Tổ Ấm Focolare gồm 2 triệu thành viên ở những cấp độ khác nhau và nhiều triệu cảm tình viên, chủ trương trở nên tình yêu để chiếu toả tình yêu.

Một số câu hỏi gợi ý
1. Bạn nghĩ gì về sự kiện dân ngoại tìm đến bái lạy Đức Giêsu sinh tại Bêlem, trong khi dân Do thái đồng hương của Ngài lại tỏ thái độ dửng dưng hoặc thù địch? Sự kiện ấy còn kéo dài chăng? Nó có là cản trở cho đức tin của bạn đối với Đức Giêsu chăng?

2. Nhưng hãy coi ngôi sao đã dẫn đường cho các đạo sĩ tới tận nơi Đức Giêsu sinh ra. Chính bạn nghiệm thấy bạn được Chúa Thánh Linh dẫn đường như thế nào để nhận ra Đức Giêsu là Đấng cứu bạn khỏi cảnh diệt vong?

3. Bạn nghĩ gì về lời Đức Giêsu tuyên bố: "Khi nào được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi" Ga 12,33)?

HÀNH TRÌNH ĐỨC TIN... ÁNH SÁNG CHO TẤT CẢ
Mt 2, 1 - 12
Sr Marciana Chuẩn, CMR

Phụng vụ hôm nay toàn thể Giáo Hội mừng trọng thể lễ Hiển linh của Chúa chúng ta, đó là ngày lễ quan trọng cho Giáo Hội. Ngày lễ Giáng sinh Chúa Kitô mạc khải chính mình cho dân Do thái, nhưng ngày lễ Hiển linh, Thiên Chúa tỏ mình cho dân ngoại qua các vị Đạo sĩ. Chữ hiển linh có nghĩa là: Chúa mở nguồn ân sủng ánh sáng cho toàn thể nhân loại. Tiên tri Isaia nói với toàn thể nhân loại rằng: "Hỡi Giêrusalem! Kìa tối tăm bao phủ địa cầu, u minh phủ kín các dân, nhưng trên mình ngươi, Thiên Chúa đang đứng dậy, và vinh quang của Ngài xuất hiện trên mình ngươi. Chư dân sẽ lần bước tìm về ánh sáng của Ngài."

Trong bối cảnh đêm Giáng sinh, Thiên thần báo tin vui "Đấng Cứu thế giáng sinh" cho các mục đồng tại cánh đồng Bêlem (Lc 2:1-12). Việc các Đạo sĩ nhìn thấy sao lạ xuất hiện, họ quyết định lên đường tìm đến Bêlem để triều yết "Vua Do thái" mới sinh. Hai cuộc hành trình từ hai khởi điểm khác nhau trong không gian và thời gian, nhưng cùng một mục đích: tìm gặp Chúa Hài Nhi.

Đời sống Kitô hữu thường được diễn tả như một cuộc hành trình. Hình ảnh mang nhiều ý nghĩa. Thứ nhất hành trình là một diễn tiến có khởi điểm và đích tới: tôi từ đâu tới và đang đi về đâu. Thứ hai, hành trình hiểu là có di chuyển, thay đổi. Đứng tại chỗ không gọi là hành trình. Vì thế hôm nay tôi đi xa hơn hôm qua và kém ngày mai. Vì có di chuyển nên có vấn đề nhanh chậm, đúng hướng hay lạc đường. Thứ ba, hành trình nào cũng có gian lao, vất vả thấm mồ hôi và bụi đường. Người lữ hành trên đường về cố hương phải dạn dày với gió sương, mưa nắng, nhọc nhằn và đói khát. Phương châm của người lữ hành là nhắm hướng trước mặt mà tiến tới. Cuộc hành trình về nha Cha trên trời mỗi người hành trình một khác, nhưng vẫn có những tương đồng. Ba Đạo sĩ và các mục đồng đều nhận được dấu chỉ của Chúa trước khi lên đường. Các Đạo sĩ nhìn thấy ngôi sao lạ xuất hiện trên trời, còn các mục đồng được thiên thần đến báo tin. Họ hân hoan lên đường, dù không có gì bảo đảm chắc chắn, ngoài những lời giải thích vắn tắt của các Thiên thần "các ngươi sẽ thấy một con trẻ bọc trong khăn và nằm trong máng cỏ" (Lc 2:12).

Đức tin dạy rằng Chúa ở khắp mọi nơi. Điều đó có nghĩa là mọi biến cố, mọi sự vật, sự việc xảy ra trong đời sống đều là dấu chỉ sự hiện diện của Chúa. Qua những dấu chỉ đó, Chúa tỏ cho ta biết về chính Ngài về tình thương, sự săn sóc, quan phòng, bình an, niềm vui, ơn tha thứ của Ngài. Và đồng thời Chúa cũng tỏ cho ta biết Ngài chờ đợi nơi ta. Những biến cố cũng là lời mời gọi của Chúa, những "ánh sao lạ", những lời báo tin vui, "Hôm nay Đấng Cứu thế đã giáng sinh" cho chúng ta (Lc 2:12). Nhưng vì chúng ta quá bon chen với đời sống hiện tại, nên thường không nhìn thấy những "ánh sao" của Chúa. Đời sống có nhiều lời mời gọi, nhiều thu hút và níu kéo, nên ta không có giờ để "dừng lại", để suy nghĩ về những biến cố xẩy ra hằng ngày. Trái lại, công danh sự nghiệp, tình yêu và giải trí... những vấn đề đó chiếm hết đầu óc và thì giờ của ta, làm ta say mê, tất cả những vấn đề khác bị xuống hàng thứ yếu, hay bị gạt ra ngoài. Vì thế, ta cần những ngôi sao dẫn đường để nhận ra những dấu chỉ và thi hành ý Ngài.

Sau khi nhìn thấy ngôi sao, "vì chúng tôi đã thấy ngôi sao Người ở phương Đông" (Mt 2:2), các Đạo sĩ đã lên đường, "và chúng tôi đến thờ lạy Ngài". Sau khi được thiên thần báo tin, các mục đồng hân hoan rủ nhau tiến về Belem "chúng ta hãy đi Belem để xem việc đã xảy ra và Chúa đã cho chúng ta biết" (Lc 2:15). Cả hai cùng đồng hành chứ không độc hành. Trong cuộc hành trình đức tin, người tín hữu không độc hành. Họ đồng hành với Chúa Kitô và với anh em. Vì thế Ngài muốn chúng ta nâng đỡ nhau trong cuộc lữ hành trần gian về với Ngài. Không có Kitô hữu nào ích kỷ, thu mình vào "vỏ ốc" mà có thể sống ơn gọi Kitô cách hoàn toàn. Chúa bảo chúng ta trở nên ánh sáng, muối đất. Không đến với anh em làm sao tôi có thể chu toàn sứ mệnh này. Sống ích kỷ là "đốt đèn rồi bỏ dưới đáy thùng", là không chịu chiếu sáng. Vì thế mỗi Kitô hữu phải dấn thân phục vụ và nên nhân chứng đích thực của Tin Mừng tình thương trong môi trường sống của mình.

Sau khi gặp Chúa Hài Nhi, các Đạo sĩ được báo mộng nên dùng "đường khác" trở về quê hương. Gặp được Chúa đời sống chúng ta sẽ được biến đổi; chúng ta sẽ đi "con đường khác", là con đường mà Chúa Kitô nói đến trong Phúc âm "là đường của sự thật và sự sống" thì chúng ta sẽ hành trình trong niềm vui và bình an. Cuộc sống sẽ trở nên những vì sao sáng dẫn đường cho muôn dân nhận biết Chúa và tìm đến tôn thờ Ngài, hầu được trở nên đồng thừa tự lời hứa vinh quang với toàn dân Chúa. Và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được trở nên đồng thừa tự, đồng một thân thể và đồng thông phần Lời Hứa của Ngài trong Đức Giêsu Kitô.

Đó cũng là sứ mệnh truyền giáo mà Giáo hội nhắc nhở chúng ta hôm nay. Mỗi người hãy can đảm mạo hiểm làm một cuộc hành trình tiến về Belem và dám trở về nhà bằng một tuyến đường mới qua cuộc sống. Khi đã tìm thấy Belem rồi, như các Đạo sĩ dâng cho Ngài vàng, nhũ hương, mộc dược; còn chúng ta dâng chính con người mình cho Ngài như một tạo vật được tháp nhập vào Chúa Kitô. Món quà đó thật có giá trị đáng giá, quí báu và không bao giờ hư nát. Để rồi cuối cuộc hành trình chúng ta sẽ gặp được Con trẻ Giêsu, thánh Giuse và Mẹ Maria. Lúc đó chúng ta sẽ giới thiệu Chúc Kitô cho mọi người mình tiếp gặp hằng ngày.

MÓN QUÀ TÌNH THƯƠNG
Mt 2, 1 - 12
Sr Mary Ann Đàm, MTGQN

Mỗi năm đến tháng Mười Hai, người người tấp nập mua sắm những món quà để trao tặng cho nhau trong ngày Noel mà ta gọi là Sinh Nhật Chúa Kitô. Chắc chắn bạn và tôi có rất nhiều niềm vui trong đêm Noel, vì cũng đã tặng và nhận được những cánh thiệp dễ thương, những món quà rất đỗi ngạc nhiên. Nhưng trong vui mừng hoan hỉ đó, có ai trong chúng ta nghĩ đến món quà để tặng cho Chúa Hài Nhi như ba nhà Đạo sĩ không? Thánh Matthêu kể lại ba nhà Đạo sĩ đã vất vả theo ánh Sao lạ để tìm Chúa Hài Nhi. Họ đã tìm thấy và dâng lên Ngài: vàng, nhũ hương và mộc dược. Còn tôi, làm sao tôi tìm thấy Chúa để dâng lên Ngài món quà của tôi?

Henry Van Dyke có thuật lại câu chuyện với nhan đề "The Other Wiseman" như sau. Artaban là người đáng lẽ đã cùng ba nhà Đạo sĩ kia đi tìm vị Vua vừa sinh ra. Trong lúc chuẩn bị lên đường, Artaben cũng mang một túi ngọc quí để dâng tặng Ấu Vương, thế nhưng trên đường đến gặp ba vị thông thái kia để cùng đi, Artaban lại dừng chân để giúp một người nghèo khổ ngồi bên vệ đường và đã cho đi tất cả số ngọc quí của mình. Qua bao nhiêu năm sau, Artaban đã trở nên nghèo và tiếc nuối vì không được gặp Đấng mà ông mơ ước được trông thấy. Một ngày kia, ông được nghe một tiếng kỳ diệu phán với ông: "Này Artaban, đừng buồn khổ nữa! Suốt đời con đã giúp đỡ ta. Món quà mà con đã cho người khốn khổ kia là đã cho ta rồi."

Câu truyện trên đây cho ta biết rằng: chúng ta có thể tìm gặp Chúa và dâng lên Chúa những món quà quí giá hơn cả những món quà của ba Đạo sĩ nữa. Bởi vì món quà của chúng ta không phải chỉ là tặng phẩm trao dâng một lần, mà chính là món quà của tình yêu và tinh thần bác ái với tha nhân. Hôm nay, Giáo hội mừng kính lễ Hiển linh Thiên Chúa tỏ mình cho dân ngoại qua các Đạo sĩ để nhắc nhủ chúng ta rằng, tất cả chúng ta đều có những món quà để dâng tặng cho Chúa.

Hãy chạy đến với Bí tích Thánh thể, chúng ta có thể tìm gặp Đức Kitô mà không cần phải tốn phí công lao, khó nhọc vất vả lên đường tìm nơi xa xôi mà chỉ cần mở rộng tâm hồn để đón nhận Chúa bằng lòng tin, cậy, mến.

Hãy đến với người nghèo khó đáng thương để giúp đỡ họ, Chúa sẽ tỏ cho ta thấy hình ảnh Ngài trong họ. Mỗi mùa Giáng sinh đến và qua đi, chúng ta biết trao cho nhau những món quà quí giá nói lên tình cảm con người với nhau, nhưng thử hỏi có một cánh thiệp, món quà nào cho người hành khất bên đường, hay cho những ai rét run vì giá lạnh và cô đơn không?

Hãy nhiệt tình chào hỏi những người bạn không ưa thích với một ánh mắt trìu mến, một nụ cười cảm thông. Hãy làm hoà với những ai bạn vừa gây gỗ hay ghét cay ghét đắng. Hãy thăm hỏi những bệnh nhân liệt giường không thuốc thang. Hãy san sẻ một món quà cho những trẻ mồ côi không ai quan tâm đến.

Đó là những món quà có giá trị, ý nghĩa nhất. Chắc chắn Chúa sẽ hài lòng với chúng ta.

Lạy Chúa Hài Nhi yêu mến, xin mở mắt chúng con nhìn thấy Chúa qua tha nhân, để chúng con biết sống quãng đại và biết nhận ra dấu chỉ của thời đại hầu đón nhận ý Chúa và tìm đến với Người.

LỄ VẬT DÂNG CHÚA
Mt 2, 1 - 12
Lm Phạm Quốc Hưng, CSsR

"Và vào nhà, họ thấy Hài Nhi cùng Maria mẹ Ngài, và họ phục mình xuống yết bái Ngài; đoạn mở tráp báu họ dâng Ngài lễ vật: vàng, nhũ hương và mộc dược"

Một trong những câu tiếng Anh mà tôi thích hơn cả là "You can give without loving, but you can"t love without giving". Tạm dịch là "Bạn có thể cho mà không yêu, nhưng bạn không thể yêu mà không cho".

Mùa Giáng sinh là mùa chúng ta thấy rõ sự thật chứa đựng trong câu nói trên. Thật vậy, trong những ngày này người ta thường quan tâm đến việc mua sắm quà cáp tặng nhau. Các món quà tặng nhau có thể khác biệt từ những thứ đơn sơ như một lá thư, một cánh thiệp, một cú điện thoại chúc lễ, một phong bì với mấy tờ giấy bạc, một chiếc áo ấm, một chiếc quần tay hay đến những thứ mắc tiền như chiếc nhẫn kim cương, hoặc một chiếc xe mới. Giá trị vật chất của các món quà có thể khác nhau, nhưng mục đích của chúng thì giống nhau: chúng bày tỏ sự lưu tâm thương mến quý trọng của người cho dành cho người nhận.

Nếu việc trao tặng không phát xuất từ tình thương mà chỉ cốt để thỏa mãn các đòi hỏi của sự công bình, để cầu cạnh trục lợi hay dụ dỗ, thì người ta không gọi tặng phẩm là quà tặng nữa, nhưng là tiền công, là của hối lộ hay miếng mồi đặt bẩy.

Tương quan giữa Thiên Chúa và con người là tương quan yêu thương. Hơn nữa, Thiên Chúa chính là Tình Thương. Mọi việc Người làm cho nhân loại đều phát xuất từ tình thương vô biên của Người dành cho họ. Vì vậy, mọi sự con người đón nhận từ Thiên Chúa đều là những quà tặng tình thương và nhằm mục đích giúp chúng ta bước sâu hơn vào liên hệ yêu thương với Người.

Trong tất cả những quà tặng Thiên Chúa trao ban cho con người, Chúa Giêsu chính là món quà vượt trên tất cả. Ngài chính là món quà tự thân của Thiên Chúa dành cho nhân loại, nghĩa là Thiên Chúa đã trao ban chính mình Người cho nhân loại nơi Chúa Giêsu, Thiên Chúa làm người, như thánh Gioan viết : "Quả Thiên Chúa đã yêu thương thế gian như thế (đó) đến đỗi thí ban Người Con Một, ngõ hầu phàm ai tin vào Ngài thì khỏi phải hư đi, nhưng được có sự sống đời đời" (Jn 3:16).

Đó chính là một trong những ý nghĩa sâu xa nhất của lễ Giáng sinh.

Tình thương chỉ có thể đáp trả bằng tình thương. Nếu trong lễ Giáng sinh, chúng ta đã có dịp chiêm ngắm tình thương tuyệt vời của Thiên Chúa dành cho loài người nơi Chúa Hài Đồng, thì hôm nay - lễ Hiển linh - chúng ta có dịp học hỏi với ba nhà Đạo sĩ mà ta thường gọi là ba Vua về sự đáp trả của con người trước quà tặng tự thân của Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu và những lễ vật mà Thiên Chúa muốn đón nhận từ con người chúng ta.

Theo Tin mừng thánh Matthêô, lễ vật ba Đạo sĩ dâng lên Chúa là vàng, nhũ hương và mộc dược. Vàng là quý kim và là biểu tượng của hàng vương giả; nhũ hương là loại hương dùng trong việc thờ phượng Thiên Chúa và các bậc thần linh; và mộc dược là thước dùng trong việc tẩm liệm người chết.

Qua việc dâng tặng Chúa Hài Nhi vàng, nhũ hương và mộc dược, các Đạo sĩ đã thay mặt Hội thánh để tuyên xưng Chúa Giêsu là Vua vũ trụ và là Vua Tình yêu, Đấng đáng được muôn loài suy phục và đáng được ngự trị trong tâm hồn từng người; Ngài chính là Thiên Chúa Chí Tôn đáng được mọi người thờ lạy với tình yêu tuyệt đối; và Ngài đã vì yêu thương chúng ta nên đã mắc lấy bản tính và thân phận con người của ta, nên giống chúng ta mọi sự chỉ trừ tội lỗi, và tột đỉnh của tình yêu hiệp nhất Thiên Chúa dành cho chúng ta nơi Chúa Giêsu chính là việc Ngài đã chia sẻ sự chết của ta.

Vàng, nhủ hương và mộc dược ở đây cho ta thấy địa vị siêu việt của Chúa Giêsu. Đồng thời, những lễ vật này cũng nhắc chúng ta nhớ đến phẩm giá cao trọng tuyệt vời của ơn gọi làm người Kitô hữu. Vì khi chịu phép Thánh tẩy, chúng ta đã được tháp nhập vào Chúa Kitô, được trở nên chi thể của Thân thể nhiệm mầu của Chúa là Hội thánh. Chúng ta được Chúa Kitô cho chia sẻ chính địa vị vương đế, tư tế và ngôn sứ của Người. Thánh Phêrô đã gọi chúng ta là "dòng giống được lựa chọn, hàng tư tế hoàng vương nước thánh thiện, dân được chọn là sở hữu" của Chúa để ca ngợi vinh quang Chúa (1 Pet 2:9).

Qua việc mạc khải cho chúng ta biết những lễ vật ba Đạo sĩ - những người đại diện đầu tiên của Hội thánh - đã dâng tiến Chúa Hài đồng, Chúa muốn chúng ta cũng phải dâng tiến Chúa những lễ vật mà vàng, nhũ hương và mộc dược đã được chọn làm biểu tượng. Chúa muốn chúng ta dâng tiến Người vàng ròng là lòng mến yêu tuyệt đối dành cho Người qua việc sống trọn vẹn giới luật mến Chúa yêu người. Chúa muốn chúng ta dâng tiến Người nhũ hương của một đời sống được thấm nhuần bầu khí nguyện cầu mà đỉnh cao là hy lễ Thánh thể, khi chúng ta được nên một với Chúa Giêsu để dâng lên Thiên Chúa một động tác yêu mến tôn thờ cao trọng nhất. Chúa muốn chúng ta dâng tiến Chúa mộc dược của một sự bỏ mình liên lỉ qua những hy sinh to nhỏ trong cuộc sống hàng ngày như một sự nối dài của cái chết hy sinh trên thập tự của Chúa Giêsu, để qua đó chúng ta được chia xẻ vinh quang phục sinh của Người.

Với tinh thần yêu thương hiệp nhất, cầu nguyện và hy sinh, cuộc sống của chúng ta sẽ trở nên giống cuộc sống của chính Chúa Kitô và làm thành một lễ vật sống động đẹp lòng Chúa. Đây chính là điều thánh Phaolô từng kêu gọi các tín hữu tiên khởi phải nỗ lực thực hiện : "Vậy hỡi anh em, nhân vì lòng thương xót của Thiên Chúa, tôi khuyên anh em: hãy hiến dâng thân mình anh em làm lễ tế sống, thánh thiện, đẹp lòng Thiên Chúa. Đó là sự thờ phượng thiêng liêng của anh em. Đừng rập theo đời này, trái lại hãy canh tân lương trí, mà biến hình đổi dạng, làm sao cho anh em thẩm định được ý định Thiên Chúa là gì, thật là tốt lành, thú vị, trọn hảo" (Rm 12:1-2).

Chúng ta còn phải học với ba Đạo sĩ cách thức dâng tiến lễ vật lên Chúa Giêsu. Tin mừng hôm nay thuật rằng "Và vào nhà, họ thấy Hài Nhi cùng MariaMẹ Ngài, và họ phục mình xuống yết bái Ngài; đoạn mở tráp báu họ dâng Ngài lễ vật: vàng, nhũ hương và mộc dược" (Mt 2:11).

Khi ấy, Chúa Giêsu là một Hài Nhi mới sinh còn hoàn toàn tùy thuộc sự chăm sóc của Mẹ Maria. Chúa chưa thể tự mình đón nhận lễ của ba Đạo sĩ. Người muốn Mẹ Maria thay Người đón nhận lễ vật của các ông. Về phía ba Đạo sĩ, khi gặp Chúa Hài Nhi và phục bái Người thì các ông luôn gặp Chúa và phục bái Người bên cạnh Mẹ và có lẽ Chúa Hài Nhi đang ở trong vòng tay Mẹ. Chắc chắn lúc ấy các lễ vật của ba Đạo sĩ chỉ được Chúa đón nhận bằng một cách duy nhất : qua tay Mẹ Maria!

Đó là lý do tại sao các tín hữu đích thực của Chúa Kitô qua mọi thời đại luôn noi gương ba Đạo sĩ và làm theo ý Chúa khi biết nhờ Mẹ Maria để đến với Chúa, để yêu mến Chúa, và để tận hiến cho Chúa.

Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ day chúng con luôn biết sống đẹp lòng Chúa bằng tinh thần yêu thương bác ái, cầu nguyện và hy sinh, để xứng đáng với ơn gọi làm con Chúa, là Kitô hữu của mình. Xin Mẹ giúp chúng con luôn biết nhờ Mẹ để đến với Chúa, để yêu mến Chúa, và tận hiến cho Chúa, như gương ba Đạo sĩ năm xưa. Amen.

DÕI THEO ÁNH SAO
Mt 2, 1 - 12
Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
Dõi theo ánh sao các nhà đạo sĩ đã mau mắn lên đường trong hy vọng tràn đầy." Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện " ( Mt 2,2 ). Các nhà đạo sĩ sau khi gặp Hêrôđê,các Ngài đã ra đi và cũng ánh sao đó lại xuất hiện, dẫn lối chỉ đường cho các Ngài đến hang đá Bêlem tìm gặp Hài Đồng Giêsu. Tin Mừng viết rõ, các Ngài dâng Hài Đồng Giêsu những đặc sản quí giá của địa phương là vàng, nhũ hương và mộc dược ( Mt 2, 11 ).

Ngôn sứ Isaia viết:"Dân đang lần bước trong tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng; đám người sống trong vùng bóng tối nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi "( Is 9,1 ). Ánh sáng chiếu soi là Đức Giêsu Kitô, Ngôi Sao Hy Vọng cho muôn dân, muôn nước. Quả thật, từ khi ông bà Adam và Evà phạm tội, nhân loại chìm trong tối tăm của khổ đau và sự chết. Con người tưởng rằng không bao giờ có thể thoát khỏi bóng tối của đau khổ, của tối tăm, của sự chết. Nhân loại vì nguyên tổ phạm tội luôn dò dẫm, lần mò trong bóng tối tăm, mong chờ,mỏi mòn chờ mong ánh sáng cứu độ chiếu rọi nhân gian, soi chiếu thế giới. Ngôi Sao Hy Vọng,một Ngôi Sao lạ xuất hiện ở phương trời Đông, và sẽ không bao giờ lặn. Lễ Hiển Linh là lễ Con Thiên Chúa đến trần gian không chỉ dành riêng cho Dân Do Thái nhưng là tỏ mình cho mọi người, cho dân ngoại. Đại diện là ba nhà đạo sĩ trong đó có tất cả mọi người chúng ta. Ngộ giả Chúa là Ngôi Sao Hy Vọng, đã chiếu rọi vào cuộc đời tăm tối của chúng ta thì Người cũng muốn mỗi người chúng ta phải trở thành những ánh sao soi chiếu người khác. Chúa luôn yêu thương, trung tín với con người dù cho con người thất trung, phản bội. Do đó, con người đừng bao giờ thất vọng về chính mình. Chúa Giêsu Kitô là Ngôi Sao Hy Vọng đã không bao giờ làm ai thất vọng, chúng ta cũng đừng bao giờ để ai thất vọng vì chúng ta.

Ngôi sao xưa đã dẫn đường cho ba nhà đạo sĩ Phương Đông đến gặp Chúa nơi hang đá Bêlem và rồi các nhà đạo sĩ đã gặp được Vua Trời Đất. Các Ngài vui mừng, phấn khởi. Tin Mừng không thấy ghi lại một câu nói nào của ba nhà đạo sĩ hay câu nói nào của Mẹ Maria hoặc thánh cả Giuse. Nhưng chúng ta có thể ngầm hiểu chính sự im lặng thánh của Mẹ Maria, của thánh cả Giuse và ngay sự im lặng của ba nhà đạo sĩ đã nói lên giờ phút linh thiêng Chúa tỏ mình ra cho dân ngoại mà ba nhà đạo sĩ là đại diện mọi người. Sự im lặng thánh diễn tả việc các nhà đạo sĩ cung chiêm Chúa cả Trời Đất với tất cả lòng yêu mến, kính trọng và tin cậy của họ nơi Con Thiên Chúa. Chúa Giêsu Kitô đã tỏ mình ra cho mọi dân tộc, Ngài đem an bình, hạnh phúc và ơn cứu độ đến cho mọi người. Chúa đã tỏ mình ra từ lâu nhưng thực tế còn biết bao người chưa nhận biết Chúa, còn biết bao người chưa thấy Ngôi Sao Hy Vọng dù rằng Ngôi Sao vẫn cứ luẩn quẩn trên bầu trời để dẫn đưa con người tìm gặp Chúa. Thế giới ngày nay văn minh, khoa học kỹ thuật tiến bộ, nhưng còn biết bao người chưa nhận ra Ngôi Sao dẫn đường để tìm gặp Chúa. Ngôi sao xưa đã dẫn các nhà đạo sĩ phương Đông tìm ra được nơi Chúa sinh ra và họ đã cung chiêm, bái lạy Hài Đồng Giêsu. Xin cho Ngôi Sao xưa vẫn là Ngôi sao ngày nay đang dẫn mọi người đến với Chúa.

Lạy Chúa Giêsu, Ngôi Sao Hy Vọng, xin giúp nhiều người, mọi người nhận ra Chúa là Ngôi Sao Hy Vọng để tất cả như ba nhà đạo sĩ mau mắn đến thờ lạy Vua Giêsu. Xin cho chúng con trở thành những Ngôi Sao lạ để dẫn đường cho nhiều người tìm gặp Chúa. Amen.

HÃY CHIẾU SÁNG NHƯ NHỮNG VÌ SAO
Mt 2, 1 - 12
Pm. Cao Huy Hoàng

 "Vua Người Do Thái mới sinh ra ở đâu? Chúng tôi đã thấy ngôi sao của Người xuất hiện ở Đông phương và chúng tôi đến để triều bái Người"

Gọi là "ngôi sao của Người", bởi ấy là một ngôi sao lạ, không giống như những ngôi sao thường thấy. Ngôi sao lạ xuất hiện, theo các nhà thông thái ấy, là dấu chỉ một điềm lạ xảy đến: một con người vĩ đại xuất hiện trên dương trần. Ngôi sao lạ, lạ đến nỗi các chiêm tinh gia chỉ còn biết theo ánh sáng của ngôi sao ấy mà bước đi, vì xác tín rằng ấy là Ngôi Sao Cứu Thế, Ngôi sao của "Vua Người Do Thái mới sinh ra". Họ đã không đặt viễn vọng kính để nghiên cứu, cũng không theo ánh sáng của ngôi sao để tìm đến chính ngôi sao, mà chiêm ngưỡng, ca tụng, tôn vinh ngôi sao đẹp lạ lùng diễm lệ ấy; ngược lại họ theo ánh sáng của ngôi sao mà tìm đến thờ kính Con Thiên Chúa Giáng Trần. Họ đã không thể làm khác hơn, vì "ngôi sao ấy luôn đi trước họ, dẫn đường cho họ, và đậu lại trên chỗ Hài Nhi ở" (Mt. 2,9).

Và còn hơn thế nữa, cách nào đó, họ đã trình diện cõi riêng mình với Thiên Chúa khi dâng những lễ vật dành cho Vua Chúa với hết lòng thành kính. Vàng, nhủ hương, mộc dược những lễ phẩm tự nó đã quí giá, đối với các bậc quân vương, càng quí giá đối với hàng lê thứ, nhưng ở đây, cái quí giá hơn chính là lòng tin tưởng và phó thác vào một hài nhi khó nghèo dưới mức bình thường của nhân loại mà họ xác tín là Đấng Cứu Thế. Ánh sáng của vì sao nên huyền vi diệu kỳ, chắc chắn không phải là ánh sáng bình thường mà là ánh sáng của Thần Linh Thiên Chúa. Ngôi sao đã chấp nhận làm một công cụ để Thiên Chúa giới thiệu Con Một của mình cho muôn dân. Như vậy, công việc của một ngôi sao, đến đây có thể nói là hoàn tất sứ mệnh, một sứ mệnh thật cao cả: đưa dẫn con người đến gặp gỡ con Thiên Chúa, để tôn vinh, chúc tụng và dâng lên Thiên Chúa những lễ phẩm với lòng tín thác.

Nhưng không ai ca tụng ngôi sao, chỉ nghe thấy ngôi sao cùng muôn tinh tú xôn xao ca tụng Con Thiên Chúa. Cũng không thấy ngôi sao yêu cầu ai ca tụng mình, vì ngôi sao tự biết mình đã chứa chan hạnh phúc khi nhận được ánh sáng từ Thần Linh Thiên Chúa để phát sáng cho đời nhận ra vinh quang Con Thiên Chúa, đễ dẫn lối cho đời đến với Đấng Cứu Thế của họ.

Chúa Kitô: Ánh sáng mới
Chúa Giêsu bé thơ trong máng bò lừa rơm cỏ úa chính là ánh sáng mới chiếu soi gian trần như tiên tri Isaia đã tiên báo: " Ánh sáng mới đã bừng lên cho dân đang lầm lũi tối tăm trong đêm dài. Mặt trời công minh đã chiếu sáng khắp nơi " (Is 9,1). Đức Kitô không chỉ là một ngôi sao xuất hiện ở phương Đông không bao giờ tắt lặn, nhưng còn là ánh sáng muôn đời cho nhân loại.

Ánh sáng của tình yêu Thiên Chúa trong chương trình cứu rỗi nhân loại: "Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời" (Ga 3,16). Ánh sáng ban ngày soi chiếu vào cõi lầm lạc của con người đi trong bóng đêm, ánh sáng công minh chính trực soi chiếu vào hố thẳm bất công và gian tà, ánh sáng ban sự sống- sống chân chính đàng hoàng trong kiếp sống của con người được yêu thương cứu rỗi, được gọi Thiên Chúa là Cha; ánh sáng ấy, thánh Phao lô đã khuyên giáo đoàn Roma tiếp nhận : "Dừng chân ngay thôi con đường mê muội. Xóa bất công xây bình an trong lòng. Hãy mặc lấy khí giới ban sự sống. Sống công minh như giữa ban ngày" (x. Rm 13,11-14)

Ánh sáng của "Ngôi Lời Thiên Chúa đã thành xác phàm"- Ánh sáng của Lời Hứa Cứu Độ của Thiên Chúa Cha trong thượng uyển năm xửa năm xưa, từ thủa con người tự đánh mất ơn mất ơn làm nghĩa tử-Ánh sáng của Lời Thiên Chúa tạo dựng và cứu chuộc mà dân Thiên Chúa hằng mõi mong đợi chờ trong tin tưởng : "Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường cho con đi" (Tv 118,105). Ánh sáng mạc khải mầu nhiệm cứu chuộc muôn dân: "trong Đức Giêsu Kitô và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với Người Do thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa" ( Eph 3,6).

Đức Giêsu, chính là ánh sáng mới, là ngôi sao mới, chiếu soi con đường mới đưa dẫn nhân loại về với Thiên Chúa Cha. Ngài cũng như ngôi sao phương Đông năm nào không hề có tham vọng đưa nhân loại quy về mình, nhưng là về với Cha, đấng đã sai Con Một Người xuống thế. Tất cả vì danh Cha, tất cả cho Cha, tất cả để "nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện, danh Cha cả sáng". "Ánh sáng của anh em phải chiếu giải trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời". (Mt 5, 16)

Và vì Cha biết và tin tưởng Con mình tất cả cho Cha, nên Cha đã thông ban vinh quang của Cha cho con để mọi người khi quy hướng về Ánh sáng của Con, thì được xem thấy Cha của Con và Cha của chính mình.

Các con là ánh sáng thế gian
Mỗi tín hữu phải trở thành một chứng nhân Đức Kitô, một ngôi sao dẫn đường cho nhân loại tìm về với Thiên Chúa. Đời sống chứng nhân, ơn gọi tiên tri cho đời, trước tiên là một ơn nhưng không qua bí tích rửa tội. Đã có biết bao Kitô hữu đã trở nên ánh sáng cho muôn dân qua cách sống đạo của mình. Họ chiếu sáng tinh thần Phúc Âm, không chỉ bằng lời, mà bằng cả cuộc sống Đức Tin, Đức Cậy Trông, và Đức Ái Kitô giáo trong cuộc đời họ. Trong mọi hoàn cảnh, họ chấp nhận và kiên trì chu tất sứ mệnh làm ánh sáng Tin Mừng cho đời, cả khi họ giàu sang, hay nghèo khó, bình an mạnh khỏe hay bệnh hoạn tật nguyền....trên cánh đồng, nơi xưởng việc, trong bệnh viện, kể cả nơi lao tù... Tinh thần của Chúa Kitô ngời sáng và họ đã trở nên ngôi sao mang ánh sáng của Tin mừng cho nhân loại tìm về với Thiên Chúa, để tin nhận, ca tụng, và phó thác vào tình yêu Thiên Chúa.

Nhưng một thực tế đáng buồn: vẫn còn nhiều người đang bước đi trong bóng tối lầm lạc, bóng tối của gian tham, của bất công, của ngẫu tượng xác thịt đểhưởng thụ trần gian... Tại sao?

Tôi vẫn nghĩ chúng ta chưa hiểu thấu mầu nhiệm của ngôi sao dẫn đường cho các đạo sĩ, chưa thẩm thấu trọn vẹn được ý nghĩa ánh sáng Chúa Kitô, khi ta vẫn là "những ngôi sao chiếu sáng cho thiên hạ thấy đường tìm về mình, tìm về cái tôi của ngôi sao vô nghĩa". Biết bao việc làm tưởng là để vinh danh Chúa, để người ta tung hô ca tụng Chúa, thì lại tiềm ẩn một âm mưu tranh giành vinh quang của Thiên Chúa, để cho mình được vinh quang, được tung hô. Ngay đến việc nhỏ của một vai trò bé bé trong giáo xứ: Hội đồng, bà mẹ, Legio, ca đoàn... cũng đòi phải được tung hô thì còn gì cho vinh quang Thiên Chúa. Và nếu không được tung hô thì bất mãn đòi bỏ việc, thì còn gì là việc của Thiên Chúa. Bệnh "ngôi sao" trên sân cỏ, trên sân khấu, trên thương trường, trên chính trường, trên thông tin mạng, nếu không loại trừ ai, thì trên lĩnh vực công tác tông đồ cho Thiên Chúa cũng y hệt như vậy- không loại trừ đấng bậc nào trong giáo hội. Vì thế, bệnh "ngôi sao chứng nhân cho Chúa Kitô" trở thành con virus làm tê liệt hệ thống miễn nhiễm những trào lưu nhân loại, những chước cám dỗ của satan, của thế lực chống lại Thiên Chúa. Ai cũng có thể tìm cho mình một mối lợi hư ảo, và nhường lại phần thiệt hại cho Thiên Chúa, để người tìm đến Thiên Chúa thì lưa thưa ít ỏi mà tìm đến mình thì dồn dập xôn xao. Lời ca tụng và lễ phẩm dành cho Thiên Chúa thì không thấy mà lại thấy vô vàn ở các ngôi sao. Có lẽ phải nhắc nhở nhau rằng: Đi trong bóng tối âm u gian ác của cõi lòng mình mà vẫn giảng rao về ánh sáng Thiên Chúa là công việc của ma quỷ, là mưu chước hiện đại nhất của satan. Vì nơi satan, và các thế lực của nó, không có, không chấp nhận ánh sáng của Đức Kitô, của Thiên Chúa, nhưng chúng vẫn biết về ánh sáng ấy, và vẫn có thể tiếp thị cách hiện đại.

Lễ Hiển Linh, là cơ hội cho mỗi Kitô hữu, nhìn lại đời sống chứng nhân của mình. Hãy chiếu sáng như những vì sao ở giữa thế gian, nhưng chiếu sáng không phải để thế gian tìm về mình, nhưng là để thế gian tìm về Thiên Chúa, như Đức Kitô, ánh sáng mới cho nhân loại, soi cho nhân loại tìm được lối về với Cha thật trên trời. Tất cả vì "nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện, danh Cha cả sáng". Bạn và tôi, như ngôi sao kia, đang làm việc của mình phải làm là chiếu sáng, chứ không làm việc của mình thích làm là chiếu sáng cho vinh quang mình.

THIÊN CHÚA TỎ MÌNH
Mt 2, 1 - 12
LM Trần Thanh Sơn

Nếu có dịp làm hay quan sát các hang đá, chúng ta thấy rằng không có hang đá nào giống hang đá nào. Điều làm cho các hang đá này khác nhau là do cách trang trí của những người làm hang đá. Có những hang đá to lớn, với những thác nước nhân tạo cùng với nhiều đèn chớp lộng lẫy, nhưng cũng có những hang đá thật đơn sơ với một vài phiến đá, gốc cây. Tuy nhiên, có một điều mà không một hang đá nào lại không có, đó là các ngôi sao. Và một trong số các ngôi sao ấy lại có một ngôi sao có một cái đuôi sáng hướng về hang đá, nơi Hài Nhi Giêsu được sinh ra. Như thế, một cách mặc nhiên, ngôi sao đã trở nên biểu tượng cho mùa Giáng Sinh, một dấu chỉ cho người ta nhận biết nơi Chúa sinh ra.

Các ngôi sao không những là dấu chỉ cho chúng ta hôm nay biết rằng đã đến mùa Giáng Sinh, nhưng ngay từ đầu, cũng chính các ngôi sao đã báo tin và dẫn đường cho các đạo sĩ đại diện cho muôn dân đến thờ lạy Con Thiên Chúa mới sinh ra đời.

1. Thiên Chúa đến với nhân loại:
Với việc cho Con Thiên Chúa Nhập Thể và Giáng Sinh, Thiên Chúa đã thực hiện trọn vẹn lời Người đã hứa với các tổ phụ. Do đó, đúng ra đây phải là một niềm vui mừng trọng đại cho toàn thể dân Do Thái, và họ phải hân hoan chào đón ngày Đấng Messia đến, vì từ đây niềm hy vọng từ bao đời của họ đã trở thành hiện thực. Con Thiên Chúa đã xuất hiện để giải thoát họ khỏi ách thống trị của tội lỗi, đưa họ đến với ánh sáng ban sự sống. Ánh sáng mà ngôn sứ Isaia đã loan báo trước đó hơn 500 năm: "Hãy đứng lên, hãy toả sáng, hỡi Giêrusalem! Vì sự sáng của ngươi đã tới, vì vinh quang của Chúa đã bừng dậy trên mình ngươi". Sự xuất hiện của Chúa sẽ đem lại một ánh sáng rực rỡ phá tan mọi bóng tối của tội lỗi và sự chết, đem lại cho những ai tin tưởng nơi Ngài một sự sống mới, như lời ngôn sứ Isaia: "Kìa tối tăm đang bao bọc địa cầu, vì u minh phủ kín các dân, nhưng trên mình ngươi Chúa đang đứng dậy, vì vinh quang của Ngài xuất hiện trên mình ngươi".

Thế nhưng, vào ngày Con Chúa ra đời, Ngài đã không được dân Ngài đón tiếp. Họ đã từ chối Ngài, khiến Ngài phải sinh ra trong một nơi ở tồi tàn của súc vật, thật đúng như lời Gioan nói: "Ngài đã đến nơi nhà của Ngài, mà người nhà đã không tiếp nhận Ngài" (Ga 1, 11). Và do bởi sự từ chối của dân Chúa, Tin mừng giờ đây đã được ban cho dân ngoại, mà ba đạo sĩ từ Phương Đông xa xôi là đại diện, như lời báo trước của ngôn sứ Isaia: "Chư dân sẽ lần bước tìm về sự sáng của ngươi, và các vua hướng về ánh bình minh của ngươi". Thật là trớ trêu, những người dân ngoại lại đến hỏi dân Do thái về vị vua mới sinh của chính dân Do thái, trong khi dân Do Thái lại đang chối từ: "Vua Do Thái mới sinh ra hiện đang ở đâu? Chúng tôi đã nhận thấy ngôi sao của Người ở Đông Phương, và chúng tôi đến để triều bái Người". Như thế, với sự Giáng Sinh của con Thiên Chúa, ơn cứu độ không còn bị giới hạn bởi một dân tộc, một miền đất nào nữa, nhưng được ban cho hết mọi người. Kể cả những người mà dân Do thái cho là dân ngoại, thì chính họ giờ đây, lại trở thành một trong những người đầu tiên đến để thờ lạy Con Thiên Chúa.

Đây quả thực là một mầu nhiệm của Thiên Chúa, mầu nhiệm của tình yêu, một tình yêu không biên giới, không phân biệt, một tình yêu dành cho hết mọi người, và cho từng người chúng ta. Thánh Phaolô cũng xác tín điều đó trên bước đường rao giảng Tin mừng của Ngài khi nói: "Thiên Chúa đã ban cho tôi việc phân phát ân sủng cho anh em, là theo ơn mặc khải, tôi đã được thấu hiểu mầu nhiệm mà con cái loài người các thế hệ khác không được biết".

2. Bước đường con người đến với Thiên Chúa:
Tình yêu của Thiên Chúa thì bao la và không giới hạn đã được ban sẵn cho con người chúng ta. Tuy nhiên, để đón nhận được ơn đó, mỗi người chúng ta cần đóng góp phần của mình. Ơn Chúa cũng giống như trời mưa, nước đã sẵn, nhưng nếu muốn có nước, chúng ta lắp đặt máng xối để hứng thì mới có nước. Chúng ta có thể học được nơi ba vị đạo sĩ trong bài Tin mừng hôm nay bước đường để con người đến với Chúa và nhờ đó, nhận được ơn cứu độ của Ngài.

Điều đầu tiên, chúng ta có thể học được nơi các đạo sĩ là lòng khao khát, tìm kiếm vị Cứu Chúa. Mặc dù ở tận Phương Đông xa xôi, giữa một bầu trời đầy sao, các ông vẫn liên tục tìm tòi, học hỏi để phát hiện vị sao lạ giữa muôn ngàn tinh tú. Tuy nhiên, để nhận ra ngôi sao này là điềm báo "Vua dân Do thái mới sinh", chắc hẳn các đạo sĩ này đã phải nhớ tới lời loan báo trong sách Dân số mà dân Do Thái đã loan truyền trong thời gian họ bị lưu đày ở Babilon: "Một ngôi sao mọc lên từ Giacóp, một vương trượng xuất từ Israel" (Ds 24, 17).

Thế nhưng, ánh sao dẫn đường cho họ nay đột nhiên biến mất. Một lần nữa, họ phân vân: "nên tiếp tục cuộc hành trình hay trở lại quê nhà?". Họ đã phải hỏi chính những người Do thái: "Vua người Do thái mới sinh hiện đang ở đâu? Chúng tôi đã nhận thấy ngôi sao của Người ở Đông phương, và chúng tôi đến để triều bái Người". Và rồi một lần nữa, qua các đại giáo trưởng và luật sĩ trong dân Do thái, các đạo sĩ lại được lời Thánh Kinh soi dẫn: "Tại Bethlehem, thuộc xứ Giuda, vì đó là lời do Đấng tiên tri đã chép: Cả ngươi nữa, hỡi Bethlehem, đất Giuda, không lẽ gì ngươi bé nhỏ hơn hết trong các thành trì của Giuda, vì tự nơi ngươi sẽ xuất hiện một thủ lãnh, Người đó sẽ chăn nuôi Israel, dân tộc của Ta". Và rồi lòng nhiệt thành của họ đã được đáp ứng cách xứng đáng: "Và kìa ngôi sao họ xem thấy ở Đông phương lại đi trước họ, mãi cho tới nơi và đậu lại trên chỗ Hài Nhi ở. Lúc nhìn thấy ngôi sao, họ hết sức vui mừng".

Điều cuối cùng, chúng ta có thể học được nơi các đạo sĩ là sự lên đường. Lên đường nghĩa là hành động. Họ đã nhìn thấy vì sao lạ. Họ đã nhớ đến lời Kinh thánh, nhưng tất cả những điều đó sẽ không ích lợi gì, nếu họ không lên đường ra đi tìm kiếm.

Tóm lại, nhờ luôn biết khiêm tốn, lắng nghe lời của Thiên Chúa, cùng với việc chăm chú nhìn xem các dấu chỉ trong cuộc sống hàng ngày và sẵn sàng lên đường, các đạo sĩ đã được diễm phúc là một trong số những người đầu tiên được chiêm bái Chúa Hài Nhi.

Hôm nay, cùng với toàn thể Giáo Hội mừng lễ Chúa Hiển Linh, nghĩa là mừng việc Chúa tỏ mình ra cho chúng ta. Thế nhưng, nhìn lại lòng mình, tôi và quý ông bà anh chị em đang hiện diện nơi đây đã thực sự gặp được Chúa chưa? Hay là chúng ta cũng giống như vua Hêrôđê và những người Do Thái khi xưa. Chúng ta nói thật hay và thật nhiều về Chúa, nhưng chúng ta chưa một lần lên đường đi tìm Chúa, nghĩa là chúng ta chưa một lần dám sống điều mà chúng ta vẫn tuyên xưng nơi môi miệng. Và có lẽ vì thế, tâm hồn tôi và quý ông bà anh chị em chưa thật sự cảm nếm được niềm vui trong ngày Con Chúa giáng trần.

Giờ đây, noi gương các đạo sĩ, nhờ sự trợ lực của Thánh Thể Chúa, từng người chúng ta hãy quyết tâm đứng dậy làm một cuộc lên đường ra khỏi những lười biếng, tính ù lì, an phận, can đảm chấp nhận những thua thiệt trước mắt, sẵn sàng khiêm tốn học hỏi và sống tất cả những gì Chúa dạy. Nhờ đó, chúng ta sẽ có được niềm vui gặp gỡ Chúa và qua chúng ta, niềm vui Con Chúa Giáng Sinh cũng sẽ được lan tỏa cho mọi người đang sống quanh ta. Amen.

NIỀM VUI GẶP GỠ
Mt 2, 1 - 12
LM Trần Thanh Sơn
Bước đi trước của Thiên Chúa
Thánh Kinh thuật lại, ngay từ những ngày đầu tạo dựng, "chiều chiều", Thiên Chúa vẫn đi dạo trong vườn và trò chuyện thân mật, vui vẻ với con người. Chúng ta có thể hình dung: Mỗi lần Thiên Chúa đến thăm, là vườn Địa đàng như mở hội, tiếng cười nói giữa Thiên Chúa và con người râm ran, và có thể cả hoa lá, chim chóc cũng cất cao tiếng hót phụ họa. Chỉ cần nghe bước chân Thiên Chúa từ xa là ông bà Nguyên tổ đã chạy ra đón Ngài. Thế rồi, có một hôm, như lệ thường, Thiên Chúa vào vườn Địa đàng và Ngài thấy bầu khí hôm đó chợt như chùng xuống, nặng nề, vắng hẳn cả tiếng hót líu lo của bầy chim. Ngài không nghe thấy bước chân của con người chạy ra đón Ngài như những hôm trước. Lấy làm lạ, Thiên Chúa đã cất tiếng gọi: "Ađam, ngươi ở đâu?" (St 3, 10).

Và cũng kể từ đó, trải qua suốt chiều dài lịch sử hàng ngàn năm, cùng với tiếng gọi "Ngươi ở đâu?", Thiên Chúa bằng nhiều cách: qua các tổ phụ, các ngôn sứ, qua các biến cố trong lịch sử, các biến chuyển trong thiên nhiên... tiếp tục tìm kiếm con người.

Cuộc tìm kiếm này không phải là dễ dàng gì. Trong cuộc tìm kiếm này, Thiên Chúa đã nhiều lần bị bội phản, nhiều lần tưởng chừng như đã nắm bắt được con người, nhưng rồi, con người lại quay lưng bỏ mặc Thiên Chúa. Suy nghĩ nhiều, tôi cũng không hiểu: Tại sao Thiên Chúa lại làm một cuộc tìm kiếm thật vất vả như thế để làm gì? Bởi vì xét cho cùng: Có con người hay không, Ngài cũng chẳng mất mát gì? Vậy mà Thiên Chúa vẫn cứ tiếp tục không ngừng tìm kiếm con người cho đến một lúc, Ngài đã phải cho chính Người Con Một yêu dấu của Ngài nhập thể làm người, đến trong trần gian để trực tiếp đi tìm con người.

Đây quả là một mầu nhiệm. Mầu nhiệm của tình yêu. Thánh Phaolô trong bài đọc hai nói: "Thiên Chúa đã ban cho tôi việc phân phát ân sủng cho anh em, là theo ơn mạc khải, tôi đã được thấu hiểu mầu nhiệm mà con cái loài người các thế hệ khác không được biết, nhưng nay đã được mạc khải cho các thánh tông đồ của Người". Mầu nhiệm mà thánh Phaolô muốn nói ở đây là mầu nhiệm Con Thiên Chúa làm người, để cho chúng ta "được nên đồng thừa tự, đồng một thân thể, và đồng thông phần lời hứa của Người", được nhận lãnh sự sống của Người.

Con Thiên Chúa đã đến trong trần gian, nhưng con người vẫn vô tâm không nhận ra Người. Và một lần nữa, Thiên Chúa lại chứng tỏ tình yêu của Ngài dành cho con người, khi tiếp tục đi bước trước để mạc khải cho con người. Ngài đã cho xuất hiện một ngôi sao lạ, làm dấu chỉ, để dẫn đưa con người đến với Ngài. Các đạo sĩ trong bài Tin mừng đã nói với vua Hêrôđê: "Chúng tôi đã nhận thấy ngôi sao của Người ở Đông phương".

Ngôi sao lạ đã xuất hiện. Con Thiên Chúa đã làm người. Lời hứa của Thiên Chúa từ bao đời nay đã trở nên hiện thực. Đây là lúc ứng nghiệm lời loan báo của ngôn sứ Isaia mà chúng ta vừa nghe trong bài đọc một: "Hãy đứng lên, hãy tỏa sáng ra hỡi Giêrusalem! Vì sự sáng của ngươi đã tới, vì vinh quang của Chúa đã bừng dậy trên mình ngươi". Thế nhưng, để Thiên Chúa và con người có thể gặp lại được nhau, vẫn rất cần một sự đáp trả trong tự do của con người.

Lời đáp của con người
Thiên Chúa đã tìm kiếm con người thật vất vả, nhưng sự đáp trả của con người thật nhạt nhòa. Tình yêu của Thiên Chúa thật bao la, còn con người thì cứ mãi quay lưng hững hờ. Tuy nhiên, trong bài Tin mừng, chúng ta cũng đã nhận ra một sự cố gắng của con người trong nỗ lực đáp lại tình yêu của Thiên Chúa qua hình ảnh của các đạo sĩ đến từ phương Đông xa xôi. Họ đã nói với dân cư thành Giêrusalem: "Chúng tôi đã nhận thấy ngôi sao của Người ở Đông phương, và chúng tôi đến để triều bái Người".

Hành trình đáp trả của các đạo sĩ quả là một hành trình đáp trả đầy lòng tin, kiên vững, phó thác và yêu mến, nhưng cũng rất khôn ngoan. Các đạo sĩ đã biết sử dụng những phương tiện của con người, nhưng quan trọng hơn, họ đã luôn biết lắng nghe tiếng Chúa, cho dù tiếng đó đến từ kẻ đối nghịch như bạo vương Hêôđê.

Các đạo sĩ đã tìm và đã gặp. Họ đã gặp được "Vua dân Do Thái", vua của cả vũ trụ, cho dù trước mắt họ chỉ là một hài nhi bé nhỏ. Họ đã gặp được Đấng họ kiếm tìm. Họ đã đạt được mục đích của đời mình. Và với một bối cảnh như thế, trong họ chắc chắn sẽ vỡ òa một niềm vui. Diễn tả niềm vui mừng hân hoan của những người gặp gỡ được Cứu Chúa của mình, ngôn sứ Isaia trong bài đọc một đã dùng một hình ảnh hết sức sống động "Tim ngươi sẽ rạo rực và sẽ phồng lên".

Các đạo sĩ trong bài Tin mừng đã chấp nhận rời bỏ sự yên ổn nơi gia đình, quê hương của mình, can đảm và kiên trì cất bước lên đường trong sự mờ tỏ của một ánh sao lạ, và các ông đã gặp được Chúa. Còn chúng ta hôm nay thì sao?

Chúng ta hôm nay
Thiên Chúa đã và vẫn đang không ngừng theo đuổi, tìm kiếm từng người chúng ta. Ngài vẫn đang nói với chúng ta qua lời của Ngài trong Thánh Kinh, qua giáo huấn của Giáo hội. Ngài vẫn đang nói với chúng ta qua các biến chuyển của thiên nhiên, qua các biến cố trong lịch sử. Ngài vẫn đang nói, đang nhắc nhở, đang tìm kiếm chúng ta qua cha mẹ, anh chị em, qua những người chúng ta gặp gỡ tiếp xúc mỗi ngày. Và cách đặc biệt hiện nay nơi giáo xứ của chúng ta, Ngài vẫn đang nói với chúng ta qua tiếng nói của Mẹ Maria mà từng gia đình chúng ta đang được hân hạnh đón tiếp mỗi ngày trong giờ Kinh Tối.

Về phần mình, chúng ta đã làm gì để gặp được Chúa? Chúng ta có dám vượt qua sự lười biếng, vượt qua mặc cảm tội lỗi, vượt qua những đam mê của mình để đến với Chúa không?

Và một trong những dấu chỉ cụ thể nhất chứng tỏ rằng chúng ta đã gặp được Chúa, đó là việc chúng ta gặp gỡ anh chị em mình, bởi vì từng người đang sống chung quanh chúng ta đây đều mang hình ảnh của Thiên Chúa. Thử hỏi: Trong gia đình của mình, trong khu xóm của mình đang còn bao nhiêu người mà hiện nay khi gặp nhau, chúng ta chưa thể "tay bắt, mặt mừng"?

Thiên Chúa đã bỏ qua biết bao lỗi lầm, yếu đuối của tôi và quý OBACE, để đến gặp gỡ chúng ta. Biết bao nhiêu lần tôi và quý OBACE đã quay lưng lại với Ngài để chạy theo những đam mê, dục vọng của mình, vậy mà Thiên Chúa vẫn cứ tiếp tục "lẽo đẽo" theo sau từng người chúng ta, để "năn nỉ" chúng ta trở về với Ngài.

KHÁT VỌNG TÌM CHÚA
Mt 2, 1 - 12
LM Nguyễn Chánh
1/ Nếu thử hỏi: Khát vọng sâu xa nhất của con người là gì?
Trước câu trả lời này ta thấy có những thái độ chọn lựa khác nhau: Sẽ có nhiều người nghĩ rằng tiền của, vật chất, địa vị, danh vọng, quyền lực, có khi ngay cả lạc thú, những thứ này sẽ là nguyên nhân khơi lên lòng ước muốn nơi họ. Từ xác tín mơ hồ đó, sẽ phát sinh những cách sống chỉ biết tôn thờ vật chất, tôn thờ quyền lực, cùng với những thứ giả dối khác...

Ngược lại, cùng một câu hỏi, nhưng ta lại thấy những tương phản với sự lựa chon theo chiều hướng duy vật trên. Đó là vẫn còn rất nhiều người xác tín rằng: Chúa chính là Đấng luôn đáp ứng cho những khát vọng sâu xa nhất trong cõi lòng con người. Đây chính là xác tín đúng nhất và sâu xa nhất.

Từ xác tín khiêm tốn trên, thực tế ta thấy rất nhiều tâm hồn trong cuộc sống họ không ngừng khao khát tìm gặp Chúa, cho dẫu họ phải hứng chịu nhiều thử thách cam go trong cuộc hành trình tìm Chúa.

Như vậy, cùng một câu hỏi, nhưng câu trả lời thì không giống nhau, luôn có sự tương phản với nhau. Bởi vì có những thái độ chon lựa khác nhau. Sự tương phản này chúng ta cũng tìm thấy nơi thái độ của các nhân vật trong trang Tin mừng hôm nay, khi Chúa sinh hạ tại Bêlem.

2/ Thái độ của Vua Hêrôđê, các Thượng tế, Luật sĩ và Dân chúng:
Đây là thái độ thờ ơ, không cần bận tâm trước một sự kiên vĩ đại là Vua Israel hạ sinh. Mặc dù Đấng Cứu Thế giáng sinh cách Giêrusalem không xa, hay sau khi đã tra cứu Kinh thánh và biết rằng tại Bêlem, miền đất Giuđa, Vị lãnh tụ của Israel ra đời. Đây là những yếu tố khách quan để Hêrôđê và mọi thành phần trong dân Israel nhận biết Chúa, tìm kiếm Chúa. Nhưng cũng vì quá mải mê với cách sống giàu sang, quá ham muốn với cuộc sống danh vọng và địa vị, nên những người này cảm thấy Đấng Cứu Thế cũng không cần thiết mấy so với những quyền hành và bổng lộc mà họ đang nắm trong tay. Vì thế họ cố tình không dò xét và tìm hiểu Mầu Nhiệm Giáng Sinh của Vua Israel là Đấng Kitô.

3/ Thái độ của các nhà chiêm tinh:
Đó là thái độ ngược hẳn với Vua Hêrôđê, các Thượng tế, Luật sĩ và dân Israel. Các nhà chiêm tinh luôn kháo khát Đấng Cứu Thế. Vì qua sự thiện chí nghiên cứu thời giờ, tín hiệu, nhất là qua ánh sao lạ, họ đã biết Đấng Cứu Chuộc muôn dân đã hạ sinh. Vì thế, họ quyết tâm lên đường tìm Chúa cho bằng được.

Tuy nhiên, trong chặng hành trình kiếm tìm Đấng Cứu Thế, các nhà chiêm tinh cũng đã gặp không ít những khó khăn. Khó khăn về thời gian, đi mà không biết đến lúc nào mới gặp được Chúa. Khó khăn về địa lý, bởi vì đường xá xa xôi hiểm trở. Khó khăn về những dự định cho công việc tại quê nhà. Khó khăn về sức khoẻ, thời tiết. Và khó khăn lớn nhất đối vời các nhà chiêm tinh là ngôi sao lạ dẫn đường biến mất trong chặng hành trình họ đang tìm Chúa.

Cho dù có đối diện với rất nhiều khó khăn, hay có phải rơi vào những hiểm trở chông gai. Các nhà chiêm tinh vẫn cương quyết đi tìm Chúa cho đến cùng. Vì lúc này đối với các ông Chúa chính là tất cả. Và nơi Ngài sẽ đáp ứng cho tất cả những khắc khoải của con người.

Và rồi "kiên nhẫn đã thắng mọi sự". Các nhà chiêm tinh đã gặp được Chúa. Cử chỉ các ngài sụp xuống thờ lạy Chúa, dâng vàng, nhũ hương và mộc dược, tất cả đều thể hiện niềm xác tín: Chúa là tất cả. Chúa là Đấng duy nhất để con người theo đuổi. Chúa là đối tượng duy nhất để đem niềm vui cho con người. Chúa là đối tượng duy nhất để con người tôn thờ và kính bái. Đây chính là thái độ đức tin của các nhà chiêm tinh. Nhờ thái độ đức tin kỳ diệu ấy, chúng ta đã thấy có sự biến chuyển cách sống nơi họ.

4/ Sau khi đã gặp được Chúa và thờ lạy Chúa.
Các nhà chiêm tinh ra về mang theo tâm trạng của những con người đang dâng trào niềm vui mới và cách sống mới. Niềm vui mới đã đem đến cho họ một chon lựa mới. Đó là phải sống theo đường lối mà họ mới nhận ra nơi Chúa. Đường lối mới là họ phải xa tránh và không đi trên lối mòn của con đường cũ, nhưng phải bước đi trên những nẻo đường mới của con người mới. Đây là kết quả của những thiện chí, thể hiện qua sự hy sinh và khao khát kiếm tìm Chúa nơi các nhà chiêm tinh. Những thiên chí của các nhà chiêm tinh đã được Chúa bù đắp bằng sự biến đổi đột ngột nơi bản thân các ngài. Sự biến đổi bằng ơn thánh của Chúa đã đem đến cho các nhà chiêm tinh niềm hạnh phúc thật sự, cũng như những khát mong Thiên Chúa xuất phát từ cõi lòng khiêm tốn chân thành nơi các ngài, đã được lắp đầy bằng ơn thánh Chúa đã tặng ban. Chắc chắn từ giây phút bất ngờ sau khi đã được biến đổi, sẽ là mốc điểm để các nhà chiêm tinh khởi sự bằng đời sống mới liên tục trong Đấng Cứu Độ trần gian.

5/ Khi con người cứ mải mê kiếm tìm
Khi con người cứ mải mê kiếm tìm và sống trong sự hưởng thụ thoả mãn nơi vật chất, tiền của, địa vị, danh vọng, lạc thú. Chắc chắn lối sống ấy không bao giờ đem lại ích lợi gì cho con người. Đó là một cuộc sống vô nghĩa. Đôi khi nó sẽ hướng hành động của con người đi đến tính ích kỷ, bất công, tham lam, tham ô, gian dối... Vì con người có thể dùng mọi thủ đoạn để đạt tới cách sống giả dối, luôn lệ thuộc những thứ mau qua của trần gian.

Ngược lại, khi con người biết khiêm tốn kiếm tìm chính Chúa là nguồn hy vọng của con người. Chắc chắn cuộc kiếm tìm ấy sẽ mang đến cho con người một cuộc sống lý tưởng cao đẹp. Một cuộc sống đã được Chúa đổi mới bằng ơn thánh. Một cuộc đời luôn có " Chúa là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống" hiện diện trong mỗi hoàn cảnh. Một cuộc sống mà Chúa sẽ hướng dẫn mỗi người phải hành động như thế nào cho phù hợp với ý Chúa. Đó là một cách sống luôn tôn trọng sự thật, luôn quý trọng công bình, luôn tôn trọng quyền lợi của cá nhân và tập thể, luôn biết xây đắp bình an và gieo rắc công bình cho mọi người và mọi nơi đang cần sự công bình.

Lạy Mẹ Maria! Xin Mẹ giúp chúng con luôn tin tưởng rằng, Đức Giêsu Kitô Con Mẹ, là Đấng luôn đem lại lý tưởng cao đẹp cho con người, luôn bù đắp cho những khát vọng sâu xa nhất trong cõi lòng con người. Xin Mẹ hướng dẫn đời sống chúng con, luôn là cuộc lên đường để tìm Chúa không ngừng. Nhờ vậy đời sống chúng con sẽ được biến đổi thật sự, khi đã gặp được Đức Kitô Đấng muôn dân mong đợi, như các nhà chiêm tinh trong bài Tin mừng hôm nay. A men.

THÀNH TÂM THIỆN CHÍ SẼ GẶP CHÚA
Mt 2, 1 - 12
+ TGM Giuse Ngô Quang Kiệt

Lễ Hiển linh là lễ Chúa tỏ mình ra. Việc Chúa sinh ra được loan báo cho mọi người biết dưới nhiều hình thức khác nhau như : lời các ngôn sứ loan báo từ nhiều thế kỷ trước, đạo binh thiên thần ca hát, ngôi sao lạ xuất hiện ...Tuy nhiên không phải ai cũng gặp được Chúa.

Có những người không gặp Chúa, dù biết rõ những chỉ dẫn về Người.
Đó là những kinh sư, biệt phái. Họ hiểu biết Thánh Kinh. Khi ba nhà đạo sĩ đến hỏi thăm, họ đã đọc vanh vách lời ngôn sứ loan báo Đấng Cứu Thế sinh ra tại Bê-lem. Nhưng họ không gặp được Chúa, vì họ hiểu biết lý thuyết mà không thực hành. Ngồi một chỗ mà không chịu lên đường. Chỉ chú ý tới chữ nghĩa sách vở mà không chú ý tới cuộc sống con người. Chỉ tìm trong sách vở mà không tìm những dấu chỉ trong đời thường.

Đó là Hê-rô-đê. Bạo vương này muốn tìm Chúa nhưng không gặp Chúa, dù ông có binh hùng tướng mạnh trong tay. Ong không gặp Chúa vì ông tìm Chúa không phải vì Chúa mà vì quyền lợi của ông. Ong tìm Chúa không phải để thờ lạy nhưng để giết chết. Ong tìm Chúa không phải để tôn vinh Chúa nhưng để tôn vinh bản thân. Ong tìm Chúa không phải để làm theo ý Chúa nhưng để bắt Chúa phải theo ý ông. Vì thế Chúa đã vượt thoát khỏi tầm tay của ông. Vĩnh viễn ông không gặp được Chúa.

Những người xem ra gần gũi nhất, hiểu biết nhất, có phương tiện nhất đã không gặp được Chúa. Trái lại những người có vẻ nghèo hèn, thiếu thốn phương tiện, xa xôi cách trở lại gặp được Chúa. Đó là các mục đồng và đặc biệt ba nhà đạo sĩ mà ta nhớ đến trong thánh lễ hôm nay.

Họ đã gặp Chúa vì họ đã lên đường. Dù không biết lời tiên tri loan báo, không biết lời hứa, không thuộc Thánh Kinh, nhưng khi thấy ngôi sao lạ, họ đã lên đường ngay tức khắc. Lên đường nói lên thái độ ngoan ngoãn tuân theo ơn Chúa soi sáng. Lên đường nói lên thái độ dấn thân. Lên đường nói lên lòng cương quyết đi tìm. Lên đường là chấp nhận gian khổ để đạt được điều mơ ước.

Họ lên đường và đã gặp Chúa vì lòng họ khao khát. Khao khát chân lý nên đêm đêm họ không ngừng quan sát bầu trời tìm kiếm ánh sao, vì thế cả một bầu trời bao la, chỉ một ánh sao lạ xuất hiện, họ đã nhận biết. Khao khát chân lý nên khi Chúa vừa tỏ mình qua dấu hiệu ngôi sao, họ đã vội vã theo sát dấu ánh sao đi tìm. Khao khát gặp Chúa nên khi ánh sao vụt biến mất, họ đã không nản lòng, quyết tâm dò hỏi cho ra.

Họ đã gặp Chúa vì tâm hồn họ đơn sơ thành thực. Đi tìm Chúa chứ không tìm bản thân. Đi tìm Chúa để thoả lòng khao khát chân lý chứ không để thoả mãn những tham vọng đen tối. Đi tìm Chúa để thờ lạy Chúa chứ không vì lợi lộc cá nhân. Với tâm hồn đơn sơ, họ đã nhận ra ý Chúa, dù ý Chúa chỉ nhẹ nhàng qua một ánh sao. Với tâm hồn đơn sơ, họ đã nhận ra chính Chúa, dù Chúa có ẩn thân dưới hình dáng một em bé yếu ớt nghèo nàn, trong khung cảnh rất tồi tàn của chuồng bò hôi hám.

Đời sống đạo của tôi cũng là một cuộc đi tìm Chúa. Tôi sẽ chỉ gặp được Chúa nếu tôi noi gương ba vua, có tâm hồn đơn sơ thành thực, có lòng khao khát Chúa vì chính Chúa, và dám dấn thân thực hành những điều Chúa truyền dạy, đặc biệt là giới răn bác ái, phục vụ Chúa trong những anh em nghèo khổ.

Lạy Chúa, xin chỉ cho con đường lối của Chúa. Amen.

LỄ HIỂN LINH: CHÚA TỎ VINH QUANG NGƯỜI NƠI MỘT HÀI NHI
Mt 2, 1 - 12
Thế Vinh

Bài Phúc Âm Lễ Hiển Linh hôm nay (Mat. 2:1-12) không những kể về hành trình đức tin mạo hiểm của các đạo sỹ phương Đông đến thờ lạy đấng Cứu Độ duy nhất trần gian, mà còn diễn tả vinh quang Thiên Chúa được tỏa sáng nơi sự sống con người, nơi một hài nhi-hài nhi Jesus.

Các đạo sỹ đã tìm gì? Họ đi tìm "vua dân Do Thái mới sinh." Họ tìm một hài nhi mới sinh ra. Họ đã đến dâng vàng, mộc dược, nhũ hương và phủ phục trước một hài nhi bình thường như mọi hài nhi khác. Ánh sao trên trời và ánh sao trong tâm hồn mà Thiên Chúa đã soi sáng họ làm điều đó: thờ lạy Thiên Chúa nơi một hài nhi.

Hơn nữa, để hài nhi Jesus thoát khỏi bàn tay bạo tàn của Herode, các đạo sỹ đã trở về xứ sở mình theo đường khác theo như mộng báo. Các đạo sỹ còn là những người bảo vệ mạng sống hài nhi Jesus.

Con Thiên Chúa đã làm người, làm một hài nhi yếu ớt cần sự chăm sóc, yêu thương, và công lao vất vả của cha mẹ trần gian. Vinh quang người tỏ rạng nơi sự sống con ngưòi, nơi một hài nhi. Ôi, cao quí thay sự sống con người, sự sống của các hài nhi! Ôi, cao quí thay phẩm giá con người.

Hôm qua theo tin của VietCatholic nạn phá thai giảm 95% từ 1989 ở Croatia nhờ phản ứng mạnh mẽ của các Giám mục nước này. Bản tin trích dẫn: "Các Đức Giám Mục Croatia đã cùng nhau đồng lòng, đồng trí đưa ra các chương trình hành động cụ thể, trong việc giáo huấn các chủng sinh, các tầng lớp Linh Mục, và các nam/nữ tu sĩ về sự cao quý và tính thánh thiên của sự sống. Và chính từ đó, nạn phá thai đã giảm xuống, và ơn gọi ngày càng tăng lên, và tất cả mọi người đều cùng nhau tâm đầu ý hiệp với Đức Thánh Cha".

Ở Hoa Kỳ, các Giám mục nỗ lực huấn luyện ý thức của giáo dân và mọi người về sự thánh thiêng của sự sống con người. Ngoài những thư chung, lời giảng dạy công khai, và lời cầu nguyện tín hữu trong các thánh lễ, các ngài còn tổ chức biểu tình hàng năm tại Washington DC để đòi các nhà lập pháp thay đổi luật cho phép phá thai.

Việt Nam là nước có tỷ lệ phá thai rất cao. Theo AFP, hằng năm ở Viêt Nam có 1.4 triệu thai nhi bị phá. Đáng buồn thay, tỷ lệ phá thai cũng rất cao trong những ngưòi công giáo. Chắc chắn các vị chủ chăn biết được điều đó trong mục vụ của mình. Ước gì các vị chủ chăn ở Việt Nam có những chương trình biện pháp cụ thể để đánh động ý thức giáo dân về trách nhiệm bảo vệ mạng sống các hài nhi chưa đưọc sinh ra và giảm được tỉ lệ phá thai nơi ngưòi công giáo và ở Việt Nam.

Xin Chúa giúp mỗi người công giáo chúng ta cũng nhận ra vinh quang của Thiên Chúa nơi mỗi hài nhi và bảo vệ sự sống của các hài nhi. Amen.

GẶP CHÚA
Mt 2, 1 - 12
Lm Jos Tạ Duy Tuyến

Một cậu bé lần nọ quyết định sẽ đi gặp bằng được Thiên Chúa. Cậu biết rằng chuyến đi sẽ dài và vất vả lắm nên xếp vào túi xách bánh và thức uống.

Khi đã đi qua ba dãy phố, cậu bé gặp một bà lão. Bà ngồi trong công viên, đôi mắt dừng lại ở những chú chim bồ câu. Cậu bé đến ngồi cạnh bà và mở túi xách của mình. Hình như bà lão đang đói, cậu bé nhận ra điều này và mời bà một chiếc bánh. Bà lão cười với cậu. Nụ cười dịu dàng đến nỗi cậu bé muốn nhìn thấy nó hiện ra một lần nữa. Cậu lại mời bà thức uống. Nụ cười lại hiện ra trên khuôn mặt phúc hậu của bà làm cậu cảm nhận được sự ấm áp. Họ ngồi suốt buổi chiều ăn uống và không nói một lời.

Mãi đến khi trời sụp tối cậu bé mới rời chổ. Rồi bất ngờ cậu quay lại, chạy đến chỗ bà lão và ôm lấy bà từ biệt. Món quà mà bà lão đã tặng cho cậu là nụ cười đẹp và rộng mở nhất của mình.

Khi cậu bé mở cửa vào nhà, người mẹ vô cùng ngạc nhiên vì nét rạng rỡ còn ngập tràn trong ánh mắt cậu: - Điều gì hôm nay đã làm con hạnh phúc vậy?
Cậu bé đáp:
- Con đã ăn trưa với Chúa. Mẹ biết không, Chúa có nụ cười tuyệt đẹp trên đời!.
Trong khi đó bà lão cũng bừng tỉnh với niềm vui và trở về nhà. Đứa con trai nhận ra vẻ thanh thản trên gương mặt mẹ và hỏi:
- Điều gì hôm nay đã làm mẹ hạnh phúc?
Bà lão đáp:
- Mẹ đã ăn bánh cùng với Chúa bên cạnh những chú chim bồ câu. Con biết không, Chúa trẻ trung hơn chúng ta ngỡ rất nhiều.
Khi làm người, Con Thiên Chúa đã sinh ra trong thân phận người nghèo. Ngài đã chọn chốn hang bò lừa làm nơi để sinh. Ngài đã chọn gia đình nghèo làm gia đình của mình. Ngài đã hoà mình như bao người lao động nghèo làng quê Nagiaret. Ngài đã sống một cuộc đời nghèo khó đến độ không có nơi gối đầu. Ngài còn tự đồng hoá mình với những mảnh đời bất hạnh lầm than. Ngài còn hứa ban hạnh phúc Nước Trời cho những ai đón nhận Ngài qua những người đói, rách, tù đầy. . .

Cậu bé trong câu chuyện đã tìm gặp Chúa nơi bà lão nghèo ngoài công viên. Và bà lão cũng tìm gặp được Chúa qua tình yêu của cậu bé dành cho bà. Có thể nói tình yêu đã nối kết họ nên một trong tình yêu Chúa. Tình yêu đã giúp họ nhận ra Chúa nơi người mình đang tiếp xúc. Ước mơ của cậu bé là mong được nhìn thấy Chúa đã thành hiện thực khi cậu trao ban miếng bánh thơm ngon cho bà lão. Cậu cũng đâu ngờ rằng tình yêu của cậu làm cho bà lão nhận ra Chúa đang hiện diện nơi tấm lòng nhân ái của cậu.

Năm xưa, ba nhà đạo sĩ đã tìm gặp Chúa không phải nơi cung điện nguy nga, nhưng lại là nơi đồng hoang mông quạnh. Họ đã gặp vị quân vương vừa mới hạ sinh nơi máng cỏ hôi tanh của đám bò lừa. Họ đã bái quỳ trước một hài nhi bé nhỏ con của một gia đình nghèo khó. Họ đã dâng cho hài nhi những lễ vật quý giá là vàng, nhũ hương và mộc dược, tượng trưng cho quyền bính của vị quân vương.

Hôm nay, Chúa vẫn đang hiện diện giữa chúng ta qua tha nhân là hình ảnh của Chúa. Chúa còn hiện diện cách đặc biệt qua những người nghèo khó, những người già neo đơn, những người đau yếu đang sống trong cô đơn tuyệt vọng. Chúa vẫn đang mời gọi chúng ta dâng cho Chúa tình yêu hiến thân phục vụ tha nhân một cách quảng đại. Chúa vẫn đang mời gọi chúng ta hãy nhận ra Chúa nơi anh em đang sống bên cạnh chúng ta. Chúa vẫn mời gọi chúng ta hãy dâng tặng cho Chúa món quà quý hoá nhất chính là tấm lòng biết yêu thương.

Ước gì mỗi người chúng ta biết dâng tặng cho Chúa món quà của yêu thương để mang lại niềm vui và hạnh phúc cho tha nhân. Amen

CHÚA TỎ MÌNH
Mt 2, 1 - 12
Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT

Lễ Hiển Linh là lễ Chúa to mình ra cho thế giới, cho con người, cho mọi người mà đai diện là ba nhà đạo sĩ, trong đó có tất cả chúng ta. " Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện " ( Mt 2, 2 ). Ba nhà đạo sĩ cứ dõi theo ngôi sao lạ mà đi tìm gặp Hài Đồng Giêsu tại Hang đá Bêlem.

Con Thiên Chúa giáng sinh làm người đã tỏ mình ra cho ba nhà đạo sĩ đến từ phương Đông. Đây là những người ngoại giáo, những người được coi là ở ngoài, những người không hề biết gì về đạo. Do đó, lễ Hiển Linh được coi là lễ Sinh Nhật của người ngoại đạo. Tuy nhiên, thánh Gioan trong đoạn khởi đầu Tin Mừng đã viết: " Ngài đã đến nơi nhà của Ngài mà người nhà đã không tiếp nhận Ngài ". Đây là cái bi đát của chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Lời ngôn sứ Isaia từ 600 năm trước đã được thực hiện: " Chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi, vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước...Lạc đà từng đàn cho rợp đất lạc đà của người Mađian và Êpha, hết thảy từ Saba kéo đến, mang theo vàng với trầm hương, và loan truyền lời ca tụng Chúa " ( Is 60, 1-6 ). Ba nhà đạo sĩ đã trung thành đi theo ngôi sao lạ và họ đã gặp được Hài Nhi Giêsu.

Đêm hôm ấy, có lẽ cũng có vô số người nhìn lên bầu trời và đã thấy vô số các vì tinh tú, những ngôi sao lấp lánh trên trời, nhưng họ đã không thấy và nhận ra ngôi sao lạ để có thể đi tìm gặp Đấng Cứu Thế mới sinh ra tại Bêlem. Ba nhà đạo sĩ đã không chỉ bằng lòng khi nhận ra ngôi sao lạ mà còn chuẩn bị lễ vật: vàng, hương và mộc dược là ba vật quí của miền phương Đông để triều bái, cung tiến Vua Giêsu. Và trên đường đi đã có lúc ba nhà đạo sĩ đã không nhìn thấy ánh sao dẫn đường, họ đã hết lòng hỏi thăm người này người kia để tiếp tục tìm kiếm. Họ cũng đã gặp nhiều cạm bẫy của những con người lòng nham hiểm, xấu xa, một Hêrôđê giả bộ ân cần nhưng thâm sâu thì đầy ghen tỵ, ác hiểm. Ba nhà đạo sĩ đã một lòng, can đảm và hăng say vượt biết bao dặm trường, cuối cùng họ đã tới nơi gặp được Hài Nhi Giêsu đang nằm trong Hang đá Bêlem khó nghèo. Nhưng các Ông đã sấp mình, cung kính dâng lễ vật cho Hài Đồng Giêsu với tấm lòng thành, dạ hân hoan, toại nguyện.

Thái độ của các nhà đạo sĩ là thái độ của lòng tin đích thực. Trong khi ấy những Kinh sư, Thượng tế là những người thông hiểu Kinh Thánh, Lề Luật nhưng họ lại đóng lòng lại, không chịu mở mắt ra để nhìn, để thấy, họ cứ ngồi lì tại chỗ. Họ tự coi như những người có đạo nhưng thực tế họ lại đang ở ngoài. Còn những người bị coi là vô đạo, ở ngoài lại là những người đã tìm gặp được Chúa.

Đối với chúng ta, ngôi sao lạ là ý muốn của Thiên Chúa, là đức tin vào Chúa Kitô, là ánh sáng của Chúa Kitô soi chiếu vào cuộc đời chúng ta và dẫn đường cho chúng ta đi về Nước Thiên Chúa. Tuy nhiên, nhiều khi mắt chúng ta bị che khuất không nhìn ra ánh sáng của Chúa Kitô soi sáng, bởi những đà cản của ích kỷ, của tâm địa hẹp hòi, ích kỷ của chúng ta. Để có thể tìm gặp được Chúa Kitô, chúng ta phải liều mạng như các nhà đạo sĩ, ra khỏi con người của chúng ta là thích hưởng thụ, thích dễ dãi, sợ gian khổ vv...

Các nhà đạo sĩ đã gặp được Chúa Giêsu và Đức Mẹ. Họ đã bái chào và cung tiến cho Hài Đồng Giêsu lễ vật quí giá của địa phương họ. Họ đã thực sự gặp được Chúa Giêsu, Mẹ Maria và thánh Giuse. Bởi vì, Chúa đến trần gian có cha có mẹ, Chúa đến gian trần trong một gia đình. Chúng ta không thể gặp Chúa Kitô khi tách rời Mẹ Maria và thánh cả Giuse. Các nhà đạo sĩ dâng Chúa Giêsu: vàng, nhũ hương và mộc dược. Chúng ta cũng dâng Chúa Kitô tấm lòng vàng, hương thơm của lời cầu nguyện, mộc dược hy sinh để mưu ích cho các linh hồn.

Lễ Hiển Linh là lễ Giáng Sinh của người ngoại, nhưng cũng là lễ mà mọi người chúng ta phải ý thức vai trò, trách nhiệm của chúng ta là truyền giáo. Chúng ta hãy cầu nguyện cho những nhà truyền giáo vì nhờ họ mà nhiều người và chính chúng ta mới nhận biết được Chúa, nhờ họ mà chúng ta mới có niềm vui hiển linh. Đó là Chúa đã tỏ mình cho chúng ta hôm qua, hôm nay và mãi mãi. Chúng ta cũng không quên cầu nguyện cho lục địa Á Châu của chúng ta bởi vì Chúa đã tỏ mình ra cho mọi người từ 2010 năm rồi nhưng dân tộc Á Châu vẫn còn rất ít người nhận ra Chúa như Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã viết trong Tông Huấn: " Giáo Hội tại Á Châu: " Tham vọng duy nhất của Giáo Hội là tiếp tục sứ mạng phục vụ và yêu thương của mình, để tất cả dân Á Châu " có sự sống và sống dồi dào"( Ga 10, 10 ).

Lạy Chúa Giêsu, xin biến chúng con mỗi Kitô hữu trở nên một ngôi sao lạ dẫn đường cho nhiều người tìm và gặp Chúa Cứu Thế. Amen.

HƯỚNG LÊN
Mt 2, 1 - 12
Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Với niềm hy vọng phấn khởi, Tiên tri Isaia đã hân hoan loan báo với đoàn dân tin vui: Hãy đứng lên, hãy toả sáng ra, hỡi Giêrusalem! Vì sự sáng của ngươi đã tới, vì vinh quang của Chúa đã bừng dậy trên mình ngươi (Is 60, 1). Tuy dù còn cả hơn nửa thiên niên kỷ nữa, Đấng Cứu Thế mới giáng trần, Isaia đã khơi dậy niềm hy vọng của ơn cứu độ. Thiên Chúa kiên trì dẫn dắt lịch sử của dân tộc Do-thái qua từng giai đoạn. Mọi biến cố xảy ra trong cuộc lữ hành đều in ghi dấu vết sự quan phòng của Thiên Chúa. Thiên Chúa đã dùng hơn ba ngàn năm để chuẩn bị ban cho Dân Thánh một sự kiện trọng đại. Con Thiên Chúa sẽ giáng trần làm người. Đây là một hồng ân tuyệt vời cho cả dòng dõi nhân loại. Ngài sẽ đến giải thoát dân khỏi vòng nô lệ tội lỗi và dẫn lối vào ánh sáng chan hòa: Chư dân sẽ lần bước tìm về sự sáng của ngươi, và các vua hướng về ánh bình minh của ngươi (Is 60, 3).

Lữ hành cuộc sống, vinh quang hay thất bại (ups and downs) là lẽ thường. Người ta thường nói: Năm chìm, bảy nổi, chín cái lênh đênh. Dòng đời con người có lên, có xuống và có thăng trầm, thành bại. Nhưng cuộc đời hầu như ai cũng muốn vươn lên. Mỗi ngày sống là một mời gọi tiến tới. Bước tới trên con đường trọn lành sẽ không bao giờ tròn đủ. Cũng như khi chúng ta đã có, lại muốn có thêm trong tất cả mọi lãnh vực. Trong cuộc lữ hành trần thế, con người phát triển qua từng giai đoạn từ thơ ấu tới trưởng thành, từ ngây thơ tới sự hiểu biết, từ vô tri tới tri thức và từ yếu đuối tới sự mạnh mẽ. Lớn lên từ đơn côi tới tình yêu, từ sự an vui hoan lạc tới lòng tri ân cảm mến, từ đau thương tới lòng thương xót và từ sự sợ hãi tới niềm tin.

Hôm nay chúng ta cùng suy tư về sự hướng thiện qua bảy cửa ngõ (Seven-ups): Tỉnh dậy, tỉnh thức và thức dậy (Wake up), mỗi ngày khi mở mắt thức dậy, chúng ta đón chào một ngày hoàn toàn mới với nhiều ân lộc. Thiên Chúa đã an bài mọi sự trật tự lạ lùng trong vũ trụ để có ánh nắng mặt trời chiếu dọi sưởi ấm, có mưa tuôn hồng ân tưới gội đất đai mầu mỡ phì nhiêu, có tuyết rơi luyện lọc khí trong lành và có những làn gió thoảng đẩy xa bụi trần đời. Mỗi giây phút chúng ta sống là những phút giây hồng ân. Chúng ta không thể kéo dài và cũng không thể cắt bớt thời gian. Mỗi ngày khi thức dậy, chúng ta hãy chọn thái độ sống và quyết định cho mình một ngày sống vui vì: Hôm nay là ngày Chúa đã làm ra, chúng ta hãy vui mừng hoan hỉ (Tv 118, 24).

Lên đồ, mặc quần áo hay trang sức (Dress up), mỗi buổi sáng, chúng ta sống thêm một ngày với những sự cố hoàn toàn mới. Đứng trước gương soi, quần áo ăn mặc chỉnh tề, khuôn mặt rạng rỡ, đầu tóc gọn gàng và trang điểm dễ coi và mỉm nụ cười, chúng ta hài lòng với khuôn mặt dễ thương của mình. Tướng mạo sẵn sàng để đối diện với mọi người và với đời. Trước khi rời gương soi, chúng ta cũng nên để tâm nhìn lại khuôn mặt thật của mình, hồn của chúng ta có trong sáng, tâm có chân thành, ý hướng có ngay lành và có quyết tâm hành thiện không? Bắt đầu một ngày sống, hãy mặc cho mình một bộ hành trang tương xứng với thân, tâm hài hòa.

Nhìn lên, ngước mắt lên, ngẩng đầu lên (Look up), muốn thấy bầu trời và các tinh tú, chúng ta phải ngước nhìn lên. Các nhà Đạo Sĩ đã nhìn lên để đi tìm kiếm dấu chỉ của Đấng Thiên Sai. Dấu chỉ là ngôi sao lạ xuất hiện: Lúc nhìn thấy ngôi sao, họ hết sức vui mừng (Mt 2, 10). Thượng đế ban cho con người có đôi mắt để quan sát và nhìn xem. Đôi mắt có thể nhìn xuống để đi tìm của cải vật chất và đồ ăn thức uống. Cặp mắt cũng có thể nhìn sang ngang để nối tình thân hữu và tìm kiếm sự liên đới xã hội. Hơn thế nữa, đôi mắt có thể ngước nhìn lên bầu trời bao la để nhận biết Đấng Tạo Thành vũ trụ và nhận ra những dấu chỉ thời đại qua sự vận chuyển của tinh tú. Các nhà Đạo Sĩ đã biết ngước nhìn lên trời cao để tìm kiếm những dấu chỉ hướng dẫn. Các ngài đã được đáp lại theo ý sở nguyện. Họ đã tìm gặp được Hài Nhi Cứu Thế nơi làng Belem nhỏ bé: Cả ngươi nữa, hỡi Bêlem, đất Giuđa, không lẽ gì ngươi bé nhỏ hơn hết trong các thành trì của Giuđa, vì tự nơi ngươi sẽ xuất hiện một thủ lãnh, Người đó sẽ chăn nuôi Israel dân tộc của Ta (Mt 2, 6).

Đứng dậy hay đứng lên (Stand up), là một thái độ sẵn sàng để bước tới. Dấn thân như các vị Đạo Sĩ, bỏ nhà cửa quê hương và gia đình tìm theo tiếng thúc dục nội tâm. Các ngài không ngồi đó để chờ đợi, nhưng đã tiến bước trong sự tìm kiếm. Các Đạo Sĩ không giống như vua Herôđê ngồi ở nhà chờ đợi được báo tin. Các ngài đã tìm tòi hỏi han: Các ông nói: "Vua người Do-thái mới sinh ra hiện đang ở đâu? Chúng tôi đã nhận thấy ngôi sao của Người ở Đông phương, và chúng tôi đến để triều bái Người" (Mt 2, 2). Với tâm hồn đơn sơ và chân thành, các Đạo Sĩ không ngần ngại vào nơi cung đình để hỏi han tìm đường. Họ muốn tìm đến Vua thật. Họ đã chuẩn bị qùa quí và lễ dâng để triều bái Vua người Do-thái: Nghe nhà vua nói, họ lên đường. Và kìa ngôi sao họ xem thấy ở Đông phương, lại đi trước họ, mãi cho tới nơi và đậu lại trên chỗ Hài Nhi ở (Mt 2, 9).

Hướng tới hay vươn tới (Reach up), con người luôn mong tìm đạt tới những kỷ lục hơn nữa trong mọi ngành nghề. Tất cả mọi loài động vật đều sống theo bản năng đã được phú bẩm. Con ong, con kiến, con chim từ đời này qua đời khác vẫn một mẫu sống như nhau, rất ít thay đổi. Lịch sử cuộc sống con người phát triển không ngừng. Qua mọi thời, khả năng của con người được in ghi và lưu truyền. Từ cuộc sống đơn sơ đi đến xã hội văn minh hiện đại. Khả năng của con người vươn tới theo thời gian và không gian. Trong tất cả mọi sinh hoạt cả tâm linh lẫn thể chất đều có sự đổi mới và thăng tiến mỗi ngày. Đời sống xã hội con người có mục tiêu và cùng đích, không chỉ đời này mà cả đời sau. Con người không chỉ bao gồm xác thân hay hư nát nhưng có một linh hồn bất tử hướng tới cuộc sống viên mãn.

Nâng lên, ngẩng lên hay hướng lên (Lift up), nâng tâm hồn lên tới Chúa qua lời khấn nguyện. Thánh Phaolô trong thơ gởi cho tín hữu Philiphê khuyên rầng: Anh em đừng lo lắng gì cả, nhưng trong mọi hoàn cảnh, anh em cứ đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn, mà giãi bầy trước mặt Thiên Chúa những điều anh em thỉnh nguyện (Phil 4,6). Cầu nguyện là hướng lòng lên cùng Chúa để ngợi khen, cảm tạ và xin ơn tha thứ. Sự kết hợp với Chúa trong tâm trí và linh hồn đòi hỏi sự tập trung nối kết một cách mật thiết. Chúng ta không tôn thờ ngẫu tượng bằng gỗ đá vô hồn mà là Thiên Chúa, chủ thể hiện hữu sống động. Sự cầu nguyện của chúng ta phải luôn tập trung tâm ý và gắn bó với Chúa đừng để bị chia trí và xao lãng lo ra. Tâm tình cầu nguyện kết nối liên tục đừng để bị cắt đoạn, chia lìa hay rớt mạng.

Đóng, khép lại và im miệng (Shut up), Thiên Chúa tạo dựng con người có hai lỗ tai và một cái miệng. Hai tai để nghe cho rõ và một cái miệng để phát biểu. Hãy học lắng nghe và nói những điều chân thật. Trong bài hát 'Cao Cung Lên' của nhạc sĩ Hoài Đức và Nguyễn Khắc Xuyên, tiểu khúc một, có câu: "Thôi hỡi trần gian, im tiếng đi mà cung kính..." Chúng ta cúi mình thờ lậy và suy gẫm mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập thể. Không thể diễn tả bằng lời mà hãy nhìn xem và cung kính như các nhà Đạo Sĩ: Và khi tiến vào nhà, họ đã gặp thấy Hài Nhi và Bà Maria Mẹ Người, và họ đã quỳ gối xuống sụp lạy Người. Rồi, mở kho tàng ra, họ đã dâng tiến Người lễ vật: vàng, nhũ hương và mộc dược (Mt 2, 11). Các nhà Đạo Sĩ không đặt câu hỏi hay nghi ngờ vì cảnh vẻ qúa nghèo nàn của gia đình thánh. Khi nhận biết dấu chỉ của Đấng Thiên sai, các ông đã cúi bái, phục lạy, tôn thờ và hiến dâng lễ vật.

Các nhà Đạo Sĩ không phải là người Do-thái. Họ đại diện cho các dân ngoại đến tôn nhận Con Thiên Chúa giáng trần. Ơn cứu độ phổ quát được ban phát cho mọi dân tộc. Thánh Phaolô trình bày: Và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được nên đồng thừa tự, đồng một thân thể và đồng thông phần với lời hứa của Người trong Chúa Giêsu Kitô (Eph 3, 6). Qua Bí Tích Rửa Tội và niềm tin, chúng ta cùng được thông phần ơn cứu rỗi của Đức Giêsu Kitô là Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người. Cùng với các nhà Đạo Sĩ, chúng ta hãy đến thờ lạy, cảm tạ và tôn vinh danh thánh Chúa.

Lạy Chúa, Chúa đã thương chọn gọi chúng con làm con dân của Chúa. Xin cho chúng con tiếp tục truyền rao chân lý phúc âm để nhiều người nhận biết Danh Thánh Chúa. Xin ánh sáng của Chúa tỏa chiếu trong tâm hồn chúng con và trên khắp cùng bờ cõi trái đất.

DÕI THEO ÁNH SAO
Mt 2, 1 - 12
Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
Ánh sao lạ lung linh trên bầu trời năm xưa đã dẫn ba nhà Đạo sĩ Đông Phương đến Bêlem để tìm gặp Hài Đồng Giêsu, Đấng Cứu Thế mới sinh ra.Ánh sao dẫn đường cho ba nhà Đạo sĩ tới Bêlem vẫn là ánh sao đang dẫn chúng ta trên vạn nẻo đường để gặp Chúa Giêsu.Ngôn sứ Isaia đã tiên báo cách đó 600 năm trước đã được thực hiện:" ...Đức Chúa như bình minh chiếu tỏa, vinh quang Người xuất hiện trên ngươi.Chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi, vua chúa hướng về ánh bình minh mà tiến bước...Lạc đà từng đàn che rợp đất, lạc đà Ma-đi-an và Ê-pha:tất cả những người từ xơ-va kéo đến, đều mang theo vàng với trầm hương, và loan truyền lời ca tụng Đức Chúa ".

Ba nhà Đạo sĩ trung thành theo ánh sao :" Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến triều bái Người ".Ánh sao đối với chúng ta là đức tin của chúng ta vào Chúa Kitô, là ý muốn của Thiên Chúa. Ánh sao là chính Chúa Kitô soi chiếu chỉ đường dẫn lối cho mọi dân tộc, mọi người bước đi.Ánh sao dẫn đường năm xưa cho ba nhà Đạo sĩ vẫn luôn chiếu sáng, vẫn luôn chỉ đường, dẫn lối, nhưng sở dĩ chúng ta không nhận ra Chúa vì chúng ta còn yêu chuộng bóng tối hơn sự sáng, con mắt tâm hồn chúng ta còn để cho những dục vọng, ích kỷ, cái đà của hận thù, ghen ghét che khuất chúng ta.Ba nhà Đạo sĩ đã dám liều mình, đã không sợ gian khổ, khó khăn, thử thách và đe dọa, phỉnh lừa mới gặp được Hài Đồng Giêsu nơi Hang đá máng lừa Bêlem. Do đó, chúng ta muốn gặp được Chúa, chúng ta cũng phải dẹp bỏ những dục vọng, những dễ dãi, hưởng thụ và đừng sợ khó nguy, gian khổ...Vâng, như ba nhà Đạo sĩ, chúng ta sẽ gặp được Hài Đồng Giêsu, đồng thời chúng ta cũng gặp được chính Mẹ Maria, Đấng đã được Thiên Chúa tuyển chọn để cưu mang Chúa Giêsu và sinh hạ Chúa Giêsu, nhưng Mẹ còn có sứ mạng cao cả là trao ban Chúa Giêsu cho nhân loại, cho chúng ta. Chúng ta cũng gặp thánh Giuse, Đấng được Thiên Chúa chọn để bảo vệ Mẹ Maria và dưỡng nuôi Chúa Giêsu trong những năm ở gia đình Nadaret. Ba nhà Đạo sĩ trông thấy ngôi sao, họ mừng rỡ vô cùng.Thánh Mattheu viết tiếp :" Họ vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Maria, liền sấp mình thờ lạy Người, rồi mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến ". Ba nhà Đạo sĩ đã dâng cho Hài Đồng Giêsu những đặc sản quí của địa phương, phương Đông. Họ dâng với tất cả tấm lòng, với tất cả lòng tôn kính mến yêu của họ.Bởi vì, Hài Nhi mà ánh sao dẫn đường cho họ tới triều yết là Vị Cứu Tinh, là Vua Dân Do Thái...Đức tin của ba nhà Đạo sĩ càng lúc càng thâm sâu vì dõi theo một ánh sao các vị đã gặp được Đấng Cứu Độ và rồi họ đã thờ lạy Chúa, đồng thời đã được mộng báo không trở lại với Hêrôđê, vì Hêrôđê sợ mất ngôi muốn giết Hài Đồng Giêsu. Mỗi người chúng ta cũng dâng kính Ngài tấm lòng đơn sơ, trong sạch của chúng ta, hương thơm lời cầu nguyện của chúng ta, và mộc dược hy sinh hằng ngày của đời sống của chúng ta.

Cuộc hành trình đi theo ánh sao của ba nhà Đạo sĩ tìm gặp Chúa Giêsu là cuộc hành trình đức tin. Cuộc hành trình đức tin ấy vẫn theo đuổi đời sống của chúng ta bởi muốn gặp được Chúa, chúng ta phải đẩy xa tội lỗi khỏi tâm hồn chúng ta và mở rộng lòng đón nhận ân huệ của Chúa.

Lạy Chúa, hôm nay Chúa đã khiến ngôi sao chỉ đường mà mặc khải cho muôn dân nhận biết Con Một Chúa.Phần chúng con đã nhận biết Chúa nhờ đức tin dẫn lối đưa đường.Xin dủ lòng thương đưa chúng con về chiêm ngưỡng Thánh Nhan vinh hiển ( Lời nguyện nhập lễ, lễ Hiển Linh ).

Lạy Hài Đồng Giêsu, chúng con cầu nguyện cho các nhà truyền giáo bởi chính nhờ họ mà đức tin đã đến với chúng con, nhờ các Ngài mà Chúa đã tỏ mình cho chúng con hôm qua, hôm nay và mãi mãi. Amen.

Nguồn vietcatholic.org

2758    02-01-2014 21:02:04