Sidebar

Thứ Hai
27.05.2024

Chúa Nhật VI Phục Sinh C

  1. Ở Lại Trong Tình Yêu Chúa
  2. Yêu Mến Thì Giữ Lời
  3. Sống Trong Sự Hướng Dẫn Của Chúa
  4. Bình An
  5. Chúa Nhật VI Phục Sinh C.
  6. Chúa Nhật VI Phục Sinh
  7. Nguồn Bình An
  8. Bình An Phục Sinh
  9. Ngôn Hành Hợp Nhất
  10. Bình An Của Thiên Chúa Ban
  11. Vượt Qua Khủng Hoảng Đức Tin
  12. Sáng Kiến
  13. Chúa Giêsu Phục Sinh Sẽ Về Với Chúa Cha
  14. Bình An Của Chúa
  15. Hãy Quay Lưng Lại Với Các Giá Trị Hư Ảo Và Các Quyền Lực Giả Trá
  16. Ân Sủng Chúa
  17. Yêu Lời Và Giữ Lời
  18. Chúa GiêSu Phục Sinh Vẫn Luôn Hiện Diện
  19. Cuộc Sống Mới
  20. Thầy Để Lại Bình An
  21. Thần Khí Chúa Ngự Xuống Trên Tôi
  22. Kitô Hữu Tự Bên Trong
  23. Chìa Khóa Đổi Đời

 

Ở LẠI TRONG TÌNH YÊU CHÚA
Ga 14, 23 - 29

"Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy".

Trong cuộc sống, người ta thường dùng những hành động cụ thể để nói lên mức độ của lòng yêu mến. Chỉ cần nhìn thấy những người mẹ hy sinh nhịn đói, chịu khó để lo cho con cái được ấm no, được ăn học thành tài, là mọi người cũng hiểu được tình thương như trời bể, mà các bậc cha mẹ đã dành cho con mình. Vì thế, Thánh Augustinô còn nói: "Mức độ của tình yêu là yêu không mức độ".

Hiểu như vậy, tình yêu của chúng ta đối với Thiên Chúa cũng cần được biểu thị bằng một dấu chỉ, hay bằng một hành động thật cụ thể. Dấu chỉ đó Đức Giêsu muốn chúng ta chính là sự vâng giữ lời của Người, cụ thể là chúng ta đã nghe: "Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy...". Yêu mến Chúa, là trở nên giống Chúa, là tuân giữ lời Chúa, là làm theo điều Chúa muốn, và Chúa còn muốn mỗi người chúng ta phải hành động yêu thương thật sự cụ thể trong cuộc sống hằng ngày. 

Trong Cựu ước, tác giả sách Thánh vịnh 119 viết rằng: "Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi" (Tv 119, 105). Thật vậy, Lời Chúa là chân lý, là ánh sáng, là sự thật, bởi vì, Lời Chúa chứa đựng đạo lý và chứa đựng thánh ý của Thiên Chúa. Vì thế ở lại trong Lời Chúa chính là lắng nghe Lời Chúa và sống theo ý Chúa.

Con người chỉ là một tạo vật được Thiên Chúa dựng nên. Một tạo vật chỉ có giá trị khi thực hiện theo ý của người tạo ra nó. Đời sống con người chỉ có ý nghĩa khi sống theo ý muốn của Thiên Chúa là Đấng tạo dựng nên mình. Đó là sống theo bản vẽ mà Thiên Chúa đã thiết kế cho cuộc đời của mỗi người. Chính vậy, con người chỉ đạt được tự do đích thực là đón nhận ý Chúa và thi hành ý Chúa mỗi ngày. Chạy theo ý riêng của mình đồng nghĩa với việc đánh mất ý nghĩa của cuộc đời mình.

Lời Chúa cho mỗi người chúng ta biết sự thật về chính bản thân mình, biết sự thật và cùng đích về con người và cùng đích của cuộc đời. Biết sự thật về mình là biết những giới hạn yếu đuối, biết về thân phận nô lệ tội lỗi của mình để rồi hoán cải và trở nên hoàn thiện như "Cha trên trời là Đấng hoàn thiện". Biết sự thật về con người là biết mình lệ thuộc vào Thiên Chúa, ý nghĩa và cùng đích của đời mình là con người được dựng nên để sống cho Thiên Chúa, phụng sự Thiên Chúa và yêu mến Thiên Chúa. Biết sự thật còn là biết Đức Giêsu là Con Thiên Chúa đã xuống trần gian để giải thoát con người khỏi tội lỗi, cho con người được tham dự vào sự sống thân linh của Thiên Chúa. Nhận biết Đức Giêu là Thiên Chúa để đến với Ngài, tin Ngài và đi theo Ngài.

Ở lại trong Lời Chúa là sự kiện tiên quyết xác định ý nghĩa cuộc sống của người thuộc về Chúa. Lẽ sống của người theo Chúa, của người môn đệ Chúa cần phải biết ý Chúa, thi hành ý Chúa như người "đầy tớ làm theo ý người chủ của mình". Đó là người lắng nghe tiếng Chúa và nhận biết ý Chúa trong những sự kiện, những biến cố. Đó là tìm kiếm sự thật ẩn tàng trong Lời Chúa, suy gẫm những gì Chúa nói và nhận ra ý nghĩa của Lời Chúa được sáng tỏ trong cuộc sống hằng ngày. Như thế, việc nghe Lời Chúa và thi  hành ý Chúa mới thông hiểu được sự thật và sống trong tự do.

Vì vậy, sống theo ý Chúa thì con người không còn sợ hãi, vì khi làm bất cứ việc gì thì có Chúa cùng thực hiện, khi chọn Chúa là chủ của mình, chúng ta không còn bị dính bén bởi những tạo vật, không bị nô lệ bởi những đam mê bất chính. Sống theo ý Chúa còn là mình để chọn Chúa. Đó là bỏ đi cái tôi ích kỷ sống yêu thương, bỏ đi cái tôi danh vọng để khiêm tốn để chấp nhận mình và đón nhận người khác, bỏ đi cái tôi hưởng thụ để hy sinh để phục vụ. Hơn nữa, sống theo ý Chúa thì không sợ những dư luận của người đời, không bị chi phối bởi khen chê, được mất, sướng khổ và sống chết.

Nhìn lại cuộc sống thường ngày, chúng ta sẽ thấy có một điều hết sức tự nhiên, đó là khi yêu mến ai, chúng ta thường cố gắng bằng mọi cách để làm vui lòng người đó. Và một trong những cách chúng ta thường thực hiện để làm vui lòng người mình yêu mến, đó là cố gắng nhanh chóng thực hiện mọi ý muốn của người đó. Cứ quan sát các một đôi bạn trẻ đang yêu nhau, chúng ta thấy họ luôn muốn làm đẹp lòng nhau, họ luôn để ý đến nhau, chỉ cần phát hiện một ánh mắt, một cái nhíu mày, một cử chỉ, hay một ý muốn nào đó của người này, thì lập tức người kia sẽ cố gắng thực hiện cho bằng được. Như vậy, một đứa con không thể nói rằng nó yêu cha mến mẹ, mà nó cứ luôn làm cho cha mẹ nó buồn, luôn làm những điều mà cha mẹ nó không muốn; cũng không thể có một người chồng luôn miệng nói với vợ rằng anh yêu em, mà ngày nào cũng đánh vợ, rượu chè say sưa;  cũng không thể có một người vợ nói với chồng là em yêu anh, rồi hằng ngày cứ bỏ bê nhà cửa, bỏ chồng con... Quả thật, những người như vậy nói yêu mà chẳng có hành động yêu một chút nào hết.

Hiểu được như vậy, thì chúng ta cũng hiểu được việc tuân giữ lời Chúa của chúng ta chính là dấu chỉ rõ ràng nhất, để chúng ta chứng tỏ lòng yêu mến của mình đối với Thiên Chúa. Càng yêu mến Thiên Chúa nhiều, chúng ta sẽ càng cố gắng thực hiện những điều Ngài muốn. Hơn nữa, khi yêu mến và giữ lời, chúng ta còn được vinh dự đón tiếp cả Ba Ngôi đến ngự trong tâm hồn của chúng ta nữa: "Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy, và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, và Chúng ta sẽ đến và ở trong người ấy". Và nếu có cả Ba Ngôi Thiên Chúa ở trong chúng ta, thì mỗi người chúng ta thật sự xứng đáng là đền thờ của Thiên Chúa, một đền thờ thiêng liêng, một đền thờ thánh thiện, tốt đẹp, và là một đền thờ yêu thương luôn thể hiện tình yêu Thiên Chúa đến với mọi người.

Chúng ta hãy can đảm sống theo lời dạy của Chúa với tất cả niềm tín thác, niềm cậy trông, tình yêu mến.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa chính là con đường vì Chúa dẫn đưa con đến với Thiên Chúa. Chúa là sự thật vì Chúa chỉ cho con biết Thiên Chúa và thánh ý của Thiên Chúa. Chúa là sự sống vì Chúa giải thoát con khỏi tội lỗi và ban cho con sự sống viên mãn. Xin cho chúng con biết nhận ra sự hiện diện của Chúa, biết nghe tiếng Chúa và ở lại trong Lời của Chúa để mỗi ngày con được sống trong sự thật và ở trong tình yêu Thiên Chúa. Amen.

YÊU MẾN THÌ GIỮ LỜI
Ga 14, 23 - 29

Trong truyện cổ Việt Nam, có kể lại chuyện của một gia đình kia có một bà mẹ rất nghèo, do chồng mất sớm nên bà phải tần tảo khó nhọc để nuôi dạy con, hằng ngày bà phải đi tìm ao vớt bèo về nuôi lợn, vậy mà bà cho con được đi học rất tử tế, lại còn dạy con phải có phép tắc với mọi người, không được ăn cắp của ai, cũng không được tham lam của người khác. Năm đó, con bà đi thi đỗ được trạng nguyên, dân làng đón quan trạng và mở tiệc ăn mừng, còn bà thì thản nhiên như không có việc gì xảy ra. Hôm rước quan trạng về làng, bà cũng đi vớt bèo, ai gọi bà cũng không chịu bước lên, thế là quan trạng phải nhảy đùng xuống ao vớt bèo tiếp mẹ cho đủ một bao bèo rồi bà mới chịu lên. Nhiều người thấy vậy thì nói rằng: Có một người mẹ như thế, thì con mới nên người được. Một năm sau, quan trạng mau về biếu mẹ một chiếc áo dài gấm thật đẹp, bà mẹ không vừa lòng, lấy lửa đốt chiếc áo dài gấm đó trước mặt quan và nói: Mới làm quan, có tiền đâu mà mua áo, chắc là nhận tiền hối lộ của ai rồi, mới làm quan mà còn như vậy, nếu làm quan lâu thì sẽ làm khổ cho dân biết chừng nào nữa, Thế là từ đó, vị quan kia luôn nhớ lời mẹ, sống một đời làm quan thật trong sạch, và về sau ông được vua cho làm tể tướng.

Qua câu chuyện cổ trên đây, chúng ta thấy vị quan nhờ thương mến mẹ mình, nên ông luôn nhớ và sống theo lời mẹ ông dạy, nên nhờ đó mà việc thành tựu của ông trong cuộc sống mỗi ngày được tốt hơn, mỗi ngày được thành công hơn, và ông đã đạt được một chức vụ cao trọng nhất trong cuộc đời của ông. Tôi thấy câu chuyện này có thể minh hoạ cho chúng ta hiểu thêm về câu nói của CG trong bài TM hôm nay: "Ai yêu mến Thầy, thì tuân giữ lời Thầy".

Yêu mến Chúa, có nghĩa là trở nên giống Chúa, là tuân giữ lời Chúa, là làm những điều Chúa muốn, và Chúa còn muốn mỗi người chúng ta phải cụ thể các việc làm đó bằng những cử chỉ thật sự, bằng những hành động yêu thương thật sự trong cuộc sống thường ngày của mỗi người. Vậy thì các hành động yêu thương đó được biểu lộ ra trong cuộc sống mỗi người như thế nào?

Thông thường trong cuộc sống, chúng ta hay sử dụng lời nói để diễn tả những suy nghĩ, những tâm tư tình cảm của mình đối với người khác. Tuy nhiên, trong rất nhiều trường hợp, lời nói cũng không thể diễn tả cách trọn vẹn được mọi suy nghĩ của chúng ta. Do đó, chúng ta lại dùng những điệu bộ bên ngoài như nét mặt, ánh mắt, như những cảm xúc vui buồn ... để diễn tả những điều chúng ta muốn nói. Chẳng hạn như chúng ta thường biểu lộ niềm vui bằng tiếng cười, biểu lộ nỗi buồn bằng tiếng khóc ... Chính vì thế khi nghe thấy những tiếng khóc, tiếng cười cho dù người đó không nói ra, thì người khác cũng phần nào hiểu được nỗi lòng của người thốt ra những tiếng đó.

Đối với tình yêu thương cũng vậy, người ta không thể dùng những con số, hay những kiểu nói ước lượng, như kiểu nói: "Tôi yêu anh chừng một tạ hay một tấn", hoặc là nói: "Tôi mến anh dài 50 hay 100 cây số" được. Nhưng khi muốn diễn tả tình yêu thương, người đó thường dùng những hành động cụ thể để nói lên mức độ yêu mến của mình. Chỉ cần nhìn cảnh những người cha người mẹ sẵn sàng thức khuya, dậy sớm, tảo tần buôn gánh bán bưng để lo cho con cái được ấm no, được ăn học, được thành tài, là mọi người cũng hiểu được tình thương như trời bể mà các bậc cha mẹ đã dành cho con mình. Thánh Augustinô còn nói: "Mức độ của tình yêu là yêu không mức độ".

Hiểu như vậy, tình yêu của chúng ta đối với Chúa cũng cần được biểu thị bằng một dấu chỉ, hay bằng một hành động cụ thể. Dấu chỉ đó chính là sự vâng giữ lời của ĐG, cụ thể là chúng ta nghe trong bài Tin Mừng: "Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy"

Nhìn lại gương Chúa Giêsu, chúng ta đã thấy Ngài vì yêu mến Chúa Cha, nên Ngài đã làm trọn thánh ý của Chúa Cha, cho dù Ngài phải chấp nhận một cái chết tủi nhục trên thập giá, thì xin Chúa cũng cho mỗi người chúng ta luôn biết noi theo gương của Chúa, để mỗi khi chúng ta thốt lên Chúa ơi, con yêu mến Chúa thì chúng ta cũng sẽ làm trọn theo những điều Chúa dạy, để cuộc sống của mỗi người chúng ta luôn là một cuộc sống bình an trong tay Chúa, và cũng là một cuộc sống vui tươi trong vòng tay yêu thương thân ái của tất cả mọi người. Amen.

SỐNG TRONG SỰ HƯỚNG DẪN CỦA CHÚA
Ga 14, 23-29

Một người Ấn giáo và một người Công giáo trẻ tuổi cùng tham dự cuộc hội thảo về bài giảng trên núi của Chúa Giêsu. Họ nhanh chóng trở thành bạn tốt. Ngày nọ, người Ấn giáo nói với người Công giáo: tôi biết bài giảng này của Chúa Giêsu ảnh hưởng đến Gandhi và cuộc sống của ông ta thế nào, nhưng tôi nghĩ bài giảng đó quá cao với hạng bình dân. Người Công giáo không vội trả lời nhưng đề nghị tìm nơi thanh vắng và cả hai cùng làm dấu thánh giá cầu nguyện với Chúa. Kết quả, người Ấn giáo đã tìm ra câu trả lời cho tình huống khó xử của anh: Đạo lý thật sự rất cao nhưng có Chúa Thánh Thần hiện diện, hướng dẫn, soi sáng và nhắc bảo chúng ta biết phải làm gì cho đúng lời Chúa dạy.

Thật vậy, nhờ có Chúa Thánh Thần soi dẫn mà Giáo hội tồn tại và phát triển giữa muôn vàn thử thách. Giáo hội vượt qua mọi gian lao nhờ vâng theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Trong thời Giáo Hội sơ khai, cuộc tranh luận về việc giữ luật Môsê khá gay cấn. Người kitô hữu không biết có phải giữ luật cắt bì và tập tục của người Do thái hay không? Nhờ sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần mà các Tông đồ quyết định miễn luật cắt bì và tập tục của Do Thái. Chúa Thánh Thần giúp cho mọi người hiểu rằng: ơn cứu độ phát xuất từ Chúa Giêsu chứ không do việc giữ luật Do thái. Chỉ cần giữ những lời Chúa Giêsu thì sẽ được sống. Và lời quan trọng nhất Chúa trối lại cho chúng ta là: các con hãy yêu thương nhau. Điều cần thiết nhất là giữ giới răn yêu thương. Yêu thương là chu toàn mọi lề luật:"ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy, Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy".

Nếu chúng ta yêu mến Chúa Giêsu thì chúng ta muốn làm đẹp ý Ngài, vâng giữ lời ngài. Kitô hữu giữ luật theo tinh thần mới, khác với cách giữ luật của nhiều người Do thái: giữ cho đủ hình thức vì sợ bị phạt, giữ luật vị luật. Chúa Giêsu là tình yêu, dạy chúng ta giữ luật tình yêu và yêu thương là con đường dẫn chúng ta về tới nhà Cha.

Ai yêu mến Chúa thì tuân giữ Lời Chúa. Đối với một người con có hiếu thì luôn sẵn sàng vâng lời cha mẹ, vì người đó yêu mến, kính trọng cha mẹ mình. Kitô hữu chúng ta cũng vậy. Chúng ta biết Chúa thông minh và rất yêu thương chúng ta, luôn dạy chúng ta làm điều đúng, điều tốt thì lẽ nào chúng ta lại lưỡng lự, từ chối việc thực thi ý Ngài. Nếu chúng ta yêu mến Chúa thì hãy tuân giữ Lời Chúa. Và phần thưởng Chúa ban cho chúng ta là vô cùng quí giá. Đó là cho chúng ta được cư ngụ nơi thành Giêrusalem mới mà sách khải huyền mô tả: Thành thánh này không phải do tay người phàm dựng nên nhưng từ nơi Thiên Chúa mà xuống, chói lọi vinh quang Thiên Chúa. Ánh sáng của nó toả ra như đã quí, giống như ngọc thạch, óng ánh tựa pha lê. Thành không cần mặt trời mặt trăng chiếu soi: vì đã có vinh quang Thiên Chúa chiếu sáng nó và đèn của nó chính là Con Chiên (x. Kh 21, 22). Thân phận con người vốn là thụ tạo nhỏ bé thấp hèn, không xứng đáng nhưng lại được Chúa yêu thương cách đặc biệt. Chúa muốn nâng con người lên và nhận lấy địa vị cao trọng: làm con Thiên Chúa. Điều này vượt qua sự mong đợi của loài người nhưng đó lại là phần thưởng Thiên Chúa dành cho những ai vâng giữ lời Người. Thiên Chúa biết đó là phần thưởng rất cao quí, đem lại hạnh phúc vô biên cho loài người nên Ngài sẵn sàng chịu khổ nhọc, xuống thế làm người và cố gắng diễn tả tình thương và ý định tốt lành của Thiên Chúa cho con người hiểu và được ơn cứu độ. Ngài đã làm tất cả những gì cần làm cho loài người được hạnh phúc. Vấn đề là ai biết chạy đến Chúa với tâm hồn đơn sơ, khiêm hạ, vâng phục thì sẽ được ban ơn dồi dào. Còn kẻ cứng lòng, chống đối, kiêu căng thì sẽ không được Chúa làm gia nghiệp và mai sau sẽ phải khóc lóc nghiến răng.

Chúng ta là môn đệ của Chúa Giêsu, chúng ta nói rằng mình yêu mến Chúa, thì chúng ta hãy giữ lời Thầy Chí Thánh với lòng chân thành, yêu mến Chúa. Mai đây, Chúa sẽ trở lại dẫn chúng ta vào Thiên Đàng đời đời.

BÌNH AN
Ga 14, 23-29

"Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy".

Bạo lực nói chung vốn là một điều bất hợp pháp song nó vẫn tồn tại trong xã hội của con người. Bạo lực gia đình, bạo hành trẻ em vẫn còn đang làm nhức nhối lương tâm của những người có trách nhiệm. Trong khi chưa ai tìm được cách gì để giải quyết triệt để những vấn nạn đó thì hôm nay lại nỗi lên một thứ bạo lực mới - bạo lực trong học đường. Một thế hệ tương lai đang bị đe doạ trước những làn sóng bạo hành. Bây giờ, nhiều phụ huynh không còn biết phải gửi con đi học nơi đâu vì môi trường học đường không còn là nơi trong lành nữa. Ngay cả thầy cố giáo mà cũng nôm nốp lo sợ. Bởi dạy giỗ lơ mơ thì cũng bị ăn đòn bởi chính học trò của mình.

Thế giới ngày càng văn minh. Con người càng ngày càng hưởng được nhiều những ích lợi của những công trình khoa học. Thế nhưng, xem chừng con người lại càng khốn đốn hơn trong chính thế giới văn minh, tiện nghi của mình. Thế giới ngày càng bất ổn. Chiến tranh tuy được dàn xếp một cách cẩn thận nhưng đau thương vẫn diễn ra hàng ngày với tính chất khốc liệt không thua gì chiến tranh. Đó là hậu quả của những cuộc khủng bố, tranh chấp, biểu tình, thiếu lương thực, và của cả một môi trường tự nhiên bị tàn phá. Chính con người đang gây ra những đau thương cho chính đồng loại của mình. Bình an xem ra là một xa xỉ cho nhiều dân tộc và quốc gia. Mà nguyên nhân sâu xa của vấn nạn này là chính do con người với lối sống ích kỷ, hưởng thụ mà quên tinh thần chia sẻ và trách nhiệm. Con người chỉ muốn an định, cố thủ cho riêng bản thân mình. Theo quan niệm càng tích trữ càng nhiều thì càng đảm bảo an toàn. Nghĩ thế nên con người đua nhau tranh dành. Và càng tranh dành thì bình an đâu không có mà thấy chỉ thêm nhiều bất ổn mà thôi.

Con người không thể đem lại bình an cho nhau được. Con người chỉ có thể chúc cho nhau bình an mà thôi. Như chuyện con người không thể tạo ra dòng điện mà chỉ góp phần để thu lấy nguồn điện đã có sẵn trong tự nhiên. Bình an được nói ở đây không là chuyện chúng ta thoát ra khỏi những khó khăn, rắc rối, cũng không là một sự nhàn hạ, an thân mặc cho cuộc đời đang biến chuyển, không là sự an toàn của một thiếu nữ trong bốn bức tường của ngôi nhà mình. Nhưng ở đây là bình an đến từ Đức Giêsu - bình an thật. Một sự bình an không có đau khổ, rắc rối nào có thể cướp được. Đây mới là bình an thật mà chúng ta phải tìm kiếm. Nếu như ở trên là một thứ bình an ngoại tại, mong thoát ra khỏi những bất ổn thì ở đây là bình an nội tại cho dù đang sống trong những bất ổn. Đây là sự bình an chỉ có nơi Đức Giêsu - Đấng đã chiến thắng đau khổ và sự chết. Đấng đang ngự bên hữu Chúa Cha.

Chúng ta được bình an vì chúng ta chiếm hữu được Thiên Chúa. Thật sự nhận ra sự hiện diện của Đức Kitô trong cuộc đời mình. Việc này đòi hỏi chúng ta phải có niềm tin và mắt "thịt" này không thể nhìn thấy được. Nói như thế không có nghĩa là phủ nhận sự bình an bên ngoài nhưng chúng ta trước hết phải tìm cái bình an nội tâm. Để từ nền tảng này ta thánh hoá những hoàn cảnh bên ngoài mà có được bình an ngoại tại nữa.

Càng ngày con người càng cảmt hấy bất an. Vì con người không đón nhận được bình an của Chúa. Con người đã loại trừ Thiên Chúa. Con người nghĩ rằng tự bản thân mình có thể tạo dựng được sự an định lâu dài nhờ những khả năng và thành tựu đạt được. Con người đã quên đi cái bình an nền tảng. Bao lâu con người chưa nhận ra được sự hiện hữu của Thiên Chúa thì bấy lâu con người chưa có bình an đích thực. Và hơn thế nữa, chúng ta không chỉ được mời gọi hưởng bình an của Chúa mà chúng ta còn được kêu gọi cộng tác kiến tạo bình an và đem bình an cho người khác.

CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH C.
Ga 14, 23-29

Đức Giê-su nói: "Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy".

Thông thường trong cuộc sống, chúng ta hay sử dụng lời nói để diễn tả những suy nghĩ, những tâm tư tình cảm của mình đối với người khác. Tuy nhiên, trong rất nhiều trường hợp, lời nói cũng không thể diễn tả cách trọn vẹn được suy nghĩ của chúng ta. Do đó, chúng ta lại dùng những cử chỉ khác như nét mặt, ánh mắt,... để diễn tả những điều chúng ta muốn nói. Chẳng hạn như chúng ta thường biểu lộ niềm vui bằng tiếng cười, biểu lộ nỗi buồn bằng tiếng khóc, hay biểu lộ nỗi mệt nhọc bằng những tiếng thở than...Chính vì thế khi nghe thấy những tiếng khóc, tiếng cười, tiếng than thở đó, thì cho dù người đó không nói ra, thì người khác cũng phần nào hiểu được nỗi lòng của người thốt ra những tiếng đó. Đối với tình yêu cũng vậy, người ta không thể dùng những con số, hay những kiểu nói ước lượng, như kiểu nói "Tôi yêu anh chừng một ký, hay một tấn", hoặc là nói: "Tôi mến anh dài 100 cây số" được. Nhưng khi muốn diễn tả tình yêu, người ta thường dùng những hành động cụ thể để nói lên mức độ yêu mến của mình. Chỉ cần nhìn cảnh những người cha sẵn sàng thức khuya, dậy sớm ra đồng làm viêc; nhìn thấy những người mẹ chấp nhận hy sinh nhịn đói, chịu khó để lo cho con cái được ấm no, được ăn học, được thành tài, là mọi người cũng hiểu được tình thương như trời bể, mà các bậc cha mẹ đã dành cho con mình. Vì thế, Thánh Augustinô còn nói : "Mức độ của tình yêu là yêu không mức độ".

Hiểu như vậy, tình yêu của chúng ta đối với Thiên Chúa cũng cần được biểu thị bằng một dấu chỉ, hay bằng một hành động thật cụ thể. Dấu chỉ đó Chúa Giêsu muốn chúng ta chính là sự vâng giữ lời của Người, cụ thể là chúng ta đã nghe trong bài Tin mừng : "Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy...". Yêu mến Chúa, là trở nên giống Chúa, là tuân giữ lời Chúa, là làm theo điều Chúa muốn, và Chúa còn muốn mỗi người chúng ta phải hành động yêu thương thật sự cụ thể trong cuộc sống hằng ngày. Nhìn lại cuộc sống thường ngày, chúng ta sẽ thấy có một điều hết sức tự nhiên, đó là khi yêu mến ai, chúng ta thường cố gắng bằng mọi cách để làm vui lòng người đó. Và một trong những cách chúng ta thường thực hiện để làm vui lòng người mình yêu mến, đó là cố gắng nhanh chóng thực hiện mọi ý muốn của người đó. Cứ quan sát các một đôi bạn trẻ đang yêu nhau, chúng ta thấy họ luôn muốn làm đẹp lòng nhau, họ luôn để ý đến nhau, chỉ cần phát hiện một ánh mắt, một cái nhíu mày, một cử chỉ, hay một ý muốn nào đó của người này, thì lập tức người kia sẽ cố gắng thực hiện cho bằng được. Như vậy, một đứa con không thể nói rằng nó yêu cha mến mẹ, mà nó cứ luôn làm cho cha mẹ nó buồn, luôn làm những điều mà cha mẹ nó không muốn; cũng không thể có một người chồng luôn miệng nói với vợ rằng anh yêu em, mà ngày nào cũng đánh vợ, rồi chửi mắng vợ, rượu chè say sưa, nhục mạ vợ mình; cũng không thể có một người vợ nói với chồng là em yêu anh, rồi hằng ngày cứ bỏ bê nhà cửa, bỏ chồng, bỏ con, rồi đi nói xấu chồng, còn muốn bỏ chồng nữa. Hay là trong anh chị em chúng ta, không thể có người nói : tôi mến anh chị lắm, tôi thông cảm với anh chị lắm, tôi ngưỡng mộ anh chị lắm, rồi sau đó đi nói xấu, chê bai, khinh dễ, người đó được. Quả thật, những người như vậy nói yêu mà chẳng có hành động yêu một chút nào hết.

Hiểu được như vậy, thì chúng ta cũng hiểu được việc tuân giữ lời Chúa của chúng ta chính là dấu chỉ rõ ràng nhất, để chúng ta chứng tỏ lòng yêu mến của mình đối với Thiên Chúa. Càng yêu mến Thiên Chúa nhiều, chúng ta sẽ càng cố gắng thực hiện những điều Ngài muốn. Một lần nữa, chúng ta nghe lại lời khẳng định của Chúa Giêsu trong bài Phúc âm hôm nay là : "Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy". Thế nên, yêu mến và giữ lời, thì chúng ta đã và đang thực hiện rồi đó, nhưng làm như thế thì Chúa còn ban cho chúng ta một ân huệ đặc biệt nữa, đó là : "Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy, và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, và Chúng ta sẽ đến và ở trong người ấy". Như vậy, chúng ta còn được Chúa Cha yêu mến vì chúng ta đã tuân giữ lời Đức Giêsu, và không chỉ được Chúa Cha yêu mến, chúng ta còn được vinh dự đón tiếp cả Ba Ngôi đến ngự trong tâm hồn của chúng ta nữa. Và nếu có cả Ba Ngôi Thiên Chúa ở trong chúng ta, thì mỗi người chúng ta thật sự xứng đáng là đền thờ của Thiên Chúa, một đền thờ thiêng liêng, một đền thờ thánh thiện, tốt đẹp, và là một đền thờ yêu thương luôn thể hiện tình yêu Thiên Chúa đến với mọi người.

Lắng nghe lời Chúa trong bối cảnh của xã hội hôm nay, một xã hội thực dụng, đánh giá mọi sự dựa theo những giá trị vật chất trước mắt, chắc chắn là không dễ dàng gì. Tuy nhiên, để xứng đáng là người môn đệ của Chúa, và nhất là để minh chứng lòng yêu mến của chúng ta đối với Chúa, thì mỗi người chúng ta cũng hãy mau mắn tuân giữ các lời dạy của Chúa bằng cả tấm lòng của mình. Chúng ta hãy can đảm sống theo lời dạy của Chúa với tất cả niềm tín thác, niềm cậy trông, tình yêu mến.

Nhìn lại gương Chúa Giêsu, chúng ta đã thấy Ngài vì yêu mến Chúa Cha, và vì yêu thương nhân loại nên Ngài đã thi hành thánh ý của Chúa Cha, cho dù Ngài phải chấp nhận một cái chết tủi nhục trên thập giá.

Để thực thi Lời Chúa dạy hôm nay, tôi đề nghị những việc thực hành cụ thể như sau:

1. Đọc kinh hôm mai là một bổn phận thờ phượng Chúa. Nó còn là một truyền thống đạo đức tốt đẹp trong các gia đình Công Giáo. Tuy nhiên ngày nay, trong xã hội phát triển, đời sống con người được nâng cao thì đồng thời cũng tạo ra những lỗ hổng về đạo đức: chẳng hạn như mỗi người tìm cho mình một cách giải trí riêng vào ban tối đến, và do đó, có nhiều gia đình đã bỏ mất truyền thống đọc kinh ban hôm, truyền thống đạo đức tốt đẹp này. Có hình ảnh nào đẹp cho bằng mỗi buổi tối cha mẹ và con cái quây quần bên bàn thờ trong gia đình để đọc kinh thờ phượng Chúa, cùng đọc một đoạn Phúc Âm để cả gia đình cùng nghe và cùng sống Lời Chúa, cùng cầu nguyện chung với nhau.

2. Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta hãy biết sống yêu thương bác ái, tha thứ cho nhau. Chúng ta biết cảm thông và nâng đỡ những người nguội lạnh, chúng ta biết thăm viếng, an ủi những gia đình đang gặp hoạn nạn, đau yếu. Và nhất là chúng ta biết cầu nguyện cho những gia đình chung quanh chúng ta, nhất là những gia đình đang gặp hoạn nạn, đang gặp khó khăn.

Xin Chúa cho mỗi người chúng ta luôn biết noi theo gương của Chúa, để mỗi khi chúng ta thốt lên Chúa ơi, con yêu mến Chúa thì chúng ta cũng sẽ làm trọn theo những điều Chúa dạy, để cuộc sống của mỗi người chúng ta luôn là một cuộc sống bình an trong tay Chúa, và cũng là một cuộc sống vui tươi trong vòng tay yêu thương thân ái của tất cả mọi người. Amen.

CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH
Ga. 14, 23-29

Anh chị em thân mến.

Mỗi ngày và mỗi ngày, cứ đến giờ quy định, trước các cổng trường mẫu giáo, nhà trẻ và các trường cấp I, có rất nhiều xe chờ đón bên ngoài. Dù trời mưa hay nắng, những người chờ đợi nầy không bao giờ lỗi hẹn. Càng lạ lùng hơn nữa, nếu trời mưa bất chợt, thì những tài xế nầy sẳn sàn để cho cơn mưa hành hạ mình, còn người được rước luôn được bảo vệ hết sức có thể.

Những chiếc xe chờ đón đó là ai? Thưa đó là những người cha, người mẹ của những đứa con đang học trong những ngôi trường mà họ chờ đợi trước cổng. Vì yêu thương mà cứ mỗi ngày họ lại đúng hẹn, cho dù bận rộn nhiều công việc, nhưng với đứa con thân yêu của mình, họ vẫn giữ đúng hẹn. Chỉ vì yêu thương họ mới có thể trung thành được như thế, họ mới có thể giữ đúng lời hứa đến như thế.

" Ai yêu mến Thầy, sẽ giữ lời Thầy. . . kẻ không yêu mến Thầy thì không giữ lời Thầy."

Chúa Giêsu đã nói lên những lời tâm phúc với các môn đệ của mình. Nhìn thấy các ông buồn rầu lo sợ, Ngài trấn an các ông, Ngài chỉ đòi hỏi các ông về lòng yêu thương. Dấu chỉ để chứng tỏ tình yêu là vâng giữ lời của Ngài. Tình yêu thương không chỉ là những lời nói suông, nhưng phải được biểu lộ bằng hành động.

Các môn đệ đã vâng giữ lời, đã chứng tỏ được lòng yêu mến qua cuộc sống, qua con người của các ông. Giờ đây các ông được sống trọn vẹn trong tình yêu mà các ông đã chúng tỏ qua việc tuân giữ lời.

Trải qua hơn 2000 năm lịch sử. Giờ đây Chúa Giêsu cũng nói với những người môn đệ của ngày hôm nay, những người đang ngồi trong nhà thờ, những người đang lắng nghe những lời nói của Tình Yêu.

"Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy."

Nếu giờ nầy có ai chất vấn chúng ta về tình yêu, chúng ta sẽ trả lời sao đây? Có lẽ chúng ta cũng dám tự hào rằng mình yêu mến Chúa. Nhưng coi chừng, chúng ta yêu mến Chúa chỉ bằng môi miệng, còn tâm hồn thì ở tận đâu. Chúng ta ngở rằng Thiên Chúa của mình ở trong nhà thờ, bị nhốt trong nhà tạm. Chúng ta chỉ nhìn thấy Chúa trong kinh nguyện, trong những giờ phút mà chúng ta gọi là việc đạo đức. Ngoài những việc đó ra, chúng ta cứ mặc tình thoải mái, muốn sống sao thì sống.

"Ai yêu mến Thầy, sẽ giữ lời Thầy."

Chúng ta ngỡ rằng với những lời kinh, những lúc ngồi trong nhà thờ lâu giờ, như thế gọi là yêu mến Chúa, còn ngoài ra cuộc sống dường như không có Chúa bên cạnh. Như vậy chúng ta giữ lời Chúa như thế nào để chứng tỏ tình yêu của mình? Chúng ta có còn biết Lời Chúa là Lời như thế nào hay không? Lời Chúa là LỜI YÊU THƯƠNG. Chúa dạy chúng ta yêu thương. Nhưng yêu thương không phải chỉ là những lời nói suông. Yêu thương phải được thể hiện qua hành động, qua việc vâng giữ Lời Chúa.

Nếu chúng ta yêu mến, nếu giữ Lời Chúa thì chúng ta sẽ tận tâm hơn trong công việc hằng ngày, tận tâm hơn với trách nhiệm mà mình được trao cho.

Nếu chúng ta yêu mến và giữ Lời Chúa, chúng ta sẽ không còn thấy những người chung quanh như gánh nặng trên vai của mình nữa.

Nếu chúng ta yêu mến Chúa không chỉ bằng lời nói suông, thì đôi tay chúng ta sẽ hành động, không quảng ngại những khó khăn trắc trở. Khi đó tình yêu sẽ thúc đẩy chúng ta hành động giống như người cha, người mẹ không ngại mưa nắng khó khăn, sẳn sàn bảo vệ tình yêu của mình đối với đứa con thân yêu. Nếu chúng ta hành động được như thế, là chúng ta yêu mến Chúa qua cách đối xử với người anh em. Đó là đã vâng giữ lời Chúa và chúng ta sẽ được Thiên Chúa ở cùng.

Chúng ta cùng nhau cầu xin Chúa cho chúng ta biết vâng giữ lời Chúa bằng hành động yêu thương.

NGUỒN BÌNH AN
Ga. 14, 23-29

Trong cuộc sống chúng ta thường thấy cảnh này, khi có những sự rắc rối nào đó liên quan đến ai đó mà họ không muốn liên luỵ nên họ lắc đầu liên tục và bảo rằng " Xin cho tôi hai chữ bình an " . Họ muốn an phận, họ không muốn day vào những rắc rối. Thế thì bình an có phải là không chút gợn sóng, không chút khoấy động, không có phản ứng chống đối .. .

Đoạn Tin Mừng chúng ta được đọc hôm nay Chúa Giêsu hứa " Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy, Thầy ban cho anh em không như thế gian ban tặng " . Như thế bình an của Chúa Giêsu có gì đó rất khác với bình an của thế gian. Vậy bình an của Chúa Kitô là gì? Bình an của Chúa Kitô không phải là một tình trạng yên ôn không bị khuâý động, không bị chống đối. Bình an của Chúa Kitô là được sống tròn đầy do sự hiện diện của Chúa Kitô " Chúa Kitô là sự bình an của chúng ta " ( Ep2, 14). Sự bình an này đã được Chúa Kitô diễn tả trong cuộc sống của Ngài và đặc biệt trong cuộc thương khó. Chúa Giêsu bước vào vườn Ghêtsêmani với sự sợ hãi hoang mang đến độ Ngài xin Cha cho khỏi uống chén đắng là cuộc thương khó. Nhưng khi nhận ra ý định của Chúa Cha cũng như tình yêu của Chúa Cha thì Ngài đã bình an bước vào cuộc thương khó với niềm tin tưởng cậy trông. Như thế sự hiện diện của Chúa Kitô chính là nguồn đem lại bình an cho chúng ta. Các môn đệ vất vả suốt đêm chèo chống vì ngược gió như khi Chúa Giêsu ngự đến thì sóng biển yên lặng và đưa các ông đến bến bình an. Chúng ta cũng có thể thấy điều này dễ dàng nơi các trẻ em tập đi. Muốn cho em bé đi được thì bé phải tập đi. Mẹ của bé sẽ ở cách xa và chuẩn bị đỡ lấy bé nếu bé ngã còn người kia thì buông bé ra để bé đi đến với mẹ. Mặc dù bé đi rất loạng choạng nhưng bé vẫn muốn đi vì bé biết rằng mẹ bé luôn sẵn sàng đỡ lấy bé khi bé té ngã. Như thế sự bình an của chúng ta nhận được phải là sự bình an trong mọi lúc, phải là sự tin tưởng trọn vẹn nơi Chúa. Chúa luôn dõi bước ngay bên chúng ta, sẵn sàng nâng đỡ chúng ta khi chúng ta gặp gian lao thử thách.

"Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy". Yêu ai là muốn nên giống người đó và làm đẹp lòng người đó. Với thước đo này ta có thể đo được lòng mến của chúng ta đối với Thiên Chúa. Ta có giữ lời của Thiên Chúa chưa? Ta có thực sự muốn nên giống Chúa chưa? Tình yêu của chúng ta đối với Thiên Chúa không hệ tại ở những cảm xúc tự nhiên hay những câu nói suông nhưng là hệ tại ở việc sống Lời Chúa. Sống Lời Chúa là thực thi lòng mến, biết yêu mến tha nhân, thể hiện tình yêu của Thiên Chúa nơi những ngươi chung quanh.

Người Kitô hữu phải là người có sự bình an thật vì hoạ lại hình ảnh của Chúa Kitô nơi trần thế khi thực thi lời Chúa dạy. Như thế, nhiệm vụ của người Kitô hữu là phải làm lan toả sự bình an ấy nơi những người chung quanh, cho xã hội cho thế giới. Bình an là khát vọng của mỗi con người nhưng chưa thể thực hiện được vì nỗi sợ hãi lo âu, lo cho chính mình, cho dân tộc mình, cho đất nước mình nên còn hoài những cuộc chiến những cuộc xâm lăng. Người Kitô hữu phải là những người tái tạo hoà bình, phải là những người làm chứng cho hoà bình trong thế giới bằng cuộc sống không bạo lực, bằng cách sống đồng tâm nhất trí với nhau. Nhưng muốn được như thế mỗi người chúng ta phải là những con người thực sự bình an trong tâm hồn. Nếu chúng ta còn khư khư bám víu cuộc sống mình cách ích kỷ, nếu chúng ta còn sợ mất mát của cải, chúng ta còn muốn hưởng thụ, còn muốn thống trị kẻ khác... thì làm sao chúng ta có thể xây dựng hoà bình cho được.

Hãy tin tưởng vào Chúa, có Chúa hiện diện thì còn lý do gì nữa để chúng ta lo lắng sợ hãi. Như đứa con vững tin ngon giấc trong vòng tay người mẹ thì chúng ta cũng hãy phó thác mọi sự cho Chúa. Cho dù khó khăn, cho dù chống đối, cho dù bất ổn nhưng hãy tin rằng Chúa luôn có cách của Chúa để mang lại những điều thiện ích cho chúng ta.

Có Chúa hiện diện thì ta còn lo lắng sự gì nữa. Chúa thật là nguồn bình an.

BÌNH AN PHỤC SINH
Ga. 14, 23-29

Suy nghĩ về tình trạng tai nạn giao thông trong nước, một người đã viết trên báo Tuổi trẻ số ra ngày thứ hai 16. 04. 2007 như sau: " Dư luận chưa hết bàng hoàng trước vụ xe tải cán chết bốn học sinh ở Tuy An, Phú Yên, nay lại thêm một xe tải khác cán chết ba học sinh ở Ninh Hòa, Khánh Hòa. Những thông tin chết chóc do tai nạn giao thông làm nhói lòng người. Người dân luôn nơm nớp lo sợ từng ngày về sự an nguy của mình, của người thân trước hiểm họa xe cộ còn kinh hoàng hơn cả chiến tranh bởi không biết đâu là mặt trận, chiến trường, mỗi con đường đều có thể là bờ vực của tử thần... " .

Trên đây là tâm trạng bất an trong chỉ một lĩnh vực trong muôn vàn lĩnh vực khác trong cuộc sống hiện nay. Dường như xã hội càng tiến bộ bao nhiêu thì con người lại càng làm cho nhau thêm bất an lo sợ. Như thế có sự bình an đích thực không?

Để giải đáp cho câu hỏi này hôm nay Chúa Giêsu đã nói đến trong bài Tin mừng: " Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi " (Ga 14, 27). Nói cách vắn gọn là trong Chúa Giêsu Phục sinh ta mới có được sự bình an đích thực và vững chắc.

Chúng ta nhớ sau khi Chúa Giêsu bị bắt và bị đóng đinh thì chính các Tông đồ là những người mất bình an hơn ai hết. Bấy giờ họ chỉ biết vào phòng đóng kín cửa mà vẫn chưa hết lo sợ. Đến nỗi khi Chúa Giêsu Phục sinh hiện đến thì các ông lại tưởng là ma (Lc 24, 37). Thế nhưng sau khi các ông đón nhận được sự bình an của Chúa Giêsu Phục sinh thì các ông không còn lo sợ nữa. Các ông đã được hoàn toàn đổi mới. Các ông đã trở nên những người can đảm và mạnh mẽ lạ thường. Các ông đã chia nhau mỗi người mỗi ngả mà đi loan báo Tin mừng Phục sinh. Các ông đã dám đánh đổi cả mạng sống của mình để bảo vệ Tin mừng trọng đại ấy.

Ngược lại, những Thượng tế và những kỳ mục là những người mất bình an sau khi Chúa Giêsu Phục sinh. Thánh Mathêu ghi lại sau khi họ được báo tin Chúa Giêsu đã sống lại: "Các thượng tế liền họp với các kỳ mục; sau khi bàn bạc, họ cho lính một số tiền lớn, và bảo: Các anh hãy nói như thế này: ban đêm đang lúc chúng tôi ngủ, các môn đệ của hắn đã đến lấy trộm xác. Nếu sự việc này đến tai quan tổng trấn, chính chúng tôi sẽ dàn xếp với quan và lo cho các anh được vô sự. Lính đã nhận tiền và làm theo lời họ dạy. Câu chuyện này được phổ biến giữa người Do-thái cho đến ngày nay" (Mt 28, 12 - 15). Vì không được sự bình an trong Chúa Giêsu Phục sinh nên những người này đã tìm cách che giấu sự thật này. Nhưng làm sao có thể che giấu cho được điều này.

Mỗi khi Thánh lễ kết thúc, Chủ tế luôn chúc chúng ta "ra đi bình an". Vì Giáo hội tin là qua Thánh lễ chúng ta đã gặp và đón nhận được Chúa Giêsu Phục sinh trong Lời Chúa và Mình Máu Thánh Chúa. Do đó, chắc chắn chúng ta sẽ được bình an đích thực. Giáo hội cũng mong muốn mỗi tín hữu sau khi tham dự Thánh lễ về cũng biết đem bình an ấy cho gia đình và mọi người xung quanh. Cũng vậy, khi lãnh nhận Bí tích Hòa giải Linh mục thay mặt Thiên Chúa ban ơn bình an cho chúng ta. Chúng ta có tin và ý thức được điều ấy chưa?

Bình an đích thực là khi chúng ta biết làm theo lời Chúa và Giáo hội dạy. Khi chúng ta biết nghe lời Chúa và Giáo hội chắc chắn chúng ta sẽ có hạnh phúc thật sự. Đó là khao khát tận cõi lòng của mỗi người chúng ta.

Ngoài ra chúng ta hãy nhớ, những sự bình an theo kiểu thế gian chỉ là tạm bợ, mau thay đổi. Thậm chí, có khi lại là giả tạo.

Xin Chúa Giêsu Phục sinh ban cho mỗi người chúng ta biết chạy đến với Người để đón nhận bình an đích thực.

NGÔN HÀNH HỢP NHẤT
Ga. 14, 23-29

"Ai yêu mến Thầy, sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại trong người ấy..." (Gn 14, 24)

Mẹ Têrêsa cùng các chị em nữ tu Bác ái đang chăm sóc một người đàn ông gần chết, nằm bên cống rãnh; ông ta rất hôi thúi, ruồi bọ bu quanh.... Một người đi ngang thấy cảnh tượng đó, nôn ọe ra vừa nói: Có ai đó trả cho tôi 1 triệu đô la, tôi cũng không làm việc này... Mẹ Têrêsa nghe, trả lời cho anh ta: "tôi cũng vậy!" Cho 1 triệu đô la cả mẹ và chị em, ai cũng không làm được, nhưng với tình yêu hi sinh, tình yêu Đức Kitô, họ có thể làm được mọi sự.... Chính vì thế mà Đức Kitô đã nói: Ai yêu mến Thầy, sẽ giữ lời Thầy... Kính mời anh chị em cùng suy niệm chủ đề này ngày chúa nhật hôm nay.

a. ai yêu mến Thầy sẽ giữ lời Thầy, Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở trong người ấy... Lời Chúa hứa rõ ràng cho ai nghe và giữ lời Chúa, là Chúa sẽ đến ở với họ. Nếu chúng ta hiểu Thiên Chúa chính là nguồn của mọi hạnh phúc, thì khi được Chúa đến ở cùng, ta sẽ còn mơ ước điều gì khác? Vì Chúa chính là nguồn hạnh của ta mà thôi. Hai cô cậu yêu nhau chân thật, dù chưa lấy được nhau, họ không có mơ ước nào khác là được yêu nhau; dù rằng tình yêu trần gian rất bất toàn, rất dễ đổ vỡ...Rồi Chúa lại hứa cho ai yêu mến Chúa: chính là được kết hợp thân mật với Chúa Cha, với Chúa Kitô; sự kết hợp này không phải chỉởơ cuộc sống mai sau trên nước Trời mà ngay khi còn ở dưới đất này. Chúa dùng từ "sẽ đến" và "ở lại" với người đó. Còn từ nào cụ thể nói lên sự kết hợp mật thiết này? Hai cô cậu khi yêu nhau chân thật, không phải là mong muốn lúc nào cũng ở bên nhau sao? Mà ở bên nhau là gì, nếu không phải là kết hợp mật thiết với nhau?

b. Ai yêu mến Thầy sẽ giữ lời Thầy... Câu nói này người Công Giáo chúng ta thuộc nằm lòng. Lời Chúa đã vang vọng 20 tk rồi cho mọi kitô hữu....dù vậy, chúng ta thử nhìn có rất nhiều người nói mình yêu Chúa, nhưng họ không giữ và cũng không muốn giữ lời Chúa dạy, không làm theo Ý Chúa. Thử nhìn các Giáo hội bên Âu Châu, như bên Pháp, Ba Lan: hầu hết đều được rửa tội, nhưng lớn lên hầu hết họ không đến nhà thờ, không lãnh các Bí tích. Khi được nhắc nhở, họ lại tự biện minh cho mình rằng: "giữ đạo ở trong tâm hồn là được rồi". Thực ra có được không? Câu trả lời là một câu hỏi lại: Nếu ta nói ta thương vợ con mình, mà mấy năm trời không gần vợ, gần con, điều này có thể chấp nhận được không? Việc gẫư đạo cũng tương tợ thế...

Bây giờ ta thử nghiêm túc nhìn lại cách sống đạo của người Việt Nam ; thực ra có hơn Âu Châu không? Thưa có, vì người ta vẫn đi lễ đông nghẹt; các nhà thờ VN hầu như không đủ chỗ. Như thế thì rất tốy, rất sốt sắng. Nhưng thật sự giữ đạo trong cuộc sống hằng ngày, sống Lời Chúa thì chưa. Thực tế cho thấy có nhiều người có đạo, nhưng vẫn còn tham lam, ganh tị, bè phái, không bao dung, tha thứ... Có những người không thể nhịn nhục, tha thứ cho vợ cho chồng mình; có những người Công giáo, nhưng tâm địa ác độc... Số này giữ đạo vì lợi lộc cá nhân, vì muốn yên lương tâm, vì nhu cầu xã hội, để được chồng ,được vợ. Lời Chúa nói không đủ đánh động họ, cái chết của Chúa trên thánh giá không dễ gì lôi kéo họ, vì họ qúa xem trọng lợi lộc trần gian, làm sao Chúa Thánh Thần có thể tác động họ khi chính bản thân họ không có quyết tâm.

c. Gợi ý sống và chia sẻ: Ta giữ đạo cho đến hôm nay có khi đã mấy mươi năm rồi, vậy mà ta có yêu mến Chúa chưa? Và vì yêu mến Chúa, ta có sẵn sàng làm mọi sự theo ý Người không?

BÌNH AN CỦA THIÊN CHÚA BAN
Ga. 14, 23-29

1. "Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương" (Lc 2,14), đó là câu hát của Thiên Thần mừng ngày Chúa xuống trần. Qua đoạn Tin Mừng chúng ta vừa nghe, khi Đức Giêsu sắp trở về với Chúa Cha, Người cũng nói : "Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy" (Ga 14,27). Qủa thực, Đức Giêsu đến để mãi mãi đem bình an cho loài người, nhất là những kẻ tin vào Người. Nhưng bình an của Chúa ban là gì? Làm sao chúng ta có được bình an đó?

2. Thật ra, người Do Thái khi gặp hay từ giã nhau thường chào "Shalom" (bình an). Trong cuộc sống thường ngày, chúng ta cũng hay có thói quen chúc nhau như thế. Nhưng ở đây, lời Đức Giêsu nói với các môn đệ không chỉ là một lời chúc hay là một lời từ giã thông thường, mà còn là một sự trao ban bình an thật sự: " Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không không theo kiểu thế gian". Bình an, đó là món quà vô giá mà Thiên Chúa trao ban cho con người qua Đức Kitô, nhờ Thánh Thần của Người. Bình an nầy được trao ban từ Thiên Chúa Ba Ngôi.

3. Một cách thông thường, khi nói về bình an, ta thường nghĩ đó là những điều kiện cần thiết cho cuộc sống hạnh phúc, nó có thể mang tính vật chất (nhiều tiền bạc, tiện nghi, sung túc...) hay một sự an toàn về thể lý (không có chiến tranh, chết chóc...) cũng như tâm lý (yên ổn về tinh thần...). Nhưng thứ bình an này sẽ chóng qua và con người khó mà đạt tới một sự thoả mãn thật sự vì ngay khi đi tìm bình an thì trong đó đã có sự cạnh tranh rồi, như ta vẫn nghe nói: "Muốn có hoà bình hãy chuẩn bị chiến tranh", tức phải lo phòng thủ kẻo đối phương tấn công. Hơn thế nữa vì tham vọng không giới hạn của con người làm khổ cho chính mình, người giàu thì muốn giàu thêm, đã tiện nghi thì càng muốn hơn nữa...!

Trong khi đó, sự bình an của Chúa vượt trên thứ bình an thông thường, bởi nó không hệ tại ở bình diện vật chất, thể lý hay bình diện tâm lý, mà hệ tại ởviệc nhận ra chân lý, nhận ra sự thật và sống theo chân lý, sự thật đó. Theo thánh Gioan, sự Thật là gì, thưa đó chính là Thiên Chúa, là Đức Giêsu (x.Ga 14,6) và những gì xuất phát từ Ngài (x.Ga 3,21; 4,24 ; 8,40...). Khi chúng ta tin nhận sự hiện diện của ThiênChúa trong cuộc đời mình, khi chúng ta luôn sống trong sự gắn bó với Chúa và thực thi thánh ý của Ngài, thì lòng chúng ta chẳng còn xao xuyến, chẳng còn lo toan dù trước những thăng trầm của cuộc sống. Cho dù không dư dả gì, cho dù cái chết có kề cận... bởi vì hoàn toàn tin tưởng vào Chúa quan phòng.

4. Các môn đệ khi đã nhận được bình an của Đức Kitô Phục Sinh ban qua Thánh Thần của Người đã mạnh dạn ra đi rao giảng Tin Mừng, rao giảng sự thật, bất chấp mọi khó khăn, chống đối, tù đày. Phải chăng các ngài đã có sự bình an trong Chúa ? Giữ vững truyền thống các môn đệ xưa, các thế hệ Kitô hữu nối tiếp nhau, nhờ hồng ân bình an của Chúa, không ngừng loan báo Tin Mừng, dấn thân phục vụ tha nhân cho dù thuận lợi hay không ?

Câu chuyện có thật sau đây mà tôi đọc được trong một bài chia sẻ, xin ghi lại để chúng ta cùng suy nghĩ thế nào là bình an thật do Chúa ban : Tháng 7 năm 1972 sau những tháng dài bị tra tấn trong trại lính, nơi cha Vania thi hành nghĩa vụ linh mục, ngài đã gục ngã dưới làn mưa đạn. Trong lá thư cuối cùng ngài viết cho cha mẹ già có những dòng sau đây:"Cha mẹ yêu dấu ! Thiên Chúa đã chỉ cho con một con đường phải theo. Con không chắc có thể còn sống được để trở về với cha mẹ nữa hay không, bởi vì những cuộc tra tấn lúc này dã man hơn trước kia rất nhiều. Thế nhưng con không lo sợ, vì có Chúa ở cùng con. Xin cha mẹ cứ an tâm, đừng lo lắng cũng đừng buồn phiền về số phận của con nữa. Lúc này con yếu và kiệt sức lắm rồi. Con xin chào thăm cha mẹ trong tình yêu Chúa Kitô và trong sự bình an của Thiên Chúa Cha. Người ta cấm cản con không được rao giảng về Chúa Kitô nữa, và con phải trải qua nhiều thử thách..."

Đời sống tốt đẹp của người Kitô hữu là một trong những biểu hiện rất rõ nét cho sự hiện diện và bình an của Chúa.

5. Nhưng làm thế nào để có được bình an đích thực nầy ? Bí quyết này Đức Giêsu cũng chỉ rõ cho chúng ta ngay từ đầu bài Tin Mừng : "Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy ". Vậy, cách cụ thể hơn, muốn được bình an của Thiên Chúa, thì hãy sống theo lương tâm ngay lành. Hãy vâng nghe lời Chúa dạy qua Kinh thánh. Hãy tuân phục ý Chúa thể hiện qua những biến cố Chúa gởi đến trong đời ta. Cũng đừng quên nghe tiếng Chúa nói qua sự hướng dẫn của Giáo Hội, qua lời góp ý chân tình của anh chị em mình...

6. Ước vì nhờ lòng yêu mến Thiên Chúa và trung thành giữ lời Ngài, mà mỗi người chúng ta có được bình an sâu thẳm trong tâm hồn, dù đời sống Kitô hữu có thể gặp nhiều hy sinh, gian nan, thử thách. Hãy nghĩ xem, trong khi thế gian dám đánh đổi bao công sức, tiền bạc cho hạnh phúc, bình an chóng qua; thì người Kitô hữu càng có lý do hơn để hy sinh cho hạnh phúc, bình an đích thực, bền vững nơi Thiên Chúa cho chính mình và cho tha nhân.

VƯỢT QUA KHỦNG HOẢNG ĐỨC TIN
Ga 14, 23-29

1.LỜI CHÚA: "Thầy đi thì ích lợi cho anh em" (Ga 16,7).

2.CÂU CHUYỆN:

ME-RI-ƠN OÉT (Marion West) là một bé gái 4 tuổi. Ngày nào bé cũng vui mừng nhảy nhót khi thấy mẹ từ chỗ làm tới đón về nhà ăn trưa. Vì bận phải đi làm việc gần nhà nên từ sáng sớm, mẹ cô bé đã đem con nhờ người hàng xóm tốt bụng trông giúp. Rồi đến trưa bà tranh thủ ra khỏi chỗ làm để đi đón con, và hai mẹ con hối hả trở về nhà cùng ăn trưa và vui đùa bên nhau. Rồi đến một giờ chiều, bà lại phải từ giã bé để đến chỗ làm tiếp tục công việc. Sau đó, bé ME-RI-ƠN thường buồn tủi ngồi im lặng hàng giờ đồng hồ. Thế rồi, theo lời khuyên của chuyên gia tâm lý, một ngày kia, mẹ bé đã thôi không về nhà vào mỗi buổi trưa đón bé nữa. Trưa hôm ấy, bé ME-RI-ƠN buồn rầu không thiết ăn uống. Em cứ thắc mắc tại sao mẹ lại không về nhà ăn trưa và chơi đùa với em ? Nhưng rồi lâu ngày bé quen dần và trở lại vui vẻ như trước. Nhiều năm sau đó, ME-RI-ƠN mới được mẹ kể cho biết bấy giờ hàng ngày bà vẫn trở về nhà, nhưng không ghé đón cô. Bà thường ngồi bên cửa sổ nhà bếp vừa ăn trưa vừa nhìn con vui chơi với các bạn bên nhà hàng xóm. Bà ao ước được chạy lại ôm ấp cô cho thỏa lòng. Nhưng vì muốn cho con trưởng thành, bà đành nén lòng lại, để con quen dần với sự vắng mặt của bà mà phát triển tâm lý bình thường như bao trẻ khác. Giờ đây khi đã khôn lớn, ME-RI-ƠN mới hiểu lý do tại sao mẹ cô lại làm như thế, và cô lại càng biết ơn mẹ nhiều hơn.

3.SUY NIỆM:

Tin Mừng CN hôm nay ghi lại lời Chúa Giê-su tâm sự với các môn đệ  trong bữa Tiệc Ly trước khi Người lìa bỏ các ông ra đi chịu khổ nạn và gồm hai điểm chính như sau:

1) Đức Giê-su hứa ban Thánh Thần: Khi nghe Đức Giê-su tiên báo việc Người sắp ra đi chịu khổ nạn rồi mới được Chúa Cha tôn vinh (x Mc 10,33-34), các môn đệ rất đỗi buồn phiền chán nản. Đức Giê-su đã phải an ủi khích lệ các ông khi cho biết việc Người ra đi là để dọn chỗ rồi sau đó Thầy trò lại sẽ lại được đòan tụ với nhau, nên lẽ ra các ông phải vui mừng vì Người được Chúa Cha tôn vinh. Hơn nữa các ông sẽ không bị mồ côi vì Chúa Cha sẽ sai Chúa Thánh Thần đến an ủi và phù giúp các ông chu tòan sứ vụ loan báo Tin Mừng Nước Trời. Quả thật sau khi Chúa Giê-su thăng thiên, các môn đệ không còn thấy Người hiện ra nữa. Nhưng Chúa Thánh Thần đã được sai đến vào lễ Ngũ Tuần đến thay Người giúp các ông chu tòan sứ vụ loan Tin Mừng như Người đã hứa: "Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em (Ga 14, 26).

2) Vai trò của Chúa Thánh Thần: Chúa Thánh Thần giống như một Thầy giáo phụ đạo, sẽ soi sáng và giúp các môn đệ hiểu rõ lời Đức Giê-su dạy và giúp các ông chu tòan sứ vụ làm chứng nhân tình thương của Người đến tận cùng trái đất (x Ga 15,26-27).

3) Ích lợi của việc Đức Giê-su ra đi: Sau khi hoàn tất công việc được Chúa Cha trao phó, Đức Giê-su đã trao lại sứ vụ cứu độ trần gian cho Đấng Bảo Trợ là Chúa Thánh Thần. Dù rất yêu thương các môn đệ và luôn muốn ở bên các ông, nhưng Đức Giê-su vẫn quyết tâm ra đi, vì điều đó mang lại lợi ích thực sự cho các ông. Nó vừa giúp các ông trưởng thành về đức tin hơn, lại vừa giúp họ đón nhận được đầy ơn Thánh Thần để chu tòan sứ vụ được sai đi (x Ga 20,22-23), loan báo Tin Mừng và dạy dỗ người ta (x Mt 28,19-20), làm chứng nhân cho tình thương của Thầy Giê-su "cho đến tận cùng trái đất" (Cv 1,8).

4) Ứng dụng vào thực tế: Câu chuyện của bé ME-RI-ƠN nói trên phù hợp với ý nghĩa bài Tin mừng hôm nay. Điều thích hợp và hữu ích đối với cô bé bốn tuổi ME-RI-ƠN và các môn đệ của Đức Giê-su, cũng hữu ích cho các tín hữu chúng ta hôm nay. Có những lúc, chúng ta có cảm tưởng như bị Thiên Chúa bỏ rơi: Khi ta chán nản, không còn thiết tha với việc cầu nguyện hằng ngày, với việu chầu trước Nhà Tạm thờ Chúa Giê-su Thánh Thể... Có những lúc đức tin của chúng ta trở nên yếu đuối khác hẳn với sự mạnh mẽ trước đó. Cũng có khi chúng ta không còn hứng thú với các sinh hoạt đòan hội như đi họp, đi làm công tác thăm viếng, quét dọn vệ sinh nhà Chúa, đi tập hát phục vụ trong thánh lễ... Chúng ta có cảm tưởng như bị Thiên Chúa bỏ rơi giống như Đức Giê-su hấp hối trên thập giá đã phải thốt lên: "Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con. Sao Ngài bỏ rơi con?" (Mc 15,34). Tuy nhiên điều đó lại trở thỳanh cơ hội giúp chúng ta trưởng thành về đức tin, tập yêu Chúa cách quảng đại vô điều kiện, vững tin cậy vào Chúa, tin rằng Chúa để xảy ra tình trạng đó là nhằm thử thách đức tin của chúng ta. Chúa sẽ ban thêm sức mạnh giúp chúng ta vượt qua thử thách. Điều cần phải làm là vững tin vào tình thương của Chúa và chờ đợi chắc chắn Chúa sẽ ban nhiều hồng ân giúp đỡ ta như lời Chúa đã quả quyết với thánh Phaolô được ngài ghi lại như sau : "Ơn của Thầy đã đủ cho con, vì sức mạnh của Thầy d0ược biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối. Thế nên tôi rất vui mừng và tự hào vì những yếu đuối của tôi, để sức mạnh của Đức Ki-tô ở mãi trong tôi" (2 Cr 12,9).

5) Kết luận: Chúa Giê-su luôn yêu thương chúng ta. Người muốn hiện diện ở bên để chăm sóc chúng ta là đòan chiên của Người. Nhưng Người biết rằng: Nếu Người lánh mặt đi thì sẽ có lợi cho chúng ta hơn. Người biết đã đến lúc chúng ta cần phải lớn lên về tâm linh, giống như Chúa Giê-su thấy đã đến lúc phải lìa bỏ các môn đệ để đem lại lợi ích cho các ông. Đây cũng là cơ hội để chúng ta nhận ra rằng: việc cầu nguyện có giá trị không hệ tại ở chỗ cảm thấy xúc động nhiều ít,nhưng là lúc tâm hồn chúng ta bị khô cứng như đá, không cảm thấy sốt sắng gì cả. Nhưng đó lại là lời cầu nguyện có giá trị nhất về đức tin. Qua đó, chúng ta hiểu rằng: Đức tin chân chính là một tâm tình dâng hiến, là một thái độ phó thác cậy trông vào Chúa quan phòng, là một lời thưa "xin vâng" thánh ý Chúa Cha như Chúa Giê-su và Đức Ma-ri-a đã trải qua để nêu gương cho chúng ta học tập (x. Mt 26,39; Lc 1,38). Do đó khi dự lễ hay chầu Mình Thánh Chúa, chúng ta không cảm thấy Chúa hiện diện thực sự trong tấm bánh miến, nhưng chúng ta "hãy lấy đức tin bù lại, nếu giác quan không cảm thấy gì". Bấy giờ đức tin của chúng ta sẽ được Chúa chúc phúc, như lời Chúa Phục Sinh đã nói với ông Tô-ma: "Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin" (Ga 20,29).

4.THẢO LUẬN:

1- Khi gặp cơn khủng hoảng về đức tin (chán ngại cầu nguyện, lười biếng làm các việc đạo đức bác ái...bạn sẽ vượt qua khủng hoảng ấy bằng cách nào?

2- Bạn sẽ làm gì để lời chúc bình an cuối lễ được ứng nghiệm trong đời sống thường ngày ?

5.NGUYỆN CẦU:

- LẠY CHÚA GIÊ-SU. Trong Tin mừng hôm nay, Chúa đã hứa rằng: sau khi Chúa ra đi thì Đấng Bảo Trợ khác là Thánh Thần sẽ được Chúa Cha sai đến, để tiếp tục dạy dỗ và làm cho các môn đệ nhớ lại mọi điều Chúa đã truyền dạy trước đó. Chính Thánh Thần sẽ giúp Hội thánh, trong đó có mỗi người chúng con thêm lòng yêu mến Chúa để thực hành được giới răn quan trọng nhất là "mến Chúa yêu người".

- LẠY CHÚA, cho tới bây giờ hầu như chúng con mới chỉ yêu thương tha nhân bằng sự cầu nguyện, bằng lời nói hơn việc làm. Xin Chúa sai Thánh Thần đến canh tân lòng trí chúng con. Xin cho chúng con ý thức tình yêu phải được thể hiện bằng sự năng nghĩ đến người mình yêu, quên mình và hy sinh phục vụ người bên cạnh, quảng đại chia sẻ giúp đỡ người nghèo có đủ cơm ăn áo mặc, người bệnh có đủ thuốc men chữa bệnh, người đau khổ tìm được sự cảm thông an ủi, người lạc đường được Chúa dẫn đưa về nẻo chính đường ngay.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON

LM ĐAN VINH www.hiephoithanhmau

SÁNG KIẾN
Ga 14, 23-29
Lm Vũđình Tường

Không phải tất cả các sáng kiến đều sáng cả đâu. Có những tư tưởng gọi là sáng nhưng bản chất của nó tối mò. Sáng kiến mang bản chất tối có thế nói đùa là độ sáng của nó lớn vừa đủ soi sáng cái kiến.

Tư tưởng mới phát sinh mỗi ngày. Có những thay đổi chỉ bùng lên một thời rồi chìm vào quên lãng, lại cũng có những thay đổi vững chắc biến đổi xã hội. Thay đổi phát sinh bởi hoàn cảnh mới đòi giải quyết vấn đề mới phát sinh mà truyền thống cũ không đáp ứng thoả đáng hay tệ hại hơn là truyền thống cấm đoán vì trái nghịch với truyền thống. Thay đổi ảnh hưởng mạnh đến xã hội, làm thay đổi lối suy nghĩ, cách đối xử, cách điều hành công việc. Lối ăn, cách uống từ nhà, ngoài ngõ đều ảnh hưởng bởi những sáng kiến. Những thay đổi này ảnh hưởng đến việc đề nghị xét lại cách thực hành và tinh thần sống đạo truyền thống. Khi những đề nghị thay đổi không được chấp thuận sẽ xảy ra tình trạng đơn giản là phê bình, lớn hơn là bất mãn và tệ hại là sinh bè, lập nhóm, tạo phe, gây phái. Điều này dẫn đến việc chia rẽ trong cộng đoàn dân Chúa. Nhóm hỗ trợ thay đổi tự nhận là cấp tiến phê bình chỉ trích nhóm bảo thủ. Họ tự nhận là tân tiến, thích ứng với thời cuộc và chỉ trích Giáo Hội là chậm tiến, bảo thủ, không theo kịp đổi thay của thời đại. Còn một nhóm nữa đứng giữa thầm lặng, không ủng hộ cấp iến, cũng không chê bảo thủ, truyền thống, sao cũng được và sẵn sàng chấp nhận thay đổi cho thích hợp với hoàn cảnh.

Sáng kiến dẫn đến thay đổi cần khuyến khích, cổ võ nếu sáng kiến đó bảo vệ sự sống, cổ võ tình yêu chân chính và tinh thần phục vụ vô vị lợi vì những điều này hợp với giáo huấn của Đức Kitô truyền dậy. Truyền thống dù cũ mấy cũng là truyền thống có giá trị và tốt đẹp khi truyền thống cổ võ bảo vệ sự linh thánh của con người và hợp với điều Đức Kitô truyền dậy về luật yêu thương và phục vụ. Sáng kiến, đề nghị xem ra sáng sủa, nghe hợp lí, thích ứng với hoàn cảnh cần phải cẩn trọng khi đón nhận vì đằng sau những lí thuyết xem ra hợp lí, ăn khách, thức thời nhưng không chừng có ẩn dấu mầm mống làm hại sự sống để mưu ích riêng cho thiểu số, phe đảng. Sáng kiến trên lí thuyết dựa vào sự sống, phục vụ để đòi thay đổi nhưng thực tế, trong thực hành, không trực tiếp bảo vệ sự sống, không chân thành cổ võ tình yêu chân chính và không thành tâm thiết tha phục vụ tha nhân vô vị lợi đều trái giáo huấn của Đức Kitô. Mọi đề nghị, tư tưởng cho là cao siêu hơn giáo huấn của Đức Kitô đều ngầm chứa tinh thần kiêu ngạo. Những gì thuộc về kiêu ngạo không thể đến từ Thiên Chúa yêu thương vì bản chất của yêu thương là khiêm nhường phục vụ.

Giáo huấn của Đức Kitô không bao giờ lỗi thời vì giáo huấn của Ngài vượt lên trên thời gian. Vì tư tưởng của Ngài đến từ Thiên Chúa hằng sống cộng với hướng dẫn của Thánh Thần Chúa nên giáo huấn của Ngài luôn mới với mọi thời đại, thích hợp với mọi truyền thống và hợp với mọi dân tộc. Nếu cần đổi thay cho thích hợp với giáo luật yêu thương thì đối tượng đổi thay là truyền thống, là phong tục, là tập quán địa phương cần thay đổi cho trong sáng hơn, thích hợp với luật yêu thương tha thứ và phục vụ.

Câu chuyện thầy giáo yêu cầu học sinh viết luận về giáo huấn của Đức Kitô liên quan đến bảo vệ đời sống, cổ võ yêu thương chân thành và phục vụ tha thiết. Trong đó có lời phê bình cho thấy không phải mọi thay đổi đều tốt; cũng như không phải mọi truyền thống đều dở.

Bài văn của em có nhiều tư tưởng hay và nhiều tư tưởng mới. Không may tư tưởng mới thì không hay và tư tưởng hay thì không mới.

Chúng ta cần thay đổi cho thích hợp với hoàn cảnh, với tiến bộ khoa học nhưng căn bản phải đặt trên giáo huấn của Đức Kitô về phương diện bảo vệ sự linh thánh của cuộc sống, yêu thương chân chính và chân thành phục vụ tha nhân vô vị lợi. Thay đổi trái nghịch giáo huấn của Đức Kitô là không yêu mến Ngài

Ai yêu mến Thầy thì tuân giữ lời Thầy và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy và chúng ta sẽ đến và ở trong người ấy Gioan 14,23.

CHÚA GIÊSU PHỤC SINH SẼ VỀ VỚI CHÚA CHA...
Ga 14, 23-29
Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
Chúa Giêsu phục sinh ở lại với các môn đệ một thời gian để củng cố lòng tin của các Ngài, đồng thời cũng là đức tin của Hội Thánh sơ khởi. Chúa phục sinh vẫn cố gắng làm cho các môn đệ hiểu những gì sắp xảy ra và những gì sẽ đến sau đó. Tuy nhiên,đây không phải là một điều dễ dàng. Bởi vì các môn đệ hiểu một đàng, Chúa loan báo điều trái ngược với các Ngài...

Chương 14 của Thánh Gioan ở đây không phải là một diễn từ, diễn văn nhưng thực sự là những lời hết sức thân mật, tâm huyết giữa Chúa Giêsu và các môn đệ. Đây là những lời tâm sự, cuộc trò truyện hết sức ân tình. Các môn đệ luôn có quan niệm Chúa Giêsu là vua và các Ngài được tham dự, được chia chác các chỗ ngồi trong Vương Quốc của Ngài. Chúa Giêsu lại loan báo Đấng Thiên Sai phải chịu đau khổ, chịu chết và ngày thứ ba sẽ sống lại. Đây là một quan niệm, một quan điểm hoàn toàn trái ngược với ý nghĩ của các môn đệ, các tông đồ. Các môn đệ lúc đó, chẳng hạn như Thánh Phêrô cản ngăn việc Chúa, Toma xin Chúa chỉ đường vì các Ngài không biết đường làm sao mà đi vv...Ông Giuđa lại cho chúng ta thấy sự mù mịt của các tông đồ hồi ấy :" Thưa Thầy tại sao Thầy lại cho chúng con mà không tỏ cho thế gian thấy ". Đúng là sương mù dày đặc bủa vây và khép kín các tông đồ. Tại sao Chúa Giêsu lại chỉ âm thầm với một nhóm các tông đồ mà không xuất hiện cách hoành tráng, uy nghi lẫm liệt như khi vào thành Giêrusalem. Tại sao Chúa Giêsu lại tâm sự, tâm tình hay nói cách khác hết sức tâm huyết với các tông đồ...Đọc lại Tin Mừng, chúng ta nhận thấy vào ngày Lễ Lều là ngày lễ lớn, lễ trọng của người Do Thái, anh em, họ hàng của Chúa Giêsu đã nói với Ngài :" Ông bỏ đây mà sang miền Giuđê đi, để cả môn đệ của ông cũng nhìn thấy những việc Ông làm, vì không ai muốn người ta biết đến mà lại hoạt động, làm việc cách âm thầm.Một khi Ông làm được như thế thì hãy tỏ mình ra cho thế gian " ( Ga 7, 4 ).

Thật ra, Chúa Giêsu đã rất nhẹ nhàng và thâm trầm nói cho mọi người biết :" Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy ". Ngài không nói ai theo Thầy thì phải làm những việc cao siêu, lạ lùng, đánh Đông dẹp Bắc vv...Nhưng là giữ lời Thầy. Đàng trước chữ giữ là chữ " nếu ". Nếu ai yêu mến Thầy thì tất nhiên phải giữ lời của Thầy. Chữ nếu liên kết chặt chẽ lòng con người với cách ăn nết ở của con người đối với Chúa. Hậu quả của việc giữ lời Chúa thì " Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy ". Chúa Cha và Chúa Con sẽ đến và ở trong người ấy. Đó là một sự kỳ diệu, lạ lùng.Bởi vì, trong lời nguyện hiến tế, Chúa Giêsu luôn tha thiết cho mọi người yêu thương nhau như Ngài yêu thương và tha thiết cho mọi người nên một.Những lời tâm huyết của Chúa Giêsu, các tông đồ chưa hiểu ngay đâu. Các môn đệ Chúa phải chờ Chúa Thánh Thần xuống, những lời của Chúa các Ngài mới hiểu được cách rõ ràng, từng câu từng chữ, từng ly từng tý và những lời này trở nên nguồn mạch sự sống mới cho các môn đệ. Ngày nay, người Kitô hữu nào tin vào những lời của Chúa đã nói với các môn đệ xưa, cũng được Chúa Thánh Thần hướng dẫn, tác động và Chúa Ba Ngôi sẽ đến, ngự trị, biến đổi tâm hồn của họ.

Xin được mượn lời của Jean-René Fracheboud để kết luận bài suy niệm này:" Chúa ban cho chúng ta Thần khí của Ngài, Đấng hé lộ dần dần trong lịch sử , một lời tự do hầu cho chúng ta khai phá những con đường Tin Mừng. Đã bao nhiêu lần, một mình hay với cả cộng đoàn, chúng ta đã có thể có kinh nghiệm về một lời Kinh Thánh bất chợt làm sáng tỏ một phần cuộc sống của chúng ta, một lời cho chúng ta sức mạnh và sự mạnh dạn để lấy một quyết định quan trọng, một lời mang lại cho chúng ta sự bình an nội tâm lớn lao trong những hoàn cảnh khó khăn...Chúng ta chạm ngón tay vào một thứ gì đó lấp lánh, thứ làm cho chúng ta cảm nghiệm được sự hiện diện của Chúa Kitô giữa chúng ta, trong chúng ta. Như thế chúng ta sẽ cảm nhận được sự thật sâu sắc và tính hiện tại của Lời Chúa Giêsu :" Nếu ai yêu mến Thầy...,Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, chúng ta sẽ đến và ở lại trong người ấy ".

BÌNH AN CỦA CHÚA
Ga 14, 23-29
Lm. JB Nguyễn Minh Hùng

Bài Tin Mừng hôm nay (Ga 14, 23-29) nằm trong bối cảnh của nỗi bất an, lo sợ. Đây là thời gian diễn ra bữa tiệc biệt ly của Chúa Giêsu với các môn đệ của Người. Chúa Giêsu chuẩn bị bước vào cuộc tử nạn. Chúa cũng đã nhìn thấy sự hoang mang, dao động hiện trên khuôn mặt của những người theo Chúa. Giữa lúc sợ hãi và u sầu bao trùm tâm tư mọi người hiện diện, thì lời an ủi của Chúa lại là lời chúc bình an: "Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không như thế gian ban tặng. Lòng anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi".

"Bình an của Thầy" ư? Bình an của Thầy là bình an như thế nào? Sao lại "không như thế gian ban tặng"? Đã gọi là bình an sao còn phân biệt "của Thầy", "của thế gian"? Thốt lên lời trao ban bình an giữa lúc bất an nhất, xáo trộn nhất, hình như lời Chúa Giêsu trở thành lời không thích hợp trong lúc ấy?

Trước khi tiếp tục suy nghĩ, chúng ta cần khẳng định dứt khoát rằng, Lời Chúa là Lời chân lý. Vì thế, bình an mà Người trao ban là chính bình an của Đấng Cứu Độ ban tặng người trần thế.

Trong Thánh Kinh, bình an (salom) không có nghĩa là thoát ly khỏi mọi đớn đau, lo sợ. Nói đến bình an, chúng ta hay nghĩ, đó là cuộc sống thoải mái, không đụng chạm rắc rối hay đối đầu với đau khổ. Bình an mà Chúa muốn nói không như thế. Đúng hơn, đó là bình an mà thế gian phải tìm tòi. Thực tế, bình an của thế gian thường là thứ bình an do tránh né đương đầu với khó khăn, do chạy trốn những bất ổn mua lấy sự yên thân hơn là tạo được một tâm hồn bình an. Bình an đó không bền vững, nhưng chóng vánh. Chỉ có bình an thật sự trong tâm hồn mới là bình an cần thiết cho cuộc đời chúng ta. Bình an mà Chúa ban cho chúng ta là bình an chiến thắng của nội tâm con người. Nó là kết quả của bao nhiêu cam go, dằn vặt, chấp nhận, và chịu đựng mới có thể có được. Một khi đã có được tâm hồn bình an, không có bất cứ một hoàn cảnh nào của cuộc sống trần thế có thể cướp mất được. Bình an của tâm hồn hoàn toàn độc lập với mọi hoàn cảnh bên ngoài. Giữa lúc môn đệ rơi vào bi quan nhất, giữa lúc các ông sắp phải đối diện với những mất mát tận cùng, Chúa ban ơn bình an của tâm hồn để các ông đủ can đảm mà chiến thắng. Ơn bình an này cần thiết biết bao nhiêu cho đoàn môn đệ của Chúa. "Bình an của Thầy" là như thế. Bình an ấy không thể nào thế gian có thể có được để mà ban tặng.

Chính cái chết thập giá của Chúa nói lên tất cả ý nghĩa nội tâm của một tâm hồn bình an. Cái chết ấy bày ra trước mắt ta một nghịch lý thật lớn: Bởi nhìn bên ngoài, Chúa bị hành hạ, bị đánh đập, bị lột trần, bị đóng đinh, bị sỉ nhục cách tàn bạo và cái chết đang treo trước mắt..., làm sao một con người như thế lại có bình an? Còn những kẻ hả hê, những kẻ chủ mưu của tội ác giết người, những kẻ xem ra chiến thắng vì đã hoàn tất cuộc loại trừ dành cho Giêsu, chắc chắn phải là những kẻ cảm thấy bình an hơn ai hết? Bởi loại trừ được Giêsu, là loại trừ thành công một con người đã làm cho họ mất ăn, mất ngủ bao nhiêu năm tháng. Loại trừ Giêsu là loại trừ thành công một con người đã lấy mất ảnh hưởng của họ nơi dân chúng vì phép lạ, vì giáo lý, vì lời giảng dạy, vì lối sống... của Người.

Nhưng đó là cái nhìn bên ngoài. Suy niệm thật thấu đáo về cái chết của Chúa Giêsu, ta thấy hoàn toàn ngược lại. Chính kẻ tấn công Chúa mới không một chút bình an. Họ liên tục sợ dân chúng gây áp lực, gây khó dễ, vì họ giết một người mà toàn dân mến mộ. Họ phải nhiều lần nặn đầu óc để tìm kế sách gài bẫy, sát hại Chúa Giêsu. Đến khi họ trút tất cả nỗi căm thù lên bàn tay vấy máu của mình để hoàn tất cuộc sát hại rồi, họ vẫn cứ hoang mang vì đã giết chết một người vô tội. Họ càng hoang mang vì đã giết chết Đấng đã từng xưng mình là Con Thiên Chúa. Nhiều người trong họ đã phải buộc miệng thốt lên: "Người này thật là Con Thiên Chúa".

Còn Chúa Giêsu, dù bị giết chết ô nhục, vẫn là người chan chứa bình an trong tâm hồn. Bình an của Chúa là bình an của Đấng đã hoàn thành thánh ý Chúa Cha. Chúa đã chiến thắng tội lỗi, chiến thắng sự dữ và trao ban ơn cứu độ cho trần gian. Chúa biết rõ, Chúa chết vì ai, chết cho ai, ích lợi do cái chết của Người mang lại cho trần thế lớn như thế nào. Chúa biết rõ, cái chết của Chúa không vô nghĩa. Cái chết ấy sẽ là cái chết làm vang lên tiếng yêu thương trên khắp trần thế qua mọi thế hệ. Tâm hồn Chúa bình an cho đến độ, trên thập giá đớn đau, giữa đám đông hầm hầm sát khí, Chúa vẫn cầu xin ơn tha thứ cho những kẻ giết Chúa. Chúa thanh thản trối phú thánh Gioan cho Đức Mẹ, bình tĩnh trao linh hồn trong tay Chúa Cha và nhẹ nhàn nói lời hoàn tất rồi trút hơi thở trong bình an sâu lắng. Bình an trong nội tâm của Chúa Giêsu là bình an của sự tự nguyện hiến dâng mạng sống mình: "Không ai cất mạng sống Ta được nhưng chính Ta tự mình thí mạng sống Ta, Ta có quyền thí mạng sống Ta và Ta cũng có quyền lấy lại, đó là lệnh truyền Ta đã lĩnh nơi Cha Ta" (Ga 10, 18).

Chính Chúa là nguồn bình an. Vì thế, Người cũng là Đấng ban phát bình an. Chúa biết các môn đệ yếu đuối, mỏng dòn. Chúa biết các môn đệ sẽ vấp ngã vì Chúa. Chúa biết các ông cần bình an của Chúa. Trong giờ phút thử thách nhất của các môn đệ, Chúa ban bình an của Chúa cho các ông, giúp các ông vững vàng mạnh mẽ mà vượt qua. Lãnh lấy bình an của Chúa, các môn đệ dần dà củng cố đời sống của mình. Nhất là sau khi Chúa về trời, các ông đã can đảm thật sự, trưởng thành thật sự. Các ông bất chấp mọi bắt bớ, mọi thù hận và giết chóc. Các ông lao mình về phía trước, để nên giống Chúa Giêsu, các ông trở thành nguồn bình an và trao ban bình an tâm hồn cho con người trên khắp thế giới.

Chúng ta cũng hãy tiếp nối bước chân các tông đồ, lãnh nhận bình an của Chúa, để tâm hồn mãi mãi thuộc về Chúa. Khi đã có một tâm hồn bình an, chúng ta cũng sẽ trở thành nguồn bình an cho muôn người như Chúa và như các tông đồ.

HÃY QUAY LƯNG LẠI VỚI CÁC GIÁ TRỊ HƯ ẢO VÀ CÁC QUYỀN LỰC GIẢ TRÁ
Ga 14, 23-29
Lm. Jude Siciliano, OP

Chúng ta đang ở vào đoạn gần cuối Sách Khải Huyền. Tuần tới chúng ta sẽ nghe các câu kết của sách. Những tuần qua, tác giả Gio-an đã trò chuyện với chúng ta từ nơi ngài bị phát lưu ở đảo Pát-mô. Vì đã không chịu thần phục La-mã và vì từ chối gọi Xê-da là "Chúa" nên Ngài đã bị đày đến đó. Ngài ra đi, để lại anh chị em Ki-tô hữu của mình cũng đang chịu bách hại (1,9). Thế nên chẳng có gì lạ khi các thắc mắc được đặt ra: Tại sao Thiên Chúa lại có thể để cho những người tốt lành như thế phải chịu đau khổ cơ chứ? Tại sao kẻ dữ thịnh đạt hoài? Ai sẽ giành chiến thắng chung cuộc, Thiên Chúa hay các địch thủ của Người? Gio-an đã viết sách Khải Huyền hầu giúp trả lời cho các vấn nạn thách thức niềm tin ấy. Các vấn nạn này không chỉ rộ lên ở thời xưa, nhưng cũng là các vấn nạn đặt ra cho chúng ta nữa.

Sách Khải Huyền cho thấy, Gio-an đã cố gắng an ủi những giáo hội bị bách hại. Các giáo hội này mới có thể hiểu được các tư tưởng bí nhiệm ngập tràn trong Sách, còn những kẻ bách hại họ thì không. Viết cho các giáo hội gặp cảnh khổ đau, Gio-an đã khuyến khích họ kiên trì và hy vọng. Cơn bách hại vẫn còn đe dọa các Ki-tô hữu đó đây trong thế giới hôm nay và cũng vậy sách Khải Huyền có thể đem lại cho họ niềm an ủi và hy vọng. Sách khải huyền cũng ngỏ lời động viên đến giáo hội đương đại của chúng ta nữa, vì chúng ta cũng đang chịu dày vò vì những thương tích bên trong. Các thương tích này xuất phát từ nỗi đớn đau nhục nhằn có nguyên do bởi những vụ scandal mà chúng ta đang hứng chịu tại nhiều giáo phận rải rác khắp nơi trên thế giới. Những gì sách Khải Huyền soi sáng cũng có thể củng cố lòng quyết tâm của chúng ta trong lúc đương đầu với trào lưu phi tín ngưỡng và thái độ dửng dưng của thế giới quanh ta.

Sách Khải Huyền là một mảng thuộc văn chương khải huyền. Khải Huyền có nghĩa là "vén màn; tỏ lộ ra" và Khải Huyền là một cố gắng để "mạc khải" ý nghĩa lịch sử cho những ai đang trải bước qua những giờ phút kinh hoàng thống khổ. Sách Khải Huyền không phải là lời tiên báo chính xác về các biến cố tai ương trong tương lai, như những người bảo thủ bám vào nghĩa đen của sách Khải Huyền chủ trương. Đừng quên, Đức Giê-su đã nói với chúng ta rằng, chúng ta không thể biết được ngày giờ chính xác Thiên Chúa can thiệp vào lịch sử vũ hoàn (Mc 13,32).

Sách Khải Huyền khởi đi từ ngai Thiên Chúa trên trời (1,12tt), tức là nơi lịch sử nhân loại đã khởi đi và sẽ tiến về. Gio-an thuật lại các thị kiến mà ngài đã chứng kiến về cuộc chiến giữa thiện và ác. Qua lối văn được mật mã hóa, Ngài có ý nói về La-mã (Con Thú) và Xê-da (Chương 13-17). Ngài cho đó là các địch thù của Thiên Chúa, như thể chính chúng là tất cả các quyền lực dưới đất đang hòng thay thế đường lối của Thiên Chúa. "Con Thú" là bất kỳ quyền lực nào phát sinh sự dữ; ấy là thù địch của Thiên Chúa qua mỗi thế hệ và cũng đã thu được nhiều thuộc hạ, tức những ai xiêu lòng trước cám dỗ của nó.

Xin nhớ cho rằng, sách Khải Huyền là một "mạc khải" giúp chúng ta thấy được những nỗi khổ đau trong quá khứ và hiện tại của chúng ta bằng cặp mắt đức tin, tin vào sự thiện hảo, lòng yêu thương và quyền năng của Thiên Chúa như khiên che thuẫn đỡ. Khải Huyền cũng nói về tương lai với những lời quả quyết chứ không phải là những lời tiên báo chính xác. Gio-an nhắc nhớ chúng ta rằng, trong khi chúng ta không có quyền định đoạt tương lai, thì Thiên Chúa lại thực hiện điều ấy.

Căn cứ vào dấu chứng hiện tại, đúng là khó để biết được ai sẽ giành chiến thắng chung cuộc, Thiên Chúa hay Con Thú. Giữa cảnh đọa đầy sầu thảm, Gio-an đã viết lên một thư liệu chất chứa niềm tin khả thị ở tương lai để bênh đỡ tinh thần của các Ki-tô hữu đang sầu đau suy kiệt. Ngài bảo đảm với chúng ta rằng, rồi đây trong tương lai, Đức Ki-tô sẽ lại đến. Thoạt đầu, chúng ta đã thấy Người như Con Chiên bị giết (5,12), nhưng khi Người lại đến, chúng ta sẽ trông thấy Người trong vinh quang của Người. Người sẽ đến trong uy quyền, cỡi trên con ngựa trắng của Người, và Người sẽ được gọi là "Đấng Trung Thành và Chân Thật" và "Vua các vua, Chúa các chúa" (19,11-16). Sẽ có một cuộc chung thẩm khi mọi người tề tựu trước nhan Thiên Chúa, đấy là nơi người lành kẻ dữ chịu xét xử. Những ai được ghi tên trong Sách Sự Sống của Con Chiên (20,12) thì sẽ lãnh nhận phần thưởng dành cho họ.

Bây giờ chúng ta đến với trích đoạn Khải Huyền dành cho Chúa Nhật này. Câu chuyện đang tiến đến hồi kết và làm nổi bật sứ điệp hy vọng của sách Khải Huyền. Như chúng ta đã nghe trong tuần rồi, Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt chúng ta và xua trừ sự chết. Sẽ không còn kêu than nữa và mọi sự được đổi mới. Giờ đây chúng ta được trao ban thị kiến về Thiên Chúa và Con Chiên hằng lưu ngụ ngay giữa chúng ta, ấy cũng là chủ điểm giáo lý về niềm tin vào Thiên Chúa nhập thể của chúng ta. (Đề tài này cũng được tìm thấy trong Hr 11-12). Nơi thành Giê-ru-sa-lem trên trời, Thiên Chúa sẽ hoàn tất điều Người đã khởi sự và chúng ta sẽ hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa và anh chị em chúng ta. Trời mới đất mới sẽ xuất hiện và Giê-ru-sa-lem mới sẽ từ trời mà xuống như Ê-dê-ki-en đã thị kiến (Ed 40,2). Nơi thành ấy, Thiên Chúa sẽ ở cùng chúng ta và sẽ ủi an tất cả những ai đau khổ. Như Gio-an nói trong câu 22,5: "Sẽ không còn đêm tối nữa, họ không cần ánh sáng đèn hay ánh sáng mặt trời, vì Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ chiếu soi trên họ, và họ sẽ hiển trị đến muôn thuở muôn đời."

Con Chiên, Đấng là hiện thân của tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta, Người đã đổ máu trên thập giá, cũng sẽ hiện diện nơi Giê-ru-sa-lem mới. Chúng ta không thể tự cứu mình khỏi vòng tội lụy, và chúng ta cũng chẳng thể đơn thương độc mã mà đánh bại sự dữ nơi thế gian này. Thế nhưng điều chúng ta không thể đạt được với khả năng riêng của chúng ta, thì Thiên Chúa đã thực hiện cho chúng ta. Chúng ta là những người thụ lãnh ân sủng của Thiên Chúa. Thiên Chúa đã chiến thắng khải hoàn và đã xóa bỏ tội lỗi của chúng ta.

Chuỗi ngày hết sức thống khổ cùng muôn vàn thử thách không chỉ xảy ra trong thời của Gio-an, mà vẫn còn kéo dài cho đến hôm nay. Gio-an đã kết thúc "mạc khải" của ngài với một thị kiến nảy sinh niềm hy vọng về những gì rồi đây sẽ thành hiện thực cho chúng ta. Không ai đòi chúng ta phải làm sáng tỏ hết thảy các biểu tượng trong sách Khải Huyền. Các biểu tượng ấy sẽ rất lý thú khi tìm hiểu trong những lúc rỗi rãi! Tuy nhiên ẩn tàng ở phần cuối quyển sách về các thị kiến này lại là những lời chất vấn chúng ta trong thánh lễ hôm nay. Chúng ta có tin vào phần kết của câu chuyện này là, nhờ Thiên Chúa, sự thiện sẽ chế ngự điều ác hay không? Ngay cả khi dấu chứng về cuộc khải hoàn đang đến hiện rất ảm đạm, liệu chúng ta có thể giữ lấy niềm hy vọng của chúng ta nơi Thiên Chúa không nào? Sách Khải Huyền cũng là một lời mời gọi đáp trả lại những điều chúng ta đã nghe và đã đón nhận trong cuộc sống mỗi chúng ta. Trong Đức Giê-su Ki-tô, chúng ta có được kinh nghiệm cá nhân về một tình yêu tự hiến của Thiên Chúa. Cuộc đời chúng ta sẽ là một kiểu mạc khải về niềm hy vọng? Chúng ta sẽ làm chứng cho những người khác qua những cách xử sự, qua lời nói và việc làm của chúng ta chứ?

Bất chấp những gì đang diễn ra hiện thời, liệu chúng ta có thể tin vào những gì Gioan mô tả cho chúng ta, liệu chúng ta có thể tin vào Thiên Chúa là Đấng sẽ thâu về chiến thắng chung cuộc hay không? Sách Khải Huyền nhấn mạnh đến lòng thành tín yêu thương của Thiên Chúa được tỏ bày nơi Đức Giêsu tự nguyện chịu khổ hình vì chúng ta, là Con Chiên hiền lành bị đem đi giết. Tình yêu của Thiên Chúa là điều dành cho chúng ta bây giờ và sẽ là điều dành cho chúng ta trong tương lai nữa.

Sách Khải Huyền được viết theo truyền thống các văn phẩm khải huyền trong Cựu Ước, như sách Đa-ni-en chẳng hạn. Sách mạc khải một câu chuyện nhất quán về Thiên Chúa từ viễn cảnh của cả truyền thống Do-thái giáo lẫn Ki-tô giáo. Tại Giê-ru-sa-lem xưa, không có lầu đài nào thánh thiêng hơn Đền Thờ, tức trung tâm tôn giáo của Ít-ra-en. Thế nhưng trong sách Khải Huyền, Gio-an cho chúng ta biết rằng, "Trong thành, tôi không thấy có đền thờ." Gio-an đã thấy Giê-ru-sa-lem mới có hình thể lập phương, biểu trưng cho sự toàn hảo. Tự thân thành ấy có thể mang hình dáng như Đền Thờ Cực Thánh. Tại Giê-ru-sa-lem mới, Thiên Chúa sẽ tỏ hiện trước toàn dân một cách trực diện và có thể tiếp cận được, đấy là lời hứa mà Đức Giê-su đã nói với người phụ nữ Sa-ma-ri bên bờ giếng, "Này người phụ nữ, hãy tin tôi: đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giê-ru-sa-lem" (Ga 4,21).

Sách Khải Huyền một mặt tiếp bước chân ta kiên vững nơi những trận chiến hiện thời để sống đời sống Ki-tô hữu, mặt khác sách cũng tập trung hướng nhìn của chúng ta về những gì sẽ đến. Vẻ ngoài của thế gian là các quyền lực ngạo nghễ sẽ bị đánh bại cho dù hiện giờ chúng đang dương oai. Rồi đây, chúng ta sẽ cùng nhau cư ngụ trong bình an với Thiên Chúa ở giữa chúng ta. Thiên Chúa chẳng những sẽ không còn chỉ ở trong khuôn viên Đền Thờ, nhưng còn hiện diện với tất cả những ai lưu ngụ trong thành thánh. Có một câu ngạn ngữ vẫn thường nhắc nhớ chúng ta: chiếc áo không làm nên thầy tu, các lầu đài chẳng làm nên nhà thờ. Giáo Hội của chúng ta nhận Đức Giê-su như tâm điểm, là đầu và là "ngọn đèn" tỏa rạng (21,23) mà hiện nay hay trong tương lai chúng ta đều cần đến.

Gioan mời gọi chúng ta quay lưng lại với các giá trị ảo và các quyền lực giả trá của thế gian, thay vào đó chúng ta hướng về Thành Thánh mới là nơi Thiên Chúa ngự. Nếu chúng ta tin vào thị kiến của Gioan cũng như tin một ngày nào đó thị kiến ấy sẽ thành toàn, thì (ngoài Chúa và giáo hội người thiết lập ra) làm sao chúng ta có thể chọn điều gì khác hay ai khác được nữa cơ chứ? Gio-an đã xé toạc bức màn ra cho chúng ta và chúng ta có thể ngắm nhìn nơi cực thánh với tâm điểm là Thiên Chúa, Người cũng là trọng tâm đời sống của chúng ta nữa. Amen.

Anh Em HV Đaminh chuyển ngữ

ÂN SỦNG CHÚA
Ga 14, 23-29
Lm Vũđình Tường

Phúc âm thánh Gioan minh xác Chúa Cha yêu mến thế gian đến nỗi sai Con Một yêu dấu của Ngài xuống thế gian để những ai tin vào Người Con thì được sự sống muôn đời. Đức Kitô xuống thế thực hiện ý Chúa Cha để tỏ tình yêu, lòng mến của Ngài với Chúa Cha. Con đường yêu mến Thiên Chúa là con đường vâng phục, giữ lời Chúa dậy

Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy c.23

Nên một
Bởi vì Chúa Cha yêu mến thế gian, những gì Chúa Cha yêu mến, Đức Kitô cũng yêu mến. Những gì Chúa Cha muốn cứu độ, thánh hoá, Đức Kitô cũng muốn cứu độ và thánh hoá.

Người Con không thể tự mình làm bất cứ điều gì, ngoại trừ điều người thấy Chúa Cha làm, vì điều gì Chúa Cha làm, thì người Con cũng làm như vậy Gn 5,19

Tôi tự trời mà xuống, không phải để làm theo ý tôi, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai tôi. Ý của Đấng đã sai tôi là tất cả những kẻ Người đã ban cho tôi, tôi sẽ không để mất một ai nhưng sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết Gn 6,38-39

Có thể nói tình yêu Chúa Cha và tình yêu Đức Kitô dành cho nhân loại là một. Cả hai khối tình Chúa Cha - Chúa Con được thể hiện trọn hảo nơi Đức Kitô. Tình thương Đức Kitô thể hiện toàn thiện đến nỗi vượt quá trí hiểu nhân loại. Thể hiện trên thập giá, cho đi chính sự sống mình.

Nên một còn được hiểu theo một nghĩa khác nữa. Đức Kitô ban cho Kitô hữu chính sự sống Ngài và cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần chia sẻ mọi tình huống an vui, sầu khổ trong cuộc sống của các Kitô hữu.

Ngoài Đức Kitô ra còn có cả Chúa Cha và Thánh Thần Chúa cùng cư ngụ trong tâm hồn Kitô hữu. Đây là quà tặng vô cùng trọng đại vì mỗi Kitô hữu trở thành đền thờ Thiên Chúa và đền thờ của Ba Ngôi Thiên Chúa. Dù Kitô hữu không xứng đáng nhưng Thiên Chúa không ngại miễn là Kitô hữu tự nguyện vâng lời và chân thành tâm đón nhận lời Thiên Chúa
Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy và Cha thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy.... Và lời anh em nghe đây không phải là của Thầy nhưng là của Chúa Cha, Đấng đã sai Thầy  Gn 14,23

Nơi đâu Thiên Chúa ngự trị nơi đó tràn đầy ân sủng và bình an. Nơi đâu Thiên Chúa ngự trị nơi đó tràn đầy tình thương.

Ơn Thánh Thần
Khi yêu người ta luôn làm những gì tốt đẹp nhất cho người mình yêu và còn làm nhiều hơn cả điều người yêu mong muốn. Đó chính là mối tình Đức Kitô thể hiện với Chúa Cha. Chính nhờ mối tình này mà Kitô hữu nhận được vô vàn ơn đặc biệt, lạ lùng.

Ơn lạ đầu tiên chính là ơn Chúa Thánh Thần. Đức Kitô hứa ban Thánh Thần xuống để tiếp tục công việc hướng dẫn Kitô hữu. Thánh Thần hay Đấng Bảo Trợ đến không phải để thay thế Đức Kitô mà chính là để nối tiếp công việc Đức Kitô đã rao giảng. Thánh Thần làm công việc hướng dẫn, mặc khải những điều Đức Kitô dậy. Thánh Thần đóng vai thầy dậy trong mọi hoàn cảnh và không dậy điều gì mới nhưng chỉ dậy những gì Đức Kitô đã rao giảng

Thánh Thần sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em đến sự thật toàn vẹn. Người sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại, và loan báo cho anh em biết những điều sẽ xảy ra Gn 16,13

Như thế Thánh Thần sẽ làm sống lại lời Đức Kitô rao giảng và giải thích ý nghĩa lời Đức Kitô rao giảng. Từ chối đón nhận hướng dẫn của Thánh Thần là từ chối sự thật toàn vẹn. Thế giới chưa hết đau khổ vì từ chối hướng dẫn của Thần Chân Lí Đức Kitô sai đến.

Ơn bình an
Quà tặng thứ hai Đức Kitô tặng cho Kitô hữu là ơn bình an. Ơn bình an đặc biệt mà thế giới không thể có. Ơn đó phát xuất tự trong tâm hồn, bình an nội tâm, bắt đầu từ con tim yêu mến nồng nàn. Ơn bình an có sức mạnh giúp ta đón nhận ơn thống hối, tái nối kết tình bạn đứt đoạn và ban ơn chữa lành qua bí tích hoà giải và thứ tha.

Ơn bình an, Thần Khí Chúa và Chúa Ba Ngôi là những món quà đặc biệt, vô giá Đức Kitô ban cho nhân loại. Những ai đón nhận quà tặng Thiên Chúa trao ban trở thành Kitô hữu, dân riêng của Thiên Chúa.

Kitô hữu đón nhận quà tặng quí giá với tâm tình biết ơn, cảm mến với lòng tạ ơn, trìu mến sẽ tìm được bình an nội tâm và hưởng ơn cứu độ Chúa ban. Ơn đó đến từ Ba Ngôi Thiên Chúa. Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Ngoài ra Kitô hữu còn vui mừng đón nhận một đặc sủng khác nữa đó là vui mừng chào đón Đức Kitô đến lần thứ hai trong vinh quang, đầy uy nghi. Lời nhắn nhủ này gói trọn trong lời hứa ra đi và trở lại của Đức Kitô khi Ngài nói lời giã biệt Gn 14, 3

Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy sẽ trở lại và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng sẽ ở đó

Nhờ sức mạnh của lòng tin Kitô hữu mong chờ và xác tín ngày Chúa đến trong vinh quang. Ngày tất cả các Kitô hữu đoàn tụ trên thiên quốc.

YÊU LỜI và GIỮ LỜI
Ga 14, 23-29
Lm. Anmai, CSsR

Là con người, ai cũng vậy, khi người thân mình đi xa thì thường để lại cho những người còn ở lại những lời trối trăn, những lời căn dặn. Những lời ấy càng có ý nghĩa, càng sâu sắc hơn khi người đó chính là người thương của mình, người mà mình yêu quý nhất.

Trong tâm tình đó, hôm nay, chúng ta được nghe Thánh Gioan thuật lại tâm tình hay nói đúng hơn là những lời trối trăn của Chúa Giêsu. Nơi Thánh Gioan, phải nói là có một tình cảm hết sức tuyệt vời với Thầy. Thánh Gioan đã ghi lại toàn bộ "diễn từ biệt ly". Diễn từ biệt ly gói ghém tâm tình của Thầy Chí Thánh Giêsu.

Trong tâm tình ấy, Chúa muốn các môn đệ Chúa Giêsu phải sống yêu thương như thế nào đối với nhau (13,34) ? đối với Chúa Giêsu (14,15) ? Tại sao "yêu thương" được Chúa Giêsu nhắc đi nhắc lại tới 4 lần (cc 15.21.23.24) ?

Các môn đệ phải sống yêu thương với nhau như Đức Giêsu đã yêu thương họ (13,34); họ phải yêu thương Chúa Giêsu bằng cách tuân giữ các giới răn của Ngài (14,15). Chúa Giêsu 4 lần nhắc tới yêu thương vì đây là điều răn quan trọng nhất và tiêu biểu nhất của Ngài.

Trong câu 31, Chúa Giêsu đã nêu gương cho chúng ta thế nào ? Gương yêu thương của Chúa Giêsu: làm đúng như ý Chúa Cha.

Với kinh nghiệm hết sức thực tế trong lịch sử cứu độ, qua lịch sử cứu độ chúng ta thấy phảng phất hình ảnh của những con người không tuân hành thánh ý của Chúa Cha.

Khởi đầu Thánh Kinh, ta sẽ bắt gặp hình ảnh của người phụ nữ hết sức quen thuộc. Người nữ ấy có tên là Eva, bà là mẹ của chúng sinh. Mẹ của chúng sinh ấy nhưng bà có đủ ba đức tính để làm nên tội lỗi: thích ăn, nhẹ dạ và... tò mò. Trái Cấm ngon và kỳ diệu lắm! Đã là con người, ai chẳng muốn được ăn ngon? Và nếu như cái sự ăn đó sẽ đem đến cái vĩ hoàng tương tự như Thiên Chúa thì lại càng đáng để thử. Thích thử để biết cũng là một thuộc tính của cả loài người...

Vì muốn bằng Thiên Chúa nên Eva đã giơ tay hái trái cấm. Không chỉ mình mình ăn nhưng Evà còn "mời" chồng mình ăn nữa.

Kế tiếp, chắc chúng ta khó quên hình ảnh của một vị vua lừng danh đó là vua Đavít. Đavít: một kẻ phản bội, một kẻ dối trá, một người phạm tội ngoại tình, một tay giết người. Phạm tội ngoại tình với Bát Sêva. Đavít đã:
Giết Urigia chồng của Bát Sêva
Bất tuân lệnh Chúa khi thực hiện việc kiểm tra dân số
Không có thái độ cương quyết với các người con của mình
Cũng có người này người kia đến nhắc nhở nhưng Đavít đã bỏ ngoài tai những lời răn đe ấy. Vì bỏ ngoài tai lời của Thiên Chúa nên Đavít đã phạm tội.

Sang đến Tân Ước, chúng ta làm sao quên được hình ảnh của bà mẹ ông Giacôbê và Gioan. Đi theo Thầy, sống gần Thầy đấy nhưng mà lại xin chỗ nhất chỗ nhì.

Thánh Phêrô bi đát cũng chẳng kém. Khi Thầy báo trước con đường khổ nạn lên Giêrusalem thì lại cản Thầy. Kinh khủng hơn nữa là đã chối Thầy bây bẩy vì không nhớ lời Thầy dặn trong bàn tiệc. Thật sự ra cũng nhớ lời Thầy ấy nhưng mà yếu đuối, nhưng mà bị ngăn cản bởi con người mỏng dòn nên Phêrô đã chối Thầy.

Lược qua những hình ảnh, những con người hết sức thực tế trong cuộc sống, trong Thánh Kinh đã vì bất tuân, đã vì không nghe lời Chúa nên đã sa ngã, đã phạm tội.

Lời Chúa hết sức cần thiết cho cuộc đời mỗi người. Các thánh tông đồ tuy yếu đuối, tuy vấp ngã ấy nhưng sau khi có ơn Thánh của Chúa Phục Sinh cuộc đời của các tông đồ đã thay đổi. Các môn đệ đã mạnh dạn lên đường rao giảng Tin mừng. Không chỉ rao giảng một cách bình thường nhưng các ông rao giảng một cách mạnh mẽ: Nếu anh em không chịu phép cắt bì theo tục lệ Mô-sê, thì anh em không thể được cứu độ. Các ông Phao-lô và ông Ba-na-ba chống đối và tranh luận khá gay go với họ.

Không dừng lại ở chuyện gay go mà các ông còn quyết định cử ông Phao-lô, ông Ba-na-ba và một vài người khác lên Giê-ru-sa-lem gặp các Tông Đồ và các kỳ mục, để bàn về vấn đề đang tranh luận trong dân. Sau đó các Tông Đồ và các kỳ mục, cùng với toàn thể Hội Thánh, quyết định chọn mấy người trong các ông, để phái đi An-ti-ô-khi-a với ông Phao-lô và ông Ba-na-ba. Đó là ông Giu-đa, biệt danh là Ba-sa-ba, và ông Xi-la, những người có uy tín trong Hội Thánh. Các ông trao cho phái đoàn bức thư sau:

"Chúng tôi nghe biết có một số người trong chúng tôi, không được chúng tôi uỷ nhiệm, mà lại đi nói những điều gây xáo trộn nơi anh em, làm anh em hoang mang. Vì thế, chúng tôi đã đồng tâm nhất trí quyết định chọn một số đại biểu, và phái họ đến với anh em, cùng với những người anh em thân mến của chúng tôi là ông Ba-na-ba và ông Phao-lô, những người đã cống hiến cuộc đời vì danh Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta. Vậy chúng tôi cử ông Giu-đa và ông Xi-la đến trình bày trực tiếp những điều viết sau đây: Thánh Thần và chúng tôi đã quyết định không đặt lên vai anh em một gánh nặng nào khác ngoài những điều cần thiết này: là kiêng ăn đồ đã cúng cho ngẫu tượng, kiêng ăn tiết, ăn thịt loài vật không cắt tiết, và tránh gian dâm. Anh em cẩn thận tránh những điều đó là tốt rồi. Chúc anh em an mạnh."

Các tông đồ đã gửi đến cho họ những người cống hiến cuộc đời vì danh Chúa Giêsu. Những tông đồ này trước đây cũng nhát đảm nhưng chắc có lẽ nhớ lại lời của Thầy trong bàn Tiệc Ly chiều thứ Năm Thánh nên các ông can đảm để loan báo Tin mừng.

Lời của Thầy ắt hẳn vẫn còn văng vẳng bên tai của các tông đồ: Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha của Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy. Ai không yêu mến Thầy, thì không giữ lời Thầy.

Đó là cách biểu lộ duy nhất mà Thiên Chúa đã quyết định thể hiện: người đến cư ngụ giữa những kẻ tiếp đón Người và tin tưởng nơi Người. Nói cách khác, Người chỉ được người ta nhận ra Người "hiện diện", nhờ những kẻ yêu mến Người... Tình yêu không cưỡng chế ai, không thúc ép ai.

Cảm nghiệm về một sự hiện diện thân mật nào đó của một người, tuy "vắng mặt" về thể lý, chúng ta cũng có thể nhận ra trong nhung tình yêu nhân loại ta, nếu chúng là chân thực: bất giác chúng ta sẽ nhận thấy đang khi nói, trong một cuộc đối thoại nội tâm, với người yêu, với bạn hữu, con cái, hôn phu, người chồng.

Đó là sự hiện diện của kẻ vắng mặt ! Đó là cảm nghiệm mà chỉ có kẻ yêu thương mới nhận ra.
Chúng ta vẫn thường phàn nàn về sự vắng mặt của Thiên Chúa, về thái độ im lặng của Người. Người tín hữu luôn đụng chạm với lời thách đố của kẻ vô thần: . .."Thiên Chúa của bạn ở đâu ?" (Tv 42,4). Nhưng ngày nay, câu chất vấn đó có chiều hướng đi tới một chối từ Giáo hội, phủ nhận nếp sống cộng đoàn của Giáo hội: người ta cảm phục Chúa Giêsu như một mô hình của nhân loại... người ta không chống đối Người điều gì.. . nhưng người ta gạt Người sang một bên, như thể không có Người. . . bằng cách khỏa lấp qua một lời tuyên bố quá dễ dãi: "Tôi tin nhưng không hành đạo". Do đó, rõ ràng là có một ranh giới thực sự giữa "người môn đệ đích thực của Chúa Giêsu với mọi người khác, dù họ rất có cảm tình với nhân vật Giêsu Nadarét. Chúa Giêsu mạnh dạn quả quyết rằng, Người không chỉ là một kẻ chết, dù là tuyệt vời, của lịch sử xa xưa... cũng không chỉ là mẫu người đẹp mà sứ điệp có thể làm người ta phải suy nghĩ... Nhưng Người là một con người đang sống đang hoạt động, hôm nay vẫn còn hiển nhiên. Nhờ sự Phục sinh, Đức Giêsu Nadarét, con người lịch sử, đã bước vào thế giới xác định của Thiên Chúa: điều đó minh chúng. Người cũng trở nên kẻ đồng thời với mọi người.

Chúa Giêsu còn nói thêm: Ai yêu mến Thầy, Cha của Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy. Chúa Giêsu quả quyết, từ giờ trở đi Người đang hiện diện nhờ những kẻ yêu mến Người, nhờ các tín hữu đích thực mà Người đang cư ngụ trong họ.

Khi Chúa Giêsu tuyên bố những lời đó, quả thực chỉ còn ít giờ nữa là Người sẽ phải chết. Người là Đền thờ mới, được dựng lại nội trong ba ngày (Ga 2,19-22), Đền thờ mà ở đó người Do Thái thường cảm thấy một sự hiện diện thực sự của Thiên Chúa. Nhưng ở đây, Chúa Giêsu còn đi xa hơn. Người dám quả quyết rằng, kể từ' lúc Người ra đi, thì sự hiện diện không diễn tả thành lời này, chắc chắn bị che giấu, nhưng sẽ được bảo chứng nhờ các Kitô hữu.

Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy... Và lời anh em nghe đây không phải là của Thầy nhưng là của Chúa Cha, Đấng đã sai Thầy.

Giữa những người yêu thương nhau, cần có sự lắng nghe, đối thoại, nói năng, trao đổi. Trong tình yêu của chúng ta, không cố gì tệ hại hơn là "không biết lắng nghe", không chịu nói năng. Ở đây Chúa Giêsu mạc khải cho ta một trong những chìa khóa mở tới đời sống Kitô hữu đích thực: Suy niệm Lời Chúa, như một dấu chỉ của sự Hiện Diện. Đó là một sự kiện. Chúng ta không có sự hiện diện thể lý hữu hình của Chúa Giêsu, nhưng đối với kẻ yêu mến Người, thì thật là kỳ diệu, họ đã nhận được tư tưởng, lời nói của Người. Chúng ta cần ghi nhận, Chúa Giêsu không chỉ nói đến một lời được đón nhận trong tâm trí, mà là một lời ta phải tuân giữ một lời phải đưa ra thực hành, một lời nhờ luôn "sống động" sẽ giúp kẻ ban lời cũng thực sự hiện diện. Sự hiện diện của Đức Kitô Phục sinh, sống động. .. có thể được "nhận biết" cách cụ thể (điều đó hẳn là thế được !) trong đời sống của các môn đệ đích thực.

Cũng như Đức Giêsu Nadarét là nơi thể hiện sự hiện diện và lời của Chúa Cha ("Lời anh em nghe thấy không phải là của Thầy"), cũng vậy từ giờ trở đi, các Kitô hữu, Giáo hội chính là nơi đó. Thật là trách nhiệm lớn lao.

Nghe và giữ lời Chúa hay không là quyền tự do của mỗi kitô hữu.

CHÚA GIÊ SU PHỤC SINH VẪN LUÔN HIỆN DIỆN
Ga 14, 23-29
Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Chưa có ai sống tâm tình tuyệt vời như Chúa Giêsu. Ngài đã phục sinh và luôn có mặt với các môn đệ, các tông đồ để củng cố niềm tin cho các ông.

Để chuẩn bị cho cuộc ra đi về với Chúa Cha, Chúa Giêsu đã dạy bảo các môn đệ nhiều điều. Chúa nhật tuần trước, Ngài đã truyền cho các môn đệ một điều răn mới: " Anh em hãy thương yêu nhau như Thầy đã thương yêu anh em ". Và tiếp nối lệnh truyền ấy, Chúa giải thích về lòng yêu mến đó. Lòng yêu mến của các môn đệ, của con người đối với nhau mà còn đối với Chúa nữa: " Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy "...

Các môn đệ đã được Chúa phục sinh an ủi, củng cố lòng tin và đặt niềm hy vọng. Trước khi về Trời, Ngài hứa với các ông, dù vắng mặt, nhưng Ngài vẫn luôn có mặt và tiếp tục ban bình an cho các ông. Chúa hiện diện dù rằng các môn đệ không nhìn thấy Thầy, nhưng quả thật đây là cảm nghiệm của những con người yêu thương nhau thiệt tình, yêu thương nhau tha thiết. Chúa sẽ vắng mặt nhưng Ngài luôn hiện diện trong những kẻ yêu mến Ngài: " Ai yêu mến Thầy, Cha của Thầy và Thầy sẽ đến ở lại với người ấy " ( Ga 14, 23 ). Bởi vì, trước khi với Chúa Cha, Chúa phục sinh đã nói: " Thầy để lại bình an cho các con, Thầy ban bình an của Thầy cho các con ". Nhận được bình an của Chúa, Ngài trấn an các ông:" Lòng các con đừng xao xuyến và đừng sợ hãi ". Chúa có mặt trong những con người biết giữ Lời của Ngài và thực thi Lời của Ngài: " Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ Lời Thầy...Và Lời anh em nghe đây không phải là của Thầy...Và là của Chúa Cha, Đấng đã sai Thầy "( Ga 23, 24 ).

Giữ Lời Thầy là bảo vệ được trật tự Chúa đã thiết lập và tâm hồn sẽ không hề bị nao núng, xao xuyến, hoang mang, thất vọng. Chúa phục sinh không chỉ có mặt một mình nhưng sự bình an mà Ngài trao tặng còn là sự hiện diện của Chúa Ba Ngôi trong lòng các môn đệ và những tâm hồn thành tâm thiện chí. Đây là sự hiện diện của Chúa Ba Ngôi: Cha, Con và Thánh Thần. Chính Thánh Thần sẽ thông truyền, hướng dẫn, soi sáng để con người nhận ra Chúa Cha và Chúa Giêsu đang có mặt trong đời sống của mình.Con người sống Lời của Chúa sẽ nhận được sự bình an của Chúa. Do đó, bài đọc I cho chúng ta thấy: " Đạo do Chúa thiết lập sẽ phá vỡ cái vỏ chật hẹp của Đạo Do Thái, một Đạo không phù hợp với ơn cứu độ phổ quát do Chúa Kitô mang lại cho nhân loại ", nên Hội Thánh được đặt trên nền móng 12 tông đồ như sách Khải Huyền bài đọc II vừa trình bầy.

Lời hứa của Chúa phục sinh đã luôn được thực hiện trong Giáo Hội muôn thời. Thánh Thần của Chúa luôn soi sáng và hướng dẫn Giáo Hội lắng nghe và thực thi Lời của Chúa trong Thánh Kinh. Giáo Hội của Chúa luôn có sự an bình dù luôn phải trải qua những gian nan, thử thách trong cuộc hành trình đức tin.

Lạy Chúa Giêsu xin hãy đến và gửi Thánh Thần xuống để chúng con biết lắng nghe và thực thi Lời Chúa hầu thực sự mỗi người chúng con có được sự bình an Chúa hứa ban. Amen.

CUỘC SỐNG MỚI
Ga 14, 23-29
LM Nguyễn Hữu Thy

Chu kỳ phụng vụ Mùa Phục Sinh sắp chấm dứt. Hàng năm nó đã mang lại cho tất cả chúng ta những suy niệm khẩn thiết về đức tin vào Ðức Giêsu và về tình yêu của Người, một tình yêu đã biểu lộ tính chất nhân bản qua cái chết của Người, nhưng đồng thời cũng bộc lộ uy quyền của Thiên Chúa qua cuộc Phục Sinh khải hoàn của Người ! Từ những suy niệm đó, cuộc sống của chúng ta một khi đã được gắn liền với Ðức Giêsu, thì luôn phải đạt tới cứu cánh của nó.

Thứ nhất : « Ai yêu mến Thầy, thì giữ lời Thầy.... Ai không yêu mến Thầy, thì không giữ lời Thầy. Và lời các con nghe đây không phải là của Thầy, nhưng là của Chúa Cha, Ðấng đã sai Thầy ! » Ðó là điều đầu tiên trong chương trình hành động của một cuộc sống được gắn liền với Ðức Giêsu !

  • Giữ lời Ðức Giêsu có nghĩa là thâm tín rằng Thiên Chúa đã ban bố huấn thị của Người qua Ðức Giêsu; điều đó muốn nói rằng chúng ta không xếp đặt vũ trụ và cuộc sống theo sở thích, theo kế hoạch, theo mơ ước hay theo sự sợ hãi của mình; bởi vì Thiên Chúa đã thiết đặt một chuẩn độ rõ ràng trong Ðức Giêsu !
  • Giữ lời Ðức Giêsu có nghĩa là nhất thiết phải thực sự nhận biết huấn thị đó của Thiên Chúa. Dĩ nhiên điều đó không ý nói là nhất thiết phải đi rao truyền mọi lời của Người khắp nơi, nhưng là phải nhận thức được mục đích nền tảng của lời Người nói và của hành động Người làm qua việc lắng nghe Tin Mừng, tức : Tin nhận và yêu mến Thiên Chúa ! Tiếp đến, chấp nhận và yêu thương người đồng loại; và không chỉ chấp nhận điều đó trên lý thuyết thuần túy mà thôi, nhưng phải hiện thực chúng một cách cụ thể trong cuộc sống hằng ngày, đối với Thiên Chúa và tha nhân, và trung thành thực hiện cho đến cùng !

Thứ hai : « Ðấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Người sẽ dạy các con mọi điều và sẽ làm cho các con nhớ lại mọi lời Thầy đã nói với các con ! » Ðó là điều thứ hai trong chương trình của Thiên Chúa : Biết đón nhận Thánh Thần Ðức Giêsu !

Ðón nhận Thánh Thần Ðức Giêsu có nghĩa là phải nhất thiết sống theo tinh thần các giáo huấn của Người. Nói cách khác, Thánh Thần ngự đến không chỉ để trợ giúp chúng ta chiếm giữ được tinh thần các giáo huấn của Ðức Giêsu như chuẩn độ đúng đắn, nhưng còn là sức mạnh đỡ nâng chúng ta thực thi các giáo huấn đó trong cuộc sống cụ thể. Vậy, chúng ta hãy để cho sức mạnh đó được tự do hoạt động trong cuộc sống của mình, và điều đó không có nghĩa gì hơn là chúng ta phải luyện tập cho mình tinh thần yêu thương, sự hy sinh xã kỷ của Ðức Giêsu; luyện tập biết chấp nhận kẻ khác, chứ không phải tìm mọi cách tự khẳng định chính mình; luyện tập biết cho đi, chứ không phải tìm cách chiếm đoạt mọi sự cho chính mình; luyện tập biết can đảm và trung thành với tinh thần xã kỷ đó, cả khi bị hiểu lầm, bị thiệt thòi về danh dự hay nguy hiểm đến tính mạng.

Thứ ba : « Thầy để lại bình an cho các con, Thầy ban cho các con sự bình an của Thầy. Thầy ban cho các con sự bình an, không theo kiểu thế gian ban. Các con đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi!" Ðó là điều thứ ba của chương trình, là : Có được sự bình an của Ðức Giêsu trong tâm hồn!

Nhưng có được sự bình an của Ðức Giêsu, có nghĩa là hội được đủ điều kiện để có thể sống thực sự đúng với nhân vị của mình mà Thiên Chúa đã ban cho. Ðó không phải là sự bình an mà thế gian có thể cho được; đó không phải là một sự hoan lạc ích kỷ, khiến cho chúng ta không còn nhìn thấy được những cơ cực thiếu thốn của đồng loại; đó không phải là một sự giải hòa có thể mặc cả được, tức tìm một sự quân bình khả dĩ cho sự bất hòa. Sự bình an của Ðức Giêsu là sự an ninh chắc chắn, được phát xuất từ sự ý thức sâu xa : "Phải làm lành lánh dữ", kể cả khi chúng ta phải hy sinh tính mạng, vì thâm tín được rằng, Thiên Chúa sẽ đền bù lại cho chúng ta gấp trăm sự mất mát !

Có được sự bình an của Ðức Giêsu, có nghĩa là có điều kiện để từ sự anh ninh đó, kiến tạo sự bình an thực sự. Bởi vì chỉ có sự ý thức chắc chắn được rằng người ta phải sống công chính trước mặt Thiên Chúa, thì mới có can đảm để chấp nhận tất cả; thì người ta mới thông cảm hiểu biết nhau và mới loại bỏ mọi căng thẳng và va chạm, phát xuất bởi những tư duy ích kỷ và thiển cận, chỉ muốn bảo vệ quan điểm và ước vọng của mình trước đồng loại, cũng như chỉ muốn bảo đảm sự sống còn của mình !

Những lời Chúa phán cùng chúng ta hôm nay là sự hướng dẫn cho một cuộc sống theo gương Ðức Giêsu. Ðó là một chương trình sống tuyệt hảo, dẫn chúng ta đạt tới sự sống chân thật và hạnh phúc vĩnh cửu! Ðó là :

  • Giữ lời Ðức Giêsu.
  • Tiếp nhận Thánh Thần Ðức Giêsu.
  • Có được sự bình an của Ðức Giêsu trong mình.

Thật là cả một sự khác biệt to lớn với những chương trình thuần túy nhân loại, mà trong đó chúng ta chỉ nhắm tới những lợi lộc ích kỷ tư riêng của mình!

Chương trình của Thiên Chúa, là : Trong Ðức Giêsu, chúng ta có thể đạt tới một cuộc sống hạnh phúc chân thật. Chương trình đó có thể đổi mới vũ trụ. Chắc hẳn tất cả chúng ta đều nhất trí với chương trình đó?

THẦY ĐỂ LẠI BÌNH AN
Ga 14, 23-29
Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb

Nằm trong khung cảnh bữa Tiệc ly và tiếp tục những nhắn nhủ trong diễn từ ly biệt, lần này, Chúa Giêsu nói với các môn đệ về sự "ra đi" của mình. Chúa Giêsu đi về với Chúa Cha, điều đó thật rõ ràng, nhưng đối các môn đệ thì không đơn giản hiểu rõ như vậy. Chính vì thế, để các môn đệ khỏi ngỡ ngàng trước những gì sẽ xảy ra, Chúa Giêsu đã cho các ông biết trước những điều quan trọng sẽ đến khi sự hiện diện cách thể lý của Người không còn nữa. Đó chính là sự hiện hiện của Đấng Bảo Trợ là Chúa Thánh Thần, Bình an của Chúa Kytô và lòng yêu mến của Thiên Chúa dành cho những ai yêu mến Người.

Khi Chúa Giêsu ra đi, trở về với Chúa Cha, khi không còn sự hiện diện thể lý của Người ở trần gian này, Đấng Bảo Trợ là Chúa Thánh Thần sẽ đến thay thế, sẽ hoàn tất mọi sự trong công trình cứu rỗi nhân loại. Có thể nói, bất ngờ đến độ hụt hẫng của các môn đệ khi nghe Chúa Giêsu loan báo sự ra đi để trở về cùng Chúa Cha bao nhiêu thì các ông lại cảm thấy được an ủi vỗ về bấy nhiêu khi hay tin chính Chúa Thánh Thần - người thay thế Thầy mình, sẽ đến dạy dỗ và đồng hành cùng các ông. Sau khi Chúa Giêsu về trời, công việc của Chúa Thánh Thần được khai mở và công việc của Người thật rõ ràng như Chúa Giêsu đã từng loan báo: "Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em". Có thể nói, những gì Chúa Giêsu đã rao giảng, những việc Chúa Giêsu đã làm, các môn đệ chưa thể hiểu thấu, chưa nắm bắt trọn vẹn thì nay, công việc của Chúa Thánh Thần là tiếp tục hướng dẫn, dạy dỗ và giúp các ông hiểu cách thấu đáo những ý nghĩa của lời rao giảng và việc làm đó của Chúa Giêsu.

Chúa Giêsu trở về cùng Chúa Cha không có nghĩa là Người "thay ca", hết trách nhiệm, không còn liên đới gì với các môn đệ cũng như với thế gian này nữa. Trái lại, Chúa đã hứa sẽ "ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế" (Mt 28, 20b), sẽ đồng hành với các môn đệ, với Giáo hội trên mọi nẻo đường. Cách thức Chúa "ở cùng" đó chính là sự Bình an của Người. "Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy". Chúng ta có thể hiểu bình an ở đây không thuộc lãnh vực tự nhiên, tức không phải là sự yên ổn hay tình trạng không có hận thù, chia rẽ; cũng không phải tình trạng của con người không còn bị dằn vặt, khổ đau hay sảng khoái vui tươi, đầy đủ về phương diện vật chất,... mà đây chính là sự bình an trong tâm hồn, một sự bình an trong tương quan hướng về Thiên Chúa và hướng đến tha nhân trong tình yêu. Như thế, bình an ở đây chính là sự bình an của người công chính, sự bình an của lòng cậy trông, tín thác vào Thiên Chúa giữa muôn vàn khó khăn gian khổ ở đời.

Có bình an của Chúa Kytô, có sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần, điều đó thật rõ ràng, vấn đề ở chỗ chúng ta có biết đón nhận những ân huệ nhưng không mà Thiên Chúa ban tặng để làm nảy sinh hoa trái trong đời sống hiện tại hay không, tất cả đều nằm trong tầm tay của chúng ta. Thật vậy, khi chúng ta biết đón nhận nhận bình an từ chính Chúa Kytô, biết lắng nghe tiếng nói của Chúa Thánh Thần, hiệu quả tất yếu sẽ làm nảy sinh trong tâm hồn chúng ta chính là lòng yêu mến. Lòng yêu mến thúc bách chúng ta không chỉ tuân giữ những giáo huấn Chúa Giêsu, thực thi công bình bác ái, mà còn biến đời sống, tâm hồn chúng ta trở nên "đền thờ của Ba Ngôi Thiên Chúa" ngự trị. "Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha của Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy". Như thế là, cách thức Ba Ngôi Thiên Chúa nói chung và Chúa Kytô Phục sinh nói riêng hiện diện trong mỗi người chúng ta không phải vì chúng ta mang danh kytô hữu, quyền cao chức trọng trong giáo hội hay xã hội, giàu sang phú quý được nhiều người nể vì,... mà chính là mức độ chúng ta yêu mến Thiên Chúa và tha nhân. Khi chúng ta yêu mến Chúa Kytô và tuân giữ lời Người, một điều chắc chắn là tâm hồn chúng ta sẽ là nơi ngự trị của Ba Ngôi Thiên Chúa.

Ước gì Lời Chúa ngày hôm nay trở nên niềm vui bình an cho chúng ta và ước gì trọn cuộc sống, tâm hồn mỗi người chúng ta sẽ là ngôi đền thiêng liêng cho Ba Ngôi Thiên Chúa trong đó tình yêu của Chúa Cha, bình an của Chúa Kytô Phục sinh và ơn thông hiểu của Chúa Thánh Thần sẽ giúp chúng ta trở nên con cái Chúa ngày một thuần thành hơn.

THẦN KHÍ CHÚA NGỰ XUỐNG TRÊN TÔI
Ga 14, 23-29
Lm. Jude Siciliano, OP.

Theo thói thường, rời bỏ nơi chốn mình quen sống với người thân, bạn bè, làng giềng là khó, tưởng chừng như cắt đứt một quãng đời, cắt đi một khúc ruột, trừ phi chúng ta ra đi vì hận thù, vì khó khăn kinh tế, chính trị. Sự kiện này khiến chúng ta thông cảm với những người di cư, lỡ bước. Những bài hát "tha hương" lúc nào cũng buồn da diết. Một bà lão gần đây nói với tôi: "Con ghét cay ghét đắng nói câu "tạm biệt". Con thấy khó nói lắm." Giọng của bà xem ra độc nhất, gần như chỉ mình bà cảm được điều ấy. Thực tế thì hàng triệu người trên hành tinh này hàng ngày phải chịu cảnh ly hương. Dầu vậy, tâm lý bình thường thì chẳng ai yêu thích nói tạm biệt. Người ta thường nhìn trước vào những giây phút đó với lo sợ và buồn rầu, trừ phi vì tan vỡ gia đình, mất việc, hận thù. Chúng ta biết rằng mình đang bỏ lại đằng sau một thế giới quen thuộc, một quãng đường êm đềm để bước vào tương lai bất định. Chúng ta đã đầu tư quá nhiều tiền bạc, tình cảm, taì năng vào nơi chốn cũ, làm sao dứt áo ra đi? Vì thế thật đau xót khi phải vĩnh biệt!

Để bù lại mất mát to lớn và tự yên ủi mình, chúng ta thường nói" see you again". Tôi sẽ thăm ông bà, các bạn khi có thể, tôi sẽ điện cho anh, cho em, cho bố mẹ... và hàng trăm biểu hiện hứa hẹn khác, mặc dù biết đó là những lời hứa khó thực hiện. Những linh hồn yếu mềm, đa cảm thường để cho nước mắt tự do rơi, khóc cho vơi nhẹ nỗi lòng.

Chúng ta hiểu được tâm trạng của Chúa Giêsu và các môn đệ trong bữa tối vĩnh biệt hôm nay. Chúng ta đang ở quãng giữa của diễn từ cuối cùng (từ chương 13-17). Những chi Chúa nói với họ thật đau xót và đầy tâm huyết. Nếu người ta có chút lương tâm chẳng thể không thông cảm với hoàn cảnh. Thực tế tính nặng nề và nghiêm trọng bao trùm toàn thể căn phòng trên lầu, nơi họ ăn bữa vượt qua cũng là bữa vĩnh biệt để chia tay. Chúa Giêsu phải hết sức bình tĩnh để an ủi các môn đệ, những người mà Ngài thương yêu đến cùng: "Thày bảo thật anh em, Thày ra đi và lại đến cùng anh em" hoặc "Thày không bỏ anh em mồ côi, Thày sẽ trở lại cùng anh em." Hoặc "Thày ra đi để dọn chỗ cho anh em, trong nhà Cha thầy có nhiều chỗ ở"... và còn nhiều lời tương tự giống như tâm lý tôi vừa miêu tả ở trên, và còn hơn thế nữa vì giây phút này là giây phút quyết liệt. Đúng như khi chia tay, chúng ta thường cố gắng an ủi người ở lại, hứa hẹn với họ đủ điều tốt đẹp, nghĩa là vẫn luôn luôn tiếp xúc, luôn luôn hiện diện. Chúng ta làm hết sức mình để không mất đi những người yêu mến.

Trong suốt 5 chương sách, thánh Gioan đã mô tả tình cảnh biệt ly của Chúa Giêsu. Chúa cố gắng hết sức để an ủi các ông, hò hẹn với các ông rằng luôn tiếp xúc với các ông (stay in touch) bằng cách sai Chúa Thánh Thần ngự xuống: "Đấng bảo trợ là Thánh Thần, Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thày, Đấng ấy sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại những điều Thầy đã nói với anh em." Chúa có quyền năng để làm trọn lời hứa, nhưng các ông không thể tưởng tượng nổi. Liệu ngày nay chúng ta hiểu nổi và tin tưởng vào Lời Chúa? Vì Ngài cũng nói với chúng ta như vậy trước khi về trời? Thiết nghĩ khó lắm, vì nếu chúng ta thông minh hơn các tông đồ, hẳn đã sống khác, chứ không ươn lười, tầm thường như hiện trạng: nhung lụa, tiện nghi, danh vọng, tiền bạc, miệng lưỡi. Bằng những lời hứa này, Chúa Giêsu không muốn chúng ta chỉ dựa vào ký ức về Ngài, về những lời dạy dỗ của Ngài. Vì Ngài biết các tông đồ chỉ là phàm nhân, và chúng ta cũng vậy, nên trí nhớ sẽ phải nhạt đi, có khi quên bẵng qua dòng chảy thời gian, nhất là lúc gặp khó khăn thử thách, cho nên Ngài gửi Thánh Thần xuống, để đảm bảo mọi sự cho chính xác. Không hiểu ngày nay, người ta sáng kiến nhiều cách hiểu Kinh Thánh, nhiều cách sống Phúc Âm bất chấp lời dạy dỗ của Giáo Hội, thì có phải là do Thánh Thần? Vì Thánh Thần chủ yếu ngự nơi Hội Thánh, nhất là nơi các Công Đồng! Thí dụ thần học giải phóng, thần học phi châu, á châu, giai cấp...Ngày nay người ta đòi quyền làm thần học theo ý mình. Lời hứa của Chúa Giêsu còn mang ý nghĩa nào không?

Lời từ giã của Chúa Giêsu mang ý nghĩa đặc biệt: "Thầy để lại bình an cho anh em, Thày ban cho anh em bình an của Thày. Thày ban cho anh em không theo kiểu thế gian. Anh em đừng xao xuyến, cũng đừng sợ hãi." Ngài không nói: vui lên, mọi sự không đến nỗi tệ lắm đâu, mà nói Thày để lại bình an cho anh em. Thực tế, tình hình sẽ trở nên cay đắng cho Ngài và cho các môn đệ. Ngài sẽ bị bắt và bị giết, các môn đệ sẽ tan tác, trốn tránh. Nhưng Ngài ban cho họ bình an giữa những hỗn loạn đó và chúng ta ngày nay giữa chiến tranh, hận thù, tranh chấp kinh tế, chính trị, ý thức hệ, tôn giáo, luân lý. Liệu chúng ta có giữ được bình an, hay xao xuyến, sợ hãi vì thời cuộc? Bình an Chúa ban không phải bình an của thế gian. Nó là bình an trong tâm hồn. Bình an của một linh hồn thanh sạch, thánh thiện chứ không phải bình an vật chất hay trí tuệ. Bình an vật chất hệ tại cơm no, áo ấm, giàu sang, phú quý, an toàn kinh tế, xã hội, những thứ mà thế gian tìm kiếm, nhưng mau qua và chóng đổ vỡ. Bình an trí tuệ hệ tại thoả mãn óc tò mò, hiểu biết khoa học, chân lý. Bình an này cũng không bền vững và có giới hạn. Bình an Chúa ban không có giới hạn và bền vững mãi mãi, dầu thế giới có đổi thay và xáo trộn. Nó hệ tại một tâm hồn trong trắng sạch tội, sống bạn hữu với Thiên Chúa. Bình an làm thoả mãn hoàn toàn vì bền vững vĩnh viễn. Đó là thứ bình an của Chúa Thánh Linh trong Đức Giêsu Kitô. Bình an thế gian ban đổ vỡ khi tình hình trở nên tồi tệ, rã rời và thế giới không thể nâng đỡ lòng trí tín hữu. Sợ hãi vây bọc, tai hoạ vẫn đe doạ. Bình an của Chúa Giêsu khác hẳn. Ngài sẽ trở lại với họ, Thánh Thần sẽ kiện cường họ để đối mặt với bất cứ đe doạ nào của thế gian, ma quỷ và xác thịt, làm họ kiên vững trong lòng yêu mến, ngay cả khi đối diện với những cái chết đau đớn. Điều này đã được chứng minh suốt chiều dài lịch sử của Giáo Hội với biết bao vị anh hùng tử đạo. Thật là một thứ bình an chân chính và đáng khát khao.

Vậy chúng ta biết rõ ngày nay, thế giới đang cần thứ bình an nào! Chúng ta không mua được thứ bình an này như mua sắm vũ khí, bom đạn, hoả tiễn tầm xa-tầm gần, xe tăng, chiến thuyền hay trên các bàn hội nghị quốc gia, quốc tế. Chỉ Thần Khí Chúa Kitô mới ban tặng được. Cho nên chúng ta cần những nhà lãnh đạo tài ba biết kính sợ Thiên Chúa. Những người hướng dẫn thiên liêng đạo đức như Giaon XXIII, Gioan Phaolô II, Têrêsa thành Calcutta. Chúng ta cần những Gandhi Mahatma, những Edmond Tutu, Luther King Jr, những Rosa Park bất chấp chiến tranh hàng ngày ở Dafur, Afgahnistan, Iraq.

Chúng ta cần thần khí chữa lành để hàn gắn các rạn nứt trong Giáo Hội, Thần khí dạy chúng ta biết yêu thương như Chúa Giêsu yêu, chứ không phải như mỗi người tưởng tượng, biện minh. Chúng ta cần Thần khí ban hoà bình hoà giải trong các giáo xứ, các khu xóm đang tan nát vì tranh tụng, ghen tương, kiêu ngạo, khiêm nhường giả vờ. Chúng ta cần Thần khí đổi mới niềm tin của chúng ta vào Chúa Cứu Thế như hoàng tử hoà bình và cái nhìn về những kẻ kiến tạo bình an trên thế giới, những kẻ từ chối bạo lực để giải quyêt các xung đột quốc tế, quốc gia. Những kẻ thường bị chế giễu là nhu nhược, không tưởng trong hệ thống chính trị hiện nay.

Đúng vậy, bài đọc sách Khải Huyền xem ra đầy mơ mộng khi mô tả Giêrusalem mới. Người Lamã đã phá huỷ Gierusalem cũ khoảng năm 70 Cn. Gierusalem mới không giống như vậy nữa, giả hình, độc ác, lầm lạc, đóng đinh cả Thượng Đế. Mà là một Gierusalem hoàn toàn thánh thiện, có Thiên Chúa ngự giữa dân Ngài, đến nỗi ở đâu hai, ba người tụ họp nhân danh Chúa thì Ngài ở đó. Trong diễn từ hôm nay, Chúa Giêsu tuyên bố tương tự: "Thày và Cha Thày sẽ ngự giữa họ." Dĩ nhiên Gierusalem mới này sẽ được nhận biết bằng tình yêu giữa các cộng đoàn dân cư và là dấu chỉ Chúa đang hiện diện với họ. Mỗi tín hữu, người yêu của Thiên Chúa là ngôi đền của Người: "Những ai yêu mến Thày thì sẽ giữ lời Thày. Cha thày sẽ yêu mến kẻ ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến ở lại với người ấy."

Khi nào thì Chúa Giêsu trở lại? Các tín hữu đang chịu bách hại thường hỏi như vậy. Họ mòn mỏi trông đợi Ngài trở lại để giải phóng họ khỏi tình trạng đen tối hiện tại. Cũng vậy nhiều linh hồn đau khổ từng đặt câu hỏi tương tự. Nhưng chẳng ai biết câu trả lời. Tuy nhiên lời giã từ của Chúa bảo đảm rằng Ngài sẽ trở lại và đã thực hiện đúng như vậy, khi sai Chúa Thánh Thần xuống trên các tông đồ và Giáo Hội tiên khởi. Thần Khí này, mà Chúa gọi là Đấng Bảo Trợ, Ủi an, chính là sự hiện diện của Chúa giữa các tín hữu, để giúp chúng ta thấu hiểu lời Ngài, và đòi hỏi chúng ta phải hành xử ra sao! Phiền là chúng ta thường không nghe theo sự thúc đẩy của Thần Khí, mà thích làm theo ý muốn, rao giảng gian dối, lừa đảo thiên hạ, đến nỗi thánh Phaolô phải thốt lên: "Không hiểu thần khí nào đã thúc giục anh em!" Chúa Giêsu hứa Thiên Chúa Cha sẽ gửi Thần Khí xuống. Và như Ngài đối với các tông đồ thế nào, thì Thần Khí sẽ đối với Hội Thánh như vậy. Cho nên người ta lắng nghe Hội Thánh là lắng nghe Chúa Giêsu, vâng lời Hội Thánh là vâng lời Chúa Kitô. Chúa Giêsu chỉ dẫn phải yêu mến nhau thế nào, thì Thần Khí sẽ làm đúng như vậy, ban khả năng để yêu mến nhau. Những lời Chúa dạy dỗ có nguy cơ bị hiểu sai hoặc lãng quên, thì Thần khí sẽ mở lòng cho họ nhớ lại, cứ như vậy cho đến tận cùng thời gian, qua các thế hệ tín hữu. Cho nên giáo lý của Hội Thánh là tinh tuyền, tông truyền và phổ thông.

Do đó, mặc dù chúng ta chẳng còn được trông thấy Chúa thể lý kiểu như các tông đồ quanh bàn tiệc ly, chứng kiến Ngài rửa chân cho các ông, lắng nghe bài diễn từ cuối cùng và lời hứa bảo đảm. Nhưng giã từ của Ngài là thực sự. Tuy Ngài không còn hiện diện nữa, nhưng chúng ta phải tin Ngài vẫn ở với Hội Thánh bằng hình thức khác, lúc ấy các ông không nghĩ ra được và ngày nay chúng ta vẫn còn nghi ngờ. Ngài ở với nhân loại qua Chúa Thánh Thần, tặng phẩm của Thiên Chúa Cha, đúng như lời Chúa phán. Nếu chúng ta đặt tin tưởng vào sự hiện diện của Thần Khí, thì sẽ được Ngài hướng dẫn, dạy bảo. Linh hồn sẽ được bình an bất chấp những hỗn loạn của thế gian. Giáo Hội sẽ vững chắc trên con đường thánh thiện. Nói dễ hơn làm. Bình an này chúng ta không tạo nên được do tài năng riêng của mình mà hoàn toàn cậy nhờ vào Thiên Chúa. Người ta có thể gọi đó là tặng phẩm mà cũng có thể đặt tên là gia sản của Đức Kitô, Đấng chẳng bao giờ muốn rời bỏ nhân loại. Liệu lúc này chúng ta có sẵn sàng mở rộng lòng mình đón nhận Thần Khí Chúa? Nói thì dễ nhưng làm khó lắm! Bao nhiêu linh hồn nói rồi đấy, nhưng chẳng mấy ai làm! Nếu thực sự làm thì người ta chẳng còn tầm thường như hiện trạng. Chúng ta cầu xin Thánh Thể uốn nắn tâm trí mình trong thánh lễ này, ngõ hầu giúp chúng ta thực sự sống đức tin cho đến lễ Năm Mươi.

Chúa phục sinh thực sự hiện diện với chúng ta hôm nay trên bàn thờ, giống như Ngài hiện diện xưa trong bữa tiệc ly, chỉ có khác ở thể thức. Bữa ăn chúng ta chia sẻ chính là Mình Máu Ngài. Mình Máu ấy cũng giữ chúng ta ở lại trong lời hứa. Thánh Thần sẽ ban cho mỗi người ký ức sống động về Chúa Giêsu, về lời hứa của Ngài. Không phải ký ức đã qua từ lâu lắm, nhưng là Chúa Giêsu hiên diện, hướng dẫn, ủi an mọi người cho kiếp sống muôn thủa. Amen, Alleluia.

KITÔ HỮU TỰ BÊN TRONG
Ga 14, 23-29
Lm Giuse Nguyễn Trung Điểm

Trong việc chọn lựa người bạn đời trong hôn nhân, ở Việt Nam ta có câu: "Cha mẹ đặt đâu, con ngồi đó". Quan niệm nầy mất ảnh hưởng dần dần, người trẻ ngày nay được nhiều tự do hơn để chọn lựa. Câu nói: "Con yêu anh ấy và anh ấy yêu con" là lập luận người trẻ thường dùng để tranh đấu cho sự tự do chọn lựa người bạn trăm năm. Không chỉ trong hôn nhân mà ở mọi bình diện khác, tự do chính là một giá trị lớn lao quý giá thế hệ ngày nay nhiều ít đã đạt được. Tự do đôi khi bị hiểu sai là đồng nghĩa với việc muốn làm gì thì làm và không cần phải giữ những bó buộc. Tuy nhiên, đa số vẫn nhìn nhận ý nghĩa của tự do chính là khả năng có thể nói năng hoặc hành động từ động lực bên trong thâm tâm con người, chứ không bị hoàn cảnh hoặc thế lực bên ngoài ép buộc.

Phẩm giá cao quý đó chính Thiên Chúa cũng nhìn nhận. Người không muốn là kẻ độc tài dùng giới răn và cấm cản để thống trị con người. Tin Mừng nói đến thứ tự do đích thực đó: niềm tin của kitô hữu phát xuất từ kinh nghiệm nội tâm: "Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy". Qua việc vâng giữ lời Chúa Giêsu và để cho lời Người uốn nắn cuộc sống mình, người kitô hữu được Chúa Giêsu thấm nhập vào con tim mình. Trong cuộc gặp gỡ Chúa Giêsu, họ cảm nghiệm được những điều tốt đẹp cao quý Người mang đến cho họ, hiểu được cuộc sống sung mãn Người hứa ban, hiểu được sự bình an mà chỉ Thiên Chúa ban được. Việc vâng giữ lời Chúa khi ấy không là hành động tuân giữ một lệnh truyền từ bên ngoài, nhưng là việc lắng nghe tiếng gọi thâm sâu kêu mời con người hướng đến một cuộc sống đích thực như họ ước muốn tự thâm tâm. Chúa Giêsu đã vâng lời Chúa Cha trong cách thế ấy. Sự vâng lời đó không làm Người xa lạ với bản thân, nhưng giúp Người thể hiện cuộc sống riêng biệt đích thực của Người.

Cuộc sống kitô hữu thể hiện tự bên trong, tự niềm tin và sự xác tín sâu xa. Tin Mừng làm rõ thêm tư tưởng nầy: "Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy". Chúa Giêsu và Cha Người sẽ đến ở lại, cư ngụ trong họ. Thiên Chúa chúng ta tin không phải là Đấng từ trên cao thống trị con người, bó buộc con người phải quỵ lụy dưới ách thống trị và sự kiểm soát của Người. Nhưng Người là Đấng Thiên Chúa chúng ta có thể khám phá ngay trong chúng ta như là mầu nhiệm của cuộc sống sung mãn, Đấng giúp chúng ta hiểu biết ơn gọi làm người của mình. Như thế, thánh ý Chúa và ước vọng sâu xa của con người không phải là 2 điều khác nhau. Người cư ngụ trong con người, để giúp con người khám phá ra: thánh ý Người chính là điều con người thiết tha ước muốn tự thâm tâm. Thánh ý Người chính là điều con người ước vọng sâu xa trong tâm hồn. Vì vậy, chúng ta là kitô hữu đích thực không phải khi gập mình trước Thiên Chúa, miễn cưỡng tuân giữ các lề luật và chấp nhận định mệnh khắc khe được áp đặt trên chúng ta; nhưng khi chúng ta dành chỗ cho Người trong tâm hồn chúng ta, để Người có thể cư ngụ trong chúng ta và làm chúng ta hiểu sự hiệp nhất giữa thánh ý Người và niềm vui sâu xa của chúng ta, giữa dự án tình thương của Người và ý nghĩa cuộc đời của chúng ta.

Một linh mục đã trải qua 6 năm trong tù biệt giam. Trong những khó khăn từ thể chất, tâm lý đến tinh thần, lời Tin Mừng nầy đã giúp cha lướt qua được những giây phút khủng hoảng: "Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy". Trong những giây phút đen tối dài vô tận và không biết khi nào chấm dứt, cha đã cố gắng áp dụng lời nầy cho từng giây phút hiện tại. Khi đã qua rồi, nhìn lại cha đã ngạc nhiên không hiểu làm sao mình đã có thể lướt qua được như vậy. "Thầy ban cho anh em bình an của Thầy", bình an của Chúa giúp chúng ta lướt thắng được mọi ngăn cách giữa Thiên Chúa và chúng ta, cũng như giữa con người với nhau. Bình an của Chúa ban tự bên trong có khả năng giúp chúng ta hoà giải với Thiên Chúa, với bản thân và với người khác.

CHÌA KHÓA ĐỔI ĐỜI
Ga 14, 23-29
Lm. Barthôlômêô Ân Sử, CMC

Trong một Khóa Thánh Linh, một bà VN trên 60 tuổi, ở Garden Grove, Cali, đã kể lại cho Linh mục hướng dẫn Khóa: "Sáng nay, con nghe lời cha tối qua, con dậy thật sớm, rồi quì gối dang tay để mở lòng con ra bằng: tha thiết thống hối, tha thứ cho "kẻ thù", tin Chúa thương con, nhìn nhận Chúa là Chúa của con, và con tha thiết nài xin Đức Mẹ bầu cử (3 lần kinh Hãy Nhớ rất chậm và tin tưởng), cuối cùng như cha bảo, con dang tay tha thiết nài xin Đức Chúa Thánh Thần:

"Chúng con lạy ơn Đức Chúa Thánh Thần thiêng liêng sáng láng vô cùng: (1) Chúng con xin Đức Chúa Thánh Thần xuống đầy lòng chúng con, là kẻ tin cậy Đức Chúa Trời, (2) và đốt lửa kính mến Đức Chúa Trời trong lòng chúng con" chúng con xin Đức Chúa Trời cho Đức Chúa Thánh Thần xuống (3) sửa lại mọi sự trong ngoài chúng con".

"Con tha thiết hết sức đọc kinh Chúa thánh Thần, như cha bảo. Lần thứ Nhất 10 lần, rồi lần thứ Hai 10 lần, và lần thứ Ba cũng 10 lần nữa... Thế mà cha ôi, con tha thiết cầu xin cả 30 lần rồi, mà "nòng (lòng) con nó cứ tơ tơ (trơ trơ)"!!! Sau đó, con nhớ cha bảo đừng có nản, nên con lại quyết tâm, lần này, con sẽ tha thiết hết lòng cầu nguyện như thế, không phải 10 lần, 10 lần, 10 lần, nhưng là 50 lần nữa!

"Lần quyết tâm 50 này, con vừa đọc đến lần thứ Ba, thì Chúa Thánh Thần đã xuống tràn đầy linh hồn con: Toàn thể con người con run lên, trái tim con đập mạnh, làm nóng ran khắp người" linh hồn con tràn ngập bình an, vui mừng và lạ lùng" rồi miệng con cảm thấy ngọt ngào đầy hương vị khi đọc kinh Chúa Thánh Thần!... Thế là từ lúc ấy cho đến sáng, con cứ cầu nguyện kinh Chúa Thánh Thần, không biết mấy trăm lần... Lúc này con nói với cha mà lòng con đang nóng ran lên!"...

Truyện bà cụ đây là một trong hàng 100 triệu trường hợp hiện đang xẩy ra, ngay giữa người VN hải ngoại, và trong cả thế giới Công giáo (1967-2001). Đúng như lời Chúa Giêsu đã loan báo trong Phúc âm hôm nay:"Đấng Phù Trợ là Thánh Thần, mà Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, chính Người sẽ dạy các con mọi điều, và sẽ nhắc nhở cho các con tất cả những gì Thầy đã nói với các con" (Ga 14:26). Và một khi chúng ta được Chúa Thánh Thần tràn đến trong đời, chúng ta sẽ đạt được hai mục đích, mà Phúc âm hôm nay Chúa Giêsu đã hứa ban: (1) Yêu mến Chúa, và được Chúa Cha và Chúa Giêsu đến ngự trong ta" (2) được Chúa ban cho tâm hồn sự bình an tuyệt vời, bình an khác biệt với trần gian (Lc 14:24, 27). Như vậy Chúa Thánh Thần sẽ là chìa khóa đổi đời của chúng ta.

Kinh nghiệm trước mắt chúng ta, Chúa Thánh Thần đã là chìa khóa "đổi đời" của bà cụ Việt Nam và của hàng 100 triệu Tín hữu Công giáo hiện nay. Thời đại chúng ta đang sống, như lời Đức Gioan Phaolô II, "là thời đại của Chúa Thánh Thần và của Đức Maria".

Thời đại chúng ta, cũng đúng như lời tiên tri Joel, cách đây 2300 năm, đã tiên báo: "Sẽ xẩy ra là sau đó, Ta sẽ đổ Thánh Thần của Ta trên mọi người. Con trai con gái các ngươi sẽ nói tiên tri, các vị bô lão sẽ được chiêm bao, trai tráng của các ngươi sẽ được thị kiến, và cả trên các tôi nam tớ nữ của các ngươi, trong những ngày đó, Ta sẽ đổ tràn đầy Thánh Thần của Ta" (Joel 3:1-2).

Ơn "đổ tràn Thánh Thần" xuống trên mọi người, mà tiên tri Joel nói đây, là ơn dành cho tất cả mọi người, ở mọi lứa tuổi, mọi cấp bậc, chứ không chỉ dành riêng cho một ai. Chỉ cần họ có thành tâm thiện chí, sẵn sàng "Mở lòng" ra đón nhận Chúa Thánh Thần. Nhưng bạn thắc mắc "Mở lòng" bằng cách nào? Thưa bằng cách rất thông thường, bằng 5 việc: Thống hối xưng tội - Tha thứ (quan trọng nhất là tha thứ cho "kẻ thù") - Tin Chúa thương mình - Tôn nhận Chúa làm Chúa hạnh phúc đời mình - Tha thiết xin nài Chúa ban tràn đầy Chúa Thánh Thần để canh tân đời mình.

Ơn được tràn đổ Thánh Thần này, theo Thánh Kinh và Thánh Truyền, cũng như Giáo Lý Công giáo, chúng ta, hết thảy các Tín hữu Công giáo, đã được khi lãnh nhận bí tích Khai tâm (Rửa Tội, Thêm Sức, Mình Thánh Chúa). Nhưng vì quá nhiều lý do và nguyên nhân, đời sống Tín hữu của chúng ta không còn thấy được các hiệu quả, của các Bí tích ấy hiện tỏ và hữu hiệu nhiều nữa! Do đó định nghĩa và mục đích của "ơn tràn đổ Thánh Thần" đây, chỉ là ơn Chúa Thánh Thần đến canh tân đời sống Tín hữu, và làm sống lại những ơn mà các Tín hữu đã lãnh nhận khi chịu phép Rửa Tội và Thêm sức xưa. Chính vì lý do này, nhiều Linh mục và đông đảo giáo dân, ngay giữa VN hải ngoại, đã bỏ đi những hiểu lầm và thiên kiến về Phong trào "Đoàn Sủng Canh Tân".

Qua ít dòng trên, chắc quí vị và quí bạn đã hiểu sơ lược thêm về Chúa Thánh Thần là "Chìa Khóa Đổi Đời" cho Giáo sĩ, Tu sĩ và Tín Hữu. Chìa khóa này có tầm rất quan thiết, vì qua đó, Chúa Thánh Thần sẽ canh tân đời sống mới trong ta, và ơn Ngài sẽ làm đời Tín hữu chúng ta nên tươi vui đầy hoan lạc, ngay hiện nay trên trần thế, và vĩnh hằng trong Thiên Chúa là hạnh phúc thật đời đời. Xin khuyến khích quí vị và các bạn noi gương cầu nguyện "đổi đời" như bà cụ VN!

Nguồn vietcatholic.org

2688    04-05-2013 20:38:48