Sidebar

Thứ Hai
27.05.2024

Chúa Nhật VI TN B_3

BỆNH CÙI TÂM HỒN 
Mc 1, 40 - 45

Thời xưa, bệnh phong là một bệnh nan y, bị mọi người kinh tởm xa lánh. Trong đạo Do thái, người mắc bệnh phong bị gạt ra ngoài lề xã hội. Họ không được sống chung với thân nhân trong xóm làng, nhưng bị xua đuổi ra ngoài đồng ruộng, vào trong rừng núi hay trong sa mạc. Họ phải ăn mặc rách rưới. Đi đến đâu cũng phải kêu to lên : "Ô uế, ô uế", cho mọi người biết mà xa tránh. Ai tiếp xúc với người bệnh phong đều bị coi là ô uế. Ai đụng chạm vào người bệnh phong bị coi như mắc tội rất nặng. Chẳng ai dám đến gần người bệnh phong. Người bệnh như thế, không những bị những vết thương trên thân xác hành hạ đau đớn mà còn bị những nỗi đau, nỗi nhục trong tâm hồn dằn vặt khổ sở. Họ bị xã hội khinh khi loại trừ. Họ bị một mặc cảm chua chát dày vò. Nhân phẩm không được tôn trọng, họ sống mà bị coi như đã chết. Nhưng chưa chết được, họ vẫn phải tiếp tục sống để chịu những nỗi đau đớn còn hơn cả cái chết gặm nhấm, thiêu đốt.

Một lần nữa, Đức Giêsu lại vượt qua những biên giới cấm kỵ khi dám đến gần người bệnh phong. Không những Người đến gần mà còn đưa tay chạm vào thân mình bệnh nhân. Lòng thương yêu đã khiến Đức Giêsu dám làm tất cả. Vì thương người bệnh, Đức Giêsu đã bất chấp nguy hiểm bị lây nhiễm, đã bất chấp những điều bị coi là cấm kỵ của đạo Do thái. 


Khi chữa khỏi bệnh phong, Người đã giải thoát người bệnh khỏi những đau đớn phần xác. Từ nay anh không còn bị những vết thương hành hạ. Thân thể anh trở nên lành lặn. Da dẻ anh trở lại hồng hào tươi tắn. Khuôn mặt anh rạng rỡ. Giọng nói anh thanh tao. Anh cũng là một người như bao người khác.


Nhưng điều quan trọng hơn, đó là khi chữa anh khỏi chứng bệnh nan y, Đức Giêsu đồng thời cũng giải phóng anh khỏi những mặc cảm đè nặng tâm hồn anh bao năm tháng qua. Khi Đức Giêsu vuốt ve thân thể bệnh tật của anh, Người đã vuốt ve tâm hồn anh. Trước kia anh cảm thấy bị mọi người xa lánh. Nay anh cảm thấy qua Đức Giêsu mọi người gần gũi anh hơn bao giờ. Trước kia anh cảm thấy bị khinh miệt. Nay anh cảm thấy được trân trọng. Trước kia anh cảm thấy bị bỏ rơi. Nay, dưới bàn tay dịu hiền của Đức Giêsu, anh cảm thấy được yêu thương vỗ về. Những vết thương sâu thẳm trong trái tim anh đã liền da lành lặn. Đức Giêsu đã hồi sinh tâm hồn lạnh giá của anh.


Muốn cho mọi người chấp nhận anh tái hội nhập vào đời sống xã hội, Đức Giêsu bảo anh đi trình diện với thày cả theo như luật định. Trước kia anh bị loại trừ, bị gạt ra ngoài lề xã hội. Nay anh được bàn tay âu yếm ân cần của Đức Giê su đón nhận anh trở lại xã hội loài người. Qua vị thượng tế, anh được công khai đón nhận. Nhân phẩm anh được phục hồi. Danh dự anh được tôn cao. Giờ đây anh có thể tự tin, vui sống giữa mọi người, như mọi người.


Chúng ta ai cũng có những mặc cảm đè nặng tâm hồn, những vết thương sâu kín, những niềm đau khôn nguôi, những nỗi buồn hầu như không ai thông cảm an ủi được. Hãy noi gương người bệnh phong chạy đến với Đức Giêsu. Người sẽ xoá đi những mặc cảm đè nặng hồn ta. Người sẽ chữa lành những vết thương bao năm gặm nhấm trái tim ta. Người sẽ xoa dịu những nỗi đau vò xé tâm tư. Người sẽ an ủi những nỗi buồn phủ kín hồn ta.


Phần ta, hãy biết noi gương bắt chước Đức Giêsu, đừng loại trừ anh em mình ra khỏi đời sống xã hội. Hãy biết đến với những anh em bị bỏ rơi. Hãy biết an ủi những anh em đang buồn khổ. Hãy biết tránh cho anh em những mặc cảm nặng nề. Hãy hàn gắn những vết thương trong tâm hồn anh em. Hãy tôn trọng danh dự và nhân phẩm của anh em. Hãy giúp cho anh em mình được hoà nhập vào đời sống cộng đoàn, đời sống xã hội. Nước ta đang quyết tâm thanh toán bệnh phong. Xứ đạo ta cũng hãy quyết tâm thanh toán bệnh phong trong tâm hồn. Hãy diệt trừ bệnh phong chia rẽ. Hãy tẩy chay bệnh phong loại trừ. Hãy xoá đi bệnh phong phân biệt. Hãy phá tan bệnh phong nghi kị. Hãy bài trừ bệnh phong kết án. Nếu ta thanh toán được bệnh phong tâm hồn, thân thể xứ đạo ta sẽ liền da liền thịt, khuôn mặt xứ đạo ta sẽ hồng hào, rạng rỡ vui tươi phản ảnh được khuôn mặt đích thực của ĐKT.


Lạy Đức Giêsu, xin cứu độ chúng con
. Amen.

Đức Giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt

LẠC QUAN VUI SỐNG
Mc. 1,40-45

Cho đến thời Chúa Giêsu, luật lệ Do thái vẫn rất khắc khe đối với những người phong cùi. Những luật lệ này đã có từ thời ông Mô-sê được ghi lại trong chương 13 sách Lê-vi, quy định rất tỉ mỉ và rõ ràng những trường hợp người bị cùi và cách đối xử với những người ấy. Nghĩa là khi có những triệu chứng bệnh ngoài da, người bệnh phải đến gặp tư tế để khám nghiệm. Nếu là phong cùi thì tư tế sẽ tuyên bố người đó không thanh sạch. Từ đó họ không được ở chung với người lành, không được ở trong làng, nhưng phải sống biệt lập trong hoang địa, không được tham gia bất cứ sinh hoạt nào. Họ không được tới gần người lành, cũng không được để người lành tới gần. Họ phải mặc áo rách, để tóc bù xù, và khi thấy người lành thì phải hô to : "dơ, dơ" để người ta biết mà tránh xa. Nếu họ đụng tới người lành hay người lành đụng tới họ thì người ấy trở thành dơ bẩn và bị khai trừ trong thời gian luật định. 

Như vậy, khi đã mắc bệnh cùi là mặc nhiên bị đẩy vào một cái chết dần mòn khủng khiếp. Chẳng những thế, kẻ mắc bệnh cùi còn bị xã hội nguyền rủa và xa lánh. Thân xác tiêu hao, tinh thần băng hoại, đời sống người bệnh không còn gì khác hơn là những tháng ngày rên siết đau thương trong khốn cùng tuyệt vọng. 


Hiểu rõ số phận người cùi như vậy, chúng ta sẽ hiểu được trường hợp người cùi trong bài Tin Mừng hôm nay. Một người cùi đến gần Chúa Giêsu và Chúa đã chữa cho người ấy được lành sạch. Như thế, người cùi này đã vượt qua các hàng rào mà luật đặt cho người cùi. Và chính Chúa Giêsu cũng đã vượt qua hàng rào luật định khi Ngài chạm tới người cùi. Nghĩa là với lòng tin mạnh mẽ người cùi đón đường và đến gần Chúa. Còn Chúa, thay vì xa lánh như luật cấm, Ngài giơ tay chạm đến người bệnh. Việc Ngài chạm tới người cùi không làm cho Ngài ra dơ bẩn mà lại làm cho người cùi được lành sạch. Ngài không phạm luật nhưng Ngài làm cho luật nên hoàn hảo. 


Thái độ của người cùi này đáng cho chúng ta suy nghĩ. Dù với tâm trạng e dè sợ sệt, anh vẫn tin tưởng kêu xin. Lời cầu xin ấy không phải là một hoài nghi, nhưng diễn tả một niềm tin hoàn toàn phó thác cho tình thương của Chúa Giêsu giữa cảnh cùng đường tuyệt vọng. Trước thái độ tin tưởng khiêm tốn của anh, Chúa Giêsu rất hài lòng, Ngài dặt nhẹ tay trên vai anh và chữa anh lành bệnh bằng một lời đầy âu yếm : "Tôi muốn, anh hãy được sạch".


Đặt tay hay đụng chạm đến người cùi là một cử chỉ mà lề luật không cho phép và cấm ngặt, vì nó sẽ làm cho con người ra dơ bẩn. Và với quyền năng của mình, không cần đụng chạm vào người cùi, Chúa Giêsu vẫn có thể chữa lành anh ta. Thế nhưng, tình yêu dâng hiến sẽ nhận được tình yêu đáp trả. Tâm tình tin yêu của người cùi đã được Chúa Giêsu đáp trả bằng cử chỉ yêu thương của Ngài.


Câu truyện người cùi trên đây tuy ngắn gọn, nhưng diễn tả được đậm nét nguyên tắc sống của người Ki-tô hữu : không bi quan về cuộc sống. Không bao giờ mất tin tưởng, dầu cuộc đời xem ra như chẳng còn lối thoát. Và nhất là không bao giờ được quên tình yêu thương săn sóc của Cha trên trời. Bởi vì chẳng có gì ngăn cản con người tìm đến với tình yêu Thiên Chúa. Dù cho cuộc sống có tăm tối u buồn, quanh ta chẳng còn người cảm thông, thì vẫn còn Chúa Giêsu, Ngài luôn chờ đón và sẵn sàng đáp lời chúng ta. Và chúng ta hãy đến với Ngài để học nơi Ngài cách đáp trả.


Chúng ta đừng bao giờ tự làm cho mình thành người mắc bệnh cùi và cũng đừng làm cho những người sống chung quanh mình thành những người cùi. Nghĩa là có những người cư xử như mình bị cùi, khi tự xây cho mình pháo đài ích kỷ, lập dị... có những người khác lại đối xử với anh em như những người cùi, khi làm cho anh em cô đơn hoàn toàn, do lời nói hay thái độ chia rẽ, phân biệt đối xử... chẳng hạn có những người, những tập thể mà chúng ta xa lánh theo kiểu dân Do thái xa lánh người cùi. Hoặc chúng ta từ chối tiếp xúc, hợp tác với cá nhân này hay tập thể nọ chỉ vì họ không cùng tín ngưỡng hay không đồng tư tưởng với chúng ta. Nếu sống như vậy là chúng ta tự làm cho mình mắc bệnh cùi và làm cho anh em trở thành người cùi. 


Chúng ta đừng bao giờ sống như thế, chúng ta đừng bao giờ cô lập mình, đừng bao giờ gây chia rẽ; trái lại, hãy luôn sống cởi mở với mọi người, đối xử với mọi người trong tinh thần yêu thương và hợp tác.


Lạc quan vui sống là đặc tính cơ bản của người Ki-tô hữu. Chúng ta cần phải lạc quan vì nhận thức được phẩm giá làm người và làm con Chúa của mình. Chúng ta lạc quan vui sống vì biết rằng mình luôn được Thiên Chúa yêu thương săn sóc. Chúng ta lạc quan vui sống vì biết rằng đàng sau mọi gian nan thử thách của cuộc đời, luôn có Thiên Chúa hiện diện để bảo vệ và nâng đỡ, để an ủi và khích lệ. Mỗi ngày có những đau khổ, nhưng cũng lại có niềm vui. Người Ki-tô chúng ta luôn biết vươn mình trên đau khổ để đón nhận niềm vui được trao ban từ tấm lòng, từ bàn tay, từ nụ cười của Thiên Chúa yêu thương. Một cuộc sống như thế phải là điều bình thường cho những ai biết đặt trọn niềm tin vào tình yêu Thiên Chúa. Một cuộc sống như thế không những chỉ là nguồn vui cho riêng mình mà còn mang hạnh phúc đến cho gia đình, cho xã hội nữa.

Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP

SỨC MẠNH CỦA LÒNG TIN
Mc 1, 40-45

Trong cuốn sách mang tựa đề "Gương kiên nhẫn", tác giả có nhắc đến tên của Helen Keller, một cô gái người Mỹ, lúc vừa được 19 tháng tuổi, đã bị một cơn đau màng óc và hậu quả là cô bé đã bị mù, và câm điếc hẳn. Thế giới của âm thanh và màu sắc đã khép hẳn cánh cửa lại với cô bé. 

Làm thế nào để truyền thụ kiến thức cho một người đã câm điếc lại còn mù lòa? Cha mẹ của cô bé dường như muốn bó tay. Nhưng có một cô giáo tên là Anna Sullivan đã không muốn bỏ cuộc. Hy vọng duy nhất mà cô giáo này còn đó là còn có thể truyền thông và liên lạc với cô gái mù lòa và câm điếc này qua việc tiếp xúc với bàn tay của cô. Chỉ có thể tiếp xúc với thế giới bằng đôi tay, nhưng Helen Keller đã có thể học xong Đại Học, tốt nghiệp Tiến sĩ và trở thành văn sĩ và là tác giả của nhiều cuốn sách nổi tiếng. 


Như thế, chỉ nhờ niềm tin vào khả năng của chính mình và tình yêu của cô giáo Anna Sullivan, cô Helen Keller tưởng chừng như một phế nhân, đã trở thành một trong những người thành công và nổi tiếng nhất thế giới. 


Vâng, với niềm tin, con người có thể làm được những điều tưởng chừng như không có thể. Chính nhờ niềm tin vào quyền năng của Thiên Chúa, người phong cùi trong bài Tin mừng hôm nay tưởng chừng như suốt đời sống trong căn bệnh đáng sợ nhất thời bấy giờ, đã trở nên lành sạch. 


1. Quan niệm về phong cùi của người Do thái:


Như tôi đã chia sẻ tuần trước, đối với người Do thái, bệnh tật chính là hình phạt của Thiên Chúa dành cho kẻ có tội. Vì thế, tội càng lớn thì bệnh càng nặng. Mà bệnh phong cùi là một trong những chứng bệnh nặng nề nhất thời bấy giờ. Do đó, những kẻ mắc bệnh phong cùi, coi như bị Thiên Chúa chúc dữ và xã hội loại bỏ. Họ không được tham dự nghi lễ trong hội đường. Họ là thành phần tội lỗi, phải sống thành từng nhóm nơi mồ mả, phải la lên "dơ, dơ" để mọi người tránh xa, như quy định của sách Lêvi mà chúng ta vừa nghe: "Ai mắc bệnh phòng cùi,... thì phải mặc áo rách, để đầu trần, lấy áo che miệng và la to rằng mình mắc bệnh truyền nhiễm và ô uế. Bao lâu người đó còn mắc bệnh phong cùi và ô uế, họ phải ở riêng một mình ngoài trại" (x. Lv 13, 45-46). Luật cũng cấm những tiếp xúc với người phong hủi. Người ta sẽ trở thành ô uế nếu đứng gần nói chuyện hay đụng chạm tới họ. Do đó số phận của người cùi vốn đã bị đau khổ do bệnh tật và sự thiếu thốn các nhu cầu vật chất tối thiểu, lại càng bất hạnh hơn về tinh thần do sự cô đơn và ruồng bỏ của anh chị em mình. Hiểu rõ hoàn cảnh ấy, chúng ta mới thấy hết được niềm tin mạnh mẽ của người phong cùi trong bài Tin mừng hôm nay. 


2. Niềm tin và lòng thương xót:


Lòng tin đó đã giúp anh vượt qua đám đông chắc chắn là đang xầm xì, xua đuổi anh. Chính lòng tin đó đã giúp anh cất tiếng van xin với Chúa Giêsu: "Nếu Ngài muốn, Ngài có thể khiến tôi nên sạch" (Mc. 1, 40). Anh đã nói: "Nếu Ngài muốn" chứ không nói: "Nếu Thầy có thể thì xin thương xót chúng tôi..." (Mc 9,22) như người cha của đứa con bị động kinh. Vâng, chỉ với ba chữ đơn giản "Nếu Ngài muốn", anh đã thể hiện sự tin tưởng và phó thác tuyệt đối của anh vào lòng thương xót của Đức Giêsu. Dù rất muốn khỏi bệnh, nhưng anh lại phó thác số phận mình cho ý Ngài muốn. Anh không ép buộc, nhưng để Đức Giêsu tự do chữa hay không tùy ý.Và lòng tin của anh đã gặp được lòng thương xót của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu. Tin mừng thuật lại: "Động lòng thương, Chúa Giêsu giơ tay đặt trên người ấy và nói: "Ta muốn, anh hãy khỏi bệnh" (Mc 1, 41). Lòng thương xót của Đức Giêsu đã khiến Ngài không ngần ngại chạm vào người anh cùi. Đây không phải là lòng thương hại, nhưng là một tình thương thật sự như tình thương của cha mẹ trước nỗi đau của con cái. Đức Giêsu thấy được nỗi đau của anh không chỉ là nỗi đau do bệnh tật nơi thân xác, nhưng sâu xa và lớn hơn đó là nỗi đau của sự bị ruồng bỏ, bị tách khỏi cộng đoàn. Đó còn là nỗi đau của một con người bị mọi người khinh rẻ, coi thường. 


Bởi đó, việc Đức Giêsu làm cho anh không chỉ là chữa cho anh lành bệnh, nhưng quan trọng hơn, Ngài giúp cho anh được hội nhập vào cộng đoàn, giúp cho anh có điều kiện sống đúng với nhân phẩm của một con người. Chính vì thế, sau khi đã làm cho anh lành bệnh, Đức Giêsu đã bảo anh: "hãy đi trình diện cùng trưởng tế và dâng của lễ theo luật Môisen để minh chứng mình đã được khỏi bệnh". Bởi vì như tôi đã nói trước, theo luật Do Thái, bệnh cùi là dấu chỉ của hình phạt. Do đó, để xác định một người có bệnh hay được khỏi bệnh phải do các tư tế công bố (x. Lv 13, 49; 14, 2-32). Đức Giêsu muốn anh trình diện với các tư tế, để anh thực sự được tham dự vào các sinh hoạt của cộng đoàn, nhất là các sinh hoạt tôn giáo. Lòng tin của anh cùi đã được lòng thương xót của Đức Giêsu đáp trả và kết quả có lẽ đạt vượt ngoài sự tưởng tượng của anh. Thánh Phanxicô Salêsiô nói: "Chúng ta sẽ an toàn vượt qua giông tố, bao lâu niềm tin của chúng ta còn gắn chặt vào Thiên Chúa". 


Lắng nghe lời Chúa hôm nay, và nhìn vào mẫu gương đức tin của người cùi, có lẽ mỗi người chúng ta cũng cần nhìn lại đời sống đức tin của mình. 


Giữa cơn cùng khốn nhất của cuộc sống, anh cùi đã đến xin Chúa chữa lành. Còn tôi và quý ông bà anh chị em, mỗi khi gặp khó khăn, trở ngại, chúng ta làm gì? Khi được hỏi tại sao lại bỏ xưng tội, rước lễ, nhiều người đã trả lời rằng vì bản thân đang gặp chuyện buồn, hay vì hoàn cảnh gia đình quá khó khăn. Điều này quả là sai lầm. Đáng lẽ càng gặp chuyện buồn, cuộc sống càng khó khăn, vất vả, chúng ta càng cần đến với Chúa, cụ thể là lãnh các bí tích nhiều hơn mới đúng. Bởi vì, đó là những lúc chúng ta cần ơn Chúa nâng đỡ nhiều nhất.


Mặt khác, khi đến với Chúa, anh cùi đã không yêu cầu Chúa làm theo ý anh ta, nhưng anh đã đặt trọn con người mình trong tay Thiên Chúa khi thưa với Đức Giêsu: "Nếu Ngài muốn". Còn tôi và quý ông bà anh chị em, chúng ta cầu nguyện như thế nào? Phải chăng lời cầu nguyện của chúng ta là một chuỗi những lời: "Xin Chúa cho con". Có lẽ vì thế, mà lời cầu nguyện của chúng ta ít được nhận lời. Thánh Giacôbê cũng đã nói về vấn đề cầu nguyện này như sau: "Anh em ao ước mà không được,... bởi vì anh em không cầu xin. Anh em cầu xin mà không lĩnh, vì anh em cầu xin bởi lòng xấu, để tiêu xài cho thoả dục tình của anh em" (Gc 4, 2-3). 


Do đó, chúng ta hãy bắt chước anh cùi, cầu xin với một lòng tin tưởng hoàn toàn vào tình yêu của Chúa: "Nếu Chúa muốn", nghĩa là luôn để cho ý Chúa được thực hiện, hay nói theo thánh Phaolô trong bài đọc hai: "Dầu anh em ăn, dầu anh em uống, dầu anh em làm việc gì khác, anh em hãy làm mọi sự cho sáng danh Chúa". 


Lạy Chúa, trong cơn đau khổ cùng quẫn của cuộc sống, xin giúp chúng con tin tưởng nơi Người, chỉ một mình Người thôi. Trong bóng đêm cô đơn trống vắng, bị bỏ rơi, xin giúp chúng con luôn cậy trông nơi Người; tất cả nơi Người. 


Xin cho chúng con luôn nhận ra quyền năng và tình yêu của Chúa trong cuộc đời chúng con. Xin thương chữa lành mọi bệnh tật xác hồn chúng con. Amen.

Lm Trần Thanh Sơn

PHỤC HỒI NHÂN PHẨM
Mc 1,40-45

PHỤC HỒI NHÂN PHẨM Bài Tin Mừng hôm nay tường thuật việc Chúa Giêsu chữa một người bị bệnh phong cùi được lành mạnh. Chúng ta nên biết rằng bệnh phong cùi vào thời Chúa Giêsu là một thứ bệnh mà người ta khiếp sợ, vì nó là một thứ bệnh truyền nhiễm, nên cần phải cô lập người bệnh và người bệnh phải lấy khăn che mặt và hô to để người khác không đến gần mình được, họ bị loại khỏi xã hội, bị giết chết trong tâm hồn và trong thể xác (x.Lv.13,14). Bệnh phong cùi bị coi như là một hình phạt của tội lỗi, thế nên khi được chữa khỏi người ta không gọi là chữa bệnh phong cùi mà gọi là được thanh tẩy. 

Việc xác định các trường hợp phong cùi thuộc quyền của các vị tư tế, vì họ là những người chuyên môn, hơn nữa bệnh này được là một thứ bị mắc nhơ và ai tiếp xúc với họ cũng bị mắc nhơ như vậy, cho nên đòi phải có sự thanh tẩy do vị tư tế cử hành một khi đã được khỏi bệnh. Khi một bệnh nhân khỏi bệnh, anh phải đi trình diện vị tư tế, vị này chứng thực và có lẽ xác nhận trên giấy, rồi sau đó mới đến nghi thức thanh tẩy, gồm một hy lễ đền tội và một hy lễ cầu an. 


Tuy nhiên, bệnh phong cùi đích thực được coi như là vô phương chữa chạy, chỉ có một mình Thiên Chúa mới có quyền năng giải thoát và ban cho một số ít các tiên tri như Moisen(Ds.12,9-14), Elisê ( 2V.5,9-14). Moisen được trao ban quyền ấy để cho người ta nhận biết ông là Đấng Thiên Chúa sai đến (Xh.4,6-8). Ở đây, Chúa Giêsu đã ban lại cho người bệnh tư cách làm người của anh ta và sai anh tới loan báo cho các tư tế đền thờ biết rằng, một thời gian mới đã bắt đầu. Quả là đối với Chúa Giêsu sự chữa lành người bệnh phong hôm nay phải được coi như biểu hiện : Đấng Messia đã tới (Mt.11,5). Vì thế, khi Chúa Giêsu bảo người bệnh phong đi trình diện tư tế là Chúa muốn cho anh ta phải tuân giữ lề luật, đồng thời Chúa gián tiếp giao cho anh một sứ mạng đến với các tư tế (Mc.5,19), đó là sứ mạng làm chứng cho Chúa Giêsu trước mặt các vị hữu trách rằng : sự chữa khỏi bệnh phong cùi là một dấu chỉ Thiên Sai.. Họ là những vị đai diện của Israel họ phải được thông báo về các dấu chỉ về Đấng Thiên Sai đã xuất hiện. 


Chúa Giêsu tôn trọng luật pháp, nhưng đàng khác Người cũng thăng hoa luật lệ, hiểu đúng luật lệ, làm chủ lề luật bằng cách đụng tới bệnh nhân để chữa lành, mặc dù Người có thể chỉ dùng lời. Tư cách chủ lề luật, chủ ngày Sabat hiện rõ ở đây (Mt.12,8) Người biểu lộ mình là Đấng thánh hóa, nên sự đụng chạm tới Người không làm cho Người bị dơ mà trái lại làm cho bệnh nhân được sạch. Việc chữa lành bệnh phong cùi chứng tỏ Chúa Giêsu có khả năng làm lại những gì mà tội lỗi đã gây ra đổ nát. 


Người bị bệnh phong được chữa lành vì anh có niềm tin, anh đặt tất cả niềm hi vọng vào Chúa, anh đã tiến tới xin Chúa, dẫu theo lề luật, anh không được phép làm như vậy. Trước hoàn cảnh đau khổ và niềm tin vững chắc, Chúa Giêsu đã làm một luật trừ là chữa anh khỏi mặc dù Chúa tuyên bố " Ta chỉ được sai đến cùng chiên lạc Israel", ngoài ra Marcô còn muốn nhấn mạnh đến lòng thương xót của Chúa đối với bệnh nhân " Người động lòng thương, và giơ tay đụng vào người ấy và nói...", lòng thương xót đã vượt lên trên. Dĩ nhiên những hành vi thương xót không phải là đối tượng chính của sứ mạng cứu thế, nhưng cho thấy khía cạnh rất nhân bản nơi con người Chúa Giêsu. 


Người cũng dạy chúng ta phải sẵn sàng giúp đỡ những kẻ cô thế cô thân, phải nâng đỡ họ, phải tìm cách giúp cho họ trở về đoàn, xây dựng lại nhân cách cho họ. Công việc này đòi hỏi chúng ta đôi khi phải linh động hóa một số qui luật thông thường. Cũng vậy tội lỗi làm chúng ta xa lìa Chúa, xa lìa Hội Thánh nhưng chính đương sự lại không nhận ra. Bệnh phong cùi thiêng kiêng độc hại hơn bệnh phong cùi phần xác, vì chúng ta không nhận ra mình đang sống trong tình trạng tuyệt giao với Chúa và Giáo Hội nên khó lòng được khỏi bệnh, trái lại bệnh càng ngày càng nặng hơn. 


Lạy Chúa, xin xót thương những người phong cùi đang sống trong đói khổ và cô đơn, cho họ gặp được những tâm hồn từ ái, biết yêu thương và trợ giúp họ. Cũng như cho mỗi người chúng con nhận ra tình trạng nhơ uế của bản thân, biết khiêm tốn và tin tưởng tìm đến với Chúa nơi Bí Tích Hòa Giải, để như người phong cùi hôm nay, chúng con được Chúa thanh tẩy hầu trở về sống hiệp nhất với Giáo Hội trong tình yêu và ân sủng Chúa.

Sr Mai An Linh OP

TÌM ĐẾN VÀ CHỮA LÀNH
Mc 1, 40 - 45

Trong cuộc sống nhân sinh, sinh - lão - bệnh - tử luôn là những thực tại hữu hình con người phải đối diện. Là con người, không ai có thể được miễn trừ. Chính vì thế, điều lo lắng của con người là khi đối diện với điều "không tránh khỏi" này, làm sao càng sớm, bao có thể, để thoát khỏi sự ràng buộc rất khó chịu này. Do đó, khi có cơ hội, đối tượng luôn tìm mọi cách, tìm mọi phương thế để tìm thầy, chạy thuốc hầu chữa trị những căn bệnh hiểm nghèo. Người mắc bệnh phong trong Tin mừng hôm nay cũng vậy. Anh ta tìm đến với Chúa Giêsu và được Người chữa lành. 

Chúng ta biết phong cùi là một trong những chứng bệnh nan y nguy hiểm. Bên cạnh sự đau đớn về thể xác, bệnh nhân còn chịu sự hắt hủi, khinh miệt từ phía cộng đồng. Thật thế, chiếu theo luật, bệnh nhân một khi được chứng thực đã mắc phải căn bệnh kinh khủng này, lập tức bị cách ly khỏi cộng đồng dân cư. Họ phải ăn mặc rách rưới, tóc tai để bù xù và khi thấy người nào tiến về phía mình, họ lập tức phải la lên "ô uế, ô uế" để tránh nhiễm ô uế cho người đó. Thời Chúa Giêsu, mấy ông tư tế còn "vẽ rắn thêm chân", khiến cho bệnh nhân càng bị cộng đồng khinh miệt cách thậm tệ. Mấy đấng lý luận rằng, bệnh nhân không chỉ mất hết các mối quan hệ với Giavê Thiên Chúa mà còn là cách thế Người dùng để trừng phạt họ vì bảy mối tội đầu như vu khống, giết người, làm chứng gian, ham truỵ lạc, kiêu căng, trộm cắp và tham lam.


Về nguyên tắc, bệnh nhân phong không được đến gặp trực tiếp bất cứ ai, vì như thế sẽ làm họ ô uế. Thế nhưng Tin mừng hôm nay cho thấy, bệnh nhân bất chấp luật lệ, anh đến tìm gặp người mà anh biết sẽ giúp anh thoát khỏi sự đau đớn cũng như sự khinh bỉ do lề luật đặt ra. "Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch". Và anh đã được toại nguyện. Cũng theo nguyên tắc, không ai đến gần bệnh nhân phong mà không bị mắc tội ô uế, cần phải qua thanh tẩy mới có thể tái gia nhập cộng đoàn. Chúa Giêsu, hơn ai hết, hiểu rõ điều đó. Nhưng Người đã vượt xa lề luật khi giơ tay chạm vào bệnh nhân, giúp cho anh lành bệnh. "Tôi muốn, anh sạch đi". Chúa Giêsu đã giúp anh thoát khỏi căn bệnh hiểm nghèo, dẫn đưa anh tái hoà nhập cộng đoàn. Như thế, với Chúa Giêsu, chẳng ai bị ô uế cả. Những bệnh nhân phong - những con người bị đặt ra ngoài lề xã hội, là những người đáng thương, vì thế, cần phải giúp đưa họ tái hội nhập, trả cho họ quyền được sinh hoạt với cộng đồng.


Đứng trước bệnh nhân đang đau khổ, Chúa Giêsu đã vượt qua mọi trở ngại của lề luật, Người không ngần ngại chạm đến thân thể lở loét hôi thối của bệnh nhân để yêu thương chăm sóc họ. Bởi sứ mạng của Chúa Giêsu đến trần gian là để chữa lành con người cả về thể xác lẫn tâm hồn. Đây là điểm khác biệt giữa giáo huấn của Chúa Giêsu với giáo huấn truyền thống mà Người từng hấp thụ trong Dothái giáo. Khi đối xử với những người cùng khổ trong xã hội như thế, Chúa Giêsu đã để lại cho nhân loại một tấm gương về lòng nhân bản tuyệt vời. Để rồi từ đây, các môn đệ, các thế hệ Kytô hữu tiếp nối truyền thống nhân bản này để ra đi chăm lo cho những người đau khổ nghèo hèn- đặc biệt những người bị xã hội bỏ rơi, sống vất vưỡng không nơi nương tựa, dẫn đưa họ hoà nhập vào cộng đồng, "bắt" xã hội phải tôn trọng phẩm giá nhân vị của họ. 


Lời Chúa hôm nay giúp mỗi người chúng ta phản tỉnh về thái độ ứng xử của chúng ta đối với những anh em đồng loại đang gặp những khổ đau về thể xác cũng như tinh thần. Chúa Giêsu khi đối diện với những thực tại này của nhân loại, Người đã không ngoảnh mặt làm ngơ; trái lại, Người đã không ngừng yêu thương, cứu chữa họ, giúp họ sống xứng đáng với nhân phẩm mà họ đáng được hưởng. Còn chúng ta thì sao ? Rất mong cần một đáp trả từ chính lương tâm mỗi người.

Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb

HÃY ĐEM ĐẾN CHO XÃ HỘI CHÚT TÌNH NGƯỜI
Mc 1,40-45

Một trong những nhu cầu cơ bản nhất của con người, đó là tính hợp quần, tính đoàn thể : Bất cứ con người nào cũng đều mang trong mình nhu cầu muốn được giao lưu với người khác, muốn được thuộc về một gia đình, muốn được thuộc về một đoàn thể hay một cộng đồng. 

Vì thế, sự đau khổ lớn nhất của một bệnh nhân phong cùi không chỉ là bệnh tật đang ngày đêm gặm mòn cơ thể anh, nhưng trước hết là sự ghê tởm và xa tránh của đồng loại, là sự bị cô lập khỏi xã hội loài người. Anh không còn được sống trong gia đình, không còn được tiếp xúc với người khõe mạnh hay không còn được sống chung trong làng xóm với người khác, nhưng phải sống ở một nơi biệt lập hẳn với người khác, ở trong những túp lều hay trong những hang động xa xôi hẻo lánh. Vì sợ lây bệnh, nên không một ai dám bắt tay hay động vào người anh. Ðó thật là một bản án vô cùng nặng nề, là cả một cực hình khủng khiếp nhất mà con người phải gánh chịu. Vì thế, trong một cuốn tiểu thuyết nổi danh tựa đề là « La Peste » - Bệnh Dịch, Albert Camus đã trình bày rất ấn tượng về tình trạng của người bị mắc bệnh dịch : phải sống ra sao, bị đối xử như thế nào, v.v... Nhất là ông đã làm cho người đọc hiểu được sự tác động của bệnh dịch trên tâm trạng và trên cả cuộc sống người bệnh trầm trọng như thế nào ! 


Ngày nay bệnh phonh cùi hay bệnh hủi không còn mang tính cách nghiêm trọng nữa, vì nó có thể chữa lành. Một thứ bệnh khủng khiếp từng tiêu hủy bao nhiêu triệu nhân mạng trong hằng thế kỷ qua đã hoàn toàn bị chận đứng. Ðó thật là một niềm vui quá to lớn, là một ơn lành vô cùng trọng đại cho toàn thể nhân loại. Con người có thể thở phào nhẹ nhõm và sống tin tưởng lạc quan hơn. 


Thế nhưng ngày nay, một loại vi khuẩn của bệnh « phong cùi » kiểu mới đã tái xuất hiện dưới những dạng thức và danh xưng hoàn toàn khác hẳn, đang tác hại trên nhân loại và đã biến bao nhiêu người thành « người hủi thời đại ». Dĩ nhiên, ở đây tôi không muốn chỉ đề cập tới những bệnh nhân bị nhiễm vi trùng Xi-đa, HIV hay những người nghiện xì ke ma túy, nhưng cả những người bị tàn tật đang phải sống nhờ vào sự bố thí của xã hội, những người vô gia cư đang lang thang đầu đường xó chợ hay những tội phạm và thân nhân của họ, v.v.... 


Có lẽ con người trong bất cứ thời đại hay trong bất cứ xã hội nào cũng phải mang ơn những người bệnh phong cùi, những người đang bị đẩy ra ngoài lề xã hội, bởi vì nhờ họ bệnh mà chúng ta mới biết được rằng mình còn có quá nhiều may mắn và hạnh phúc là không bị nhiễm những thứ vi trùng của những căn bệnh độc hãi đó. Và cũng nhờ vậy mà chưa bị xã hội cô lập, tẩy chay, chưa bị đẩy ra ngoài lệ xã hội. 


Tuy nhiên, ai tự quá đề cao mình, cho mình là quan trọng, là « cái rốn » của vũ trụ, người đó đương nhiên coi kẻ khác là đối thủ nguy hiểm của mình và không thể chấp nhận cùng cho đứng trên một chiến tuyến với mình đươc, nhưng tìm cách gạt bỏ ra ngoài lề xã hội. Vâng, theo tâm lý, khi thấy có ai đó có lối sống khác với chúng ta, tư duy khác với chúng ta, có tư tuởng chính trị khác với chúng ta hay giao lưu với những người chúng ta không quen biết,nhất là với những người chúng ta không ưa, v.v... tự nhiên chúng ta cảm thấy anh ta là người xa lạ, cảm thấy mình đang bị đe dọa và rôi tìm cách xa lánh, cô lập anh ta và tìm cách đẩy anh ta ra ngoài lề : Loại người này không thể chấp nhận được, y không thuộc về quỉ đạo của chúng tôi. Tiếp đế, vì không ưa nên đổ thừa cho bỏ ghét, cốt tìm cách loại trừ cho bằng được loại đối tượng mà chúng ta không ưa như thế ! 


Trong khi đó, Ðức Kitô, Ðấng mà chúng ta được mang trên mình tên gọi của Người - Kitô hữu - lại có quan điểm và cách cư xử hoàn toàn khác hẳn. Ðối với Người, trước hết tất cả mọi người đều là con cái Thiên Chúa, được Thiên Chúa dựng nên, được Thiên Chúa vô cùng yêu thương và đã được Người kêu mời hưởng ơn cứu rỗi. Ðức Giêsu không chỉ dạy cho con người biết rằng họ đều là anh chị em với nhau, bởi vì họ có một Cha chung trên Trời, nhưng chính Người đã sống như thế. Sự cố Ðức Giêsu chữa lành người bệnh cùi được tường thuật lại trong bài Phúc Âm của Chúa Nhật hôm nay là một ví dụ điển hình về thái độ và cách xử sự đầy nhân bản của Ðức Giêsu. 


Trước hết, một cuộc sống như người bị bệnh phong này đang sống, kể như là không còn sống nữa, sống mà cũng như đã chết. Ðó là cái chết về mặt tinh thần, cái chết « xã hội, trước khi chết thực sự về mặt y khoa. Do đó Ðức Giêsu đã thương cho số phận của anh ta nên đã giơ tay ra và nói với người bệnh đáng thương đang đứng trước mặt mình : « Tôi muốn cho anh nên sạch và khỏi bệnh !» Vâng, tình thương của Ðức Giêsu đối với loài người chúng ta không chỉ bằng lời nói suông, không chỉ bằng tâm tình thông cảm và an ủi lý thuyết, nhưng bằng chính việc làm cụ thể, bằng sự dấn thân trọn vẹn. 


Bởi vậy, chúng ta cần phải thành thực tự hỏi lòng mình : 

- Làm thế nào để những người mắc phải những thứ bệnh khủng khiếp như phong hủi hay Xi-đa - xưa kia cũng như ngày nay - có thể tin tưởng được rằng họ vẫn được chấp nhận, khi chính họ lại không cảm nghiệm được điều đó trong đời sống hằng ngày ?

- Làm thế nào để cho vợ con và thân nhân của của những người phạm pháp còn tin tưởng vào sự thiện hảo và lòng tốt của đồng loại được, khi họ đang bị người láng giềng lối xóm nghi kỵ, tránh né và cô lập ?

- Làm thế nào để những người vợ/chồng ly dị nhau và nay lại lập gia đình với người khác, còn tin tưởng vào lòng thương xót và khoan dung vô bờ của Thiên Chúa, khi họ bị chính nghững người Kitô hữu khác đối xử một cách bất khoan dung với họ, xua đuổi họ, nhất là tẩy chay không cho họ được lãnh nhận các Phép Bí Tích ?

- Làm thế nào để một người luôn bị thất bại trong cuộc đời, luôn chỉ gặp đau khổ và cảm thấy mình bỏ rơi, còn có thể sống lạc quan và tin tưởng vào hạnh phúc được, khi không có lấy một người còn biết thông cảm và chia sẻ số phận hẩm hiu của anh ta, cùng đồng hành và động viên anh ta, giơ tay mắn chặt tay anh ta và thăm hỏi thân tình ?

Chắc chắn rằng xã hội chúng ta, Giáo Hội chúng ta cũng như mỗi người Kitô hữu chúng ta sẽ không bị mất mát hay thiệt hại gì cả, nếu chúng ta biết gạt bỏ những định kiến và cố gắng đem đến cho cuộc sống xã hội thêm chút tình người, thêm chút tình nhân bản nữa, một chút nữa thôi ! Nếu được như thế, bài Tin Mừng về biến cố Ðức Giêsu chữa lành người phong cùi trong Chúa Nhật hôm nay khi được đọc trong tất cả các nhà thờ trên toàn thế giới sẽ không trở thành uổng công vô ích ! Nếu được như thế, phép lạ Ðức Giêsu đã làm để chữa lành bệnh xưa sẽ còn được tái diễn mãi, ít là được « lành bệnh » về mặt tinh thần, và giải cứu « người bị bệnh phong » ra khỏi chốn ngục tù sự chết và đem anh ta trở lại cuộc sống mới trong tin tưởng và an hòa.

LM Nguyễn Hữu Thy (Nguồn vietcatholic.org)

1347    10-02-2012 10:18:07