Sidebar

Thứ Năm
13.06.2024

Chúa Nhật XIX Thường Niên A năm 2014

  1. Thầy Đây, Đừng Sợ
  2. Xin Cứu Con
  3. Thầy Đây Mà! Đừng Sợ!
  4. Lạy Chúa, Ngài Là Nơi Con Nương Ẩn
  5. Sức Mạnh Của Đức Tin
  6. Chúa Cần Lòng Tin
  7. Hãy Vững Tin Vào Chúa
  8. Chúa Nhật 19 Mùa Thường Niên
  9. Hình Ảnh Về Một Thiên Chúa
  10. Chúa Nhật XIX Mùa Thường Niên
  11. Chúa Nhật Thứ XIX Mùa Thường Niên
  12. Thầy Đây, Đừng Sợ!
  13. Khi Hành Trình Đức Tin Có Sóng Gió
  14. Chúa Giêsu Quyền Phép
  15. Tại Sao Phêrô Bị Chìm
  16. Thầy Ơi! Cứu Con....
  17. Đức Kitô, Đấng Ban Bình An
  18. Đi Trên Mặt Biển
  19. Có Dừng Chân Nhưng Không Dừng Lại
  20. Con Đường Của Chúa
  21. Lạy Thầy! Xin Thêm Lòng Tin Cho Chúng Con
  22. Đã Tin Và Chưa Tin
  23. Đi Trên Mặt Biển
  24. Hãy An Tâm Vì Luôn Có Chúa
  25. Uy Quyền
  26. Đừng Sợ! Thầy Đây Mà!
  27. Lưỡi Dao Cạo

 

THẦY ĐÂY, ĐỪNG SỢ
Mt 14, 22 - 33

Sau phục sinh, Chúa Giêsu hứa ở lại với các môn đệ cho đến ngày tận thế. Ngài đã thực hiện lời hứa đó trong Hội thánh, trong Bí tích Thánh thể để ở với từng người chúng ta cách đặc biệt và luôn nâng đỡ chở che cho chúng ta mọi nơi mọi lúc trong cuộc sống của mỗi người chúng ta.

Trong đức tin, chúng ta được gặp gỡ Chúa và nhận được sự trợ giúp của Ngài. Xưa kia thánh Phêrô và các Tông đồ trong đêm tối chống chọi với sóng gió, họ sợ hãi vì không cảm thấy Chúa đang ở với mình. Ngay khi Chúa xuất hiện và tiến đến gần, họ cũng không nhận ra vì lòng còn bối rối. Thế nhưng, Chúa Giêsu không muốn các Tông đồ phải sợ hãi quá nhiều. Ngài đã lên tiếng xoá tan nỗi hoảng hốt của các ông: "Hãy yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!" Phêrô là người đầu tiên đáp lại lời Thầy nói, ông tỏ niềm tin vào Đức Giêsu và không còn sợ hãi những cơn sóng to gió lớn còn đang bạt vào thuyền: “Thưa Ngài, nếu quả là Ngài, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài” (Mt 14,28). Trước niềm tin và sự hăng hái của Phêrô, Đức Giêsu đã ban cho ông đặc ân đi trên mặt biển. Tuy nhiên, khi đối diện với thực tế vượt quá sức phàm nhân, Phêrô bắt đầu sợ hãi, không ý thức vững vàng vào sự trợ giúp của Thầy. Chính lúc đó, thân phận phàm nhân của ông đã theo quy luật tự nhiên bắt đầu chìm xuống nước. Nhưng Phêrô đã biết kịp thời nài xin Chúa cứu giúp cho lòng tin còn non kém của ông. Lòng tin đó chỉ vững vàng sau ngày Chúa Phục sinh. Tuy nhiên, sau sự kiện đó, lòng tin của các môn đệ dần dần tiến triển và hiểu rằng Đức Giêsu là Mêssia Thiên Chúa đã hứa ban cho nhân loại.

Ngày nay, nhiều lúc chúng ta cũng gặp những trường hợp giống như Phêrô, có những lúc cuộc đời gặp gian nan sóng gió, chúng ta hay quên rằng Chúa vẫn yêu thương và sẵn sàng trợ sức cho chúng ta, chúng ta dễ lo lắng, không nhận ra Chúa đang tiến lại gần chúng ta, không nhận ra Chúa đang nhắn nhủ hay nhắc nhở chúng ta. Thường khi, lúc gặp hoạn nạn chúng ta hay phiền trách người xung quanh không giúp đỡ, nhưng khi Chúa cho cuộc sống khá lên, chúng ta lại quên giúp đỡ những anh em kém may mắn hơn mình về vật chất và tinh thần. Thật ra, nhiều lúc Chúa cũng để cho chúng ta gặp khó khăn để thanh luyện chúng ta. Xưa kia, Chúa Cha cũng để cho Con mình gặp khó khăn vất vả đến chết vì muốn cứu độ chúng ta, Ngài đã vui lòng đón nhận những hình phạt mà loài người chịu trên Thánh giá. Chúa Giêsu tỏ cho các môn đệ biết Ngài là Mêssia đau khổ đến cứu loài người khỏi nô lệ tội lỗi chứ không phải một vị vua trần thế đem lại lợi lộc vật chất theo ý loài người! Nếu chúng ta thật lòng yêu mến Chúa thì chúng sẽ đón nhận tất cả những gì Chúa gởi đến, dù là thánh giá hay hoa hồng, miễn là trong đó có dấu hiệu tình yêu của Chúa đối với chúng ta.

Chúa đến để nâng cao đời sống tinh thần, cho chúng con thoát khỏi sự lệ thuộc vật chất chóng qua chóng tàn này và hướng về sự thật vững bền. Đời này là đời tạm. Chúng ta không bỏ những bổn phận đời này nhưng biết hoàn thành bổn phận cho thật tốt : bổn phận kính Chúa và phục vụ anh em trong tình bác ái để xứng đáng nhận phần thưởng của Chúa trao, được kết hợp với Chúa và nên con Chúa đời đời trên Thiên đàng hạnh phúc.

Chúng ta hãy mạnh dạn xin Chúa cho mình vượt qua những khó khăn sóng gió cuộc đời như thánh Phêrô hôm nay. Những lúc gặp khó khăn như Phêrô đang bước đi trên mặt biển là lúc chúng ta kiểm chứng được niềm tin của mình: Chúng ta còn hoài nghi tình yêu của Chúa hay đã vững tin, chúng ta có thật là chứng nhân của Chúa chưa hay hoài nghi khi gặp thử thách gian nan? Chúng ta có mạnh dạn chèo thuyền để vượt qua những khó khăn hay buông xuôi và đổ thừa Chúa không giúp sức!

Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến trợ giúp niềm tin yếu kém của chúng con. Xin cho chúng con ngày một trưởng thành trong đời sống đức tin, ý thức nhiệm vụ và bổn phận cải thiện cuộc đời mình, gia đình mình, xã hội mình đang sống theo sự hướng dẫn của Chúa trong Kinh thánh, qua Giáo huấn của Giáo hội, theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần trong lương tâm của mình.

XIN CỨU CON
Mt 14, 22 - 33

Đời người từ khi sinh ra cho đến khi kết thúc cuộc đời là một chuỗi dài của những tiếng kêu: kêu xin, kêu cầu, kêu cứu, kêu gọi . . . tiếng kêu ấy được biểu lộ với nhiều hình thức khác nhau: kêu khóc, than thở, nhờ vả, sợ hãi . . . điều này muốn nói lên rằng: con người không thể tự lo cho mình, không thể tự cứu lấy mình. Vì thế, con người cần phải sống liên đới với nhau, nhất là phải biết hướng lòng mình lên một Đấng siêu vượt trên mình để làm chỗ dựa vững chắc cho cuộc đời của mình và đảm bảo cho cùng đích của mình.

Trong đời sống tôn giáo, khi con người biết mở miệng kêu xin lên Đấng mình tôn kính thì có nghĩa là họ đã có đức tin và đã biểu lộ đức tin của mình. Nhưng bất hạnh thay cho những ai kêu xin với Đấng mà mình không biết và không yêu mến.

Người Kitô hữu là người có Chúa Kitô trong mình và tin tưởng vào Chúa Kitô cũng như tin tưởng vào Thiên Chúa mà Đức Kitô đã mạc khải. Chúng ta cần nhận ra sự thật căn bản này là: Thiên Chúa là Đấng tạo hóa, là Đấng dựng nên muôn loài và nuôi sống chúng, trong đó có chúng ta; còn chúng ta là tạo vật của Ngài. Chúng ta cần đến Ngài để được thương yêu và chăm sóc. Vũ trụ này là một bản trường ca tình yêu được viết lên nhằm thông truyền rằng: Thiên Chúa là tình yêu. Ngài yêu thương mọi loài nói chung và yêu thương con người nói riêng.

Hãy kêu cầu Chúa trong mọi nơi mọi lúc. Đừng ngại mở lời kêu xin Ngài. Không phải Thiên Chúa không thấy trước những nhu cầu của chúng ta, nhưng Thiên Chúa muốn chúng ta tự do bày tỏ tấm lòng của mình với Ngài. Nếu Thiên Chúa chỉ ban cho con người những gì họ kêu xin mà thôi, thì có lẽ rất nhiều người của chúng ta đã ra tro bụi lâu rồi. Bởi lẽ, những gì là căn cốt làm nên sự sống cho con người và vũ trụ đã được Thiên Chúa ban cho và gìn giữ liên tục. Có nhiều điều con người đã không hề thấy để xin nhưng Chúa vẫn ban cho vì chúng cần cho sự sống của con người. Còn những điều khác, Chúa muốn con người kêu cầu lên Chúa với mục đích duy nhất là biểu lộ sự gần gũi, thân tình và gắn bó giữa con người với Thiên Chúa, cũng như biểu lộ sự tín thác trọn vẹn của con người vào Thiên Chúa. “Ta muốn tình thương chứ không phải hy hy lễ”. Quên kêu cầu Chúa và quên tạ ơn Ngài là thái độ vô tâm, vô ơn nhất của con người.

Khi thấy Chúa Giêsu đi trên mặt biển mà đến với mình, các môn đệ hốt hoảng la lên. Đó là một tiếng kêu trong cơn bối rối và Chúa Giêsu đã đáp lời họ ngay “cứ yên tâm, Thầy đây, đừng sợ”. Rồi khi thấy mình sắp chìm xuống biển sâu, Phêrô lại kêu la: “Thưa Thầy, xin cứu con”, và Chúa Giêsu đã đáp lời ông. Nếu ngày xưa, Chúa Giêsu đã ở gần các môn đệ thế nào, thì ngày nay, Ngài cũng ở kề bên chúng ta và cứu giúp chúng ta y như vậy. Có khác chăng là cách thức Ngài hiện diện với ta mà thôi. Chúng ta đừng dùng lối suy nghĩ của con người để suy đón về sự hiện diện của Thiên Chúa.

Trong bài đọc 1, tiên tri Êlia cảm thấy hết sức buồn bã và đau khổ khi ông quyết tâm chống lại việc thờ ngẫu tượng mà bị nữ hoàng Dezebel tìm sát hại ông. ông đã chạy trốn vào sa mạc và trú ẩn trong một cái hang. Con người đau khổ ấy đã kêu xin Chúa và cầu mong cho mình được chết đi. Nhưng chính trong hoàn cảnh đó, ông đã cảm nghiệm được sự hiện diện của Thiên Chúa. Chúa luôn ở gần bên ông để giúp sức cho ông và cứu thoát ông. Cũng chính khi đó, ông khám quá ra rằng: đường lối của Thiên Chúa không giống với đường lối của con người. Thiên Chúa đến với ông trong một cơn gió nhẹ chứ không đến với ông trong cơn giông bão hay động đất kinh hoàng như ông nghĩ tưởng. Khi Chúa đến với ông thì ông tìm được sức mạnh để tiếp tục hành trình của mình.

Cuộc đời của người Kitô hữu chúng ta chắc chắn cũng có những khoảnh khắc đau buồn và chán nản khi hết lòng sống cho niềm tin mà mình đã lãnh nhận nhưng lại bị người đời chống đối, bắt bớ và vu khống. Chúng ta hãy vững tin vào Chúa và không ngừng kêu cầu Ngài. Chính Ngài đang ở kề bên chúng ta và sẽ giải thoát chúng ta. Vì thế, ta đừng để mình lạc mất lòng tin nhưng hãy thành tâm kêu cầu Chúa.

Có người đến hỏi vị linh mục:

“Thưa cha, có nhiều lần con cầu nguyện với Chúa, nhưng sao con cảm thấy chán nản và thất vọng quá. Lời cầu của con không được Chúa đáp lại. Hơn nữa, những biến cố không may lại cứ dồn dập đến với con. Hầu như con không thấy Chúa can thiệp vào những sự kiện này cho con. Đôi lúc, con thấy Chúa ở thật xa. Thậm chí con còn thấy nghi ngờ sự hiện diện của Chúa nữa”.

Vị linh mục lắng nghe và nhỏ nhẹ: “Này con, cha hằng cảm nhận rằng Chúa luôn ở với chúng ta. Nhưng vì con chưa thật sự phó thác vào Chúa, chưa kiên trì trong việc cầu nguyện và chờ đợi Chúa ban ơn; chưa kiên trì để khám phá ra ý Chúa trong cuộc sống của con. Vì con chỉ muốn nhìn thấy những thành quả ấy trước mắt con ngay mà lại không muốn chấp nhận thử thách trong đời sống của con. Con hãy kiên nhẫn và chờ đợi Chúa”.

Rất nhiều người trong chúng ta cũng có những tâm trạng tương tự như thế trong cuộc sống của mình. Nhưng chúng ta hãy xác tín một điều là Chúa đang ở bên cạnh ta và không hề bỏ quên một lời kêu xin nào của chúng ta. Những gì Chúa chưa ban cho ta là vì chúng chưa cần thiết hoặc nguy hại cho đời sống đức tin của chúng ta mà thôi. Nhưng chắc chắn một điều là “Chúa sẽ kiếp giải oan cho những ai thành tâm tìm đến với Ngài”.

THẦY ĐÂY MÀ! ĐỪNG SỢ!
Mt 14, 22 - 33

Đức Piô thứ IX, khi vừa mới lên ngôi Giáo hoàng, có một anh họa sĩ trẻ mới học nghề, anh ta muốn được nổi tiếng và vừa để kiếm tiền, anh họa hình Đức Tân Giáo hoàng. Hình họa không giống, không đẹp lắm! Anh đem bức họa vào để xin Đức Piô 9 ký tên bên dưới. Đức Piô 9, vẫn vui vẻ nhận lời. Bên trên chữ ký, ngài ghi lại câu Phúc âm này, Matthêu 14, 27: “Cứ bình tỉnh, Cha đây, đừng sợ.” Ý Đức Thánh Cha cũng hơi hài hước. Ngài muốn nói: hình họa vừa xấu vừa không giống nữa… Nhưng anh chàng họa sĩ xem ra không hiểu, vẫn đem bức họa in ra và đi bán… Kính mời anh chị em cùng suy niệm câu chuyện Chúa Giêsu đi trên mặt nước và lời nói của Chúa, chúng ta vừa nêu ở trên…

a/. Nguồn gốc câu chuyện phép lạ Chúa đi trên mặt biển: Câu chuyện phép lạ hóa bánh ra nhiều cho hơn 5000 người ăn no nê, chúng ta nghe trong tuần trước. Câu chuyện này xảy ra, vị trí ở phía bên kia bờ biển hồ Tibêriađê; tức là phía bên hoang địa; bên này bờ hồ là thành Capharnaum. Như vậy Chúa giảng dạy rồi hóa bánh ra nhiều cho họ ăn là ở phía bờ bên hoang địa. Ăn xong trời muốn tối; dân chúng lại muốn tôn Chúa Giêsu lên làm vua. Người không đồng ý, nên bảo các môn đệ xuống thuyền mau về bên kia bờ là Capharnaum; còn Chúa, Người lại lên núi một mình. Canh tư đêm đó, lối quá nửa đêm, Chúa Giêsu đi trên mặt nước, đi đến thuyền của các ông. Khi Chúa đi gần tới họ tưởng là ma nên la hoảng lên. Chúa Giêsu đã trấn an họ: “Bình tĩnh, Thầy đây, đừng sợ.”

b/. Qua câu chuyện này Chúa muốn dạy chúng ta điều gì ?

Trên đời này, nếu không có niềm tin, con người sợ nhiều thứ lắm: sợ chết – sợ bệnh tật – sợ bị thua kém – sợ người khác (sợ ma, quỉ)… Con người sợ những thứ đó, cũng phải thôi, vì trong vũ trụ này, thực ra con người là một tạo vật xem ra khá bé nhỏ. Bài tin mừng của chúa nhật hôm nay, Chúa Giêsu lại dạy mỗi người kitô hữu chúng ta: “đừng sợ”, đừng sợ những kẻ chỉ giết được thân xác, nhưng không giết được linh hồn…chỉ sợ Đấng đã giết rồi, lại còn ném vào hỏa ngục nữa (Lc 12, 4 - 5) – đừng lo cho mạng sống, lấy gì mà ăn, lấy gì mà mặc (Lc 12, 22) – Tóc trên đầu anh em đã được đếm cả rồi (Lc 12, 7). Con người lo sợ cũng phải, vì con người thấy mình thua kém, và không có chổ nương tựa. Ở đây Chúa dạy: “đừng sợ” , nhất là “hãy tin cậy nơi Chúa”

c/. Câu chuyện sau đây, minh chứng cho lòng tin mến vững vàng, không sợ hãi, của một người cùi, lại mù lòa nữa. Chị Vêrônica, một người Pháp, vào năm 1979, chị đã ngoài 58 tuổi. 55 năm mắc bịnh cùi, 20 năm bị mù lòa, chị vẫn làm việc trong một xí nghiệp sản xuất đồ dùng của người cùi tại nước Cameruon, châu Phi. Trong tập nhật ký của chị có ghi một lời kinh đầy niềm tin, không sợ hải như sau:

“Lạy Chúa, Chúa đã đến và đã xin con tất cả. Phần con, con cũng hiến dâng cho Chúa tất cả. Xưa kia, con thích đọc sách, rồi Chúa muốn mượn đôi mắt của con. T rước đây con thích chạy nhảy trong khu rừng thưa, và Chúa đã mượn đôi chân của con... Mỗi khi xuân về, con tung tăng hái những cánh hoa tươi, và Chúa lại xin đôi tay của con…

Con là một phụ nữ, con ưa ngắm nhìn suối tóc óng ả của con, ưa ngắm nhìn những ngón tay thon nuột xinh xắn của con. Thế mà giờ đây, đầu con hầu như chẳng còn một sợi tóc nào! Cũng chẳng còn đâu những ngón tay hồng xinh xinh nữa! Chỉ còn lại vài que củi… khô queo nhám nhúa…!

Chúa ơi, Chúa hãy nhìn xem thân thể kiều diễm của con đã bị hủy hoại đến độ nào rồi… Thế nhưng con không hề muốn nổi loạn, con lại muốn dâng lên Chúa lời tạ ơn…Vâng lạy Chúa, muôn đời con sẽ xin thưa hai chữ tạ ơn…Bởi vì nếu đêm nay, Chúa truyền cho con phải vĩnh biệt cỏi thế, con cũng sẽ chẳng hối tiếc điều gì. Đời con đã đầy tràn hồng ân kỳ diệu: đó là vì con được đắm mình trong Tình Yêu vô bờ của Chúa…Lạy Chúa là Cha của con, Cha đã đối xử tốt với bé gái Vêrônica của Cha…Chiều nay, con xin dâng lên lời nguyện thiết tha, cho tất cả mọi người cùi trên mặt đất. Xin Cha thương đặc biệt đến những người cùi tâm hồn, đang đè bẹp hủy hoại họ. Chiều nay, trong âm thầm con xin tận hiến đời con cho họ, vì họ cũng là anh chị em của con…

Con là bé gái thân thương của Cha. Cha ơi, hãy nắm lấy bàn tay đã tàn phế của con để dẫn con đi, như người mẹ hiền dắt tay đứa con gái cưng của mình. Hãy nhận chìm con, sâu xuống tận đáy trái tim Cha, cho con được ở đó với mọi người thân yêu của con, bây giờ và cho đến mãi muôn đời. Amen…”

Chúng ta vừa nghe một lời kinh tràn đầy niềm tin yêu, không hề sợ hải, như chính những gì Chúa Giêsu muốn dạy qua bài TM chúa nhật hôm nay. Rõ ràng đây là một lời kinh nói lên chân lý: Tình yêu mạnh hơn sự chết…

c/. Gợi ý sống và chia sẻ: Qua bài Tin mừng này, Chúa Giêsu dạy chúng ta: hãy tin vững vàng nơi Chúa mà không sợ hải. Là người kitô hữu, ta có đủ tin vào lời Chúa không? Câu chuyện của Chị Vêrônica ta vừa nghe, có đánh động ta không? Ta có muốn cầu xin Chúa cho ta biết sống niềm tin vững vàng, không sợ hải trước mọi thử thách, khổ đau trong cuộc sống không?

LẠY CHÚA, NGÀI LÀ NƠI CON NƯƠNG ẨN
Mt 14, 22 - 33

Anh chị em có dịp nhìn một đứa trẻ nhỏ ung dung bước đi trên đường, nó bước đi rất nhanh mà không cần nhìn hay quan sát chung quanh. Những bước chân của nó hết sức tự tin. Dẫu cho con đường có gồ ghề hay đầy những vũng nước, nó cũng không lo sợ gì hết. Nó vẫn bước đi và vẫn an toàn. Nhìn kỹ lại, thì ra những bước chân của nó vẫn bước, nhưng còn có đôi tay của người cha luôn bảo vệ cho nó. Đứa bé đã hoàn toàn tin tưởng nơi cha mình, nên nó không lo sợ gì trên bước đường nó đi qua vì nó được bảo vệ thật sự. Có những lúc nó không cần phải bước nữa vì nó đã mệt, những lúc đó nó cũng được an toàn trên đôi tay của người cha, hơn nữa nó còn được người cha ôm vào lòng. Chính vì biết đặt trọn niềm tin vào cha mình nên đứa bé không còn lo âu sợ sệt điều gì nữa. Niềm tin của nó được đền đáp xứng đáng.

“Lạy Thầy xin xứu con”.

Lời kêu cứu của Phêrô khi thấy mình sắp bị những cơn sóng biển nhận chìm. Phêrô đã được cứu và được an toàn, nhưng ông phải nhận lời quở trách: “Kẻ hèn tin, sao mà nghi ngờ”.

Phêrô và các Tông Đồ xuống thuyền vượt biển trong đêm tối. Đối với các ông đây là những công việc hết sức bình thường, các ông rất thành thạo, không phải lo sợ gì hết. Các ông tự tin vào tài năng và sức lực của mình. Nhưng những gì các ông tin tưởng không đem lại bình an thật sự. Các ông phải chống chọi với gió bão. Màn đêm tăm tối như góp phần làm cho các ông thêm vất vả hơn. Càng vất vả càng cố gắng, nhưng các ông đã quên mất Chúa Giêsu. Những lúc như thế Ngài vẫn ở bên cạnh các người mà Ngài yêu thương, nhưng các ông vẫn không nhận ra, nên mới hốt hoảng. Phêrô nhanh nhẹn nhưng trong lúc nhất thời, ông chỉ làm theo cảm tính, chưa tin tưởng phó thác, nên ông càng hốt hoảng hơn khi thấy biết bao sự nguy hiểm chung quanh. Khi đó ông càng nhìn thấy rõ sự bất lực của con người, chỉ còn biết trông cậy vào Chúa, nên ông la lên: “Lạy Thầy xin cứu con”. Mặc dù bị quở trách là kém tin, nhưng ông đã được bình an khi có Chúa bên cạnh.

Con người đứng trước những khó khăn thì lo âu sợ sệt, nhất là khi nhìn thấy được sự bất lực của chính mình. Càng lo sợ hơn khi sự nguy hiểm càng đến gần mà mình không biết làm sao để thoát khỏi. Đó là tâm trạng của Phêrô ngày xưa, cũng là tâm trạng chung của con người qua mọi thời đại. Chúng ta, những con người của thời đại mới cũng không thoát khỏi cái thường tình của con người như thế.

Những lúc an bình thư thái, những lúc được thành công trong cuộc sống, những lúc sức khoẻ con người trong tình trạng bình thường không có vấn đề gì; những lúc đó, Thiên Chúa có hiện diện hay không cũng không cần thiết, vì chúng ta chưa cần đến. Nhưng khó khăn từ đâu lại tuôn đến, làm cho chúng ta vất vả, bao nhiêu toan tính giờ đây không thể thực hiện được, những gì đã dự trữ, giờ đây cũng bay đi mất, thế giới hoàn toàn sụp đổ. Những lúc đó nếu chúng ta biết la lên như Phêrô: “Lạy Thầy xin cứu con”, chắc chắn chúng ta sẽ được cứu và những lời trách nhẹ nhàng cũng sẽ đến để làm thức tỉnh và làm cho mìmh nhận ra rằng: Thiên Chúa mà chúng ta tôn thờ không phải chỉ là nhu cầu khi cần thiết, để giải quyết những khó khăn, rồi sau đó không biết gì đến Ngài nữa.

Phêrô đã nhận ra, nên ông biết tin tưởng phó thác, ông đã được trao cho trách nhiệm và hoàn thành. Như đứa trẻ hoàn toàn tin tưởng nơi người cha, nên được bao bọc chở che khi cần thiết.

Chúng ta có dám đặt trọn niềm tin vào Thiên Chúa chúng ta? Hay Thiên Chúa chỉ là nhu cầu trong những lúc nào cần cho chúng ta sai khiến, ngoài ra Thiên Chúa không hiện diện trong cuộc sống đời thường của chúng ta. Như thế thì lời quở trách với Phêrô ngày xưa cũng vẫn là lời cho chúng ta hôm nay: “kẻ hèn tin, sao mà nghi ngờ”. Nhưng phêrô đã tin và sống trọn niềm tin của mình. Còn chúng ta, bao giờ chúng ta mới biết quay trở lại như Phêrô, chừng nào chúng ta mới nhận ra quyền năng Chúa trong đời sống, để biết quỳ gối xuống mà cảm tạ Hồng Ân.

Chúng ta cùng nhau cầu xin Chúa cho mỗi người biết nhận ra Chúa trong cuộc sống đời thường, để biết tin tưởng và phó thác cho trọn vẹn.

SỨC MẠNH CỦA ĐỨC TIN
Mt 14, 22 - 33

Vào cuối năm 2007 vừa qua, một tại nạn chìm đò đã lấy đi sáu mạng người trong đó có một người vợ ông lái đò và năm học sinh. Câu chuyện xảy ra vào một buổi trưa như thường lệ, ông lái đò và vợ ông vẫn ngày ngày chở các em học sinh qua sông để đưa đi học và đi về. Nhưng hôm nay ông lại chở khẩm hơn mọi hôm và tại nạn đã xảy ra; chiếc thuyền bất ngờ bị lật úp tất cả những người đi trên thuyền mà phần lớn là các em học sinh đều bị té nhào, nhưng trong đó có một số em không biết bơi nên đã bị chết đuối, các em chết vì không có người đưa cánh tay ra cứu. Hôm nay, Đức Giêsu cũng đã cứu thoát các môn đệ khỏi cơn cuồng phong của biển cả, Ngài đã đưa cánh tay cứu ông Phêrô lên khi ông đang chìm xuống dòng nước sâu.

Chắc chắn những người thân của các em cũng rất muốn có một ông Giêsu như ngày hôm nay để cứu vớt các em như Ngài đã từng cứu Phêrô. Cho nên việc Đức Đức Giêsu làm phép lạ đi trên mặt biển, kéo Phêrô lên khỏi mặt nước, và làm cho biển yên gió lặng không phải là để làm trò tiêu khiển cho vui mắt, nhưng là để bày tỏ quyền năng của Thiên Chúa trên biển cả, bão tố, tượng trưng cho thế lực của sự dữ. Đồng thời, để củng cố niềm tin của các môn đệ, nhất là Phêrô, để sau này Người sẽ trao cho ông làm thủ lãnh con thuyền Giáo Hội.

Từ thời Giáo Hội sơ khai, không ít lần các tông đồ phải sợ hãi lo lắng, có lúc chao đảo như muốn chìm đi giữa phong ba bão táp. Khi mà con người ta không còn gì để bám víu, thì lúc đó Đức Giêsu lại ở bên cạnh để trấn an: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ”.

Hôm nay, Phêrô thủ lãnh số một của Giáo Hội, năng nổ, hăng hái, liều lĩnh xin “đi trên mặt nước mà đến với Thầy”. Nhưng thấy gió thổi thì ông đâm sợ, và bắt đầu chìm. Ông la lên: “Thưa Ngài, xin cứu con với”. Và cùng là ông bị Đức Giêsu mắng cho là kẻ yếu lòng tin. Bị Thầy mình mắng thật sự không oan tí nào, trên đường đến với Thầy mà ông còn nghi ngờ. Tuy bên ngoài thì mạnh dạn, năng nổ, nhưng đó chỉ là hành động tức thời chứ chưa phải là tin, nhưng hành trình Đức tin của Phêrô có điểm hay là ông đã để cho nó lớn lên rất nhanh. Để đượclớn nhanh như vậy thì sức người không thể nào làm được nhưng phải nỗ lực bản thân cộng thêm với ơn Chúa. Tiêu biểu như Phêrô, ban đầu đức tin ban đầu nhỏ bé, kém cõi, nhưng nhờ lời khích lệ của Đức Giêsu “cứ đến”, mà ông đã bước đi được trên mặt biển. Trong cuộc sống mỗi người cũng vậy, khi niềm tin vững mạnh sẽ giúp ta vượt qua được mọi giông bão của cuộc đời. Ngược lại, khi hoài nghi làm chúng ta chao đảo, sợ hãi, hụt chân. Nhưng khi đã đặt được niềm ti vững mạnh nơi Chúa thì cho dù chúng ta hụt chân vẫn không sợ hãi vì có Chúa đang đưa cánh tay nâng mình lên.

Con thuyền Giáo Hội vượt qua bai chông gai thử thách, qua biết bao thăng trầm nhưng với niềm tin vững mạnh vẫn băng băng tiến về đích. Con thuyền Giáo Hội chính là con thuyền mẹ gồm nhiều con thuyền tính hữu hợp lại. Do đó, con thuyền Mẹ chỉ có thể tiến nhanh về đích khi các con thuyền của mỗi người chúng ta có một đưc tin vững mạnh, đức tin của mỗi người chúng ta chính là động lực để thúc đẩy con thuyền Giáo Hội càng tiến nhanh hơn.

Lạy Chúa, trong cuộc hành trình về quê trời chắc chắn đời con còn gặp rất nhiều phong ba bão táp, xin cho con biết luôn phó thác tin tưởng vào Chúa vì chỉ có đức tin mới có thể cứu vớt chúng con về bến bình an. Amen.

CHÚA CẦN LÒNG TIN
Mt 14, 22 - 33

Một trong những yếu tố quan trọng để gìn giữ hạnh phúc gia đình là những thành viên trong gia đình cần tin tưởng nhau. Mỗi người phải luôn biết tạo niềm tin cho nhau. Nhất là những người lớn, là người trước hết tạo cần tạo niềm tin cho con cái, cho những người nhỏ hơn.

Cũng thế, vì muốn cho các cho các Tông đồ được sống hạnh phúc nên Chúa Giêsu luôn luôn làm mọi cách để tạo niềm tin và củng cố niềm tin cho họ. Dầu vậy, dù đi theo và sống gần gũi với Chúa Giêsu nhưng các ông vẫn còn chưa thật sự tin vào Người. Cụ thể, hôm nay khi thấy Chúa Giêsu đi trên mặt biển đến với mình thì các ông đã hoảng sợ la lên: “Ma đấy”. Chúa Giêsu bảo các ông: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ! " (Mt 14, 27).

Như thế, ta có thể thấy được là với phép lạ hoá bánh ra nhiều nuôi hơn năm ngàn người ăn no nê chưa là yếu tố để cho các Tông đồ tin vào Chúa Giêsu. Nhưng đó chỉ là để củng cố lòng tin của các ông vào Người. Nếu như lần giở những trang Tin mừng chúng ta cũng sẽ thấy hầu hết trước khi chữa lành cho ai Chúa Giêsu đều nói “lòng tin của con đã cứu chữa con” hay “con tin thế nào thì được như vậy”

Đặt niềm tin của mình vào Chúa là điều cần thiết cho đời sống đức tin của người kitô hữu. Tin tưởng vào Chúa ta mới dám phó thác tất cả đời sống cho Người. Tin tưởng vào Chúa ta mới dám can đảm sống theo lời dạy của Người.

Ngày 4. 8 vừa qua, Giáo hội cho chúng ta mừng lễ thánh Gioan Maria Vianney. Đây là một trong những mẫu gương cho ta về đời sống tin tưởng vào Chúa. Mặc dù bị những người hướng dẫn đánh giá là “ngu như lừa” nhưng ngài vẫn tin tưởng vào Chúa. Quả thật, với sự tin tưởng ấy Thiên Chúa đã làm nên công trình vĩ đại nơi ngài. Sự tin tưởng ấy được thể hiện nơi cách sống đơn sơ, khiêm tốn và tinh thần phó thác qua việc siêng năng cầu nguyện. Nhờ đó qua ngài rất nhiều anh chị em được trở về với Chúa.

Hãy xin Chúa Giêsu tiếp tục gia tăng lòng tin của mỗi người chúng ta vào Người. Đó là điều mà Chúa Giêsu đang cần nơi mỗi người chúng ta.

HÃY VỮNG TIN VÀO CHÚA
Mt 14, 22 - 33

Jos. Vinc. Ngọc Biển

Bài Tin Mừng Chúa Nhật trước, trình thuật việc Đức Giêsu giảng dạy dân chúng, chữa lành bệnh tật và làm phép lạ hóa bánh ra nhiều nuôi họ. Sau đó là việc Đức Giêsu biến hình để củng cố lòng tin nơi các môn đệ và mặc khải cho các ông biết về hành trình theo Chúa thì phải trải qua đau khổ rồi mới đến vinh quang. Hôm nay, thánh Mátthêu cho biết Đức Giêsu truyền cho các ông sang bờ bên kia trước, còn Ngài ở lại giải tán dân chúng và sang sau. Đến rạng sáng thì Đức Giêsu đi trên mặt biển mà đến cùng các môn đệ.

Tại sao Đức Giêsu ở lại và các môn đệ phải đi trước? Sao không để các ông cùng giải tán và thu dọn…rồi thầy trò cùng xuống thuyền…? Và sao Đức Giêsu không đến, hiện diện ở trên thuyền ngay mà lại phải đi trên mặt nước…?

1.      Ý nghĩa bài Tin Mừng

Thưa, vì quá thương xót dân chúng, nên Đức Giêsu đã tìm mọi cách để giúp dân được thỏa mãn cơn đói thể xác và chữa lành sự đau đớn thể lý cho những ai đang mang trên mình bệnh tật, đui hủi, què quặt…, đồng thời ban cho họ lương thực thần thiêng chính là những lời giáo huấn.

Vì thấy Đức Giêsu là một người: “văn võ song toàn”, từ trước đến giờ chưa có trong lịch sử, họ không hiểu được vai trò của Đức Giêsu trong chương trình cứu chuộc mà Thiên Chúa Cha muốn. Vì thế, dân chúng có ý định tôn Ngài lên làm vua.

Việc họ muốn đây không có gì khác ngoài động lực thực dụng. Họ thấy Đức Giêsu đem lại cho họ cuộc sống ấm no, làm được những chuyện phi thường, và hy vọng giúp họ thống lãnh các miền phụ cận. Đây chính là động lực duy nhất của dân khi muốn tôn Đức Giêsu lên làm vua.

Họ nghĩ rằng điều họ muốn sẽ được Đức Giêsu chấp thuận. Tuy nhiên, dân chúng đâu có biết rằng lối suy nghĩ của họ đã bị sai lầm, vì sứ mạng Thiên Sai của Đức Giêsu không phải vậy. Sứ mạng của Ngài đến để cứu và chuộc những gì đã mất bằng chính cái chết chứ không phải quyền lực theo kiểu binh đao, cho nên, mọi hành vi, lời nói của Ngài phải hiểu trong vai trò là người Tôi Trung của Giavê.

Cảm và thấy được trước những điều mà dân chúng muốn nơi mình, nên Đức Giêsu đã truyền cho các môn đệ sang bờ bên kia trước. Phần vì muốn các ông nghỉ ngơi sau một ngày mệt nhọc, phần vì muốn các ông không bị cuốn theo lối suy nghĩ của dân chúng mà sai đường trật lối trong chương trình cứu độ mà Đức Giêsu muốn các ông tiếp bước.

Khi được lệnh, các ông vâng lời và trèo thuyền để sang bờ bên kia. Tuy nhiên, hành trình của các ông lần này không được suôn sẻ lắm.

Khi thuyền đã ra giữa biển thì bị sóng đánh chập chờn vì ngược gió. Các ông đang phải vật lộn với hiểm nguy. Gần sáng, Đức Giêsu đi trên mặt biển để đến với các môn đệ. Nhưng khi vừa thấy Ngài, các ông tưởng là ma nên kêu la: "Ma kìa!".

Tuy nhiên, Đức Giêsu đã trấn an các ông: "Hãy yên tâm. Thầy đây, đừng sợ!".

Thật ra thì các môn đệ cũng là những người trần mắt thịt như chúng ta thôi. Các ngài cũng đâu thoát ra được cảnh yếu đuối mặc dù đã từng được Thầy của mình dạy dỗ, căn dặn và củng cố đức tin. Vì thế, không lạ gì khi khó khăn xảy đến, họ đâu còn nhớ gì đến quyền năng của Thầy, nên đâu có thể tin được là Thầy đang đi trước dẫn đường cho mình! Điều này chúng ta thấy rất rõ khi được Đức Giêsu trấn an, Phêrô đã thử Đức Giêsu bằng cách xin với Ngài: "Lạy Thầy, nếu quả là Thầy, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến cùng Thầy". Nhưng khi vừa được đến với Đức Giêsu để đi trên mặt biển, thì đức tin của ông đã bị thử thách, và ông đã không còn tin vào quyền năng của Thầy mình tuyệt đối nữa, vì vậy ông đã bị nhấn chìm dưới nước.

Lý do tại vì ông và ngay cả các môn đệ khác không có đủ nhạy bén để nhận ra và tin vào Chúa, bởi vì lòng các ông còn nặng trĩu những “tham, sân, si” không kém gì dân chúng.

Đó là ý nghĩa nội dung bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe. Nhưng điều mà chúng ta cùng nhau suy nghĩ, khám phá ra sứ điệp của Lời Chúa và đem ra thực hành mới là quan trọng.

1.      Hiểu và sống Sứ Điệp Lời Chúa

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay dạy chúng ta 5 điều:

Thứ nhất, cuộc sống trên trần gian của chúng ta chỉ là tạm bợ, vì thế, trước tiên hãy tìm kiếm Nước Trời, còn mọi sự khác Chúa sẽ lo cho sau. Sẵn sàng khước từ hết tất cả những gì đi ngược lại với ơn cứu độ và khẳng khái từ bỏ những điều bất chính, quyền hành, nếu những điều đó không có ích lợi cho phần rỗi của chúng ta và niềm hy vọng của tha nhân. Cần can đảm vứt bỏ những rào cản làm chậm trễ hành trình thi hành sứ vụ của chúng ta trong cuộc sống đức tin. Noi gương Đức Giêsu, khi dân chúng tìm cách tôn mình lên làm vua, Ngài đã từ bỏ vì đó không phải là con đường cứu độ mà Chúa Cha muốn.

Thứ hai, khi thấy những nguy hiểm đến phần rỗi của anh chị em, chúng ta phải khôn khéo để giúp cho anh chị em mình thoát ra khỏi những cạm bẫy đang rình chờ. Biện pháp này đã được Đức Giêsu sử dụng khi nhìn thấy viễn cảnh không tốt cho các môn đệ khi các ông phải chứng kiến cảnh dân chúng tôn mình lên làm vua.

Tiếp theo, phải tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa, vì Chúa đã nói: "Hãy yên tâm. Thầy đây, đừng sợ!". Tin Chúa lúc vui cũng như lúc buồn, lúc thành công cũng như khi thất bại. Chúa không bao giờ bỏ rơi chúng ta, chỉ có điều chúng ta không nhận ra hay cố tình lãng quên Ngài mà thôi.

Bên cạnh đó, hãy noi gương Đức Giêsu trong việc phục vụ. Càng làm lớn, càng phải phục vụ. Hình ảnh Đức Giêsu ở lại giải tán đám đông cho thấy, Ngài sẵn sàng phục vụ mọi người, trong khi công việc này lẽ ra phải là của các môn đệ.

Cuối cùng, Đức Giêsu nêu gương trong việc kết hợp giữa hoạt động và chiêm niệm. Nếu chỉ có hoạt động thì sẽ có nguy cơ xảy ra tình trạng “ngôn hành bất tất” và hiệu quả của công việc không cao, mặt khác rất dễ rơi vào tình trạng kiêu ngạo tự phụ và khoe khoang. Khi cầu nguyện, ta biết tìm ra thánh ý Chúa và chỉ thực hành điều Chúa muốn mà thôi. Khi cầu nguyện, ta biết mình yếu đuối và cần đến ơn Chúa.

 

Lạy Chúa, xin ban thêm lòng tin cho chúng con. Xin cho chúng con biết sống khiêm tốn, quên mình để phục vụ anh chị em. Amen.

CHÚA NHẬT 19 MÙA THƯỜNG NIÊN
Mt 14, 22 - 33
John Nguyễn

1. Cầu nguyện có cần thiết không?
«Giải tán họ xong, Người lên núi một mình cầu nguyện. Tối đến Người vẫn ở đó một mình». Bài Tin Mừng cho thấy: cuộc đời Đức Giê-su có sự phối hợp nhịp nhàng giữa hoạt động và cầu nguyện. Nghĩa là Ngài không chỉ hoạt động cũng không chỉ cầu nguyện, mà cả hai luân phiên nhau. Nhưng cầu nguyện để làm gì? Vì hoạt động thì rõ ràng đem lại lợi ích cho mọi người, còn cầu nguyện có vẻ như chẳng làm gì cả, như vậy thì lợi ích cho ai? Các sách Tin Mừng cho thấy Đức Giê-su cầu nguyện một mình rất nhiều lần (x. Mc 1,35; 6,45; Lc 5,16; Mt 26,36-44…), và Ngài cũng khuyên các tông đồ cầu nguyện như Ngài (x. Mt 26,41; Lc 21,36). Chắc chắn cầu nguyện phải rất cần thiết và đem lại nhiều ích lợi thì Đức Giê-su mới cầu nguyện nhiều và khuyên các tông đồ hãy cầu nguyện như vậy.

2. Cầu nguyện, một hình thức «sạc pin» tâm linh
Một vài minh họa giúp ta hiểu được vai trò của cầu nguyện:
a) Mục đích của bình ắc-quy là để phóng điện hầu làm sáng bóng đèn, làm động cơ quay, tạo nên những phản ứng hóa học, khởi động máy, v.v… nói chung là sinh một lợi ích nào đó. Nhưng ắc-quy không thể cứ phóng điện hoài, vì điện phóng một thời gian là hết, không phóng được nữa. Nếu muốn tiếp tục phóng điện để sinh lợi ích, thì phải «sạc điện». Sạc điện xem ra vô ích, chẳng tạo ích lợi trực tiếp, nhưng hết sức cần thiết để ắc-quy có thể tiếp tục hoạt động.

b) Khi đóng đinh, người ta phải nâng búa lên và đập xuống, rồi lại nâng búa lên và đập xuống nữa. Cứ vậy cho đến lúc chiếc đinh lún xuống hoàn toàn. Chỉ động tác đập xuống mới làm đinh lún, còn động tác nhấc lên có vẻ như hoàn toàn vô ích, nhưng phải nói rằng nó tuyệt đối cần thiết. Nếu không nhấc búa lên, không ai có thể đập búa xuống lần thứ hai, và như thế đinh chỉ lún xuống một chút xíu, và như thế là không đạt yêu cầu.

Cầu nguyện xem ra chẳng lợi ích gì cả, nhưng quả thật nó là một điều tối cần thiết cho những ai muốn hoạt động hữu hiệu cho Thiên Chúa, cho nhân loại, cho tha nhân, và cho sự phát triển tâm linh của bản thân. Cầu nguyện chính là tiếp xúc với Thiên Chúa, nguồn của mọi năng lực, nhất là sức mạnh tâm linh để yêu thương và mạnh dạn dấn thân cho Thiên Chúa và tha nhân, để củng cố đức tin vào Thiên Chúa và tự tin vào chính mình, để được khôn ngoan, sáng suốt, nhận định chính xác điều nào điều nào đúng điều nào sai, điều nào chính điều nào phụ trong mọi lãnh vực hoạt động (tâm linh cũng như trần thế), để tâm hồn được bình an và tràn ngập niềm vui, v.v… Thiếu sức mạnh tâm linh ấy, con người giống như một bình ắc qui hết điện, hay như những bóng đèn và động cơ không nhận được nguồn điện, khiến mọi hoạt động của họ chỉ còn được thúc đẩy bởi những động lực tự nhiên như: «đói thì đầu gối phải bò», ham được tiếng khen, muốn được danh vọng, v.v… Những động lực này vẫn cần thiết và có ích cho sự sống tự nhiên, nhưng không ích lợi cho sự sống siêu nhiên hay tâm linh. Nói tới đây, thiết tưởng mỗi người chúng ta cần tự xét xem sự sống siêu nhiên hay tâm linh của mình thế nào? có phát triển hay còn èo ọt?

3. Cầu nguyện đích thực tất nhiên phải nhận được sức mạnh từ Thiên Chúa
Bản chất của cầu nguyện là tiếp xúc thật sự với Thiên Chúa, và nhờ đó tiếp nhận được năng lực (tâm lực, trí lực, thể lực, sự an vui…) từ nơi Ngài. Cầu nguyện không phải chỉ là đọc kinh, dự thánh lễ, lãnh nhận các bí tích, rước lễ… Tất cả những cách thức cầu nguyện vừa kể chỉ là một số trong rất nhiều phương tiện hay cách thức để tiếp xúc với Thiên Chúa. Tuy nhiên, vẫn có thể có những người đọc kinh, dự thánh lễ, thậm chí rước Mình Máu Thánh Đức Giê-su vào lòng mà không phải là cầu nguyện, vì họ không thật sự gặp gỡ hay tiếp xúc với Thiên Chúa. Trái lại, cũng có những trường hợp người ta thật sự gặp gỡ hay tiếp xúc với Thiên Chúa mà không cần phải dùng những cách thức vừa kể.

Muốn biết mình có thật sự cầu nguyện, nghĩa là có thật sự gặp gỡ Thiên Chúa hay không, ta chỉ cần xem mình có nhận được sức mạnh từ nơi Ngài hay không, và đời sống có biến đổi thật sự sau khi cầu nguyện không. Vì càng tiếp xúc thân mật với Thiên Chúa, thì càng nhận được sức mạnh tâm linh của Ngài. Nhờ đó, đời sống tâm linh của ta tất yếu phải thay đổi, chẳng khác gì một người nghèo càng nhận được nhiều tiền thì đời sống vật chất hay kinh tế của người ấy tất nhiên phải thay đổi. Không thể khác được! Chính Đức Giê-su cũng được biến đổi khi cầu nguyện (x. Lc 9,29). Rất nhiều người đã được biến đổi tâm hồn khi tiếp xúc với Đức Giê-su: như Mát-thêu, Gia-kêu, Ma-đa-lê-na, người phụ nữ Sa-ma-ri, v.v… Vì thế, không thể có trường hợp thật sự gặp gỡ hay tiếp xúc với Ngài một thời gian mà lại không nhận được sức mạnh của Ngài, và không được Ngài biến đổi nên tốt đẹp và hạnh phúc hơn. Nếu sau cả một thời gian cầu nguyện mà không thấy mình được biến đổi về tâm linh, không nhận được sức mạnh, bình an và niềm vui sâu xa, thì ta cần phải nghiêm túc xét lại xem cách thức cầu nguyện của ta có thật sự giúp ta tiếp xúc với Thiên Chúa không.

4. Đừng quan niệm Thiên Chúa là một bóng ma theo tưởng tượng của ta
Trở lại với bài Tin Mừng, ta thấy thoạt đầu các tông đồ tưởng Đức Giê-su là ma. Điều ấy cũng đáng cho chúng ta suy nghĩ. Rất nhiều khi chúng ta tưởng Thiên Chúa là một bóng ma, hay là một cái gì đấy mà bản chất không phải là Ngài. Có người tưởng Ngài là một bức tượng, hiện diện trước mặt mình một cách vật chất; họ đã vật chất hóa Ngài. Những người trí thức thì lại tưởng tượng Ngài, phác họa chân dung của Ngài theo những quan niệm riêng của mình, hoặc của nền văn hóa dân tộc mình. Vì thế, thay vì gặp được Ngài, ta chỉ gặp được một bóng ma, một Thiên Chúa do chính ta tạo dựng nên theo quan niệm hay sức tưởng tượng của mình.

Để đề phòng chuyện này, Thiên Chúa đã cấm người Do Thái không được tạc tượng Ngài, vì Ngài có hình dáng đâu mà tạc, nên tạc thế nào cũng chẳng bao giờ là tượng của Ngài được (x. Xh 20,4; Đnl 5,8; 27,15). Nhưng con người từ thời cổ đại đến giờ luôn luôn bị cám dỗ tạc tượng Ngài. Người bình dân tạc theo kiểu bình dân, tạc bằng gỗ, đá… Người trí thức tạc theo kiểu trí thức, tạc bằng những ý niệm. Nhà thần học tạc theo kiểu thần học, bằng những tư tưởng thần học. Nhưng Thiên Chúa vốn vượt khỏi mọi kinh nghiệm, mọi ý niệm và ngôn ngữ của con người, nên không thể diễn tả hay quan niệm Ngài bằng bất kỳ một ý niệm hay ngôn ngữ nào của con người. Thiên Chúa không thể diễn tả hay quan niệm được ấy đã bị con người biến thành một Thiên Chúa diễn tả được, quan niệm được, thậm chí được xác định và mô tả dứt khoát bằng vô số chi tiết nhỏ nhặt. «Thiên Chúa» do con người tạo dựng nên ấy làm sao đem lại sức mạnh tâm linh đích thật cho ta? «Thiên Chúa» ấy có thật sự là Thiên Chúa đã tạo dựng nên con người, và là Thiên Chúa của Đức Giê-su không?

5. Vai trò của đức tin khi cầu nguyện
Khi các tông đồ nhận ra Đức Giê-su, Ngài liền nói: «Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!» Một trong những đặc tính căn bản của Đức Giê-su là, khi ta gặp được Ngài, Ngài làm cho tâm hồn ta được bình an, Ngài tiêu hủy mọi nỗi sợ hãi của ta. Khi gặp các tông đồ, Ngài hay nói: «Bình an cho anh em!» (Lc 24,36; Ga 20,19; 20,21; 20,26). Và bình an của Ngài là thứ bình an «không ai lấy mất được» (Ga 16,22).

Khi gặp được Đức Giê-su, Phê-rô tin tưởng rằng nếu đó chính là Thầy mình thật, ắt Ngài có thể cho mình đi trên mặt nước giống như Ngài. Và quả thực ông đã đi được trên mặt nước. Nhưng đức tin của ông vào Ngài không vững, nên khi thấy gió thổi, ông sợ, và lập tức bị chìm xuống nước. Thì ra việc ông đi trên nước được là do quyền năng của Đức Giê-su, nhưng cũng do đức tin của ông vào Ngài nữa. Tin Mừng cho biết: tại Na-da-rét, «Người không làm nhiều phép lạ tại đó, vì họ không tin» (Mt 13,58). Khi chữa ai khỏi bệnh, Ngài thường nói: «Đức Tin của anh đã cứu anh» (Mt 9,22; Mc 5,34; Lc 8,48; 17,19). Để được cứu rỗi cũng vậy, chính Đức Giê-su cứu ta, nhưng chính ta cũng phải tin vào Ngài thì Ngài mới cứu ta được. Đó chính là điều kiện tối yếu về phía ta. Tương tự, đức tin của ta vào Thiên Chúa cũng đóng một vai trò không thể thiếu được khi cầu nguyện để Ngài có thể làm điều gì đó cho ta, như ban bình an, ban sức mạnh, hay biến đổi ta.

Cầu nguyện
Lạy Cha, xin dạy con biết cầu nguyện đích thực, nghĩa là dạy con tiếp xúc với Cha thật sự, để nhờ đó nhận được sức mạnh của Cha. Rất nhiều khi con đọc kinh, dâng lễ, rước lễ chẳng khác gì một cái máy, trí óc con không hề nghĩ đến Cha mà chỉ tập trung vào những nhu cầu mà con muốn xin Cha thỏa mãn. Con chỉ có vẻ cầu nguyện, chứ không phải là cầu nguyện đích thực. Xin Cha hãy dạy con cầu nguyện đích thực.

HÌNH ẢNH VỀ MỘT THIÊN CHÚA
Mt 14, 22 - 33
Lm Nguyễn Ngọc Long

Chúng ta tin vào Thiên Chúa, nhưng không nhìn thấy Ngài. Kinh sách dạy ta và ta vẫn hằng ôm ấp trong tâm hồn cùng mường tượng đến một Thiên Chúa uy quyền toàn năng. Niềm tin vào Ngài vẫn thế. Nhưng hình ảnh về Ngài không phải lúc nào cũng giữ nguyên như ta đã học, đã nghe. Nó biến đổi theo với thời đại cuộc sống.

Vậy đâu là hình ảnh một Thiên Chúa mà ta hằng tôn kính, yêu mến tin thờ?

Khi cuộc sống xã hội thời kỳ nông nghiệp, hình ảnh về một Thiên Chúa trong tâm trí người tín hữu có nhiều nét tương hợp với đời sống lúc đó: một Thiên Chúa phù hộ cho mưa thuận gió hòa, để mùa màng, hoa quả, ruộng nương vườn tược tười tốt, hoa trái được mùa bội thu.

Vào thời kỳ này niềm tin, niềm trông cậy vào Thiên Chúa còn đậm nét tình nghĩa ân đức Cha con, Đấng Tạo Hóa với tạo vật. Vì thế chúng ta gọi Ngài bằng một danh xưng thân mật tình nghĩa con người: Ông Trời.

Nhưng khi cuộc sống xã hội bước sang thời kỹ nghệ biến chế phát triển, kỹ nghệ thông tin biến đổi đa dạng ngày nay ở những xã hội tân tiến, hình ảnh về một Thiên Chúa cũng khác đi nhiều. Thiên Chúa bây giờ phải là một Thiên Chúa của trí tuệ thông minh sáng chế ra điều gì mới lạ.

Niềm tin vào Ngài lúc này không còn đậm nét tương quan cá nhân Đấng tạo Hóa và tạo vật hay tình nghĩa cha con nữa. Khối óc phát minh làm ra sản phẩm. Phương thức chế tạo ra hàng hóa, tìm ra nguyên nhân kết quả hay chế ngự được khó khăn chướng ngại… là đỉnh cao tối thượng.

Tiên tri Ê-li-a ngày xưa đã sống trải qua nhiều giai đoạn cuộc sống khi thì trong giông bão, khi thì qua nạn động đất, khi thì giữa ngọn lửa cháy tràn lan. Tin vào Thiên Chúa, nhưng ông toàn nhìn thấy những đau thương tàn phá. Ông không còn biết thế nào là hình ảnh đích thật một Thiên Chúa của lòng tin nữa. Thất vọng, ông lẩn trốn vào một hang động. Thiên Chúa không để ông yên trong đó, Ngài kéo ông ra khỏi nơi đó và cho ông biết: Đó không phải là hình ảnh Thiên Chúa với sức mạnh tàn phá chém giết đâu. Ngài là Thiên Chúa của lòng nhân lành.

Còn với chúng ta thì sao?

Mỗi cuộc đời con người có những giai đoạn khác biệt và có những cảm nghiệm về Ngài cũng rất khác biệt. Khi cuộc đời trải qua giai đoạn lầm than cực khổ, thất vọng hay bị đe dọa, tưởng chừng như đến cùng đường. Chính lúc như thế Thiên Chúa âm thầm trong thinh lặng tỏ lòng nhân lành của Người cho con người, bằng cách phấn chấn tinh thần, giúp can đảm sống vươn lên.

Khi đời sống đức tin lâm vào cơn khủng hoảng hồ nghi vào chính Thiên Chúa của niềm tin. Những lúc đó Thiên Chúa không bỏ mặc ai, Người hằng đồng hành với trong tâm hồn và tỏ bày hình ảnh Người qua những dấu chỉ trong thiên nhiên, trong thời đại.

Cả khi sống trong lầm lạc tội lỗi, chối bỏ xa lạc Ngài, Ngài cũng không xa lánh. Ngài vẫn chờ đợi rộng vòng tay chào đón, khi trở về với Ngài, như dụ ngôn người con hoang đàng trở về nhà diễn tả hình ảnh lòng nhân lành của Thiên Chúa và muốn cùng bắt đầu đời sống mới: cuộc sống niềm tin và niềm hy vọng.

CHÚA NHẬT XIX MÙA THƯỜNG NIÊN
Mt 14, 22 - 33
Lm Augustine, S.J.

Năm 1974, một nhà quí tộc Ba Lan - linh hoạt và có quan điểm thế giới chủ nghĩa - bước vào phòng làm việc của vị hồng y giáo chủ, tin tưởng rằng bà đã tìm được người có quan điểm gần gũi về mặt triết học. Tên bà là Thùy Minh Kha (Anna - Teresa Tymiennecka). Trong bốn năm tiếp theo đó, bà và hồng y giáo chủ đã lao vào một cuộc đối thoại triết học độc nhất vô nhị, đưa tới một ấn bản tiếng Anh rõ ràng và có sửa chữa của tác phẩm quan trọng nhất của hồng y giáo chủ, là cuốn Con Người và Hành Động.

Hãy triệu tập cho Ta những người trung hiếu (Tv 49,5)

Hồng y giáo chủ ấy, chính là Đức Gioan Phaolô II. Bà Thùy Minh Kha đánh giá như sau về Đức Giáo Hoàng đương kim: Sức mạnh lớn nhất ở Giáo Hoàng, sức hấp dẫn đặc biệt này, là giống như Chúa Giêsu. Nó bao hàm những gì? Ông gặp ai đó lần đầu tiên trong đời, ông cũng có thể mở ra cho người ấy cái kho báu được giấu kín của tình anh em. Bản thân Giêsu cũng không làm hơn thế được. Đó là vì sao mà người ta bị quyến rũ bởi ông. Với nụ cười của mình, thái độ tình cảm nồng ấm thật quyến rũ, Giáo Hoàng đã gởi gắm hết mình như thể người kia là anh em gần gũi nhất, người bà con thân thiết nhất. Đây không còn là vấn đề giả bộ hay thực tế nữa. Đó là bản chất.

Mọi người xung quanh ông thấy ở ông một con người nồng hậu nhất, khiêm nhường nhất. Họ không bao giờ thấy cái ý chí sắt đá ở đàng sau đó. Đó chính là Giáo Hoàng. Phong cách của ông hoàn toàn thoải mái. Những gì không thể tin nổi đang diễn ra trong đầu ông, người ta không nhìn thấy. Thái độ thông thường của ông với những người khác là mềm mỏng. Ý chí sắt đá của ông được tôi luyện với sự mềm mỏng này và sự thận trọng lớn lao. Nó không bộc lộ mình cách trực tiếp. Ở một mức độ nào đó, điều này là giả tạo. Nhưng đó là bản chất thứ hai, hoàn toàn không phải là giả tạo. Có thể là ông đã luôn luôn như thế này. Người ta nhìn những tấm ảnh của ông thời niên thiếu: Một cậu bé rất đáng yêu, rất suy tư, thậm chí hơi đa cảm.

(-) Sự kiên trì là một đặc tính chủ yếu khác. Ông không bao giờ thấy một trở ngại. Không có gì là một trở ngại cả. (Đức Giáo Hoàng John Paul II và lịch sử bị che đậy trong thời đại chúng ta, Nhà Xuất Bản Công An Nhân Dân Hà Nội 1997 trg 254-255)

Trên đây là lời mô tả về sức hấp dẫn đặc biệt của Đức Gioan Phaolô II. Bà Thùy Minh Kha muốn tóm tắt bằng cách nói rằng Đức Giáo Hoàng như vậy đã nên giống Chúa Giêsu. Nhưng để nhấn mạnh hơn nữa sức hấp dẫn đó, bà nói rằng gặp ai, dẫu là lần đầu tiên trong đời, Giáo Hoàng cũng có thể tỏ ra gần gũi nhất, thân thiết nhất dựa vào tình huynh đệ có sẵn nơi Giáo Hoàng, điều ấy theo bà, bản thân Giêsu cũng không làm hơn thế được

Lời khẳng định của bà Thùy Minh Kha liên quan tới Đức Giêsu đòi ta, một cách gián tiếp, phải định hướng đúng về ý nghĩa của bài Tin Mừng hôm nay. Đức Giêsu tỏ ra sức hấp dẫn phi thường nhưng Người không qui hướng mọi người và mọi sự xung quanh về với Người như đích điểm. Người luôn qui hướng tất cả về Thiên Chúa là Cha. Đó chính là hướng huấn luyện Đức Giêsu áp dụng với các môn đệ.

Trước đây (Mt 4,12) khi Đức Giêsu nghe tin ông Gioan Tẩy Giả bị bắt, Người lánh đi... Nay nghe biết ông bị giết, Người rút lui vào hoang địa (Mt 14,3-12). Chính nơi hoang địa, Đức Giêsu tỏ ra là Môsê mới của dân Thiên Chúa. Hơn nữa, Người là hiện thân của Giavê Thiên Chúa thân hành tới chăm sóc đoàn chiên như ngôn sứ Edêkien từng loan báo (chương 34)

Những người đã giao ước với Ta bằng hy lễ (Tv 49,5)

Song song với bài Tin Mừng này của Mátthêu, ta có Tin Mừng Máccô soi sáng cho thấy cách Đức Giêsu huấn luyện các môn đệ. Cả Mátthêu và Máccô đều cho thấy Đức Giêsu bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia trong lúc Người giải tán dân chúng (Mt 14,2; Mc 6,45). Tại sao lại có vụ cưỡng ép này? Ta thấy các môn đệ đã tỏ ra quan tâm về nhu cầu cơm bánh của dân nên Đức Giêsu mới làm phép lạ hóa bánh ra nhiều cho hơn năm ngàn người ăn no. Chính các môn đệ đã dọn đồ ăn cho dân chúng. Vậy thì tại sao về cuối bữa ăn lại có sự can thiệp để chính Đức Giêsu lo việc giải tán dân chúng, còn các môn đệ buộc phải xuống thuyền sang bờ bên kia trước.

Lời rao giảng đầu tiên của Đức Giêsu cũng như trước đó của Gioan Tẩy Giả là Anh em hãy sám hối vì Nước Trời đã đến gần (Mt 3,2; 4,17). Nước Thiên Chúa chẳng phải là lãnh thổ nhưng chính là quyền uy Thiên Chúa được nhìn nhận nơi tạo thành và Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, được phái đến để thực hiện công trình đó. Giữa tạo thành, con người luôn được mời gọi tham gia Nước Thiên Chúa với tất cả tự do được ban cho mình. Theo cách đó bốn môn đệ đầu tiên đã được mời gọi, gồm hai anh em là Anrê và Simon tức Phêrô; và hai anh em nữa là Giacôbê và Gioan (Mt 4,18-22). Cả bốn người này đều từ bỏ mọi sự để theo Đức Giêsu.

Các môn đệ được huấn luyện kỹ lưỡng. Bài huấn luyện đầu tiên theo thánh Mátthêu dành ưu tiên cho các môn đệ. Đức Giêsu như Môsê mới lên núi và khi ngồi xuống, các môn đệ đến gần bên. Người mở miệng dạy các ông về các mối phúc thật (Mt 5,1-12). Các ông được dạy để sống nghèo, hiền lành, nhận lấy những an ủi của Thiên Chúa ngang qua đau khổ, khao khát sống công chính, thương người, giữ tâm hồn trong suốt, xây dựng hoà bình, chịu bách hại vì sống đời công chính. Tất cả những lời Đức Giêsu dạy dân chúng, các môn đệ đều được nghe và được kèm thêm khi thầy trò sống tách biệt khỏi dân chúng.

Các môn đệ không những được Đức Giêsu dạy dỗ, họ còn được Người phái đi thực tập trong tác vụ rao giảng (Mt 10). Đề tài rao giảng sẽ là Nước Thiên Chúa đã đến. Sự hiện diện của Thiên Chúa là điều hiện thực tới mức sự dữ như bệnh tật hoặc quỉ ám đều được khắc phục. Tin tưởng vào Thiên Chúa, các môn đệ chẳng còn gì phải sợ. Chính các ông cần nhận lấy Nước của Thiên Chúa thay thế mọi sự khác: Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai giữ mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mạng sống vì Thầy thì sẽ tìm thấy được. (Mt 11,38-39).

Trong bài Tin Mừng Máccô việc phái các môn đệ đi thực tập được đề cập ở chương 6(6-13) rồi được tiếp nối giữa hai trình thuật phép lạ hoá bánh ra nhiều (Mc 6,30-44) và phép lạ Đức Giêsu đi trên mặt nước (Mc 6,45-52). Ở đây, Đức Giêsu không những dạy các môn đệ, Người còn nêu gương sáng để các ông thấy rõ thế nào là đặt ưu tiên cho Nước của Thiên Chúa.

Rất sớm trong Tin Mừng Máccô, Đức Giêsu đã tỏ ra là một nhân vật hấp dẫn quần chúng. Người chữa lành bệnh nhân và trừ quỉ hữu hiệu đến nỗi, theo Máccô, cả thành như xúm lại trước cửa nơi Đức Giêsu tá túc (Mc 1,33). Thế mà sáng sớm hôm sau, lúc trời còn tối, Đức Giêsu đã dậy, đi ra một nơi hoang vắng và cầu nguyện ở đó (Mc 1,35). Rồi khi được cho biết rằng mọi người tại Caphácnaum đang tìm Người, Đức Giêsu trả lời rằng: Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng xã chung quanh, để Thầy còn rao giảng ở đó nữa, vì Thầy ra đi cốt để làm việc đó (Mc 1,38).

Ai sống đời hoàn hảo, ta cho hưởng ơn cứu độ Chúa Trời (Tv 49,23)

Một sự dứt bỏ tương đương như vậy được thấy giữa hai trình thuật hoá bánh ra nhiều và đi trên mặt nước. Ta được cho biết: Đức Giêsu liền bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia trước, trong lúc Người giải tán đám đông. Sau khi giải tán đám đông, Người đi riêng lên núi mà cầu nguyện (Mt 14,22-23).

Các môn đệ cần phải dứt bỏ đám đông, dứt bỏ mọi ảo tưởng mà xã hội có thể tạo nên cho mình, nhờ đặt mình trước cảnh bao la của biển hồ Galilê sóng gió. Các ông cần phải noi gương Đức Giêsu là luôn tìm nơi thanh vắng để cầu nguyện cùng Thiên Chúa. Chính từ bối cảnh cầu nguyện, Đức Giêsu đến với các ông, mang lại cho các ông ơn bình an. Tuỳ ở mức độ tin vào Đức Giêsu, ông Phêrô đi trên mặt nước để đến với Đức Giêsu. Ngược lại, giảm bới niềm tin đó, ông liền bắt đầu chìm. Chính nhờ quyền năng của Thiên Chúa được biểu lộ nơi Đức Giêsu, nên các môn đệ nhìn nhận Quả thật, Ngài là Con Thiên Chúa. Một lần nữa, ta thấy Đức Giêsu dùng quyền năng để qui người ta về Thiên Chúa thay vì qui về bản thân mình.

CHÚA NHẬT THỨ XIX MÙA THƯỜNG NIÊN
Mt 14, 22 - 33

Lm. Đan Vinh

LỜI CHÚA: Đức Giê-su liền bảo các ông : "Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!" (Mt 14,27).
Phê-rô thấy gió thổi thì ông đâm sợ và khi bắt đầu chìm, ông la lên : "Thưa Ngài, xin cứu con với!" (Mt 14,30).

CÂU CHUYỆN: HÃY NHÌN LÊN BẦU TRỜI !
Vào thời kỳ mới có thuyền buồm, một thiếu niên kia được vị thuyền trưởng cho đi thuyền vượt biển để học tập làm thủy thủ. Một hôm gió bão nổi lên làm mặt biển dậy sóng. Viên thuyền trưởng ra lệnh cho cậu ta phải leo lên cột buồm để tháo các cánh buồm ra, tránh cho con thuyền khỏi bị gió bão vùi dập. Khi cậu ta vừa leo vừa ngước mặt lên trời thì mọi sự đều suông sẻ. Chỉ thoắt cái là cậu đã leo đến lưng chừng cột buồm. Nhưng khi cậu bắt đầu nhìn xuống mặt biển đang nổi sóng trong cơn gió bão, thì cậu lập tức bị chóng mặt như sắp bị té xuống đến nơi. Bấy giờ một thủy thủ gìa nhiều kinh nghiệm đã la to lên rằng :"Này chú bé, mau ngước mặt lên trời đi chứ đừng nhìn xuống! Hãy tiếp tục nhìn lên trời đi!" Cậu bé làm theo lời chỉ dẫn đó và đã leo lên tới đỉnh cột buồm và cậu đã hoàn thành nhiệm vụ là tháo được sợi dây để thả cánh buồm xuống.

Lỗi của cậu thiếu niên cũng giống như lỗi của Phê-rô trong Tin Mừng hôm nay : Cậu ta đã bỏ đích nhắm là bầu trời để nhìn xuống mặt biển nổi sóng, giống như Phê-rô đã rời mắt khỏi Đức Giê-su để nhìn vào mặt biển đầy giông tố. Vì thế ông đã bị chao đảo và bắt đầu chìm xuống. Cuộc đời các tín hữu chúng ta cũng vậy : Bao lâu chúng ta còn nhìn vào chúa Giê-su thể hiện qua việc siêng năng dự lễ và rước lễ. Bao lâu chúng ta còn năng nhớ đến Chúa, thì ta còn sống đạo tốt. Nhưng ngày nào chúng ta bỏ những việc đạo đức kia, thì tâm hồn chúng ta bắt đầu chìm đắm dưới quyền lực của ma quỷ, sa đà vào các thói hư tật xấu và các đam mê bất chính khác.

ĐỨC TIN CON NGƯỜI THƯỜNG MỎNG DÒN YẾU ĐUỐI :
Một chàng thanh niên nọ có sở thích chơi những trò mạo hiểm. Một hôm anh ta mang theo một chiếc dù màu vàng hình chữ nhật leo lên một mỏm núi khá cao, định sẽ từ đó nhảy xuống dưới, rồi khi đang rơi sẽ cho dù bung ra và anh ta sẽ được hưởng cảm giác bay đi trong gió trước khi đáp xuống an toàn dưới mặt đất. Nhưng đang lúc chạy lấy đà để nhảy thì chẳng may anh bị trượt chân và té xuống bên dưới mà chưa kịp bung chiếc dù ra. May thay anh ta đã kịp thời bám được vào một cành cây mọc nhô ra bên sườnnúi. Khi đó, anh cố gắng ôm chặt lấy cành cây kia. Nhìn lên mỏm núi không một bóng người. Nhìn xuống đất thì anh lại cảm thấy choáng váng vì chỉ thấy một vực sâu thăm thẳm ở bên dưới. Bấy giờ theo thói quen, anh chợt nghĩ đến Chúa và thầm thĩ cầu xin rằng : "Lạy Chúa, xin mau cứu giúp con. Con xin thề sẽ làm tất cả những gì Chúa muốn, miễn là con xuống tới mặt đất an toàn". Bỗng anh nghe thấy một tiếng nói từ trời vọng xuống : "Được, Ta sẽ cứu con, với điều kiện con phải tin vào Ta". Anh ta liền đáp : "Lạy Chúa, con xin vững tin và cậy trông vào Chúa! Xin hãy mau cứu con vì tay con đã mỏi lắm rồi!". Bấy giờ Chúa lại phán: "Tốt lắm ! Ta sẽ đưa tay đỡ con, nếu con chịu buông cành cây ra để rơi xuống !". Nhưng thay vì buông tay khỏi cành cây, anh ta lại càng bám chặt hơn nữa. Rồi anh quay lên mỏm núi cao và cố la lớn : " Có ai ở trên đó không? Mau cứu tôi với! Cứu tôi với !".

Quả thật đức tin của chàng thanh niên trong câu chuyện trên cũng thật yếu kém chẳng khác gì Phê-rô trong Tin Mừng hôm nay. Ong Phê-rô đã dược Chúa cho phép đi trên mặt biển mà đến cùng Người. Nhưng đức tin của ông không đủ mạnh để tin cậy phó thác trọn vẹn cho Chúa. Khi thấy gió thổi, ông sợ hãi và bắt đầu chìm đắm. Bấy giờ ông vội la lên : "Thưa Ngài, xin cứu con với !", Chúa đã đưa tay nắm lấy ông mà trách : "Người đâu mà kém tin vậy ! Sao lại hoài nghi ?". Còn đức tin của chúng ta thì sao? Giả như chúng ta ở trong hoàn cảnh của anh thanh niên thì chúng ta có dám buông tay ra để được Chúa cứu hay không ? Đức tin của chúng ta có đủ mạnh để phó thác trọn vẹn cho Chúa khi ta gặp tai ương và những sự rủi ro trái ý không ?

CẦU NGUYỆN ĐEM LẠI BÌNH AN CHO TÂM HỒN.
KÉT MIU-LƠ (Keith Miller) tác giả cuốn sách tựa đề là "Hương rượu mới" (The taste of new wine). Trong sách, ông đã thuật lại một biến cố xảy ra làm thay đổi cả cuộc đời của ông như sau :

Vào một đêm nọ, trên đường về nhà, Kết bị một chiếc xe từ sau tông làm anh té nằm bất tỉnh bên lề đường suốt một tiếng rưỡi đồng hồ, trong khi chờ xe cứu thương đến mang đi. Khi tỉnh dậy và ý thức tình trạng của mình, anh bắt đầu cầu nguyện với Chúa. Sau khi cầu nguyện xong,tự nhiên anh cảm thấy tâm hồn mình được bình an lạ lùng. Kết viết : "Tôi nghĩ thật đáng là đáng xấu hổ biết bao khi mà mãi cho đến bây giờ tôi mới khám phá ra giá trị của lời cầu nguyện. Từ khi ấy, dù đang phải đối diện với cái chết, nhưng tôi không thấy sợ hãi chút nào. Tôi có cảm giác Chúa luôn hiện diện bên tôi và sẵn sàng ra tay cứu giúp tôi". Sau đó, Kết đã được các bác sĩ kịp thời cứu sống và dần dần bình phục hoàn toàn. Anh quay trở lại đại học và được bầu làm chủ tịch lớp sinh viên năm thứ hai. Nhưng rồi về sau, bị các hoạt động xã hội lôi cuốn, anh đã thôi không đến nhà thờ nữa và bắt đầu lún sâu vào các đam mê tội lỗi.

Sau khi tốt nghiệp dại học, anh lập gia đình và vào làm việc cho một hãng xăng dầu ở tiểu bang Tếch-sớt (Texas). Nhưng cuộc sống gia đình và công việc đã không suông sẻ như anh mong ước. Một hôm chơi bài và bị thua một số tiền lớn, bao nhiêu tiền bạc dành dụm bấy lâu giờ đây hết sạch ! Anh bị vợ nặng lời mạt sát và đòi ly hôn. Anh buồn chán đánh xe chạy vọt đi mà không biết phải đi dâu. Sau khi chạy được một lúc, anh tấp xe vào bên lề đường, tắt máy rồi ngồi đó im lặng hút thuốc. Trước đây mỗi lần gặp phải điều gì buồn phiền, anh chỉ cần quay về nhà uống vài ly rượu mạnh rồi nằm vật ra giường ngủ một giấc đến sáng hôm sau là hết. Thế nhưng bây giờ sự thể lại không còn đơn giản như thế. Anh đã bị dồn đến bờ vực phá sản vì một phút lỡ lầm! Anh nhìn lên trời và la to lên rằng : "Nếu Chúa muốn gì nữa thì xin hãy lấy tất cả đi. Con thực sự muốn như vậy đó!" Ngay lúc ấy, anh cảm thấy tâm hồn bình an, một cảm giác mà cách đây mười mấy năm anh đã từng trải qua khi bị thương nằm bất tỉnh bên đường. Ngay lúc đó, anh đã có một quyết tâm là phải thay đổi cuộc sống. Dù không có những tia sấm chớp trên trời, cũng chẳng có tiếng nói mầu nhiệm nào của Thiên Chúa, nhưng Kết đã nhận biết rõ điều Chúa muốn nơi anh. Người không cần tiền bạc, thời giờ hay sức lực của anh. Có thể nói : Kết đã thực sự tái sinh để trở nên một con người mới hoàn toàn.

Bài Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta nhìn vào mình. Khi chúng ta cảm thấy tâm hồn bất an, chính là lúc chúng ta đã bỏ không nhìn vào Chúa nữa. Chính khi bị chìm sâu trong các đam mê tội lỗi, là lúc chúng ta đã hoài nghi tình thương của Chúa, đã bỏ các việc đạo đức. Bấy giờ chúng ta hãy noi gương Thánh Phê-rô xưa để cầu xin với Người rằng : "Lạy Ngài, xin cứu con với!". Chắc chắn Người sẽ đưa tay ra nắm lấy chúng ta và dẫn ta lên thuyền bình an.

SUY NIỆM : CỨ YÊN TÂM. CHÍNH THẦY ĐÂY. ĐỪNG SỢ ! :
Sau phép lạ hoá bánh ra nhiều, dân chúng muốn tôn Đức Giê-su lên làm vua. Nhưng Người đã giục các môn đệ lập tức lên thuyền qua bờ bên kia trước, còn Người thì ở lại mà giải tán đám đông. Sau đó, Người lên núi cầu nguyện, kết hợp mật thiết với Thiên Chúa Cha.

Nhưng Đức Giê-su vẫn không quên các môn đệ của Người. Người nhìn ra biển để dõi theo con thuyền của các ông. Người biết các ông đang vất vả đương đầu với sóng gió. Nhưng đây cũng là điều cần để thử thách đức tin của các ông và làm cho đức tin ấy trưởng thành. Đến gần sáng, Người đã đi trên mặt biển mà đến với các ông. Khi thấy người đi trên biển, các ông tưởng mình thấy ma và kêu la sợ hãi. Nhưng Người đã trấn an họrằng : “Cứ yên tâm. Chính Thầy đây. Đừng sợ!”

Biển tượng trưng cho sức mạnh của ma quỷ, có thể nuốt chửng con người. Do đó, đi trên mặt biển là Đức Giê-su biểu lộ quyền năng Thiên Chúa trấn áp quyền lực của ma quỷ. Khi để chúng ta gặp phải những tai ương, bệnh tật và đau khổ là Người muốn huấn luyện đức tin của chúng ta. Đức Giê-su luôn quan tâm đến mỗi người chúng ta và sẵn sàng giúp chúng ta chiến thắng ma quỷ và sự dữ. Nếu thực sự tin vào Người thì chúng ta sẽ không sợ hãi khi gặp bất cứ thử thách nào, nhưng luôn tin cậy Chúa sẽ rút từ sự dữ ra sự lành để chúng ta được ơn cứu độ.

"THƯA NGÀI, XIN CỨU CON VỚI".
Thấy Đức Giê-su đi trên biển, Phê-rô bán tín bán nghi và muốn kiểm chứng có phải là Thầy hay không, nên ông đề nghị cho mình được đi trên biển mà đến cùng Thầy. Tin tưởng và luôn nhìn vào Thầy, Phê-rô đã có thể vượt trên biển cả giống như Thầy mình. Nhưng khi gió mạnh ào đến xua tan đức tin, thì ông bắt đầu chìm xuống. Ong vội kêu lên : "Thưa Ngài, xin cứu con với!".

Bàn tay Đức Giê-su đã kịp đưa ra nắm lấy ông và đưa ông lên thuyền bình an với lời trách nhẹ : "Người đâu mà kém tin như vậy ! Sao lại hoài nghi ?"

LUÔN TIN TƯỞNG CẬY TRÔNG VÀO CHÚA :
Nhiều khi chúng ta có cảm tưởng đã bị Chúa bỏ rơi khi để chúng ta liên tiếp gặp phải tai nạn rủi ro. Nhưng thực ra đó lại là cách Chúa thương dùng để huấn luyện đức tin cho chúng ta. Người muốn thử thách đức tin của chúng ta : " Lửa thử vàng, gian nan thử sức !". Nếu gặp những tai ương hoạn nạn mà chúng ta lại sợ hãi, bỏ cầu nguyện dự lể, để tin theo bói toán, bùa ngải, thì đức tin nơi ta đã chết. Nhưng nếu chúng ta vẫn trung thành với Chúa, vẫn chu toàn các việc đạo đức. Nhất là xin Chúa soi sáng để biết phải làm gì và làm như thế nào, luôn phó thác đời mình trong tay Chúa… thì mới chúng tỏ chúng ta có đức tin mạnh.

"Sau khi giải tán đám đông, Người đi riêng lên núi mà cầu nguyện" (Mt 14,23), còn chúng ta thường hay chữa mình : Tôi bận quá không có giờ rảnh nào để vào sa mạc là nhà thờ mà cầu nguyện. Nhưng thật ra Chúa luôn ở bên cạnh ta và ở trong lòng ta. Chỉ cần một chút cố gắng là ta có thể tạo ra sa mạc cho mình : Mỗi ngày chúng ta có biết bao giờ rảnh rỗi để đi chơi, uống cà-phê, tán gẫu với chúng bạn hay ngồi hàng giờ trước vô tuyến truyền hình… Tại sao ta lại không bớt ra một ít phút để vào sa mạc tâm hồn mà cầu nguyện với Chúa. Mỗi ngày có rất nhiều cơ hội gặp Chúa, mà vì không ý thức sự cần thiết hay do sự lười biếng mà chúng ta đã bỏ lỡ cơ hội gặp Chúa. Chẳng hạn : Những lúc cửa hàng vắng khách, khi chờ đèn xanh đèn đỏ, khi đang đợi điện thoại, đang chờ đóng gói món hàng… Mỗi lần bị kẹt xe hay khi bất ngờ bị cúp điện không thể làm việc bình thường, thay vì bực bội khó chịu, chúng ta có thể nhớ Chúa đang hiện diện trong mình và thưa với Người về những điều làm ta lo lắng và đang phải đối phó.

THẢO LUẬN: Khi trẻ con tới tuổi biết bò biếi đi mà cha mẹ không tập cho con đứng trên đôi chân của mình vì sợ nó bị té đau, thì làm sao con ta có thể đi đứng bình thường được ? Trong Tin Mừng hôm nay, tại sao Đức Giê-su lại để cho Phê-rô gặp phải gió lớn khi đang đi trên biển ? Tại sao nhiều lúc Chúa để chúng ta vấp ngã hay gặp phải những điều rủi ro trái ý?

III. HIỆP SỐNG CẦU NGUYỆN
LẠY CHÚA GIÊ-SU. Qua câu chuyện con thuyền các môn đệ gặp sóng to gió lớn giữa biển khơi hôm nay, Chúa muốn ám chỉ con thuyền Hội Thánh chúng con. Hội Thánh ngày nay cũng đang gặp rất nhiều khó khăn trở lực nhiều khi không thể tiến triển được.

LẠY CHÚA. Xin cho các vị mục tử trong Hội Thánh luôn tin cậy vào tình thương và quyền năng của Chúa. Xin cho mỗi tín hữu chúng con luôn biết chu toàn sứ mệnh làm chứng cho Chúa bằng việc quên mình vị tha và yêu thương phục vụ. Xin cho chúng con sẵn sàng đóng góp công của để góp phần vào sứ mệnh loan Tin Mừng của Hội Thánh.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A. - Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

THẦY ĐÂY, ĐỪNG SỢ!
Mt 14, 22 - 33

Lm Trần Bình Trọng USA

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay ghi lại những cảnh tượng sợ hãi mà dân Chúa phải đương đầu chứng kiến.

Bài sách Các Vua cho thấy tiên tri Êlia bỏ chạy trốn trong hang khi bà hoàng hậu Isabel cho truy nã giết ông vì ông quả quyết chỉ có mình Thiên Chúa là Đấng đáng tôn thờ và là Đằng điều hành vũ trụ.

Bài Phúc âm ghi lại các Tông đồ trở nên khiếp sợ khi gặp sóng to bão lớn. Thường thì biển hồ Galiêa rất phẳng lặng. Nếu bạn có dịp du lịch với nhóm qua Đất Thánh, quê hương Chúa Giêsu, nhóm bạn có thể thuê tàu ra giữa biển hồ Tiberia vào lúc nhá nhem tối. Rồi một người trong nhóm đọc bài Phúa Âm hôm nay. Bạn sẽ thấy cảm động thế nào khi suy niện cảnh Chúa đi trên mặt nước, việc Chúa làm phép lạ cho sóng gió yên lặng, việc Chúa cứu Phêrô khỏi chìm và lời Chúa trấn an các tông đồ: Thầy đây, đừng sợ (Mt 14,22). Trong một bầu khí linh thiêng trên mặt hồ phẳng lặng, lời Chúa sẽ trở nên sống động thế nào trong tâm hồn bạn.

Hôm nay khi các tông đồ vừa chèo thuyền ra khơi thì mặt hồ nổi sóng dữ dội. Rồi có người đi trên mặt nước tiến về phía các tông đồ làm các ông sợ hú vía, tưởng ma quái hiện hình trêu chọc. Chúa Giêsu liền lên tiếng trấn an các ông. Thánh Phêrô là loại người nóng tính, hăng say. Khi vừa nghe tiếng Chúa, ông đòi được đến gần. Lúc này ông cảm thấy sóng gió thổi mạnh. Sợ chìm, ông kêu lên: "Xin Thầy cứ con với" (Mt 14,30). Chúa Giêsu dang tay cứu ông với giọng trách móc: "Hỡi người hèn tin! Sao lại nghi ngờ" (Mt 14, 31). Đến đây bạn có thể nhớ lại bao nhiêu cảnh tượng kinh hoàng trong cuộc chiến tại quê nhà vào thập niên 60 và đầu thập niên 70. Rồi trong cuộc hành trình đi tìm tự do ngoài biển khơi, nhìn thấy người thân nhân chết đói, chết khát, chết chìm mà lòng xót xa nghẹn ngào. Trong chuyến đi tìm tự do, bạn còn ôm ấp nhiều mối lo sợ: sợ thuyền bị hết nhiên liệu, sợ sóng to bão lớn, sợ thiếu thực phẩm, nước uống, sợ bị hải tặc rượt bắt hãm hại. Bạn đã tựa vào niềm tin nào để bám víu?

Đứng trước những khổ trạng đó, bạn tự hỏi tại sao Chúa lại để những gian nguy khốn khó xẩy đến cho bạn và gia đình bạn? Và đâu là quyền phép của Chúa? Bạn có thể mất đức tin nếu bạn không tìm được câu trả lời thỏa đáng. Không ai có thể trả lời được tại sao, không ai biết được đường lối của Chúa, mà chỉ có thể chấp nhận bằng đức tin. Nếu nhìn kỹ vào đời sống, bạn sẽ thấy rằng những hoàn cảnh trắc trở có thể trở thành những cơ hội được chúc phúc, những cơ hội Chúa dùng để dẫn đưa bạn tiến lại gần Chúa, những cơ hội giúp bạn tìm đến và trở về với Chúa. Bạn sẽ thấy lòng từ bi và nhân hậu của Chúa đến với bạn sau những khủng hoảng của tâm hồn, và bạn sẽ tìm lại được sự bình an.

Nếu gặp sóng gió ngoài biển cả, bạn cũng có thể gặp sóng gió trong tâm hồn. Sóng gió trong tâm hồn có thể xẩy đến cho bất cứ ai, người lành cũng như người dữ. Người có đức tin sắt đá cũng có thể gặp sóng gió trong tâm hồn: những cơn cám dỗ nặng nề, những giằn vặt trong lương tâm, những nghi ngờ về sự hiện diện của Chúa. Để đối phó với những sóng gió trên biển cả, các tông đồ kêu cầu đến Chúa, một việc xem ra là cần thiết phải làm. Tuy nhiên Chúa lại trách móc họ, vì họ thiếu lòng tin. Điều Chúa muốn nói ở đây là các ông phải có lòng tin vào Chúa một cách liên tục trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống, chứ không phải chỉ kêu cầu đến Chúa khi gặp nguy hiểm, thất bại, bệnh tật mà thôi.

Hôm nay Chúa dạy bạn bài học là lời cầu nguyện tín thác của bạn vào Chúa phải là lời cầu xin, một tâm trạng phải có thường trực trong đời sống, trong tất cảmọi hoàn cảnh của cuộc đồi, chứ không phải chỉ khi gặp khó khăn trắc trở, khi bị dồn thế bí mới kêu cầu Chúa.

KHI HÀNH TRÌNH ĐỨC TIN CÓ SÓNG GIÓ
Mt 14, 22 - 33

Lm Bùi Quang Tuấn CSsR

Vào khoảng năm 860 trước Chúa Giêsu sinh ra, vương quốc Israel bị ảnh hưởng bởi tà giáo. Vua Ahab và hoàng hậu Izabel nuôi dưỡng hàng ngàn tiên tri Baal. Nhiều đền thờ thần ngoại được xây lên. Dân chúng cũng hùa theo việc cúng bái Baal. Nhưng tiên tri của Giavê Thiên Chúa là Êlia vẫn can đảm đương đầu với đám đông phản trắc để bênh vực chính giáo.

Một mình ông dám thách thức 450 tiên tri Baal hãy chứng minh cho toàn dân biết đâu là Chúa thật. Êlia bảo người ta bắt hai bò tơ để đôi bên cùng xẻ thịt, đặt lên củi, và khẩn cầu. Thần linh nào đáp lời nguyện xin, cho lửa xuống thiêu cháy đống củi cùng của lễ, thì đó chính là Đấng mọi người phải tôn thờ.

Sau khi giết bò và chất lên bàn thờ, 450 tiên tri và tư tế Baal bắt đầu kêu khấn: "Lạy thần Baal, xin đáp lời chúng tôi." Nhưng không một tiếng trả lờ! Họ bắt đầu nhảy nhót như kiểu lên đồng. Nhưng cũng chẳng thấy ai đáp lại! Êlia mới chế nhạo: "Các ngươi phải kêu lớn hơn nữa. Không chừng thần linh đang suy tính hay bận rộn chuyện gì; cũng có thể Ngài đi vắng hoặc đang ngủ. Đánh thức ngài dậy đi!" Các môn đệ thần Baal ra sức kêu gào, lại còn rạch mình cho máu chảy lai láng như kích động lòng trắc ẩn của thần linh. Nhưng vẫn không thấy gì.

Lúc này Êlia mới giơ tay cầu nguyện: "Lạy Giavê Thiên Chúa của Abrahan, Isaac và Israel, ước gì hôm nay người ta nhận biết chính Người... xin nhậm lời tôi" (1 V18, 36-37), và lập tức Giavê cho lửa từ trời thiêu cháy hết mọi của lễ của Êlia. Thấy vậy, toàn dân tung hô Thiên Chúa. Thế rồi, khi được lệnh của Êlia, họ đem các tiên tri và tư tế Baal xuống núi giết sạch.

Chuyện xảy ra quá bất ngờ khiến hoàng hậu Izabel bàng hoàng căm tức. Bà thề sẽ lấy mạng Êlia bằng mọi giá. Khi biết thế, vị tiên tri tức tốc lên đường lánh nạn. Sau một ngày trốn chạy vất vả trong vùng sa mạc khô khan, ông cảm thấy mệt mỏi chán chường. Con người can đảm và nhiệt thành hôm nao bây giờ lại rơi vào tình trạng hoang mang cực độ đến nỗi muốn chết cho yên. Ông thốt lên:"“Nay đã đủ rồi, lạy Giavê, xin cất mạng tôi đi, tôi cũng không hơn gì các bậc tổ tiên."

Người hùng của Thiên Chúa mà cũng có lúc đảo điên như thế thì huống chi là tôi! Thế nhưng câu chuyện không chỉ dùng lại ở đó. Kinh thánh kể tiếp:

Chính trong giây phút giao động và chán nản đó của người hùng, sứ thần Thiên Chúa đã đến nâng đở ông bằng bánh và nước. Êlia đã ăn và uống. Sau đó tiếp tục hành trình 40 ngày đêm đến núi Sinai. Tại đây ông đi vào cuộc gặp gỡ và đối thoại với Thiên Chúa. Cuộc gặp gỡ xảy ra không phải trong bão tố, đất động hay lửa chớp, nhưng trong làn gió thoảng đưa.

Từ trong làn gió thoang thoảng ấy, Thiên Chúa cất lời nâng đỡ và chỉ dẫn Êlia. Cuộc gặp gỡ thân tình với Giavê đã kéo ông khỏi hố sâu của lao đao thất vọng. Kết quả, Êlia tìm lại được bình an và sức mạnh nội tâm, tiếp tục ra đi chu toàn sứ mạng làm chứng cho Thiên Chúa.

Thiết tưởng hành trình đức tin của người Kitô hữu cũng có những lúc khốn khó lao đao như Êlia vậy. Dù là người nhiệt tâm và can đảm cách mấy cũng không tránh khỏi tình trạng bị thế gian săn đuổi, đe dọa, và bao chước cám dỗ tấn công. Lắm lúc tưởng như sắp chìm sâu trong bão tố của hận thù, ích kỷ, đam mê. Ngay như thánh Phêrô, vị tông đồ năng nổ và xông xáo nhất trong hàng ngũ các tông đồ Đức Giêsu, cũng đã từng bị sóng gió làm đảo điên đến nỗi "sắp chìm xuống" (Mt 14,30). Nhưng khi ông thốt lên lời kêu van, "Lạy Thầy, xin cứu con", thì bàn tay đỡ nâng của Thiên Chúa đã giải thoát và đem lại bình an ngọt ngào.

Cho đến hôm nay, những người theo Đức Kitô vẫn chưa hết bị sóng gió trần gian bủa vây, không chỉ là những truân chuyên trong cuộc sống, nhưng còn là những cám dỗ tinh vi của quỉ ma. Nhưng liệu trước các phong ba dữ dằn đó, tôi có nghe được tiếng nói đỡ nâng và nhắc nhở của Thiên Chúa chăng? Lắm khi tiếng nói của Ngài rất nhẹ nhàng như "gió hiu hiu thổi" chứ không phải như tiếng đất động, bão tố hay hỏa hào.

Thử hỏi: nếu là một thanh niên hay thiếu nữ đang tuổi lớn lên, trước những lời réo gọi của đam mê xác thịt, liệu tôi có nghe được tiếng nhắc nhở "phúc cho ai có lòng trong sạch" nơi lương tâm để vượt thoát cảm bẩy dục tình và tiến lên núi cao với Chúa không?

Nếu vì nhẹ dạ mà sa ngã hay mang thai, trước những sóng gió của từ khước khinh bỉ, hay giòng xoáy phá thai của thời đại muốn nhận chìm sự sống, liệu tôi có nghe được tiếng bảo thì thầm trong lương tâm rằng "phá thai là giết người", và rồi hướng nhìn lên Chúa, kêu nài một sự đỡ nâng an ủi không?

Nếu là người mẹ có đứa con hư dại hay người vợ có ông chồng hủ bại, liệu tôi có nghe được lời nhắc nhở "Hãy vững tin" của Đức Giêsu để tiếp tục hành trình làm nhân chứng cho đạo Chúa không?

Nếu là người cha phải lao đao vì trách nhiệm gia đình, bị giông tố của xã hội tấn công, bị chèn ép, hiểu lầm, khích bác..., liệu tôi có nghe được tiếng nói "Đừng sợ, có Ta đây," và rồi đưa tay cho Đức Giêsu để Ngài kéo lên không?

Cuộc đời người Kitô hữu được ví như hành trình tiến lên núi Thánh giữa sa mạc nắng cháy, hay như chiếc thuyền đang tìm về bến bờ giữa bao sóng ta và gió ngược. Không có ơn Chúa đỡ nâng, chắc chắn con người sẽ ngã gục. Cũng như nếu không có những chiếc bánh và ấm nước Thiên Chúa trao cho, Êlia đã bỏ cuộc giữa đường; hay nếu không có bàn tay Đức Giêsu giơ ra kéo lên, Phêrô đã chìm sâu trong sợ hãi và hoang mang.

Song khi có Chúa, bình an và sức mạnh sẽ đến. Dù giông tố và thách đố trần gian cứ xảy ra, con thuyền đời tôi vẫn thẳng tiến, vì có Thiên Chúa đồng hành.

Nhưng để được như thế, có lẽ tôi phải không ngừng kêu lên: "Lạy Chúa, xin cứu con "(Mt 14,30).

CHÚA GIÊSU QUYỀN PHÉP
Mt 14, 22 - 33

Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP

Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa, như vậy chính Ngài đã tạo dựng vũ trụ, vạn vật, muôn loài, vì thế Ngài có toàn quyền trên thiên nhiên. Bài Tin Mừng hôm nay là một trong những bằng chứng để chúng ta quả quyết điều trên : Chúa đi trên biển nổi sóng và sóng gió yên lặng ngay khi có lệnh của Ngài hoặc khi có sự hiện diện của Ngài.

Hoàn cảnh của phép lạ : Sau khi làm phép lạ hóa bánh ra nhiều cho hàng ngàn người ăn no, dân chúng phấn khởi quá muốn suy tôn Chúa làm vua, nhưng Chúa thì không đồng tình như vậy, nên Ngài bảo các môn đệ xuống thuyền ra khơi đi trước và đợi Ngài ở phía bên kia Biển Hồ, Ngài giải tán dân chúng rồi một mình lên núi cầu nguyện. Các môn đệ ra đi được khoảng vài cây số thì gặp sóng to gió lớn. Thánh Luca ghi lại : gió ngược thổi mạnh dữ dội, thánh Mát-thêu cho biết : lúc ấy vào khoảng canh tư, nghĩa là vào khoảng ba giờ sáng, như vậy lúc đó các môn đệ đã rất mệt mỏi sau mấy tiếng đồng hồ chèo chống.

Giữa lúc ấy Chúa Giêsu đi trên mặt biển đến với các môn đệ, hình như Ngài muốn đi ngang qua các ông. Vừa mệt mỏi, vừa đêm tối, các môn đệ thấy có bóng người đi trên mặt biển, tưởng là ma quái hiện hình, nên hoảng sợ, nhưng khi nghe tiếng nói quen thuộc trấn an : “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ”, các ông mới nhận ra Chúa, lập tức Phêrô xin phép đi trên mặt nước đến gặp Chúa. Chúa bằng lòng. Phêrô bước ra khỏi thuyền đến với Chúa, nhưng đức tin của ông còn yếu kém, ông hồ nghi và lo sợ nên bị chìm dần xuống và kêu xin Chúa cứu giúp. Chúa đưa tay cầm lấy tay ông và trách nhẹ : “Người đâu mà kém tin vậy, sao lại hoài nghi?”. Khi Chúa và Phêrô đã lên thuyền, sóng gió liền yên lặng và mọi người tuyên xưng Chúa : “Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa”.

Qua bài Tin Mừng này, chúng ta ghi nhận được ba bài học :

Bài học thứ nhất ,việc Chúa Giêsu đi trên mặt biển đến với các môn đệ cho chúng ta biết Ngài là Thiên Chúa. Đối với Chúa, việc này không có gì là khó khăn, và đối với chúng ta, cũng chẳng có gì là khó hiểu, vì Ngài là Thiên Chúa, là đứng tạo dựng vũ trụ, Ngài quyền phép vô cùng. Chính Ngài cầm quyền trên mọi định luật vật lý, nên việc Ngài đi trên sóng nước không có gì phản khoa học hay vô lý, nhưng lại minh chứng quyền năng Thiên Chúa của Ngài. Các môn đệ hôm ấy được chứng kiến tận mắt và ghi nhận sự kiện tỏ tường Chúa có quyền trên sóng biển, đi trên sóng, truyền cho chúng yên lặng. Vì thế, lòng tin của các môn đệ càng gia tăng. Đây cũng là điều nhắc nhở chúng ta: Chúng ta phải tin Chúa Giêsu tuyệt đối và thể hiện niềm tin ấy bằng cách sống theo những lời Chúa dạy, bởi vì như thánh Giacôbê nói : đức tin không có việc làm là đức tin chết.

Bài học thứ hai, đang khi các môn đệ gặp bão táp, sóng gió thì Chúa xuất hiện để cứu giúp họ. Trong khoảnh khắc mọi sự đều thay đổi vì có Chúa. Điều này cho chúng ta biết : ở đâu có Chúa là có bình an. Cuộc đời chúng ta cũng vậy, có giông tố bão táp, có thử thách khó khăn, nhưng chúng ta đừng bao giờ thất vọng nghĩ rằng Chúa bỏ rơi chúng ta, Chúa ở xa chúng ta hay không để ý gì đến chúng ta. Không, Chúa luôn ở với chúng ta, Chúa luôn đồng hành với chúng ta trên mọi nẻo đường, Chúa luôn sẵn sàng trợ giúp chúng ta. Chúng ta có thể nói : trong những giờ phút khó khăn, nguy hiểm, khổ đau, chẳng những Chúa đi bên cạnh chúng ta, mà Chúa còn bồng bế chúng ta trên cánh tay toàn năng của Ngài.

Bài học thứ ba ,Thánh Phêrô thấy Chúa đi trên sóng nước ngon lành nên đã phản ứng khá mau lẹ, có thể nói quá vội vàng trước khi kịp suy nghĩ, là xin Chúa cho ông cũng đi trên sóng nước như Chúa. Chúa bằng lòng ngay, nhưng vì yếu lòng tin, lo sợ nên Phêrô đã bị chìm xuống. Ong lại vội vàng kêu xin Chúa và Chúa cũng cứu giúp ngay. Đây cũng là điều nhắc nhở chúng ta : một quyết định hay một hành động vội vàng thường dễ sai lầm và gặp khó khăn. Vì thế, cần suy nghĩ cẩn thận trước khi quyết định một điều gì hay làm một việc gì, cần phải xác định được nên làm hay không nên làm và làm lúc nào. Đó là hai vấn đề : chúng ta phải cầu nguyện nhiều trước khi làm, một khi đã làm thì làm cho đến nơi đến chốn, nếu chẳng may thất bại thì cố gắng làm lại, đừng chán nản thất vọng. Thánh Phêrô đã làm như thế đã tin cậy Chúa, rồi càng yêu mến Chúa hơn trước và được Chúa tín nhiệm nhiều hơn.

TẠI SAO PHÊRÔ BỊ CHÌM
Mt 14, 22 - 33

Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb

Sau khi cho hơn năm ngàn người ăn uống no nê từ 5 chiếc bánh và 2 con cá, Chúa Giêsu truyền cho các môn đệ lên thuyền sang bên kia biển Galilê, còn Người giải tán dân chúng và lên núi cầu nguyện. Đêm đó, biển Galilê dậy sóng, phong ba bão táp tràn đến như muốn nhấn chìm con thuyền các môn đệ xuống đáy sâu. Chính lúc ấy, Chúa Giêsu xuất hiện cứu nguy cho con thuyền đang chòng chành giữa bão táp cuồng phong. Cũng chính lúc đó, qua lời khiển trách của Chúa Giêsu, chúng ta thấy đức tin của tông đồ Phêrô cũng như các môn đệ còn non nớt như thế nào.

Theo Kinh thánh, biển khơi tượng trưng cho quyền lực của sự dữ, là cạm bẫy thường xuyên đe doạ tính mạng của con người. Con thuyền các môn đệ ra khơi và dĩ nhiên, không thể tránh khỏi cạm bẫy này. Những ai có dịp đi biển và trải qua cơn giông bão giữa sóng nước mênh mông mới cảm nghiệm hết nỗi sợ hãi mà hôm nay các môn đệ gặp phải. Thế nhưng, với kinh nghiệm từng trải của nghề biển, các môn đệ tuy sợ hãi nhưng không đến nổi quá hãi hùng nếu không có sự xuất hiện của một bóng người bước trên sóng biển đang tiến về phía các ông. Nổi ám ảnh về cuồng phong, về sóng đánh và ngược gió không làm các ông hốt hoảng cho bằng sự xuất hiện của chủ nhân biển cả- quyền lực của sự dữ, mà các ông cho là “ma” đang tiến đến gần chiếc thuyền. Các ông cho rằng nếu chỉ là sóng đánh và ngược gió, các ông có thể chống chọi bằng kinh nghiệm của mình, nhưng nếu có sự nhúng tay của ác thần, của bóng ma sự dữ, thì điều này thật tệ hại, các ông chắc chắn sẽ bị chôn vùi trong biển khơi.

Chính lúc các ông hoảng loạn, không còn biết phải làm gì hơn là việc gào thét để mong sao “bóng ma” kia rẽ lối khác mà đi, đừng đến quấy phá các ông, thì một giọng nói thân quen vang lên: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!”. Giọng nó ấy rõ ràng là của Thầy- người mà các ông biết là sau khi giải tán dân chúng, đang cầu nguyện trên núi. Thế nhưng, sao Thầy lại xuất hiện ở nơi đây, trong lúc biển gầm sóng thét thế này? Giọng nói thân quen ấy chứng tỏ Chúa Giêsu không hề rời bỏ các môn đệ của mình, dù các ông đang làm gì và ở đâu. Giọng nói ấy cũng minh thị rằng Chúa Giêsu có thể xuất hiện bất cứ lúc nào và bất cứ nơi đâu, nhất là trong những hoàn cảnh hiểm nguy của cuộc đời.

Hình ảnh chiếc thuyền các môn đệ vượt đại dương, đương đầu với sóng gió được sánh ví như con thuyền Giáo hội trôi theo giữa dòng đời trần thế. Phêrô được xem như viên thuyền trưởng hướng dẫn con thuyền vượt sóng đến bến bờ bình an. Trên hành trình ấy, những tảng đá ngầm, những cơn sóng thần, những trận cuồng phong và ngay cả hải tặc, … tất cả đều có thể làm cho con thuyền mỏng manh này bị nhấn chìm xuống đáy biển sâu nếu viên thuyền trưởng lơ là nhiệm vu. Chính vì thế, vai trò của Phêrô rất quan trọng trong việc lèo lái con thuyền vượt sóng đại dương. Chúng ta thấy một khi Phêrô biết bám vào Chúa, biết tin tưởng và cậy trông vào Chúa, ông có thể làm được tất cả những phép lạ cũng như chiến thắng sự dữ như Chúa đã làm. Thế nhưng tại sao Phêrô lại bị chìm giữa biển khơi? Điều dễ nhận ra là một khi ông rời xa Chúa, tâm trí ông xao lãng việc kết hiệp với Chúa, ông sẽ không thể làm được chuyện gì. Việc ông bị chìm vào biển khơi khi đang bước đi ngon lành là một minh chứng điển hình cho việc ông rời xa Chúa. Như thế đã rõ, Phêrô chìm vào biển khơi là bởi vì ông dựa vào sức mình mà không dựa vào Chúa; Phêrô chìm vào biển khơi là bởi vì ông kém lòng tin; Phêrô chìm vào biển khơi là bởi vì ông vẫn còn hoài nghi ngay cả việc mình đang thực hiện bởi ý Chúa.

Hình ảnh Phêrô chìm vào dòng biển cũng là hình ảnh tiêu biểu cho mỗi Kytô hữu trong mọi thời đại. Trên hành trình đức tin, nhiều khi chúng ta bị vấp ngã do quá tự tin, quá dựa vào sức mình mà không cậy trông vào ơn thánh Chúa. Bài học của Phêrô vẫn còn đó. Vững tin vào Chúa, bám chắc vào ơn Chúa, ông đã bước trên biển cả như đi trên đại lộ thênh thang. Thế rồi chỉ một phút tự hào, khoái chí vì nghĩ rằng mình đang làm được điều kỳ diệu mà không dễ ai làm được, ông đã bị nhấn chìm vào biển khơi. Đôi khi chúng ta cũng như Phêrô, luôn tự đắc vì mình hơn người, mình làm được nhiều công trạng mà quên mất điều quan trọng này là tất cả đều đến từ Thiên Chúa, ngoài Chúa ra, con người không thể làm được điều gì đáng để tự hào.

Xin cho Lời Chúa hôm nay giúp mỗi người chúng ta nhận ra thân phận mỏng giòn yếu đuối của mình để không ngừng cậy trông vào ơn Chúa, xin ơn Chúa giúp và củng cố niềm tin hầu có thể can đảm vượt qua mọi trở ngại, mọi cám dỗ trong đời.

THẦY ƠI! CỨU CON....
Mt 14, 22 - 33

Lm Francis Lý Văn Ca

Bài Tin Mừng Chúa nhật 19 Năm A này cũng mang cùng một tư tưởng như Chúa Nhật 18. Đó là: Chúa Giêsu đã can thiệp kịp thời trước nỗi bất lực cửa các môn đệ.

Sau khi dân chúng mải mê nghe Lời giảng dạy của Chúa Giêsu mà quên đi trời đã về chiều với cái bụng rỗng. Các môn đệ muốn phục vụ bữa ăn cho họ nhưng trong tay chỉ có 5 chiếc bánh và 2 con cá. Nhưng Chúa Giêsu đã dùng cái khả năng nhỏ bé của các ông mà làm phép lạ cả thể nuôi 5 ngàn dân chúng ăn no.

Chúa nhật 19: Trong lúc các môn đệ đang bất lực trước sóng gió bão táp, họ tưởng như chết tới nơi, nhưng Chúa Giêsu đã xuất hiện truyền cho sóng yên biển lặng và kéo thuyền các ông vào bờ. Theo như Tin Mừng tường thuật thì khi xẩy ra cơn bão Chúa Giêsu không ở trên thuyền với các ông, thế nhưng Ngài không để các ông cô độc một mình, Ngài vẫn ở với các ông…

Thật vậy, sau khi làm phép lạ hóa bánh ra nhiều, Chúa Giêsu lên núi cầu nguyện một mình, còn các môn đệ bị bắt buộc phải lên đò qua bờ bên kia trước Ngài. Chúa Giêsu muốn tránh cho các môn đệ cơn cám dỗ về quyền bính, vì ngay lúc ấy theo Jn.6,15 thì họ muốn tôn Chúa Giêsu lên làm vua, nên chính Ngài cũng phải lên núi cầu nguyện để khỏi rơi vào cơn cám dỗ phục vụ áo cơm, và như thế sẽ đi trệch đường Thiên Sai mà Thiên Chúa Cha đã định.

Nhưng trên đò, các môn đệ đã gặp sóng cả gió ngược, Chúa Giêsu biết điều ấy nên giữa đêm tối Ngài đã đến với họ, nhưng họ không nhận ra Chúa và họ sợ hãi. Chúa đến với các môn đệ vào canh tư đêm tôi, canh tư là thời điểm cuối cùng của một đêm, nghĩa là vào thời cuối của công cuộc cứu độ. Ngài đến và tỏ uy quyền trên sóng biển, không những đi trên mặt biển mà còn truyền lệnh cho gió phải yên, đồng thời thông chia quyền hành với Phêrô, cho ông đi trên mặt biển.

Phêrô đòi đạp trên sóng mà đến với Chúa, nhưng khi nhìn thấy sóng ông sợ quá và chìm nghỉm, Chúa Giêsu phải đến với ông. Phêrô đạp trên sóng khi ông làm theo lệnh Chúa Giêsu, nhưng thấy gió ông chìm xuống. Chúa Giêsu đánh giá “ quân hèn tin”. Câu mắng của Chúa cho thấy Phêrô có tin nhưng đức tin của ông còn yếu. Như thế, nếu “vâng lời Thầy” thì mọi sự đều có thể làm được, còn khi tự mình mà đối đầu với sự dữ thì sẽ chìm.

Hội Thánh được ví như con thuyền vượt qua những thế lực xấu, vượt qua biển là sào huyệt của quyền lực sự ác, nó họat động mạnh mẽ và thuyền phải đội sóng mà đi, nghĩa là phải chiến đấu với ác thần và đôi khi Ngài phải vắng mặt để cho Hội Thánh chiến đấu một mình, như đã để cho các môn đệ phải đấu trí với lực lượng sự ác là cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Thế nhưng Ngài cũng đã đến với các ông, nhưng các ông không nhận ra Ngài đó là cuộc Phục Sinh, Ngài hiện đến với các ông, các ông không nhận ra. Qua kinh nghiệm ấy Hội Thánh tất yếu phải gặp sóng gió, nhưng nếu cứ theo lệnh Chúa, dựa vào lệnh Chúa thì sẽ đạp sóng mà đi thôi ! Nếu nhìn vào những khó khăn, nghĩa là nhìn vào sóng gió thì Hội Thánh sẽ chìm. Có nghĩa là ngưng dựa vào Chúa, ngưng lắng nghe tiếng Chúa thì sẽ chìm, sẽ mất can đảm.

Khi được chứng kiến phép lạ, các môn đệ đã tuyên xưng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa vì việc bước trên nước là biểu hiệu của Đấng hòan thành công cuộc tạo dựng. Đó là một dấu hiệu báo bình minh của ngày Giavê ( Is. 51,9-10). Đi trên nước là một cách hiển linh của quyền năng Thiên Chúa ở trong Đức Kitô.

Qua bài Tin Mừng, mẹ Hội Thánh muốn dạy chúng ta: Biển, sóng gió là những lực lượng của sự dữ đang hòanh hành trên thế giới, nỗi sợ của các môn đệ cũng là nỗi sợ của chúng ta. Chúng ta sợ vì thiếu đức tin và thiếu tin tưởng vào Thiên Chúa. Chúng ta nhận ra gương mặt Ngài trong sự thiện nhưng chúng ta không tin được lại gặp Ngài trong sự dữ, chúng ta sợ phải lựa chọn.

Hôm nay Chúa muốn mời gọi chúng ta lên thuyền như đã mời gọi các môn đệ và Ngài cũng sẽ để chúng ta chống lại sóng gió, chèo ngược gió, nhưng chính Chúa Giêsu cũng sẽ bước đi trên mặt nước của những lực lượng sự dữ. Chúng ta tưởng như Ngài vắng mặt nhưng thực sự Ngài đang hiện diện, Ngài tin tưởng chúng ta và Ngài đi trước chúng ta.Lạy Chúa Giêsu, trong đời họat động tông đồ của chúng con, nhiều khi chúng con gặp những thất bại, nhưng chúng con quên đi rằng Chúa đang hiện diện ở đó. Xin cho chúng con qua bài học của các tông đồ, chúng con cảm nghiệm rằng chính Chúa đang ở bên trong sự dữ và đang đi trước chúng con. Nhờ tin tưởng như thế chúng con sẽ thành công trong sứ vụ được trao phó.

ĐỨC KITÔ, ĐẤNG BAN BÌNH AN
Mt 14, 22 - 33

Lm Trần Thanh Sơn

Hình ảnh một con thuyền bập bềnh trên mặt nước, trong đêm tối cùng với gió bão, có lẽ không lạ gì với nhiều người trong chúng ta, nhất là đối với quý ông và các bạn thanh niên, những người làm nghề biển. Nhớ lại những lúc một mình lênh đênh trên biển, chắc quý vị cũng cảm nghiệm được sự bấp bênh của con người trước sức mạnh của thiên nhiên. Đứng trước sự bao la của biển cả và sức mạnh của thiên nhiên, tất cả chúng ta chắc đều thấy mình thật nhỏ bé và mong manh. Không chỉ là sức mạnh của thiên nhiên, trong cuộc sống, mỗi người chúng ta còn phải đương đầu với biết bao những thử thách, chống đối, hiểu lầm, và nhiều sóng gió của cuộc sống. Những khó khăn này, đôi lúc làm cho chúng ta phải ngã lòng như các tông đồ thấy Chúa đi trên biển đã sợ hãi mà la lên “Ma kìa”. Thế nhưng, ngay lúc đó, Đức Giêsu đã lên tiếng trấn an các ông: “Hãy yên tâm, Thầy đây, đừng sợ”.

“Hãy yên tâm, Thầy đây, đừng sợ” cũng là điều mà Đức Giêsu muốn nói với từng người chúng ta hôm nay. Tuy nhiên, nói như thế, không có nghĩa là cuộc sống của người môn đệ Đức Giêsu không còn gặp khó khăn, trở ngại, nhưng cho dù có khó khăn, trở ngại chúng ta hãy vững lòng vì đang có Chúa ở với chúng ta.

1. NHỮNG THỬ THÁCH CỦA NGƯỜI MÔN ĐỆ :
Chống đối đầu tiên mà người của Thiên Chúa gặp phải là sự chống đối từ các thế lực của sự dữ. Sự chống đối đó, người môn đệ luôn phải đối mặt ở mọi thời và mọi nơi. Sỡ dĩ có sự chống đối này vì thế gian không chấp nhận sứ điệp của Thiên Chúa mà người môn đệ của Thiên Chúa loan báo. Ánh sáng không thể ở chung với bóng tối (x. Ga 1, 5. 9. 11); điều thiện không thể ở chung với điều ác. Đây cũng là điều mà ngôn sứ Êlia đã gặp trong khi thi hành sứ mạng của mình. Vâng lệnh Thiên Chúa, ông đã tố cáo đời sống bất công và thờ ngẫu tượng của vua Akhab và hoàng hậu Giêdaben. Do đó, hoàng hậu đã truy sát ông, khiến ông phải trốn lên núi Horeb.

Những thử thách, bách hại mà vị ngôn sứ đã chịu trong khi thi hành sứ mạng của mình, cũng là những sóng gió mà Giáo Hội của Đức Kitô phải đương đầu trong suốt hơn 2000 năm qua. Kể từ khi Đức Kitô, vị Hôn Phu của mình bị đóng đinh vào thập giá chỉ vì đã làm chứng cho chân lý (x. Ga 18, 37), con thuyền Giáo Hội tiếp tục gặp biết bao sóng gió cả bên trong lẫn bên ngoài. Từ bên ngoài, đó là các cuộc bách hại liên tục và đẫm máu; còn bên trong là các cuộc ly khai đầy đau buồn của các anh em Chính Thống giáo vào thế kỷ X, rồi các giáo phái của Thệ phản vào thế kỷ 16.

Ngay cả hiện nay, con thuyền Giáo Hội cũng đang phải đương đầu với biết bao sóng gió và đêm tối của thế lực tội lỗi. Hình ảnh con thuyền của các tông đồ đang bị “sóng đánh chập chờn vì ngược gió” (Mt 14, 24) là một diễn tả rất cụ thể của cuộc sống người môn đệ trong thế giới hôm nay. Là người môn đệ của Đức Kitô, chúng ta cũng đang phải đi “ngược gió”, nghĩa là đi ngược với những gì mà bản năng và tính ích kỷ của chúng ta đòi hỏi. Những khi chúng ta sống công bằng và bác ái, hay sống trong sạch và trung tín trong đời hôn nhân là những lúc chúng ta đang đi ngược với tính tham lam, ưa thích được hưởng thụ của bản năng nơi con người tự nhiên. Và như thế, chắc chắn chúng ta sẽ gặp nhiều chống đối, trở ngại từ bên ngoài và cả từ bên trong con người chúng ta nữa (x. Rm 7, 14-24), nhưng chúng ta hãy an tâm vì Đức Giêsu đã nói: “Hãy yên tâm, Thầy đây, đừng sợ”.

2. ĐỨC KITÔ, ĐẤNG BAN BÌNH AN:
Thật vậy, giữa cuộc bách hại của hoàng hậu Giêdaben, và trong hoàn cảnh như cùng quẫn nhất. Thiên Chúa vẫn ở bên ngôn sứ Êlia, âm thầm, nhưng hiệu quả. Ngài đến như một cơn gió nhẹ giúp ông xua tan nỗi nhọc mệt của cuộc trốn chạy, tìm lại được sự bình an và thanh thản cho tâm hồn. Thiên Chúa không hiện diện trong sự ầm ĩ của cơn gió mạnh xé núi non, gió bão hay cơn động đất, mà là trong làn gió hiu hiu (x. 1 V 19, 11-12). Điều này cho ta thấy cần phải tỉnh thức để nhận ra bàn tay nhẹ nhàng, nhưng rất hiệu quả của Chúa giữa bao nỗi khó khăn, vất vả trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta.

Có Thiên Chúa, có Đức Kitô là chúng ta có được tất cả và tâm hồn chúng ta sẽ được bình an. Ý thức điều đó, thánh Phaolô đã rất đau buồn khi dân Do thái là những người đồng hương của ngài chối bỏ Đức Kitô, ngài tâm sự: “lương tâm tôi làm chứng cho tôi trong Thánh Thần: là tôi buồn phiền quá đỗi, lòng tôi hằng đau đớn luôn.” (Rm 9, 1-2). Cũng chính vì muốn cho dân mình được hạnh phúc và bình an bằng cách đón nhận Đức Kitô, nên thánh nhân đã dùng một kiểu nói rất mạnh: “Chính tôi đã ao ước được loại khỏi Đức Kitô vì phần ích anh em của tôi, là những thân nhân của tôi về phần xác” (Rm 9, 3). Thế đó, thánh nhân sẵn sàng hy sinh bản thân mình để cả dân tộc mình được đón nhận Đức Kitô.

Tuy nhiên, để có thể nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa, ngôn sứ Êlia đã vào một hang động. Còn các tông đồ, sau sự kiện hoá bánh ra nhiều đang được đám đông hoan hô, Chúa đã giục các ông trở xuống thuyền mà qua bờ bên kia trước. Tất cả những điều này cho thấy để có thể nhận ra Chúa, mỗi người chúng ta cần có sự yên lặng. Không chỉ là sự yên lặng bên ngoài, nhưng quan trọng hơn là sự yên lặng bên trong, nghĩa là cần để cho tâm hồn chúng ta lắng đọng, không để tâm trí chúng ta quá lo lắng và nhất là phải chuyên cần cầu nguyện. Vì chính khi cầu nguyện, chúng ta sẽ gặp được Chúa.

Hiện diện nơi đây trong giờ phút này, có lẽ trong lòng mỗi người chúng ta cũng đang có nhiều nỗi lo lắng, băn khoăn. Chúng ta lo lắng cho tương lai của mình, không biết sẽ đi về đâu và sẽ như thế nào. Chúng ta lo lắng cho đời sống kinh tế, lo lắng cho hạnh phúc gia đình của chúng ta không biết có trọn vẹn không. Chúng ta băn khoăn vì nhiều nỗi niềm trong lòng không biết chia sẻ cùng ai. Hôm nay, lắng nghe lời Đức Kitô: “Hãy yên tâm, Thầy đây, đừng sợ”, tất cả chúng ta hãy can đảm nhảy ra khỏi con thuyền của sợ hãi như Phêrô, mắt hướng thẳng về Đức Giêsu, vượt qua những sóng gió của lo lắng, và bất an để đến với Ngài. Chớ gì lát nữa đây, từng người chúng ta đều sẵn sàng để đón rước Đức Kitô trong bí tích Thánh Thể lên con thuyền cuộc đời chúng ta. Có Ngài chúng ta sẽ được bình an như lời Tin mừng thuật lại: “Khi cả hai (Đức Giêsu và Phêrô) lên thuyền thì gió liền yên lặng”.

Giờ đây, trong niềm tin yêu và phó thác vào Đức Kitô, Đấng ban bình an, xin mời cộng đoàn cùng đứng lên tuyên xưng đức tin.

ĐI TRÊN MẶT BIỂN
Mt 14, 22 - 33

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ, mọi loài và dựng nên con người giống hình ảnh Ngài. Do đó, Thiên Chúa có toàn quyền trên vũ trụ, vạn vật, con người, và mọi loài, mọi vật, thiên nhiên, con người đều phải vâng phục lệnh của Ngài. Quyền năng của Chúa được thi thố ngay trên biển cả, khi sóng to, gió lớn, bão táp xẩy đến, lúc các môn đệ đang run sợ…Chúa hướng về phía họ, đi trên mặt hồ, Ngài làm phép lạ khiến biển im, gió lặng. Ngài khiến Phêrô đi trên mặt biển đến với Ngài. Các môn đệ đã nhận ra quyền năng của Chúa, nên các Ngài đã xưng tụng Chúa :” Thật là Con Thiên Chúa “. Cái trớ trêu là nhiều người chứng kiến phép lạ, nhưng đã không nhận ra Ngài. Chúa đến trần gian không phải để giương Đông kích Tây, không phải để thị oai, xưng hùng xưng bá, Ngài đến để ban bình an, ban ơn cứu độ, chạnh lòng thương xót và trung thành giữ trọn Giao ước mà Ngài đã ký kết với dân, Ngài sẽ ban cho nhân loại mọi điều thiện hảo, Ngài dùng quyền năng để thi thố ơn lành của Ngài cho nhân loại, cho con người…

PHÊRÔ VÀ CÁC MÔN ĐỆ TƯỞNG CHÚA GIÊSU LÀ MA :
Là những ngư phủ lành nghề, các tông đồ hiểu nước rất rõ. Nước mang lại nguồn sống cho các ông. Nước mênh mông của hồ, của biển, của đại dương mang nguồn sống cho các loài cá, loài tôm, loài ốc, loài vật và cả con người vv…Có nước nghĩa là có sự sống cho con người và cho các loài vật sống dưới nước. Nước là nguồn cung cấp sự sống cho con người, cho động vật, cho thảo mộc. Không có nước vũ trụ sẽ khô cằn và sẽ chết. Tuy nhiên, hôm nay trong một bối cảnh xem ra thật khác lạ. Các môn đệ đang ở dưới thuyền sau khi phép lạ Chúa Giêsu làm cho năm chiếc bánh và hai con cá nuôi sống nhiều ngàn người ăn. Chúa thi thố quyền năng của Ngài chế ngự thiên nhiên. Số là đang đêm thuyền của các môn đệ đã ra xa bờ khoảng mấy cây số, bị sóng đánh vì ngược gió ( Mt 14, 24 ). Sóng gào, nước gầm rú dưới thuyền của các ông, nước giờ đây đồng nghĩa là chết. Tin Mừng viết:” Vào khoảng canh tư, Người đi trên mặt biển mà đến với các môn đệ.Thấy Người đi trên mặt biển, các ông hoảng hốt bảo nhau :” Ma đấy!”, và sợ hãi la lên “( Mt 14, 26 ). Đúng là các môn đệ chưa nhận ra Chúa vì trong bóng đêm họ lầm tưởng Chúa là ma. Chúa Giêsu trấn an các ông :” Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ “ ( Mt 14, 27 ). Bây giờ họ mới hoàn hồn. Phêrô với tính bốc đồng muốn được Thầy ban đặc ân cho mình được tới với Thầy. Chúa nói với Phêrô:” Cứ đến !” ( Mt 14, 29 ). Chúa chiều lòng Phêrô nhưng ông không thành công vì thiếu lòng tin khi thấy gió thổi mạnh, ông bắt đầu chìm xuống nước. Phải chăng Chúa muốn dạy cho Phêrô và mọi người bài học hãy bằng lòng với cách Chúa thực hiện điều này điều nọ, chứ đừng đòi hỏi Người phải làm theo ý của con người ?. Chúa Giêsu liền đưa tay nắm lấy Phêrô và nói :” Người đâu mà kém tin vậy ! Sao lại hoài nghi ?”( Mt 14, 31 ). Khi Thầy trò lên thuyền thì gió lặng ngay ( Mt 14, 32 ).

TIN MỪNG MUỐN NÓI GÌ ? :
Chúa có toàn quyền trên mọi loài, mọi vật, trên vũ trụ, thiên nhiên, con người. Tin Mừng hôm nay là một trong những bằng chứng để quả quyết điều đó : Sóng to, gió lớn im lặng khi Chúa Giêsu có mặt. Thực ra, đối với Chúa Giêsu điều này chẳng có gì là khó khăn cả và về chúng ta, phần con người điều này cũng chẳng có gì là khó hiểu cả bởi vì Thiên Chúa là Thiên Chúa và là Đấng sáng tạo, tạo dựng mọi loài, mọi vật. Chính Ngài cầm quyền trên mọi sự, mọi định luật khoa học, toán học, vật lý vv…Do đó, việc Ngài đi trên mặt nước chẳng có gì là phản khoa học, hoặc tỏ ra vô lý nhưng lại chứng tỏ uy quyền Thiên Chúa của Ngài. Các môn đệ đêm hôm ấy nhận ra uy quyền của Chúa và họ càng gia tăng lòng tin nơi Ngài. Đối với nhân loại, đối với con người, đức tin của chúng ta, của mỗi người hầu như còn non kém và hay thay đổi, nên chúng ta phải cầu xin Chúa tăng thêm lòng tin cho chúng ta. Phêrô là gương điển hình cho chúng ta. Phêrô thấy Chúa đi trên mặt nước, ông vui sướng và cầu xin cho mình cũng được phúc đi trên mặt nước, Chúa đã ban cho ông ơn ấy, nhưng vừa đi ông thấy gió to thổi mạnh, ông lại sợ và chìm mình xuống nước, khiến ông phải cầu cứu Chúa và Chúa đã cứu ông. Dù sao đây cũng là lời cầu nguyện chân thành của Phêrô. Ông ý thức sự yếu hèn của mình và xin Chúa nâng đỡ, cứu vớt. Con người chúng ta cũng vậy thôi, trong cuộc hành trình về Trời, chúng ta gặp không biết bao nhiêu khó khăn thử thách, chúng ta hãy thành thực cầu xin Chúa giúp chúng ta và khiêm tốn xin Chúa cứu vớt. Chúng ta hãy tin tưởng, Chúa luôn có mặt bên ta để cứu giúp chúng ta như đã cứu vớt Phêrô:” Hãy yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ “. Đây là lời trấn an của Chúa và Chúa đã thực hiện như lời Chúa nói. Chúng ta hãy tin tưởng thật sự và khiêm tốn phó thác cho Ngài cuộc đời với những thử thách, khó khăn vv…

ÁP DỤNG VÀO THỰC TẾ CUỘC ĐỜI CỦA MỖI NGƯỜI :
Mỗi người chúng ta đều có chỗ trong trái tim Chúa, Ngài không gọi chúng ta cách chung chung. Ngài kêu tên từng người. Chúa dậy chúng ta, Ngài ở khắp mọi nơi, nhưng Ngài không ở trong gió bão, trong những đam mê, trong sự huyên náo ồn ào, trong những chia rẽ, hận thù, ghen ghét của con người. Chúa ở trong thinh lặng, thanh vắng, thanh bình, ở nơi những tâm hồn thanh sạch, đầy niềm tin như bài đọc thứ nhất diễn tả. Trong bài Tin Mừng Chúa dậy chúng ta phải hết lòng tin cậy vào Chúa. Chúa quở trách Phêrô vì ông tin vào Chúa nhưng lại nghi ngờ quyền năng của Ngài khi bị dao động, khi thấy gió thổi, sóng to. Chúa muốn chúng ta khiêm tốn vâng theo lời Chúa và sẵn sàng tin theo Chúa:” Chính Thầy đây, đừng sợ “.

Lạy Chúa Giêsu, xin ban thêm lòng tin cho chúng con để chúng con luôn vững vàng trước mọi thử thách của cuộc đời. Amen.

CÓ DỪNG CHÂN NHƯNG KHÔNG DỪNG LẠI
Mt 14, 22 - 33

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

Là Kitô hữu, chúng ta thường nghe cụm từ “hành trình đức tin”. Tin là một quá trình bước đi không ngừng, tiến mãi về phía trước để gặp Đấng vô hình. Thỉnh thoảng có dừng chân nhưng không bao giờ đứng lại.

Sau khi hỉ hoan về phép lạ cả thể mà Thầy đã thực thi cho gần vạn người no nê, các tông đồ lại phải chưng hửng lần nữa vì lệnh của Thầy : Hãy lên đường ! Hãy xuống thuyền mà qua bờ bên kia ! Cám dỗ dừng chân đứng lại và nghỉ ngơi trên thành công, trên chiến thắng vẫn luôn có đó với phận người. Sau khi khánh thành một công trình hoành tráng, sau khi hoàn thành một cuộc lễ hay một cuộc tổ chức lớn bé, thì dừng chân, ngồi lại để lượng giá, kiểm thảo để rút kinh nghiệm là điều cần thiết, nhưng để đứng lại chiêm ngắm vinh quang là một cám dỗ triền miên và thật khó lường hậu quả. Ròng rã hơn mười mấy năm trong vai trò thầy giúp xứ cũng như hơn mười mấy năm đời linh mục, bản thân nghiệm thấy chính mình và các đấng khi xây dựng một công trình nào đó thì chuyện hay đi lui đi tới ngắm nghía công trình là chuyện như cơm bữa. Ai lại không thích ngắm nghía vinh quang của mình. Ai lại không nghe người ta trầm trồ về cái gọi là thành công của mình. Hễ có khách đến thăm thì phải tìm dịp giới thiệu cho được những gì mình đã “ra tay”.

Các tông đồ năm xưa chẳng hơn gì chúng ta hôm nay. Dù chỉ là những người giúp phân phát bánh – cá, nhưng các ngài làm như chính tay mình thực thi kỳ công “phép lạ hóa bánh”. Theo Tin mừng thánh Gioan thì việc người dân muốn tôn Chúa Giêsu làm vua có thể là do dân chúng tự phát cũng có thể là bởi sự gợi ý có chủ đích của nhóm mười hai vị rất tham “ngồi bên hữu, bên tả Thầy trong vinh quang” ( x. Mc 10,35-40 ). Đêm đã về. Dân chúng đã no nê. Chúng mình cũng đáng được hả hê nghe bao lời chúc tụng chứ. Chuyện bất ngờ đã đến, dù không ai thích thú chút nào. Thầy ra lệnh tất cả xuống thuyền ngay. Còn Người thì giải tán dân chúng và lên núi cầu nguyện một mình.

Bỏ vinh quang, bỏ thành công rực rỡ để ra đi là một điều không dễ chút nào. Cảnh đời phía trước mịt mùng khó tiên liệu và sóng gió ba đào là chuyện dường như khó tránh. Các tông đồ hôm ấy đã phải đương đầu với hiện thực ấy. Sóng thì to, gió thì lớn. Thuyền đang chơi vơi nghiêng ngã. Lòng các ngài cũng ngã nghiêng theo gờ cạnh con thuyền. Tâm trạng của tiên tri Êlia năm nào cũng không khác gì. Sau chiến tích oanh liệt hạ gục những 450 sư sãi thần Baal, Êlia đã phải trốn chạy sự truy đuổi, tìm diệt của hoàng hậu Giêdabel. Sau vinh quang thì tai họa liền kề.

“Ra đi là chết trong lòng một ít”. Chẳng có sự dứt bỏ nào mà chẳng có xót xa hay đau đớn, nhất là phải từ bỏ những thành công huy hoàng hay những hạnh phúc êm ả cho dù chúng là hữu hạn của đời thường. Hạnh phúc đích thực vẫn ở phía trước. Đó là Thiên Chúa, Đấng không chỉ chờ đợi mà đang tiến tới để đón gặp chúng ta.

Tin là bước đi, là ra đi, tiến về phía trước, về nơi chưa hề biết như Abraham ngày nào. Bỏ quê hương, xứ sở, bỏ cả gia tộc thân yêu để lên đường. Xót dạ khi ra đi và bâng khuâng khi tiến về phía trước. Nào là sóng gió cuộc đời, nào là phong ba tình người, tất thảy như đang chờ đợi để dập vùi, đánh đắm con thuyền đời ta. Một Phaolô hết lòng hết dạ với người đồng hương Do Thái, ngài đã khẳng định : “ Quả vậy, giả như vì anh em đồng bào của tôi theo huyết thống, mà tôi có bị nguyền rủa và lìa xa Đức Kitô, thì tôi cũng cam lòng” ( Rm 9,3 ). Hiểu cho đúng thì Phaolô không quay lưng với tôn giáo tổ tiên mà tiến lên một tầm cao mới trong hành trình đức tin khi đã được diện kiến Đức Kitô phục sinh, Đấng Thiên Sai mà tổ tiên ông hằng mong đợi, thế mà ngài vẫn mãi bị người đồng hương xem là phản đạo, bội giáo, bỏ đạo để rồi luôn tìm cách bắt giết. Một khi đã ra đi, tiến về phía trước thì cái giá cần trả không chỉ là gian nguy, khốn khó mà cả sự lo âu, phiền muộn. Ngài thú nhận : “Thưa anh em, có Đức Kitô chứng giám, tôi xin nói sự thật. tôi không nói dối, và lương tâm tôi, được Thánh Thần hướng dẫn cũng làm chứng cho tôi rằng : lòng tôi rất đổi ưu phiền, và đau khổ mãi không ngơi” ( Rm 9,1-2 ).

Với Êlia, với Phaolô hay với các tông đồ khi ở trên thuyền chòng chành giữa biển đầy sóng gió, Thiên Chúa không bao giờ để các ngài cô đơn một mình. Người hằng ở với họ. Người luôn đồng hành với họ. “Thầy đây, đừng sợ !” ( Mt 14,27). “Ơn Ta đủ cho con” ( 2Cor 12,9 ). “ Thầy sẽ không để các con mồ côi” ( Gio 14,18 ). Dù giữa biển khơi hay giữa đêm tối của cuộc đời, Đấng làm người mãi ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế ( x. Mt 28,20 ). Chỉ một điều là hãy nhắm đích và tiến thẳng trong niềm tin.

Thỉnh thoảng cũng nên biết dừng chân để tự kiểm để định hướng hay chỉnh hướng, nhưng không được phép đứng lại. Đứng lại là một trong những thái độ tự hài lòng về thành công của chính mình. Từ chỗ hài lòng đến chỗ tự cao tự đại là một khoảng cách không mấy xa. Và hậu quả của sự tự kiêu, tự mãn như đã nhãn tiền. Chưa tính đến chuyện Chúa hạ kẻ tự kiêu và nâng cao người phận nhỏ ( x.Lc 1,52 ), thì chính kẻ cao ngạo, họ đã tự đặt mình vào vị thế cheo leo và sẽ ngã không biết lúc nào.

Đứng lại cũng là một hành vi tỏ dấu sự nghi ngờ. Khi thiếu niềm tin hay khi lòng tin yếu kém thì ta rất dễ bị cám dỗ dừng lại, không can đảm tiến lên. Những cái sợ như sợ khó, ngại khổ, sợ thất bại…nhiều khi nhấn chìm chúng ta trong các trở ngại khách quan vốn dĩ không thể tránh của kiếp người.

Không ai là không một lần gặp chông gai, sóng gió. Không ai là không đã từng nhiều lần ngã quỵ vì gian truân, khốn khó. Chuyện ngã, chuyện té là chuyện bình thường của phận người. Điều quan trọng là biết chỗi dậy và tiến lên. Trong niềm tin vào tình yêu của Đấng đã tự nguyện làm bạn đời của ta là Đức Giêsu, ước gì chúng ta được như thánh tông đồ dân ngoại là “quên đi những gì phía sau để lao mình về phía trước” ( Pl 3,13 ).

CON ĐƯỜNG CỦA CHÚA
Mt 14, 22 - 33

+ TGM Giuse Ngô Quang Kiệt

Sau khi làm phép lạ hoá bánh ra nhiều, nuôi năm ngàn người ăn uống no nê, Chúa Giêsu truyền cho các môn đệ xuống thuyền đi qua bờ bên kia. Rồi Người một mình lên núi cầu nguyện suốt đêm. Tại sao Chúa có thái độ kỳ lạ như thế ? Tại sao Chúa Giêsu bắt ép các môn đệ ra đi ? Tại sao giữa lúc dân chúng đang phấn khởi tinh thần, giữa lúc uy tín của Người dâng cao như núi, Người lại bỏ đi ? Trong Phúc âm, thánh Marcô và thánh Matthêu không nói rõ lý do. Nhưng Phúc âm thánh Gioan thì nói rõ : "Chúa Giêsu bỏ đi vì Người biết dân chúng muốn tôn Người lên làm vua" (Ga 6, 14-15). Thật là một quyết định khác thường. Theo thói thường, ta sẽ khuyên Chúa Giêsu lên ngôi làm vua rồi đi khắp nơi làm phép lạ nuôi người ta ăn uống no nê, mọi người sẽ theo Chúa và chịu phép rửa tội, cả thế giới sẽ thuộc về Chúa, khỏi mất công truyền giáo khổ cực.

Không, con đường của Chúa thì khác với con đường của ta.

Con đường của ta là con đường kiêu ngạo trong khi con đường của Thiên Chúa là con đường khiêm nhường. Ta luôn tìm cách nâng mình lên, còn Thiên Chúa luôn tìm cách hạ mình xuống. Ta muốn xưng mình là Chúa trong khi Thiên Chúa lại muốn xuống làm người. Không chỉ làm một người bình thường, nhưng còn mặc lấy thân phận nghèo hèn, yếu ớt, thậm chí bị coi như một người tội lỗi nữa. Khi nâng mình lên, ta thường hạ người khác xuống. Còn Thiên Chúa tự hạ mình xuống để nâng con người lên làm con Thiên Chúa. Con người và Thiên Chúa đều sử dụng bậc thang, nhưng theo những mục đích khác nhau. Con người sử dụng bậc thang để leo lên cao. Ai cũng muốn lên cao trong đời sống vật chất. Ai cũng muốn leo cao trong địa vị xã hội. Ai cũng muốn leo cao trong bậc thang danh vọng. Còn Thiên Chúa lại sử dụng bậc thang để đi xuống. Từ trời Thiên Chúa đã xuống thế làm người. Từ một người bình thường, Chúa còn xuống làm một người nghèo hèn, một người tội lỗi, một người thất bại.

Con đường ta chọn là con đường rộng rãi, dễ dãi. Còn con đường của Chúa là con đường chật hẹp khó khăn. Ta luôn tìm sự dễ dãi : làm sao cho đời sống đỡ vất vả, làm sao cho có những tiện nghi phục vụ đời sống, làm sao cho cuộc đời thành công tốt đẹp. Còn Thiên Chúa lại chọn con đường chật hẹp, bé nhỏ, khiêm nhường. Trong nghệ thuật quảng cáo, người ta hứa hẹn cho khách hàng mọi sự tiện nghi thoải mái. Còn Chúa Giêsu thì hứa với những kẻ muốn theo Người rằng : "Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Ta"(Mt 16, 24). Trong các trường học người ta quảng cáo : ai học trường này sẽ thành công, sẽ lên chức, sẽ lên lương. Còn Chúa Giêsu lại dạy các môn đệ : "Trong anh em, ai lớn nhất thì phải nên như người nhỏ tuổi nhất, và kẻ làm đầu thì phải nên như người phục vụ" (Lc 22, 26).

Chính Chúa Giêsu không đi vào con đường rộng rãi thênh thang, nhưng đã chọn con đường bé nhỏ, chật hẹp. Người không chọn cứu chuộc con người bằng những thành công lẫy lừng, những phép lạ kinh thiên động địa. Nhưng Người đã chọn cứu chuộc nhân loại bằng con đường đau khổ, con đường thập giá, con đường tử nạn. Chính vì thế, hôm nay, vì sợ đám đông tôn Người lên làm vua, đi xa con đường khiêm nhường bé nhỏ, Người đã bỏ đám đông mà đi. Người sợ các môn đệ bị nhiễm thói khoe khoang, phô trương, quyền lực, nên thúc giục các ông xuống thuyền sang bờ bên kia trước.

Đây không phải lần đầu tiên Chúa gặp cơn cám dỗ loại này. Trong sa mạc ma quỉ đã xui giục Người bỏ con đường khiêm nhường, đau khổ để đi vào con đường vinh quang, dễ dãi. Đây cũng chưa phải là cơn cám dỗ cuối cùng. Cám dỗ sẽ còn trở lại với lời khuyên của Phêrô khi ông ngăn cản Thày ra đi chịu chết (x. Mt 16, 23). Cơn cám dỗ khốc liệt tiếp tục trong vườn Giệtsimani khiến Người nao núng hầu như muốn tháo lui (x. Mt 26, 39). Cơn cám dỗ không buông tha cả khi Người đã bị treo trên thánh giá với lời thách thức của mọi người : “Nếu Ông là Con Thiên chúa, hãy xuống khỏi thập giá để chúng tôi tin” (x. Mt 27, 42). Nhưng Người đã chiến thắng tất cả những cơn cám dỗ của ma quỉ, kiên quyết đi vào con đường thánh ý Chúa Cha, con đường khiêm nhường, vâng lời, hi sinh gian khổ.

Bản thân ta và Hội Thánh, nếu muốn trung thành với Chúa, không thể có chọn lựa nào khác ngoài con đường của Chúa đã đi.

Quá khứ đã minh chứng : Chính khi giàu sang, quyền thế, thì Hội Thánh sa sút, khủng hoảng. Trái lại những khi gặp khó khăn, nghèo khổ, bắt bớ, Hội Thánh lại phát triển mạnh mẽ, vì đang đi vào con đường của Chúa.

Là môn đệ Chúa, ta hãy mạnh dạn bước theo Chúa vào con đường khiêm nhường bé nhỏ, vào con đường chật hẹp từ bỏ mình, vào con đường thánh giá đau khổ. Tuy khó khăn, đau đớn, nhưng đó mới là con đường dẫn ta đến với Chúa, ơn cứu độ của ta.

LẠY THẦY! XIN THÊM LÒNG TIN CHO CHÚNG CON
Mt 14, 22 - 33

LM Anmai, DCCT

Liệu người ta có sống được không khi không có lòng tin? Câu trả lời dường như quá dễ dàng, người ta chết vì thiếu cơm thiếu gạo, thiếu chất dinh dưỡng hay thuốc men chứ có ai chết vì thiếu lòng tin!

Nhưng cứ thử hình dung, một đứa trẻ nếu không có lòng tin vào tình thương, vào trách nhiệm của cha mẹ mình thì dù có ăn ngon mặc đẹp, được hưởng thụ mọi tiện nghi, thậm chí được học hành thì đứa trẻ ấy cũng chẳng bao giờ được sung sướng. Nếu sống như vậy nó chỉ là một đứa trẻ vất vưởng mồ côi, có lẽ trong số những trẻ bỏ nhà đi bụi đời nhiều em đã mang theo cõi lòng tan hoang như thế. Bình thường, ra khỏi cái thế giới của gia đình, một thiếu niên có thêm lòng tin mới, tin vào thầy cô bạn bè, nhà trường. Chúng đau khổ khi bị bạn bè chơi xấu, và đâu đó nhà trường đã biến thành thị trường, người dạy không vì chúng mà vì túi tiền của cha mẹ chúng nên chúng đã hỗn láo, hư hỏng hoặc lớn lên ra trường đi làm, chúng tìm mọi cách để tận thu lại với đời.

Vợ chồng mà không tin nhau thì dù nhà cao cửa rộng, chăn êm nệm ấm thì cũng chỉ là một sự "liên hiệp", và những cuộc hành lạc hợp pháp. Không niềm tin thì không thể có tình yêu, còn hạnh phúc càng là chuyện hoang tưởng.

Một cuộc sống thiếu lòng tin thì đó không phải là cuộc sống…

Chẳng hiểu làm sao mà ngày hôm nay con người sống trong một thế giới thiếu vắng lòng tin để rồi từ thiếu vắng lòng tin nó đã gây ra cho con người biết bao nhiêu là xáo trộn, biết bao nhiêu à bất an. Ngày hôm nay người ta phải đối diện với quá nhiều sự giả trá, sự gian tà để rồi không còn tin vào nhau như xưa nữa.

Nhan nhản, sách báo, tivi, các chương trình truyền thông đại chúng cho chúng ta thấy một cuộc đời thật ê chề, thật chán chường. Tất cả chỉ là những lời hứa hão huyền, những lời hứa cuội. Mới đây thôi, tuần qua, một sự kiện đáng nhớ của người dân Sài Gòn : cơn mưa chiều ngày 1 tháng 8 đã biến Sài Gòn thành một dòng sông. Do đâu ? Do người ta hứa hẹn, người ta thiếu trách nhiệm để ma lo cho dân. Ngân sách rót ra cho chuyện sửa chữa cầu cống, ngập lụt đổ ra bạc tỷ, tiền ấy gom góp từ mồ hôi nước mắt của dân, vậy mà sau những trận mưa thì người dân hoàn toàn chịu trận. Chịu riết rồi chẳng còn ai tin vào lời hứa là sẽ lo cho dân, sẽ phục vụ dân nữa. Một lần, hai lần, ba lần người ta còn cố gắng chờ đợi để mà tin nhưng nhiều lần quá chẳng ai còn can đảm để mà tin.

Ngoài đường là như vậy, còn trong nhà thì sao ? Trong nhà hình như cũng nhuốm một cái màu đen tối của sự mất niềm tin vào nhau. Ai cũng sợ sống sự thật, đối diện với sự thật để rồi người ta không còn đến với nhau thật lòng nữa. Chắc có lẽ từ cái lối sống “làm láo báo cáo hay” nó nhen nhúm vào trong con người ta khi nào mà người ta không hay để rồi ai cũng báo cáo, cũng “nổ” cũng tô son trát phấn về mình. Vì sao ? Vì sợ người đối diện biết cái bộ mặt thật của mình nên người ta phải làm như vậy. Và khi làm như vậy đến một lúc nào đó cũng xuất đầu lộ diện thì thử hỏi còn ai dám tin vào nhau nữa ?

Cay đắng, bi đát ở chỗ là con người, ai ai cũng thấy và cần sống với những người có niềm tin vào nhau nhưng rồi người ta cư xử với nhau làm sao đấy. Cứ thật thật giả giả lẫn lộn để rồi đi tìm một lòng tin nguyên vẹn hơi bị hiếm.

Đứng trước vấn nạn của lòng tin, chúng ta có lòng tin như thế nào với người xung quanh và người xung quanh chúng ta có tin chúng ta hay không ? Cách riêng, người kitô hữu, người có Chúa thì sống lòng tin như thế nào ?

Bài tin mừng hôm nay cho chúng ta thấy rõ về lòng tin. Phêrô, là người đã từng theo Thầy mình đi rao giảng nhưng đụng chuyện Phêrô cũng chưa tin vào Chúa, vẫn ngờ vực Chúa. Qua thái độ ngờ vực của Phêrô, Chúa Giêsu đã thẳng thắn trách móc ông. Chúng ta nhìn lại đời mình, chúng ta theo Chúa nhiều năm lắm, có người hai chục, có người ba chục, có người bốn chục … được Chúa yêu thương nhiều, được Chúa ủ ấp nhiều nhưng hình như chúng ta vẫn mang trong mình thái độ ngờ vực như Phêrô thì phải. Thế nhưng chuyện hay nơi Phêrô là sau bao nhiêu lần ngã lên vấp xuống nhưng cuối cùng Phêrô đã tin và sống chết với Thầy. Còn chúng ta, chúng ta sẽ sống sao với Thầy của chúng ta ?

Ngày hôm nay, cơ hội để chúng ta đặt lại niềm tin của chúng ta vào Chúa. Chúng ta đã theo Chúa nhiều năm nhưng hiện giờ lòng tin của chúng ta vào Chúa như thế nào ? Chúng ta tin vào người đời hay tin vào Thiên Chúa.

Chúa vẫn nhắc nhở chúng ta trong các thánh vịnh :

Ẩn thân bên cạnh Chúa Trời
Thì hơn tin cậy ở người trần gian
Tin vào thần thế vua quan
chẳng bằng ẩn náu ở bên Chúa Trời
(Tv 117, 8.9)

Cuộc đời mỗi người chúng ta vẫn bị giằng co, vẫn đứng giữa cái ngã ba đường là dựa vào Chúa hay dựa vào thần thế vua quan, tin vào Chúa hay tin vào của cải vật chất ? Đây không phải là chuyện đơn giản mà là chuyện chúng ta phải đối diện mỗi ngày trong cuộc sống thường nhật.

Nhìn lại cuộc đời mỗi người chúng ta, nhìn lại tất cả các biến cố lớn bé từ khi cất tiếng khóc chào đời đến ngày hôm nay chúng ta thử hỏi xem ai đã quan phòng cho cuộc đời chúng ta ? Ai yêu thương chúng ta ? Ai là thành luỹ đời chúng ta ? Ai là cùng đích đời chúng ta ? Vậy mà chúng ta đã không dựa vào tình yêu, vào đấng quan phòng, vào thành luỹ, vào Chúa của đời chúng ta mà chúng ta cứ quanh quẩn mãi trong cái thế giới vật chất, trong cái thế giới mau qua chóng tàn này.

Tuần trước, khi đang giúp cho một đôi hôn phối do một cha trong Dòng nhờ bỗng dưng cô bé nói với tôi rằng : “Mẹ bạn trai con đi coi thầy rồi, phải là trong tháng 10 này phải cưới vì tuổi của con và tuổi của anh ấy chỉ cưới trong tháng 10. Nếu không thì chúng con phải đợi đến 3, 4 năm nữa mới cưới được !”.

Tôi nghe xong tôi ngạc nhiên vì tôi biết rằng hai bên đều là đạo gốc, được học hành giáo lý nghiêm túc ở một giáo xứ lớn hẳn hoi mà nói với tôi như thế ! Hoá ra là mẹ của chú rễ dù là người có đạo nhưng hình như chẳng còn tin vào Chúa mà tin vào ông thầy bói. Tôi bèn nói với hai bạn trẻ rằng tôi cảm ơn mẹ của chú rễ. Và, nếu được xin kính mời bà mẹ của chú rễ đến đây, dẫn tôi đến với ông thầy bói nào đó đã coi cho hai bạn. Tôi nói rằng :

Thứ nhất : tại sao ông thầy bói coi cho hai bạn được mà sao không coi tương lai cho ông như thế nào ? Tại sao ông phải đi lượm bạc cắc từ những người nhẹ dạ và thiếu lòng tin vào Chúa ? Nếu giỏi, sao ông không coi chiều nay xổ số ra số mấy để ông mua nguyên tập vé số để có nhà lầu xe hơi mà phải đi coi bói thế này ?

Thứ hai : nếu được nhờ ông coi xem tương lai tôi có làm giám mục hay không ? Nếu tôi làm giám mục tôi mời ông về ở trong “Toà” với tôi ? Làm gì mà ông coi được ? Ngay cái bản thân của ông ông không biết ông sống ngày nào, chết ngày nào sao mà coi được cho ai?

Và còn nữa về chuyện thiếu lòng tin vào nhau, thiếu lòng tin vào Chúa nên đến với bói toán. Nhất là các cô các chị. Đôi khi chồng mình mệt mỏi hay có vấn đề gì không chịu hỏi, chạy tới hỏi ông thầy bói và khi mở bài lên con đầm bích. Ông phán ngay cho một câu là chồng chị có một người nước da ngăm ngăm theo đuổi ! Thế là về nhà mặt nặng mày nề với ông chồng mà không chịu hỏi thực hư!

Thời buổi ngày hôm nay người ta thường nói đùa với nhau là “lên cung trăng” rồi mà người ta còn tin vào bói toán. Thật ra số người tin vào bói toán ngày nay còn nhiều chứ không phải là ít, cách riêng là nữ giới. Vì nhẹ dạ, vì thiếu lòng tin và nhất là thiếu lòng tin vào Thiên Chúa nên họ dựa vào bói toán là điều dễ hiểu. Lẽ ra trong những cơn gian nan thử thách của cuộc đời họ tìm đến Chúa, họ cậy vào Chúa nhưng không, họ đã tìm đến những con người tầm thường của thế gian.

Và như đã nói ở trên, cuối đời Phêrô hối hận về tất cả những gì mình làm buồn phiền Thầy mình nên Ngài đã làm lại tất cả những gì có thể được để minh chứng cho tình yêu của Ngài đối với Thầy Chí Thánh. Và với lời nguyện xin quen thuộc của Ngài khi Chúa Giêsu hiện ra sau khi Phục Sinh với mẻ cá lạ, mỗi người chúng ta trong từng phút từng giây của cuộc đời cũng biết thưa như Phêrô : “Lạy Ngài ơi thương đến ! Xin củng cố giúp con ! Này lòng tin con đây còn mỏng dòn non yếu ! “Lạy Ngài ơi thương đến ! Xin củng cố giúp con ! Này lòng tin con đây hầu đã vỡ tan rồi” (bài Con tin thưa Thầy – linh mục Thành Tâm)

Khi và chỉ khi ta đặt niềm tin của ta vào Chúa như Phêrô thì cuộc đời ta mới bình an giữa muôn sóng sóng gió của cuộc đời này được.

Nguyện xin Chúa là nguồn mạch của sự sống, nguồn mạch tình yêu, nguồn mạch của lòng tin đến và ở lại trên cuộc đời của mỗi người chúng ta để chúng ta luôn trao phó cuộc đời của chúng ta vào trong bàn tay của Chúa trong bất cứ hoàn cảnh nào, môi trường nào mà chúng ta đang sống.

ĐÃ TIN và CHƯA TIN
Mt 14, 22 - 33

Lm Phêrô Nguyễn Hương

Như có lần chúng ta đã nói: Sống là một hành trình tìm kiếm liên lĩ, tìm kiếm hạnh phúc và ý nghĩa tối hậu cuộc đời. Có bao nhiên con người thì có bấy nhiêu cuộc hành trình. Với người kitô hữu, hành trang cuộc đời không gì khác hơn là Đức Tin. Đức tin là kim chỉ nam, là bảng chỉ đường hướng dẫn chúng ta đi tới mục đích.

Vậy thì tin có nghĩa là gì? Sách Giáo lý Công Giáo mới có một đĩnh nghĩa rất vắn gọn: “Tin là lời con người đáp trả lại Thiên Chúa, Đấng tự mặc khải và hiến mình cho con người, khi ban ánh sáng chứa chan cho con người đang đi tìm ý nghĩa tối hậu của cuộc đời mình” (s. 26).

Tin không phải là tin vào một cái gì, vào một học thuyết, một ý thức hệ, một số lề luật, nhưng tin chính là gắn bó, là gặp gỡ, là bước theo một Con Người, và để Con Người đó hướng dẫn ta, chỉ cho ta biết đâu là hạnh phúc đích thực và ý nghĩa tối hậu cuộc đời. Con người đó có tên là Đức Giêsu Nazareth. Như thế tin là sống với, sống như, sống cho Đức Kitô và cùng với Người bước đi trong cuộc đời này.

Những sóng gió của Đức tin

Nhưng sống niềm tin vào Đức Kitô đó trong bối cảnh của ngày hôm nay đang gặp sóng gió mà Lời Chúa hôm nay nói tới với những hình ảnh đầy tính biểu tưởng.

Nếu “biển” là biểu tượng của cuộc đời này, thì sóng gió là những thử thách và trở ngại của con thuyền Đức tin.

Tin Mừng cho chúng ta thấy rằng: Các môn đệ và nhất là Phêrô là những người “đã tin mà vẫn chưa tin”, đã tín thác mà vẫn còn hoài nghi ngờ vực, khi họ phải đối diện với sóng gió cuộc đời. “Thấy Chúa đi trên biển, họ hoảng hồn mà nói rằng: Ma kìa”! Đúng là những người kém tin, nên mới “nhìn gà hóa cáo” thôi. Trước những khó khăn, họ không còn nhận ra sự hiện diện và quyền năng của Chúa nữa!

Nhìn vào các tông đồ để chúng ta cũng soi bóng mình và thấy mình ở trong đó. Các tông đồ và Phêrô chính mỗi người chúng ta, những người đã tin mà vẫn còn chưa tin.

Ngày hôm nay chúng ta đang bị thử thách bởi một nền văn hóa vắng bóng Thiên Chúa (nhiều người thấy Chúa tưởng là ma, thấy ma tưởng là thiên thần, thấy thiên thần tưởng là quỉ dữ!), một nền văn hóa đề cao tiền bạc, tính dục, và hưởng thụ cá nhân. Sự hấp dẫn của chúng đã khiến nhiều người bỏ Chúa để chạy theo những lối sống dễ dãi, thực dụng và vì cái lợi trước mắt mà quên nhân phẩm và đạo lý của mình.

Cũng như các môn đệ, khi bình an, thành công, thì chúng ta dễ dàng tin Chúa, đến với Chúa, nhưng những khi hoạn nạn, thất bại thì chúng ta thất vọng, bỏ Chúa, không cầu nguyện và đến nhà thờ nữa, như bài thơ Dấu Chân Trên Cát diễn tả: khi bình an yên ổn thì con nhận ra dấu chân Chúa bên cạnh dấu chân con, lúc con đau buồn lẫn cô đơn. Con chỉ thấy một dấu chân trên cát. Nhưng Chúa trả lời, chính lúc đó lúc Ta đang ẳm bồng con!

Phải có một Đức Tin mang tính cá vị để khám phá sự hiện diện của Chúa

Trước những thử thách của cuộc sống, mỗi người chúng ta phải có một Đức Tin mang tính cá vị vào Đức Kitô. Có nghĩa là Đức Tin đó phải dựa trên một xác tín, một chọn lựa và dấn thân riêng của tôi để sống gắn bó với Chúa mỗi ngày. Dù có nhiều lối rẽ, cám dỗ mời mọc hấp dẫn, tôi vẫn xác tín rằng: Chỉ có Chúa mới mang lại cho tôi ý nghĩa cuộc đời và hạnh phúc bền vững. Dù có bị thử thách, bị chao đảo, nhưng tôi xin chọn “Chúa là gia nghiệp của riêng mình” (Tv 32, 12b), tôi vẫn bám lấy Chúa, trung thành với Chúa cho đến cùng. Đức tin như thế là cuộc gặp gỡ mang tính cá vị với Đức Giêsu, chỉ có đức tin đó mới giúp chúng ta vững vàng trước sóng gió cuộc đời và chỉ có Đức Tin đó mới giúp chúng ta khám phá sự hiện diện, dấu chân và cánh tay yêu thương của Chúa trong cuộc sống của chúng ta.

Lạy Chúa, con thuyền đức tin của Chúng con đang bị sống gió cuộc đời vùi dập, xin Chúa ban cho chúng con có một Đức tin sống động, mang tính cá vị và biết tĩnh thức, để dù có phải trải qua những thử thách, chúng con vẫn trung kiên theo Chúa đến cùng. Xin cho cặp mắt đức tin của chúng con luôn sáng ngời để nhận ra sự hiện diện của Chúa trong đời chúng con. Amen!

ĐI TRÊN MẶT BIỂN
Mt 14, 22 - 33
Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Niềm tin vào Thiên Chúa qua Con Thiên Chúa là Chúa Giêsu phải được mọi Kitô tuyên xưng một cách mạnh mẽ, sâu xa như thánh Phêrô đã thay mặt các môn đệ tuyên tín: ” Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống “. Đức tin không có việc làm là đức tin chết. Tin là phó thác và để Chúa Giêsu làm chủ cuộc đời con người. Các bài đọc hôm nay, đặc biệt bài Tin Mừng mời gọi những môn đệ Chúa, những Kitô hữu, mời gọi tất cả chúng ta đặt tất cả tin tưởng vào quyền năng vô biên của Chúa.

Các môn đệ đã theo Chúa Giêsu trên đường truyền giáo, Ngài đã huấn luyện các Ông và đã nhiều lần tỏ cho các Ông thấy quan niệm phục vụ, quan niệm làm Vua và Vương Quốc mà Đức Kitô chiếm lĩnh hoàn toàn khác với suy nghĩ, mơ tưởng của nhiều người, cũng như của các môn đệ. Bởi vì theo các môn đệ nghĩ tưởng Chúa Giêsu nếu lên làm Vua, các Ông sẽ sung sướng, các Ông sẽ được làm lớn trong Vương Quốc ấy. Chúa Giêsu lại có suy nghĩ hoàn toàn khác. Vương Quốc hay Nước Trời, Ngài đang rao giảng là Nước Tình Yêu. Và quan niệm phục vụ của Ngài là “ đến để phục vụ, chứ không đến để được hầu hạ “ “ Ai muốn làm lớn phải hầu hạ, phải làm đầy tớ anh em “. Ngài còn nói: ” Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình vác Thập giá của mình mà theo Ta “. Quan niệm này đã đánh tan mộng ước, ảo tưởng của các môn để vì chính thánh Giacôbê và Gioan con Ông Giêbêđê đã đưa mẹ mình tới với chúa Giêsu để xin cho con của mình, một người ngồi bên hữu, một người bên tả trong Vương Quốc Thiên Chúa. Do đó, sau phép lạ làm cho năm chiếc bánh và hai con cá hóa thành nhiều để cho dân chúng ăn no nê. Chúa Giêsu biết trước dân chúng muốn tôn Người lên làm Vua, chính vì thế, Ngài đã buộc các môn đệ lên đò mà sang qua bờ bên kia để tránh sự hân hoan, cuồng nhiệt của dân chúng khi chứng kiến phép lạ quá sức tưởng tượng và hết sức ngoạn mục của Chúa Giêsu. Khi dân chúng được giải tán xong, Chúa Giêsu lên núi cầu nguyện, trò chuyện thân mật với Thiên Chúa Cha. Các môn đệ lên đò ra đi, ra khơi nhưng lòng các Ông chẳng phấn khởi chút nào vì niềm hứng thú và ước vọng được làm lớn, cơ hội đã tới nhưng không những Chúa đã chối từ mà còn ra lệnh cho các Ông phải bỏ nơi vừa xẩy ra phép lạ. Bỏ lỡ cơ hội ngàn vàng theo sự suy nghĩ trần gian của các môn đệ. Bực tức, bất mãn, mệt nhọc, chán nản làm cho các Ông ngã lòng. Chúa Giêsu biết rất rõ tâm trạng của các môn đệ. Ngài nhìn các Ông và thấy rõ tâm hồn của các Ông khi Ngài đang cầu nguyện. Các môn đệ chèo chống ngược với sóng gió, ngược với cả ý muốn của các Ông. Biển dậy sóng, gió to, cuồng phong bão tố. Các môn đệ sợ hãi, mất cả niềm tin. Các Ông cuống quýt vì gió quá to và sóng đánh tứ bề. Đang lúc bối rối, lo âm sợ hãi, Chúa hiện đến với các Ông. Phêrô nói như thách thức Chúa Giêsu. Nếu thực là Thầy, xin Thầy hãy truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Thầy. Chúa Giêsu quá biết Phêrô. Ngài nói “ Hãy đến “. Phêrô lập tức bỏ thuyền bước trên mặt nước mà đến với Chúa. Nhưng bước đi được vài bước, Phêrô ngần ngừ, Phêrô do dự, nghi ngờ, Phêrô liền bị nhận chìm xuống nước. Phêrô liền vội vã kêu cầu Chúa Giêsu: ” Lạy Chúa xin cứu con với “. Chúa liền cứu Ông dù Ông kém lòng tin. Đây là hành trình đức tin của Phêrô, của các môn đệ, của mọi tín hữu và của chúng ta nữa. Câu chuyện kết thúc khi tất cả đều ở trên thuyền. Gió yên, biển lặng vì có mặt Chúa Giêsu ở đó.

Thật là tuyệt vời, câu chuyện Chúa can thiệp làm cho biển lặng, gió yên, minh chứng rằng Chúa luôn có mặt trong cuộc đời của con người. Dù lúc chúng ta gặp hạnh phúc, vui tươi hoặc lúc chúng ta gặp thử thách, gặp phong ba bão táp biển đời cuộc sống, dù có lúc chúng ta quên Ngài, thậm chí chúng ta xa rời Ngài, Ngài vẫn có mặt…một sự hiện diện kín đáo, âm thầm nhưng vô cùng hữu hiệu, vô cùng độc đáo. Vâng không phải lúc nào chúng ta cũng dễ nhận ra Ngài. Cuộc đời của chúng ta có lúc như Phêrô và các môn đệ gặp phong ba bão táp trên biển, đã có lúc chúng ta gặp thử thách, khó khăn trong cuộc đời. Có lúc chúng ta nhất quyết theo Chúa và sống đạo đức sốt sắng nhưng quả thực với thời gian nhiều khi những cám dỗ, những cạm bẫy trên đường đời làm chúng ta tròng trành, trôi nổi như thuyền của Phêrô và các môn đệ bị gió cuốn trôi, chúng ta nguội lạnh, khô khan, đức tin của chúng ta yếu kém dần, không còn hừng hực lửa cháy. Và như Phêrô, chúng ta bị nước nhận chìm…

Chúa luôn luôn có chương trình của Ngài. Chúng ta đừng bắt Ngài làm theo ý chúng ta nhưng điều quan trọng nhất là hãy làm theo ý Chúa. Chúng ta đừng phàn nàn, kêu trách Chúa nhưng chúng ta hãy đặt hết tin tưởng vào Chúa và như Phêrô, chúng ta hãy thưa với Chúa: “ Lạy Chúa, xin cứu vớt chúng con “. Chúa luôn có mặt để cứu giúp chúng ta. Chúng ta hãy phó thác, đặt hết tin tưởng vào Ngài và như thế, tâm hồn mỗi người chúng ta sẽ được bình an.

Đó là hành trình đức tin của mỗi người chúng ta…Chúng ta hãy tin tưởng như Abraham, như Gióp, như Thánh Giuse và Mẹ Maria. Thánh Phanxicô Salêsiô đã có một xác tín mạnh mẽ: ” Chúng ta sẽ an toàn vượt qua giông tố, bao lâu niềm tin của chúng ta còn gắn chặt vào Thiên Chúa: .

Lạy Chúa, giao ước thuở xưa, xin nhìn lại. Đừng mãi mãi bỏ rơi mạng sống dân nghèo khổ của Ngài. Lạy Thiên Chúa, xin đứng lên biện hộ cho Ngài. Xin đừng quên tiếng những ai tìm kiếm Chúa. ( Ca Nhập Lễ Chúa Nhật XIX thường niên, năm A ).

HÃY AN TÂM VÌ LUÔN CÓ CHÚA
Mt 14, 22 - 33

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Chúa nhật vừa qua, chúng ta nghe thánh Matthêu thuật lại phép lạ Chúa Giêsu hóa bánh ra nhiều (x. Mt 14, 13-21), tiếp theo là biến cố Chúa biến hình trên núi (x. Mt 17, 1-9) và hôm nay chúng ta nghe tiếp Chúa Giêsu đi trên mặt biển mà đến với các môn đệ (x. Mt 14, 22-33).

Êlia và Phêrô là hai nhân vật nổi bật của tuần này. Êlia chứng kiến ba sự kiện trên trái đất là gió bão, động đất và lửa, Thiên Chúa đều không hiện diện ở đó. Giữa sức mạnh của vũ trụ với tiếng gió hui hui, Êlia phải học phân định để nghe thấy lời trong thinh lặng, hay trong chính bản thân mình (x.1 V 19, 9a. 11-13a).

Trước khi đề cập đến Phêrô, chúng ta không thể không nói đến các môn đệ được Chúa Giêsu " giục xuống thuyền mà qua bờ bên kia trước " (14, 22), còn dân chúng, những người Do thái được giải tán, theo một nghĩa nào đó, họ là " những người ở bên này ". Việc các môn đệ phải "sang bờ bên kia", nghĩa là các ông phải vượt qua những thực tại hữu hình, tạm thời của thân xác, bước sang sự vĩnh cửu vô hình. Dĩ nhiên, các ông không thể cập bờ bên kia trước Chúa Giêsu ; các ông phải trải qua kinh nghiệm không có Thầy, họ không thể tới bến bình an.

Có chuyện gì mà Chúa Giêsu buộc các môn đệ phải xuống thuyền ? Phải chăng là để chống lại cơn cám dỗ và các tình huống khó khăn ? Chắc chắn có một cơn giống tố trong lòng các ông và ở biển hồ Galilêa. Vì chưa hiểu dấu chỉ phép lạ hóa bánh ra nhiều, nên các ông đã theo dân chúng muốn tung hô Chúa làm vua ! Giờ đây họ cảm thấy thế gian sợ hãi và xao xuyến biết bao !

"Người lên núi cầu nguyện một mình " (Mt 14, 23). Người cầu nguyện cho ai ? Chắc chắn là cho dân chúng vừa giải tán, sau khi đã được ăn bánh no nê, họ không biết phải làm gì. Chúa Giêsu cũng cầu cho các môn đệ, ở giữa biển khơi đang bị kiệt sức bởi sóng đánh vì ngược gió khỏi mọi sự dữ. Chính nhờ lời cầu nguyện của Chúa Giêsu dâng lên Chúa Cha mà các môn đệ không bị chìm vì sóng to gió lớn.

Còn Phêrô, được Chúa Giêsu mời gọi bằng kinh nghiệm đức tin. Ông xin Thầy cho được đi trên mặt nước (x. Mt 14, 28). Chúa Giêsu đã ban cho ông quyền đi trên biển. Biển, tượng trưng cho mãnh lực của sự dữ và sự chết ; Chúa Giêsu đi trên mặt biển, là đi trên sự chết, thể hiện sự chiến thắng của Người trên sự dữ và sự chết. Toàn bộ mầu nhiệm Phục sinh là ở chỗ Chúa Giêsu chiến thắng sự chết và biển cả. Theo quan niệm của người Do thái, biển là sào huyệt của sự chết. Đi trên biển là liều chết. Chính sự rủi ro này mà khi Phêrô đáp lại lời gọi của Chúa Giêsu, "xuống khỏi thuyền, bước đi trên mặt nước"(Mt 14, 29), là ông giẫm chân trên sự chết. Nên không có lạ, khi ông nghi ngờ.

Chỉ khi Phêrô tin và phó thác vào Thầy, ông mới có thể đi trên mặt nước. Ông bị chìm xuống lúc ông nghi ngờ. Thấy gió mạnh, ông sợ, sự sợ hãi trước tai ương của thế gian này lại giúp cho ông tin vào quyền năng của Thầy. Chính lúc ông thôi tin vào Chúa, ông mất quyền đi trên biển, và chìm xuống. Khi đi được trên mặt nước chứng tỏ Phêrô tin, lúc chìm xuống cho thấy ông không tin. Thật là đức tin ngược đời, vì chính lúc ông không cậy dựa vào Chúa, ông bị chìm, ông lại kêu Chúa cứu.

Với lời kêu cứu của Phêrô : " Lạy Thầy, xin cứu con! " (Mt 14, 30) Chúa Giêsu đáp lại bằng cử chỉ và lời. Người giơ tay nắm lấy ông và trách : "Người hèn tin, tại sao mà nghi ngờ?" (Mt 14, 31) Khi gió thổi mạnh, nỗi sợ hãi và nghi ngờ về quyền năng của Chúa đột nhập vào Phêrô, một con người yếu lòng tin. Cứu ông lên khỏi nước, Chúa Giêsu dạy ông rằng, tình thầy trò không phải là đức tin của người môn đệ, nhưng là lòng trung thành của Thầy. Cảnh tượng trên phơi bày sự cao cả cũng như thấp hèn của người môn đệ. "Khi cả hai đã lên thuyền thì gió liền yên lặng. Những người ở trong thuyền đến lạy Người mà rằng: "Thật, Thầy là Con Thiên Chúa" (Mt 14, 32-33). Quả thật, niềm tin vào Con Thiên Chúa chỉ có được sau một hành trình dài của đau khổ, chết và phục sinh của Đức Giêsu Con Thiên Chúa.

Lời Chúa Giêsu nói với các môn đệ trên biển : "Thầy đây, đừng sợ. Ma đâu có xương có thịt như Thầy có đây", cũng là lời Chúa nói với các ông sau khi Chúa phục sinh " Tại sao các con run sợ, tại sao các con nghi ngờ… chính Thầy đây, hãy xem tay chân Thầy đây". Hai khung cảnh khác nhau về thời gian nhưng đều có một điểm chung là run sợ, kém lòng tin và nghi ngờ, cả hai lần Chúa Giêsu đều khẳng định " chính Thầy đây mà " (x. Lc 24 ; Mt 14).

Ở cuối trình thuật, các môn đệ được mô tả là những người tin khi sấp mình xuống thờ lạy Chúa. Còn Phêrô, mỏng giòn, yếu đuối, Chúa Giêsu lại trao Giáo hội cho ông. Chúa Giêsu sẽ đồng hành cùng Giáo hội. Như Phêrô, người yếu tin, chúng ta cần có bàn tay của Chúa kéo chúng ta lên, bước vào con thuyền Giáo hội để sang bờ bên kia.

Phần chúng ta, nếu một ngày nào đó chúng ta phải đương đầu với các cơn cám dỗ không thể tránh được, hãy nhớ rằng Chúa Giêsu buộc chúng ta xuống thuyền ; từ bờ bên này sang bờ bên kia không thể không có sóng gió. Và khi chúng ta thấy những khó khăn, vất vả, mệt nhọc giữa đời vây quanh ta, thuyền của chúng ta đang ở giữa đại dương mênh mông, với những cơn sóng đang tìm cách nhấn chìm đức tin của chúng ta. Chúng ta hãy vững tin rằng, Con Thiên Chúa sẽ đi trên mặt nước đến gần chúng ta, giơ tay kéo chúng ta lên; Chúa chỉ mong đợi chúng ta tin tưởng tuyệt đối vào Chúa.

Lạy Mẹ Maria, gương mẫu về lòng tín thác trọn vẹn nơi Thiên Chúa, xin giúp chúng con vững tin vào Chúa, để giữa bao bận tâm, lo lắng, khó khăn giữa biển cả cuộc đời đang làm chúng con giao động, chúng con vẫn nghe thấy lời trấn an của Chúa Giêsu, Con Mẹ : "Hãy yên tâm. Thầy đây, đừng sợ! " ( Mt 14, 27) Amen.

UY QUYỀN
Mt 14, 22 - 33

Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Tiên tri Êlia xuất hiện và làm nhiều việc phi thường tại miền Bắc Kinh Thành nước Israel dưới thời vua Ahab, vào thế kỷ thứ 9, trước Công Nguyên. Theo sách Các Vua, Êlia đã bảo vệ việc tôn thờ Thiên Chúa Yavê chống lại thần Baal thuộc xứ Canaan. Êlia đã thực hiện một số việc lạ lùng như cho kẻ chết sống lại, cho lửa từ trời xuống và được cất nhắc lên trời trong xe lửa. Trong sách Malachi, nói về sự trở lại của Êlia trước ngày Chúa quang lâm. Trong Tân Ước, có nhắc đến tên Êlia, khi người ta so sánh tiên tri Êlia với Chúa Giêsu và Gioan Tẩy Giả. Ông Êlia xuất hiện cùng với Môisen trong sự kiện Chúa Giêsu biến hình trên núi Taborê.

Chúng ta không biết nhiều về tiểu sử đời tư của tiên tri Êlia. Tên Êlia có nghĩa là Chúa của tôi là Yavê. Tại Israel, khi vua Ahab và hoàng hậu Jezebel tôn thờ các thần dân ngoại và xây dựng đền thờ kính thần Baal. Baal là thần xứ Canaan, họ tin rằng thần này chịu trách nhiệm về việc làm sấm chớp, mưa bão và sương sa. Jezebel nhập cư các thầy tư tế và các tiên tri của thần Baal vào đất Canaan. Êlia cảnh cáo và thách thức vua Ahab và các đồ đệ của thần Baal là sẽ có hạn hán trong ba năm. Êlia cũng đã thách đố quyền lực của thần Baal trên của lễ toàn thiêu. Kết qủa thần Baal chỉ là hư danh. Êlia đã toàn thắng trước mặt chư dân, nhưng vì ghen tương, bà hoàng hậu Jezebel tìm cách trả thù, nên ông phải trốn chạy lên núi. Chúa đã nâng đỡ an ủi ông trong cơn khốn cùng: Chúa phán cùng ông Êlia rằng: Hãy ra đứng trên núi trước tôn nhan Chúa. Bỗng Chúa đi qua; có một cơn gió mạnh xẻ núi non và nghiền nát đá trước mặt Chúa. Nhưng Chúa không ở trong gió bão. Sau trận gió bão thì đất động; Chúa cũng không ở trong cơn động đất (1Vua 19, 11).

Bài phúc âm hôm nay, sau khi Chúa Giêsu hóa bánh ra nhiều để nuôi dân, Chúa ở lại trong hoang địa để cầu nguyện. Thánh Matthêô viết: Canh tư đêm tối, Người đi trên mặt biển mà đến với các ông (Mt 14, 25). Chúa Giêsu đi trên mặt nước. Một sự kiện lạ lùng. Con người bình thường với sức nặng khi bước xuống nước sẽ bị chìm xuống. Ở miền Nam Do-thái, vùng Giuđêa có Biển Chết, nước rất mặn. Khi xuống nước tắm, chúng ta có thể nằm ngửa và thân xác sẽ nổi trên mặt nước và không cần phải cựa quậy chân tay. Khi đứng thì nhẹ nhàng nhưng nằm thì thân xác có thể nổi. Không ai có thể đi trên mặt nước. Trong một vài cảnh lạ quảng cáo trên truyền hình, đôi khi chúng ta cũng thấy có người đi trên mặt nước, nhưng phải cẩn thận quan sát vì có sự dàn dựng phía sau để che mắt thiên hạ. Cũng giống như tất cả các nhà ảo thuật, họ đều có kỹ năng chuyên môn để qua mắt bà con. Chúng ta có thể tìm hiểu về nguồn ngọn của các sự việc cách cụ thể trên sách vở báo chí.

Chúa Giêsu đi trên mặt nước và đến với các tông đồ vào ban đêm: Chúa Giêsu nói với các ông rằng: Hãy yên tâm. Thầy đây, đừng sợ (Mt 14, 27). Các tông đồ là những người chài lưới rất quen thuộc với khung cảnh sóng biển. Khi thấy sự kiện lạ, các ông hoảng sợ. Đúng thế, ai mà không sợ chứ! Một phản ứng rất tự nhiên của con người. Các sự kiện lạ vượt ra ngoài qui luật của không gian và thời gian. Chúa Giêsu củng cố đức tin của các ông bằng các dấu lạ, để các ông nhận ra uy quyền của Thiên Chúa. Chúng ta thấy các tông đồ được chứng kiến nhiều phép lạ mà Chúa đã thực hiện, nhưng tới lúc nguy nan và khó khăn, đức tin của các tông đồ cũng vẫn bị lung lay và sợ hãi.

Ông Phêrô tính tình rất thật thà và nhiệt thành. Ông đã xin Chúa cho đi trên mặt nước, Chúa chấp nhận, nhưng: Khi thấy gió mạnh, ông sợ hãi và sấp mình xuống nên la lên rằng: Lạy Thầy, xin cứu con (Mt 14, 30). Phêrô là dân chài lưới. Ông sống trên sông nước và tắm lội hằng ngày, vậy mà khi gió thổi mạnh, ông chìm xuống và vội la lên, xin Chúa cứu. Đứng trước Đấng có quyền phép vô cùng, Phêrô cảm thấy mình quá nhỏ bé và yếu đuối. Ông cậy dựa vào tình thương của Chúa để xin cứu vớt. Có Chúa, con còn sợ chi ai. Tính tình của ông Phêrô rất bộc trực nhưng chân thành. Chúa Giêsu đã yêu thương và trao cho ông quyền trên các tông đồ. Chúa còn trao quyền cho ông cai quản Giáo Hội mà Chúa thiết lập. Chúa hỏi ông và ba lần ông đã tuyên xưng: Lạy Thầy, con mến yêu Thầy.

Cuộc đời của mỗi người chúng ta cũng đối diện với năm chìm bảy nổi. Nhưng các khó khăn và thất bại trong cuộc sống là những bài học giúp chúng ta sống trưởng thành hơn. Mới đây, trong một cuộc họp hàng tháng, chúng tôi đã chia sẻ về các vấn đề gây sự ưu tư trong cuộc sống đạo. Một linh mục chia sẻ rằng: Mỗi ngày cha đều dâng lễ và rước Mình Máu Thánh Chúa, vậy mà sau ba mươi năm linh mục, cũng chẳng thay đổi được bao nhiêu. Tính nào vẫn tật đó. Các tính xấu cứ lập đi lập lại. Lời chia sẻ rất chân tình. Hầu như ai trong chúng ta cũng thế. Tội đó đã xưng mười năm trước, nay vẫn còn tái phạm. Đôi khi chúng ta muốn sửa đổi và chừa tội, nhưng chỉ thay đổi và chừa cải được chút chút. Sau vài suy nghĩ, tôi tự an ủi rằng: Dù sao chúng ta cũng còn tiếp tục ở lại trong ơn nghĩa Chúa cho tới ngày hôm nay. Cũng giống như thức ăn thức uống giúp nuôi dưỡng chúng ta qua tháng ngày, nhờ từng bữa ăn bổ sức mà chúng ta còn sống khỏe tới ngày hôm nay. Tạ ơn Chúa.

Mỗi ngày sống là một ngày mới hoàn toàn. Chúng ta cùng dâng lời tạ ơn Chúa. Sống ngày hôm nay cho trọn vẹn. Ngày hôm qua có bị ngã, bị chìm thì sự việc cũng đã qua. Chúng ta không thể làm gì được với quá khứ. Bình sành đã bể là đã bể. Hàn gắn lại là việc của ngày hôm nay. Chúng ta không nên ngồi đó để phiền trách về quá khứ đã qua. Cái đã qua giúp chúng ta học hỏi nhiều kinh nghiệm để tiến thân và sống tốt hơn. Đừng chìm đắm trong qúa khứ, nhưng hãy vui sống giây phút hiện tại mà chúng ta đang có đây. Phêrô đã chìm xuống nước và vội la lên, xin Thầy cứu con. Nếu có khi nào chúng ta bị rơi chìm, thất bại và chán nản, hãy nhớ rằng chúng ta có Chúa Giêsu là Chúa và là Đấng có uy quyền trên hết mọi tạo vật. Hãy thân thưa với Chúa: Lạy Chúa, xin cứu con!.

Phần thưởng của cuộc sống là sự an vui và hạnh phúc. Khi con người nhận rõ vai trò, sứ vụ và cùng đích của cuộc đời, thì không còn phải lắng lo nhiều. Niềm tin sẽ dẫn dắt chúng ta hoàn thành sứ mệnh của con người trong cuộc lữ hành. Hãy tránh dần sự tranh chấp vô thưởng vô phạt để duy trì tình thân ái. Bỏ bớt cái tôi cao ngạo và dễ ghét, để cùng hòa đồng xây dựng sự hài hòa trong an bình. Tất cả mọi sinh hoạt đều qui hướng tạo niềm an vui hôm nay và ngày mai. Niềm vui lớn lao nhất của chúng ta là được làm nghĩa tử của Thiên Chúa. Trong niềm tin sống đạo và ân sủng của các Bí tích trong Giáo Hội, chúng ta được tháp nhập vào nhiệm thể của Chúa Kitô, để đồng thừa hưởng gia nghiệp đã hứa ban. Không riêng gì dân Do-thái mà tất cả mọi người tin vào Chúa Kitô: Họ đều là người Israel, họ được quyền làm nghĩa tử, được vinh quang, giao ước, lề luật, việc phụng tự và lời hứa (Rm 9, 4). Chúng ta sẽ được thừa kế gia sản ơn cứu độ mà Thiên Chúa dành sẵn cho loài người qua Con Chúa Nhập Thể và cứu chuộc.

Lạy Chúa, Chúa là chủ của muôn loài muôn vật. Chúa có quyền sáng tạo, biến hóa và tái tạo. Xin Chúa biến đổi tâm hồn chúng con trở thành những mảnh đất phì nhiêu sinh hoa kết trái nhân đức tốt lành trong cuộc sống. Xin cho chúng con can đảm tin tưởng và dõi theo lối bước của Chúa. Hãy lắng nghe lời của Thầy Chí Thánh: Thầy đây, các con yên tâm, đừng sợ!

ĐỪNG SỢ! THẦY ĐÂY MÀ!
Mt 14, 22 - 33

Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Sống ở trên đời, ai cũng có lúc phải lo âu, sợ hãi. Sợ vì gặp thử thách nguy gian.Sợ ma, hoặc sợ người hung ác,dữ tợn.Tin Mừng của thánh Matthêu hôm nay cũng cho chúng ta hiểu nỗi sợ hãi của các tông đồ khi vắng mặt Chúa Giêsu trên thuyền lúc gió to sóng lớn. Chúa Giêsu đã can thiệp kịp thời khi đi trên mặt biển mà đến với các tông đồ. Chúa lên thuyền thì làm cho sóng lặng gió yên, làm cho tâm hồn các tông đồ bình an, vững tin vào Ngài…

Chúa Giêsu giới thiệu Nước Trời và cho mọi người thấy, Nước Trời đang hiện diện với sự có mặt của Người. Ngài huấn luyện các tông đồ để các tông đồ sẽ là nền tảng vững chắc cho Giáo Hội của Chúa sau này.Thánh Matthêu qua câu chuyện Chúa Giêsu đi trên mặt nước và làm cho sóng gió yên lặng.Chúa Giêsu muốn nhắc nhở cho thánh Phêrô, người sẽ làm đầu Giáo Hội và các tông đồ hãy vững tin vào Ngài, vì không có Ngài các tông đồ không thể làm gì được. Sóng gió mênh mông.Gió to biển động như muốn nhận chìm con thuyền Giáo Hội. Sức mạnh của ma quỷ, của sự dữ như muốn nuốt chửng các tông đồ. Nhưng Chúa luôn luôn hiện diện, luôn can thiệp đúng lúc, đúng thời, vẫn giơ tay nắm lấy các tông đồ để các Ngài và Giáo Hội luôn tồn tại…Chúa Giêsu cầu nguyện. Ngài vẫn thường cầu nguyện, Ngài có thói quen cầu nguyện vào ban đêm và ở nơi thanh vắng.Thánh Matthêu nhắc tới Chúa Giêsu lên núi cầu nguyện như cho chúng ta thấy Chúa Giêsu là Môsê khác, vì Môsê vẫn lên núi để gặp Giavê. Thuyền của các tông đồ đi đánh cá trên biển hồ Tibêriat, với mặt biển rộng 12 cây số.Các tông đồ đang có mặt trên biển hồ Gênêsaret vào khoảng 3 tới 6 giờ sáng. Tin Mừng cho hay lúc đó bão táp nổi lên, các tông đồ hoang mang sợ sệt vì không có Chúa ở đó, Ngài đang cầu nguyện. Khi Chúa xuất hiện Ngài nói với các tông đồ :” Chính Thầy đây, đừng sợ “.Câu nói này làm cho chúng ta liên tường đến một kiểu nói quen thuộc của Cựu Ước để chỉ về Gia Vê Thiên Chúa.Môsê đã dùng câu nói ấy để làm cho dân Chúa an tâm, vững tin.Giờ phút này, chính Chúa Giêsu dùng từ ngữ ấy để làm cho các tông đồ bình an và vững tin vào Ngài.Trong đoạn Tin Mừng này, thánh Matthêu cũng làm nổi bật vai trò của thánh Phêrô và sự gần gũi của Ngài đối với Chúa Giêsu.Tuy rất yêu mến, nể trọng thánh Phêrô vì Ngài sẽ cầm đầu Giáo Hội, tuy nhiên, Chúa Giêsu vẫn nhắc bảo, sửa trị Phêrô khi Ngài có biểu hiện bất xứng để khi Phêrô trở về Ngài sẽ củng cố đức tin cho anh em Phêrô(Lc 22, 33 ).

Bài Tin Mừng hôm nay quả thực là một lời trấn an và là một đảm bảo cho mọi Kitô hữu, cho Giáo Hội. Có những lúc con thuyền Giáo Hội như đang tròng trành giữa biển khơi sóng gió. Con người chúng ta đang gặp những thử thách hoang mang.Tuy nhiên, Giáo Hội hay mỗi người chúng ta vẫn cảm thấy như Chúa vẫn im lặng.Một sự im lặng hầu như đáng sợ. Chúng ta tự hỏi:” Chúa đang ở đâu ?”. Chúa vẫn trả lời cho chúng ta :” Thầy đây mà! Đừng sợ “.Con thuyền Giáo Hội qua muôn sóng gió, bão táp, vẫn đứng nguyên vì Chúa luôn có mặt nâng tay đỡ nâng phù trì. “ Chúa có đó, nên không có gì có thể phá đổ được “ ( Mt 16, 18 ). “…Trời đất sẽ qua đi, những Lời Chúa vẫn muôn đời tồn tại “ ( Mt 5, 18 ). Để xây dựng Giáo Hội, Chúa đã mời gọi các môn đệ, các tông đồ, huấn luyện họ về lòng nhân ái và niềm tin vững mạnh nơi Chúa. Chúa lèo lái, hướng dẫn con thuyền Giáo Hội và con thuyền cuộc đời chúng ta để mỗi lúc gặp khó khăn chúng ta và cả Hội Thánh tin tưởng :” Hãy an tâm, có Thầy đây đừng sợ “.Điều phải sợ là những lúc vắng Chúa, lúc chúng ta quên khẩn cầu, quên nài van Chúa, quên kiếm tìm Chúa, những lúc chúng ta đối xử thiếu bác ái với nhau, những lúc chúng ta dựa vào quyền hành, dựa vào đồng tiền vv…Những lúc thiếu Chúa, thiếu thánh Phêrô, Giáo Hội sẽ không còn là Giáo Hội. Con người và Hội Thánh sẽ an tâm, sẽ vững bền “ Khi cả hai cùng lên thuyền “ ( Mt 14, 32 ).

Chúng ta luôn phải cảm nghiệm và vững tin, thốt lên hằng ngày :” Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa “ ( Mt 14, 33 ). Và cuộc đời mỗi người chúng ta sẽ trở lại bình thường khi gặp khó khăn, nếu chúng ta có xác tín:” Chúng ta sẽ an toàn vượt qua giông tố, bao lâu niềm tin của chúng ta còn gắn chặt vào Thiên Chúa “ ( thánh Phanxicô Salêsiô ).

Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con luôn biết tích cực chia sẻ những góp sức của mình để đem an bình, tin tưởng cho tha nhân, cho Giáo Hội. Amen.

LƯỠI DAO CẠO
Mt 14, 22 - 33

Lm. Anphong Nguyễn Công Minh, ofm

Có một nhà văn Anh (Somerset Maugham) viết cuốn tiểu thuyết mang tựa đề: “Lưỡi dao cạo” (The Razor"s Edge, năm 1944), nhưng suốt trong mấy trăm trang của cuốn truyện không hề thấy một chữ “lưỡi dao cạo” nào. Ý của tác giả muốn diễn tả con đường mà nhân vật chính trong câu chuyện (Larry Darell) phải trải qua là một con đường khó khăn, y như bước đi trên cạnh sắc của lưỡi dao cạo vậy. Bài Tin Mừng hôm nay không có cạnh sắc của lưỡi dao cạo nào -ngược lại là đàng khác, dịu êm như đệm nước- nhưng ý nghĩa là tương đương như cạnh sắc của lưỡi dao: tức là cũng rất khó khăn để bước trên đó: đi trên mặt nước. Chúa Giêsu đi trên mặt nước. Các môn đệ tưởng là ma. Ngài nói: Hãy yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ. Phêrô nghe vậy liền nói: Lạy Thầy, nếu là Thầy thì xin truyền cho con đi trên mặt nước đến với Thầy. Đi trên mặt nước, chứ không phải bơi trong nước, không dễ, nên Phêrô đã chìm, phải cầu cứu thầy Giêsu: Lạy Thầy xin cứu con.

1. Cuộc sống Kitô hữu ở trần gian này ví như cuộc đi trên mặt nước.
Không phải chỉ một mình Phêrô mới đi trên mặt nước để đến với Thầy Giêsu, mà hầu như mọi người đệ tử của Thầy Giêsu là chúng ta đây đều được truyền hãy đi trên mặt nước để đến với Thầy : Lạy Thầy, nếu là Thầy thì xin truyền cho con đi trên mặt nước đến với Thầy. Ta thử tưởng nghĩ ra một số trường hợp không xa lạ gì:

-An là một sinh viên sống xa gia đình và dĩ nhiên phải ở nhà trọ trên thành phố để đi học. Sáng Chúa nhật, trời lạnh, chăn ấm. An không muốn trỗi dậy đi lễ. Vả lại anh cũng ngại bị những bè bạn ngoại đạo cùng trọ thấy anh đi lễ và chê cười anh còn mê tín dị đoan. Sau vài phút dằng co, An cương quyết tung chăn ngồi lên chuẩn bị đi lễ. Nghĩa là An bắt đầu bước đi trên mặt nước, bất chấp sóng gió của cơn mê ngủ và sự dị nghị của bạn bè.

-Bình là một cô gái độc thân, sau một lần nhẹ dạ đã mang thai. Nếu gia đình hay được, nếu hàng xóm biết ra thì... ôi thôi, Bình không dám nghĩ tiếp ! Cô định đi phá thai. Con đường thật đơn giản, giống như ai đó ăn xong chùi mép. Nhưng rồi cô can đảm giữ lại bào thai ấy. Bình cũng đang bước đi trên mặt nước bập bình, nhưng lại an bình vì dám bất chấp bao sóng gió phũ phàng của dư luận, và bão bùng của muôn khó khăn không lường trước được.

-Công là một cảnh sát. Một tên buôn bán ma túy hứa cho anh một số tiền lớn, chỉ cần anh làm ngơ cho việc làm của hắn; Làm ngơ sẽ có tiền to, để mắt lo vào, coi chừng mất cả mạng sống. Đám tay chân đâm thuê chém mướn sẽ đến tính sổ với Công. Nhưng anh cương quyết chối từ. Công cũng đang đi trên mặt nước, đi ngược với sức quyến rũ của đồng tiền và dám đương đầu với sóng gió của đe dọa.

-Chính là nhà buôn. Nhà buôn nào chẳng muốn mau giàu. Giàu mau thật mau chỉ có một con đường là con đường tắt. Tắt trong thương trường mang nhiều nghĩa lắm, nào là bỏ qua con đường thuế má; nào là bỏ qua công đoạn phức tạp để có được một mặt hàng nhanh, rẻ giá thành, nhưng cứ bành trướng giá bán. Chính không muốn đi con đường tắt đó. Anh đang đi trên mặt nước, giữa sóng gió những lời chê bai của dòng họ bạn đời mình : “Mầy lấy phải một thằng chồng chẳng biết làm ăn gì cả.”

Chúng ta còn có thể nghĩ ra thêm rất nhiều thí dụ khác trong đó có thí dụ phù hợp với hoàn cảnh của chính mình. Mỗi người, bất kể ai, miễn là đệ tử của thầy Giêsu, đều được truyền đi trên mặt nước mà đến với Thầy.

2. Làm sao để đi trên mặt nước mà không chìm
Phêrô khi thốt lên lời xin: Lạy Thầy, nếu là Thầy thì xin truyền cho đi trên mặt nước đến với Thầy. Chúa nói: Cứ đến. Và Phêrô đã từ thuyền bước xuống đến với Đức Giêsu. Ta không biết Phêrô bước trên mặt nước được mấy bước. Một bước, hai, hay ba bước. Matthêu không nói (Marcô và Luca không thuật Phêrô đi trên nước, mặc dầu có thuật Chúa Giêsu đi trên mặt biển), nhưng chắc chắn Phêrô có đi được một số bước. Nếu không đi được bước nào, nhảy xuống là chìm liền, thì Tin Mừng Matthêu đã không ghi như thế này : Phêrô từ thuyền bước xuống, đi trên mặt nước, và đến với Đức Giêsu (Mt 14,29). Chỉ khi thấy gió thổi, sóng nổi, ông mới sợ và bắt đầu chìm, vội la lên cầu cứu. Không phải ông đi được mấy bước rồi, mới có gió thổi lên, sóng to trở lại, mà sóng vẫn to, gió vẫn lớn, như Mt ghi trước đó, trước khi Chúa đi trên mặt nước đến với họ :“Thuyền đi xa bờ cả mấy cây số, bị sóng đánh vì ngược gió. Khoảng canh tư, Người đi trên mặt biển đến với họ.” Vậy cái gì khiến Phêrô đi được mấy bước trước khi bị chìm ? Chắc chắn không phải vì biển êm đột ngột, gió lặng hiu hiu làm Phêrô đi trên nước dễ dàng. Vì biển chỉ im khi Chúa cùng Phêrô lên thuyền. “Khi Thầy trò đã lên thuyền thì gió lặng” (Mt 14,32). Các nhà chú giải Kinh Thánh lẫn các nhà giảng thuyết lừng danh vẫn đồng ý với nhau là Phêrô bước đi được là do Tin vào Thầy, mắt dán chặt vào Thầy. Khi hạ mắt xuống nhìn sóng to, ông lo sợ và bắt đầu chìm lỉm ngay. May mà Phêrô nhanh miệng kêu cứu, đúng lúc, đúng người. Kêu Thầy, chứ không phải “Gioan ơi, Giacobê hỡi cứu ta với.” Vậy khi ta tin vào Chúa, nhìn vào Ngài, ta sẽ đi trên mặt nước được.

Vào thời kỳ mới có thuyền buồm, một thiếu niên kia được vị thuyền trưởng cho đi thuyền vượt biển để học tập làm thủy thủ. Một hôm gió bão nổi lên làm mặt biển dậy sóng. Viên thuyền trưởng ra lệnh cho cậu ta phải leo lên cột buồm để tháo các cánh buồm ra, tránh cho con thuyền khỏi bị gió bão vùi dập. Khi cậu ta vừa leo vừa ngước mặt lên trời thì mọi sự đều suông sẻ. Chỉ thoắt cái là cậu đã leo đến lưng chừng cột buồm. Nhưng khi cậu bắt đầu nhìn xuống mặt biển đang nổi sóng trong cơn gió bão, thì cậu lập tức bị chóng mặt như sắp bị té xuống đến nơi. Bấy giờ một thủy thủ già nhiều kinh nghiệm đã la to lên rằng :"Này chú bé, mau ngước mặt lên trời đi chứ đừng nhìn xuống! Hãy tiếp tục nhìn lên trời đi!" Cậu bé làm theo lời chỉ dẫn đó và đã leo lên tới đỉnh cột buồm và cậu đã hoàn thành nhiệm vụ là tháo được sợi dây để thả cánh buồm xuống.

Lỗi của cậu thiếu niên cũng giống như lỗi của Phê-rô trong Tin Mừng hôm nay : Cậu ta đã bỏ đích nhắm là bầu trời để nhìn xuống mặt biển nổi sóng, giống như Phê-rô đã rời mắt khỏi Đức Giê-su để nhìn vào mặt biển đầy giông tố. Vì thế ông đã bị chao đảo và bắt đầu chìm xuống.

Cuộc đời các tín hữu chúng ta cũng vậy : Bao lâu chúng ta còn nhìn vào Chúa Giê-su thể hiện qua việc siêng năng dự lễ và rước lễ. Bao lâu chúng ta còn năng nhớ đến Chúa, thì ta còn sống đạo tốt. Nhưng ngày nào chúng ta bỏ những việc đạo đức kia, thì tâm hồn chúng ta bắt đầu chìm đắm dưới quyền lực của ma quỷ, sa đà vào các thói hư tật xấu và các đam mê bất chính khác. Nói theo chủ đề của bài giảng hôm nay, chúng ta không đi trên mặt nước được.

Mặc dầu không xao nhãng các công việc trần thế, như lời dạy của CĐ Vatican 2, nhưng chúng ta cần phải tâm niệm lời thánh Phaolô trong thư Cô-lô-xê 3,1 : Anh em đã được sống lại cùng với Đức Ki-tô, nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Ki-tô đang ngự bên hữu Thiên Chúa. Nói theo kiểu nói của Tin Mừng hôm nay: hãy dán mắt vào Đức Kitô, hãy tin vào Ngài, thì anh em sẽ dễ dàng lướt đi được trên mặt nước, tức vượt qua được những khó khăn thử thách ở đời này. Ước gì được như vậy. Amen.

Nguồn vietcatholic.org

1460    07-08-2014 09:13:56