Sidebar

Thứ Hai
27.05.2024

Chúa Nhật XXII Thường Niên C

  1. Sự Thật Không Nhìn Thấy
  2. Khiêm Tốn Là Cách Sống Của Công Dân Nước Trời
  3. Chúa Nâng Cao Kẻ Khiêm Nhường
  4. Khiêm Hạ
  5. Chúa Nhật 22 TN C
  6. Chúa Nhật XXII Thường Niên
  7. Khiêm Tốn
  8. Con Người Khiêm Tốn
  9. Khiêm Tốn Trước Chúa
  10. Học Sống Khiêm Hạ Noi Gương Đức Giê-Su
  11. Chúa Nhật XXII Thường Niên
  12. Chúa Nhật XXII Thường Niên
  13. Lạy Chúa Con Có Là Gì !
  14. Khiêm Nhường, Hiếu Khách Và Luật Lệ
  15. Những Thực Khách Đích Thực
  16. Khiêm Nhường
  17. Hãy Sống Khiêm Tốn Trung Thực
  18. Giảng Về Nhân Đức Khiêm Nhượng
  19. Ngồi Vào Chỗ Cuối
  20. Khiêm Nhường Phục Vụ
  21. Hạ Mình Được Nâng Cao – Tự Cao Bị Hạ Xuống
  22. Khiêm Nhường Và Phục Vụ
  23. Khiêm Hạ
  24. Hãy Nghĩ Đến Kẻ Khó Nghèo
  25. Ghế Dành Riêng
  26. Tôi Là Người Khiêm Tốn Nhất Trần Gian!

SỰ THẬT KHÔNG NHÌN THẤY
Lc 14, 1.7-14

1/ Khi anh được mời ăn cưới, thì đừng ngồi vào chỗ nhất...hãy ngồi vào chỗ cuối..

Khi giải thích đoạn nầy thường người ta nói là khiêm nhường. Khiêm nhường hiểu là nhường chỗ trên chọn chỗ duới hoặc hạ thấp mình. Còn nói chọn chỗ rốt để được mời lên thì không là khiêm nhường, khiêm tốn gì đâu. Gọi là humilite accrochee. Phải hiểu lời nầy của Đức Giêsu thế nào?

Nghĩa đời thường: khi đi ăn tiệc thì nên thận trọng vì không biết chủ nhà mời ai với ai, ai lớn hơn mình, không biết chỗ đứng của mình là chỗ nào. Nên chờ chủ nhà xếp cho. Trong khi chờ thì tạm chỗ nào đó. Nhưng nếu ngồi cao bị mời xuống thì ê quá nên thận trọng là ngồi dưới, rốt cũng được để khi chủ nhà sắp chỗ thì được mời lên ít ra thí cũng không phải ê. Dè dặt thì tốt.

Còn những kẻ tự cao tự đại, chọn chỗ nhất, không tự lượng sức mình, bị mời xuống thì phải ê là đáng!

Đức Giêsu không nhằm dạy sự khôn ngoan đời thuờng theo kiểu thế gian mà là muốn dạy về Nước Trời nên phải coi đây là dụ ngôn.

Trước hết hãy xem gương Đức Giêsu:

Người không nghĩ phải "dành được ngang hàng với Thiên Chúa" mà Người tự khiêm, tự hạ đến tự hủy, làm nguời thấp hèn, vâng phục cho đến chết và chết thập tự. Thiên Chúa làm người và làm người nhỏ nhoi. Hạ mình không phải là yếu đuối, là kém cõi mà là "cái dủng của thánh nhân", là sự vĩ đại của Thiên Chúa. Thiên Chúa mới làm nổi, mới làm đuợc. Vì thế Người được siêu tôn vì Thiên Chúa "nâng cao những người phận nhỏ, đề cao những kẻ khiêm nhường"....

Thiên Chúa làm người và làm người thấp hèn để dạy con nguời biết thân phận con người mà biết làm người đúng là người. Nhưng con người thì thích làm Chúa. Người ta thích câu: Chúa làm người để người làm Chúa.

Khiêm nhuờng nghĩa là gì? Thần học luân lý định nghĩa : Nhìn nhận đúng sự thật về chính mình. Đây là điều mà Thiên Chúa muốn và chờ đợi nơi con người.

Nếu đến tiệc cưới chủ nhà có dán tên khách mời trên lưng ghế thì mọi người cứ chỗ có tên mình mà ngồi vào thì không có vấn đề mời lên mời xuống . Đúng trật tự rồi. Nếu ai cố tình ngồi trên thì phải bị mời xuống là tất nhiên. Phải đúng trật tự mới được. Còn nếu cố tình ngồi dưới để được mời lên thì làm rối trật tự sẽ phiền chủ nhà.

Về trật tự trong Nước Trời thì rõ ràng con người phải nhìn nhận thân phận thụ tạo của mình, nhìn nhận mọi sự mình có là của Chúa ban và có bổn phận sinh lợi theo ý Chúa là chủ, là Tạo Hóa, là Đấng ban cho .Phần của ta là cái công sinh lợi. Đừng dựng mình lên làm tề thiên, cốt khỉ thì phải hoàn khỉ không khác được đâu.(khi nghe nói con người là con cháu loài khỉ thì ai ai cũng nhảy dựng lên không chịu nhưng thật là thế).

Thiên Chúa không đòi ta phải hạ mình trước mặt Người như kẻ độc đoán muốn tất cả phải phục lạy dưới chân mình, muốn đi trên đầu trên cổ tất cả. Thiên Chúa chỉ muốn sự thật vì Người là chính sự thật.

Nhìn nhận đúng thực tế của mình, đúng như mình là, là thụ tạo, là được dựng nên từ không, thì là nhỏ bé trước Thiên Chúa. Không đòi tự hạ mà đòi ta phải nhìn nhận mình nhỏ bé đúng như mình là, cái gì là của Chúa cái gì là của ta.

Về mặt luân lý : Cửa trời hẹp, nhỏ mới lọt qua được, to không thể vào. Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu căng.

2/ Khi dọn bữa trưa hay tối thì đừng mời bà con bạn bè....hãy mời những người nghèo khó tàn tật.....họ không có gì đền đáp...ông có phúc vì sẽ được (Thiên Chúa) đền đáp khi các người công cính sống lại.

Đức Giêsu nói chuyện Nước Trời. Đời nầy thì chẳng có ai!

Người ta thường giải nghĩa câu nầy là "vô vị lợi". Bất cứ con vật hay con người không lợi là không làm. Con vật chết vì miếng mồi, con người chết vì miếng ăn. Không có ăn thì không ai chịu dám chết. Phải có lợi và lợi to như Đức Giêsu nói là bội hậu, đời nầy và cả đời sau. Bỏ cái lợi đời nầy để được cái lợi lớn vô cùng và đời đời ở đời sau. Nói rõ như vậy mà còn chưa hấp dẫn được mấy nguời huống chi nói vô vị lợi thì vô phương, không lọt được tai ai ! Thánh Phanxico Xavie mỗi khi được Chúa cho một chút an ủi thì thưa với Chúa: satis, lạy Chúa, đủ rồi, xin để cho đời sau .

Cho cách nào thì được kể có công?

Trước hết chúng ta hãy kể những cái cho không kể :
- Cho vì bổn phận như đóng thuế, cho người thân...
- Cho vì tư lợi như đầu tư, tính toán...
- Cho để tỏ ra là người trên, để được khen..
- Cho để được cảm giác minh làm được việc tốt.

Chỉ có cho vì tình yêu thúc giục, vì Chúa Giêsu "ta đói cho ta ăn, ta khát cho ta uống".., như các tu sĩ của Mẹ Teresa "họ làm mọi sự cực nhọc vì làm cho Chúa Giesu". Cho Chúa thì Chúa mới kể và mới thưởng .

Thiên Chúa bỏ vốn, ta sinh lợi. Thiên Chúa định đoạt về ta nhưng không phải tùy tiện, độc đoán mà theo như "ta có, theo những gì Ta làm, như thể ta là".

Là sự thật 100% mà không ai thấy có lẽ vì không muốn thấy.

Lạy Chúa xin giúp chúng con thấy và nhìn nhận sự thật và sống đúng sự thật về chính mình.

KHIÊM TỐN LÀ CÁCH SỐNG CỦA CÔNG DÂN NƯỚC TRỜI
Lc 14, 7 - 14

Với cái nhìn của người đời, ai được ăn trên ngồi trước là người đó cao sang và quyền thế. Người cao sang và quyền thế sẽ được kẻ hầu người hạ, cơm bưng nước rót... Do đó, người ta sẽ làm tất cả hầu đạt được điều đó. Thậm chí, vì thế người ta có thể bất chấp cả. Thế nhưng, cách suy nghĩ và cách sống ấy lại không phù hợp với cách suy nghĩ và cách sống của một công dân trong nước trời.

Ngày nọ, Chúa Giêsu được mời đến dự tiệc trong nhà kia. Quan sát thấy có nhiều người tranh giành nhau chỗ nhất trong tiệc cưới nên Người nhắc nhở họ: "Khi anh được mời đi ăn cưới, thì đừng ngồi vào cỗ nhất, kẻo lỡ có nhân vật nào quan trọng hơn anh cũng được mời, và rồi người đã mời cả anh lẫn nhân vật kia phải đến nói với anh rằng: Xin ông nhường chỗ cho vị này. Bấy giờ anh sẽ phải xấu hổ mà xuống ngồi chỗ cuối. Trái lại, khi anh được mời, thì hãy vào ngồi chỗ cuối, để cho người đã mời anh phải đến nói: Xin mời ông bạn lên trên cho. Thế là anh sẽ được vinh dự trước mặt mọi người đồng bàn " (Lc 14, 8 - 10). Cuối cùng, Chúa Giêsu khẳng định: "Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên." (Lc 14, 11).

"Vỏ quít dày có móng tay nhọn" hay "Núi này cao còn có núi khác cao h ơn ". Cho nên, trong cuộc sống nếu chúng ta cứ mãi theo đuổi những danh vọng và quyền thế ở trần gian này có thể sẽ đến lúc chúng ta sẽ cảm thấy thất vọng tràn trề. Một người sống khiêm tốn sẽ luôn cảm thấy bình an. Bình an vì mình không phải tranh đua để tìm kiếm những thứ mau hư nát đời này.

Tuần trước, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta chọn cách sống phù hợp với Nước Trời là hãy đi con đường hẹp. Tiếp theo lời mời gọi ấy hôm nay Người mời gọi chúng ta sống khiêm tốn. Vì sống khiêm tốn là cách sống rất phù hợp với Nước Trời.

Khiêm tốn là nhìn nhận thân phận thụ tạo mỏng dòn yếu đuối để biết tin tưởng và phó thác vào tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi. Tuần qua với gương sáng của Thánh Mônica và con là thánh Augustinô, chúng ta học được cách sống thật khiêm tốn trước Chúa.

Khiêm tốn là biết sống nhường nhịn và tha thứ cho anh chị em. Nhường nhịn và tha thứ có thể sẽ làm cho ta mất một số quyền lợi ở đời này. Nhưng chúng ta xác tín rằng quyền lợi đời này rồi cũng sẽ tan biến.

Khiêm tốn trước Chúa và với anh chị em thật là thái độ sống khôn ngoan của người tín hữu. Biết sống khiêm tốn như thế thì vị thế của chúng ta trong Nước Trời sẽ có phần bảo đảm hơn.

CHÚA NÂNG CAO KẺ KHIÊM NHƯỜNG
Lc 14, 1. 7 - 14

"Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên."

Chính Chuá Giêsu đã mạc khải cho chúng ta biết: Chúa thích những ai có lòng khiêm nhường. Tại sao vậy? Chúng ta hãy xem khiêm nhường là gì. Theo Tự Điển Công Giáo phổ thông, khiêm nhường là không vượt quá chính mình. Đây là nhơn đức giúp yêu thương mình đúng đắn, dựa trên việc đánh giá đúng vị thế của mình trước mặt Chúa và tha nhân. Khiêm nhường trong tôn giáo là nhận biết mình hoàn toàn lệ thuộc vào Chúa. Khiêm nhường trong luân lý là nhìn nhận mình bình đẳng với người khác, không tự ti, không tự hạ quá đáng nhưng biết nhận ra những ân huệ Chúa ban mà cảm tạ Chúa.

Nhiều người Biệt phái được Thánh Luca kể lại trong Tin Mừng hôm nay không có lòng khiêm tốn, không biết vị trí của mình, nghĩ rằng mình là đáng kính hơn người khác. Họ vào phòng tiệc thì lo kiếm chỗ nhất. Họ không cần biết ai là quan trọng. Họ cho mình là số 1, không ai hơn họ nữa! Họ thiếu khiêm nhường nên không biết chỗ của mình. Chúa Giêsu là Thiên Chúa đến dự tiệc họ cũng không biết. Trong thực tế, họ muốn chiếm luôn chỗ của chúa. Đó cũng là một hình thức giống tội của nguyên tổ chúng ta: Muốn giành lấy vị trí của Thiên Chúa, mặc dù không có tài cán gì bao nhiêu. Họ không nhớ rằng, nếu Chúa rút ân huệ lại thì con người chỉ là cát bụi hư vô.

Hễ ai nhắc mình lên sẽ bị hạ xuống. Vua Saolê xưa kia tự phụ, không biết vâng lời, cãi lại mệnh lệnh Chúa nên bị truất phế. Chúa nâng cao những người phận nhỏ: Chúa chọn Đavít là con út trong gia đình Giêsê. Đavit vóc người thấp bé, không có công trạng gì hơn các anh mình trong gia đình hay xã hội lúc đó. Khi Samuel tới thì Giessê giới thiệu các anh của Đavid cho Samuel. Nhưng chúa lại không chọn ai trong số đó. Chúa chọn Đavid, vóc người bé nhỏ, khiêm nhường... Đến thời viên mãn, Chúa để cho Con Chúa xuống thế làm người. Chúa chọn một thôn nữ ở làng Nazarét, một ngôi làng nhỏ bé không mấy ai biết đến. Chính con Thiên Chúa cũng sinh ra trong cảnh nghèo đói, thiếu thốn, lớn lên trong cảnh nghèo cơ cực. Chúa đã sẵn sàng trở nên bé nhỏ nghèo hèn để cho chúng ta được lớn lên, được giàu sang, được dồi dào ơn phúc. Và đến lượt chúng ta cũng hãy cứu giúp anh chị em mình. Điều này không phải dễ làm. Người ta có xu hướng nhìn lên, ít ai nhìn xuống. Người ta bỏ ra cái gì thì mong gặt hái ngay một lợi lộc tương tự. Người ta sẵn sàng tốn vài triệu để đãi người có chức tước để nhờ vả chứ ít ai tính lỗ cho mình. Vì vậy, để thực hiện lời Chúa Giêsu, quan tâm đến người nghèo thì phải có lòng kính sợ Chúa, có lòng bác ái theo gương Chúa Giêsu, nhận biết Chúa là Cha, quãng đại khiêm tốn, tôn trọng mọi người và cũng là tự trọng nữa. Vì yêu mến Chúa nên không muốn làm Chúa phải nổi giận, vì anh em thiếu tình tương thân tương ái. Những người nghèo khổ, tàn tật không ai đoái hoài tới, Chúa muốn giúp đỡ cách gián tiếp nhờ lòng bác ái của chúng ta là môn đệ Chúa và cũng là con cái Chúa, thay mặt Chúa ở trần gian. Nếu chúng ta tin có đời sau, tin Chúa là Cha chung của mọi người thì chúng ta sẵn sàng giúp đỡ người nghèo, để mai sau chính họ sẽ rước chúng ta vào thiên đàng vinh phúc.

KHIÊM HẠ
Lc 14, 1. 7 - 14

Trong quan hệ xã hội, thái độ cao ngạo bao giờ cũng khiến cho người khác khó chịu. ai ai cũng yêu mến những con người khiêm nhu, từ tốn. trong đời sống tôn giáo, người tín đồ nào cũng được nhắn nhủ phải biết thân,biết phận mà giác ngộ, mà hối cải tội lỗi, vấp phạm không phải là vật cản nhưng là giúp ta tới gần Chúa. Biết mình tội lỗi, nhìn nhận những lỗi lầm của mình mà sám hối ăn năn, người tín hữu vẫn có thể trở thành thánh thiện, khiêm hạ, đơn sơ trước mặt Chúa, và trước mặt anh em là điều rất quan trọng cho đời sống tâm linh của mỗi người chúng ta

Khi tường thuật dụ ngôn "chọn chỗ thấp nhất" Luca không chỉ nhắc lại lời khuyên xử thế của Đức Giêsu, nhưng đối tượng mà Đức Giêsu nhắm tới trước hết là bọn biệt phái Pharisêu cùng đến dự tiệc với người trong nhà ông thủ lãnh nhóm biệt phái. Họ tỏ ra là những con người ham hố chức quyền, địa vị hơn ai hết. Họ muốn tỏ ra cho người khác biết họ quan trọng, đáng kính, đáng nể như thế nào. Thái độ đó đã làm cho Đức Giêsu và những người khác khó chịu, và Ngài đã lên tiếng.

Nhưng đoạn Tin Mừng muốn dẫn chúng ta đi xa hơn như thế. Từ thái độ tham lam, ham hố địa vị, chức quyền. Qua đó muốn dạy chúng ta cũng phải có thái độ khiêm hạ, và biết sống vô vị lợi với anh em. Thật ra, trước mặt Chúa hay trong vương quốc Nước Trời chúng ta có gì mà vênh vang tự đắc, để mà lên mặt dằn đời. tất cả những gì chúng ta có được là do ơn ban của Thiên Chúa mà thôi: Từ sự sống, khả năng cho đến thời gian, của cải sở đắc... chúng ta đều được nhận từ Chúa và tha nhân. Thái độ biết ơn trân trọng là thái độ của kẻ sĩ, của bậc hiền triết Đông Phương. Đức Giêsu còn khuyên chúng ta hãy biết nhìn xa hơn một chút: trong cuộc sống thường thì "mã tầm mã, ngưu tầm ngưu", nghĩa là chúng ta thường nghĩ tới, và thường chỉ quan hệ với những người giống mình, ngang mình... Thế nhưng đức ái Kitô giáo đòi buộc và chỉ dạy chúng ta phải làm hơn như thế nữa, đi xa hơn thế. Chúng ta phải biết nghĩ đến những người cần đến mình hơn là nghĩ đến những người giống mình. Làm ơn , làm điều tốt là giúp cho kẻ thiếu thốn, nghèo hèn tật nguyền... vì chính họ không có khả năng lo cho số phận hẩm hiu của họ, họ cũng không có khả năng đền ơn đáp nghĩa cho những hành động vị tha bác ái của chúng ta. Làm ơn cho kẻ không thể đền ơn thì công lao của chúng ta lại càng được nhân lên vì tính vô vị lợi của nó, tính vị tha trong hành động ấy được nâng cao rất nhiều. Thiên Chúa là Đấng sẽ nâng những con người khiêm hạ lên, thì cũng chính Thiên Chúa sẽ làm cho phúc cũa người ban ơn tràn đầy hơn. Thiên Chúa đứng về phía người nghèo, người khiêm hạ là thế.

Bài học khiêm hạ và vô vị lợi luôn mang tính thời sự, nóng bỏng đối với đời sống cá nhân cũng như đối với tập thể của người có lòng tin. Ai lại dám tin chắc rằng mình luôn sống được với mọi người với thái độ từ tốn, khiêm nhu trước mặt Chúa và trước mặt đồng loại. Tuy rằng cũng có những người như thế thế, những hiếm lắm. Vì thỉnh thoảng trong ngõ ngách tâm tư có thể làm sống lại và chi phối suy nghĩ, hành động của chúng ta. Lúc đó tinh thần trục lợi, tính toán hơn thiệt dễ dàng luồn lách vào trong tâm trí mỗi người. Thậm chí trong đời sống các linh mục tu sĩ cũng không dễ dàng gì nhận định minh bạch đâu là cầu lợi, cầu vinh, đâu là phục vụ chân chính. Đời sống con người vô cùng tinh vi phức tạp, có rất nhiều "cớ" lành thánh, cũng có nhiều ảo tưởng khiến con người không biết đâu là thật, đâu là giả. Nhưng nếu có che dấu thì chúng ta cũng chỉ có thể che dấu được với con người , với vài người, chứ làm sao chúng ta có thể che dấu được với hết mọi người, với Thiên Chúa.

Đời sống tôn giáo càng được biểu hiện ra ngoài bằng nhiều hình thái tôn giáo dễ coi, dễ nổi.... thì trong tâm hồn chúng ta cần phải đầy tràn tinh thần, khiêm nhu và vô vị lợi. Đức Giêsu chính là mẫu gương của sự thấp hèn, Ngài là Đấng cao cả hơn ai hết nhưng lại chọn chỗ thấp hèn nhất, tăm tối nhất. Ngài cũng là Đấng vô vị lợi nhất, ban phát rộng rãi và nhưng không. Vì thề còn gì mà chúng ta lại không theo gương Ngài sống đúng tư cách là công dân Nước Trời.

Kinh Magnificat là lời kinh bất hữu, ca ngợi quyền năng và tình yêu của Thiên Chúa, Đấng làm những kỳ công nơi những con người bé mọn, khiêm nhu. Đức Maria là người đã đi đầu cho chúng ta noi theo, vì người sống đúng vai trò nữ tì của Chúa. Bài học khiêm hạ của Chúa Giêsu, Mẹ Maria và của các thánh là cơm bánh giúp chúng ta sống và lớn lên hằng ngày. Chúa yêu thương người nhỏ bé và chúc phúc cho kẻ làm mà không kể công. Amen

CHÚA NHẬT 22 TN C
Lc 14, 1.7- 14

Người Việt Nam chúng ta rất coi trọng cái ăn. Chữ ăn có thể được ghép với bấy kỳ chữ nào trong tiếng Việt : từ ăn chơi, ăn tiệc, ăn cưới đến ăn đòn, ăn gian, ăn năn. Chữ ăn dường như bao trùm bàn bạc trong suốt cả cuộc sống.

Ăn không phải chỉ là một nhu cầu của thân xác, mà còn là một sinh họat biểu lộ nhân cách, biểu lộ tính người của chúng ta. Vì thế, chúng ta phải biết giữ phép lịch sự trong khi ăn như tục ngữ đã bảo : "Ăn trông nồi, ngồi trông hướng". Cũng như phải tránh đi những căng thẳng làm mất đi bầu khí thân mật của bữa ăn : "Trời đánh còn tránh bữa ăn". Và nhất là đừng để cho miếng ăn trở thành miếng nhục khi con người không còn thể hiện được nhân cách, không còn thể hiện được tính người của mình trong cái ăn. Đó là trường hợp của những bon chen và dành giật, như ăn tham, ăn hối lộ... Vì thế, ăn đối với con người thiết yếu là ăn cùng, ăn với, nghĩa là phải thể hiện được đòi hỏi cao quí nhất trong tình người, đó là sự chia sẻ và tình liên đới với người khác. Hiểu như thế, chúng ta mới thấy được tại sao Chúa Giêsu đã dành một chỗ đứng quan trọng cho cái ăn trong cuộc sống công khai của Ngài.

Thực vậy, Tin mừng đã ghi lại rất nhiều sinh hoạt của Chúa Giêsu về cái ăn. Ngài đã đi ăn cưới tại Cana. Ngài đã tới ăn tiệc do người biệt phái khoản đãi. Ngài đã ăn những bữa cơm thân mật tại Bêthania. Ngài đã cùng ngồi ăn với những người thu thuế và tội lỗi, chẳng hạn tại nhà ông Matthêu và tại nhà ông Giakêu. Sau khi sống lại, Ngài đã hiện ra với các môn đệ trong lúc ăn uống. Và quan trọng hơn cả, Ngài đã thiết lập giao ước mới trong bữa ăn cuối cùng với các môn đệ. Hơn thế nữa, Ngài lại còn thường dùng hình ảnh bữa ăn trong những lời rao giảng của mình. Biết bao nhiêu lần, Ngài đã sánh ví Nước trời như một tiệc cưới,trong đó Thiên Chúa mời gọi tất cả, không trừ một ai. Dưới mắt Thiên Chúa, điều làm nên giá trị cho con người không phải là tài năng hay sự thành đạt trong xã hội, mà chính là tình yêu phục vụ. Chúa Giêsu không kết án những người chiếm địa vị cao ngoài xã hội. Nhưng theo quan điểm của Ngài, càng có quyền thế, thì lại càng phải hy sinh và phục vụ nhiều hơn. Giá trị đích thực của con người chính là phục vụ và phục vụ một cách vô vị lợi. Người nghèo nhất trong xã hội sẽ được coi là người cao trọng nhất trong Nước trời, nếu người đó biết thực sự sống yêu thương và phục vụ.

Chính Chúa Giêsu cũng đã sống trọn vẹn cho yêu thương và phục vụ trong suốt cuộc đời trần thế. Thực vậy, là Thiên Chúa, Ngài đã tự hạ đến chỗ cuối cùng, để có thể yêu thương và phục vụ những người kém may mắn nhất. Tình yêu thương và tinh thần phục vụ đã đưa Ngài tới chỗ hèn kém nhất của xã hội, đó là chịu chết trên thập giá như một tội nhân bị bêu xấu. Ngoài ra, Ngài còn mời gọi chúng ta cũng phải biết noi gương Ngài để yêu thương và phục vụ lẫn nhau, nhờ đó kéo dài tình thương của Thiên Chúa cũng như tung vãi hồng ân của Ngài cho anh em đồng loại. Ngài nói với chúng ta : " Khi dọn bữa trưa hay bữa tối, các ngươi đừng mời bạn bè, anh em bà con hay láng giềng giàu có, mà hãy mời những kẻ nghèo khó, tàn tật, què quặt và đui mù...vì họ không có gì để mời lại các ngươi". Và trong bữa tiệc ly, Ngài cũng nói với các môn đệ : "Nếu Ta vừa là Thầy vừa là Chúa mà còn rửa chân cho các con, thì các con cũng hãy rửa chân cho nhau". Thể hiện tình yêu thương của Thiên Chúa là thương yêu không biên giới, là thương yêu không so đo, không tính toánh.

Đức Kitô đã không giam mình trong một giai cấp nào cả, tình yêu thương của Ngài đã trải rộng trên mọi người. Mặc dù Ngài đã dành ưu tiên cho những người nghèo hèn, nhưng đồng thời cũng không bỏ rơi những kẻ giàu có. Ngài đã ngồi ăn với những người thu thuế và tội lỗi, nhưng vẫn nhận lời mời đến dự tiệc do một người biệt phái khoản đãi. Người không phân biệt đối xử và không loại trừ một ai.

Hãy yêu thương và biểu lộ tình yêu thương ấy bằng những công việc phục vụ cụ thể, bởi vì yêu thương chính là cho đi.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con can đảm thi hành điều Chúa dạy để xứng đáng là môn đệ của Chúa. Amen.

CHÚA NHẬT XXII THƯỜNG NIÊN
Lc 14, 1. 7 - 14

Anh chị em thân mến.

Trong cuộc sống đời thường, mọi người thường trao đỗi nhau để tạo cho mình những nhu cầu cần thiết. Người có tiền thì dùng tiền để đỗi lấy những gì mình muốn, hai bên đồng ý nhau và mỗi người nhận phần của mình. Đó là cuộc trao đỗi sòng phẵng.

Thế nhưng cũng có người sau khi nhận được phần của mình rồi, mới nhận biết mình đã bị lợi dụng, vì người kia muốn được lợi hơn cái họ đã trao đỗi, nên họ đã lừa dối bạn trao đỗi với mình. Đó là vì con người thường muốn được hơn cái mình đã bỏ ra, muốn được hơn cái mình đang có. Cũng vì lý do đó mà biết bao nhiêu tranh chấp, biết bao hận thù vẫn còn tiếp diễn.

Chúa Giêsu nhìn thấy những ưu tư lo lắng của con người trong mọi thời đại. Ngay trước mắt Ngài đây, mọi người đang cố ngoi lên trong một việc không đáng là gì. Họ cố tìm một chỗ ngồi trong buổi tiệc. Cố khẳng định mình trong cuộc sống thuộc mọi lãnh vực, bằng tất cả mọi phương cách, những cách chính đáng và cả không chính đáng họ cũng không từ bỏ. Ngài nhìn thấy hướng đi sai lầm như thế, Ngài cho họ một bài học : "Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống sẽ dược nâng lên".

Ngài lấy thí dụ chỗ ngồi trong buổi tiệc và cả những khách mời dự tiệc. Mọi người đều mong muốn được cái mà mình không xứng đáng, hay khá hơn là đòi đền đáp lại cách sòng phẳng như một cuộc mua bán. Ngài bảo họ hãy làm việc đừng mong đền đáp, như thế trong ngày những người công chính sống lại, sẽ được đền đáp xứng đáng.

Chúa Giêsu cũng muốn nói với từng người trong chúng ta, những người của thời đại mới, đặt biệt hơn là những người đang lắng nghe Ngài đây. Ngài đang nhìn thấy những tranh chấp, những ưu tư lo lắng cho cuộc đời nầy của mọi người. Ngài cũng nhìn thấy những cuộc trao đỗi sòng phẳng và cả những bất công. Ngài còn nhìn thấy những lọc lừa, những mưu mô, hầu chiếm đoạt cái mình không đáng được, để cố ngoi lên trong mọi hoàn cảnh và tìm lợi ích riêng tư cho mình.

"Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống, và ai hạ mình xuống sẽ dược nhắc lên".

Lời nói của những ngày xa xưa nhưng vẫn thực tiễn, vẫn cấp bách và vẫn còn hiệu lực đối với những người của ngài hôm nay.

Trong đời sống hằng ngày, mỗi người cố gắng để vươn lên, đó là một điều rất tốt. Chính nhờ thế mà xã hội mới được tiến bộ. Nhưng điều quan trọng là phương cách để vươn lên như thế nào? Và để làm gì? Mỗi người để ra một chút suy tư nhìn lại con người, nhìn lại cách sống của mình.

Chúng ta cố gắng, vất vã suốt cuộc đời để đạt được cuộc sống như ngày hôm nay. Nhưng mỗi người có bằng lòng về chính mình chưa, hay chúng ta đang còn mong muốn điều gì, đang còn đòi hỏi điều gì nữa? Mỗi người hãy nhắm mắt lại để nhìn lại cuốn phim cuộc đời đã qua và tự đánh giá về mình: xem giờ nầy chúng ta đang được nâng lên hay hạ xuống? Lời Chúa nói:" Ai nâng mình lên, sẽ bị hạ xuống, và ai hạ mình xuống sẽ được nhắc lên" có làm cho chúng ta rung động chút nào không?

Có khi nào trong cuộc sống chúng ta dám cho đi mà không tính toán, chúng ta dám làm việc mà không đòi trả công xứng đáng, chúng ta dám chấp nhận cuộc sống mà không một lời phiền trách. Nếu cuộc sống được như thế thì chúng ta đã yên tâm có một chỗ ngồi xứng đáng mà không cần phải dùng một thủ đoạn nào của trần gian để chiếm lấy.

Nhưng nếu chúng ta thấy mình cứ có những tính toán sòng phẳng trong cuộc sống, hay còn tệ hại hơn, muốn chiếm lấy điều mình không đáng được, cứ muốn đưa mình lên, cứ muốn tìm những lợi lộc riêng tư cho bản thân mà bất chấp tất cả. Nếu như thế, chúng ta nên hồi tâm xin Chúa tha thứ, để rồi chúng ta bắt đầu lại với những gì tốt đẹp hơn.

Chúng ta cùng nhau cầu xin Chúa cho mỗi người biết lắng nghe Lời Chúa, để biết sống như lòng Chúa mong ước.

KHIÊM TỐN
Lc 14, 1. 7 - 14

1 . Dân gian ta có câu : "Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp", qua câu tục ngữ nầy cho thấy con người thường ham danh vọng, những người Pharisêu thời Đức Giêsu và ngay cả chúng ta thời nay cũng dễ phạm lề thói nầy. Vì thế trong đoạn Tin Mừng chúng ta vừa nghe, từ việc rất tự nhiên trong cuộc sống đó là chỗ ngồi nơi bữa tiệc và khách được mời dự tiệc, Đức Giêsu muốn hướng sang đời sống thiêng liêng, khiêm nhường và phục vụ vô vị lợi, như là những điều kiện để được tham dự bàn tiệc Nước Trời.

2. Thực ra, nơi các đám tiệc, cỗ nhất hay chỗ nhất không hẳn phải có gì đặc biệt hơn những mâm hay chỗ khác! Nhưng ta muốn ngồi chỗ quan trọng, vì chỗ ngồi tượng trưng cho địa vị. Điều đáng nói là ta thường tự nâng mình lên, trong khi thực sự vị thế của mình không được như vậy! Tự nâng mình lên thể hiện tính kiêu căng của con người, là rơi vào mưu chước của ma quỷ. Xưa kia, vì nổi loạn chống lại Thiên Chúa nên Satan, nguyên là thiên thần, bị phạt làm tà thần, ma quỷ. Vì ngã theo sự xúi dục của ma quỷ, với thái độ kiêu căng, muốn trở nên như Thiên Chúa (x. St 3,5) mà Adong - Evà không còn được sống hạnh phúc với Thiên Chúa nữa ! Có thể nói từ đó kiêu căng ăn sâu tâm khảm của con người nên tội "kiêu ngạo" đứng đầu trong danh sách các tội mà con người hay phạm. Với tội kiêu căng nầy con người tự đưa mình vào chỗ chết : khước từ Thiên Chúa là nguồn sống thật và chống đối lẫn nhau...

3 . Chính vì yêu thương con người, Đức Giêsu đã không ngần ngại dùng phương cách trái ngược lại. Với bài giảng đầu tiên trên núi, Tám Mối Phúc Thật (Mt 5,1-12), mối phúc đầu tiên mà các mối khác có thể quy hướng vào, Đức Giêsu mời gọi chúng ta hãy có "tinh thần nghèo khó", biểu hiện của sự khiêm tốn đối với Thiên Chúa và tha nhân. Không được cậy dựa vào tiền của mà hãy cậy dựa vào Thiên Chúa và ý thức rằng những gì ta có được là do tình thương của Ngài ban cho, để rồi phải biết dùng để phục vụ Thiên Chúa và tha nhân cách khiêm tốn.

Đức Giêsu cũng đã mời gọi chúng ta hãy học cùng Ngài vì Ngài hiền lành và khiêm nhượng trong lòng (x. Mt 11,28-30). Nhìn vào cuộc đời của Đức Giêsu có thể nói là một chuỗi bài học khiêm hạ đáng cho chúng ta suy gẫm và noi theo, chẳng hạn như : Vua cả trời đất mà lại chọn nơi sinh ra là hang bò lừa ở Bêlem ; Vua cả trời đất lại quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ của mình ; Vua cả trời đất mà lại chịu chết ô nhục trên thập giá ; Vua cả trời đất mà âm thầm ẩn mình qua Bí Tích Thánh Thể nơi nhà tạm vắng lạnh...

Sự khiêm hạ của Đức Giêsu đem lại sự sống mới cho chúng ta, thánh Phaolô từng nói : Bởi một người mà tội đã xâm nhập vào trần gian, mà bởi tội thì có sự chết, thì ân sủng của Thiên Chúa ban qua Đức Giêsu Kitô còn dồi dao biết mấy cho muôn người (x.Rm 5, 12-15). Sự khiêm hạ của Đức Giêsu còn được Chúa Cha ghi nhận và tôn vinh Ngài (x. Plp 2,8-9).

4 . Khiêm tốn không phải tự coi thường mình hay là giả vờ hạ thấp mình để được nâng lên, mà khiêm tốn là nhìn nhận sự thật về mình, giới hạn của mình để từ đó sống trong tâm tình gắn bó với Thiên Chúa, là nguồn sống đích thực. Khiêm tốn để có thể sống hài hoà với tha nhân, qua việc học hỏi hoặc chia sẻ kinh nghiệm... Nhờ khiêm tốn có thể tránh những bất hoà với nhau, thực tế trong cuộc sống không thiếu những trường hợp do hơn thua nhau một lời nói, một chỗ ngồi mà người ta tìm cách hãm hại nhau. Nhờ khiêm tốn mà con người có thể bắt tay nhau để xây dựng xã hội đời nầy và cùng nhau hướng tới hạnh phúc đời sau.

5 . Cách tích cực hơn khiêm tốn là dùng những gì mà Chúa ban cho ta để phục vụ chứ không tìm tư lợi. Sự hiểu biết cũng như chức quyền trong Giáo Hội hay ngoài xã hội không gì hơn để phục vụ, chứ không phải để thoả mãn danh vọng, ích kỷ của mình. Tiền bạc của cải phong phú không để hưởng thụ riêng mình mà phải biết chia sẻ cho người cùng túng. Chính thái độ phục vụ cách khiêm tốn vô vị lợi, sẽ được nhiều người biết đến và yêu mến ; dân gian ta có câu: "Hữu xạ tự nhiên hương". Chúa muốn cho người môn đệ luôn có tinh thần như thế, nên trong đoạn Tin Mừng nầy, không những Ngài dạy phải có tinh thần khiêm tốn mà còn dạy tinh thần phục vụ vô vị lợi. Ngài dạy rằng :"Khi đãi khách... đừng mời bạn bè, anh em... mà hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù" (Lc 14, 12-13), đây chỉ là một kiểu nói nhấn có nghĩa là "đừng chỉ mời" những người thân thích, giàu có, mà hãy mời cả những người nghèo khó.

6 . Nước Trời không có chỗ cho người kiêu căng tự phụ, chỉ nghĩ đến bản thân mình, bài học của bè Satan, của Adong - Evà vẫn còn đó. Ngược lại Đức Maria, nhận mình là nữ tỳ thấp hèn của Thiên Chúa, đã âm thầm phục vụ cho chương trình cứu độ của Thiên Chúa, đã âm thầm phục vụ tha nhân, thế nhưng Thiên Chúa đã ân thưởng Mẹ trọng hậu như thế nào ?

Ước mong rằng mọi người chúng ta biết sống khiêm tốn, bác ái vô vị lợi để chúng ta có thể cảm nhận được hạnh phúc ngay đời nầy và bảo đảm hạnh phúc đời sau. Amen.

CON NGƯỜI KHIÊM TỐN
Lc 14, 1. 7 - 14

"Anh em hãy yêu thương kẻ thù và làm ơn cho kẻ oán ghét mình.." (Lc 3, 24)

Anh chị em thân mến,
Đức Hồng Y Jos. Bernadin của Tổng giáo phận Chicago, Mỹ, tâm sự với các chủng sinh: Từ ngày Ngài nhận giáo phận Chicago, hầu như không thiếu ngày nào, mỗi ngày Ngài đều nhận một lá thư gởi đến chưởi Ngài là "son of bitch" (chó đẻ!) Tại sao vậy? Vì Ngài theo đường hướng của Giáo hội, luôn lên án các thứ tệ đoan xã hội, làm mất quyền lợi của bọn tư bản, nên bị chưởi như thế! Đức HY Bernadin, đã khiêm tốn sẵn lòng để cho người ta chưởi bới... Bài TM hôm nay, chính Chúa Giêsu dạy cho mọi người cách xử thế khiêm tốn trước mặt Chúa, cũng như tha nhân.

Nhân khi thấy khách được mời dự tiệc, họ hay lựa chỗ nhất, có khi còn coi thường người khác nữa, Chúa Giêsu dạy cho họ bài học khiêm nhượng, một thứ khiêm nhượng chân thật, và bên trong, phát xuất từ đáy lòng.... Vì thế :

a/. khiêm nhượng là chấp nhận sự thật về chính mình: người xưa có câu: "khiêm nhượng không phải là nghỉ ít hơn về cái mình có; nhưng là ít nghỉ về mình. Thực sự, khi ai ít nghỉ về mình, hay không nghỉ về mình nữa, làm sao họ có thế tự phụ được? Thánh Augustinô nói: Khiêm nhượng làm cho con người trở nên thiên thần; nhưng kiêu ngạo làm thay đổi các thiên thần thành ma quỉ.

Thánh Phêrô dạy: "anh em hãy lấy đức khiêm nhượng mà đối xử với nhau, vì Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhương ".

b/. khiêm nhượng là biết mình có tội: Ma quỉ (Lucifer) chính là những thiên thần mang ánh sáng; vậy mà khi thiên thần phạm tội thành ma quỉ, chúng không nhận, cũng không biết mình có tội. Nếu ma quỉ đã nhận mình có tội, và biết mình có tội, thì cũng đống nghĩa với ăn năn, chúng sẽ được tha rồi. Thực tế nơi ma quỉ không có khiêm nhượng, ngược lại chỉ có kiêu căng mà thôi...

Biết mình thấp hèn, tội lỗi trước mặt Chúa và anh em, đó chính là nền tảng của đức khiêm nhượng, cũng là nên tảng của việc cầu nguyện để đưa ta tới với Thiên Chúa

c/. Chúa Giêsu là mẫu gương của đức khiêm nhượng: Ai đã xem qua cuốn phim Cuộc Khổ nạn của Chúa Giêsu, mới có thể nhờ đó hiểu được phần nào Khổ đau của Con Thiên Chúa phải chịu vì nhân loại chúng ta, nhất là mới có thế hiểu được : dù là Con Thiên Chúa, Ngài khiêm tốn biết bao, như lời thư Thánh Phaolô gởi cho tín hữu Philipphê (2, 6-9): .... Đức Giêsu vốn dỉ là Thiên Chúa, đã không nghĩ phải duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, để mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân giữa trần thế. Người lại còn hạ mình vâng lời cho đến nổi bằng lòng chịu chết, và chết trên thập giá......

d/. Gợi ý sống và chia sẻ: Khiêm nhượng thật sự là tự biết mình, cả về ưu lẫn khuyết điểm. Biết cái ưu điểm là để phát huy, làm cho lớn mạnh thêm, đồng thời cũng sẵn sàng lãnh trách nhiệm với mọi người, với tập thể. Biết cái khuyết điểm là để sửa chữa, phấn đấu vươn cao lên. Đó mới là đức khiêm nhượng thật sự. bao lâu nay ta đã thực hành đức khiêm nhương như thế nào? Cũng có một thứ gọi là khiêm nhượng ống điếu, khi trước mặt người khác, ta cũng giả bộ nhận lỗi, cũng xỉ vã mình; nhưng sau lưng thì tìm cách tự bào chữa... ta đã sống như thế nào đây?

KHIÊM TỐN TRƯỚC CHÚA
Lc 14, 1. 7 - 14

Mỗi khi dâng Thánh lễ, trước hết Giáo hội luôn mời gọi chúng ta sám hối. Giáo hội muốn nhắc chúng ta nhớ, trước Chúa mình chỉ là những tôi tớ hèn mọn, là những con người tội lỗi cần được Chúa xót thương và ban ơn. Đấy là thái độ khiêm tốn cần thiết cho người tín hữu chúng ta trước Chúa.

Tin mừng Chúa nhật hôm nay, Chúa Giêsu mượn hình ảnh người được mời đến dự tiệc để dạy chúng ta: " ... Khi anh được mời, thì hãy vào ngồi chỗ cuối, để cho người đã mời anh phải đến nói: Xin mời ông bạn lên trên cho. Thế là anh sẽ được vinh dự trước mặt mọi người đồng bàn. Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên".

Có người phụ nữ kia một hôm nằm mơ thấy mình được gặp Chúa:

Chúa hỏi: "Chị là ai?"
Chị trả lời: "Dạ, dạ con là vợ của ông biện A ở họ đạo X, giáo phận Y nè Chúa nhớ con không?"
Chúa đáp lại: "Ta không hỏi con về chuyện đó, Ta hỏi con là ai?"

Chị ta tưởng Chúa chưa nghe rõ nên mới trả lời lớn hơn: "Dạ con là vợ của ông biện..." và thêm một hơi: "con đi lễ misa mỗi ngày, con ăn chay mỗi tuần và 4 đứa con nhờ con biết nuôi dạy nên chúng nó đã thành tài hết rồi Chúa ơi: 2 đứa làm bác sĩ, một đứa làm kỷ sư và một đứa làm giáo viên..."

Chị nghĩ trong lòng sẽ được Chúa khen nhiều lắm. Tuy nhiên, Chúa vẫn nói với chị là Người không hỏi điều đó. Chị buồn lắm không biết trả lời thế nào nên lặng thinh hồi lâu. Sau đó, chị trả lời trong nước mắt: "Dạ con là một con người yếu đuối tội lỗi nhưng vẫn được Chúa thương tha thứ và cho làm con Chúa."

Không ngờ chính câu trả lời ấy Chúa đã gật đầu và tỏ vẻ rất đồng ý. Chị sực tỉnh giấc và nhớ lại dường như từ đó đến giờ mình sống kiêu ngạo quá. Những gì mình làm chỉ với ý muốn khoe với Chúa và người khác thôi. Từ đó về sau, chị đã sửa mình. Chị vẫn sống và làm tiếp những gì đã làm nhưng với thành ý đền ơn Chúa và đền tội mình, chứ không còn ý nghĩ kiêu ngạo như trước.

Thái độ lúc đầu của chị này, làm ta nhớ lại dụ ngôn hai người lên đền thờ cầu nguyện (Lc 18, 9- 14). Người Pharisêu cũng đã hãnh diện khoe với Chúa đủ điều nhưng vẫn không được Chúa khen. Ngược lại, người thu thuế đứng cuối đền thờ không dám ngước mặt lên mà rằng: "Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi" đã được Chúa khen.

Như thế, một trong những thái độ quan trọng và cần thiết của chúng ta trước Chúa là hết sức khiêm tốn. Khiêm tốn như thế là chúng ta đón nhận chính con người thật của mình. Chúng ta chỉ là thụ tạo được Thiên Chúa yêu thương và cứu chuộc.

Nếu Chúa Giêsu không khiêm tốn đón nhận những gì Chúa Cha trao phó có lẽ chúng ta sẽ khó mà nhận được ơn cứu chuộc. Và cả cuộc đời của Chúa Giêsu, biết bao lần dư khả năng dùng quyền phép của mình nhưng Người vẫn khiêm tốn chẳng tỏ ra. Chẳng hạn, khi ăn chay 40 đêm ngày trong sa mạc Chúa Giêsu đã phải khiêm tốn lắm mới không đáp lại những thách thức của ma quỷ. (Lc 4, 1 - 13). Vì thế, chúng ta hãy sống luôn trong thái độ khiêm tốn trước Chúa và luôn nhớ lời Người dặn: "Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên".

HỌC SỐNG KHIÊM HẠ NOI GƯƠNG ĐỨC GIÊ-SU
Lc 14, 1.7-14

1. LỜI CHÚA: "Phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên"(Lc 14,11).

2. CÂU CHUYỆN:

Cách đây ít lâu, tại bang Phờ-lo-ri-đơ (Florida) Hoa Kỳ, tờ Thời báo Xanh Pi-tơ-bớc (St Petersburg Times) có đăng một câu chuyện thú vị về Đông Su-lơ (Don Shula), huấn luuyện viên của đoàn cá heo ở Mai-ơ-mi (Miami). Ông đang cùng vợ con nghỉ hè tại một thị trấn nhỏ ở miền Bắc tiểu bang Mai-ơ-mi. Vào một buổi chiều nọ, vì trời mưa nên Su-lơ cùng vợ và 5 đứa con quyết định đi xem một xuất phim đang chiếu tại rạp hát của thị trấn. Khi họ đến nơi thì đã trễ mất 10 phút. Thế nhưng họ thấy đèn trong rạp vẫn còn sáng báo hiệu phim vẫn chưa bắt đầu. Khi Su-lơ và gia đình bước vào trong rạp thì tất cả 6 người đang ngồi ở băng ghế đầu liền hân hoan đứng dậy hướng về phía họ và vỗ tay hoan hô. Su-lơ vừa vẫy tay chào lại vừa mỉm cười đáp lễ. Sau khi đã ngồi vào chỗ, Su-lơ quay sang nói với bà vợ: "Chúng ta từ Mai-ơ-mi xa cả ngàn dặm đến đây, thế mà họ vẫn nhận ra và đón tiếp anh thật nồng nhiệt! Chắc hẳn là đám cá heo trình diễn trên truyền hình đã lan đến tận nơi ngõ ngách này!" Ngay lúc đó, một người đàn ông tiến lại bắt tay và Su-lơ tươi cười hỏi ông ta rằng: "Làm sao ông bạn nhận ra tôi sắp đến đây vậy?" Ông ta trả lời: "Thưa ông, tôi chẳng biết ông là ai cả. Chẳng qua là ngay trước khi gia đình ông bước vào rạp hát, viên quản lý rạp có nói với chúng tôi rằng: Trong vòng 15 phút nếu không có thêm 4 khán giả nữa vào rạp thì ông ta sẽ buộc phải trả lại tiền vé và hủy bỏ xuất chiếu này". Vì thế khi thấy gia đình ông đến vừa đủ 4 người theo yêu cầu của quản lý rạp, nên chúng tôi rất vui mừng và giờ đây tôi đến để cám ơn gia đình ông đã đến kịp thời giúp chúng tôi khỏi phải về không".

Câu chuyện trên làm sáng tỏ giáo huấn của Đức Giê-su trong Tin mừng hôm nay: Người đòi các tín hữu chúng ta phải sống khiêm tốn noi gương Người. Đông Su-lơ đã thể hiện đức khiêm tốn ấy: Là một huấn luyện viên cá heo tài giỏi, nên cũng thật tự nhiên khi Su-lơ nghĩ rằng những người trong rạp hát đã nhận ra ông là ai. Đến khi người đến bắt tay cho biết mình chẳng hề biết ông thì Su-lơ lại là người đầu tiên tự chế giễu mình. Ông rất vui khi phát hiện ra điều này, nên đã kể chuyện đó trên báo cho nhiều người biết về thói háo danh của ông, điều mà bình thường ông sẽ phải giấu kín. Chỉ người nào thực sự khiêm tốn mới làm được như Su-lơ mà thôi !

3. SUY NIỆM:

Qua đoạn Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su đã dạy các người biệt phái hai bài học này: Một là nếu họ là khách được mời thì cần phải khiêm tốn để ngồi vào đúng chỗ xứng hợp với địa vị của mình, tránh cảnh "trèo cao té đau. Hai là nếu họ là chủ nhà thì phải quan tâm mời cả những người nghèo khó bệnh tật đến nữa. Vì cũng vậy, Nước Thiên Chúa chỉ dành cho những ai có lòng khiêm nhường và có tinh thần nghèo khó (Lc 14,21). Vậy khiêm nhường là gì ? Phải chăng khiêm nhường là phủ nhận giá trị thực của mình ? Ta phải làm gì để học tập gương khiêm nhường của Đức Giê-su?

1)Thế nào là khiêm nhường ?

- Khiêm nhường là học và sống noi gương Đức Giê-su: Muốn biết khiêm nhường là gì chúng ta hãy nhìn vào mẫu gương Đức Giê-su như Người đã dạy: "Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái và gánh tôi nhẹ nhàng" (Mt 11,29-30). Đức Giê-su « vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế... » (Pl 2,6-7). Tuy là Thầy là Chúa, nhưng Người đã nêu gương khiêm nhường cho các môn đệ khi tự hạ rửa chân các ông trong bữa tiệc ly và dạy các ông cũng phải rửa chân phục vụ lẫn nhau (x Ga 13,14-15). Hơn nữa, Người còn thể hiện khiêm nhường qua hành động «vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập giá» (Pl 2,8). Tin mừng hôm nay cũng thuật lại câu chuyện: Khi được viên thủ lãnh các người biệt phái mời đến nhà dự tiệc, Đức Giê-su thấy một số khách thuộc nhóm biệt phái đã tranh nhau ngồi chỗ nhất trong bàn tiệc. Người đã dạy họ về cách ứng xử khiêm nhường như sau: "Khi anh được mời đi ăn cưới, thì đừng ngồi vào cỗ nhất, kẻo lỡ có nhân vật nào quan trọng hơn anh cũng được mời, và rồi người đã mời cả anh lẫn nhân vật kia phải đến nói với anh rằng: "Xin ông nhường chỗ cho vị này". Bấy giờ anh sẽ phải xấu hổ mà xuống ngồi chỗ cuối" (Lc 14,8-9).

- Khiêm nhường noi gương Đức Ma-ri-a: Trong biến cố truyền tin, khi được sứ thần chào là đấng « đầy ân phúc luôn có Chúa ở cùng », Đức Ma-ri-a đã tự xưng là nữ tì của Thiên Chúa và đã cúi đầu « xin vâng » như lời sứ thần truyền (x Lc 1,38). Sau khi nghe biết bà Ê-li-sa-bét đã có thai được sáu tháng, Đức Ma-ri-a đã vội vã lên đường đến thăm và mở chào hỏi bà Ê-li-sa-bét trước. Cuối cùng Đức Ma-ri-a còn ở lại để phục vụ bà ba tháng cuối, cho đến khi bà sinh con rồi mới trở về nhà mình (x Lc 1,39-56).

2) Phân biệt giữa khiêm nhường thật với khiêm nhường giả tạo: Đức khiêm nhường không phải là giả vờ tự hạ để chờ được người khác tôn lên. Khiêm tốn cũng không phải là thái độ tự ti mặc cảm, tự khinh bản thân hay trốn tránh trách nhiệm... Nhưng là ý thức các khả năng và ưu điểm của mình là do Chúa ban, rồi quy mọi vinh quang về cho Thiên Chúa, noi gương Đức Ma-ri-a khi được bà Ê-li-sa-bét khen có phúc đã ca ngợi Chúa trong kinh Ma-nhi-phi-cát như sau: "Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa... Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới. Từ nay hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc. Vì Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả, Danh Người thật chí thánh chí tôn !" (Lc 1,48-49). Người khiêm tốn không sợ chức vụ cao hay sợ ngồi vào ghế nhất, nhưng đối với họ: chiếc ghế không phải là mục tiêu, mà chỉ là phương tiện để phục vụ tha nhân hữu hiệu hơn. Người khiêm tốn sẽ luôn ý thức thân phận yếu đuối của mình nên sẽ giữ thái độ bình tĩnh khi nghe kẻ khác phê bình và sẵn sàng tu sửa để ngày một hoàn thiện hơn. Người khiêm tốn không tự tìm vinh danh cho mình, nhưng luôn cố gắng làm hết sức rồi phó thác thành bại cho Chúa quan phòng.

3) Chúa yêu thương kẻ khiêm nhường và ghét kẻ kiêu ngạo: Chúa Giê-su đã ca tụng Chúa Cha "Vì đã mặc khải Nước Trời cho những kẻ bé mọn..." (x Mt 11,25). Những kẻ bé mọn ở đây là những người khiêm nhường tự hạ. Chúa Giê-su đã yêu thương những kẻ khiêm nhường và quở trách bọn người tự cao và giả hình: "Khốn cho các ngươi, hỡi các luật sĩ và biệt phái giả hình ! Các ngươi giống như mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế. Các ngươi cũng vậy, bên ngoài thì có vẻ công chính trước mặt thiên hạ, nhưng bên trong là giả hình và gian ác"(Mt 23,27-28; Lc 11,44).

4) Ta phải làm gì để học tập gương khiêm nhường tự hạ của Đức Giê-su?

- Phải tránh thói xấu kiêu ngạo:

Tránh tự ái cao: Không dễ nổi nóng khi nghe người khác phê bình mình hay người thân của mình. Tránh công khai xúc phạm người khác.

Tránh khoe khoang thành tích để tự đề cao mình, và tránh chứng tỏ sự trổi vượt của mình hơn bạn bè.

Tránh thái độ ganh ghét đố kỵ những ai hơn minh thể hiện qua việc dèm pha nói xấu để hạ giá trị của họ.

Tránh thái độ độc đoán háo thắng: Người kiêu ngạo thường cao ngạo nên không chấp nhận những ý kiến đối lập, không muôn nghe những sự góp ý của thuộc cấp, nên công việc họ làm khó có điều kiện thăng tiến phát triển.

- Thực tập đức khiêm nhường như sau:

Cần nhìn nhận cả ưu lẫn khuyến điểm của mình. Trong việc tông đồ cần nhận biết sự yếu đuối bất toàn của mình để khiêm tốn xin ơn Chúa trợ giúp. Vì như Đức Giê-su đã dạy môn đệ: "Vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được !" (Ga 15,5b).

Tập nhận ra những ưu điểm của người khác và thành thật khen ngợi họ.

Tập chọn phần thua thiệt: quyền lợi ít hơn và trách nhiệm nhiều hơn anh em.

Tập đi bước trước đến với tha nhân hơn là đòi họ phải đến với mình trước.

Tập nói năng bình tĩnh vừa đủ nghe khi sửa dạy con cái hay thuộc cấp. 

Tập làm những việc nhỏ bé tầm thường ít ai muốn thực hiện.

Tập nhận nguyên nhân thành công là do ơn Chúa giúp và là kết quả của tập thể. Khi thất bại hãy nhận nguyên nhân là do sự thiếu sót bất toàn của mình tránh đổ lỗi hoàn toàn do hoàn cảnh hay người dưới.

Chỉ những ai biết hóa nên như trẻ nhỏ mới được Chúa yêu thương và được Người đón nhận vào Nước Thiên Chúa sau này (x Lc 9,48).

Tóm lại, khiêm nhường là học tập sống theo gương mẫu và lời dạy của Đức Giê-su như Người đã nói: "Hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường" (Mt 11,29). Khiêm nhường còn là sẵn sàng rửa chân phục vụ tha nhân trong yêu thương (x. Ga 13,4.14), nhất là hiến thân phục vụ người nghèo khổ bệnh tật và bị bỏ rơi noi gương Đức Giê-su: "Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người." (Mc 10, 35-45).

4. SỐNG LỜI CHÚA:

1) Kẻ kiêu ngạo thường biểu lộ ra ngoài qua những thái độ cử chỉ nào khi tiếp xúc với tha nhân ?

2) Người khiêm nhường giả tạo thường biểu lộ qua những câu nói nào ?

3) Người hay la lối to tiếng và dễ tức giận khi kẻ dưới quyền làm trái ý mình thì có phải là người khiêm nhường không ?

4) Khi nghe người khác phê bình chỉ trích trực tiếp hay qua một người trung gian, chúng ta nên phản ứng thế nào để thực hành đức khiêm nhường noi gương Đức Giê-su ?

5. NGUYỆN CẦU

- LẠY CHÚA GIÊ-SU. Thích được người khác khen ngợi, thích được ăn trên ngồi trước, thích được danh vọng chức quyền... cũng chính là thói xấu của mỗi người chúng con. Hôm nay Chúa dạy các người Pha-ri-sêu bài học khiêm nhường và cũng gián tiếp dạy chúng con: "Khi anh được mời đi ăn cưới, thì đừng ngồi vào cỗ nhất... Nhưng hãy vào ngồi chỗ cuối". Con biết Chúa không dạy con giả đò theo kiểu khiêm nhường giả tạo, nhưng Chúa muốn chúng con coi thường danh vọng hão huyền và luôn sống nhỏ bé khiêm hạ. Chúa cũng dạy chúng con phải noi gương Chúa rửa chân phục vụ lẫn nhau.

- LẠY CHÚA. Chúa đã đi con đường khiêm hạ và mời gọi chúng con bước theo. Xin dạy chúng con biết khiêm tốn nhận ra những sai sót và quyết tâm sửa đổi. Xin cho chúng con biết thông cảm và mở rộng lòng đón nhận tha nhân. Xin giúp chúng con tránh lên mặt xét đoán ý trái cho kẻ khác, nhưng biết học tập những điều tốt đẹp nơi họ. Nhờ đó chúng con hy vọng sẽ được Chúa tôn vinh trước tòa phán xét sau này.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A. - Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON

LM ĐAN VINH - HHTM

CHÚA NHẬT XXII THƯỜNG NIÊN
Lc 14, 1.7-14
Lm Augustine S.J

Năm 1888 Đức Lêô XIII phong thánh cho một vị thừa sai tại Châu Mỹ La Tinh và tôn vị ấy làm bổn mạng các hoạt động truyền giáo cho người da đen trên toàn thế giới. Đó là thánh Phêrô Claver (1580-1654).

Quì bên cạnh để rửa mặt rửa mình cho họ

Người ta có thể nghe chính vị thánh này mô tả về tình trạng của những người da đen mà ngài hiến thân phục vụ qua một đoạn trích của lá thư gửi các bạn của ngài như sau: "... Hôm qua... Lễ Chúa Ba Ngôi, một số lớn dân da đen bị bắt dọc các bờ sông ở Phi Châu được đưa vào bờ bằng một chiếc tàu rất lớn. Chúng tôi vội vã chạy ùa ra mang theo hai thúng đầy cam, chanh, bánh ngọt và đủ mọi thứ linh tinh. Chúng tôi phải cố gắng dạt đám đông ra mới tới được với những người đau ốm. Hàng đám họ đang nằm dài trên đất ẩm, đúng hơn là trên bùn, thân thể trần truồng không một mảnh vải che thân. Chúng tôi cởi áo choàng ra, đi đến một nhà kho gần đó, kiếm đủ thứ gỗ còn xài được mang về và ghép chúng lại với nhau thành một cái bục, đoạn xông qua đám lính gác, và cuối cùng chúng tôi dàn xếp mang được tất cả những người ốm đau đến đó... Phải chi các bạn có thể nhìn thấy lòng biết ơn biểu lộ trong ánh mắt họ! Bằng cách này chúng tôi đã nói với họ không phải qua lời nói mà bằng hành động. Bất cứ bằng hình thức ngỏ lời nào khác có lẽ cũng không phù hợp. Đoạn chúng tôi ngồi xuống hoặc quì bên cạnh họ và rửa mặt rửa mình cho họ."

Điều thánh Phêrô Claver vừa mô tả ăn khớp với lời khuyên của Đức Giêsu ngỏ cùng vị thủ lãnh nhóm Pharisêu đã mời Người đến dự tiệc, rằng: "Khi ông đãi tiệc hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì đáp lễ và như thế, ông mới thật có phúc." (cc.13-14). Hai thúng cam, chanh, bánh ngọt mà thánh nhân mang tới chỉ mới là đồ khai vị sơ khởi ban đầu. Những cống hiến tiếp theo còn đáng kể hơn nhiều. Những cống hiến ấy được tượng trưng bằng việc thánh nhân "ngồi xuống hoặc quì bên cạnh họ và rửa mặt rửa mình cho họ." Tất cả những điều đó trở nên hạnh phúc lớn biết bao cho thánh Phêrô Claver khi thánh nhân hưởng được ngày các kẻ lành sống lại (c.14).

Thiết lập Nước Thiên Chúa nơi bản thân Đức Giêsu

Quả thật, sứ mạng Đức Giêsu đến để thể hiện là thiết lập Nước Thiên Chúa nơi bản thân Người. Nước đó Người thường ví như một bữa ăn hoặc một bữa tiệc linh đình.

Người Do Thái cũng như người Hy Lạp thời Đức Giêsu, thường ăn hai bữa, không kể bữa lót lòng ban sáng trước khi đi làm: đó là bữa sáng hoặc về trưa và bữa chính ban chiều. Khi ăn người Do Thái có thể ngồi hoặc ngả lưng trên cỏ (Mt 14,19) hay trên ghế dài có đệm mà không có tay vịn (Ga 13,23) với thân mình dựa trên khuỷu tay trái và thức ăn chủ yếu được kẹp trong bánh dễ cầm tay. Thường người ta chỉ ăn bánh mì, uống nước lã và ăn trái cây, tuy ban chiều cũng thường có những món ăn nóng. Thịt và rượu nho cũng như những thức ăn mỹ vị thường dành cho đại tiệc (Lc 15,22-32).

Trong Kinh Thánh, bữa ăn đã từng là cơ hội để phê chuẩn giao ước được ký kết (St 26,30; 31,46-54). Bữa ăn luôn nói lên tình huynh đệ ngang qua hành vi duy trì sự sống. Cộng đoàn dự tiệc luôn giả thiết tình mến khách về phía người mời khách đến ăn. Ngược lại, khách dự tiệc cũng được giả thiết phải có một số những đức tính tương xứng. Câu Thánh Vịnh 40,10 "Cả người bạn thân con hằng tin cậy, đã cùng con chia cơm sẻ bánh, mà nay cũng giơ gót đạp con" như tiên báo cho thấy Giuđa sẽ trở nên kẻ phản bội Thầy mình như thế nào trong bữa tiệc ly (Lc 22,21).

Trong bài Tin Mừng hôm nay Đức Giêsu lần lượt ngỏ lời cùng khách dự tiệc (cc.7-11) rồi cùng chủ nhà là người mời khách tới (cc.12-14): Cả hai đều tìm thấy ý nghĩa đầy đủ của nó ở lời bình phẩm của một người đồng bàn lên tiếng nói với Thầy Giêsu rằng: "Phúc thay ai được dự tiệc trong Nước Thiên Chúa." (c.15)

Người nhỏ nhất là kẻ lớn nhất

Khách dự tiệc được Đức Giêsu khuyến cáo làm điều xem ra với lý do không được thanh cao lắm chăng? Họ được đề nghị vào ngồi cỗ dưới không phải vì lý do tốt lành, mà chỉ để được chủ tiệc cất nhắc lên cỗ nhất: "Thế là anh sẽ được vinh dự trước mặt mọi người đồng bàn" (c.10). Nhưng Luca cho ta biết điều vừa nêu là dưới hình thức một dụ ngôn (c.7) thường được hiểu là một câu chuyện buộc người nghe phải suy nghĩ để khám phá ra ý nghĩa tiềm ẩn của nó. Ở đây ý nghĩa phải được tìm là ở câu 11 khi Đức Giêsu nói "Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên." Tức là trong ngày phán xét Thiên Chúa sẽ đảo ngược lại thang giá trị bất công của thế gian. "Người sẽ hạ bệ những ai quyền thế và nâng cao mọi kẻ khiêm nhường" (Lc 1,52). Do đó việc các môn đệ tôn mình lên đã từng bị Thầy Giêsu quở trách khi mà các ông chỉ mới "chợt suy nghĩ tự hỏi xem ai là người lớn nhất trong các ông". Thầy Giêsu biết điều các ông đang suy nghĩ trong lòng, Người liền đem một em nhỏ đặt bên cạnh mình và nói với các ông: "... Ai là người nhỏ nhất trong tất cả anh em, thì kẻ ấy là kẻ lớn nhất!" (Lc 9,46-48).

Đừng mời người có thể đáp lễ

Theo cùng một văn mạch xem ra cũng dưới hình thức dụ ngôn như trên (c.7), Đức Giêsu quay lại khuyến cáo chủ tiệc đừng nên mời bạn bè, anh em hay bà con là những người có thể đáp lễ (c.12) mà ngược lại, hãy mời những người đui mù, què quặt, v.v... là những người không có gì để đáp lễ. "Như thế, ông mới thật có phúc" (c.14). Nói cách khác, khi làm việc thiện cần phải tránh tinh thần vụ lợi; mọi phần thưởng chỉ được chờ đợi nơi Thiên Chúa khi Người cho kẻ lành sống lại. Kiểu nói mạnh "Đừng kêu bạn bè, anh em hay bà con, hoặc láng giềng giàu có, kẻo họ cũng mời lại ông" là để nói lên tinh thần hoàn toàn vô vị lợi đó.

Đảo ngược thang giá trị

Quả thật tinh thần đảo ngược thang giá trị trần thế của Nước Thiên Chúa cũng như tinh thần hoàn toàn vô vị lợi nhằm phục vụ người nghèo chính là điều mà Chúa Giêsu muốn dạy ta trong bài Tin Mừng hôm nay. Tinh thần ấy thánh Phêrô Claver đã bật sáng lên không chỉ bằng một cử chỉ ngôn sứ thoáng qua nhưng bằng cả một đời tận hiến cho người da đen suốt 40 năm!

Sinh ra trong một gia đình nghèo ở miền Đông Bắc nước Tây Ban Nha, cậu Phêrô Claver ngay từ nhỏ đã được hấp thụ một đức tin vững mạnh và được triển nở về lòng khiêm tốn sâu thẳm. Thêm vào đó, vì là người con duy nhất trong gia đình, cậu được hưởng một tình thương âu yếm của mẹ cha. Tất cả những nét ấy sẽ tiếp tục ghi khắc sâu đậm vào cuộc đời trên dưới 70 năm của Phêrô Claver.

Sau một thời gian học tại quê nhà, nhờ một ông chú cho tiền ăn học, Phẽrô Claver được gởi đi học xa gia đình và đã xin nhập Dòng Tên ngày 7.8.1602. Sau hai năm ở tập viện và một thời gian học văn chương, ngày 11.11.1605, Phẽrô Claver đặt chân tới học viện Dòng Tên ở đảo Mallorca nơi một tu huynh gác cổng 33 năm nổi tiếng là người đạo đức và thánh thiện đến nỗi nhiều nhân vật đạo đời lui tới bàn việc thiêng liêng với thầy. Chính thầy An Phong Rodriguez này đã khuyên bảo Phêrô Claver rằng "Nếu anh thật lòng yêu mến Chúa Kitô, anh hãy xin đi phục vụ bao anh em ở Nam Mỹ!" Đó chính là điều mà Phêrô Claver đã làm, là xin hiến thân phục vụ người da đen một cách hoàn toàn vô vị lợi. Thánh nhân đã mang lại kết quả lớn lao cho họ. Người ta ước lượng trong gần 40 năm, thánh Phêrô Claver đã ban bí tích rửa tội cho khoảng 300.000 người da đen. Do đó mà năm 1888 Đức Lêô XIII đã tôn thánh nhân làm bổn mạng các hoạt động truyền giáo cho người da đen.

CHÚA NHẬT XXII THƯỜNG NIÊN
Lc 14, 1.7-14
John Nguyễn

1. Ai cũng muốn bản thân mình là một cái gì có giá trị, và được mọi người công nhận và tôn trọng giá trị của mình

Thiên Chúa đã dựng nên con người giống như Ngài, theo hình ảnh Ngài (xem St 1,26-27; 9,6), nhưng ở mức độ hoàn hảo của một tạo vật giới hạn, đương nhiên kém Ngài rất xa vì Ngài ở mức độ hoàn hảo của một Thiên Chúa vô hạn. Mức hoàn hảo của con người về sau lại bị tổn thương vì tội nguyên tổ. Vì thế, từ sâu thẳm, con người vẫn muốn vươn lên hoàn hảo, muốn sống yêu thương, muốn thực hiện Chân Thiện Mỹ, nghĩa là muốn càng ngày càng trở nên giá trị hơn, giống Thiên Chúa hơn. Đấy quả là một chiều hướng rất tốt.

Nhưng do tội lỗi và nhất là tính kiêu ngạo, sự xấu đã xâm nhập vào bản thể con người, khiến cho chiều hướng tốt ấy bị lạc hướng. Thay vì cố gắng trở nên hoàn hảo, có giá trị thật sự (điều này khó, đòi hỏi con người phải cố gắng nhiều và quên mình đi), thì con người lại muốn trở nên có vẻ hay được coi như hoàn hảo, như yêu thương, như có giá trị, như giống Thiên Chúa. Điều này giảm bớt cho con người biết bao khó khăn và nỗ lực. Thay vì tìm cách tạo nên giá trị thật sự từ bên trong, con người tìm cách để mình có vẻ như, hay được coi như, và được đối xử như có giá trị, bất chấp bên trong có giá trị đích thực hay không.

Vì thế, khi xét mình, nếu thành thật với lòng mình, ai cũng đều cảm nhận khuynh hướng này: «Tôi biết anh nịnh tôi, nhưng tôi vẫn thấy thích thú», và nếu ai nói về một tật xấu hay điều dở của ta, cho dù có đúng 100%, ta cũng cảm thấy khó chịu. Từ đó, thay vì nỗ lực hoàn thiện «cái tôi», làm cho nó có giá trị đích thực, thì ta lại tìm đủ mọi cách để «cái tôi» được tôn trọng, được coi là có giá trị. Chẳng hạn, khi dự tiệc thì thích lên ngồi ở chỗ danh dự, chỗ dành cho những bậc vị vọng, trong giáo xứ hay trong xã hội thì tìm cách vận động để ngoi lên những chức vụ quan trọng... Ngoài ra còn tìm đủ mọi cách để che bớt những cái xấu, cái dở của mình, để đừng có ai nhìn thấy. Khuynh hướng giả trá này còn đi xa hơn: bên trong càng ít giá trị, thì bên ngoài lại càng phải tỏ ra nhiều giá trị. Vì thế nên mới có tình trạng «xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ», «thùng rỗng kêu to», càng tự ty thì lại càng tự tôn. Thậm chí sẵn sàng đánh lừa cả chính mình: nghĩ mình đích thực có giá trị đúng như mình đang muốn làm ra vẻ như thế.

2. Phải vạch mặt khuynh hướng giả trá ấy ngay trong bản thân mình

Chính khuynh hướng này, xem ra rất tự nhiên nơi mỗi người và mọi người, là đầu mối gây nên biết bao nhiêu tội lỗi, xấu xa và rắc rối cuộc đời. Tại sao? Vì nó chính là một khuynh hướng giả trá, ma mãnh, nên kết quả cuối cùng bao giờ cũng là thất bại thê thảm, mặc dù nhất thời nó có thể đem lại nhiều vinh quang, lợi lộc. Ta dễ ganh tị khi thấy người khác hơn mình (tốt hơn, đẹp hơn, hạnh phúc hơn, đạo đức hơn, tài năng hơn, giàu có hơn, được yêu mến hơn...). Sự ganh tị ấy khiến ta vô tình hoặc cố ý tìm cách hạ người khác xuống bằng lời nói hoặc bằng hành động, thậm chí làm hại hoặc trừ khử họ. Nhưng rồi tới một lúc nào đó, chẳng sớm thì muộn, sự ganh tị ấy cũng sẽ bị lột mặt nạ, để rồi tất cả những gì giả tạo mình vất vả xây dựng được, có thể bằng tội ác, bằng những phương tiện bất chính, sẽ sụp đổ hoàn toàn. Lúc đó trước mặt người khác, mình lại trở thành kẻ vô giá trị, hơn thế nữa, bị nguyền rủa thậm tệ.

Khuynh hướng giả trá này, bao hàm sự ganh tị, là mẫu số chung tự nhiên của tất cả mọi con cháu Ađam-Eva, cho dù người ấy thánh thiện tới đâu. Sự thánh thiện của một con người không phải nằm ở chỗ không có hay tiêu diệt khuynh hướng ấy, mà thắng vượt được khuynh hướng ấy. Thật vậy, cho dù tôi có thánh thiện tới đâu, khi có ai nịnh tôi, hay khi tôi được đề cao (dù không xứng đáng) thì phản ứng tâm lý đầu tiên của tôi là cảm thấy thích thú, và khi có ai chê bai (dù là chê đúng), hay khi thấy bạn bè hơn mình, tôi vẫn thấy khó chịu. Nếu không thế thì chắc hẳn tôi đã thoát khỏi hậu quả xấu ác của tội nguyên tổ rồi! Phản ứng đầu tiên hay «sơ cấp» phát xuất từ tâm lý ấy, dù tôi không muốn phản ứng như thế cũng không được, trừ trường hợp tôi đã tu luyện rất nhiều năm. Và phản ứng tuy xuất phát từ một khuynh hướng xấu, nhưng không phải là tội lỗi, vì nó xảy ra ngoài ý muốn của tôi. Nhưng sau đó, tôi bắt đầu phản tỉnh lại và nhận ra đó là một khuynh hướng xấu. Vấn đề là sau khi phản tỉnh, tôi có hành động theo khuynh hướng xấu đó hay không. Phản ứng sau này hay «thứ cấp» có sự can dự của ý chí, nghĩa là ta có thể hành động theo hoặc không theo khuynh hướng đó tùy quyết định của ta. Thánh thiện hay tội lỗi là tùy thuộc phản ứng thứ cấp này. Như vậy, người thánh thiện hay tội lỗi đều giống nhau ở phản ứng sơ cấp, nhưng khác hẳn nhau ở phản ứng thứ cấp.

3. Nhận định hậu quả cuối cùng rất tai hại của khuynh hướng giả trá ấy để dứt khoát không chiều theo

Hành động theo khuynh hướng giả trá này có thể đem lại một số lợi lộc nhất thời, chóng qua, nhưng kết quả cuối cùng và lâu dài thì rất tai hại. Chúng ta rất dễ bị hấp dẫn, lôi cuốn vì những lợi lộc nhất thời ấy, nhất là khi chúng ta không nghĩ tới hậu quả cuối cùng rất tai hại và kéo rất dài của nó. Chẳng hạn, trường hợp một người không xứng đáng ngồi vào chỗ danh dự trong bàn tiệc, nhưng lại chiều theo khuynh hướng «muốn có vẻ là có giá trị», hay «muốn được coi là danh giá» nên ngồi vào đó. Khi ngồi đấy, anh ta cảm thấy hạnh phúc khi nghĩ đến những cặp mắt đang nhìn anh ta với sự nể phục. Nhưng hạnh phúc đó không thể kéo dài được nếu nó không có nền tảng là sự xứng đáng. Chỉ trong chốc lát, khi có nhiều bậc vị vọng tới dự tiệc, họ xứng đáng ngồi ở chỗ đó hơn, thì chủ nhà nhận ra ngay sự không xứng đáng của anh ta. Thế là anh ta bị mời xuống. Niềm hãnh diện và hạnh phúc chỉ kéo dài được dăm ba phút khi bữa tiệc mới bắt đầu, nhưng sự nhục nhã và đau khổ thì kéo dài suốt cả bữa tiệc, thậm chí nhiều ngày tháng sau bữa tiệc nữa.

Ngược lại, nếu ta không màng gì tới những cái có vẻ bên ngoài ấy, thì cuối cùng ta cũng chẳng mất chúng. Vì cuối cùng chúng sẽ trở lại với người xứng đáng với chúng. Chẳng hạn, trong bữa tiệc, nếu ta là người xứng đáng ngồi ở chỗ danh dự, nhưng vì nghĩ mình không xứng đáng nên ta lại chọn một chỗ hèn kém, thì khi chủ tiệc nhận ra sự có mặt của ta ở chỗ hèn kém ấy, ông ta sẽ mời ta lên chỗ cao hơn. Như thế, ta chẳng những không bị mất danh dự xứng đáng với ta, mà người khác còn thấy được phong cách cao thượng của ta nữa.

Tuy nhiên, điều quan trọng ta cần phải đạt được là sự khiêm nhường đích thực bên trong, chứ không phải là sự khiêm nhường giả bộ bên ngoài. Khuynh hướng giả trá nói trên cũng có thể thúc đẩy chúng ta làm ra vẻ khiêm nhường. Chẳng hạn, trong bữa tiệc, ta cố ý chọn một chỗ kém hơn địa vị của ta với mục đích được được nâng lên. Nhưng nếu người chủ vô ý không mời ta lên bàn trên, thì ta trở nên bực bội trong lòng... Người khiêm nhường đích thực không tự coi mình là gì cả, nên không cảm thấy bực bội khi bị xúc phạm, cũng không cảm thấy có gì đáng phải lên mặt vinh vang khi được ca ngợi tôn vinh. Chỉ có những người khiêm nhường đích thực ấy mới luôn luôn cảm thấy mình hạnh phúc, thanh thản, nhẹ nhàng, và được Thiên Chúa yêu quí.

Cầu nguyện
Lạy Cha, xin giúp con thắng được khuynh hướng giả trá muốn làm ra vẻ có giá trị hơn giá trị đích thực của con. Xin giúp con thành thật với chính mình, và với mọi người, đừng để con ham được đánh giá cao hơn bản chất thực của con. Xin giúp con đừng coi mình là gì cả, đừng quan trọng hóa mình, để con trở nên một con người chân thực, một phản ảnh quan trọng của Cha ở trong con. Amen

LẠY CHÚA CON CÓ LÀ GÌ !
Lc 14, 1.7-14
Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT

Sống trong một thế giới văn minh vượt bực, ai cũng chỉ muốn cho mình có của ăn, của để dư thừa. Ai cũng muốn cho mình có địa vị giầu sang, chức quyền cao trọng. Ai cũng muốn cho mình được người khác nể trọng và khen ngợi. Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay cho chúng ta cái nhìn hết sức trái ngược với ý nghĩ của con người. Con người thích thái độ tự kiêu, tự mãn, Chúa lại dậy con người phải khiêm nhượng.

AI TÔN MÌNH LÊN SẼ BỊ HẠ XUỐNG VÀ AI HẠ MÌNH XUỐNG SẼ ĐƯỢC TÔN LÊN : Đức Giêsu là người khiêm nhượng tuyệt đối. Người yêu thích sự khiêm nhượng và làm gương cho mọi người về sự khiêm nhu, tự hạ. Người là Thiên Chúa nhưng đã tự hạ :" Đức Giêsu Kitô, vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế..."( Pl 2,6-7 ). Chúa là Đấng cao vời, cao quí, là Cha và là Thầy, nhưng Người đã cúi xuống rửa chân cho các môn đệ. Sự tự hạ của Người vô cùng tuyệt vời, vô cùng quí giá vì :" Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập giá " ( Pl 2, 8 ). Chúa làm gương và Chúa dậy con người qua dụ ngôn trong Tin Mừng Lc 14, 7-14. Chúa cho thấy khi dự tiệc có nhiều người cứ hăm hở, háo hức chọn chỗ nhất, chỗ cao ở bàn tiệc. Còn Chúa chớp lấy cơ hội này, Người khuyên con người hãy khiêm nhượng, chọn phần chót hết, nghĩa là chọn địa vị sau chót :" Khi được mời dự tiệc cưới, đừng chọn chỗ nhất, sợ có nhân vật nào có địa vị, quan trọng cũng được mời...ngược lại khi được mời hãy ngồi vào chỗ cuối. Xem ra chọn chỗ cuối trong bữa tiệc phải được thực hiện cách tự nhiên, đơn sơ, không hề có hậu ý gì, nếu không sẽ trở nên giả hình, kiêu ngạo một cách tinh tế vì xếp chỗ ngồi là quyền của chủ nhà chứ không thuộc quyền của khách. Hạ mình xuống là khiêm nhượng, mà khiêm nhượng thực sự là biết mình, biết về ưu điểm cũng như khuyết điểm của mình. Khiêm nhượng như Chúa dậy là coi mình là không và coi Chúa là tất cả. Chỉ khiêm nhượng như thế mới đáng được Chúa tôn lên. Gương Đức Mẹ trong Tin Mừng và gương của thánh Giuse. Mẹ coi mình là nữ tì của Chúa và là người phục vụ trong yêu thương. Thánh Giuse tự hạ nhận Mẹ về nhà mình và dưỡng nuôi Chúa Giêsu.

LỜI KHUYẾN CÁO CỦA CHÚA TIỀM ẨN MỘT Ý NGHĨA SÂU XA : Tiệc cưới đối với Chúa Giêsu là Nước Trời và trong đó kẻ nào tự hạ mình xuống sẽ được nhắc lên và kẻ nào tự tôn, tự kiêu, tự đại sẽ bị hạ xuống. Chúa Giêsu muốn đưa nhân lọai, đưa con người đi vào chiều sâu của đời sống. Cuộc đời con người không chỉ ở trần gian, với của cải vật chất, với danh dự, chức vị cao quí, nhưng con người còn có một cuộc đời mai sau. Do đó, Chúa đưa con người đi vào chiều sâu của sự khiêm hạ mà vươn tiến lên chiều cao của Nước Thiên Chúa. Nước Trời là một hồng ân cao quí mà chỉ có những ai khiêm nhượng, chỉ những ai hiểu biết và nhận ra Chúa là tất cả thì họ mới có thể lãnh nhận được Nước Thiên Chúa. Còn những kẻ tự kiêu tự đại, tự tôn, tự mãn tưởng mình có thể vào Nước Trời cách dễ dàng mà không phải cố gắng hy sinh, vác thập giá mà theo Chúa thì quả thực Nước Thiên Chúa vượt ra khỏi tầm tay của họ. Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo và nâng cao kẻ phận nhỏ, kẻ khiêm nhượng. Ađam và Eva vì tự mãn muốn bằng Thiên Chúa, nên ông bà đã hoàn toàn bị hạ xuống. Mẹ Maria vì khiêm nhượng, Chúa nâng Mẹ lên :" Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới; từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc. Đấng toàn năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả " ( Lc 1, 48-49 )

Lạy Chúa Giêsu, Chúa yêu thương kẻ khiêm nhường và chống lại kẻ kiêu căng, tự kiêu, tự mãn. Xin củng cố lòng tin cho chúng con để chúng con nhận ra giới hạn con người của mình và tín thác vào Chúa vì Chúa là tất cả cho con người chúng con. Amen.

KHIÊM NHƯỜNG, HIẾU KHÁCH VÀ LUẬT LỆ
Lc 14, 1.7-14
LM Đào Quang Chính

Bài phúc âm chúng ta nghe trong tin mừng theo thánh Luca Chúa nhật tuần 22 này không đơn giản như đôi khi chúng ta nghĩ. Nếu đọc trọn đoạn thánh kinh của Luca (Luca 14 1; 7-14), chúng ta thấy trước khi dậy dỗ về sự khiêm hạ, Chúa đã chữa lành một bệnh nhân bị phù thũng ngay tại nhà đó (Luca 14: 2-6).

Một cách đơn sơ, chúng ta đồng ý với sự can đảm của Chúa khi Người, tuy được mời đến dự bữa ăn nơi nhà của người Pharisêu, can đảm lên tiếng chỉ trích thói quen của các vị "vọng tộc" giầu có -trong đó có người Pharisêu- thường thích ngồi chỗ quan trọng nhất nơi bữa ăn hoặc bàn tiệc. Chúng ta nhấn mạnh đến lời dậy dỗ của Chúa về hai nhân đức: khiêm tốn và hiếu khách.

Tuy nhiên, nơi đây, Chúa không chỉ nhằm đến hai nhân đức trên mà còn thách đố cả lề luật và lối sống Do thái thời đó.

Như nhiều tôn giáo khác, Do thái giáo không hẳn chỉ là một chuỗi những luật lệ về Yahweh - Chúa, nhưng còn là một tổng hợp những tập quán, cách thực hành, liên quan và ảnh hưởng đến mọi khía cạnh trong cuộc sống con người.

Luật điều Torah

Năm cuốn sách đầu trong cựu ước gọi là sách luật hoặc sách Torah. Tổng cộng có 613 điều luật. Sách đề cập đến những gì người Do thái phải tuân theo khi thức dậy buổi sáng, những gì được ăn và không được ăn, những gì phải làm để tuân giữ ngày Sa-bat và lễ trọng, những điều phải theo khi liên hệ với Chúa và với tha nhân..Tiếng Do thái gọi những điều luật này là Halakhah. Mục đích của Halakhah là để tăng thêm chiều kích tinh thần của đời sống, tránh đi các việc làm quá vật chất, nhờ đó, họ dễ giao tiếp với Chúa hơn. Thí dụ như sau khi ăn, hãy nhớ tạ ơn. Tạ ơn sau khi ăn (birkat ha-mazon) là một trong những lời kinh quan trọng nhất của người Do thái. Sách Đê nhị Luật đoạn 8:10 dậy rằng "Khi con đã ăn xong, nhớ tạ ơn Chúa, Chúa của con, vì Ngài đã ban cho con quốc gia đẹp tốt này". Tạ ơn Chúa sau bữa ăn gồm 4 loại:

  • 1. Birkat Hazan: tạ ơn Chúa đã ban thức ăn cho thế giới
  • 2. Birkat Ha-Aretz: tạ ơn Chúa đã mang dân Do thái ra khỏi Ai cập, thiết lập giao ước và ban cho dân Do thái đất làm gia nghiệp.
  • 3. Birkat Yerushalayim: tạ ơn Chúa đã tái lập Giêrusalem và hứa ban đấng Me-si-a
  • 4. Birkat Ha-Tov v'Ha-Maytiv: tạ ơn Chúa cho sống đẹp và làm việc thiện.

Trong số 613 luật điều Torah, có những luật điều ghi chép rõ ràng và minh bạch, như chớ giết người. Có luật điều nửa minh bạch nửa không, như giữ ngày Sa-bát, không làm việc xác ngày Sa-bát, mà không nói rõ phải giữ như thế nào.

Luật điều từ các tư tế.

Để giải thích luật, nhất là những luật không minh bạch, các thầy Rabbi đưa ra điều luật gọi là Rabbanan. Luật Rabbanan cũng mang tính cách ràng buộc như luật Torah. Thí dụ luật Rabbi giải thích điều luật chớ làm việc xác ngày Sa-bát bằng cách nói rằng trong ngày Sa-bát, không được nhấc búa, nhấc bút, nhấc tiền, vì những động tác này chứng tỏ rằng người đó đang làm việc. Điều luật Rabbanan giúp người Do thái khỏi vô tình mắc lỗi gọi là gezeirah. (Do đó, khi Chúa thách đố các người Pharisêu có nên chữa bệnh trong ngày Sa-bát hay không, họ đã không thể và không dám trả lời.)

Còn loại điều luật khác nhằm giúp dân sống và nhớ luật thường xuyên, gọi là takkanah. Takkanah buộc người Do thái phải đọc sách luật các ngày thứ hai và thứ năm.

Từ các luật buộc trên phát sinh ra các hệ quả không lường trước. Để đọc sách luật và đọc lời tạ ơn Chúa sau bữa ăn, người ta cần có những người thạo luật và những chỗ dành riêng. Từ đó nhiều người thích được ở chiếu nhất, chỗ quan trọng hầu dễ nghe và dễ đọc sách luật, đồng thời cũng chứng minh cho người khác thấy mình luôn lưu tâm và kính trọng lề luật.

Chúa Giêsu, khi dậy dỗ người nghe khiêm nhường và hiếu khách đã thách đố cả lề luật Rabbanan. Có lẽ nhờ vậy chúng ta hiểu rõ hơn tại sao Chúa nói "ta đến không để phá hủy mà để làm trọn lề luật (Mt 5: 17)."

Nghe luật, đọc luật, đọc kinh tạ ơn trước và sau bữa ăn như luật dậy là điều nên làm và phải làm, nhưng từ đó biến thành những lo lắng quá độ về tôn ti, trật tự trong bữa ăn, chỗ ngồi ở hội đường, cộng đoàn hoặc nhà thờ, thì hành động đó lại trở nên sai trái. Chúa đã dùng cơ hội chỗ ngồi trong bữa ăn dậy dỗ cho mọi người biết đâu là sự khiêm hạ và đâu là sự hiếu khách thực. Khiêm hạ là người biết rõ vị thế của mình -không phải chỉ với người khác- mà nhất là với Chúa. Biết mình chẳng là gì trước mặt Chúa. Đằng khác, cũng đừng nên đi đến thái cực khác. Nhiều người ra vẻ khiêm nhường để chủ nhà phải mời đôi ba lần mới dời lên bàn trên. Tuy nhiên, nếu chủ nhà "quên" mời thì về nhà giận dữ..

Hiếu khách là người "khi con đãi khác ăn trưa hoặc ăn tối, đừng kêu bạn bè, anh em hay bà con hoặc láng giềng giầu có, kẻo họ cũng mời lại con.. Trái lại, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì đáp lễ. Như vậy con mới thật có phúc (Luca 14: 14)." Hiếu khách như trên đúng như lời cổ nhân ta thường nói "làm phúc tay phải, đừng cho tay trái biết."

Để xã hội có trật tự, cần có tôn ti, nhưng đừng quá quan trọng "chiếu trên, chiếu dưới." Hãy thấy Chúa trong những người hèn kém. Hãy nhìn đến tương giao của mình với Chúa. Có như vậy mới là làm trọn lề luật.

NHỮNG THỰC KHÁCH ĐÍCH THỰC
Lc 14, 1.7-14
LM Phạm Ngọc Ngôn, Csjb

Trên đường lên Giêrusalem, khi đi qua các thành thị và làng mạc, Chúa Giêsu không ngừng rao giảng nước Thiên Chúa. Lời rao giảng cũng như những việc làm nhất cử nhất động của Chúa Giêsu đều được giới thủ lãnh Dothái xem xét ti mỉ. Một thủ lãnh Pharisêu mời Chúa Giêsu dự tiệc không phải vì mối tình thân hữu của ông đối với Chúa mà chỉ nhằm mục đích dò xét Người. Chính trong bữa tiệc đậm mùi "chính trị" như thế, Chúa Giêsu hướng dẫn cho những vị khách quý của viên thủ lãnh Pharisêu -hay đúng hơn là những tên mật thám tôn giáo, bài học về sự khiêm nhường và tinh thần phục vụ.

Những vị khách mời dự tiệc ngày hôm đó cứ chen lấn, dành nhau chỗ nhất mà ngồi, đúng ra phải là những gối nhất mà nằm. Chỗ nhất hay gối nhất là như thế nào? Vào thời đó, trong các bữa tiệc, người dân có thói quen nằm chứ không ngồi như vẫn thường thấy. Gối nhất hay chỗ nhất ở đây là nơi gần với chủ nhà nhất. Các gối nằm được sắp xếp dựa vào thanh danh của thực khách, tức là phụ thuộc vào chức phận hay sự giàu sang của người đó.

Dùng dụ ngôn, Chúa Giêsu nhắc khéo những vị khách một quy luật khôn ngoan: "Khi anh được mời dự tiệc, thì đừng ngồi vào cỗ nhất". Phải chăng Chúa Giêsu muốn dạy nghệ thuật ứng xử có hàm chứa sự tính toán, những thủ đoạn khéo léo bên trong? Hẳn là không. Vì ý nghĩa của dụ ngôn không nằm ở cách giao tế khéo léo mà là giáo huấn về sự khiêm nhường- một thái độ cần phải có để có thể dự tiệc nước Thiên Chúa. Thật thế, những ai tham dự vào bàn tiệc nước Thiên Chúa không hệ tại cách đánh giá bên ngoài hay mình có những lợi thế hơn người như tiền tài, danh vọng,... mà là hệ tại ở tình yêu thương của Thiên Chúa. Nếu để ý chúng ta sẽ thấy, trong bữa tiệc, chủ nhà có quyền sắp xếp những thực khách vị vọng ngồi chung với mình; thì bữa tiệc trong nước Thiên Chúa cũng vậy, Thiên Chúa cũng có quyền để lựa chọn, sắp đặt những ai được vinh hạnh tham dự vào bàn tiệc nước Chúa. Và, những vị trí đó luôn là những quà tặng nhưng không của Thiên Chúa chứ không phải do sự lựa chọn của con người. Những vị trí quan trọng trong nước Thiên Chúa không có chỗ cho những kẻ kiêu hãnh, thích ăn trên ngồi trước, mà là dành cho hết những ai biết sống khiêm nhường, thấp hèn.

Sau khi đã nhắc khéo thực khách về thái độ khiêm nhường cần có để có thể xứng đáng mời dự tiệc nước Thiên Chúa, Chúa Giêsu quay sang chủ nhà, đề cập đến đối tượng được mời dự tiệc: "Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối, ...". Cách nào đó, chúng ta thấy Chúa Giêsu trách khéo viên thủ lãnh Pharisêu chỉ biết mời có bạn bè, bà con láng giềng giàu có mà không biết mời những vị khách khó nghèo, tàn tật, đui mù. Mời những vị khách tàn tật, đui mù, què quặt đến dự tiệc? Thế thì còn gì là tiệc tùng nữa? Điều xem ra có lẽ phi lý, nhưng lại là điều trọng yếu đối với Thiên Chúa. Theo Chúa Giêsu, chúng ta cần mở rộng bàn tiệc cho hết những ai không có khả năng đáp lễ. Những vị khách "đặc biệt" cần được mời trong danh sách của Chúa Giêsu là những hạng người bị dân Dothái đạo đức khinh thị, bị Lề luật khai trừ khỏi sinh hoạt tế tự của Đền thờ. Thế nhưng họ lại là đối tượng đầy yêu thương của Thiên Chúa. Người yêu thương họ và sẵn sàng mời họ tham dự bàn tiệc. Từ nay những ai bước đi trong đường lối Chúa, hành xử khôn ngoan theo lối hành xử của Người đều nhận ra chân lý này: khi phục vụ, thi ân cho những người tàn tật, đui mù, nghèo khó, người mắc nợ chúng ta không phải những con người đáng thương đó mà chính là Thiên Chúa. Vâng, chính Thiên Chúa sẽ mắc nợ chúng ta, và Người sẽ trả công bội hậu cho chúng ta trong ngày sau hết như Người đã hứa. "Họ không có gì đáp lễ, và như thế, ông mới có phúc, vì ông sẽ được đáp lễ trong ngày các kẻ lành sống lại".

Giáo huấn của Chúa Giêsu xem ra có vẻ khó chấp nhận như đó lại là lối sống được đề cao trong nước Thiên Chúa. Khi chúng ta chấp nhận lối sống khiêm nhường, đặt mình dưới hết mọi người, thực thi công bình bác ái cách vô vị lợi không phải để đánh bóng chính mình, nhưng là vì đó là nơi Chúa Giêsu yêu thích, là chỗ quen thuộc của Người. Nói như thánh F. Borgia: "Tôi thực tâm đặt mình ở dưới Giuđa, bởi tôi đã thấy Chúa Giêsu ngồi dưới chân anh ấy". Ước gì lời Chúa hôm nay giúp mỗi người chúng ta biết sống khiêm nhường và nhận ra đâu là cách thế để chúng ta trở nên người có phúc trước mặt Thiên Chúa.

KHIÊM NHƯỜNG
Lc 14, 1.7-14
Lm Giuse Nguyễn Minh Chánh
1/ Trong nét nhìn của Đức Giêsu để tuyển chọn những người thuộc về Nước Chúa, chắc chắn Chúa sẽ không theo tiêu chuẩn dựa trên bình diện xã hội. Vì Chúa không đánh giá con theo địa vị, giàu có, sang trong, tài năng, nhan sắc... Vậy Chúa dựa theo tiêu chuẩn nào để đón nhận một người thuộc Vương Quốc của Ngài ? Trang Tin mừng hôm nay là câu trả lời cho những ai muốn thuộc về Chúa thì phải sống khiêm nhường.

2/ Khiêm nhường là bản chất của Chúa Giêsu. Vì Chúa đã khẳng định: Hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng (x,Mt11,29). Về điều này, Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Philípphê đã cảm nghiệm rất thấu đáo về thái độ khiêm nhường của Đức Giêsu, khi ngài đã thốt lên: "Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế"(Pl 2,6-7).

3/ Chúa là Đấng khiêm nhường, nên những ai sống kiêu căng là đi ngược với bản chất của Chúa. Vì vậy Chúa luôn dạy mọi người trong cuộc sống phải có những tâm tình như Chúa.

Lời dạy của Chúa về đức khiêm nhường đã được Chúa nói đến bằng hình ảnh bữa tiệc cưới trong trang Tin mừng hôm nay. Chúng ta nên nhớ Chúa luôn dõi mắt nhìn từng người chúng ta: Ai khiêm nhường ai kiêu căng Chúa đều biết cả. Vì trong bữa tiệc Chúa nhận thấy khách dự tiệc cứ chọn chỗ nhất mà ngồi, nên Chúa đã dạy khi dự tiệc điều tốt nhất hãy ngồi vào chỗ cuối. Vì ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên (x,Lc14,7-12).

4/ Theo tự nhiên, khi ngồi chỗ cuối trong bữa tiệc có vẻ mình cảm thấy bị rớt giá, bị hạ thấp. Từ cảm nghĩ tự nhiên này cũng cho chúng ta thấy rằng: Kiêu căng thật dễ để làm nên nó, còn khiêm nhường thật khó để cho riêng mình. Nhưng làm gì thì cuối cùng khiêm nhường vẫn là con đường để chúng ta được an vui, được nâng cao, được mọi người yêu mến cảm phục, được gia nhập vào những người thuộc về Chúa trong bữa tiệc Nước trời.

Nói như thế cũng để chúng ta thấy muốn sống khiêm nhường, đó cũng không phải là chuyện dễ dàng. Thế nhưng mọi sự cũng sẽ trở nên dễ dàng, nếu chúng ta thực hành những điều kiện để thực sự là người sống khiêm nhường như Chúa.

5/ Điều kiên để sống khiêm nhường, trước hết đòi hỏi chúng ta phải cảm nghiệm thật sự về cả cuộc đời của Đức Giêsu là Thiên Chúa làm người, và trong thân phận con người Ngài mang lấy thân nô lệ, trong thân kiếp nô lệ Ngài đã tự hạ để phục vụ, để vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá.

Trong cuộc sống chúng ta hãy lấy Đức Kitô là lẽ sống cho riêng mình, hãy theo con đường Chúa đi và hãy sống theo lời Chúa dạy. Nhờ vậy mỗi ngày chúng ta sẽ được nên hoàn thiện, được diễm phúc mặc lấy tâm tình khiêm nhường như Chúa.

Thứ đến điều kiện để sống khiêm nhường là phải biết từ bỏ cái tôi của mình. Khi quá đề cao cái tôi thì tự nhiên nó sẽ xuất hiên muôn vàn hình thức dối trá như: Tham vọng chức quyền, triệt hạ người khác, đề cao bản thân, sống ích kỷ hẹp hòi, cạnh tranh về mọi phương diện... Từ chỗ thích sống phô trương như thế, cuối cùng sẽ dẫn đến tại hại không ngờ là mối tương quan với Thiên Chúa bị đổ vỡ. Vì Chúa đã nói: "Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống"(Lc14,11). Còn mối tương quan giữa con người với nhau cũng sẽ không còn, cùng lắm chỉ còn một chút hình thức là bằng mặt chứ không bằng lòng.

6/ Chúa Giêsu rất quý trọng lòng khiêm nhường. Chúa luôn ưu tiên cho những ai chọn khiêm nhường là lẽ sống, Chúa sẵn sàng trao ban cho họ hạnh phúc viên mãn là được sống trong nhà Chúa suốt cuộc đời.

Đức Maria, trên hết Mẹ là người đã đáp lại trước tiên những điều kiện để được sống hạnh phúc bên Chúa. Cuộc sống của Mẹ đã rập theo khuôn mẫu của Đức Giêsu Con Mẹ là Đấng hiền lành và khiêm nhường trong lòng. Hơn nữa trước ý định của Thiên Chúa, Mẹ đã tự nguyện xoá mờ đi cái tôi của mình để sẵng sàng vâng phục ý Chúa cách tuyệt đối trong những lúc túng quẫn nhất, cay đắng nhất, đau khổ nhất. Vì Mẹ đã chọn sống khiêm nhường để trở nên giống Chúa, để hoàn toàn được thuộc về Chúa. Vì vậy Mẹ đã hiểu rất rõ cách Thiên Chúa sẽ đối sử với những người quyền thế, những người khiêm tốn như thế nào, khi Mẹ nói: " Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường" ( Lc1,52).

Chúng ta khiêm tốn xin Mẹ giúp chúng ta luôn can đảm sống như Mẹ. Nhờ đó mỗi ngày hình ảnh của Đức Giêsu là Đấng hiền lành và khiêm nhường sẽ sáng tỏ trong cuộc sống chúng ta. Và đó cũng là tiêu chuẩn để chúng ta được đón nhận vào Vương Quốc của Chúa mai sau. Amen

HÃY SỐNG KHIÊM TỐN TRUNG THỰC
Lc 14, 1.7-14
Lm. Jude Siciliano, OP.
Bất cứ người Việt Nam nào cũng thuộc lòng câu ca dao: "Bực mình mang lửa đốt trời, ai hay lửa cháy lửa rơi xuống đầu". Nhưng ít ai hiểu ra ý nghĩa của nó, bết bát hơn nữa là học được bài học người sáng tác ra nó muốn nhắn gửi thiên hạ. Bài học đó là ăn ở khiêm nhường chứ đừng kiêu ngạo, hành xử bằng thái độ tự cao tự đại. Tuy nhiên, ngày nay khi nói chuyện cùng bất cứ người chưa quen biết nào, nhất là thanh niên, chúng ta thường cảm nghiệm có một "khối" kiêu căng trước mặt. Họ nổ lung tung về mọi vấn đề, xem chừng như họ biết hết, kinh nghiệm hết ngóc ngách của cuộc đời. Sau khi họ đi khỏi, chúng ta có ấn tượng họ là "ông biết hết", "cô biết hết", "bà biết hết". Sự đời chung chung là như vậy, trái ngược với lời dạy bảo của Đức Kitô trong phúc âm hôm nay: "Hãy chọn chỗ rốt hết".

Phải chăng Đức Giêsu khuyên bảo người ta khiêm tốn giả đò? Để rồi được chủ nhà đến và mời lên chỗ cao hơn? Và nếu xét theo hoàn cảnh xã hội của Ngài, thì lời khuyên còn lạc lõng hơn nữa. Trước mắt các lãnh đạo xã hội, tôn giáo lúc ấy, Đức Giêsu chẳng được ai tôn trọng, trái lại bị họ coi là tay bợm nhậu, tội lỗi, lê la với hạng bẩn thịu, như chúng ta ngày nay coi hạng đĩ điếm, xì ke, đầu trộm đuôi cướp chẳng có tư cách nào mà dạy bảo người khác khiêm nhường thật sự.

Hãy xem lời Ngài khuyên bảo chủ nhà: "Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối, thì đừng mời bạn bè, anh em họ hàng hay và con hoặc láng giềng giàu có, kẻo họ cũng mời lại ông, và như thế ông được đáp lễ rồi. Trái lại, khi ông đặt tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù". Như vậy thì còn đâu là địa vị xã hội? Mục tiêu của đãi tiệc là chi, nếu không phải là tiếng khen, thân hữu? Lời khuyên của Chúa cho vị chủ nhà Pharisêu trọng vọng quả là lạc lõng giữa hoàn cảnh ấy. Ngài chẳng phải là nhà mô phạm xã hội,, hoặc tư vấn lỗi lạc, kiểu người ta tư vấn hàng ngày trên báo chí, đài phát thanh, truyền hình, internet.

Nhưng xin nhớ Ngài luôn huấn luyện cho các môn đệ về lòng khiêm tốn chân thật, gạt bỏ ham hố danh vọng thế gian. Ngài làm gương sáng bằng lời nói việc làm và cái chết nhục nhã trên thập tự, chúng ta ngộ ra lời Ngài hôm nay quả là chí lý. Ông chủ mời Chúa Giêsu hôm nay là một thủ lãnh nhóm Pharisêu và bữa tiệc là quan trọng. Bữa tiệc của ngày Sabát mừng dân Do Thái thoát ách nô lệ Ai Cập và bất cứ sự nô lệ nào: "Một ngày Sabát kia, Đức Giêsu đến nhà một thủ lãnh nhóm Pharisêu để dùng bữa". Dĩ nhiêm trong bữa tiệc này, mỗi người được sắp xếp theo đúng nghi lễ, đồ ăn, thức uống, khách được mời, vị trí và phong cách khách mời. Mọi thứ đều theo tập tục cách hoàn hảo, không để điều chi thiếu sót. Luca thêm một câu làm cho độc giả suy nghĩ về Chúa Giêsu: "Họ cố dò xét Người". Chẳng hoá ra Chúa đã bị mang tiếng là tay "phá cách", "ngang ngược"!

Trong bữa tiệc Đông phương làm chi có bảng hiệu tên cho mỗi thực khách, cũng chẳng có bàn nào đề chữ "reserved" (dành riêng). Ai nấy cứ theo địa vị xã hội mà ngồi vào vị trí của mình. Dĩ nhiên là có sự lộn xộn và họ dò xét thái độ của Chúa Giêsu xem Ngài hành xử như vậy không? Tức có khiêm tốn đúng với vị trí của mình, hoặc tự thổi phồng ngồi vào chỗ danh dự? Đối với họ, Ngài chỉ là tay gàn, rao giảng lang thang như các phù thuỷ thời ấy. Biết rõ bụng họ, nên Ngài đưa ra bài học luân lý, chứ không phải dạy bảo người ta giả hình. Trước hết cho những khách dự tiệc: "Khi anh được mời đi ăn tiệc cưới, thì đừng ngồi vào cỗ nhất". Cỗ nhất là cỗ danh dự, dành cho những người cao trọng. Ngồi chỗ đó là tự nhận mình có địa vị trong xã hội, tôn giáo. Thực tế chỉ có số rất ít có vị trí đó, đa phần thì không. Khiêm nhường là vào đúng chỗ của mình. Điều này chúng ta cũng thường hay mắc phải, tự nhận mình cao hơn giá trị thực. Hay nói cách tượng hình: phình to ra như con nhái trong câu truyện "bò và nhái con" của Esop. Thứ hai, lời khuyên cho chủ nhà: không nên đãi tiệc để được lợi lộc, tiếng khen và hệ quả sau đó. Nhiều khi chúng ta đãi tiệc để nhắm lợi lộc: thí dụ để được thăng quan tiến chức, hay kiếm chác vật chất: trúng thầu, trúng hợp đồng, viện trợ không hoàn lại, ...

Chuyện kể rằng có một ông nhà giàu kia tên là Oliver. Ông là người tốt bụng, rộng rãi và thường xuyên làm việc bố thí và phân phát rất hào phóng. Ông già rồi chết đi, dân làng ai cũng khen ông nhân đức, sẽ bay lên thiên đàng thẳng băng. Đúng là ông lên thiên đàng, nhưng khi tới nơi, cửa lại đóng. Ông gõ cửa và thánh Phêrô xuất hiện. Ông xưng danh tánh và chờ đợi thánh Phêrô cho vào. Nhưng thánh nhân cản lại, chỉ vào hai đống vàng vụn, đủ mọi kích cỡ. Một đống lớn và một đống nhỏ, lấp lánh sáng ngời. Thánh nhân nói: hai đống vàng đó là công nghiệp của ông khi còn ở trần gian. Nhưng chúng phải được gạn lọc, viên nào xứng đáng tinh ròng, viên nào còn vương mùi ich kỷ, tư lợi, kiêu ngạo, tiếng tăm hão.

Rồi thánh nhân đưa ra một cái ràng, mắt ràng có thể điều chỉnh. Thánh Phêrô bắt đầu lọc vàng, từ đống nhỏ trước. Oliver ngạc nhiên hỏi: "Tại sao Ngài không bắt đầu từ đống lớn?". Thánh nhân trả lời "không cần, vì đống to là những tặng phẩm Oliver ban cho bạn bè, thân thích bà con. Cái đó không có giá trị chi cả". Bỗng dưng một cơn gió đến thổi tung bay tất cả, và chúng biến mất. Oliver xanh mặt thất vọng. Thánh Phêrô sàng đống nhỏ, mẻ sàng còn lại các hột vàng to, thành nhân gom lại và hắt sang một bên, chúng phút chốc thành tro bụi và biến mất. Oliver kinh ngạc hỏi tại sao vậy? Thánh nhân trả lời: "nó còn vương bụi bặm khoe khoang". Mẻ sàng thứ hai với mắt lưới được điều chỉnh nhỏ hơn. Và thành Phêrô cũng hắt sang một nên những hạt to còn lại trên sàng, chúng cũng đều biến ra tro bụi và bay đi. Oliver thắc mắc tại sao thế? Thánh Phêrô trả lời: "còn vướng mắc lòng tự mãn, coi mình rộng rãi hơn thiên hạ". Mẻ sàng thứ ba với mắt lưới nhỏ hơn nữa khiến những hạt vàng còn to không lọt xuống được. Thánh Phêrô lại hắt ra ngoài và chúng cũng biến đi nhanh chóng. Thánh nhân giải thích: "còn vương ẩn ý đền bù, làm êm dịu lương tâm". Mẻ thứ tư và mẻ thứ năm thì chẳng còn gì để mà sàng. Oliver thất vọng, than khóc vì lấy chi mà vào nước Trời? Cả đời coi như toi công.

Tuy nhiên thánh Phêrô an ủi: "Hãy còn tin vui". Oliver sáng mắt hy vọng: "Thưa Ngài tin vui gì?". Thánh nhân trả lời: "Bây giờ anh nghèo quá, vì chẳng còn lại gì. Nhưng đó là giấy thông cho anh được vào chầu Chúa".

Câu truyện không phải là để khuyên chúng ta ươn hèn lười biếng, nhưng cho thấy những việc bác ái không phải để lãnh công Nước Trời, mà là huấn luyện chúng ta nên tốt, nên thánh thiện. Thiên Chúa giàu có vô biên, cần gì "công lênh" của phàm nhân? Một là chúng ta thương yêu nhau vô vị lợi, không dính bén, vị kỷ, tiếng tắm, hay vì một mối liên hệ xác thịt mào đó. Thiên Đàng của mọi người thì Chúa Giêsu đả lập công rồi, bằng giá máu châu báu của Người, phần thưởng thì đã có sẵn. Chỉ cần chúng ta ăn ở tốt lành để chiếm lấy. Vì vậy Đức Giêsu có lý khi Người khuyên ông chủ nhà, đừng mời khách sang trọng, nhưng là những người đui mù, què quặt, lang thang khắp đó đây. Họ chẳng có chi để trả, lúc ấy việc đãi tiệc mới không hề vướng mùi vị kỷ. Kiêu ngạo hết khả năng len lỏi vào các công việc như thế. Các thầy Rabbi Do Thái nói: bố thí đúng nghĩa nhất, là khi người ta không biết mình cho ai, và người nhận cũng không biết tặng phẩm từ đâu đến. Au cũng là thái độ của chúnng ta ngày nay. Xin Chúa cho chúng ta lòng khiêm tốn đích thực.

Nói cho đúng, Thiên Đàng không phải là hàng hoá để người ta mua bán. Ngay cả mọi công nghiệp của thế gian này góp lại cũng không thể "tậu" nổi Nước Trời. Thiên Chúa không như chúng ta. Người là Đấng ban phát nhưng không vĩ đại nhất. Tại sao chúng ta lại cậy lập công để chiếm được Thiên Đàng? Thật vô lý, mà có vì công nghiệp đi nữa, thì có bao nhiêu vượt qua được thử thách thanh lọc của Thánh Phêrô? Chẳng có chi cả, vì việc làm của chúng ta luôn nhuốm mùi vị kỷ, tiếng khen, lời cảm ơn. Chẳng bao giờ chúng ta vô vị lợi hy sinh cho người khác, ngược lại thu vén cho mình trên lưng trên cổ thiên hạ. Chuyện này quá rõ trong sinh hoạt hằng ngày. Duy một mình Đức Kitô dám hy sinh mạng sống vì kẻ khác một cách hoàn toàn bất vụ lợi. Ngài trộn lẫn công nghiệp của mình với nhân loại, và ban cho những ai tay trắng, mà chẳng đòi hỏi họ điều chi, ngoài việc họ phải tuân hành thánh ý Thiên Chúa, để cha Người được vinh quang trên trái đất này. Nếu cần tìm một con chiên bị thất lạc, Người sẵn lòng bỏ lại chín mươi chín con khác và chịu cực nhọc để tìm con chiên lạc. Người chỉ lo đến đàn chiên, không hề lo cho thân mình. Xin đọc kỹ Phúc âm để nghiệm ra chân lý này.

Nên chúng ta phải dùng hết mọi tài năng, thời giờ, tiền bạc phục vụ các linh hồn. Thi hành bác ái, bố thí tiền bạc, của cải không phải là xa xỉ hay nhiệm ý của người Kitô giáo. Nó là bổn phận không cần bàn cãi. Người tín hữu chân thật là người yêu tha nhân hết tình, coi họ như anh chị em mình, mà không mong được đền đáp. Chúng ta thi hành bổn phận chia sẻ cuộc sống với tha nhân, không phải là được nổi tiếng hay lợi lộc, nhưng chỉ vì phải đứng dậy để kẻ khác cùng trỗi dậy với chúng ta trong đời sống mới mà Đức Kitô đã mang xuống trần gian.

Tôi chắc rằng Đức Giêsu không khuyên chúng ta đừng mời mọc thân nhân đến nhà mình dùng bữa, nhất là trong những ngày lễ đặc biệt. Đó không phải là điều Ngài ám chỉ trong Phúc âm hôm nay khi khuyên ông Pharisêu. Người chỉ muôn nhấn mạnh về lòng khiêm tốn khi làm việc bác ái. Ngoài ra, nếu chúng ta làm đúng như Chúa chỉ dẫn, chúng ta được nhiều cái lợi. Thí dụ có những bạn bè mới, tương quan mới, nhất là tìm thấy Chúa Giêsu trong những người nghèo khổ, vì Người thường đồng hoá mình với họ. Người nghèo cần giúp đỡ, nhất là cần nhân phẩm, điều mà xã hội giàu có không muốn cho họ.

Vậy Đức Giêsu không thay đổi quan điểm, ngược lại, nhất quán triệt để ngay cả trước mặt Pharisêu. Ngài không xúi ngầm chúng ta dùng mánh lới để leo lên bậc thang xã hội. Giả vờ ngồi chỗ rốt hết để được cất nhắc lên cao. Ngài chỉ muốn chúng ta có lòng khiêm nhường đích thực, không hậu ý để được khen hay lời cảm ơn. Đồng thời vươn tới những người nghèo khổ, chia sẻ nhân phẩm, của cải vật chất với họ. Có những tương giao mới hợp với thánh ý Thiên Chúa.

Thánh lễ hôm nay cũng là một bữa tiệc. Chúng ta đối xử với nhau ra sao? Tuy rằng cùng một gia đình Thánh Thể, nhưng trong giáo xứ, hội đoàn, tu viện có rất nhiều những khác biệt, cấp bậc. Liệu chúng ta có ở đúng vị trí, hay đòi "cầm nọc" thiên hạ, cố vấn lung tung, bắt kẻ khác phục tùng ý kiến của mình, ngoi lên địa vị độc tôn rồi chia bè kéo đảng? Bài đọc một và hai cũng cho những lời khuyên thấm thía: "Con ơi hãy hoàn thành việc của con cách nhũn nhặn, thì con sẽ được mến yêu hơn người hào phóng. Càng làm lớn con càng phải tự hạ, như thế con sẽ được đep lòng Thiên Chúa". "Anh em đã tới núi Sion, tới thành đô Thiên Chúa là Giêrusalen trên trời với con số muôn vàn thiên sứ. Anh em đã tới dự hội vui, đại hội giữa các con đầu lòng của Thiên Chúa". Như vậy thái độ hống hách trịch thượng là không hợp lý. Chúng ta khiêm tốn phục vụ nhau và chú tâm vào Lời Chúa còn rất mới mẻ hôm nay. Mặc dầu thế giới còn rất nhiều khác biệt. Nhưng trước Thánh Thể, chúng ta chỉ là một gia đình, chúng ta có quan hệ với nhau trong Thần Khí Đức Kitô. Cho nên không có lý do để giữ thái độ kiêu căng, kẻ cả. Trái lại hãy nghe lời Chúa mà sống khiêm nhường vô vị lợi. Amen.

GIẢNG VỀ NHÂN ĐỨC KHIÊM NHƯỢNG
Lc 14, 1.7-14
LM Emmanuen Nguyễn Vinh Gioang

 "Vì hễ ai nhắc mình lên, sẽ phải hạ xuống, và ai hạ mình xuống, sẽ được nhắc lên (Lc.14,11)
Sự quan trọng của nhân đức khiêm nhượng

Kiêu ngạo là vua của các tính xấu, là đầu của mọi tội lỗi.

Vì kiêu ngạo, một số đông thiên thần bị Chúa đuổi ra khỏi thiên đàng, trở thành ma quỷ khốn nạn trong hỏa ngục. Vì kiêu ngạo, hai tổ tông loài người là ông Adong và bà Evà bị Chúa đuổi ra khỏi vườn địa đàng, không những làm cho mình bất hạnh, mà còn làm cho con cháu mình sau nầy cũng mất hạnh phúc. Vì kiêu ngạo, tháp Babel bị sụp đổ, tên khổng lồ Goliát bị giết chết. Vì kiêu ngạo, nhiều người biệt phái, luật sĩ, tư tế Do Thái ngày xưa bị Chúa Giêsu loại ra khỏi nước Trời.

Trái lại, nhân đức khiêm nhượng là vua của các tính tốt, là vị chỉ huy của các nhân đức. Không có tính tốt nào mà không đặt nền móng trên nhân đức khiêm nhượng, không có nhân đức nào mà không đặt cơ sở trên nhân đức khiêm nhượng.

Chúa không thể nào yêu ta được nếu ta không khiêm nhượng. Kẻ nào kiêu ngạo, Chúa hạ xuống thấp; kẻ nào khiêm nhượng, Chúa nâng cao lên.

Chúa không thể nào tha tội cho ta được nếu ta không khiêm nhượng. Chúa tha mọi tội cho ông Giakêu, cho bà Mađalêna, cho người trộm lành vì họ có lòng khiêm nhượng. Còn ai kiêu ngạo, Chúa không ban ơn tha thứ cho họ.

Chúa loại ta ra khỏi nước Trời nếu ta không khiêm nhượng. Chúa phán rõ: "Nếu các con không trở nên bé nhỏ như các trẻ thơ, các con không được vào nước Trời đâu".

Chúa Giêsu rất khiêm nhượng

Chúa Giêsu nhấn mạnh về đức khiêm nhượng. Ai hạ mình xuống, mới được nâng lên. Ai là sau hết, mới trở nên trước hết. Khi đi dự tiệc, hãy chọn chỗ dưới. Người nào làm lớn, hãy lo phục vụ những người ở dưới họ. Khi làm xong việc gì cho Chúa, phải tự nói rằng: "Tôi chỉ làm việc tôi phải làm, tôi chỉ là đầy tớ vô dụng". Khi bố thí, khi làm việc lành, đừng để tay trái biết việc tay mặt làm. Khi cầu nguyện, đừng cầu to tiếng giữa chợ búa cho người ta thấy mà khen, nhưng cầu nơi kín đáo cho Chúa thấy mà thôi. Phải khiêm nhượng như trẻ nhỏ mới được vào thiên đàng.

Không những nhấn mạnh về sự quan trọng của đức khiêm nhượng, Chúa Giêsu còn treo cao gương khiêm nhượng trước mặt mọi người. Chúa Giêsu khiêm nhượng trong đời sống thế trần: sinh khiêm nhượng (chọn một bà mẹ nghèo, sinh ra nơi miền xa, không có nhà trú, không có chỗ trọ, nên phải chào đời trong một hang lừa hôi hám, nằm lạnh lẽo trong máng cỏ rơm của bò lừa, giữa đêm khuya đầy sương tuyết, không có chăn mền ấm áp); sống khiêm nhượng (sống tại Nazarét là nơi dân nghèo; làm nghề thợ mộc vừa đủ nuôi gia đình; ra đi giảng đạo với hai bàn tay trắng; chọn những môn đệ trong hạng người nghèo hèn, thất học, không có địa vị gì trong xã hội; sống lang thang không có chỗ trú ngụ nhất định, nhiều lúc thầy trò phải nhịn đói cho qua ngày đêm); chết khiêm nhượng (bị bắt như một tên tội phạm nặng nề; bị đánh đập sĩ vả ê chề, bị lên án xử tử công khai, bị lột hết áo quần ra và bị đóng đinh chết đứng trên hai miếng gỗ, bị treo lên giữa trời và đất cho mọi người chế nhạo; phải mượn mồ của kẻ khác để tạm chôn một cách vội vàng).

Và hiện giờ cho đến tận thế, trong phép Thánh Thể, Chúa Giêsu sống khiêm nhượng một cách lạ lùng trong các Nhà Tạm trên khắp hoàn cầu: sống triền miên thinh lặng, hoàn toàn giấu ẩn tính cao sang huy hoàng của Con Thiên Chúa, chịu đựng mọi sĩ nhục lăng mạ của loài người tội lỗi, chịu đựng những sự thờ ơ của ngay những người tin Ngài, luôn chờ đợi, không ép buộc ai, chỉ biết mời mọc: "Hãy đến với Ta, Ta bổ sức lại cho".

Nhân đức khiêm nhượng là một nhân đức trong suy nghĩ, trong tâm tình và trong hành động.

Nhân đức khiêm nhượng là một nhân đức trong suy nghĩ. Tôi suy nghĩ về mình.

Trong quá khứ, tôi đã thế nào? Tôi đã là không không, tôi không đáng là gì, tôi mới có đây thôi. Nếu Chúa đã không thương cho tôi chào đời, thì tôi sẽ đời đời không bao giờ có mặt trên đời nầy đâu. Hiện tại, tôi đang thế nào?

Hiện tại, tôi chỉ là kẻ tội lỗi vì tôi phải luôn luôn đấm ngực mình mà nói: "lỗi tại tôi mọi đàng". Hiện tại, tôi phải luôn đọc lời cầu nguyện của kinh Kính Mừng: "Cầu cho con là kẻ có tội khi nầy và trong giờ lâm tử". Hiện tại, tôi không có gì vì cái gì tôi đang có là do Chúa cho tôi mượn, do Chúa ban cho tôi. Hiện tại, tôi không đáng gì, vì chỉ cần một làn gió nhẹ thổi vào sau lưng tôi, chỉ cần một mạch máu nhỏ bị đứt trong quả tim tôi, chỉ cần một vỏ dưa làm trượt chân tôi, cũng đủ làm cho tôi chết ngay tại chỗ, bỏ vợ, bỏ con, bỏ hết của cải gia tài sự nghiệp.

Trong tương lai, tôi sẽ thế nào? Hãy nhìn một nấm mồ là nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của tôi sau khi thân xác tôi chết: bụi đất, thúi tha, giòi bọ, xương cốt héo khô. Còn về số phận của linh hồn tôi sau khi chết, tôi hãy nhìn xuống hỏa ngục hơn là nhìn lên thiên đàng, vì tôi đâu chắc chắn được mình sẽ chết lành, bởi lẽ chỉ cần một nháy mắt mà tôi chết thình lình, không kịp ăn năn tội vì Chúa, thì đủ để mất linh hồn đời đời.

Nhân đức khiêm nhượng là một nhân đức trong tâm tình. Tôi phải xác tín và thành thật nhìn nhận mình là kẻ yếu đuối, kẻ tội lỗi, chứ không phải chỉ nói ra những lời bên ngoài mà thôi. Tôi phải có lòng khiêm nhượng thật như lời Chúa nhấn mạnh: "khiêm nhượng thật trong lòng", chứ không phải giả bộ khúm núm, khép nép bề ngoài. Tôi phải thật tâm muốn cho kẻ khác biết tôi là kẻ hèn hạ, đáng khinh, đáng chê, đáng bị bỏ rơi, là kẻ có lỗi, là kẻ có tội. Tôi phải thành thật khinh chê mọi sự ở đời nầy vì Chúa. Tôi thật tình thích làm những công việc khiêm hèn, những công việc không ai để ý tới. Tôi vui mừng thật trong lòng khi thấy ai được việc, được thành công, hơn tôi về mặt nầy mặt khác. Tôi luôn vui vẻ bằng an trong tâm hồn khi tôi làm được việc cũng như khi tôi làm hỏng việc, khi tôi được lợi cũng như khi tôi bị thất lợi, khi tôi được khen cũng như khi tôi bị chê, khi tôi được thông cảm khuyến khích cũng như khi tôi bị chỉ trích chê bai.

Nhân đức khiêm nhượng còn là một nhân đức trong thái độ. Tôi ăn nói dịu dàng. Cử chỉ điệu bộ của tôi nết na. Tôi không chữa lỗi, tôi không đổ lỗi, tôi không khoe khoang, tôi không khinh dễ kẻ khác, tôi không lên án ai, tôi không xa lánh ai, tôi không xử tệ với người nào. Tôi ý tứ trong khi cười, trong khi ăn, khi uống. Tôi vâng lời một cách nhanh chóng, vui vẻ và hoàn toàn. Tôi nhịn nhục, tha thứ kẻ khác. Tôi nói lời cám ơn kẻ chỉ trích tôi, kẻ lên án tôi. Tôi nói lời xin lỗi kẻ hiểu lầm tôi. Tôi không bao giờ nhắc lại những gì người ta đã làm cho tôi một cách bất công hoặc có ý xấu. Tôi luôn mĩm cười với mọi người.

Ích lợi của đời sống khiêm nhượng.

Người nào khiêm nhượng thì được Chúa luôn ở gần bên: "Ta ngự trên trời cao nhưng ta vẫn ở gần bên kẻ nào hối cải và khiêm tốn"; được Chúa ban ơn: "Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo và ban ơn cho kẻ khiêm nhượng"; được Chúa cứu giúp: "Thiên Chúa hạ kẻ kiêu căng nhưng cứu giúp người khiêm nhượng"; được Chúa nâng lên cao: "Ai tâng mình lên sẽ bị hạ xuống, ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên"; được Chúa tha tội: "Người thu thuế đứng ở xa, không dám ngữa mặt lên trời, lại còn đấm ngực nói: "Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ có tội". Ta bảo thật các ngươi: "Người nầy khi trở về nhà, sẽ được nên công chính"; được Chúa cho thoát cơn hoạn nạn: "Khi Ta khép các cửa trời mà không có mưa, khi Ta ra lệnh cho cào cào châu chấu phá hoại xứ sở, hoặc khi Ta cho ôn dịch hành hạ dân Ta, nếu dân Ta biết hạ mình xuống lấy Danh Ta mà cầu khẩn..., thì từ trời cao, Ta sẽ nghe lời họ và Ta sẽ cho xứ sở họ thoát cơn hoạn nạn"; được Chúa dẫn dắt và dạy dỗ: "Chúa dẫn dắt người khiêm nhượng theo đường công chính. Chúa dạy dỗ người khiêm tốn biết đường lối Ngài"; được Chúa nhậm lời cầu nguyện: "Chúa thương nhậm lời kêu cầu của người khiêm nhượng. Chúa nâng đỡ tâm hồn họ, Chúa lắng tai nghe họ".

Người kiêu ngạo dễ bị trượt, dễ bị bổ, dễ bị té, dễ bị nhào vì họ trèo lên cao, vì họ đứng trên cao.

Người khiêm nhượng không bao giờ bị trượt, bị bổ, bị té, bị nhào vì họ luôn ngồi dưới đất, luôn nằm sát đất, luôn đứng chỗ thấp. Nếu người khiêm nhượng có trèo lên cao, có đứng trên cao, thì họ cũng không bị trượt, không bị bổ, không bị té, không bị nhào vì họ bám chặt vào Chúa là Đấng không bao giờ nghiêng ngã, vì họ được bàn tay vô cùng chắc chắn của Chúa nâng đỡ.

Hạnh phúc thay người sống đời khiêm nhượng. Họ nhìn Thánh Giá. Họ cầm Thánh Giá. Họ ôm Thánh Giá. Họ hôn Thánh Giá. Họ mang Thánh Giá. Thánh Giá dạy họ sống đời khiêm nhượng thật của Chúa Giêsu: vui lòng chịu mọi sự sĩ nhục; im lặng không nói lời gì lên án ai; tha thứ cho kẻ làm hại mình; cầu nguyện cho kẻ làm mất lòng mình; cầu nguyện cho mình và cho mọi người được vào nước thiên đàng như người trộm lành xưa; hoàn toàn phó thác cho thánh ý Chúa sắp đặt mọi sự; chu toàn mọi việc bổn phận lớn nhỏ của mình cho đến hơi thở cuối cùng; vui lòng dâng lên cho Chúa mọi nỗi đau khổ phần xác phần hồn.

Lạy Mẹ Maria, mặc dầu Mẹ là Mẹ Thiên Chúa cao sang, nhưng Mẹ vẫn luôn luôn xưng mình là tôi tá của Chúa, luôn luôn sống như người nữ tỳ của Chúa, xin Mẹ luôn dạy con sống đời khiêm nhượng theo gương Chúa Giêsu Con Mẹ: "Hãy học cùng ta vì Ta khiêm nhượng thật trong lòng".

NGỒI VÀO CHỖ CUỐI
Lc 14, 1.7-14
Cao Huy Hoàng

Thánh Luca mở đầu câu chuyện Tin Mừng hôm nay với chi tiết thời gian và không gian "một ngày Sa-bat nọ", tại "bữa tiệc" của một thủ lãnh nhóm Pharisiêu. Chúa Giêsu được mời tham dự "bữa tiệc trần gian", của những "con người trần gian" nầy. Bữa tiệc ấy đã phát họa trọn vẹn cái cung cách trần gian của những con người phàm tục- hoặc chưa hiểu gì về con người mới, con người có văn hóa Thiên Chúa, hoặc không tiếp nhận ánh sáng mới của Tin Mừng để thay đổi. Họ vẫn còn cũ rích trong cách suy nghĩ, cách sống... Tất cả cho cái tôi, cái riêng tiềm ẩn trong chính họ, như là một căn bệnh di truyền do tội lỗi của nguyên tổ để lại. Cái tôi khiến người ta tranh giành tư thế độc tôn, tranh giành cho mình mọi sự nhất: được suy tôn nhất, được đề cao được chú ý nhất...

Đức Giêsu đã dùng chính những diễn biến trong bữa tiệc trần gian ấy để rao giảng bài học quí giá cho con người về bữa tiệc trong Nước Thiên Chúa. Những người văn hóa cũ rích và đáng bị lên án kia, cũng đang là chính mỗi chúng ta, những con người của thế kỷ 21, được mang danh là những con người của thời văn minh hiện đại. Ngài đã lên án điều gì, và Ngài đã dạy gì?

Không dành cho người kiêu ngạo
Ngài lên án thói kiêu ngạo: " Ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống".

Quả thật, không phải vô duyên vô cớ mà mối tội đầu Kiêu Ngạo được đưa lên đầu danh sách bảy mối tội, vì theo các nhà tu đức, thì thần dữ kiêu ngạo luôn có những chiêu thức cực kỳ hiểm độc, và có tài điều binh khiển tướng làm cho sáu thần dữ của sáu mối tội kia có sức mạnh đánh đâu thắng đó. Khi đã để cho thần dữ kiêu ngạo hoạt động trong lòng, thì việc hà tiện, dâm dục, hờn giận, mê ăn uống, ghen ghét, làm biếng là điều quá dễ dàng. Một trong những chiêu thức tài tình nhất của thần dữ kiêu ngạo là tặng cho con người ta sự tự ngộ nhận mình là đạo đức, là thánh thiện, là khiêm nhượng, là từ thiện, là bác ái hơn người, và luôn luôn hơn người, một cách chủ quan. Nhưng thật ra, tất cả những điều ấy đều là sự giả dối, sự tự đánh lừa mình từ trong tận gốc rễ. Cách suy nghĩ ấy, cách sống ấy, của những người Pharisiêu xưa, đã bị Đức Giêsu vạch mặt thần dữ kiêu ngạo trong họ và lên án nghiêm trọng.

Cả chúng ta nữa, lời rao giảng của Đức Giêsu đã hơn hai ngàn năm vẫn chưa thẩm thấu và thay đổi được cái căn tính tồi tệ ấy trong mỗi con người hôm nay. Chiêu thức "cám dỗ làm điều tốt" vẫn luôn luôn được rao bán hoặc biếu không, khuyến mãi khắp nơi trên thế giới và trong cõi lòng thâm sâu của ta. Cái vỏ bọc đạo đức bề ngoài cho thấy, không phải chúng ta không biết thế nào là đạo đức, nhưng chúng ta lại chấp nhận theo cách đạo đức được hướng dẫn bởi thần dữ kiêu ngạo, không phải bởi Thần Khí của Thiên Chúa. Tự nhận cho mình trách nhiệm xây dựng Giáo hội theo kiểu của mình là phải chỉ trích, lên án, rêu rao, phản đối... mà chưa kịp suy niệm cho ra những ý định tuyệt vời của Thiên Chúa; tự nhận cho mình một công tác mang tầm vóc tổ chức của Giáo Hội để thành lập uỷ ban nầy, tập thể kia mà không được ủy thác; tự tôn phong cho mình một vai trò quan trọng trong giáo hội ngang tầm với ý định riêng tư của cõi lòng mình....... hoặc cụ thể hơn, tôi phải làm cái gì đó, to hơn, lớn hơn người đi trước tôi hoặc hơn những nơi khác; tôi phải làm ông kia bà nọ trong giáo xứ vì mấy người nầy làm chẳng ra chi; phải có tôi, phải có đóng góp của tôi thì việc mới thành công được.... Tất cả, tất cả những suy nghĩ ấy đều có thể bị đánh lừa bởi sự giả dối của thần-dữ-kiêu-ngạo-thật-trong-lòng đang chỉ đạo.

Không hẳn chỉ người có quyền, có tiền, có tài mà sinh ra lòng kiêu ngạo. Thực ra, đôi khi họ chưa kịp kiêu ngạo thì kẻ yếu thế, người nghèo khổ, người kém cỏi đã kiêu ngạo trước họ rồi- kiêu ngạo với lòng bất mãn, ganh tỵ, chống đối, chê bai, chỉ trích. Thần dữ kiêu ngạo không trừ ai, không miễn trừ thành phần nào và cũng không hà tiện một thủ đoạn nào, miễn là nó đạt được mục đích tối hậu là làm cho con người không được tham gia vào bữa tiệc Nước Thiên Chúa.

Chúa Giêsu hôm nay cũng đang cảnh cáo mỗi chúng ta-những con người thích ngồi chỗ nhất, mâm cỗ nhất, thích được đánh bóng, thích được ngụy tạo một chổ đứng một vị trí, thích cho danh mình được cả sáng...-và cho chúng ta cơ hội đặt mình trước mặt Ngài để nhờ ánh sáng Lời Ngài chiếu dọi vào tận cõi lòng mà tìm ra cho được sào huyệt thường trú của thần dữ kiêu ngạo tinh quái.

Nhưng dành cho những ai có lòng khiêm nhượng

"Thứ nhất khiêm nhượng chớ kiêu ngạo" -nhân đức ưu tiên được đề cập đến trong "cải tội bảy mối", là lời dạy thiết thực của Chúa Giêsu trên trang Tin Mừng hôm nay dành cho những ai muốn bảo đảm một vé mời dự tiệc Nước Thiên Chúa.

"Khi anh được mời, thì hãy vào ngồi chỗ cuối..." Chúng ta đã được "mời vào dự tiệc" Nước Thiên Chúa qua các Bí tích, từ việc tháp nhập vào thân thể Chúa Kitô, được gọi Thiên Chúa là Cha, được nhận lấy Thần Khí sự sống, được sống bằng chính Mình Máu Thánh Chúa Giêsu trong tiệc Thánh Thể..., nhưng còn việc "vào ngồi chỗ cuối" thì chắc hẳn phải xem lại.

Chổ cuối Chúa dạy chúng ta vào ngồi là chỗ của Đức Giêsu, chỗ chấp nhận thân phận làm người, và chấp nhận dưới mức tận cùng của kiếp người với lòng khiêm hạ tối đa vì lòng yêu mến và tuân phục Cha, để mọi người được cứu rỗi. Chỗ cuối, chỗ của yêu thương và phục vụ tận tình. Chỗ cuối, chỗ của lòng tin tuyệt đối, lòng cậy vững vàng-tín thác hoàn toàn, và chỗ của lòng mến không vụ lợi. Chỗ cuối, chỗ nên giống Chúa Giêsu hoàn toàn trong cách suy nghĩ, cách nói, và cách cư xử: kiên quyết loại trừ thần dữ kiêu căng trong lòng trí con người,và mặc lấy tâm tình đơn sơ nhỏ bé phó thác để hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa và cho vinh danh Thiên Chúa.

Lòng khiêm nhượng của Đức Giêsu là từ bỏ chính mình, chính cái rất riêng của mình, lắng nghe và thấu hiểu ý của Cha. Vì vậy, chỗ của Chúa Giêsu, là chỗ khiêm nhượng chân thành nhưng khôn ngoan nhờ việc luôn kết hợp mật Thiết với Thiên Chúa Cha và làm theo ý của Cha qua sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.

Lời dạy dành cho người mời tiệc "hãy mời những người nghèo khó..." mặc khải cho chúng ta biết ý định của Thiên Chúa Cha về tiêu chuẩn khách được mời vào trong tiệc Nước Thiên Chúa: khiêm nhượng.

Bữa tiệc của Nước Thiên Chúa không dành cho những người kiêu ngạo, nhưng dành cho những người có lòng khiêm nhượng, người chọn vào ngồi chỗ của Đức Giêsu, chỗ rốt cùng vì quảng đại đến cùng cho công cuộc cứu rỗi.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho con biết chỗ của Chúa và vào ngồi chỗ của Chúa trong cuộc đời, trong Giáo Hội và trong Nước Chúa.

KHIÊM NHƯỜNG PHỤC VỤ
Lc 14, 1.7-14
Lm Jos Tạ Duy Tuyền

Là người được sinh ra và lớn lên trong cùng một quê hương, ai cũng mong cho quê hương mình được bình an, cho mọi người được no ấm. Ai cũng mong cho quê hương mỗi ngày được giầu đẹp hơn. Ai cũng khát khao niềm an hoà trên quê hương đất nước. Thế nhưng ước mơ đó không thể từ trời rơi xuống. Ước mơ đó cần phải có những con người dựng xây, biết kiến tạo bằng cả cuộc sống dấn thân vì lợi ích của dân tộc. Một đất nước muốn an vui thịnh vượng, không thể có những con người "ăn trên ngồi trốc" mọi người, càng không thể có những loại người dùng địa vị của mình để vun quén cho bản thân, để hưởng thụ đến mức độ tha hoá đạo đức, những loại người như thế chỉ làm nghèo đất nước và khổ người dân. Một đất nước muốn được yên vui đầm ấm không thể có sự chia rẽ nội bộ hay phân biệt giai cấp và chủng tộc. Cần phải có sự đoàn kết yêu thương, và biết tôn trọng quyền lợi chung của mọi người. Mỗi người bất luận là ai, già hay trẻ, khoẻ mạnh hay tật nguyện đều phải được đối xử trong tôn trọng và yêu thương. Có như vậy cuộc sống mới yên vui, tình người mới đầm ấm.

Lời Chúa hôm nay cũng nhắc nhở mỗi người chúng ta cần phải biết sống khiêm tốn với mọi người và sống hoà hợp với nhau trong yêu thương chân thành. Người làm lớn phải biết cúi mình phục vụ. Biết khiêm tốn khi sống giữa anh em, biết lấy tình yêu để đối xử với nhau một cách vô vị lợi. Chúa đã kết án thói trưởng giả của những người biệt phái. Thích dệnh dạng trong đám tiệc. Thích ngồi"mân cao cỗ đầy". Họ dùng quyền bính để được người khác cúi mình phục vụ. Lối sống của họ chẳng có ích cho cộng đoàn mà còn làm khổ anh em. Chúa còn dạy chúng ta khi đãi tiệc, hãy thiết đãi cả những kẻ không có khả năng mời lại chúng ta một ly rượu. Đừng mời nhau theo kiểu "có qua có lại", mà quan yếu là tình người với nhau. Con người cao qúy hơn tiền bạc, hơn mọi thứ vật chất trần gian, thế nên, phải biết đặt tình người hơn những tính toán lợi nhuận. Đừng vì những lợi nhuận vật chất mà loại trừ anh em, nhưng hãy dùng của cải mà mua lấy bạn hữu Nước Trời.

Đó cũng chính là cách sống mà Chúa đã thực thi trong suốt cuộc đời dương gian. Ngài đã chọn sinh ra trong cảnh cơ hàn. Ngài đã sống khiêm tốn ẩn dật giữa làng quê Nagiaret. Ngài đã đến trần gian không phải để được phục vụ mà là để phục vụ. Chính trong bữa tiệc ly, Ngài đã làm bổn phận của người tôi tớ khi cúi mình rửa chân cho các môn sinh. Chúa là Chúa, là Thầy nhưng chẳng màng đến địa vị cao qúy của mình, chỉ biết một điều là tự hủy chính mình để trở nên tôi tớ cho mọi người. Chúa cũng không chọn một đối tượng nào để phục vụ. Chúa cũng không loại trừ một giai cấp nào trong bàn tiệc mà chính Chúa thiết đãi. Tất cả mọi người từ đông chí tây đều được mời gọi tham dự yến tiệc mà Chúa đã dọn sẵn.

Hôm nay, Chúa vẫn mời gọi chúng ta đi tiếp con đường Chúa đã đi. Con đường khiêm nhu để đến với anh em, để sống hoà hợp và phục vụ anh em. Con đường kiêu ngạo chỉ dẫn đến sự xa rời anh em, và gây nên những đổ vỡ bởi đố kỵ ghen tương. Vượt lên trên sự khiêm nhu là tình yêu đại đồng với tha nhân. Không phân biệt giai cấp hay chủng tộc. Không phân biệt màu da sắc tộc, mỗi người đều được đón nhận trong yêu thương và kính trọng. Có như vậy, thế giới chúng ta đang sống mới an vui thịnh vượng. Có như vậy, thế giới chúng ta đang sống mới đượm thắm tình yêu và rộn ràng niềm vui tiếng cười.

Thế nhưng, giữa dòng đời này vẫn còn đó những kẻ lấy quyền bề trên để ức hiếp kẻ dưới, vẫn còn đó những người cha người mẹ sinh con ra chỉ mong con lớn khôn để có kẻ hầu người hạ, vẫn còn đó những người chồng đang hành hạ vợ mình như những tôi tớ trong nhà. Giữa dòng đời này vẫn còn đó những giọt nước mắt của những kẻ nghèo khó, tật nguyền, những kẻ bất hạnh, già nua không tìm được sự ủi an nâng đỡ của đồng loại. Thế giới sẽ không có an vui thịnh vượng, nếu con người không biết sống khiêm tốn, nhường nhịn và nâng đỡ nhau. Thế giới sẽ chỉ có tiếng khóc than, oan ức nếu trên mặt địa cầu này vẫn còn đó những kẻ kiêu căng, ngạo mạn và sống thiếu tình người. Thế giới sẽ đổ vỡ nếu không còn ai biết cúi mình để phục vụ anh em.

Có một câu chuyện ngụ ngôn kể rằng: trên còn đường nhỏ hẹp sát sườn núi, một bên là vách núi cheo leo, một bên là vực sâu thăm thẳm, hai con dê núi đi ngược chiều nhau. Vì con đường quá nhỏ hẹp, chỉ đủ cho một con vật đi qua, nên hai con dê qúa bối rối không biết tính toán thế nào để vượt qua nhau. Nếu chen lấn, chúng có thể rơi xuống vực thẳm và tan xương nát thịt. Chúng chợt nghĩ ra một cách: một con đã qùy mọp xuống đất để con kia bước qua mình. Thế là chúng ta tiếp tục con đường của mình.

Vâng, thế giới hôm nay nếu muốn cứu mình khỏi hố diệt vong cần phải biết xây dựng tình người hơn là xây dựng những cơ sở vật chất lộng lẫy nguy nga. Thế giới hôm nay muốn an vui thịnh vượng cần phải có những con người biết quên mình phục vụ anh em. Ước gì mỗi người chúng ta luôn học lấy bài học khiêm nhu của Chúa để đến với anh em, để tự hủy chính mình, để trở nên kẻ có ích cho tha nhân, ngõ hầu chúng ta cùng góp sức xây dựng cho quê hương được quốc thái dân an, cho nơi nơi thắm được tình Chúa tình người, cho mỗi người tìm được niềm vui trong việc lãnh nhận và trao ban những nghĩa cử yêu thương. Amen

HẠ MÌNH ĐƯỢC NÂNG CAO - TỰ CAO BỊ HẠ XUỐNG
Lc 14, 1.7-14
Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Ý lực của Chúa Nhật XXII tường niên, năm C cho chúng ta thấy cái cốt lõi của Tin Mừng Chúa Giêsu giảng dạy: " Tự cao và khiêm nhượng ". Chúa Giêsu đã nhiều lần lên án những người Pharisêu, những bậc thông thái, những nhà lãnh đạo tôn giáo giả hình, tự cao, tự mãn, hống hách và luôn đề cao những kẻ khiệm hạ, từ tốn..." Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên " ( Lc 14, 11 ).

Đọc những trang Tin Mừng của Chúa Giêsu, chúng ta không khỏi bỡ ngỡ và ngạc nhiên. Bỡ ngỡ và ngạc nhiên khi thấy cái thói rởm của những người Pharisêu: họ nới rộng thẻ kinh, kéo dài tua áo. Đi đâu họ cũng muốn ngồi chỗ nhất và muốn cho mọi người gọi họ là thầy. Hãy xem thái độ của người Pharisêu cầu nguyện trong Đền thờ...Tất cả đều là tự khoe, kể công và hãnh diện tự kiêu tự đại trước mặt người khác. Chúa đã từng ca tụng Thiên Chúa Cha: " Lạy Cha là Chúa Trời Đất, Con xin ca tụng Danh Cha vì Cha đã mặc khải những điều đó, mặc khải Nước Trời cho những kẻ bé mọn..." Những kẻ bé mọn là những kẻ khiêm nhượng. Chúa yêu thương những kẻ bé mọn, những kẻ khiêm nhượng, tự hạ. Ngài luôn lên án gắt gao những Pharisêu, những kẻ giả nhân giả nghĩa, những kẻ tự tôn tôn. Ngài không những yêu thương những kẻ khiêm nhượng, tự hạ mà còn làm gương cho mọi người. Ngài là Thiên Chúa nhưng đã không đòi ngang hàng với Thiên Chúa, nên đã tự hủy mình ra không, sống kiếp phàm nhân ngoại trừ tội lỗi ( Philip 2, 6-11). Chúa là vị Chúa, là Thầy mà lại quì xuống rửa chân cho các môn đệ, các đầy tớ của mình. Chúa đã tự hạ không phải để được ca tụng, khen ngợi mà để yêu thương và phục vụ. Sự khiêm hạ của Chúa là cái chết cứu độ, cái chết yêu thương trên thập giá. Khiêm nhượng là hy sinh, là trao ban như thánh Gioan đã viết: " Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã trao ban Con Một Người " ( Ga 3, 16 ). Đây là sự trao ban vô vị lợi, sự trao ban nhưng không và tự hạ tột đỉnh. Chúa dạy hãy trao ban, hãy khoản đãi tiệc vô vị lợi, không biệt giầu nghèo bởi vì có yêu thương vô vị lợi người ta mới " đãi tiệc những kẻ khó nghèo, tàn tật, què quặt, đui mù, những kẻ không có khả năng mời lại người khác ". Đây đúng là bữa tiệc Nước Trời mà Chúa Giêsu khoản đãi. Ơn cứu độ do Chúa Giêsu mang lại là ơn cứu độ phổ quát không dành riêng cho bất cứ dân tộc nào, người nào nhưng Chúa luôn đòi con người dự tiệc phải mặc áo cưới, đó là sự sám hối trở về thật tình, đó là sự đáp trả một chút tình thương của Chúa. Chúa luôn yêu thương những người nghèo hèn, khiêm nhượng và thấp cổ bé họng. Điều này chúng ta nhận thấy rằng chính sự khiêm hạ, tự tốn luôn được Chúa yêu thương và đề cao đến nỗi trong Kinh Nguyện Thánh Thể thứ hai, vị chủ tế đã thay mặt mọi người thân thưa với Thiên Chúa: " Chúng con cám ơn Chúa vì Ngài đã thương đến sự yếu hèn của chúng con, để chúng con xứng đáng đứng trước nhan Ngài và phục vụ Ngài ".

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con hiểu được bữa tiệc lớn lao Chúa mời gọi chúng con là bữa tiệc trên Nước Trời ( Kh 19 ).

KHIÊM NHƯỜNG VÀ PHỤC VỤ
Lc 14, 1.7-14
Lm. Jude Siciliano, OP

Bài đọc trích sách Huấn ca hôm nay có thể củng cố những quan điểm về người đạo đức - những người được cho là có lòng khiêm nhường. Khi nghĩ đến sự khiêm nhường, nhiều người nghĩ ngay đến việc đấm ngực, những tâm hồn đạo đức chấp nhận xem mình như thảm cửa cho những kẻ tham vọng bước qua. Chúng ta thường cho rằng những người khiêm nhường thì không hay chống lại luật lệ hoặc trật tự, họ chỉ cầu nguyện và khi gặp gian nan khốn khổ, họ "phó thác" cho Chúa. Nhưng Ben Sira, tác giả sách của quyển sách Khôn ngoan này, không xem khiêm nhường là thụ động và mềm yếu như vậy.

Ông là thầy dạy của người trẻ (57,23-30) và ông muốn bảo tồn niềm tin của người Dothái giữa những thế hệ thày dạy và hiền nhân tiếp theo. Bài giảng về lòng khiêm nhường của Ben Sira là về sự từ bỏ và tín thác nơi Thiên Chúa. Người khiêm nhường thì mở lòng mình ra, học hỏi đường lối của Thiên Chúa và thực thi đường lối ấy. Chẳng phải Đức Giêsu cũng từng nói về Người như là một con người khiêm hạ đó sao? Những ai có thể nhận ra Người như Đấng Chúa sai đến cũng sẽ có một trái tim khiêm hạ.

Hiền nhân viết bài đọc thứ nhất hôm nay không dạy môn đệ của mình hay chúng ta nhún nhườngg khi chúng ta đối mặt với sự dữ và cái ác. Nhưng hoàn toàn ngược lại: người khiêm hạ cúi mình trước thiên Chúa và mở lòng đón nhận thánh ý của Ngài, sẽ đứng thẳng bảo vệ chân lý - biết rằng Thiên Chúa, Đấng Công Chính, luôn đứng về phía những ai khiêm nhường và khát tìm chân lý. Kẻ khiêm nhường muốn cộng tác với Thiên Chúa; thái độ khẳng khái như thế sẽ tăng cường và khơi lên chân lý trong lòng họ và rồi họ "sẽ tìm thấy niềm vui trong Chúa".

Tin mừng Luca có nhắc đến rất nhiều bữa tiệc. Hôm nay, chúng ta thấy Đức Giêsu ở một bữa tiệc khác. Ngay phần mở đầu câu chuyện thánh Luca đã đưa ra một tình trạng căng thẳng. Đức Giêsu đến dự tiệc ở nhà một "thủ lãnh Pharisêu." Chúng ta đoán Người sẽ gặp rắc rối khi nghe thánh Luca cho biết "họ cố dò xét Người."

Tôi cũng mới dự một tiệc cưới rất tuyệt. Ngay khi bước vào phòng tiệc, tôi đã thấy có một cái bàn và trên đó có sơ đồ ghi tên và chỗ ngồi của tất cả các vị khách mời. Tôi đến và tìm xem tôi sẽ ngồi bàn nào. Tôi đã thật sự vui mừng vì thấy mình được sắp xếp ngồi cùng bàn với một số bạn cũ và vài người tôi chưa từng quen biết. Mãi đến khi chúng tôi ăn tiệc và trò chuyện, tôi mới nhận ra rằng chúng tôi có cùng một sở thích và địa vị giống nhau. Tôi biết chủ tiệc cưới đã thận trọng sắp xếp tôi ngồi cùng với những vị khách mà chúng tôi có thể cùng nhau thưởng thức tiệc cũng như chia sẻ niềm vui của bữa tiệc.

Vào thời Đức Giêsu và trong nền văn hóa của Người, việc sắp xếp chỗ ngồi trong bữa tiệc là rất rõ ràng. Chủ tiệc phải sắp xếp khách mời vào "vị trí xứng hợp." Người quan trọng nhất sẽ ngồi vào chỗ cao nhất và nổi bất nhất. Những người khác sẽ lần lượt ngồi vào những vị trí thấp hơn tùy theo tầm quan trọng của mình. Một khi mọi người đã yên vị, tất cả những gì anh chị em cần làm là nhìn quanh để thấy rọ tầm quan trọng của mỗi thực khách trong mắt chủ tiệc.

Đức Giêsu là một vị khách trong nhà của một vị Pharisêu quan trọng. Có thể chúng ta không biết Đức Giêsu được xếp ở vị trí nào, là một thày giảng và một người nổi bật, có thể Người được mời vào một vị trí nổi bật trong bàn tiệc - chúng ta không biết rõ điều này. Điều chúng ta biết chắc là Người ngồi vào một nơi không mấy gì là thiện cảm, Người cũng không bị tác động bởi "những kẻ quan sát Người." Người bắt đầu nhìn quanh và chỉ dạy cho những kẻ đang tìm chỗ ngồi quan trọng trong bàn tiệc. Người là một vị khách, nhưng hành xử như ông chủ tiệc, sắp xếp khách khứa vào những chỗ nên ngồi trong bữa tiệc.

Đức Giêsu đưa ra một bữa tiệc khác cho những ai có cái nhìn thiển cận và chẳng bao giờ thỏa mãn. Giống như tác giả sách Huấn ca, Đức Giêsu là một hiền nhân, chỉ cho người ta thấy đâu là sự mãn nguyện đích thực: đó không phải là những chỗ quan trọng trong bữa tiệc, nhưng là việc lắng nghe thông điệp cứu độ của Người. Một khi họ lắng nghe và sống những điều này, bằng cách nhận ra và trân trọng "người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù," thì họ sẽ nhận được chỗ ngồi danh dự trong bàn tiệc đời đời mà Thiên Chúa chuẩn bị cho chúng ta. "Vì ông sẽ được đáp lễ trong ngày những kẻ lành sống lại."

Những người mà Đức Giêsu nói đến thì cũng không tham vọng gì hơn con người ngày nay. Nếu họ nhận được ân huệ từ một nhân vật quan trọng, một vị trí cao trong bàn tiệc, thì họ cũng sẽ tổ chức một buổi tiệc để đáp lễ. Như chúng ta thường nói: "Có qua có lại" - cả hai đều nhận được cái gì đó từ phía người kia.

Nhưng Đức Giêsu đang chuẩn bị cho chúng ta một yến tiệc mà nơi đó những kẻ bần cùng sẽ nhận được sự trân trọng cùng với tất cả sự dư đầy. Vì thế, chúng ta cần thực hành những "hành động thuộc nước trời" ngay bây giờ: hành vi trong cuộc sống của chúng ta sẽ phản ảnh vương quốc mà chúng ta là công dân trong đó. Hành vi của chúng ta phải làm sáng tỏ niềm tin của chúng ta, những cảm nghiệm của chúng ta. Chúng ta chưa làm được gì; chẳng có địa vị xã hội hay danh xưng cao sang nào có thể giúp ta trở thành phần tử trong vương quốc của Đức Giêsu. Nhưng, nếu chúng ta áp dụng dụ ngôn vào cuộc đời chúng ta, thì chúng ta thấy Người đã để ý đến chúng ta và nhu cầu của chúng ta, đồng thời mời gọi chúng ta vào vị trí ưu tiên. Chúng ta không đạt được điều đó, nhưng chúng ta nhận được điều đó. Đó là ân sủng.

Nếu chúng ta tin mình nhận được quà tặng này, một chỗ ngồi trong bàn, không phải do tài cán của chúng ta, nhưng do lòng nhân từ của Thiên Chúa, thì chúng ta có thể tỏ ra bằng hành vi tương tự: bằng cách mời vào cuộc đời chúng ta, một cách cụ thể, những người thấp bé và bị bỏ rơi. Hay nói cách khác, chúng ta hành xử như ông chủ tiệc mà Giêsu mô tả trong dụ ngôn, dành chỗ nhất cho những ai bé nhỏ nhất. Và sau khi làm như thế, chúng ta trở thành người phục vụ cho những người chúng ta mời - vì Người cũng dạy chúng ta làm như thế.

Tôi cũng mới thấy dụ ngôn này tái hiện trong chương trình tin tức trên truyền hình buổi tối. Chương trình kết thúc với cảnh nói về một ông chủ nhà hàng Ý ở Anaheim, California. Tên ông là Bruno Serato, và nhà hàng của ông chuyên phục vụ những người giàu có và nổi tiếng ở Quận Cam, ngay bên cạnh Disneyland. Ông đồng thời cũng quản lý Câu lạc bộ Boys & Girls trong vùng, đó là một tổ chức quốc gia để giúp đỡ những trẻ em nghèo. Trong khu vực đó, có rất nhiều trẻ em nghèo đang sống cùng gia đình trong những nhà trọ rẻ tiền. Năm 2005, bà Caterina, mẹ của ông, đến thăm vùng quê này, sau khi đưa bà đến nhà hàng đắt tiền, ông đưa bà đến thăm những đứa trẻ ở Câu lạc bộ. Khi bà thấy những đứa trẻ nghèo đói này, bà quay lại đứa con đang làm ông chủ và bảo ông "Cho chúng ăn!" Và đó chính là công việc ông làm mỗi ngày trong suốt năm năm qua.

Bruno phục vụ trẻ em mỗi ngày một bữa, không phải với thịt băm và rau xào, nhưng là một bữa tối thịnh soạn y chang thức ăn mà ông phục vụ ở nhà hàng đắt tiền. Chủ nhiệm câu lạc bộ nói: "Những đứa trẻ thích như thế! Chúng tôi giúp một số trẻ em nghèo nhất ở Anaheim thưởng thức một trong những nhà hàng ngoại hạng mỗi tối."

Với việc suy giảm kinh tế, thì số trẻ em ăn tối của Bruno tăng lên, nhưng thực khách của nhà hàng giảm đi. Vì thế ông lỗ, và phải thế chấp căn hộ của mình để nuôi những đứa trẻ. Nhưng ông vẫn khẳng định sẽ không bao giờ ngừng việc cung cấp thức ăn cho những đứa trẻ, ông nói: "Không Bao Giờ!"

Bruno đã hóa thân vào dụ ngôn mà Đức Giêsu dạy chúng ta hôm nay mà chẳng mất mát gì. Như chương trình phỏng vấn trên TV, ta thấy kết quả trong cuộc sống của Bruno là ông nhận được quà tặng của niềm vui "... khi tổ chức tiệc, ông hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù: như thế ông thật có phúc vì họ không có gì để đáp lại, và ông sẽ được đáp lễ trong ngày những kẻ lành sống lại."
Chuyển ngữ: Anh em HV Đaminh Gò Vấp

KHIÊM HẠ
Lc 14, 1.7-14
Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Vào một buổi sáng mùa hè, tôi thả bộ chung quanh công viên Devoe, bên cạnh nhà thờ. Quan sát cảnh sinh hoạt xuất hiện có người già, thanh niên, thiếu nữ, người Mỹ, Tây, Ta và Tầu. Đây đó mấy người còn đang ngủ trên những chiếc ghế gỗ. Vài người đi lượm long. Có người dẫn chó đi dạo buổi sáng. Người tập thể dục, người ngồi đọc báo và đám trẻ chơi banh bóng rổ. Có những kẻ ăn mặc đẹp hơn vội vã tắt ngang qua công viên đi làm việc. Một nhóm chàng trai trẻ vô gia cư, di dân bất hợp pháp và đang ngồi tãn gẫu. Một vài người thu dọn làm sạch công viên. Xem ra cảnh vẻ thật êm đềm, họ không dứt lác và không quấy rầy. Họ là những người thấp cổ bé miệng. Những người nghèo khó ăn mặc đơn sơ chỉ chăm lo kiếm sống mỗi ngày. Họ không la hét, vênh váo, đua đòi hay ăn xài hoang phí. Đa số thuộc thành phần lao động khiêm tốn.

Tôi chỉ biết dâng lời tạ ơn Chúa trong mọi sự. Tôi có khác gì những người đang có mặt trong công viên. Đã có lúc cả gia tài của tôi vỏn vẹn chỉ một bộ đồ trên người. Tôi cũng thuộc thành phần di dân, ngoại kiều và được chấp nhận như một công dân. Tôi được may mắn có nơi ăn chốn ở, có công ăn việc làm và có mọi thứ cần thiết. Thầm cám tạ ơn Chúa. Chẳng phải vì công lao hay sức lực riêng mà chỉ do lòng thương xót của Chúa ban. Tác giả sách Huấn Ca giúp chúng ta nhận được thân phận yêu hèn và thấp bé của mình. Lời khuyên răn rất chân tình: Hỡi con, con hãy thi hành công việc con cách hiền hoà, thì con sẽ được người đẹp lòng Chúa quý chuộng (Hc 3, 17). Nhìn những người chung quanh, tôi cảm thấy thật thương họ. Một người mẹ trẻ đi lượm long để kiếm thêm chút tiền cho bữa ăn gia đình. Mọi công việc họ làm đều đáng tôn trọng. Họ không ngại ngùng, không sợ dơ dáy, bẩn thỉu hay hôi hám. Họ kiếm sống bằng đôi bàn tay tinh sạch qua công khó và mồ hôi nước mắt. Họ rất đáng được tôn trọng.

Buông bỏ lớp vỏ ngoài, ai cao trọng hơn ai chứ! Danh dự hay chức vị là để phục vụ. Sách Huấn Ca dậy rằng: Càng làm lớn, con càng phải hạ mình trong mọi sự, thì con sẽ được đẹp lòng Chúa (Hc 3, 18). Hạ mình là cách thế tốt nhất để gặp gỡ và đến với tha nhân. Con đường khiêm hạ là con đường của Chúa đến với nhân loại. Không bao giờ chúng ta học hết được bài học về nhân đức khiêm nhường. Càng khiêm nhường càng trở nên vĩ đại. Qua sự khiêm hạ, chúng ta có thể đến với mọi người và mọi nơi. Khiêm hạ như dòng nước chảy xuống thấm nhuần vào đất. Nước bao giờ cũng chảy xuống thấp nên có thể đến mọi nơi. Nước thấm tới đâu thì làm đất đai thêm mầu mỡ và phì nhiêu.

Sự kiêu căng là bức tường ngăn cách với tha nhân. Kiêu căng là tự đặt mình lên trên người khác. Người kiêu là người luôn tỏ vẻ trí thức, hiểu biết, quyền lực và tốt lành thánh thiện hơn người. Thùng càng rỗng, càng kêu to. Tai hoạ dành cho kẻ kiêu căng thì vô phương cứu chữa, vì mầm mống tội lỗi đã ăn sâu vào lòng chúng mà chúng không biết (Hc 3, 28). Sự kiêu ngạo đã len lỏi vào đời sống của con người ngay từ thuở ban đầu. Ông Adong và bà Evà đã bị ma quỉ gạt gẫm và muốn được hiểu biết mọi sự giống như Thiên Chúa. Ông bà nguyên tổ đã vụt mất tất cả hồng ân. Sự kiêu ngạo đã thấm nhập vào nhiều tâm hồn, họ đã chối từ tôn thờ chính Đấng ban nguồn sự sống. Cậy dựa vào sự hiểu biết nông cạn của mình để cả dám giơ tay thách thức quyền năng Vua vũ trụ. Nhạo cười Đấng đã được sai đến. La Fontaine kể ngụ ngôn này: Cây sồi tự đắc thân to, rễ nhiều, cao ráo và miệt thị cây lau nhỏ tí yếu ớt. Cây lau trả lời rằng: Tuy thân mình nhỏ nhưng nếu gặp phong ba thì chưa chắc ai thua ai. Một hôm, trời chuyển gió và phong ba nổi dậy... cây sồi vì cao, tàn lớn nên bị gió thổi trốc gốc đổ xuống. Còn cây lau mềm uốn mình theo chiều gió, nhờ thế mà vẫn đứng yên.

Chúa Giêsu đã nhắc nhở: Vì hễ ai nhắc mình lên, sẽ phải hạ xuống và ai hạ mình xuống, sẽ được nhắc lên (Lc 12,11). Đứng trước quyền năng vô biên của Thiên Chúa, con người là chỉ loài thụ tạo xuất hiện đó rồi tan biến đó. Sự kiêu ngạo làm con người tự cất nhắc mình lên và chiếm hữu đạt quyền của kẻ khác. Chúa phán rằng ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên. Chân lý này có thể áp dụng cho hết mọi người sống trong xã hội. Càng làm lớn, càng biết hạ mình thì càng được tôn trọng và quí mến. Người sống khiêm nhu không phải là người yếu đuối hay tiêu cực. Chúng ta thường nói lấy nhu thắng cương là thế. Không ai chê bai, phản đối hay khinh thường những người biết sống khiêm nhường. Chỉ những ai có tính kiêu ngạo đã không nhận ra được giá trị trân quí của nhân đức này.

Suy niệm bài phúc âm. Một thí dụ cụ thể chọn chỗ ngồi nơi bữa tiệc. Trong hoàn cảnh văn hóa hiện tại, có nhiều thay đổi theo phong tục văn hóa cho hợp lẽ. Chủ hôn sẽ xếp đặt chỗ ngồi cho khách hoặc để tự do cùng bạn bè chọn lựa nơi chỗ thích hợp. Ngày xưa, Chúa Giêsu chỉ dẫn: Nhưng khi ngươi được mời, hãy đi ngồi vào chỗ rốt hết, để khi người mời ngươi đến, nói với ngươi rằng: 'Hỡi bạn, xin mời bạn lên trên'. Bấy giờ ngươi sẽ được danh dự trước mặt những người dự tiệc (Lc 12, 10). Chúa muốn nói về sự khiêm hạ trong lòng. Thực thế, trong bất cứ đám tiệc đều có nhiều người tham dự gồm kẻ có chức quyền, có địa vị hoặc là thành viên của gia đình, chúng ta nên trông trước ngó sau để cư xử hợp tình hợp lẽ. Không nên gây khó xử cho gia chủ. Người ta thường nói rằng: Lời chào cao hơn mâm cỗ. Vì để giữ mặt mũi, nên đôi khi chúng ta lại bị mất mặt.

Thơ Do-thái nói về cứu cánh cuộc lữ hành trần thế. Chúng ta không tìm đến những nơi gây khiếp sợ như lửa cháy, gió lốc, mây mù và bão táp nhưng là tiến về Nhà Chúa: Anh em tiến đến núi Sion và thành trì của Thiên Chúa hằng sống, là Giêrusalem trên trời (Dt 12, 22). Tất cả mọi sự đều được qui tụ về một mối là Chúa Giêsu Kitô. Đấng làm trung gian vạn vật. Chúa Giêsu đã mở cửa ngõ dẫn dắt chúng ta bước vào con đường khiêm hạ theo thánh ý Chúa Cha. Chúa đã học vâng phục và vâng phục cho đến chết. Vâng lời là học sự khiêm tốn. Chúa phán: Anh em hãy mang lấy ách của tôi và hãy học cùng tôi, vì tôi có lòng hiền hòa và khiêm nhượng, tâm hồn anh em sẽ được nghỉ yên bồi dưỡng (Mt 11, 29).

Tất cả mọi sự đều chung qui về một cùng đích là sự sống vĩnh cửu. Chúa Giêsu mời gọi mọi người vào Nước Trời qua nhiều cửa ngõ khác nhau. Con đường bác ái yêu thương là lối vào gọn nhẹ nhất. Vì chính Chúa Giêsu hiện thân nơi những kẻ đơn sơ bần cùng nghèo khó. Ai đón tiếp họ là đón tiếp chính Chúa. Chúa Giêsu căn dặn: Nhưng khi làm tiệc, hãy mời những người nghèo khó tàn tật, què quặt, và đui mù; ông sẽ có phúc, bởi họ không có gì trả lễ. Vì ông sẽ được trả lễ khi những người công chính sống lại (Lc 12, 13-14). Chúng ta thường nghĩ những kẻ đui mù, tàn tật, què quặt và nghèo khó là những người bất hạnh làm gánh nặng cho xã hội. Nhiều khi chúng ta ngoảnh mặt, giả điếc làm ngơ và tránh những ánh mắt van nài xin bố thí của họ. Cửa xe gài kỹ và đóng kín để tránh sự phiền hà. Chúng ta không muốn tiếp cận với những kẻ cùng khốn tật nguyền. Vì sợ bị quấy rầy, chúng ta đã chối từ giúp đỡ họ. Chúng ta đang mất nhiều cơ hội chia sẻ bác ái và làm phúc.

Lạy Chúa, con đã có rất nhiều cơ hội để chia sẻ giúp đỡ tha nhân, nhưng lòng con qúa hẹp hòi và ích kỷ. Con đã từ chối giúp đỡ họ. Con không muốn nhìn thấy Chúa nơi những người đau khổ và cô thế cô thân. Xin cho con học biết sự hiền lành và khiêm nhượng trong lòng để con biết chia sẻ tình bác ái với anh chị em.

HÃY NGHĨ ĐẾN KẺ KHÓ NGHÈO
Lc 14, 1.7-14
Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
Trong cuộc đời trần thế của Chúa Giêsu, chúng ta thấy Ngài sống hoàn toàn hòa đồng với con người, Ngài không xa cách, không sống khắc khổ như những Rabbi hay một vị khổ tu nào đó. Chúa Giêsu xuất thân từ quần chúng, từ giới lao động, Ngài cảm thông với con người, đặc biệt những con người nghèo hèn, đau khổ. Ba năm đi giảng đạo, Chúa Giêsu kêu gọi các môn đệ đi theo Ngài...Ngài giảng dạy trong các Hội Đường, Ngài đi khắp nơi lúc giảng nơi đường phố, lúc trên núi, dưới các cánh đồng, lúc bồng bềnh trên sóng nước mênh mông. Chúa thường ví Nước Trời như một tiệc cưới. Ngài cũng đi tham dự các tiệc cưới khi được mời,Ngài cũng đi dự các bữa cơm gia đình để sống trọn đời thường, tình làng nghĩa xóm vv...Chúa cũng nhận lời mời dùng cơm ở các nhà của người Biệt phái dù Ngài biết họ mời Ngài để dò xét hơn là vì họ hiếu khách vv...

Chúa Giêsu đã có những thái độ, những cử chỉ rất người của mình, như trong bữa tiệc tại nhà ông Simon, Chúa đã tha thứ cho người đàn bà tội lỗi nhưng lại có lòng thống hối, ăn năn. Chúa Giêsu lại có lối cư xử tình người và rất tự nhiên đến nỗi một số môn đệ của Gioan đã gán cho Ngài thích chè chén yến tiệc vv...Chuyện thuật rằng hôm ấy là ngày sabbát, Chúa Giêsu được một thủ lãnh Biệt phái mời đến nhà ông để dự tiệc. Thực tế, khi mời Chúa Giêsu, họ tìm cách dò xét Ngài để lên án Ngài. Do đó, hôm nay họ tấp nập đến ăn tiệc và đồng thời để dò xét Ngài. Tuy nhiên, chính Chúa Giêsu lại là người dò xét họ trước. Chúa Giêsu đưa ra một dụ ngôn rất bình thường, Ngài nói rằng khi được mời dự tiệc chúng ta đừng chọn chỗ nhất. Vì biết đâu gia chủ có mời vị nào có thế giá hơn mình, nên buộc lòng chủ nhà phải mời mình nhường chỗ cho khách, thì mình xấu hổ biết bao. Cho nên, từ một bài học xã giao thường thức, Chúa Giêsu muốn nhắm về một ý tưởng cao thương hơn:" Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống.Ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên ". Thực vậy, muốn chiếm một chỗ trong Nước Trời, con người phải hạ mình trước mặt Thiên Chúa và làm theo ý của Ngài. Con người cũng phải đón nhận Nước Thiên Chúa như một trẻ nhỏ, nghĩa là trở nên đơn sơ, thánh thiện và ngoan ngùy trước mặt Chúa.

Và trong bữa tiệc kéo dài hôm nay, Chúa Giêsu còn dùng nhiều cơ hội để dạy dỗ con người như Ngài nói với gia chủ hãy nghĩ đến người nghèo, người cùng khổ.Qua việc nhắc nhở gia chủ, Chúa Giêsu cũng dạy dỗ tất cả chúng ta. Sống ở đời, người ta thường cân nhắc, mời ai để họ có thể mời lại mình. Đó là việc xã giao rất bình thường ở đời này. Bởi vì ở đời thường người ta mời mọc hay cho chác là mong được mời lại, cho lại vv...Chúa Giêsu khuyên mọi người chúng ta quan tâm đến những người nghèo, những người neo đơn, túng cực,những người này chẳng có gì để trả lại.Những người nghèo là những người vô tư lợi, những người tay trắng lòng ngay, do đó, họ sống rất thanh tao, cao đẹp trước mặt Thiên Chúa.

Marc Sevin đã viết :" Kết luận của Chúa Giêsu mang mầu sắc của một châm ngôn:" Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên ". "Tự hạ mình " và " tôn lên ":hai động tự này không mang nghĩa chung chung.Các Kitô hữu áp dụng hai động tự này cho Chúa Giêsu, Đấng được sinh ra để làm tôi tớ. Người đã sống lại, được tán dương và ngự bên hữu Chúa Cha. Chúa Giêsu đã hạ mình xuống và đã được nâng lên. Người trở nên gần gũi với những ai khốn khổ bần cùng nhất. Vậy nên, thánh sử Luca đưa Chúa Giêsu vào trong ví dụ. Các môn đệ cũng đi theo những bước chân của Thầy mình, và chọn cuộc sống như Chúa để trở nên những người phục vụ ".

Lạy Chúa Giêsu, xin ban thêm đức tin cho chúng con để chúng con luôn hiểu rằng Chúa yêu thương mọi người bằng một tình yêu vô vị lợi. Chúa luôn quan tâm đến mọi hạng người. Chúa luôn tha thứ tội lỗi cho những ai thật lòng sám hối ăn năn. Xin cho chúng con biết học cùng Chúa :" Hiền Lành và Khiêm Nhượng " vì Chúa đã nói :" Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống và ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên ".

GHẾ DÀNH RIÊNG
Lc 14, 1.7-14
Lm Vũ đình Tường

Quan khách hay khách quan đều nói về người nhưng mang í nghĩa khác nhau. Từ khách quan mang tính cách thương mại trong kinh doanh. Từ quan khách nói lên tính trang trọng của người khách. Nói đến quan khách là nói đến ghế danh dự dành riêng cho quan khách trong những cử hành lễ hội công cộng. Thực ra vấn đề xếp chỗ cho quan khách không đơn giản như chúng ta thấy nơi các buổi lễ hội công cộng. Khi có người đồng giai cấp, thứ bậc việc sắp xếp chỗ ngồi ngang hàng quả là nhiêu khê. Có nhiều vận động ngầm về chỗ ngồi giữa các viên chức làm việc trong các văn phòng hành chánh cho người lãnh đạo phe nhóm. Người ta nhân danh vị đó đòi hỏi nghi thức đón tiếp làm đau đầu, nhức óc ban tổ chức lễ hội. Tranh cãi đây không phải là ghế ngồi mà chính là danh dự, tiếng tăm, vị thế của người ngồi ghế đó trong ngày lễ hội. Mặc dù các nghi thức cử hành chỉ vỏn vẹn trong thời gian ngắn nhưng danh dự, tiếng tăm đối với những khách danh dự thật là quan trọng.

Khách danh dự trong nước Thiên Chúa hoàn toàn khác. Nước Thiên Chúa không thuộc vào hạng người nắm quyền ngang trời, thế dọc đất. Hành hạ mọi người, già trẻ, lớn bé không trừ ai. Những người vang bóng một thời, hét ra lửa, thở ra quyền. Nói ra kẻ tung, người hứng, lên xuống có người đóng mở cửa. Đứng lên có kẻ bợ, ngồi xuống có kẻ đỡ. Có quyền sinh sát trong tay, có quyền bẻ cong công lí. Trong nước Thiên Chúa không có chỗ riêng cho những người đó. Nước Thiên Chúa dành cho những ai? Thưa là những người có thời mất công lí nay được tuyên công, người nghèo khổ nay vui mừng, kẻ cô đơn nay có bạn thân tình. Người chết vì đức tin nay sống ngàn thu, người tù đầy trong tối tăm nay thấy ánh sáng huy hoàng. Đức Kitô Con Thiên Chúa đứng ra phát thiệp mời họ, đón họ, biến họ là khách danh dự trong nước của Ngài. Theo tinh thần bài Phúc Âm tuần trước họ là những người đi qua cửa hẹp mà vào. Kẻ béo quyền hành, tốt bè phái muốn qua cửa hẹp phải dẹp bỏ tất cả mới qua lọt, bằng không những thế lực kia kéo lại sẽ không thể qua lọt. Bỏ được những quyến rũ bất chánh cần có tinh thần sẵn sàng từ bỏ, cần có tấm lòng khiêm nhu, tự nhận mình sai trái, thiếu sót, giới hạn và khiêm nhường đón nhận Lời Chúa làm hướng đi cho cuộc sống. Thực hiện được điều đó qua hành động cụ thể mến Chúa, yêu tha nhân họ sẽ dễ dàng qua cửa hẹp.
Trong nước Thiên Chúa không có cạnh tranh, vận động ngầm để được ngồi vào ghế danh dự. Những khách vào nước Trời là những người có tấm lòng khiêm cung. Họ đến không phải để được ca tụng nhưng đến chính là vì yêu mến anh em, đến để gặp gỡ, để cùng với mọi người tay bắt, mặt mừng trong ngày hội. Họ đến trong tình thân hữu chân thành, trong tình con một Cha chung là Đức Kitô. Họ đến trong tinh thần sẵn sàng phục vụ người khác như tinh thần lời Đức Kitô phán trong Mat 20,26. Tinh thần đó là con người đến để phục vụ anh em chứ không phải để được phục vụ.

Khiêm nhường và thống hối luôn đi chung với nhau. Người tự nhận khôn ngoan, bằng cấp cao, trí hiểu nhiều rất khó sống khiêm nhường. Người khiêm nhường luôn nhận biết giới hạn, yếu đuối của con người. Họ biết trước mặt Thiên Chúa tài họ không bằng chi, giầu sang của họ là hư không. Vì sao? Vì tất cả những gì họ có đều do Chúa ban. Nhận biết điều này nên họ sống trong khiêm nhường, cưu mang tâm tình tạ ơn Thiên Chúa. Nhận biết điều này nên họ không ghen tị với anh chị em khác khi người đó trội hơn họ về mọi mặt vì họ biết đó là ơn Chúa ban riêng cho người đó. Nhận biết điều này nên họ sống phó thác, tin yêu vì họ biết những gì trong tay là do Chúa trao. Vì là của Chúa ban nên họ có trách nhiệm coi sóc, phát triển và đồng thời chia sẻ những điều đó với anh chị em cần đến chúng. Nói cách khác họ không phải là chủ nhân tài năng mình có mà là người quản gia, gia tài Chúa trao cho họ chăm sóc, bảo vệ, giữ gìn, phát triển và chia sẻ. Làm được những công việc đó họ xứng đáng ngồi trong ghế danh dự nước trời.

TÔI LÀ NGƯỜI KHIÊM TỐN NHẤT TRẦN GIAN!
Lc 14, 1.7-14
Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa
Xưa lẫn nay và đến muôn đời, người khiêm tốn đều đáng được người đời mến phục, kính yêu. Trái lại, kẻ kiêu ngạo thì đều bị chê trách. Nếu họ là người quyền cao, chức trọng thì người ta có thể sợ, nhưng không hề kính chút nào. Sách Huấn ca cho ta những lời dạy thiết thực: "Con ơi... càng làm lớn, con càng phải tự hạ, như thế, con sẽ được đẹp lòng Đức Chúa. Vì quyền năng Đức Chúa thì lớn lao: Người được tôn vinh nơi các kẻ khiêm nhường. Kẻ kiêu ngạo thì vô phương cứu chữa, vì sự xấu xa đã ăn sâu mọc rễ trong nó"(Hc 3,18.20.28).

Bài tin mừng Chúa Nhật hôm nay tường thuật chuyện Chúa Giêsu nhân thấy nhiều người thích chọn chỗ nhất trong bữa tiệc nên đã lên tiếng dạy về đức khiêm nhường. Chắc hẳn Chúa Giêsu không muốn dạy chúng ta sống khiêm nhượng kiểu "ống điếu", tức là cố tình hạ mình xuống để được người ta nâng lên. Với kiểu nói ngoa ngữ như ngụ ngôn, Chúa Giêsu đã làm nổi rõ cái hậu quả rất khác biệt giữa người khiêm tốn và kẻ kiêu ngạo. Vậy thế nào là khiêm tốn đích thực đây? Không gì hơn hãy nhìn vào cuộc đời, thái độ sống của Giêsu Kitô, Đấng đã minh nhiên mời gọi hãy học cùng Người vì Người hiền lành và khiêm nhượng (x.Mt 11,28-30). Qua cuộc đời của Đấng Cứu Độ, chúng ta có thể nói rằng khiêm tốn là nhìn nhận sự thật, sống trong sự thật và làm chứng cho sự thật (x.Ga 18,37).

Sự thật thứ nhất: Nhìn nhận những gì chúng ta là, chúng ta có đều là do bởi lãnh nhận. Chúa Giêsu đã nhiều lần khẳng định Người bởi Chúa Cha mà ra và mọi sự Người có đều do Cha ban tặng (x.Ga 7,29; 16,28; 17,1-26). Vì sao có nhiều người ngông cuồng, tự cao tự đại? Xin thưa rằng trên hết, trước hết là vì họ vô tình hay chủ ý quên mất sự thật này: họ được tạo thành chứ không phải tự mình mà có. Nếu giả như họ xác tín rằng ngay chính sự sống và những khả năng, chức phận, những thành quả hay công nghiệp của họ đều do bởi đã lãnh nhận, thì chắc chắn sẽ không có lý do gì để lên mặt, để tự mãn trong cao ngạo hay cuồng ngông.

Sự thật thứ hai: Nhìn nhận rằng chúng ta chỉ thực sự là mình nếu biết sống và hoạt động theo ý Đấng tạo nên chúng ta. Chúa Kitô nhiều lần khẳng định rằng Người đến thế gian này không phải làm theo ý riêng mà để chu toàn thánh ý Chúa Cha (x.Ga 6,38; 7,17). Người nhìn nhận việc thực thi thánh ý Chúa Cha chính là lẽ sống của Người. "Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người"(Ga 4,34). Khi đã tin nhận rằng những gì chúng ta đang là, đang đều do bởi đã lãnh nhận từ ai đó thì việc sử dụng sự sống mình, các khả năng của mình theo ý người ban tặng là lẽ tất yếu đương nhiên. Một trong những ý nghĩa của cuộc đời con người đó là sống cho tha nhân, sống vì tha nhân. "Con Người đến thế gian này không phải để được hầu hạ, nhưng để hầu hạ người ta và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người (x.Mt 20,28).

Khi truyền bảo những người dọn tiệc đãi khách thì đừng mời những người thân quen, chức cao quyền lớn, mà hãy mời những người tàn tật, đui mù, nghèo hèn.. chắc chắn Chúa Giêsu muốn dạy người đương thời và chúng ta mọi thời rằng những gì chúng ta đang có như của cải, quyền uy đều do đã lãnh nhận và phải sử dụng chúng theo thánh ý Cha trên trời, Đấng muốn chúng ta phải yêu thương nhau một cách vô vị lợi, không chút tính toán thiệt hơn. Thể hiện tình yêu với những người nghèo hèn, bé mọn là một cách thế sống tình yêu vô vị lợi cách rõ nét.

Trong một dịp tỉnh tâm, một linh mục bạn thân dí dỏm: "Thưa các cha, con đây học hành kém cỏi, khả năng thì hạn chế. Tóm lại, tài thì mọn và đức cũng kém, cái gì cũng xin thua các cha, may ra có đức khiêm tốn thì trỗi vượt tất cả. Con thành thật thú nhận mình khiêm tốn nhất trần gian". Quả thật, dù là giám mục hay linh mục, dù là tu sĩ hay giáo dân trong bậc hôn nhân, đang độc thân hay góa bụa, dù có chút địa vị hay chỉ là hạng "phó thường dân", thảy chúng ta đều vướng phải cái tội của tổ tiên đó là sự kiêu ngạo. Sự kiêu căng ở đây chủ yếu không phải là thái độ cao ngạo, hống hách cách hịch hỡm đáng ghét, nhưng chính là tình trạng xa rời sự thật. Tên cám dỗ của vườn địa đàng thưở nào đã khiến tiên tổ và cả chúng ta mọi thời quên mất sự thật là chúng ta vốn là loài thụ tạo (x.St 3,1-7). Hữu ý hay vô tình lãng quên sự thật này thì chúng ta dễ lầm tưởng rằng những gì tốt đẹp chúng ta đang là, đang có là do chính bàn tay chúng ta làm nên. Đây chính là căn nguyên của sự kiêu ngạo đáng trách và cũng đáng phạt.

Trong hỏa ngục rất có thể có những người rộng rãi bố thí cho người nghèo. Cũng rất có thể có nhiều người đã từng làm nhiều phép lạ, những người giảng dạy các chân lý cao sâu...nhưng chắc chắn sẽ không hề có bóng dáng một người sống khiêm nhu, biết nhìn nhận và sống trong sự thật. "Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm...Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!"(Lc 23,41-42). Khi biết nhìn nhận sự thật, người gian chịu treo bên phải Chúa Giêsu năm nào đã nhận được thành quả của sự khiêm nhu: "Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng" (Lc 23,43).


Nguồn vietcatholic.org

3048    30-08-2013 19:28:24