Sidebar

Thứ Hai
17.06.2024

Chúa Nhật XXXI Thường Niên C_2

  1. Chúa Nhật 31 Thường Niên C
  2. Tình Thương Làm Thay Ðổi Lòng Người
  3. Sám Hối
  4. Chúa Nhật 31 TN C
  5. Người Tội Lỗi Hay Người Công Chính
  6. Chúa Nhật XXXI Thường Niên
  7. Biến Đổi 
  8. Gặp Chúa - Khơi Nguồn Cho Đổi Mới 
  9. Biến Đổi Nhờ Nhận Ra Chúa Yêu Thương Và Tin Tưởng
  10. Kiểu Mẫu Người Môn Đệ Chúa Kitô: Sống Chia Sẻ
  11. Hoán Cải Từ Con Tim
  12. Sức Mạnh Hoán Cải Của Tình Thương
  13. Ông Giakêu
  14. Trở Về
  15. Viếng Thăm Nhau
  16. Này Ong Gia Kêu, Xuống Mau Đi
  17. Chúng Ta Đã Thực Hiện Những Gì Để Nhận Lãnh Lời Chúa?
  18. Nghệ Thuật Cảm Hoá Của Chúa Giê-Su
  19. Con Người Mới
  20. Xin Chúa Ngự Đến Nhà Con
  21. Lùn Thấp Bé Nhưng...
  22. Chúa Giêsu Đến Để Cứu
  23. Thiên Chúa Từ Bi Và Nhân Hậu
  24. Ơn Cứu Độ
  25. Gia Kêu Mừng Rước Đức Giêsu
  26. Nơi Chúng Ta Gặp Gỡ Thiên Chúa
  27. Gặp Gỡ Đức Kitô
  28. Chúa Nhật 31 Thường Niên C

ÔNG GIAKÊU
Lc 19, 1 - 10
Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Chủ đề của Chúa Nhật XXXI thường niên, năm C cho chúng ta thấy lòng nhân từ của Chúa qua việc Đức Giêsu ghé nhà ông Giakêu, một người lùn tịt làm nghề thu thuế nhưng lại rất dễ thương. Tin Mừng nhấn mạnh đến cuộc hoán cải đẹp của Giakêu mà chỉ mình thánh Luca đã thuật lại.

Tin Mừng của thánh Luca chương 19, 1-10 là câu chuyện đẹp, có hậu ngoài sức tưởng tượng của mọi người vì rằng mở đầu chương 19, thánh Luca thuật lại việc Chúa Giêsu lên Giêrusalem và cuộc khải hoàn vinh quang của Chúa Giêsu, và các việc Chúa Giêsu làm ở Giêrusalem, là cuộc trở lại, biến đổi rất đẹp của Giakêu.

Việc thân hình Giakêu thấp chủn, lùn tịt xấu bên ngoài và đối với xã hội Do Thái lúc đó Giakêu lại là người tội lỗi bởi vì ông làm thủ lãnh thu thuế ở ngay cửa ngõ vào Giêrusalem, một nghề hái ra tiền, một nghề mà người Do Thái thời Chúa Giêsu cho rằng đó là tội tầy đình, không thể tha thứ. Giakêu thấp bé đến nỗi nghe tin Chúa Giêsu sẽ đi ngang qua đó, ông liền leo lên cây sung trước để mong sẽ được thấy Chúa Giêsu. Giakêu đã bị kết án là tội lỗi.

Tuy nhiên, Chúa có đường của Chúa vì như thánh Phaolô viết cho tín hữu Roma :” Ôi! Thẳm sâu thay sự giàu có, khôn ngoan, thượng trí của Thiên Chúa ! Những phán quyết của Người vô phương dò thấu, đường lối của Người không kế dõi theo ! Vì nào ai biết được tâm tư của Chúa, hay có ai đã làm cố vấn cho Người ? Hay có ai đã cho Người trước, để hòng được Người tạ lại ! Vì mọi sự đều do Người, nhờ Người, và vì Người ! Vinh quang cho Người, cho đến muôn đời. Amen ! “ ( Rm 11, 33-36 ) .

Chúa đã quyết định ghé nhà ông Giakêu khi ông chưa kịp ngỏ ý với Chúa Giêsu. Quả thực, Chúa đã làm một cuộc lội ngược dòng thật ngoạn mục. Chúa Giêsu đã bất chấp mọi sự vì tấm lòng đầy yêu thương của Ngài đối với tội nhân. Chúa Giêsu đã bất chấp tất cả để chỉ mong cứu được một linh hồn. Câu chuyện kết thức thật đẹp, một sự hòa hợp đất trời, giữa một kẻ bị gán là tội lỗi với một Đấng cứu độ đầy nhân từ, yêu thương, Ngài tới để tìm người hư mất và được ông ta đón nhận với tất cả lòng thiện chí của mình.

Hôm nay, chính cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu đã đưa Giakêu đến một khúc ngoặt thật bất ngờ. Chúa đã biến đổi hoàn toàn đời ông và cả gia đình vợ con của ông Giakêu. Vâng, Chúa đã đụng tới chỗ nhạy cảm nhất của Giakêu đó là tiền bạc, tài sản của ông. Của cải, tiền bạc đã đánh mất giá trị đời ông và ông đã bị ghép vào hạng tội lỗi. Tuy nhiên, hôm nay và giờ này trước mặt Chúa : Giakêu đã trả lại cho những người ông cho là bị ông làm thiệt hại. Ông đã phân phát tiền bạc cho những kẻ khó nghèo. Nhờ cho đi, ông đã tự cứu thoát ông. Giakêu đã nhận ra tất cả, ông cảm thấy niềm vui và ông được giải thoát, được cứu độ.

Việc hoán cải của Giakêu đã làm cho ông được nhẹ nhõm vui mừng. Thiên Chúa là Cha tình thương luôn đi tìm những gì đã hư mất. Ngài như nguồi Cha đi tìm con chiên lạc, như người cha nhân hiền giang tay rộng đón đứa con hoang trở về. Chúa luôn luôn chờ đón con người trở về với Người. Cuộc hoán cải của Giakêu giúp chúng ta hiểu rõ hình bóng của Giakêu cũng là hình bóng của mỗi người chúng ta khi chúng ta biết trở về, biết thống hối ăn năn, biết bám chặt lấy Chúa và luôn biết tin vào tình thương vô biên của Chúa.

Chính vì thế, chúng ta luôn tin tưởng rằng mỗi lần chúng ta phạm tội mà biết ăn năn sám hối chắc chắn Chúa sẽ nhận lời chúng ta và tha thứ tội lỗi cho chúng ta. Chúa là Đường, là sự Thật và là sự Sống. Chúa xét xử con người theo lẽ công minh. Thiên Chúa là Cha nhân từ chứ không không phải là Vị Thẩm phán khó tính và khắt khe. Chúng ta hãy gặp gỡ Đức Kitô,. Sự hiện diện của Ngài là một hồng ân lớn lao cho chúng ta. Mỗi lần gặp gỡ Chúa là chúng ta đều nhận được niềm vui.

Lạy Chúa Giêsu, xin ban thêm đức tin cho chúng con để chúng con luôn nhận ra lòng từ bi nhân hậu của Chúa. Amen.

TRỞ VỀ
Lc. 19, 1 - 10
Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Truyện kể: Công tước D’Ossome, phó vương xứ Napoli, nước Ý. Một hôm, ông đi thị sát chiến thuyền Galère được chèo chống bởi một đội tù nhân đông đảo. Khi gặp các tù nhân, ai cũng kêu ca bào chữa rằng họ là những người vô tội. Chỉ có một tù nhân ngồi ở phía góc cúi đầu, chẳng nói chẳng rằng. Công tước bước đến và dịu dàng hỏi han. Anh nói: Thưa ngài, tôi chẳng có gì để bào chữa. Tôi chịu xứng với tội tôi đã phạm. Công tước quay ra nói với mọi người: Anh này là phạm nhân, hắn không xứng đáng ngồi nơi đây chung đụng với những người vô tội. Ta ra lệnh trục xuất ngay hắn ra khỏi chỗ này. Và thế là, chỉ nhờ vào lòng chân thành biết nhận lỗi. Người tù nhân đã được giải phóng khỏi kiếp nô lệ.

Thiên Chúa là Đấng thánh thiện tốt lành vô cùng. Vì yêu thương, Chúa tạo dựng muôn loài và muôn vật để cùng chung hưởng hạnh phúc. Nhìn ngắm vũ trụ muôn loài thật quá vĩ đại nhưng tình thương của Chúa còn bao la vĩ đại tuyệt vời hơn. Tác giả sách Khôn Ngoan viết: Trước nhan thánh, toàn thể vũ trụ ví tựa hạt cát trên bàn cân, tựa giọt sương mai rơi trên mặt đất (Kn 11, 22). Thụ tao do Chúa dựng nên đều tùy thuộc vào sự an bài của Chúa. Sự hiện hữu của những mầm sống từ loài thực vật nhỏ li ti cho đến những loài vật khổng lồ đều sống dưới sự chở che quan phòng của Thiên Chúa. Mọi loài thọ tạo đều chia sẻ một nguồn sống từ Đấng Tạo Hóa: Lạy Chúa tể là Đấng yêu sự sống, Chúa xử khoan dung với mọi loài, vì mọi loài đều là của Chúa (Kn 11, 26). Mỗi loài thụ tạo đều góp phần làm vinh danh Thiên Chúa từ đời này tới đời kia.

Luật Chúa như kim chỉ nam giúp cho chúng ta tìm ra con đường chính thật. Giống như luật lệ giao thông, trên mọi con đường lớn nhỏ đều có các bảng dẫn lối chỉ đường, vậy mà nhiều người cũng vẫn bị lạc hoặc phạm lỗi. Những ai có bằng lái xe đều phải học biết luật lệ, khi phạm luật thì bị phạt. Chúng ta không thể kêu ca trách móc ai cả. Đời sống đạo cũng thế, có luật Chúa và luật Giáo Hội, chúng ta cố gắng soi mình để sống tốt và sống cho phù hợp với luật dạy. Chúng ta được nhắc nhở canh thức và thức tỉnh lương tâm sống đạo. Sách Khôn Ngoan dậy rằng: Vì thế, những ai sa ngã, Chúa sửa dạy từ từ. Chúa cảnh cáo họ, nhắc cho họ nhớ họ đã phạm tội gì, để họ bỏ điều ác mà tin vào Chúa (Kn 12, 2). Đừng coi thường những huấn lệnh, giới răn và lời khuyên dạy. Có đôi khi chúng ta đang dìm mình trong vũng lầy mà không nhận ra. Sống trong u mê lầm lạc lại tưởng là đang sống trong hoan lạc.

Phúc âm kể câu truyện Chúa Giêsu đi ngang qua làng, thấy ông Gia-kêu trèo lên cây sung để nhìn xem Chúa. Chúa ngước nhìn lên, ông cúi xuống và hai ánh mắt chạm nhau. Trái tim Chúa xót thương và lòng người thổn thức. Chúa đề nghị ghé thăm nhà ông. Gia-kêu vui mừng đón tiếp Chúa và ông tự xưng thú tội lỗi mình trước mọi người. Ông Da-kêu đứng đó thưa với Chúa rằng: “Thưa Ngài, đay phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn” (Lc 19, 8). Ánh mắt nhân từ của Chúa đã cải hóa được một tâm hồn tội lỗi. Với lòng chân thành hối lỗi đền bù, Chúa đã cứu ông ra khỏi vũng lầy của gian tham tội lỗi.

Chúa Giêsu rong ruổi đi tìm những con chiên bị lạc. Có nhiều con chiên xa lạc chưa biết đường trở về. Chúa đã tìm và đi cứu: Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất (Lc 19, 10). Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy xin Chúa Cha ban thêm các thợ gặt tâm hồn. Cánh đồng lúa chín bao la nhưng thiếu thợ gặt. Còn biết bao nhiêu người đang bị mê lầm trong tội lỗi mà không nhận biết tin mừng cứu độ. Đôi khi chính chúng ta qúa quen với lối sống ấm êm hưởng thụ và cách sống dung túng trụy lạc, chúng ta không muốn từ bỏ con đường cũ và không muốn bước ra khỏi vũng bùn nhơ nhớp. Buông bỏ tội lỗi thì tiếc xót, vì tội là một cái thú. Chúa thường gởi đến những nhân chứng để đánh động tâm hồn. Chúng ta rất may mắn được lắng nghe lời Chúa chỉ dậy và được Giáo Hội nhắc nhở luôn. Chúng ta cần cầu nguyện xin ơn can đảm để có thái độ dứt khoát với tội lỗi qúa khứ.

Khi đọc Kinh Lạy Cha, chúng ta cầu xin rằng xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ. Mỗi ngày sống, chúng ta phải đối diện với rất nhiều cơn cám dỗ. Cám dỗ về danh, lợi và thú. Có nghĩa là khi còn sống, thân xác luôn đòi hỏi những nhu cầu rất tự nhiên. Chúng ta luôn có cơ hội để chọn lựa thái độ sống tốt. Cái danh cái lợi, ai mà không thích. Tiền bạc và lạc thú, mấy ai từ chối. Những thói đời tham sân si kéo ghì con người chúng ta lại. Người ta thường nói tới cái ‘thú’ ở đời. Lạc thú dẫn chúng ta vào những si mê quay cuồng trong thú vui nhục dục, tham lam danh lợi, tiền bạc, gian lận bài bạc và buông thả cuộc sống.

Tội lỗi cứ bám sát cuộc đời của chúng ta. Nếu chúng ta không dứt khoát khước từ và dũ bỏ, nó sẽ không buông tha chúng ta. Chúng ta cần tự xét, nhận lỗi và sửa lỗi mình mỗi ngày. Cũng giống như ngày hôm qua chúng ta đã ăn no, ngày hôm nay đói, lại muốn ăn. Hôm qua, chúng ta tắm rửa sạch sẽ mát mẻ, hôm nay lại thấy dơ, nên phải tắm. Sáng thức dậy ra khỏi nhà và đi làm việc. Chiều lại trở về xum họp gia đình. Ai ra đi cũng mong trở về. Kẻ đi lạc, mong tìm được lối ra. Người rơi vào đường lầm, nên tìm đường trở lại. Khi sa ngã phạm tội, cần phải sám hối ăn năn. Tội hôm qua khác tội hôm nay. Cần xưng thú và lãnh ơn tha tội và xin hứa quyết lòng chừa. Mỗi lần phạm tội đều là tội mới trong hoàn cảnh mới. Chúng ta cần tiếp tục sám hối và trở về. Sống mỗi ngày cho trọn vẹn. Mỗi người được mời gọi đổi thay để sống tốt, thánh thiện và hoàn hảo hơn mỗi ngày.

Chúng ta có trí khôn để nhận biết giá trị của không gian và thời gian. Thời gian thuộc về Chúa. Mỗi ngày là một ngày mới hoàn toàn. Những điều chúng ta xem như cũ, cứ lập đi lập lại, nhưng không phải thế. Lời khuyên cũ được nhắc lại trong hoàn cảnh mới và với tâm tình mới. Mười năm trước chúng ta đã nghe câu truyện đó, hôm nay chúng ta được nghe lại cùng câu truyện nhưng đã có nhiều đổi thay. Khi xưa, chúng ta còn trẻ, còn hăng say và còn nhiều vấp ngã. Hôm nay, chúng ta trưởng hơn một chút, chững chạc hơn một tí và có thể nhẫn nại hơn. Điều quan trọng là chúng ta có tốt lành thánh thiện hơn không, hay vẫn dậm chân tại chỗ và đôi khi còn bị thụt lùi. Cho nên lời khuyên răn mời gọi đổi đời, trở về và sửa sai vẫn là cần thiết.

Trong thơ gởi cho giáo đoàn Thessalônica, thánh Phaolô vừa mời gọi và vừa cảnh báo rằng: Nếu có ai bảo rằng chúng tôi đã được thần khí mạc khải, hoặc đã nói, đã viết thư qủa quyết rằng ngày của Chúa gần đến, thì anh em đừng vội để cho tinh thần dao động, cũng đừng hoảng sợ (2Thes 2, 2). Hãy sống thanh thản trong tư thế chuẩn bị sẵn sàng, chúng ta không phải bồn chồn lo lắng truyện gì sẽ xảy đến. Đừng để lòng bận vướng những oán thù đã qua. Cố gắng sống trọn vẹn giây phút hiện tại trong ân tình với Chúa và với anh chị em.

Lạy Chúa, thân con mỏi mệt, tâm con yếu đuối, lòng con tội lỗi và hồn con lạc xa Chúa. Con xin thành tâm hối lỗi, xin Chúa thứ tha và đưa dắt con về nẻo chính đường ngay.

VIẾNG THĂM NHAU
Lc. 19, 1 - 10
Lm Jos Tạ Duy Tuyến

Đức cố Giáo hoàng Gioan Phaolo II được coi là sứ giả của Thiên Chúa, và là con người của muôn người. Ngài là vị giáo hoàng đầu tiên đã thực hiện trên 100 chuyến công du đến 129 quốc gia để gặp gỡ và chung sống với đủ mọi thành phần trong xã hội, đủ mọi dân tộc trên khắp Năm Châu. Dù tuổi già sức yếu, hai lần té gãy xương, thậm chí cuộc ám sát năm 1981 đã khiến ngài từng ngã qụy vì viên đạn bắn gần vào tim, nhưng tất cả vẫn không làm chùn bước chân của người mục tử đi đến với đoàn chiên và tìm chiên lạc trở về.

Ngài đã thực hiện một chuyến viếng thăm lịch sử, một chuyến viếng thăm đã chinh phục được toàn thể luơng tâm nhân loại. Đó là khi Ngài dừng chân bên bức tường Than Khóc. Tại đây, ngài lập lại lời xin lỗi cho cả một quá khứ hiểu lầm đầy đau thương. Đây quả thực là một cuộc viếng thăm đã san bằng con đường gồ ghề gai góc và mở ra một chân trời mới.

Chân trời của sự tha thứ lẫn nhau.
Chân trời của sự tin tưởng lẫn nhau
Chân trời của những chân lý chung
Chân trời của những trách nhiệm chung
Và chân trời của sự cầu nguyện chung.

Đức thánh Cha Đức Bênêdicto 16 cũng ra đi, để đến với muôn dân. Đặc biệt trong chuyến viếng thăm Thổ Nhĩ Kỳ vào cuối tháng 11/2006, ngài đã thực hiện một chuyến viếng thăm đầy mạo hiểm theo cái nhìn người đời, nhưng là bước đi đầy lòng cậy trông và phó thác vào Thiên Chúa quan phòng. Ngài đã đánh đổ mọi cái nhìn lệch lạc về ngài khi ôm chúc bình an với Đức Thượng phụ Bathôlômêô I, và khi ngài bước vào Đền Thờ Xanh trong sự kính trọng và đầy thiện cảm của anh em Hồi Giáo. Chính chuyến tông du có tính lịch sử này, giới truyền thông trên toàn thế giới cho rằng ngài đã đóng góp: “cho việc xây dựng một thế giới có khả năng nhận ra những chân lý chung trong tình huynh đệ và đối thoại, và không chiều theo đối kháng hay đầu hàng quyền lực sự chết”.

Trong cuộc đời dương thế, Chúa Giê-su luôn đi đến với mọi người. Mỗi bước đi của Ngài luôn để lại dấu ấn đầy yêu thương cho những ai được tiếp xúc với Ngài. Hôm nay, Gia-kêu đã được Chúa viếng thăm. Đây là một hồng phúc dành cho Gia-kêu. Gia Kêu không ngờ mình lại được Thiên Chúa viếng thăm. Những người Do Thái năm xưa càng không ngờ Thầy Giê-su, một vị Thầy đáng kính, một người thánh thiện lại ghé thăm kẻ tội lỗi. Nhưng đây lại là đường lối của Chúa. Chúa đã dùng cách này để mang tình yêu đổi lấy cuộc đời Gia Kêu. Chúa dùng tình yêu để cải hoá người tội lỗi. Chúa đến để tìm kiếm, để cứu chữa những gì đã mất. Chính trong chuyến viếng thăm lịch sử này, Chúa đã đổi đời Gia Kêu để từ đây ông không còn tham lam quyền bính hay tham lam tiền bạc. Gia Kêu đã sám hối và chuộc lại lỗi lầm. Ông đã cho đi những của phù vân. Ông đã biết dùng của cải đời này mà mua lấy bạn hữu Nước Trời mai sau. Ông còn bỏ tiền để đền bù những việc lỗi công bằng bác ái mà ông đã gây ra. Ông đã tìm được sự bình an của tâm hồn sau một lần được Chúa viếng thăm.

Con đường đến với anh em phải là con đường của các môn đệ Thầy Giêsu. Hãy ra khỏi chính mình để đến với anh em. Hãy tìm đến các con chiên lạc mà đưa về ràn. Hãy hội nhập với đời để đem đạo vào đời. Chúa đã đi vào đời để gieo chân lý, niềm tin và hy vọng. Là môn đệ của Chúa cũng cần bước theo dấu chân của Thầy Giêsu. Dấu chân luôn rong ruổi khắp mọi nẻo đường. Dấu chân của người môn đệ đi đến đâu, sẽ để lại cho đời một màu xanh của yêu thương và hạnh phúc bình an. Ưoc mong mỗi người chúng ta hãy can đảm vượt qua những trở ngại từ bản thân, từ môi trường để dấn thân cho Tin mừng của Chúa được đến với muôn người. Hãy xoá mọi thành kiến xấu nơi anh em để có thể hoà hợp với anh em. Hãy xoá bỏ mọi ngăn cách giầu nghèo hay địa vị cao thấp mà sống hoà đồng với anh em. Hãy xoá bỏ mọi hiềm khích hận thù để sống bác ái yêu thương nhau ngõ hầu làm sáng danh Chúa qua những dấu chỉ của tình yêu thương.

Nguyện xin Chúa là Đấng đã viếng thăm Gia-kêu xin cũng lưu lại nơi cuộc đời chúng con để biến đổi chúng con thành những tín hữu biết sống công bình bác ái và dấn thân hết mình phục vụ tha nhân. Amen

NÀY ÔNG GIA KÊU, XUỐNG MAU ĐI
Lc. 19, 1 - 10
Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Đọc đoạn Tin Mừng của thánh Luca 19, 1-10 trong Chúa Nhật 31 thường niên, năm C, chúng ta hết sức bỡ ngỡ và ngạc nhiên. Bởi vì, Giakêu leo lên một cây sung để có thể nhìn Chúa Giêsu đi ngang qua nơi đó; Chúa Giêsu còn đang ở xa đã ngước mắt nhìn lên Giakêu. Đám đông hiện diện hôm đó đang hết xức xôn xao, xì xào vì những điều đang xẩy ra…Câu chuyện ông Giakêu cho chúng ta hiểu gì ?

Ông Giakêu là một người bị khinh dể ở Giêrichô vì Ông làm nghề thu thuế, và hơn nữa Ông còn làm trưởng của những người thu thuế. Giakêu bị khinh thường vì Ông lợi dụng nghề thu thuế để thu những khoản thuế bất chính, lạm thu. Do đó, Ông Giakêu bị liệt kê vào hạng tội lỗi nặng, bị loại trừ và không được xã hội chấp nhận, bị khinh khi, miệt thị. Tuy nhiên, Chúa Giêsu lại nhìn khác, Ngài nhìn với con tim nhân hậu, với cái nhìn khoan dung, độ lượng. Ngài hiểu cõi lòng thâm sâu của Ông Giakêu. Giakêu chạy trước, leo lên một cây sung, Chúa Giêsu nói với Ông: ” Hãy xuống mau “ ( Lc19, 5 ). Ông Giakêu vội vàng leo xuống trong tư thế ngạc nhiên, hơi bối rối, Ông vẫn còn mệt, còn thở vì leo lên cây sung mà. Nhưng Ông đã bất thình lình thưa với Chúa Giêsu: ” Thưa Ngài, nầy đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã cưỡng đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn “ ( Lc 19, 8 ).

Chúa Giêsu đã nói: ” Hôm nay ơn cứu rỗi đã đến cho nhà này, bởi chưng người này cũng là con cái của Abraham “ ( Lc 19, 9 ). Ngày hôm nay của Chúa đã đến với một người, một gia đình mà người ta cho là tội lỗi. Nhưng Chúa lại rất khác: ” …Con Người đã đến để tìm cứu sự đã hư đi “ ( Lc 19, 10 ).

Chúng ta vẫn cảm thấy như có một cái gì thật chua xót, thật lạc điệu, một cái gì đó khựng lại. Đám đông thấy vậy thì lẩm bẩm, xầm xì “ Ông này trọ tại nhà một người tội lỗi “. Đó là sự chua xót của thế gian vì người đời chỉ nhìn bề ngoài nhưng không nhìn thấu suốt tâm hồn con người. Đám đông chỉ nhìn hời hợt bên ngoài. Đám đông không thể thấy con tim của Ông Giakêu, cũng như họ không thấy được con tim nhân hậu của Chúa Giêsu. Một đám đông dân chúng đang xếp hạng Giakêu là người tội lỗi, còn Chúa Giêsu chỉ là một vị ngôn sứ…Họ chưa nhìn ra cõi lòng nhân hiền của Chúa Giêsu. Ông Giakêu trong thâm tâm chỉ dám ước ao nhìn thấy Chúa Giêsu. Nhưng Chúa Giêsu lại cho Ông một đặc ân hết sức lớn lao, một hồng ân vô biên, bất ngờ là cho Ông và cả gia đình của Ông được ơn cứu độ. Ông Giakêu đã một lần được nghe nói Chúa đã chữa lành, làm sáng đôi mắt cho anh mù Bactimê, nên Ông Giakêu muốn được thấy Chúa, nhưng không ngờ Chúa lại chữa lành đôi mắt tâm hồn của Ông Giakêu.

Ông Giakêu đã bừng sáng, Ông đã nhìn thấy Chúa Giêsu không chỉ là một con người bình thường Ông muốn thấy, nhưng Ông đã thấy chính Đấng cứu độ, đã ban ơn giải thoát tội khiên cho Ông và cả gia đình: vợ, con của Ông. Ông Giakêu đã nhìn thấy Đấng đầy lòng thương xót, Đấng hiền lành, khiêm nhường. Ông đã không chỉ nhìn thấy và ham mê của cải tiền bạc, nhưng Ông đã hiểu được thế nào là chia sẻ, thế nào là trao ban, thế nào là sống tinh thần khó nghèo vì thế Ông đã hứa phân chia gia tài và đền thiệt hại cho những kẻ Ông đã làm họ thiệt hại như Ông đã thưa với Chúa Giêsu…

Sau khi đã toại nguyện với những cam kết của mình với Đấng Cứu Thế Giêsu, Ông Giakêu đã vui mừng, hân hoan ngồi đồng bàn với Chúa Giêsu và các môn đệ của Chúa. Ông Giakêu chắc chắn không còn giầu có như xưa, nhưng Ông sẽ hạnh phúc gấp bội. Ông Giakêu chắc chắn không cao thêm được một gang tấc nào, nhưng tâm hồn Ông trở nên cao thương hơn xưa…Chúa đã thương xót Giakêu, Ông đã hoán cải. Giakêu đã bỏ nếp sống cũ, nếp sống tội lỗi để mặc lấy Chúa Kitô, và bước đi trên con đường lương thiện.

Câu chuyện của Ông Giakêu đã nói lên một thực tại của lòng tin: để đón nhận ơn cao cả của Chúa, người ta phải khao khát thực lòng và muốn đón nhận với lòng biết ơn và sau đó, đích thân đến tìm gặp Chúa với lòng tin thâm sâu.

Một điều chúng ta cảm nghiệm sâu xa và xác tín thâm sâu là dù chúng ta ở đâu, dù chúng ta thế nào đi nữa, Chúa vẫn thương yêu chúng ta, Chúa vẫn tìm kiếm chúng ta, vẫn chờ đợi chúng ta và muốn sống gắn bó thân mật với chúng ta và muốn ban ơn cứu độ cho chúng ta. Tuy nhiên, chúng ta luôn phải mau mắn, chóng vánh đón tiếp Chúa với tất cả lòng tin của chúng ta và sống sao cho xứng với Tin Mừng và ơn huệ Thiên Chúa trao ban.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con luôn biết mau mắn quay trở về để qua Bí tích hòa giải chúng con được Chúa tha thứ. Amen.

CHÚNG TA ĐÃ THỰC HIỆN NHỮNG GÌ ĐỂ NHẬN LÃNH LỜI CHÚA?
Lc. 19, 1 - 10
Lã Mộng Thường

Bài Phúc Âm Luca đoạn 19, câu 1 đến câu 10 dùng dụ ngôn ông Gia Kêu vì thân người bé nhỏ đành leo lên cây sung để có thể chiêm ngưỡng Chúa Giê su và được Ngài ghé qua dự tiệc nơi nhà ông. Bài Phúc Âm kết luận với câu nói, “Người nầy cũng là con cái Abraham. Vì chưng, Con Người đến tìm kiếm và cứu chữa điều gì đã hư mất” (Lc. 19: 10).

Thử xét vị thế của ông Gia Kêu nơi xã hội Do Thái thời hai ngàn năm trước. Ông là người mang nhiệm vụ thâu thuế cho chính quyền La Mã nên bị coi là kẻ hợp tác với ngoại bang đàn áp dân chúng nên bị coi là kẻ tội lỗi theo quan niệm thời bấy giờ. Tất nhiên, so với dân Do Thái, dẫu bị coi là kẻ tội lỗi nhưng có quyền hành, và dĩ nhiên thời nào chẳng thế, quyền lực, tiền tài luôn luôn sánh đôi nơi bất cứ triều đại nào nhất là trong một xã hội bị trị.

Tuy nhiên, bởi nghe nói về Chúa Giê su, ông muốn nhận biết con người của Ngài ra sao nhưng vì thân xác thấp bé nên đành chấp nhận trèo lên cây để được nhìn thấy cho rõ ràng. Có thể nói, chính vì lòng thực sự hay chân thành hiếu kỳ nên đã được Chúa Giê su ghé qua nhà. Giả sử ông Gia Kêu dù háo hức muốn nhận biết Chúa Giê su nhưng vì cảm thấy với thân xác bé nhỏ không thể chen lấn hoặc nhìn thấy Ngài khi đứng cách xa nơi Ngài đi qua thì đâu có cơ hội được diện kiến Ngài.

Mỗi người chúng ta được sinh ra với lòng khát khao nhận biết Thiên Chúa. Nói cách khác, ai cũng mang nỗi khắc khoải muốn nhận biết về thực thể chính mình, tự đâu mình được sinh ra dưới thân phận kiếp người; mục đích cuộc đời của mình là gì; và sau khi thân xác qua đi, cuộc đời mình sẽ ra sao. Thử dành đôi phút chân thành đối diện với lòng, mình đã thực hiện, đã làm gì để thoả mãn lòng khát vọng bẩm sinh đã bao năm thao thức.

Chúng ta tin, tuyên xưng Lời Chúa là lời hằng sống. Chúng ta tin, không những thế, chân thành chấp nhận Chúa Giê su là đường, là sự thật, và là sự sống. Thử hỏi, chúng ta đã có thái độ nào đối với đường lối Chúa Giê su đã chỉ dẫn. Chúng ta đã làm gì với sự thật Chúa Giê su đem đến cho chúng ta. Sự sống Chúa Giê su rao giảng là gì, có ảnh hưởng hoặc liên hệ gì đến cuộc sống nhân sinh trong những ngày hiện diện nơi trần thế này.

Điều hiển nhiên ai cũng kinh nghiệm, không ai có thể ăn dùm, uống dùm cho bất cứ ai thì tất nhiên cũng không ai có thể suy nghĩ, nghiệm chứng, thực chứng dùm cho bất cứ ai. Hơn nữa, có những điều, sự vật, môi trường tốt, may mắn cho người này nhiều khi trở thành tai hại hay bất hạnh cho người khác. Như vậy, không ai có thể nghiệm chứng, suy tư Lời Chúa, Phúc Âm dùm cho bất cứ ai.

Thế nên, chúng ta cần tự hỏi đã được bao nhiêu phút trong một ngày mình thực sự suy tư, đặt vấn đề để tìm hiểu lời giảng dạy của Chúa Giê su, hay chỉ có thói quen chờ người khác suy nghĩ và giải thích. Sự thật hiển nhiên, trong khi đói, dẫu nghe ai đó giải thích về giá trị của thực phẩm nào đó dẫu tuyệt vời đến mấy, đói vẫn hoàn đói. Chúng ta phải ăn. Sự giải thích về Lời Chúa thuộc về kiến thức chẳng khác chi giải thích món ăn. Suy nghiệm, nghiệm chứng và áp dụng nơi cuộc đời mình mới bổ ích cho hành trình đức tin, hành trình tâm linh.

Phúc Âm có câu, “Trong có tiên tri đã có viết: Hết thảy chúng sẽ là môn sinh của Thiên Chúa. Phàm ai nghe và học nơi Cha thì sẽ đến với Ta” (Gn. 6:45). Nghe và học nơi Cha có nghĩa suy nghiệm, suy tư, nghiệm chứng về thực thể hiện hữu của mình. Mình là gì; mình là ai; những sự việc đã xảy đến nơi cuộc đời tự đâu phát sinh và có ảnh hưởng cũng như mình đã học được bài học nào.

Ông Gia Kêu vì thân hình bé nhỏ thực hiện việc leo lên cây để được nhìn thấy Chúa Giê su. Chúng ta đã dành được mấy phút trong một ngày để suy nghiệm về lời giảng dạy của Chúa Giê su qua Phúc Âm hay chỉ đợi người khác giải thích, nghiệm dùm, ăn dùm

NGHỆ THUẬT CẢM HOÁ CỦA CHÚA GIÊ-SU
Lc. 19, 1 - 10
LM Inhaxiô Trần Ngà


Đứng trước tội nhân hay những người sa ngã, hư hỏng, dư luận xã hội thường lên án, khinh miệt, loại trừ… Đó là thái độ vốn có của những người Do-thái có tiếng là đạo đức như các thầy tư tế, các luật sĩ và biệt phái đối với những người tội lỗi như Gia-kêu.

Ngay cả Chúa Giê-su, dù Ngài chỉ tiếp đón những người tội lỗi thôi thì cũng đã bị tai tiếng rồi. Khi “Các người thu thuế và các người tội lỗi lui tới với Đức Giê-su để nghe Người giảng. Những người Pha-ri-sêu và các kinh sư bèn xầm xì với nhau : "Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng."
Chính thái độ khinh thị và loại trừ người tội lỗi như thế lại càng xô đẩy người sa ngã lún sâu hơn trong tội lỗi của mình. Cư xử như thế là dìm xuống chứ không phải là nâng lên. Còn về phần Chúa Giê-su, Ngài có cách cư xử rất đẹp đối với người tội lỗi và chính cách cư xử cao nhã nầy có một sức cảm hoá thần diệu. Cung cách đối xử của Ngài là niềm nở tiếp đón và trân trọng họ, coi họ như bạn bè. Thế nên dư luận hồi ấy đã xem Ngài “là tay ăn nhậu, bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi.” (Mt 11,19)

Chúa Giê-su thừa biết Gia-kêu là ai và thuộc hạng người nào, nhưng Chúa Giê-su không nhìn Gia-kêu bằng ánh mắt khinh miệt của người Do-thái, nhưng đối xử với ông bằng tấm lòng trân trọng và yêu thương.
Khi thấy Gia-kêu vắt vẻo trên cành cây chờ xem Chúa Giê-su đi qua, Chúa vui vẻ thân mật vẫy chào ông trước: "Này ông Gia-kêu…”
Chúa Giê-su gọi đích danh ông như đã từng quen biết từ lâu. Việc gọi tên thân mật nầy khiến ta nhớ lại lời Chúa Giê-su nói về quan hệ gắn bó giữa người chăn chiên tốt và đoàn chiên của mình: “Chiên nghe tiếng của anh và anh gọi tên từng con chiên” (Ga 10,3).
Và Chúa Giê-su tiếp: “xuống mau đi!”. Có lẽ đây không phải là lời thúc giục mà chỉ là lời vui vẻ thân mật ở giữa bạn bè. Rồi Chúa Giê-su lại muốn thắt chặt mối tình bằng hữu qua việc cùng ăn uống đồng bàn với Gia-kêu, và hơn thế nữa, đề nghị ở lại tại nhà ông để rộng giờ hàn huyên tâm sự: “Hôm nay, tôi sẽ ở lại nhà ông”.
Sáng kiến tình yêu của Chúa Giê-su lúc đó chắc hẳn phải khiến cho Gia-kêu sửng sốt. Một bậc thầy khả kính và nổi tiếng như Đức Giê-su mà lại đến trọ tại nhà một người tội lỗi như Gia-kêu ư? Chuyện thực mà tưởng như mơ! Và Gia-kêu vô cùng sung sướng đón tiếp Đức Giê-su vào nhà mình.

Thái độ yêu thương, trân trọng và quý mến của Đức Giê-su đối với Gia-kêu đã làm cho ông đổi đời thật sự, một sự thay đổi tận căn ít ai ngờ tới.
Bấy giờ Ông Gia-kêu đứng lên thưa với Chúa rằng : "Thưa Ngài, đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn."
Dám đem nửa phần gia sản lớn lao của mình trao ban cho người nghèo khó, lại chấp nhận đền gấp bốn những thiệt hại đã gây ra… quả là một nghĩa cử anh hùng! Từ một người đáng khinh, Gia-kêu bỗng trở thành một người rất đáng khâm phục!

Kho tàng văn học thiền có ghi lại câu chuyện sau đây. Thiền sư Sengai có một anh đệ tử hư hỏng, đêm đêm thường leo tường trốn ra ngoài chơi đêm. Vị thiền sư biết được điều đó nên vào đêm nọ, sau khi phát hiện người đệ tử vượt tường bằng cách leo lên một chiếc ghế khá cao, vị thiền sư đi đến vị trí đặt ghế, nhắc chiếc ghế bỏ sang bên rồi đứng vào chỗ đó.
Trong đêm tối, người học trò leo tường trở vào, rồi theo thói quen đặt chân lên ghế để nhảy xuống, không dè lại đặt chân lên lưng thầy. Khi phát hiện thầy đứng ngay trước mặt, anh học trò hoảng sợ chờ đợi những lời khiển trách nặng nề. Thế nhưng cuối cùng vị thầy chỉ nói mấy lời yêu thương: “Áo con ướt đẫm sương đêm rồi! Mau vào thay áo ngay kẻo cảm lạnh!”.
Thế là từ đó, người học trò không bao giờ còn đi chơi đêm nữa.

Những lời trách móc, lên án, những thái độ khinh bỉ hay loại trừ chỉ tạo nên nguy cơ làm cho những con người tội lỗi lún sâu vào con đường lầm lạc.
Nhưng chính thái độ tôn trọng và tấm lòng yêu thương sẽ tạo nên sức cảm hoá diệu kỳ. Đó là nghệ thuật cảm hoá lòng người rất khôn khéo mà Chúa Giê-su đã sử dụng để làm nên phép lạ nơi con người Gia-kêu, biến cải một con người tưởng là ‘hết thuốc chữa’ trở thành một người mới rất đáng khâm phục.

Lạy Chúa Giê-su, trước người lầm lỗi,
Xin cho chúng con thay thế những lời kết án bằng những lời lẽ yêu thương;
Xin cho chúng con biết thay đổi cái nhìn khinh khi bằng cái nhìn tôn trọng;
Xin cho chúng con biết thay thế thái độ xa lánh bằng thái độ tiếp đón ân cần…
Nhờ đó, chúng con sẽ tạo cơ hội cho nhiều anh em lầm lỗi có cơ may phục thiện và đổi mới cuộc đời.

CON NGƯỜI MỚI
Lc. 19, 1 - 10
Pm. Cao Huy Hoàng


“Lạy Chúa trước thánh nhan Ngài, toàn thể vũ trụ ví tựa hạt cát trên bàn cân, tựa giọt sương mai trên đất. Nhưng Chúa xót thương hết mọi người, vì Chúa làm được hết mọi sự. Chúa nhắm mắt làm ngơ, không nhìn đến tội lỗi loài người, để họ còn ăn năn hối cải” (Kng 11,22-23)

Đó là thông điệp tác giả sách Khôn Ngoan gửi đến cho con cái Israel ở Ai Cập khi họ sinh lòng thù ghét những tay sai của đế quốc thống trị, đến nỗi họ muốn Thiên Chúa trừng phạt, tru diệt bọn chúng ngay tức khắc.

Vâng, Thiên Chúa không xử trí với con người tội lỗi theo cách của con người, đúng như thông điệp sách Khôn ngoan đã dạy. Không chỉ trong thời Dân Thiên Chúa lưu đày, mà ngay hôm nay, người gian ác, kẻ tội lỗi, người hô to đã đảo Thiên Chúa, cấm cách bức bách đạo Chúa…. vẫn sống nghênh ngang, vẫn thói vênh vang, vẫn tự do trên đường “thênh thang ta bước” ngông cuồng đi về phía phủ nhận Thiên Chúa, phủ nhận cả công trình tình thương của Ngài. Có người nói: “Sống chung với lũ”, còn dễ sống hơn “sống chung với lũ”. Lòng thù của con người thời nào cũng thế, có thể nói đến mức quá độ, khi nỗi áp bức của “lũ tay sai cho giai cấp thống trị”, “cho satan”, hoành hành ngang ngược. Nhưng, đối với “Thiên Chúa đầy lòng yêu thương, thì Ngài vẫn yêu thương mọi loài hiện hữu. Vì giả như Chúa ghét loài nào, thì Ngài đã chẳng dựng nên” (Kng 11,24). “Chúa sửa dạy từ từ. Ngài cảnh cáo họ, nhắc cho họ nhớ họ đã phạm tội gì, để họ bỏ điều ác mà tin vào Chúa” (Kng 12, 2).

Khác với con người, Thiên Chúa không có lòng thù. Thiên Chúa chỉ có lòng thương. Đức Giêsu Kitô đã đến và mặc khải tình thương bao la ấy. Trang Tin Mừng hôm nay chứng minh cho điểm nầy. Dưới con mắt thế gian, thì Gia-kêu, tên trưởng ty thuế vụ, cũng chẳng khác gì mấy tên tay sai cho ngoại bang, cho giai cấp thống trị thời Ai cập. Giàu có mua được chức trưởng ty, rồi thu quén của dân bù khoản chi ấy. Cuối cùng, nhân dân là người gánh chịu. Bị một tên vừa lùn vừa bé, vừa đè đầu cưỡi cổ, vừa móc túi lấy tiền, làm sao mà người dân không hậm hực tức tối. Cách sống đó không chỉ là tội lỗi mà còn là tội ác. Thế mà, “Chúa nhắm mắt làm ngơ”, “Chúa đã sửa dạy từ từ” cách nào đó. Chúa đã “cảnh cáo” cách nào đó” để cho ông ta biết ông ta “đã phạm tội gì” để rồi hôm nay “ông đã bỏ điều ác mà tin vào Chúa” (xem Kng 11,24).

Quả vậy, khi nghe tin Đức Giêsu đi ngang qua Giêricô, ông tìm cách để xem cho biết Ngài là ai. Sự khao khát tìm gặp Đức Giêsu, đã phát sinh trong ông cái sáng kiến “leo lên cây sung” cho dễ nhìn. Ông đã bất ngờ, vì khi chưa kịp lên tiếng gì, thì Chúa Giêsu đã ngước nhìn lên và bảo “Gia-kêu, ông xuống đi, vì hôm nay, tôi sẽ ở lại nhà ông”. Chúa Giêsu cũng đã có một sáng kiến bất ngờ : “hôm nay tôi sẽ ở lại nhà ông”, một sáng kiến ngoài kế hoạch trên đường về Giêrusalem- một sáng kiến đảo lộn cái ý nghĩ thấp bé của loài người: “Nhà người này tội lỗi, mà ông ấy cũng ghé thăm” (Lc, 19,7). Hai sáng kiến của lòng khao khát nơi “con người bị cho là tội ác tày trời”, và của tình thương “Thiên Chúa kiên nhẫn chờ đợi”đã gặp nhau, và trổ sinh một cuộc đổi đời kỳ diệu. Sự biến đổi thâm sâu trong cõi lòng “tên Gia kêu gian ác”, đã khiến ông thốt lên lời quyết tâm: “Thưa Ngài, tôi xin lấy phân nửa tài sản của tôi mà cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn”. Cuộc sống mới mở ra, trước tiên là lấp lại cho đầy cái hố sâu bất công, tham nhũng, cùng với việc biết bỏ đi cái lòng ích kỷ nhỏ nhoi để nghĩ đến những người nghèo do chính tội tham nhũng của mình gây nên.

Thiết nghĩ, trước đó, ông Giakêu đại diện cho những con người chưa nhận được ánh sáng của Thiên Chúa, ánh sáng của Tin mừng. Ông đã sống và làm việc theo cách suy nghĩ rất con người tự nhiên trong cuộc chạy đua của danh vọng và sinh tồn. Sự gian ác của ông như là một quy luật tất yếu trong cuộc vật lộn với cuộc sống “mạnh được yếu thua”. Suy nghĩ ông chỉ có thế, thấp bé và ngắn ngủn như vóc dáng ông lùn tịt. Nhưng khi gặp được Đức Kitô, ông bỗng thay đổi thành một con người mới, con người của Tin Mừng, con người được ơn cứu độ. Chúa Giêsu nói: “Hôm nay ơn cứu độ đã đến cho nhà nầy, bởi người nầy cũng là con cháu của tổ phụ A-bra-ham” (Lc 19 9). Câu nói nầy minh chứng cho Lời Thiên Chúa trong sách Khôn ngoan: “ Chúa không ghê tởm bất cứ loài nào Chúa đã làm ra” (Kng 11,24), và Ngài đã sai Con của Ngài là Đức Giêsu “đến để tìm và cứu những gì đã hư mất” (Lc 19,10).. Chúa Giêsu đã tái lập cho ông một tương quan với Thiên Chúa và ông đã thể hiện sự công bằng theo lề luật Chúa- điều kiện ắt có và đủ để ông bắt đầu một cuộc làm chứng về Thiên Chúa và vào được Nước của Ngài

Vẫn còn trong tôi, trong bạn, trong thế giới loài người chúng ta, những suy nghĩ ngắn ngủn thấp bé và cách sống của con người cũ, con người gian ác tự nhiên trong cuộc sinh tồn như Gia kêu. Và luôn còn một Thiên Chúa kiên nhẫn đợi chờ con người tiếp nhận ánh sáng của cuộc sống mới nơi Đức Giêsu Kitô, nơi Tin mừng. Tiếc là đã có người nhìn thấy ánh sáng, nghe biết Tin Mừng, nhưng không tiếp nhận vì không muốn chia tay với chủ thuyết không Thiên Chúa, chưa khao khát một lối tìm về, lại muốn giữ cách sống cũ của con người cũ để được những lợi lộc của trần gian. Thiên Chúa yêu thương đã kiên trì cảnh cáo, giáo dục bằng nhiều cách. Đã có người bỗng dưng thuộc lòng tiểu sử các Thánh Tử đạo Việt Nam dịp phong thánh 19-6-1988, có cơ hội tiếp cận với Thiên Chúa, với những chứng nhân Đức Kitô, nhưng rồi sức cuốn hút của đồng tiền, quyền lực và sự thoải mái thế gian mà Satan ban tặng vẫn làm mờ mắt họ, và họ chưa tiếp nhận ánh sáng. Đã không ít cơ hội dành cho họ, đã không ít nỗ lực của những chứng nhân Chúa Kitô trong một bối cảnh chấp nhận cách kiên trì, nhưng vẫn chưa thấy nhiều tín hiệu của “Gia kêu mới”. Vì thế, cơn giận loài người của con cái Chúa đôi lúc không kiềm hãm nỗi, có khi còn buồn trách Chúa sao cứ để cho sự dữ hoành hành, cho người gian ác vẫn vênh váo trong khi vẫn phạm hết tội ác nầy đến tội ác khác trầm trọng hơn…

Bài học của Tin mừng hôm nay không cho phép tôi tiếp tục dòng suy tư theo kiểu loài người cũ rích như thế. Ý hướng của Thiên Chúa về cuộc đấu tranh cho Nước Trời là cuộc sống Chứng Nhân Chúa Kitô cách cụ thể qua đời sống công chính, đời sống mới của Tin Mừng. Không nhất thiết phải phóng loa la lên ầm ỉ để những người gian ác nghe được, nhưng là thể hiện khuôn mặt và tính cách của Đức Kitô mà họ phải nhìn thấy, nếu họ chưa muốn “leo lên cây sung của Gia kêu với thành ý kiếm tìm”.

Thiên Chúa kiên nhẫn chờ đợi tội nhân, trong đó trước tiên là tôi, là bạn, hãy khoan nghĩ đến ai khác. Và khi chính chúng ta, đổi đời thành những “Gia kêu mới”, thì cách sống của chúng ta sẽ thu ngắn thời gian chờ đợi, tìm kiếm của Thiên Chúa trong công cuộc cứu chữa những gì đã hư mất. Nhạc Sĩ Phạm Duy cũng đã ngộ ra: “Kẻ thù ta đâu có phải là người. Giết người đi thì ta ở với ai. Kẻ thù ta tên nó là gian ác, tên nó là vô lương….”. Hãy giết kẻ thù ta trong chính con người ta trước đã, và mặc lấy sự công chính của Chúa Kitô, làm cánh tay, làm chứng nhân nối dài cho ơn cứu rỗi của Thiên Chúa. Tác động qua lại của việc làm chứng cho Thiên Chúa tương tự xảy ra giữa Chúa Giêsu và Giakêu sẽ xảy ra với chúng ta, như Thánh Phaolô quả quyết: “ Danh của Chúa chúng ta là Đức Giêsu, sẽ được tôn vinh nơi anh em, và anh em được tôn vinh nơi Người, chiếu theo ân sủng của Thiên Chúa chúng ta và của Chúa Giêsu Kitô” (2Th. 1,12).

Lạy Chúa, Chúa luôn kiên nhẫn đợi chờ người tội lỗi trở về, và ban ơn canh tân trong lòng họ. Xin cho chúng con biết mình tội lỗi, biết tìm về với Chúa, và được Chúa biến đổi thành con người mới, chứng nhân cho công trình cứu rỗi của Thiên Chúa, qua Chúa Kitô. A men.

XIN CHÚA NGỰ ĐẾN NHÀ CON
Lc. 19, 1 - 10
Lm Jude Siciliano OP


Mỗi khi người bán địa ốc muốn quảng cáo để bán nhà, họ thường chú trọng 3 điều này: địa điểm, vị trí và hướng tốt. Ông Da-Kêu là một người giàu có nhà cửa. Thánh Luca nói rằng ông ta là người chỉ huy những người thu thuế ở thành phố Jericho.Thành phố đó tọa lạc tại địa điểm của một nơi buôn bán sầm uất nên rất giầu có. Do vậy ở đó có thể thu rất nhiều thuế cho đế quốc La Mã, và là nơi có nhiều người thu thuế sinh sống. Thành phố đó cũng là nơi người giầu có thường đến nghỉ mát. Vua Hérod cũng có một dinh thự xây dựng ở đó. Dinh thự có nhiều vườn hoa và một rạp hát. Ở đất Palestine là nơi nhiều sa mạc, không có cây cối. Nhưng Jericho là một thành phố có nhiều cây cối và hoa quả. Nhiều người giàu có sinh sống ở đó, và ông Da-Kêu là một trong số những người giầu ở đó. Dân Do Thái không ưa những người thu thuế cho người La Mã. "địa điểm, vị trí và hướng tốt" Jericho là địa điểm giúp Da-Kêu làm ra nhiều tiền.

Hôm nay chúng ta gần đến cuối năm phụng vụ, và phúc âm thánh Luca đã được đọc trong những chúa nhật năm C. Những bài phúc âm chúng ta đã nghe Chúa đã chỉ trích người giàu, và Chúa đã cho họ biết họ sẽ gặp khó khăn để vào nước trời.. Ngay trong đoạn trước bài phúc âm Chúa khuyên người giầu: "Những người có của thì khó vào nước Thiên Chúa biết bao! Quả vậy con lạc đà chui qua lổ kim còn dễ hơn người giàu có vào Nước Thiên Chúa"(18:24-25).

Ông Da-Kêu chọn một địa điểm tốt để được thấy Chúa và để được Ngài thấy ông, ông ta tìm một vị trí tốt là trèo lên cây sung. Chúng ta đã nghe chuyện này nhiều lần rồi. Nhưng hôm nay chúng ta không nên bỏ qua những điểm đặc biệt trong chuyện vì Chúa trong trường hợp này không theo lẽ thường mà phúc âm được trình bày. Sau khi được nghe Chúa chê bai chỉ trích những người giầu có, chúng ta nghỉ nếu Chúa thấy ông Da-Kêu chắc Chúa không ngần ngại chỉ trích ông ta và dùng ông ta làm thí dụ điển hình người tội lỗi cần phải ăn năn. Đáng lý ông Da-Kêu phải được báo trước là Chúa chẳng ưa thích gì ông ta đâu.

Chúa có lẽ cũng sẽ giảng dạy về những bất công của người giàu bóc lột người nghèo. Đây là điều có lẽ chúng ta nghỉ như vậy. Và có lẽ đám đông quần chúng theo Chúa cũng nghỉ như vậy, vì phần đông họ là những nạn nhân của ông Da-Kêu. Nhưng Chúa lại không làm như chúng ta nghĩ. Chúa đã không theo lẽ thường, và Ngài đã cho thấy Ngài nghỉ như thế nào. Chúa chào đón ông ta và ban ơn Ngài cho ông ta như Chúa đang ban ơn Ngài cho chúng ta hôm nay.

Ngày hôm đó trên đường Chúa đi chắc có nhiều người nhận được ơn Chúa ban. Có lẽ chúng ta cũng thuộc về những người ấy. Đó là những người tốt, làm ăn trung thực và thiếu thốn, họ muốn tìm một chổ để trông thấy một thầy rao giảng nỗi tiếng mà biết bao nhiêu người hy vọng được nhận diện. Tại sao Chúa lại không chọn một trong những người ấy để đến nhà một người đạo đức được kính nễ trong dân chúng? Sao lại đến nhà ông Da-Kêu? Nếu hôm đó chúng ta có ở đó và khi nghe Chúa nói với Da-Kêu, chắc chúng ta cũng không khỏi phiền trách. Ông Da-Kêu đã làm gì ? có chăng chỉ là việc tìm một địa điểm tốt để trông thấy Chúa, để được Chúa nhận ra ông và tự nghỉ Chúa sẽ đến nhà ông? Chúng ta nên nhớ đây là một chuyện về ơn Chúa, và chúng ta không đáng được ơn Chúa. Chúa ban ơn Ngài cho chúng ta sau khi chúng ta trông mong được bám vào ơn Chúa và vui mừng đón nhận ơn Chúa như ông Da-Kêu đã làm.

Một trong những đề tài chính của phúc âm thánh Luca là sự hoan hỉ vui mừng. Chúng ta đang sửa soạn kết thúc năm phụng vụ sau khi đã đọc hết phúc âm thánh Luca, và sự hoan hỉ đã được ban cho chúng ta ngay từ đầu phúc âm thánh Luca. Ơn Chúa đến là khi Chúa ban cho ai điều gì và người đó cảm nhận đón chào ơn sũng trong đời họ bằng một thái độ vui mừng. Chúng ta còn nhớ sự vui mừng của các mục đồng khi nghe thiên thần báo tin Chúa sinh ra (2:10), hay khi Chúa nói với những người đang lắng nghe Chúa "các con hãy nghe và đón nhận những lời ta dạy"(8:13). Sau nầy khi Chúa sống lại, Ngài hiện ra với 11 tông đồ, thánh Luca viết:"... vì mừng quá, các ông vẫn chưa tin và còn đang ngỡ ngàng"(24:41). Sự vui mừng hoan hỷ xảy đến mỗi khi chúng ta nghe lời Chúa. Đó chính là sự vui mừng của ông Da-Kêu ngay khi nghe Chúa muốn đến nhà ông ta để dùng bữa. Đó là sự vui mừng của những người được ân sũng mà cảm thấy bất xứng.

Chúa đang mời chúng ta đến đón nhận tình thương yêu của Chúa. Có lẽ ông Da-Kêu dã phạm nhiều lỗi và không đáng được những người đi theo Chúa ngày hôm đó chú ý đến để cho ông ta được trông thấy Chúa. Dụ ngôn trước nói về Chúa chữa người mù. Người đó đã thưa với Chúa :"Lay Ngài xin cho tôi được thấy."(18:35-43). Chúa chữa ông ta ngay ở ngoại thành Jericho. Bây giờ Ngài đã vào trong thành phố. Ông Da-Kêu được thấy một cảnh khác là thấy Chúa có vẽ như muốn tìm thấy ông ta, vì ông không biết Chúa đang đi ở đâu. Chúa cho biết Ngài ban ơn cho một người bất xứng:"Vì Con Người đến để tìm và cứu những kẻ đã hư mất."(19 :10)

Đoàn người theo Chúa ngạc nhiên không phải vì cử chỉ của ông Da-Kêu, vì ông đã leo lên cây, Thật ra họ bàng hoàng vì Chúa. Họ nghĩ đáng lẽ Chúa phải biết rõ ông đó là ai chứ. Sao một người giảng đạo tốt lành như vậy lại đến ở nhà một người tội lỗi? Câu chuyện này dường như nhắc lại chuyện người Phariseu cầu nguyện trong đền thờ trong bài phúc âm chúa nhật tuần trước. Người này không nghỉ mình là người tội lỗi, và bởi thế nghỉ rằng mình không cần gặp đấng đang đi tìm kiếm những người đã bỊi hư mất.

Nhưng ông Da-Kêu hiểu điều đó và đón nhận ơn Chúa. ông ta sẽ dọn bữa ăn ở nhà ông để đón Chúa. Và ơn đó đã làm cho ông thay đổi. Chúa không đòi hỏi ông phải làm điều gì. Nhưng ông ta tự dêng một nữa của cải của mình cho người nghèo và đền lại cho những ai mà ông đã cưỡng doạt, " trả đến gấp bốn lần …" Ơn Chúa đã thay đổi đời sống ông ta. Bây giờ ông đã thấy nhưng đoàn người theo Chúa vẫn không thấy, họ vẫn còn mù, họ không thấy ơn Thiên Chúa ban cho họ qua Chúa Giêsu. Đời sống của ông Da-keu là một đời sóng an nhàn, nhiều tiện nghi. Nhưng ông ta cũng là một người bị giam cầm, ông ta cần được giải phóng, và lời Chúa đã giải phóng ông ta. Từ nay ông ta không còn sống như trước và bắt đầu một đời sống mới. Bây giờ ông ta có Chúa đến nhà và không những đến với ông ta, mà còn đến với tất cả gia đình ông. Chúng ta không buộc ai vào nhà chúng ta được. Chúng ta ai cũng có thể thay đổi đời sống vì Chúa luôn mời gọi chúng ta thay đổi. Chúa luôn tìm kiếm chúng ta, kêu gọi mỗi người trong chúng ta và luôn mong muốn đến ngủ trong nhà chúng ta.

Trong câu chuyện hôm nay, thánh Luca dùng hình ảnh Da Kiêu để giúp chúng ta hiểu về mình. Ông Da-Kêu là người lùn. Có lẽ đối với mọi người có phần thấp bé, không đạt tiêu chuẩn bình thường. Có lẽ chúng ta cũng thế: không mấy rộng rải; chúng ta không có lòng bao dung thông cảm, không giàu lòng tha thứ. Hôm nay chúng ta đến nhà thờ như chúng ta leo lên cây sung, hy vọng sẽ nhìn thấy được Chúa như ông Da-Kêu. Nghe lời Chúa giúp chúng ta nhìn thấy mình rõ hơn và nghe được ước vọng của Chúa là muốn đến ở với chúng ta và làm chúng ta thay đổi và trở nên hoan hỉ vì chúng ta đã nghe và đón nhận được tin mừng.

Nói cách khác,là chúng ta hy vọng, không những chỉ để nhìn thấy Chúa Giêsu, mà còn trông mong chú mục vào Ngài. Điều chúng ta hy vọng sẽ xãy ra tại nhà thờ ngày hôm nay. Đây là cây cao mà chúng ta đến để leo lên, và Chúa sẽ nhìn thấy chúng ta, gọi tên chúng ta và nói là Ngài muốn đến ngự trong lòng chúng ta. Đó là điều mà ông Da-keu và gia đình đã được Chúa ban tặng một cách nhưng không khi Chúa ngồi vào bàn ăn với họ.

Trở nên một Kitô hữu không hẵn là một chuyện cá nhân. Chúng ta không thể cứ ngồi trên cây cao để nghe lời Chúa, và nhìn đoàn người đi với Ngài. Chúng ta không thể dấu được đức tin của chúng ta. Nhà thờ là nơi chúng ta gặp Chúa. Ông Da-Kêu đưa Chúa về nhà với gia đình, ở đó cả gia đình ông ta được hưởng ơn Chúa vì họ được gặp Chúa Giêsu. Ông Da-Kêu không phải được gọi để trở thành một tu sĩ ẩn mình trên cây cao. Ông có gia đình như một thường dân, ông sống với xã hội với lời mời gọi của Chúa là ông sẽ giử lời đã hứa với Chúa:"Thưa Ngài này đây phân nữa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã cưỡng đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn."

Người bán địa ốc nói đúng " địa điểm, vị trí và hướng tốt.". Chuyện ông Da-Kêu cho biết địa điểm quan trọng nhất cho ngôi nhà chúng ta là gặp được Chúa Kitô. Rồi Chúa sẽ nói riêng với chúng ta và ban ơn Ngài cho chúng ta.Nhờ thế chúng ta sẽ đáp lại Chúa bằng sự thay đổi đời sống chúng ta. Nhưng chúng ta không cứ ngồi ở địa điểm đó. Chúng ta sẽ đi đến những địa điẻm khác, vì chúng ta đã được ơn thánh Chúa thay đổi. Và với lòng đầy hoan hỉ và quyết chí thay đổi đời sống chúng ta ở bất kỳ địa điểm nào: tại nhà, nơi làm việc, ở trường học và lẽ cố nhiên là trong xã hội toàn cầu.
Chuyển ngữ Fx Trọng Yên,OP.

LÙN THẤP BÉ NHƯNG…
Lc. 19, 1 - 10
Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Đọc câu chuyện ông Gia kêu có lẽ ai cũng phải nực cười xen lẫn cảm động. Cái nực cười thứ nhất là Gia kêu thấp bé, vóc người không giống ai. Cái nực cười thứ hai, ông Gia kêu làm trưởng ban thu thuế thời Chúa Giêsu. Gia kêu lúc nào xem ra cũng rổn rẻng với tiền bạc, với việc làm giầu vv…Con người bề ngoài khác thường về vóc dáng, nhưng thực tế lại là một con người đầy lòng nhân từ, biết sám hối, biết hối cải. Chúa Nhật 31 thường niên cho chúng ta một cái nhìn rất thực tế, đầy an ủi về lòng nhân từ bao la của Chúa :” Lạy Chúa, Chúa sẽ dạy con đường về cõi sống: Trước Thanh Nhan, ôi vui sướng tràn trề “( Tv 15, 11 ).

Gia kêu nếu xét theo một nghĩa nào đó thực là một người đáng ghét, đáng khinh vì ông làm việc cho đế quốc Roma, làm nghề thuế vụ, làm trưởng ban thuế, làm cái nghề tiếp tay với ngọai bang bóc lột dân chúng. Gia kêu giầu có, có quyền lực vì ông làm việc cho đế quốc Roma. Dân Do Thái không ưa ông, ghét ông, xếp ông vào hàng tội lỗi và đặt ông ngang hàng với bọn điếm đàng. Đối với dân Do Thái, ông không thể ăn năn, không thể hối cải. Ông đáng sa vào hỏa ngục lửa thiêu. Thế nhưng, Chúa Giêsu lại chọn nhà ông Gia kêu để ghé thăm nhà ông. Gia kêu chỉ muốn nhìn Chúa Giêsu đi ngang chứ làm sao dám mời Chúa Giêsu ghé thăm nhà ông được. Chúa Giêsu đã làm một việc không ai ngờ được. Chúa đã chọn nhà ông Gia kêu. Chúa Giêsu đã chứng tỏ Người được Thánh Thần hướng dẫn khi thấy ông Gia kêu giữa đám đông. Chúa Giêsu minh chứng Người đã tới Giê-ri-khô để cứu một người giầu có.Tuy nhiên, người Do Thái vẫn dị nghị, vẫn hiểu lầm Chúa và hiểu lầm cả ông Gia kêu. Họ cho rằng “ Chúa lại vào ở nhà người tội lỗi “. Nhưng thực ra Chúa Giêsu hiểu mọi người và hiểu ông Gia kêu. Chúa đến nhà của Gia kêu không phải vì miếng ăn, vì bữa tiệc, vì chén rượu, chén trà, nhưng vì ơn cứu rỗi của ông và của gia quyến ông. Dịp này, ông Gia kêu và cả gia đình ông đã công khai thú tội trước mặt Chúa Giêsu và trước mặt mọi người dự tiệc, và hứa “ xin bán đi nửa gia tài, phân chia cho kẻ nghèo khó, và đền trả một gấp bốn cho những ai ông gây thiệt hại”( Lc 19, 8 ). Chúa Giêsu đã nói về ông:” Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Áp-ra-ham” (Lc 19, 9 ).

Tự sức con người, con người không thể làm lành, nhưng Thiên Chúa có thể làm được tất cả. Chúng ta hãy đọc các đọan Tin Mừng như :” Con chiên lạc. Đồng bạc đánh mất. Người con hoang đàng. Người phụ nữ ngọai tình vv…” để thấy lòng nhân từ của Thiên Chúa như thế nào. Con người phản nghịch, con người tội lỗi nhưng Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi con người. Thiên Chúa yêu con người và không muốn để bất cứ ai bị hư mất. Ông Gia kêu dư biết thiên hạ ganh ghét ông và thèm được như ông. Gia kêu đâu có phải là người xấu bụng dù rằng ông đã nhúng tay vào việc thật xấu xa, nhưng trong cõi lòng sâu kín của ông vẫn còn chứa chất điều thiện, ông thầm tin tưởng và cám ơn Chúa Giêsu mà ông coi như một vị ngôn sứ lớn. Ông tha thiết muốn gặp gỡ Chúa Giêsu, do đó ông và cả gia đình ông đã được ơn cứu độ. Chúa đã giải thoát cho ông và gia đình ông khỏi tội lỗi, khỏi hư đi. Ân huệ cao vời Chúa ban cho ông khiến ông đã bộc lộ tất cả những gì là tốt lành, là nhân ái, còn chứa trong nỗi lòng sâu kín nhất của ông. Gia kêu đã trở nên mẫu gương cho những ai biết đón nhận ơn tha thứ bằng việc thật tâm hối cải, quay trở về với Chúa. Đúng thật, Chúa tới để tìm kiếm những gì đã hư mất.

Bí Tích Giải Tội là Bí Tích do Chúa Giêsu thiết lập và là một hồng ân cao vời Chúa ban cho nhân lọai. Đây là phươn thế giúp chúng ta làm hòa với Chúa, với Giáo Hội và với anh chị em,là phương thế Chúa ban lại sự an bình tâm hồn cho con người và thêm sức mạnh cho tương lai, trả lại tình trạng trong sáng đã bị tội lỗi làm lu mờ. Bí Tích Giải Tội nối những gì tội lỗi đã làm con người xa lìa Thiên Chúa. Do đó, chúng ta phải yêu mến Bí Tích Giải Tội và luôn siêng năng lãnh nhận Bí Tích Giao Hòa để được gần gũi Thiên Chúa, gần gũi Giáo Hội và gần gũi anh chị em.

Lạy Chúa xin cho chúng con có tấm lòng như Chúa, có đôi mắt của Chúa để chúng con luôn biết cảm thông với những yếu hèn của người khác. Amen.

CHÚA GIÊSU ĐẾN ĐỂ CỨU
Lc. 19, 1 - 10
Lm Augustine S.J

Các bài đọc Chúa Nhật hôm nay nhấn mạnh về ơn cứu độ do Chúa Giêsu mang lại. Đó là đề tài mà Luca ưa thích. Luca thường nhắc đi nhắc lại việc Đức Giêsu đến là để cứu vớt loài người: "Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn" (Lc 5,32). Đức Giêsu chính là Đấng Cứu Độ (Lc 2,11).

Nhưng ơn cứu độ hệ tại ở điều gì? Thiết tưởng cần phải cắt nghĩa điều này dựa vào trình thuật ông Da-kêu, bởi lẽ nhiều Kitô hữu quan niệm ơn cứu độ một cách không chính xác. Họ kể ơn đó như là việc cứu lấy linh hồn mình bằng mọi giá, kể cả thực hiện điều đó vào phút chót. Hãy coi ai đó suốt đời sống xa cách Chúa trong tình trạng tội lỗi và ích kỷ, nhưng vào phút chót, người đó xưng tội. Vậy người đó được cứu! Quan niệm như vậy về ơn cứu độ quả là sơ sài. Chúa Giêsu đã không quan niệm như vậy như ta thấy trong trình thuật ông Da-kêu.

Cứu độ là hiệu quả của tình yêu

1. Trước hết phải nói rằng ơn cứu độ là hiệu quả của tình yêu Thiên Chúa. Ta hiện hữu vì Thiên Chúa yêu thương ta: Chúa yêu thương mọi tạo vật và không ghét bỏ bất cứ vật gì Chúa đã tác thành: vì nếu Chúa ghét bỏ một vật gì thì Người đâu có tác tạo nó. Tình yêu Thiên Chúa mãnh liệt hơn tội lỗi loài người vì Chúa "nhắm mắt làm ngơ" trước tội lỗi loài người để họ ăn năn sám hối. Chính vì Người yêu ta nên Người muốn ta tồn tại mãi mãi. Đó chính là ơn cứu độ! "Nếu Chúa không ưng, thì làm sao một vật có thể tồn tại được." Thật là tuyệt đẹp trang sách Khôn Ngoan ta nghe trong bài đọc 1 Chúa Nhật hôm nay.

Được cứu là được hoàn toàn triển nở

2. Ơn cứu độ gồm một phương diện bản vị mà thánh I-rê-nê diễn tả bằng một câu nói súc tích rất đẹp là "Vinh danh Thiên Chúa chính là con người đang sống" tức là được hoàn toàn là mình, được hoàn toàn triển nở. Khi sinh ta ra, Thiên Chúa Cha đã nhìn ngắm Con chí ái của Người là Đức Giêsu và Người đã tạo thành ta theo hình ảnh của Người Con chí ái đó: "Vì … Người đã tiền định cho họ nên đồng hình đồng dạng với Con của Người" (Rm 8,29). Người giao cho ta nhiệm vụ suốt đời phải thể hiện hình ảnh Đức Giêsu, mỗi người theo mức độ Chúa Cha đã ấn định. Hình ảnh đó của Đức Giêsu mà mỗi người phải thể hiện chính là nhân cách riêng của từng người, là cái tôi đích thực của mỗi người. Ta có thể dùng hình ảnh mà tông đồ Phaolô đã dùng (1Co 3,10-15) là mỗi người chúng ta phải xây dựng bản thân bằng cách sử dụng cũng những vật liệu từng hình thành nên Đức Giêsu. Không ai có thể vào thiên đàng ở với Thiên Chúa nếu không thể hiện hình ảnh Con của Người: thiếu hình ảnh đó ta sẽ không được cứu và còn phải ở luyện tội. Thiên đàng gồm đầy những người thành công, không ai thất bại cả! Ta thấy điều đó nơi ông Da-kêu: ông từng là người tội lỗi vì nhắm tiền của như mục đích đời mình, ông từng sống ích kỷ. Như vậy là ông đã từng đặt mình ra ngoài kế hoạch mà Thiên Chúa dành cho ông. Kế hoạch ấy hệ ở việc tăng cường về khả năng tự hiến cho Thiên Chúa và cho đồng loại theo gương Đức Giêsu. Vì thế ôn đã "hư mất". Đức Giêsu mang lại cho ông ơn cứu độ vì Người thúc đẩy ông mở rộng sự sống của ông ra cả hai phía trên và dưới: cần phải ra khỏi ích kỷ để bước vào tình yêu, bước ra khỏi đời sống tập trung vào mình để tiến tới một đời sống tập trung vào người khác: tức là sống theo gương mẫu của Con Thiên Chúa là Đấng đến "không phải để được người ta phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người." (Mc 10,45) Tiếp theo cuộc viếng thăm của Đức Giêsu, ông Da-kêu đã trở nên một con người mới "con người sống động": vì ông đã bắt đầu trở nên một con người qui về Thiên Chúa và tha nhân, như Đức Giêsu. Ông bắt đầu xây dựng lại cái tôi của ông từng bị méo mó do tính ích kỷ.

"Tôi là một cô gái 21 tuổi, đang học đại học, yêu đời, thích sống tự do và độc lập. Tôi đã được cơ may sinh ra trong một gia đình đạo đức; nhờ đức tin và sự hướng dẫn của cha mẹ, tình yêu Thiên Chúa và tha nhân đã đâm rễ rất sâu trong tâm hồn tôi và giúp tôi có một cuộc sống tương đối trưởng thành. Bằng việc khắc chế tình dục, mặc dầu có rất nhiều người theo đuổi tôi, tôi đã có được cuộc sống trong sạch cho đến nay.

"Cách đây 3 tháng, tôi đã bắt đầu yêu một người đàn ông 40 tuổi, có vợ và 2 con. Tại sao tôi lại sa ngã như thế? Vì trong người đàn ông này, tôi đã khám phá ra và tìm thấy sự chân thành mà những bạn đồng lứa với tôi không hề có. Ông nói với tôi ngay từ ban đầu rằng ông thích tôi và mong muốn có tôi, nhưng không bao giờ ông sẽ bỏ vợ con ông. Ông muốn tôi phải lựa chọn chơi với ông hoặc thôi.

"Tôi đã chấp nhận chơi với ông ta. Tôi ý thức rằng tôi đang sai lầm và phá vỡ tương lai của tôi; nhưng tôi không thể xa lìa ông ấy, vì tôi quá thích ông."

Cô gái vừa mới chia sẻ những điều vừa nói đã đặt mình ra ngoài con đường cứu độ, bởi lẽ cô ta đã bước ra khỏi con đường của yêu thương, của tự hiến, để sa vào con đường tìm kiếm mình, chính là con đường ích kỷ. Như vậy là cô ta không còn xây dựng bản thân để nên giống Đức Giêsu nữa. Cô ta cần được Đức Giêsu đến viếng thăm cõi lòng mình.

Điều gì xảy ra khi Da-kêu được cứu

3. Ông Da-kêu đã tiếp đón Đức Giêsu đến cứu ông, tức là ông đã đặt mình trở lại trên con đường của yêu thương là chấp nhận Đức Giêsu như mẫu mực đời mình. Đó là phương diện bản vị của ơn cứu độ, là phương diện liên quan tới mối tương quan thiết thân của mỗi người với Thiên Chúa. Nhưng ông Da-kêu còn đi xa hơn khi nói: "Thưa Ngài, này đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã cưỡng đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn." Ông ta đổi mới tận căn các mối tương quan ông có với đồng loại. Ông bắt đầu thể hiện đức ái (= ông bố thí nửa gia tài của ông cho người nghèo) và thực thi công bằng bằng cách đền bù lại những thiệt hại ông đã gây nên cho người khác.

Đó là phương diện cộng đoàn của ơn cứu độ, là phục hồi lại tình huynh đệ giữa con người với nhau. Ông Da-kêu nhìn nhận ông đã đối xử với người lân cận như kẻ thù địch thay vì như người anh em: ông đã bóc lột họ. Đó chính là điều đã đưa ông bước ra ngoài con đường cứu độ và khiến ông phải "hư mất". Phúc thay cho ông, vì nay Đức Giêsu đến cứu ông bằng cách đặt ông trở về con đường của tình huynh đệ. Ơn cứu độ đòi ta không những phải lo cho mối tương quan bản thân ta với Thiên Chúa mà còn phải lo cho mối tương quan của ta với anh em đồng loại. Tình yêu và công bằng đối với anh chị em đồng loại là hai phần thiết yếu của ơn cứu độ. Điều đó Luca nói rất rõ trong trình thuật Da-kêu.

Không cần phải đi đâu xa để gặp gỡ "tha nhân" là người mà bạn có lẽ "đã không thấy": đó là "người duy nhất" được Thiên Chúa sai đến với bạn vào thời điểm đích xác này: "Sáng hôm đó khi ra khỏi nhà tôi gặp một người trẻ tới xin bố thí. Tôi để ý nhìn thấy đó là một cậu con trai tuổi chừng 20, rất dơ, như mơi vượt ngục và đang bị lùng bắt. Cặp mắt đẹp đẽ của chàng như van xin : "Tôi đói!" Tôi dẫn chàng tới tiệm bánh mì vì chàng chỉ xin tôi bánh mì mà thôi. Thấy chàng thực sự đói, tôi đã cho thêm ít kẹo xô-cô-la. Nhưng bước ra khỏi tiệm, chàng vẫn còn tiếp tục theo tôi, miệng nhai ổ bánh mì. Chàng cho tôi biết chàng từ tỉnh Lille tới. Tôi gợi ý để chàng nghĩ tới mẹ chàng với những âu lo vì chàng. Tôi nói như người mẹ trong gia đình trách móc người con đi hoang. Tôi đã hoàn toàn thu hút sự chú ý của chàng. Chàng nhìn tôi với bộ mặt sửng sốt đầy thắc mắc. Tôi được biết chàng từng ngủ nơi đầu đường xó chợ. Tôi cho chàng địa chỉ ở thành phố Nice nơi chàng có thể xin vé ăn tiệm do một xứ đạo cung cấp. Chàng ngồi ghi địa chỉ và chuyển sang một câu chuyện nghiêm chỉnh. Tôi năn nỉ yêu cầu chàng hãy trở về ngay thành phố Lille để mẹ chàng an tâm. Chàng có vẻ cảm động trước những lý lẽ tôi nêu. Tôi hỏi cho biết tên riêng của chàng và được biết nó trùng hợp với tên riêng của đứa con trai út của tôi là Phát (Patrice). Từ lúc đó tôi gọi chàng bằng tên Phát. Tôi thấy chàng cảm động và suy nghĩ đăm chiêu. Lập tức chàng quyết định lên đường trở về thành phố Lille nhờ còn giữ vé xe trở về. Khi hướng tới nhà ga, chàng xin phép để ôm hôn tôi mà nói: "Em sẽ không bao giờ quên được chị…" Khi cất bước, tôi quay đầu lại để nhìn theo chàng. Tôi thấy chàng chạy lại phía tôi, tay cầm một chiếc móc chìa khóa bằng bạc rất đẹp. Thoạt tiên tôi không muốn nhận kỷ vật thiết thân đẹp như vậy, sợ chàng phải mất mát vì tôi. Nhưng chàng mạnh mẽ năn nỉ tôi khi nói: "Đó là đồ vật quí báu duy nhất em hiện sở hữu. Em từng gắn bó với nó nhưng chị có quyền trên nó: chị đã cứu em, chị có biết không?" Tôi hiểu rằng tôi sẽ xúc phạm tới chàng nếu tôi từ chối không nhận lấy cái móc chìa khóa chàng đặt trong lòng bàn tay tôi. Một lần nữa chàng ôm hôn tôi, cho tôi thấy rõ dấu chỉ của niềm vui, và chàng đi đến nhà ga với bước đi vững vàng và khẳng khái."

THIÊN CHÚA TỪ BI VÀ NHÂN HẬU
Lc. 19, 1 - 10
Lm Louis Thanh Minh

Tục ngữ Việt Nam có câu : “Nhất bé nhì lùn”. Đó là hai hạng người mà dân gian có thành kiến rằng “chẳng ra gì”. Nhưng không riêng gì Việt Nam mà có lẽ nhiều nước trên thế giới như Do Thái cũng không coi trọng hạng người thiếu thước này.

Phúc Âm hôm nay thuật lại một câu chuyện ngộ nghĩnh của một “chú lùn” lọt mắt xanh Chúa Giêsu đó là ông Gia-kêu, một người vừa lùn lại vừa làm nghề thu thuế là nghề được coi là bất chính dưới cái nhìn của dân Do thái.

Nhận biết thân phận lùn của mình, nên Giakêu đã làm một công việc có vẻ “ấu trĩ”, đó là trèo lên một cây cao để có thể nhìn thấy Đức Chúa Giêsu đi ngang qua, vì dân chúng đông đúc. Ông giật mình hoảng sợ vì không ngờ Đức Chúa Giêsu đã ngước nhì lên và gọi đích danh cùng ngỏ ý muốn trọ tại nhà ông. Ông vội vàng tụt xuống khỏi cành cây, lòng tràn ngập vui mừng đón rước Chúa vào nhà và khoản đãi trịnh trọng.

Trước mặt Chúa Cứu Thế, ông đã tà quy chính và hứa sẽ bồi thường thiệt hại gấp bội cho những ai mà mình đã làm thiệt hại. Đáp lại Chúa Giêsu đã tuyên phúc : “Hôm nay nhà được ơn cứu độ... Con Người đến để tìm kiếm và cứu chuộc những gì đã mất”. Vì lòng chân thành mà ông Giakêu đã được tha thứ vá chúc phúc, còn gì hạnh phúc hơn.

“Thiên Chúa là Đấng từ bi và nhân hậu: Người đại lượng và chan chứa tình thương, Người không nỡ với ta như ta đáng tội và không trả cho ta theo lỗi của ta.” (Tv 102:8.10).

Sách khôn ngoan nói bài đọc thứ nhất đã nói đến phẩm tính nầy của Thiên Chúa. Trong Phúc âm, đã nhiều lần Đức Chúa Giêsu dùng hình ảnh dụ ngôn để diễn tả tình yêu của Thiên Chúa và sứ mạng của Ngài như : Người cha và đứa con hoang đàng, người mục tử đi tìm con chiên lạc, bà goá tìm một đồng bạc bị mất v..v..

Dĩ nhiên Thiên Chúa yêu thích những người thánh thiện công chính, nhưng cũng không bỏ rơi những kẻ lầm đường lạc lối. Chúng ta hãy cố gắng sống đạo đức thánh thiện nhưng đừng ngã lòng khi sa chân lỡ bước vì “Thiên Chúa là Đấng từ bi và nhân hậu.”

ƠN CỨU ĐỘ
Lc. 19, 1 - 10
Lm Vũ Minh Nghiễm, CSsR

Toàn bộ sách Tin Mừng được viết ra tập trung vào một chủ đề: Đức Kitô là Đấng cứu độ trần gian. Đó là quan niệm của các môn đồ tiên khởi về thân thế và sự nghiệp của Ngài.

Trên thực tế, Ngài đã cứu họ. Ngài rất hiểu sứ mạng cứu thế của Ngài. Ngài nói: “Con Người đến trong thế gian để tìm cứu những gì đã hư mất” (Lc 19:10)

Điều đáng tiếc là trong Giáo hội, đề tài này chỉ mặc được một ý nghĩa rất giới hạn. Gần như chỉ giới hạn vào những gì sẽ xảy đến cho chúng ta sau khi chết mà thôi. Được cứu rỗi có nghĩa là đời sau, tại bên kia thế giới, chúng ta được vào thiên đàng, sống bên cạnh Chúa muôn đời.

Điều này thật sự thì rất dễ hiểu. Một ngày nào đó chúng ta sẽ chết. Thiên đàng là nơi cực lạc, thoát ra ngoài những truân chuyên buồn khổ của trần gian. Dĩ nhiên, ai trong chúng ta cũng ước được vào thiên đàng.

Nhưng đây không phải là điều mà sách Phúc âm nhấn mạnh trước hết trong công cuộc cứu độ trần gian của Đức Kitô. Trong Phúc ân, các thánh sử đã trình bày Ngài như một vị Tôn sư giúp con người ta đối phó với những thử thách của cuộc đời, giải thoát con người ngay trên dương thế.

Bài Phúc âm hôm nay là một ví dụ điển hình. Đức Yêsu đến thăm nhà một ông trưởng thuế vụ. Chúng ta biết câu chuyện đã bắt đầu như thế nào, và đã kết thúc làm sao. Nhưng giữa đó những gì đã xảy ra? Chúng ta không được biết rõ. Đầu hết, Đức Yêsu trên đường đi ngang qua thành Yêricô, nhìn thấy trên cây sung một người thấp bé. Ngài liền nói:

“Hỡi Zakhê, hãy xuống mau. Hôm nay Ta phải lưu lại nhà ngươi.”

Kết thúc là ông Zakhê hứa cùng Chúa sẽ lấy nửa phần của cải to lớn của ông bố thí cho người nghèo. Sẽ đền bù gấp bốn cho những người ông đã gian lận. Gian lận ai 100, ông sẽ bù lại cho 400. Chúng ta có thể đoán được sự Chúa viếng thăm ông đã làm cho ông được vui mừng hạnh phúc như thế nào, đã đổi mới đời ông, giải thoát ông như thế nào.

Và Đức Kitô đã tỏ mình là đấng cứu độ loài người ngay trên trần gian nầy như thế nào.
Đây lời Ngài phán trong cuộc tiếp xúc với ông Zakhê:

“Hôm nay đây, nhà nâyđược ơn cứu độ.”
Lời Chúa vừa nói có nghĩa gì? Chúng ta có thể nghĩ rằng hôm nay ông Zakhê đang được ở trên thiên đàng?

Nhưng đó không phải là điều mà bài Phúc âm muốn nhắm. Chúa đang nói về kinh nghiệm cứu độ xảy đến ngay ngày hôm đó tại nhà ông Zakhê. Ông đã được cứu độ cách rất thiệt thực trong đời sống hằng ngày của ông tại thành Yêricô.

Nhìn vào bối cảnh của đời ông, chúng ta có thể hiểu được phần nào Đức Kitô đã cứu giúp ông như thế nào. Phúc Âm nói: “Ông là một trưởng ty thuế vụ vùng Yêricô, tức là người cầm đầu các nhân viên thu thuế. Điều nầy làm cho ông Zakhê trở thành một người bị đồng hương ghét bỏ hoàn toàn. Người thu thuế là hạng người đáng ghét nhứt, đáng khinh bỉ nhất trong dân Israel thời bấy giờ.

Người thu thuế trong Phúc âm với người có tội cũng là một. Họ có tội thứ nhất, là tội phản quốc. Cộng tác với kẻ thù là dân cai trị Rôma, để thâu tiền về cho đế quốc. Họ có tội thứ hai là tội lỗi phép công bằng. Họ thâu đa mà nộp thiểu. Họ thâu mười mà không biết có nộp cho chính phủ được bốn năm hay không? Họ được chính phủ cho phép tha hồ làm giàu trên dân chúng.

Người thu thuế quả là người có tội. Mà ông Zakhê không những là người thu thuế, mà còn là cầm đầu các người thu thuế. Với cương vị trưởng ty thuế vụ, ông còn bốc lột hơn các đồng nghiệp. Người thu thuế đã đáng ghét rồi, ông trưởng ty phải đáng ghét gấp bội. Không ai muốn nói chuyện với ông. Trên đường phố, ai cũng xa lánh ông. Ông bị cấm tham dự các buổi lễ nghi tôn giáo.

Sự khinh khi ghét bỏ của xã hội chung quanh đó hẳn gây ảnh hưởng tai hại lớn lao cho tính tình ông, cho đời sống hằng ngày của ông. Ông chỉ là cái đích cho thiên hạ phỉ nhổ.

Tôi sẽ không thể có được một chút tự tin hay hãnh diện nào về bản thân tôi, nếu không có một người nào khác giúp tôi có đuợc sự tự tín hay hãnh diện về tôi.

Đức Yêsu chính là người khác đó của ông Zakhê. Trong khi những người đồng hương xa lánh ông, coi ông như phẩn thổ, thì Đức Kitô nhận biết ông, gọi ông đích danh : “Hỡi Za khê”. Trong khi những người khác khinh thị ông, thì Đức Kitô kính nể ông. Ngài không sợ người chung quanh thấy Ngài chuyện vãn với ông. Hơn nữa, Ngài muốn lưu lại nhà ông hôm đó, dường như là bạn cố tri của ông Zakhê vậy.

Sự Đức Kitô chấp nhận ông là khởi điểm ơn cứu độ của ông. Ngài cho ông chỗ đứng trong đời sống mới.

Người chung quanh chỉ thấy ông là một người tham lam bất lương. Và hình như ông Zakhê cũng mặc nhận như vậy. Nhưng Đức Kitô nhìn thấy trong ông những đức tính tiềm tàng có thể làm ông trở nên một ngưới lương thiện.

Thái độ của Đức Kitô đối với ông đã làm cho những đức tính tiềm tàng kia hiện ra và đáp ứng với những thách đố của một đời sống cao thượng.

Trước đây ông vốn tham lam, bất lương. Nhưng hôm nay ông đã đổi đời, không đi theo con đường cũ nữa. Lòng quảng đại của ông đã bị chôn vùi trong bao nhiêu năm, hôm nay, với sự hiện diện của Đức Kitô, lòng quảng đại đó đã bộc phát một cách thật rõ ràng.

“Tôi xin bố thí nữa phần của cải tôi cho người nghèo. Nếu xưa nay tôi có làm thiệt hại ai, tôi xin bù lại gấp bốn.”

Quả là một sự lạ lùng. Rất lạ lùng:
“Hôm nay đây nhà nầy được ơn cứu độ.”
Hôm nay đây ông Zakhê đã trở nên người hiền lương, một người bạn dân. Ông sẽ được các đồng hương kính nể, yêu vì. Khi cần, họ sẽ cầu bàu cùng Đức Yêsu cho ông như họ đã cầu bàu cùng Ngài cho viên sĩ quan Rôma rằng: “Ông nầy đáng được Ngài giúp đỡ, vì ông quí mến dân ta.” (Lc 7:5). Phải: “Hôm nay đây, chính hôm nay đây, nhà nầy được ơn cứu độ.”

Phương pháp Đức Kitô dùng để cứu đời là giúp người ta khai thác những khả năng tiềm tàng của mình: Ngài nhìn họ như người điêu khắc nhìn thấy một pho tượng tốt đẹp trong khối đá cẩm thạch sù sì. Ngài giúp họ khai thác các đức tính của họ như thầy giáo giúp học trò khai thác các tài năng của mình. Lòng ưu ái của Ngài đã làm cho những đức tính vốn tiềm tàng của họ được hiện ra sống động.

Một người khác tên Simon, vốn rất yếu đuối và nhu nhược, đến nỗi run sợ trước một cô sen, chối bỏ Thầy đến những ba lần. Thế mà lòng ưu ái của Ngài đã biến đổi con người yếu đuối dễ thất trung thất tín ấy thành Phêrô, hòn đá tảng của Giáo hội. Ông được cứu độ hoàn toàn trong đêm thứ Sáu Tuần thánh.

Một người khác nữa tên Saolô, thuộc nhóm biệt phái, cuồng tín, hung hăng dữ tợn, bắt bớ đạo Chúa không ai bằng. Thế mà Ngài đã cảm hóa được. Và Saolô đã trở thành Phaolô, vị tông đồ thượng thặng của các dân ngoại. Phaolô đã được cứu độ hoàn toàn trên đường Damas.

Đối với chúng ta hôm nay thì sao? Chúng ta có thể quả quyết rằng tất cả những gì là tốt lành, là lương thiện trong chúng ta, một phần lớn là do nơi lòng tin tưởng một cách nào đó, một lúc nào đó, của một người nào đó đối với chúng ta.

Cũng như sự nghi ngờ, khinh khi của người khác đối với tôi sẽ làm cho mất tinh thần, bế tắc, bại hoại, xuống giốc, thì lòng tin tưởng, ưu ái của người khác đối với tôi, là một động lực thúc đẩy tôi trở thành người tốt, hầu đáp lại lòng tin tưởng và ưu ái của họ.

Đức Kitô đã tin tưởng vào ông Zakhê. Ngài giúp ông tìm ra thế giá của mình.
Rồi Ngài đi một bước xa hơn. Ngài đã giúp ông ý thức được trách nhiệm đối với người khác. “Tôi sẽ chia sẻ nửa phần của cải tôi cho người nghèo. Nếu tôi đã làm thiệt hại ai, tôi sẽ đền bù cho họ gấp bốn.”

Trau dồi các nhân đức nơi bản thân và lưu tâm giúp đỡ kẻ khác, là như đôi ngựa song phi. Hai điều kiện hình thành ơn cứu độ. Người chỉ lo cứu linh hồn mình, mà không quan tâm gì đến việc giúp đỡ kẻ khác, người đó tự lừa dối mình.

Một buổi sáng bêm bờ hồ Galilê, Đức Yêsu hỏi Simon Phêrô:
-Con có yêu mến Thầy không?
Phêrô trả lời:
-Lạy Thầy, Thầy biết con yêu mến Thầy.
Không đợi cho Phêrô nói gì thêm, Đức Yêsu tiếp liền:
-Hãy chăn dắt các con chiên Ta. (Yo 21:16)
Cứu độ là một danh từ vĩ đại trong tất cả các ngôn ngữ của thế giới. Toàn bộ sách Phúc âm được cấu tạo chung quanh hai tiếng cứu độ. Một ơn cứu độ torng đời sống thường ngày ngay trên trần gian. Nhưng ơn Cứu độ bao giờ cũng có hai chiều song song. Chúa cứu độ tôi. Và đến lượt tôi, tôi phải thực hành ơn cứu độ đó nơi kẻ khác, bằng cách bớt thời giờ, bớt sức lực, bớt tài năng, bớt của cải, để phục vụ Chúa nơi kẻ khác. Chỉ có lúc bấy giờ, lời Chúa phán hôm nay mới được đầy đủ thể hiện nơi tôi:
“Hôm nay đây, nhà nầy được ơn cứu độ.”

GIA KÊU MỪNG RƯỚC ĐỨC GIÊSU
Lc. 19, 1 - 10
Lm Vũ Khắc Nghiêm

Văn hòa Victor Hugo viết tác phẩm nổi tiếng tựa đề là “Những kẻ khốn cùng” (Les Misérables) đã kể câu chuyện vền Văn Giang (Han Valjean), một tên sát nhân bị tù 19 năm. Khi được tha về, không ai dám đến gần. Chàng vào tiệm ăn, bị đuổi, vào nhà trọ, vừa thấy mặt anh, người ta đóng cửa lại, vào ổ chó, chó sủa inh ỏi, vào trọ nhà Đức Giám mục Myriet được tiếp đãi hết sức trọng hậu. Nhưng đến đêm, chàng nổi máu tham, ăn cắp cây đèn bạc rồi trốn đi. Chính quyền bắt được, giải tới Đức Giám mục. Ngài nói: “Chính tôi tặng anh và tặng thêm hai cây đèn nữa.” Rồi Ngài nói với anh: “Anh cầm lấy, anh hãy bỏ ác theo thiện. Tôi mua linh hồn anh và trao cho Chúa.” Từ đó, Van Giang suy nghĩa, hối cải và sau này trở thành một Thị trường rất đạo đức.

Đức Giêsu cũng đã xử rất thân tình với người thu thuế mang tiếng là ông tổ tham nhũng, ăn cướp của dân, tên là Giakêu trong bài Tin Mừng hôm nay.

Phân tích bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta thấy có ba lối xử sự. Lối thứ nhất sợ “gần mực thì đen.” Lối thứ hai “gần đèn thì sáng”. Lối thứ ba “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”, còn làm cho bùn được vẻ thanh tao đẹp đẽ, hay đúng hơn đó là ánh sáng thế gian, là muối đất còn hơn là hoa sen.

Lối xử thứ nhất của những người xì xầm nói hành Đức Giêsu: “Nhàngười tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ.” Theo quan niệm dân Do Thái bấy giờ coi những người dân ngoại, những người công chức bám gót đế quốc Rôma, và nhất là hạng người thu thuế cho Đế quốc, bị coi là hạng người tội lỗi ghê tởm. Họ phải xa tránh, lỡ phải tiếp xúc với những người ấy, khi về nhà, họ phải thanh tẩy bằng cách tắm rửa để khỏi ô uế. Lối xử đó gây ra hậu quả tai hại là phân chia giai cấp, chia rẽ chủng tộc, kỳ thị tôn giáo, tự cô lập mình. Hậu quả tai hại thứ hai là tạo ra hạng người kiêu căng, tự coi mình là trong sạch, hơn dân tộc khác. Họ không biết mình cũng đầy tội lỗi như mọi người. Họ phải đấm ngực ăn năn xin Thiên Chúa tha thứ. Họ không được phép kết án ai để khỏi bị Thiên Chúa kêu án. Có lần họ đã kết án người đàn bà phạm tội ngoại tình và xin Đức Giêsu kết án ném đá chị. Nhưng Người bảo họ: “Ai không có tội, hãy ném đá chị đi! Họ đã rút lui để khỏi bị Đức Giêsu kết án.

Lối xử thứ hai của ông Giakêu: “Ông đứng đầu những người thu thuế và là người giầu có.” Chế độ thu thuế lúc bấy giờ là cho đấu thầu. Dĩ nhiên ai nhiều tiền lắm của mới trúng thầu. Ông Giakêu chắc trúng thầu mới là người đứng đầu những người thu thuế. Người chủ thầu mặc sức thu thuế để mau thu lại vốn và làm giầu. Sự giầu có của ông còn hơn cả những chủ thầu ở những thành khác vì thành Giêricô, cách Giêrusalem 23 cây số, là đô thị cổ nhất thế giới đã có từ hơn 10 ngàn năm, và nổi tiếng văn minh, thương mại sầm uất, cũng là một đô thị chiến lược được xây cất rất kiên cố ngay thời ông Giosuê dẫn dân Do thái về đất Hứa. Giầu có và sang trọng như thế, nhưng ông lại rất có lòng khao khát được thấy Đức Giêsu. Lòng khao khát mạnh đến nỗi thúc đẩy ông bỏ cả thể diện sang trọng giầu có, sẵn sàng trèo lên một cây sung như đứa trẻ nhỏ để nhìn cho được khi Đức Giêsu đi qua. Đức Giêsu lúc đó đối với ông chỉ là thường dân, khá lắm chỉ là một ngôn sứ nào đó đối với dân thôi, còn đối với chính quyền đời và đạo, Đức Giêsu không là gì, không có chức tước gì. Nhờ lòng khao khát mạnh mẽ đó, ông Giakêu đã được ơn soi sáng thấy một điều lạ lùng: Ông đã được thấy Đấng Cứu thế, và cả gia đình ông được cứu độ: “Hôm nay nhà này đươc ơn cứu độ.”

Đời ông đã đổi mới hẳn. Ông sẳn sàng bán nửa gia tài giúp cho người nghèo khó. Đức bác ái của ông dâng cao. Đức công bằng cũng không kém. “Nếu tôi làm thiệt hại ai, tôi xin đền gấp bốn.” Ông Giakêu chỉ rước Chúa vào nhà có một ngày, đời ông đã hoàn toàn đổi mới, đã hoàn toàn sống theo Đức Kitô. Còn chúng ta, chúng ta đã rước Chúa vào linh hồn không biết bao nhiêu lần, đời chúng ta đã đổi mới, đã nên giống Đức Kitô chút nào chưa?

Lối xử sự của Đức Giêsu là lối xử sự của Thiên Chúa. Người làm cho mặt trời mọc soi sáng cho mọi loài, cho kẻ lành cũng như kẻ dữ, làm mưa xuống cho mọi tạo vật cho kẻ công chính cũng như bất lương, là lối xử sự của Đấng Cứu độ hằng thương xót những người tội lỗi, hướng dẫn những người lầm đường lạc lối, cứu chữa những người yếu đuối, tìm kiếm những người hư mất, phục sinh những người đã chết. Thật ra, “toàn thể vũ trụ trước mắt Người chỉ là hạt sương sớm rơi trên đất, thế mà Người vẫn xót thương. Người xử sự thật khoan dung, vì chúng ta là của Người. Lạy Chúa tể tốt lành và hiếu sinh dường bao!” (Bài đọc 1). Thiên Chúa nhân hậu và quí trọng sự sống của chúng ta như vậy, cho nên thánh Phaolô cầu nguyện cho chúng ta vững tin: “Đừng hoảng sợ.” Chúa không muốn tội nhân phải chết, nhưng muốn nó ăn năn và được sống.

Lạy Chúa! Xin cho con vững tâm tin tưởng mừng rước Chúa đến ngự vào nhà con, cho con được đổi mới và được ơn cứu độ như ông Giakêu. Amen.

NƠI CHÚNG TA GẶP GỠ THIÊN CHÚA
Lc. 19, 1 - 10
Khiết Tâm

Harold Hughes đã viết về lúc còn trẻ như sau:
“Tôi từng là một kẻ nghiện rượu, gian dối và lừa đảo người khác.” Một quãng cuộc đời ông tưởng rằng đã phá đổ và đánh mất tất cả. Một buổi tối nọ, ông đã vào bồn tắm và định tâm sẽ tự sát. Ông lấy khẩu súng và chỉa mũi súng vào miệng ông. Khi Hughes đang định bóp cò súng thì ông chợt nhớ lại tự hại thân thể mình thì có tội. Ông viện mọi lý do giãi bày với Chúa tại sao ông làm như thế. Sau khi giãi bày với Chúa, ông đã quì xuống đất và cúi đầu xuống. Ông nói chuyện với Thiên Chúa và khóc nức nở. Trong tâm hồn, ông cảm thấy một cảm nghiệm rất sâu xa mà ông không thể nào quên được. Ông viết lại cảm nghiệm này như sau: “Một cảm nghiệm bình an dạt dào bừng lên trong tâm hồn tôi... Tất cả tội lỗi trong mình tôi như tan biến hết... Thiên Chúa như đang cúi xuống và chạm đến tôi... Như một đứa con đang run sợ đi lạc trong cơn bão tố và nó bất chợt tìm thấy được bàn tay rất ấm áp của Cha nó... Quì trên sàn nhà phòng vệ sinh, tôi đã dâng mình cho Chúa và thưa cùng Chúa rằng tôi sẽ làm tất cả mọi sự gì Chúa muốn.”

Chính giây phút linh thiêng cảm động đó đã biết đổi của đời của Harold Hughes. Mười năm về sau, ông được bầu làm thống đốc tiểu bang Iowa. Mười bảy năm sau đó, ông được bầu làm thượng nghị sĩ Hoa kỳ. Khi về hưu, ông đã tham gia vào công việc giúp những người nghiện rượu và hút sách.

Câu chuyện về Harold Hughes giống với câu chuyện ông Giakêu trong bài Phúc âm hôm nay.Đó là một câu chuyện kể về một người đã được ơn biến đổi từ một cuộc đời tội lỗi thành một cuộc sống phục vụ. Đó là một câu chuyện về một người đã biết mở rộng cửa lòng đón nhận Thiên Chúa và được tràn đầy niềm vui hạnh phúc mà ông không hề tưởng sẽ được.

Chúa Giêsu muốn đi vào trong cuộc đời chúng ta và biến đổi chúng trở nên tốt hơn như Ngài đã làm cho Giakêu. Chúa Giêsu không bao giờ cưỡng ép chúng ta, hoàn toàn tôn trọng tự do của chúng ta. Trong sinh hoạt hằng ngày, Chúa Giêsu có thể bước vào cuộc sống mỗi ngưòi chúng ta như Ngài đã bước vào cuộc sống của Giakêu. Chúng ta chỉ cần bám lấy Ngài, và Ngài sẽ ban cho chúng ta mọi điều như Ngài đã từng làm cho những người khác.

Chúa Giêsu có thể bước vào cuộc sống chúng ta, gần gủi với chúng ta qua ba trường hợp nầy. Thứ nhất Chúa Giêsu có thể nói với chúng ta khi chúng ta lắng nghe Lời Chúa. Như vậy Chúa có dịp bước vào tâm hồn chúng ta. Thứ hai là lúc chúng ta đón rước Chúa Giêsu Thánh thể. Chúa Giêsu nói: “Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì ở trong Ta và Ta ở trong kẻ ấy. (Jn 6:56). Sau hết, Chúa Giêsu bước vào trong cuộc sống của chúng ta lúc chúng ta gặp những người nghèo khổ túng quẫn. Chúa Giêsu dạy: “Ai làm cho một trong những kẻ bé mọn này là làm cho chính Ta.” (Mt 25:40)

Khi gặp Ngài, chúng ta hãy xin Ngài làm cho chúng ta những điều Ngài đã làm cho Hughes và Giakêu. Đó là sứ điệp của bài Tin Mừng hôm nay. Đó là điều chúng ta đang cùng nhau cử hành trong phụng vụ hôm nay.

GẶP GỠ ĐỨC KITÔ
Lc. 19, 1 - 10
Lm Bùi Quang Tuấn, CSsR

Trong bài Phúc âm Chúa nhật hôm nay, chúng ta bắt gặp một khuôn mặt kỳ lạ với một vóc dáng thấp bé. Đó là Giakêu, một ty trưởng quan thuế tại thành phố Giêricô, nằm cách Giêrusalem 15 dặm về hướng đông bắc.

Giakêu không những được mô tả như một người thiếu thước tấc về thể xác, nhưng còn là kẻ quá thấp bé về tâm hồn, dưới cái nhìn của người Do thái. Không "thấp" lắm sao khi cấu kết với ngoại bang Rôma để vơ vét tài sản của dân tộc, đất nước! Không "bé" lắm sao khi đi làm giàu trên bao mồ hôi xương máu của những người lầm than khốn khổ!

Từ xưa đến nay, chẳng mấy ai ưa thích chuyện thuế má. Người Do thái lại càng chán ghét chế độ sưu thuế do chính sách đô hộ Rôma áp đặt. Số là tại các thuộc địa, để không phải trực tiếp bóc lột, chính quyền cai trị Rôma thường cho đấu thầu việc thu thuế tại từng khu vực. Tất nhiên chỉ có kẻ giàu mới có khả năng và mới có cơ may trúng thầu. Khi trúng, họ có quyền qui định mặt hàng cũng như giá thuế phải đóng. Lắm khi người trúng thầu phải ra giá thật cao để gỡ vốn. Và không ít khi cao thêm tí nữa để có lời. Thế nên, dân Do thái tự động xem hạng thu thuế là phường bán rẻ lương tâm, phá nước hại dân, làm giàu bất chính. Người ta tránh xa như gặp phải những con vật dơ nhớp, nguy hiểm. Thậm chí còn coi họ như quân ngoại đạo và tội lỗi.

Thành ra con người Giakêu hẳn là quá thấp bé trong tầm nhìn luân lý của những kẻ "đang bị bóc lột." Đã vậy vóc dạng của ông cũng chẳng cao ráo sáng sủa gì. Lùn quá! Có nhón gót cũng chẳng thấy Đức Giêsu đâu. Đám đông che mất tầm nhìn của ông.

Mặt khác, danh xưng của ông còn khơi lên ý tưởng mỉa mai châm biếm khi nó tương phản với công luận. Giakêu là phiên âm từ chữ "Zakkay," trong tiếng Do thái có nghĩa là "người công chính" hay "người thanh khiết." Gọi một kẻ tội lỗi, nhơ uế là "công chính" và "thanh khiết," nếu không phải là chế giễu và khinh bỉ thì là gì?

Nhưng dù thân xác và tinh thần có bị bao quanh bằng những hàng rào của mặc cảm tự ti, hay sự khinh thường ghét bỏ của dân chúng, lòng khát mong gặp Đức Giêsu đã như tác động đầu tiên đưa đến biến đổi và thăng hoa con người.

Lòng khát khao mãnh liệt thôi thúc Giakêu trèo lên cây và khiến lòng ông "cao lên" so với bao người chen chúc trong đám đông hiếu kỳ. Ông muốn nhìn Chúa, nhưng đúng hơn, Chúa lại muốn tìm ông. Khi vừa đến chỗ cây sung có Giakêu đang trèo trên đó, Đức Giêsu "nhìn lên và trông thấy ông." Giả như không có ánh mắt nhìn lên đó thì chuyện gì sẽ sảy ra? Có lẽ Giakêu cũng tuột xuống ra về trong âm thầm. Cái nhìn của Chúa làm biến đổi cuộc đời.

Nhìn và thấy diễn tả một sự chú ý kiếm tìm. Nhìn vào bao con người chen chúc chung quanh, với đủ mọi thành phần, trình độ, sang hèn, tuổi tác, nhưng Đức Giêsu lại chỉ thấy có một tâm hồn mà Ngài đang muốn tìm về. Niềm vui rạng rỡ đã bật thành lời: "Hỡi Giakêu hãy xuống mau, vì hôm nay Ta phải lưu lại tại nhà ngươi"(Lc 19:5). Ngài đã tìm thấy "con chiên lạc" đang vướng trên cành, và lòng Ngài ngập tràn hân hoan.

Con tim cháy lửa yêu thương đã tìm gặp được tâm hồn khao khát thương yêu. Và thương yêu đã biến đổi phận người! Đúng là "Gặp gỡ Đức Kitô, biến đổi cuộc đời mình… Gặp gỡ Đức Kitô, nảy sinh tình đệ huynh." Tình huynh đệ nảy sinh khi Giakêu tự nguyện "bố thí nửa phần gia tài cho người khổ đau." Tình đệ huynh lại được hàn gắn khi Giakêu can đảm "đền trả gấp bốn cho người bị ông làm thiệt hại."

Không gặp được Đức Kitô chẳng ai có đủ sức đền bù, chia sẻ, hay trao ban. Không có tình thương sưởi ấm chắc chắn chẳng ai có thể đổi đời. Nhưng khi có tình Chúa chiếu soi, người ta sẽ "cao lên" trong tình người. Và như thế, không ai có quyền kỳ thị hay gạt bỏ, vì họ cũng là "con cái của Abraham." Không ai được phép xem họ như người ngoại hay kẻ lầm lạc, vì họ cũng là môn đệ của Tình Yêu Thiên Chúa.

Trở lại với lời tâm sự ban đầu. Thiết tưởng cao to thân xác mà thấp bé cõi lòng thì ăn thua gì. Mang danh có đạo mà không bác ái hy sinh thì cũng thiếu xót lắm thay. Thế nên, việc cần thiết nhất không phải là cao lùn, mập ốm, rửa tội hay chưa, nhưng là có được tình yêu đúng nghĩa chiếm ngự tâm hồn hay không.

Tình yêu đúng nghĩa chỉ có khi được Đức Giêsu lưu lại trong đời. Và như Lệ Vũ, người phụ trách "Tuổi Biết Buồn" xác quyết: "Tìm được tình yêu và yêu thật lòng, ba cái chuyện cao gầy, lùn mập, miệng méo, mắt Sài gòn, mắt Chợlớn, sẽ không thành vấn đề quan trọng."

Xin tình yêu của Đức Kitô gặp gỡ đời con và đời người.

CHÚA NHẬT 31 THƯỜNG NIÊN C
Lc. 19, 1 - 10
John Nguyễn

1. Hai thái độ có thể có đối với những người tội lỗi
Đối với những người tội lỗi, để giúp họ từ bỏ con đường tội lỗi hầu trở nên tốt hơn, người ta có thể có hai thái độ:

· Một là tẩy chay xa lánh họ để nhờ đó họ nhận ra tội lỗi của mình mà sửa chữa. Sách Dân số đã từng khuyên: «Này, chớ tới gần lều của những con người hư đốn ấy, và đừng đụng tới tất cả những gì của họ, kẻo vì liên luỵ mà anh em cũng bị huỷ diệt cùng với tất cả tội lỗi của họ» (Ds 16,26). Thánh Phao-lô có khi chủ trương tương tự: «Thưa anh em, nhân danh Chúa Giê-su Ki-tô, chúng tôi truyền cho anh em phải xa lánh mọi người sống vô kỷ luật, không theo truyền thống anh em đã nhận được từ nơi tôi» (2 Tx 3,6), và ngài khuyên Ti-mô-tê: «Anh hãy xa lánh tất cả những người ấy» (2 Tm 3,5). Chính Đức Giê-su cũng có khi chủ trương phải dùng biện pháp này đối với những kẻ ngoan cố như biện pháp cuối cùng sau khi tất cả mọi biện pháp đều thất bại: «Nếu nó không nghe họ, thì hãy đi thưa Hội Thánh. Nếu Hội Thánh mà nó cũng chẳng nghe, thì hãy kể nó như một người ngoại hay một người thu thuế» (Mt 18,17).

Do đó, nhiều Ki-tô hữu được gọi là đạo đức cũng chủ trương như vậy, thậm chí áp dụng nó một cách hết sức máy móc. Biện pháp này mang tính cảnh cáo, trừng phạt, nhiều khi cần thiết và có tác dụng rất tích cực, nhưng cũng rất lắm khi bị phản tác dụng: tạo khó khăn, gây bất mãn, bít đường sống lương thiện, hoặc đẩy sâu vào đường tội lỗi.

· Thái độ thứ hai ngược lại là gần gũi và biểu lộ tình thương đối với họ. Đây là thái độ mà Đức Giê-su thường xử sự đối với người tội lỗi, và hầu như luôn luôn có tác dụng tốt. Ngài không hề xa tránh những người thu thuế, bọn đĩ điếm, vốn bị coi là hạng người tội lỗi, như những kinh sĩ và người Pha-ri-siêu thường làm. Ngài sẵn sàng ở trọ nhà người tội lỗi (x. Lc 19,7), ăn uống và giao du thân thiện với họ (x. Mt 9,10; Mc 2,15; Lc 5,30). Người Do Thái thời ấy không thể tưởng tượng được một ngôn sứ như Ngài lại có thể đối xử thân mật như thế đối với người tội lỗi, hoặc để họ đụng chạm đến thân thể mình (x. Lc 7,39). Không những thế, Ngài còn nhận một người thu thuế vào số các môn đệ thân tín nhất của mình (x. Mt 10,3; Lc 5,27).

Kết quả của thái độ nhân từ đó là biết bao người tội lỗi (thu thuế, đĩ điếm…) trở lại con đường ngay chính, say mê nghe Ngài rao giảng Tin Mừng, mà bài Tin Mừng hôm nay kể ra một trường hợp điển hình. Chính vì Đức Giê-su sẵn sàng vào nhà ông Da-kêu, một kẻ bị coi là tội lỗi, ăn uống và trọ tại nhà ông, mà con người ông đã hoàn toàn thay đổi. Thử tưởng tượng xem, nếu Ngài cũng đối xử với Da-kêu như cách mà người Do Thái thường làm là tẩy chay và xa lánh ông, thì kết quả ra sao! Còn biết bao trường hợp trở lại khác vì thái độ bao dung và gần gũi của Ngài (x. Lc 7,36-50; Ga 4,39-42; 8,2-11), đến nỗi Đức Giê-su cho biết chính bọn tội lỗi biết hối cải ấy còn vào thiên đàng trước và đông hơn cả bọn kinh sĩ và Pha-ri-siêu nữa (Mt 21,31-32).

2. Người Ki-tô hữu nên có thái độ nào

Thực ra, thái độ nào cũng có cái hay và cái dở của nó. Vì thế, người Ki-tô hữu nên tùy nghi mà áp dụng thái độ này hay thái độ kia trong từng trường hợp, miễn sao đạt được kết quả tốt. Thái độ yêu thương gần gũi thường có nhiều cơ may cảm hóa được người tội lỗi hơn thái độ tẩy chay rất nhiều. Điều này được chứng tỏ trong Tin Mừng qua thái độ của Đức Giê-su. Thái độ tẩy chay chỉ nên áp dụng một cách hạn chế, như một biện pháp cuối cùng, sau khi mọi biện pháp khác đều thất bại. Và chỉ nên áp dụng khi được thúc đẩy bởi tình thương và tinh thần trách nhiệm chứ không phải bởi lòng ghen ghét, ác cảm, với tinh thần bỏ mặc, vô trách nhiệm. Rất tiếc, biện pháp này lắm khi đã bị lạm dụng trong Giáo Hội gây ra rất nhiều điều đáng tiếc.

Cũng nên nhắc lại rằng cần phân biệt sự ác và người ác. Cần phải ghét bỏ và xa tránh sự ác chứ không phải người ác. Đức Giê-su và các tông đồ dạy ta phải yêu thương người ác và kẻ thù, làm ơn cho họ (x. Mt 5,44; Lc 6,27; Rm 12,20, v.v…). Trong số các điều ác, thì dường như Đức Giê-su tỏ ra ghét tính kiêu ngạo, sự giả hình, tính hay kết án và khinh chê người khác hơn tất cả những tính xấu khác. Tội lỗi bao nhiêu Chúa cũng tha được, nhưng dường như Chúa không tha tội cho những kẻ không chịu tha thứ cho người khác (x. Mt 18,23-35), những kẻ hay kết án người khác (x. Lc 6,37), những kẻ tự kiêu và lên mặt chê bai người khác (x. Lc 18,9-14). Chính vì thế mà bọn thu thuế và đĩ điếm dễ vào thiên đàng hơn bọn kinh sư và Pha-ri-siêu là những kẻ hay lên án và khinh chê kẻ khác. Do đó, chúng ta phải xét lại thái độ của chúng ta đối với người xấu, coi chừng kẻo Chúa kết án ta nặng hơn những kẻ bị ta kết án vì thái độ bất bao dung và kiêu ngạo của ta.

3. Kinh nghiệm cải hóa trong việc giáo dục con cái

Kinh nghiệm giáo dục con cái cho tôi thấy: con cái mà hư hỏng không phải vì chúng không biết điều nào nên làm điều nào nên tránh cho bằng chúng không có đủ động lực thúc đẩy chúng làm những điều chúng biết phải làm, và xa tránh những điều chúng biết là không nên làm. Chúng cũng có một tâm lý như thánh Phao-lô, và cũng là tâm lý của tất cả mọi người: «Điều tôi muốn, thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét, thì tôi lại cứ làm. Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm» (Rm 7,15.19). Ai cũng có tính xác thịt yếu đuối: «Tính xác thịt thì ước muốn những điều trái ngược với Thần Khí, còn Thần Khí lại ước muốn những điều trái ngược với tính xác thịt, đôi bên kình địch nhau, khiến anh em không làm được điều anh em muốn» (Gl 5,17). Vì thế, đừng quan trọng hóa những lầm lỗi của chúng hơn việc biểu lộ tình thương và thông cảm của ta. Hãy bắt chước Thiên Chúa: «Chúa nhắm mắt làm ngơ, không nhìn đến tội lỗi loài người, để họ còn ăn năn hối cải» (Kn 11,23). Ngài kiên nhẫn chờ đợi ta trở về với Ngài. Tại sao ta không thể kiên nhẫn chờ đợi con cái mình thay đổi?

Điều quan trọng là tạo cho chúng sức mạnh hơn là cho chúng một mớ lý thuyết. Khi làm cho con cái mình cảm nghiệm rằng chúng được cha mẹ yêu thương, quan tâm, tôn trọng, chăm sóc và sẵn sàng hy sinh tất cả cho chúng, thì tôi nhận thấy chúng tỏ ra yêu thương cha mẹ hơn, hiếu thảo, vâng lời, chịu khó làm việc hơn, vì thế ít lầm lỗi hơn. Khi ấy, tôi thấy rõ rằng hình phạt không làm chúng sợ cho bằng việc nhìn thấy chúng tôi buồn. Chính tình thương đầy thông cảm và tha thứ mà chúng cảm nhận được nơi chúng tôi, và những gương hy sinh, chiến đấu mà chúng thấy nơi chúng tôi đã giúp chúng vượt thắng khi chiến đấu với cám dỗ, với thói hư tật xấu của tuổi trẻ. Chúng tôi khám phá ra rằng để trở nên tốt, con cái chúng ta cần tình thương, sự dịu dàng, âu yếm, sự quan tâm, gần gũi của chúng ta hơn những lời khuyên bảo, trừng phạt. Nếu chúng không cảm nghiệm được tình thương của ta, thì mọi lời khuyên, mọi cố gắng giáo dục của ta đều trở nên vô ích.

Vì thế, tôi không muốn khuyên bảo con cái tôi quá nhiều, nhất là về những điều mà tôi nghĩ chúng đã quá biết rồi. Khuyên và trừng phạt quá nhiều chỉ làm cho bầu khí giữa cha mẹ và con cái luôn căng thẳng, khiến sự thân mật và thông cảm giữa chúng với ta ngày càng giảm đi. Nhất là làm cho chúng có cảm tưởng rằng chúng ta ghét chúng hoặc không thương chúng đủ. Và từ đó, chúng càng ngày càng xa cách ta, không muốn nghe ta nói gì nữa, khiến cho mọi lời khuyên bảo răn đe của ta đều ra «công dã tràng». Cổ nhân ta có câu: «giáo đa thành oán» mà tôi phải công nhận là đúng khi thấy mình thất bại trong việc giáo dục con cái một thời gian. Hay chê bai và phiền trách chúng quá nhiều có thể làm chúng thất vọng, mất tự tin, khiến chúng nghĩ rằng chúng không thể làm được điều tốt. Vì nếu không có động lực là tình yêu thúc đẩy, chúng không thể làm được những điều chúng biết là phải làm. Tình yêu của chúng đối với ta là động lực mạnh nhất để chúng nên trở nên tốt.

4. Áp dụng vào việc cải hóa người xấu

Làm cho mọi người chung quanh ta trở nên tốt hơn là một bổn phận của mọi Ki-tô hữu. Từ bài học của bài Tin Mừng hôm nay, và từ kinh nghiệm giáo dục con cái, tôi nhận ra rằng: để trở nên tốt, người ta cần lời khuyến khích hơn trách cứ, cần cảm thông hơn kết án, cần động viên hơn trừng phạt, cần tình thương và gương sáng hơn lời khuyên bảo, cần được gần gũi hơn bị xa tránh. Cả hai cách đều tốt, nhưng cách trước thường tốt, dễ sử dụng và có hiệu quả hơn cách sau mà không gây tai hại. Cách sau khó sử dụng hơn rất nhiều, vì nó có thể động chạm đến tự ái, danh dự, quyền lợi của người khác, hoặc tạo nên khó khăn cho họ, nên dễ bị phản tác dụng, có thể gây ác cảm, thù ghét, căng thẳng. Vì thế, muốn sử dụng cách sau thì phải hết sức khôn khéo và tế nhị. Nhưng dù sử dụng cách nào thì cũng phải làm cho người mà ta muốn cải hóa cảm nhận được tình thương, thiện cảm và thiện chí của ta đối với họ. Và trước khi cảm hóa ai, hãy nhận thức rằng rất nhiều khi – trong quá khứ, hiện tại cũng như tương lai – ta cũng yếu đuối và lầm lỗi không kém gì họ.

Cầu nguyện
Lạy Cha, xin cho con nhận ra bản tính yếu đuối và hay lầm lỗi của mình trước khi muốn cảm hóa bất kỳ ai. Nhờ nhận thức đó, con sẽ thông cảm với tất cả những yếu đuối và lầm lỗi của mọi người, con sẽ yêu thương họ nhiều hơn. Chính nhờ sự yêu thương và thông cảm đó, con sẽ cảm hóa được nhiều người hơn. Xin cho con học được cách hành xử của Đức Giê-su đối với những ai bị mọi người coi là tội lỗi như Da-kêu. Cho con biết thật sự yêu thương những con người như thế trước khi muốn cảm hóa họ. Amen.

Nguồn vietcatholic.org

2805    31-10-2013 20:26:05