Sidebar

Thứ Sáu
12.08.2022

Chương 12: Phục Hưng Và Cải Cách_Bài Đọc Thêm


BÀI ĐỌC THÊM

CÁC GIÁO HOÀNG THỜI PHỤC HƯNG

Nếu các vị giáo chủ đại diện Đức Kitô cố gắng noi gương Ngài trong nếp sống nghèo, làm việc, sống khôn ngoan, yêu thập giá và khinh chê cuộc đời ; Nếu họ suy nghĩ về danh xưng PAPE nghĩa là "Cha" và về tước hiệu "Đức Thánh" người ta dành cho họ, chắc các vị sẽ không là người khổ nhất trần gian ? Kẻ đã dốc cạn túi để mua chức vị, lẽ nào không bảo vệ nó bằng vũ khí, độc dược và bạo lực ?

Biết bao lợi lộc sẽ mất nếu ngày nào đó sự khôn ngoan đến với các vị ! Mà chẳng cần đến khôn ngoan nữa, chỉ cần một hạt muối Đức Kitô đã nói tới, (sẽ mất) bao giàu sang, danh vọng, chiến tích, văn phòng, chuẩn miễn, thuế má, biết bao lừa, ngựa lính canh và bao điều vui thú... Rồi phải thay vào đó là thức đêm, chay tịnh, nước mắt, cầu kinh, bài giảng, học hành, phạt xác và hàng ngàn thứ bất tiện phiền hà.

Chúng ta đừng quên điều gì sẽ xảy đến với bao nhiêu thơ lại, kí lục, chưởng khế, luật sư, cổ động viên, thư ký, người chăn la, kẻ nuôi ngựa, chủ khách sạn, các người môi giới ? Tôi xin nói một từ khá sống sượng, xin đừng bận tâm để tai. Sự đông đảo vô số này ắt sẽ sinh ra nạn đói kém ..
(Erasme, Eloge de la Folie LIX, JC. Để đọc LSGH II,p.9)

TÔN GIÁO THEO ERASME

Thính giả của chính Đức Kitô là ai ? Chẳng phải là đám đông hỗn độn gồm mù, què, hành khất, thu thuế, bách quản, thợ thủ công lẫn đàn bà trẻ con sao ? Lẽ nào Ngài lại buồn vì những kẻ Ngài muốn họ nghe, nay có thể đọc được Lời Ngài ? Quả vậy, bác nông dân sẽ đọc Lời Ngài, thợ thủ công cũng đọc, rồi tên trộm, cô gái điếm, đám ma cô và cả dân Thổ Nhĩ Kỳ cũng sẽ đọc. Nếu Đức Kitô không cấm họ nghe Lời Ngài, tôi sẽ không cản họ đọc về sách Ngài [...]

Đức Kitô muốn triết lý Ngài lan rộng bao nhiêu có thể. Ngài chết cho mọi người, Ngài muốn mọi nguời nhận biết. Mục đích ấy sẽ đạt được nếu các sách của Ngài được dịch ra mọi ngôn ngữ của mọi nước, hoặc là nhờ các ông hoàng dạy cho dân ba ngôn ngữ truyền đạt triết lý thần linh (Dothái, Hilạp, Latinh)

Cuối cùng, đâu có gì bất nhã khi người ta đọc Phúc Âm bằng tiếng mẹ đẻ, tiếng mà mỗi người điều hiểu được : Người Pháp đọc tiếng Pháp, Người Anh đọc tiếng Anh, dân Đức đọc tiếng Đức còn người Ấn đọc tiếng Ấn ? Theo tôi, điều bất nhã tức cười hơn, là đám dân thất học và các bà, hát thánh vịnh và đọc kinh Chủ Nhật bằng tiếng La Tinh như con vẹt, chẳng hiểu mình đọc gì !
(Erasme, Paraphrases de St Matthieu - JC. Để đọc LSGH II,p.10)

TƯƠNG QUAN GIỮA KINH THÁNH, TÍN LÝ, THẦN HỌC

Các văn sĩ thời đầu Giáo Hội chỉ tranh luận cách chừng mực về các thực tại thần linh [...] miễn cưỡng các vị mới đề ra những định nghĩa. Còn chúng ta thì khác, không thể tha thứ được, vì đã đưa ra biết bao vấn nạn kì quặc và định nghĩa bao điều vô ích với ơn cứu độ [...]

Không lẽ không thể kết hiệp với Ba Ngôi nếu không biết giải thích sự phân biệt giữa Cha và Con, giữa Thánh thần với Hai Ngôi khác sao ? Điều quan trọng mà ta phải nỗ lực thực hiện, đó là giữ tâm hồn ta khỏi những đam mê : ghen tuông, giận hờn, kiêu căng, hà tiện và tham vọng. Nếu không có trái tim trong sạch tôi sẽ không thấy Chúa. Nếu không tha thứ cho anh em, Chúa sẽ không tha thứ cho tôi (...)

Người ta sẽ chẳng bị kết án vì không biết nguyên ủy của Thánh Thần là đơn hay kép, nhưng ta sẽ không thoát được án phạt nếu ta không gắng có được hoa trái của Thánh Thần : đó là tình yêu, niềm vui, kiên nhẫn, đại lượng, hiền hòa, tin tưởng, khiêm tốn và chay kiêng [...]

Khoa thần học đích thực không khẳng định điều không có trong Kinh Thánh ... Ngày xưa đức tin hệ tại đời sống hơn là tuyên xưng các mệnh đề đức tin [...] dần dần mới có nhu cầu định tín, nhưng rất ít điều đơn sơ. Sau đó vì các lạc giáo, người ta đòi khảo sát Kinh Thánh kỹ hơn ... Kinh Tin Kính bắt đầu nằm trên bản viết hơn là khắc trong tâm hồn...

Càng thêm câu đoạn, sự đơn giản càng bớt [...] Tôn giáo trở nên lý luận tranh biện, và Giáo Hội chìm trong kim tự tháp các câu đoạn. Từ đó người ta dùng đến sợ hãi và đe dọa. Bằng bạo lực và sợ hãi ta bắt người khác tin điều họ không tin, yêu điều họ không yêu và hiểu điều họ không hiểu (ngày 5-1-1523)
(Thư gửi J. Carondelet, TGmục Palermo JC Để đọc LSGH II,p.11)

NGƯỜI CHIẾN SĨ HÒA BÌNH

Erasme phẫn nộ vì giáo hoàng biến thành đấu sĩ và xúc động kêu mời các Kitô hữu xây dựng hòa bình.

Mũ chiến và mão Giám Mục nào có gì chung ? Đâu là liên hệ giữa gậy Giám Mục và lưỡi gươm ? Giữa sách Phúc Âm và lá chắn ? Thưa các giám mục, những đấng kế vị các Tông đồ, sao các Ngài dám dạy cho dân chúng điều thuộc về chiến tranh. Jules exclu du Ciel,1514 (về giáo hoàng Julio II)

Một số chân lý những người này cảm nghiệm không thể nào vượt qua được biển cả ; một số chân lý khác không vượt được rặng núi Alpes ; một số khác nữa không đi xa hơn dòng sông Rhin (...) Những ngọn cờ mang hình Thánh Giá ; quân đánh thuê vô đạo, được trả tiền để đi tàn sát và cướp phá cũng mang trước ngực hình Thánh Giá. Và Thánh Giá lẽ ra hòa giải được chiến tranh, lại trở thành dấu hiệu chiến tranh (...) Thánh lễ được cử hành trong doanh trại bên này lẫn bên kia. Còn gì quái gở hơn không ?

Tôi hô hào (và chính hòa bình lên tiếng) các ông hoàng (...) các linh mục (...) các giám mục (...) Tôi hô hào tất cả những ai tự hào mình mang danh Kitô hữu, ngõ hầu họ chung vai sát cánh tìm một thỏa thuận chung và dốc toàn lực chống lại chiến tranh...
(Erasme, La plainte de la Paix décriée et chassée de tous les nations (1517)
JC. Để đọc LSGH II,p.12)

MỘT GIÁO HỘI PHẢI CANH TÂN

Bài giảng Savonarola khởi sự cuộc cải tổ phong hóa Florence năm 1494.

Đến đây hỡi Giáo Hội nhuốc nhơ kia, hãy lắng nghe điều Chúa nói với ngươi : Ta đã cho ngươi những trang phục lộng lẫy, ngươi lại biến nó thành thần tượng. Bằng những bình vại quý giá, ngươi nuôi dưỡng lòng tự kiêu của ngươi. Ngươi đã xúc phạm đến các bí tích bằng tội mại thánh. Sự xa hoa diêm dúa đã biến ngươi thành cô gái làng chơi xấu mặt. Ngươi còn tệ hơn con vật : ngươi là quái vật ghê tởm. Xưa kia ít ra ngươi còn biết thẹn thùng vì tội lỗi mình ; giờ đây ngươi chẳng còn e lệ gì nữa. Xưa kia, nếu linh mục có con, họ gọi chúng là cháu; giờ đây người ta không có cháu nữa, họ có con, đơn giản là những đứa con.

Ngươi đã dựng lên ngôi nhà ăn chơi trụy lạc, ngươi đã tự biến mình từ trên xuống dưới thành căn nhà nhuốc nhơ. Hỡi cô điếm, cô làm gì thế ? Ngồi vắt vẻo trên ngai Salomon, cô vẫy tay mời khách qua đường : ai có tiền thì vào và làm mọi thứ mình thích. Còn những người mong điều thiện bị quẳng ra ngoài. Thế đó, Giáo Hội ngoại tình, ngươi mở cho mọi người thấy sự tủi hổ của ngươi và hơi thở nhiễm độc của ngươi đã bốc đến tận trời cao.
(Fliche et Martin, LSGH,tập 15,t.134 - JC Để đọc LSGH II,tr.13)

CUỘC KHÁM PHÁ CỦA LUTHER VỀ LÒNG NHÂN TỪ

Đến cuối đời, Luther kể lại điều ông coi là kinh nghiệm nền tảng : Ơn Cứu Độ chỉ cần đức tin. Theo nhiều sử gia, biến cố vào cuối 1514.

Tôi đã nóng lòng khát khao được hiểu cặn kẽ một từ ngữ dùng trong thơ Roma, chương thứ nhất có viết : "Sự công chính TC mạc khải trong Tin Mừng", bởi vì tới khi đó tôi vẫn rùng mình khi nghĩ đến chữ này. Tôi căm ghét chữ "Công Chính Thiên Chúa", vì theo thói quen vẫn dùng và ý nghĩa triết học các tiến sĩ dạy tôi. Theo đó, tôi hiểu sự công chính họ gọi là mô thức chủ động và vì nó, TC công thẳng và trừng phạt tội nhân lẫn phạm nhân.

Dù là đan sĩ với lối sống không có gì đáng trách, tôi vẫn thấy mình là tội nhân trước TC, lương tâm tôi bối rối tột cùng và không dám chắc Ngài nguôi giận do những đền bù của tôi. Vì thế, tôi không thể yêu vị Chúa công thẳng và trả thù này... Tôi nói : "Vì tội cha ông Ngài bắt chúng tôi phải chết chưa đủ sao, lại còn bắt chúng tôi chịu luật lệ nghiêm khắc? Phải chăng Ngài dùng Tin Mừng để gia tăng hình phạt, lại còn bắt chúng tôi loan báo sự công chính và cơn giận của Ngài ?". Tôi muốn phát điên lên, lương tâm bị xáo trộn dữ dội, và tôi không ngừng tra cứu đoạn văn thánh Phaolô với niềm khát mong dữ dội muốn biết Ngài muốn nói gì.

Sau cùng Thiên Chúa động lòng thương xót tôi. Đang khi suy niệm ngày đêm, tôi suy xét đến mạch văn : "Sự công chính của TC được mạc khải trong Tin Mừng, như đã viết, người công chính sống bởi đức tin". Tôi bắt đầu hiểu sự công chính ở đây là điều TC ban để nhờ đó người công chính sống nếu như có đức tin. Vì thế câu trên có nghĩa thế này : Tin Mừng mạc khải cho chúng ta sự công chính TC, nhưng là sự công chính thụ động, qua đó TC tỏ lòng thương xót của Ngài công chính hóa chúng ta bởi đức tin. Tức khắc tôi cảm thấy như được tái sinh và như đã vào được thiên đàng qua cánh cửa mở rộng (...) Trước đây tôi căm ghét chữ công chính bao nhiêu thì nay tôi yêu dấu từ ngữ êm ái này bấy nhiêu...
(Luther, Préfaces de ses oeuvres, 1545 - JC. Để đọc LSGH II,tr.15)

TRÍCH TỪ 95 MỆNH ĐỀ CỦA LUTHER VỀ ÂN XÁ
(31.10.1517)

1. Khi nói hãy sám hối, Đức Kitô, Chúa và Thày chúng ta muốn trọn đời người tín hữu là một cuộc sám hối.

8. Các khoản giáo luật về sám hối chỉ áp dụng cho người sống chứ không liên quan gì đến người chết.

27. Họ giảng điều do con người tạo ra khi dám nói : ngay lúc đồng tiền vang trong két của họ, linh hồn bay lên khỏi luyện ngục.

50. Cần cho họ biết rằng : nếu giáo hoàng biết những lạm thu của các nhà giảng thuyết về ân xá, hẳn ngài thà thấy đền thờ thánh Phêrô tan thành tro bụi, hơn là để nó được xây dựng bằng thịt xương của các con chiên ngài.

62. Kho tàng đích thực của Giáo Hội là quyển Tin Mừng rất thánh của vinh quang và ân sủng Thiên Chúa.
(STROHL, Luther jusqu'en 1520 )

LUTHER TẠI NGHỊ HỘI WORMS
(18.4.1521)

Trừ khi được những bằng cớ Thánh Kinh hay lý lẽ hiển nhiên thuyết phục - Vì tôi chẳng còn tin giáo hoàng lẫn công đồng nữa - Tôi bị trói buộc vào bản văn (Kinh Thánh) tôi mang theo đây, và lương tâm tôi chịu giam cầm trong Lời Chúa. Tôi không thể và cũng không muốn rút lại điều gì, vì không có gì chắc chắn và lương thiện khi làm trái với lương tâm mình. Lạy Chúa xin thương giúp con.
(JC. Để đọc LSGH II,tr16)

CUỘC CHIẾN TRANH NÔNG DÂN

Những cách hiểu khác nhau về Thánh Kinh

THOMAS MUNTZER (1490-1525)

Trong cơn túng quẫn, dân nghèo bị lừa gạt. Bọn tiến sĩ, qua ngôn ngữ hành động, làm như thể người nghèo quá lo kiếm ăn chẳng thể nào học nổi, lại còn nói kẻ nghèo hãy để cho bọn bạo chúa cắt tiết và nhổ lông. Dầu sao, dù một người suốt đời chưa nghe ai nói tới Thánh Kinh, họ vẫn không thiếu tư cách để có đức tin chân chính, nhờ giáo huấn chân thật của Chúa Thánh Thần, như đã có người không nhờ sách nào cả mà đã viết nên Kinh Thánh.

Vì thế, phải lật đổ xuống khỏi bệ cao những kẻ quyền thế kiêu ngạo và vô đạo, vì lẽ chúng ngăn cản nhau và cả thế giới đến với đức tin Kitô chân chính (...). Than ôi, phải chi dân nghèo bị ruồng bỏ biết được điều này thì lợi biết bao ! Thiên Chúa khinh bỉ các ngài cao cả như Hêrođê, Caipha, Anna và đón nhận những người khiêm tốn vào phục vụ như Maria, Zacaria, Elisabeth (...)

Nguồn gốc sâu xa của nạn cho vay nặng lãi và trộm cướp là chính các ông hoàng và các lãnh chúa. Chúng chiếm đoạt vạn vật : cá nước, chim trời, thảo mộc hết thảy đều là của chúng. Sau đó chúng công bố giữa người nghèo giới răn của Chúa : "Chúa phán,ngươi chớ ăn cắp (...) dù lấy một món thật nhỏ thôi cũng phải treo cổ". Và nhà Tiến Sĩ khoác lác (Luther) nói Amen (...)

Hãy ngủ yên hỡi khối thịt yêu quí (Luther) ! Nếu quỉ phải ăn thịt mi, ta thích nó ăn trên vỉ nướng trong lò trong sự kiêu ngạo của mi, do cơn thịnh nộ của Chúa, hơn là luộc mi trong nước. Vì thịt mi là thịt lừa : phải hầm thật lâu, kẻo món ăn sẽ dai nhánh đối với răng sữa của bạn bè mi.
(Thomas Muntzer, Écrits théologiques et politiques. - JC Để đọc LSGH II,t.18)

LUTHER

Hỡi các lãnh chúa, hãy hạ bớt cơn giận một chút; hãy giảm sự tàn bạo để dân còn chút không khí và không gian mà sống. Hỡi các nông dân, hãy nghe lời khuyên nhủ : các bạn hãy từ bỏ đôi điều đi quá xa, những đòi hỏi quá đáng. Các bạn hãy để cho êm vụ việc theo quyền lợi và công lý loài người, nếu không thì cũng vì đức tin Kitô giáo. (Lời kêu gọi Hòa Bình (năm 1525)

Ở đây ai đánh được cứ đánh đi. Người ta đuổi bắt chó điên và giết nó, bằng không nó sẽ giết các ngài cùng với cả nước. Chuyện thật kinh khủng. Chúng che đậy tội ác dưới lớp áo Tin Mừng. Mong các vị thẩm quyền hãy thi hành phận sự. Dù ở đâu, khi nông dân không muốn nghe lẽ phải, hãy cầm lấy gươm mà chém đi. Mọi ông hoàng đều là tôi tớ Chúa. Thời gian thương xót đã qua , nay đến thời của gươm giáo và giận dữ (...). Nếu vì thế mà các ngài chết, các ngài thật hạnh phúc, vì không thể ước ao cái chết nào đẹp hơn được.
(G. Casalis, Luther et l'Église confessante. - JC.Để đọc LSGH II,t.18)

CHẾ ĐỘ KITÔ GIÁO THEO CALVIN

Mọi hành vi phải theo ơn gọi của mình

Chúng ta phải cẩn thận nhận xét để thấy Chúa đòi mỗi người chúng ta theo ơn gọi riêng, trong mọi hành vi cuộc đời (...) Vì sợ chúng ta liều lĩnh và cuồng vọng gây rối mọi chuyện, Thiên Chúa phân biệt các bậc sống và cách sống, sắp đặt cho mỗi người những gì họ phải chu toàn. Và để đừng có ai nhẹ dạ vượt quá giới hạn của mình, ngài đặt cho họ những cách sống theo ơn gọi (vocations).Vì thế mỗi người cần biết chắc bậc sống của mình như một nơi được Chúa chỉ định, để khỏi bay nhảy lung tung cách khinh xuất suốt cuộc đời. (Chương III,X,6)

Phân biệt giáo hội hữu hình và vô hình

Thánh Kinh nói về hai loại giáo hội. Đôi khi Thánh Kinh nói về Giáo Hội thực sự, trong đó chỉ có những ai được hưởng ân sủng làm con Thiên Chúa, và nhờ ơn Chúa Thánh Thần thánh hóa để thực sự là chi thể Chúa Kitô. Và như thế, Thánh Kinh không chỉ nói đến các thánh sống trên trái đất mà tất cả mọi người được tuyển chọn từ tạo thiên lập địa.

Mặt khác, thường danh xưng Giáo hội ám chỉ đông đảo những người đang sống rải rác trên khắp miền thế giới, cùng tuyên xưng tôn thờ Thiên Chúa và đức Giêsu Kitô, có phép rửa làm chứng cho niềm tin mình, đồng thời tham dự vào tiệc thánh để chứng tỏ sự thống nhất trong giáo lý và đức ái. Giáo Hội lắng nghe Lời Chúa và duy trì việc rao giảng Lời theo mệnh lệnh đức Giêsu. Trong giáo hội này lẫn lộn nhiều kẻ giả hình bên người tốt.

Vì thế, cũng như phải tin vào Giáo hội vô hình ta không thấy, chỉ có Chúa biết ; thì chúng ta phải biểu dương giáo hội hữu hình và giữ hiệp thông với nó vậy.

Những dấu chỉ của giáo hội hữu hình

Thế đó, chúng ta có Giáo hội hữu hình. Bất cứ nơi nào ta thấy Lời Chúa được rao giảng và lắng nghe cách tinh toàn,các bí tích được cử hành theo như Chúa Giêsu thiết lập, nơi đó không còn gì nghi ngờ về sự hiện diện của giáo hội (Ep. 2,20). Cũng như lời Chúa hứa không thể sai lầm được : "bất cứ nơi nào có hai ba người tụ họp nhân danh Ta, Ta sẽ ở giữa họ" (Mt. 18,20).

Giáo hội phổ quát là tất cả những ai đồng tâm nhất trí với chân lý Chúa, với giáo lý Lời Ngài; cho dù khác biệt về quốc gia, xa cách về lãnh thổ, giáo hội đó được liên kết bằng mối dây tôn giáo. Trong giáo hội phổ quát này, bao gồm những giáo hội rải rác tại mỗi làng, mỗi thành phố, đến nỗi mỗi giáo hội đó đều có tước hiệu và thẩm quyền của giáo hội. (Chương IV,I,7 và 9)

BỐN TÁC VỤ TRONG GIÁO HỘI

Có bốn phẩm cấp Chúa chúng ta đã lập để quản trị giáo hội Ngài. Trước hết là mục sư, rồi đến tiến sĩ, đến các trưởng lão và các phó tế.

* Về các mục sư : Kinh Thánh không bao giờ gọi các trưởng lão và thừa tác viên bằng danh xưng này. Các vị có vai trò loan báo Lời Chúa, truyền thụ giáo lý ; răn bảo khuyến khích và khiển trách công khai hoặc riêng tư ; cử hành bí tích và sửa dạy huynh đệ cùng với các trưởng lão và phụ tá. Thế nhưng để không xảy ra xáo trộn trong giáo hội, không ai được vào nhiệm vụ này nếu không có ơn gọi. Ơn gọi ấy được xét theo ba việc : điểm chính yếu là khảo hạch, sau đó tham gia việc quản trị, rồi với một nghi lễ hoặc cách nào tốt hơn, tiến dẫn họ vào phận vụ.

* Công việc chuyên môn của các tiến sĩ là dạy dỗ tín đồ giáo lý lành mạnh, ngõ hầu sự tinh tuyền của Tin Mừng không bị bóp méo bởi vô tri hay bởi dư luận xấu. Tuy nhiên theo cách sắp xếp hiện nay, chúng ta hiểu chức tiến sĩ để hỗ trợ và giáo huấn, nhằm bảo vệ giáo lý của Chúa, và làm sao để giáo hội không phải sầu não vì lỗi các mục sư hay thừa tác viên. Xử dụng từ "tiến sĩ" theo lối gọi trường ốc, giúp dễ hiểu hơn về phận vụ của họ...

* Trách vụ của các trưởng lão : là theo sát nếp sống của mỗi người, răn bảo cách yêu thương những ai sa ngã hoặc sống vô trật tự. Và tại khu vực ông thi hành phận sự, ông sẽ báo cáo cho hiệp hội được đề cử để thi hành việc sửa dạy huynh đệ, ông sẽ cùng với họ hoàn thành nhiệm vụ này...

* Bao giờ cũng có hai loại phó tế trong giáo hội cổ thời. Một số được đề cử để tiếp nhận, phân phối và gìn giữ của cải cho người nghèo, nhận từ của bố thí hằng ngày đến các khoản tài sản, lợi tức và trợ cấp. Những vị khác để săn sóc và băng bó các bệnh nhân và phân phối lương thực hàng ngày cho người nghèo. Thói quen đó chúng ta vẫn duy trì.
(Các phẩm chức giáo hội Genève, 1541. - JC Để đọc LSGH II,t.20)

CUỘC HÀNH QUYẾT THOMAS MORE

Ngài Thomas More làm như đi dự đại lễ, đã mặc chiếc áo đẹp nhất của ông. Thấy vậy viên sĩ quan khuyên ông cởi ra và rằng ăn mặc thế là lỗ mãng. Ông đáp :

- Thưa ngài sĩ quan, tôi lại lỗ mãng với người hôm nay giúp tôi một dịch vụ họa hiếm sao ? Nói thiệt, tôi nghĩ rằng nếu áo này toàn vàng mới thật xứng hợp.

Sau đó, ông đổi trang phục, rồi theo gương thánh Cypriano tử đạo, ngoài số vàng ít ỏi ông còn lại, ông tặng cho lý hình tượng thiên thần nhỏ bằng vàng.

Rồi ông được viên sĩ quan đưa ra khỏi tháp dẫn đến nơi hành hình. Khi leo lên đoạn đầu đài đang lung lay như muốn sụp, ông vẫn vui vẻ nói với viên sĩ quan : Thưa ngài, xin làm ơn giúp tôi leo lên, còn chuyện xuống tôi làm một mình cũng được.

Tiếp theo, ông xin đám đông đứng chung quanh cầu nguyện cho ông và làm chứng rằng ông chịu chết trong chân lý đức tin của giáo hội Công giáo thánh thiện. Đoạn ông quỳ gối cầu nguyện và quay qua lý hình, vui vẻ nói : "Hỡi chàng trai, can đảm lên, đừng sợ thi hành nhiệm vụ. Mà này, cổ tôi hơi ngắn đấy, khéo mà anh chém trật thì mang tiếng lắm đó".
(Cuộc đời ngài Thomas More do con rể là W.Roper - JC Để đọc LSGH II, t.126)


1787