Sidebar

Chúa Nhật

25.09.2022

Chương 14: Giáo Hội Và Cuộc Khủng Hoảng Lương Tâm_Bài Đọc Thêm


BÀI ĐỌC THÊM

JANSÉNISME

Tội, ân sủng, tiền định đó là những chủ đề lớn của Jansénisme. Tu viện St. Cyral nói về tiền định khá giống với Calvin.

Tiền định không là gì khác hơn tình yêu vĩnh cửu của Chúa với một số con cái Adam, sau khi thấy tất cả họ rơi vào án phạt do tội tổ tông, bỏ rơi những kẻ mà hỏa ngục muốn cho họ, trong khi tình yêu hoàn toàn tự do được dành cho những kẻ ngài đã định sẵn từ đời đời được hưởng phúc thiên đàng như con cái và bạn hữu ngài. Vì thế với những kẻ được cứu, các bạn thấy Chúa tách biệt họ từ khi họ chưa sinh ra, khỏi tất cả những người khác mà lẽ ra họ cũng bị một án như vậy.

Những người gia nhập Giáo hội sau khi nghe giảng lời Chúa và nhận phép rửa tội, là hai phương tiện đầu tiên giúp ta nên thánh, dù không biết mình có thuộc vào số những người được Chúa yêu thương tự đời đời không, họ không nên cực lòng về điều đó, nhưng chỉ cần thực thi đúng những gì Thiên Chúa đã truyền cho họ qua đức Giêsu Kitô (...)
(Theo Yean Orcibal St. Cyran et le Jansénisme, Seuil 1961)

UNIGENITUS (1713)

Kết án 101 mệnh đề của Quesnel, tông chiếu Unigenitus của đức Clément XI kết án luôn việc đọc Kinh Thánh

Những mệnh đề sau của Quesnel đã bị kết án :

80. Việc đọc Kinh Thánh được dành cho tất cả mọi người.

81. Sự bí ẩn thánh của Lời Chúa không phải là lý do chuẩn miễn cho lương dân đọc Lời Chúa.

82. Các Kitô hữu phải thánh hóa ngày của Chúa bằng cách đọc sách đạo đức, đặc biệt là Sách Thánh. Đáng kết án việc muốn họ không được đọc.

83. Thật là sai lầm khi quả quyết sự hiểu biết các mầu nhiệm tôn giáo không được truyền thông cho phụ nữ qua việc đọc Sách Thánh. Sự lạm dụng Kinh Thánh, việc phát sinh lạc giáo không do sự đơn sơ của phụ nữ mà do khoa học kiêu ngạo của con người.

85. Tước đoạt Tân Ước khỏi tay của các Kitô hữu, hoặc đóng sách lại khi trình bày cho họ cách hiểu Tân Ước, đó chính là khóa miệng Đức Kitô với họ.

Chúng tôi tuyên bố, kết án và hủy bỏ các mệnh đề nêu trên vì chúng sai lầm, xảo trá, bất nhã, chói tai người đạo đức, xì căng đan (...) chúng lấy lại nhiều lạc thuyết khác nhau và đặc biệt lạc thuyết chứa đựng trong các mệnh đề nổi tiếng của Jansen.

FÉNÉLON (1651-1715)

Tình trạng thụ động các vị thánh thần bí thường đề cập đến không phải là thụ động như trong lúc chiêm niệm, nghĩa là nó không loại bỏ những hành vi bình an vô vụ lợi mà chỉ bỏ các sinh hoạt hay hành động bất an, vội vã nhằm lợi ích riêng của ta thôi.

Tình trạng thụ động là tình trạng một tâm hồn, không yêu Chúa bằng tình yêu pha trộn, thực hiện mọi hành vi với ý muốn sung mãn và hiệu quả nhưng vẫn bình an và không vị lợi. Khi thì nó thực hiện những hành vi đơn giản và không rõ rệt được người ta gọi là tĩnh tại (quiétude) hoặc chiêm niệm ; khi thì nó thực hiện những hành vi rõ ràng của những nhân đức thích hợp với tình trạng của nó. Nhưng nó thực hiện cả hai loại trên một cách thụ động như nhau, nghĩa là bình an và vô vị lợi (...)

Fénélon, Explication des Maximes des Saints sur la vie intérieure 1697

MADAME GUYON (1648-1717)

Kinh nguyện của tôi như tôi đã nói, là ngay từ đầu không mang bất cứ hình thức, thể loại hay hình ảnh nào (...) Đó là kinh nguyện của lòng tin, loại bỏ mọi phân biệt, bởi vì tôi chưa từng thấy đức Giêsu Kitô, cũng như các ưu phẩm của Thiên Chúa : tất cả được thấm nhuần vào lòng tin ngọt ngào, trong đó mọi phân biệt phải tự biến mất nhường chỗ cho tình yêu, yêu nhiều hơn nữa, yêu không cần động lực lẫn lý do (...)

Không có gì cả trong đầu óc tôi mà cả trong nơi thâm sâu nhất của tôi. Nếu người ta hỏi tại sao tôi yêu mến Chúa ? Phải chăng do lòng thương xót hay lòng nhân hậu của ngài, tôi không biết người ta nói gì với tôi cả. Tôi chỉ biết rõ rằng ngài tốt lành, đầy lòng xót thương, những thiện hảo của ngài làm tôi vui thích, nhưng tôi không hề nghĩ đến tôi để yêu ngài.

Tôi muốn yêu mến ngài và lòng tôi cháy lửa sốt mến chỉ bởi vì tôi yêu mến ngài. Và tôi yêu ngài đến nỗi tôi chỉ có thể yêu mình ngài, mà tôi yêu ngài không hề vì động lực nào khác ngoài chính ngài. Tất cả những gì gọi là quyền lợi, là phần thưởng đều cực lòng tôi. Ôi lạy Chúa ! Làm sao con có thể thông đạt tình yêu mà Chúa đã chiếm đoạt con ngay từ thuở ban đầu (...)
La vie de Madame Guyon tự thuật, Ed. Dervy-Livres 1983

GALLICANISME

Tuyên ngôn bốn khoản 1682 (trích)

1. (...) Các vua các quốc vương không phải tuân phục bất cứ quyền nào của Giáo Hội

2. (...) Những sắc lệnh công đồng Constancia (quyền công đồng vượt trên tất cả mọi quyền khác kể cả giáo hoàng) đã được Tòa Thánh châu phê và được Giáo Hội Pháp tuân giữ, vẫn còn hiệu lực thi hành...

3. (...) Các luật lệ, phong tục và định chế đã được nhìn nhận trong vương quốc và giáo hội Pháp, phải được coi là có hiệu lực thi hành, và các tập tục của cha ông chúng tôi phải không hề lay chuyển...

4. (...) Giáo hoàng có vai trò chính trong những vấn đề đức tin và những sắc lệnh của ngài liên quan đến toàn thể giáo hội. Tuy nhiên phán quyết của ngài không phải là bất khả thay đổi, trừ phi được cả giáo hội đồng ý.

ƠN VÔ NGỘ TRONG THỰC TẾ

Dù chối ơn vô ngộ tín lý, nhiều người đương thời nhận giáo hoàng vô ngộ trong sự kiện. Xin đọc thư của Nicole phái Jansénisme gởi linh mục Quesnel.

Thưa Ông, cần phải lưu ý đến tình hình giáo hội công giáo mà chúng ta đang sống và muốn chết trong giáo hội. Giáo hội này có giáo hoàng là thủ lãnh và giáo hoàng theo luật là vị có quyền nhất về giáo lý. Tôi không tin ngài vô ngộ, ông lại càng không tin nữa, nhưng ngài có một thứ ơn vô ngộ trong sự kiện, do sự tuân phục của các dân tộc và do uy tín của ngài trong khắp giáo hội. Nên nếu ngài kết án học thuyết nào, dù bất công và vô lý, thì không gì khó hơn là xóa bỏ án đó mà không bị đè bẹp dưới quyền lực của ngài (Khoảng năm 1692)
(Trích H.BREMOND, Histoire littéraire du sentiment religieux en France,p 429-430)

HIỆU NĂNG CỦA LONG KỴ BINH

Sự thuyết phục và trợ cấp tài chánh chỉ đem lại kết quả giới hạn cho việc cải đạo. Các vị hầu cận đức vua từ 1681, nhất là năm 1685 đã đưa quân đến đóng nơi anh em Tin Lành : đó là đoàn long kỵ binh. Vô số anh em Tin Lành trở lại công giáo làm dư luận thỏa mãn.

Sự hài lòng của Gm Grenoble, Étienne le Camus

Chúng tôi đã thấy hầu như hết thảy những kẻ tự xưng là cải cách ở Dauphiné trở lại công giáo cách nhẹ nhàng và mau lẹ, đến nỗi dù có thể cho rằng họ sợ tội bất tuân phục đức vua và họ sợ ngài nổi giận, thì dầu sao cũng phải công nhận có phần của Chúa, rằng bàn tay quyền năng của Ngài đã nâng đỡ cách kỳ diệu những ý hướng tốt lành của Đức Hoàng Thượng. Sau cùng, ngót 50.000 người Hugnenots ở Dauphiné đã cải đạo trong vòng một tháng...

Rốt cuộc Montpellier, Lunel, Nimes và phần lớn các thành khác ở Languedoc cũng tuyên thệ (bỏ cải cách). Không có gì trên thế gian làm vinh dự hơn cho Đức Vua vĩ đại, cũng không có gì xứng đáng hơn cho Giáo Hội và Tòa Thánh, vì chỉ trong ba tháng, chẳng còn việc hành đạo nào của Huguenots lẫn tôn giáo Calvin trên đất Pháp.
(J.Comby II, p 51)

BÃI BỎ SẮC LỆNH NANTES

Trích sắc lệnh Fontainebleau (10-1685)

(...) Trẫm, cùng với lòng tri ân chính đáng với Thiên Chúa, hiện thấy rằng những quan tâm của trẫm đã đạt được mục đích được đề ra vì phần lớn những dân của trẫm đã theo RPR và phần tốt nhất, đã trở lại Công Giáo ; Vì thế, việc thi hành sắc lệnh Nantes và tất cả các lệnh truyền có lợi cho RPR nay thành vô hiệu, trẫm xét rằng không thể làm gì tốt hơn để xóa sạch những kỷ niệm gây xáo trộn, hiểu lầm và tang thương do việc phát triển ngụy giáo này gây ra trong vương quốc trẫm và đã khiến sắc lệnh trên ra đời (...) ngoài cách bãi bỏ hoàn toàn cái được gọi là sắc lệnh Nantes (...)

Điều 2 : Nghiêm cấm các thần dân thuộc RPR tụ tập để thực hành cái gọi là tôn giáo tại bất cứ nơi nào và tư gia.

Điều 8 : Đối với những trẻ em được sinh ra do cha mẹ theo RPR, Trẫm muốn rằng chúng được rửa tội do các cha sở họ đạo. Trẫm ra lệnh cha mẹ phải đem con đến nhà thờ để làm việc này, nếu không sẽ nộp 500 lia tiền phạt.

KHỞI ĐIỂM KHOA CHÚ GIẢI THÁNH KINH

Môisen không thể là tác giả của toàn bộ Ngũ Thư.

(...) Quả là dễ dàng để đưa ra chứng cứ việc Môisen không phải là tác giả duy nhất Bộ Ngũ Thư theo cách vẫn hiểu hiện nay (...) Chẳng hạn người ta nói Môisen là tác giả chương cuối sách Thứ Luật, chương mô tả cái chết và việc chôn táng ông ? Tôi biết trong việc này, Josèphe và Philon đã nại đến ơn tiên tri : nhưng ta không buộc phải tin điều đó, càng không tin về những gì dân Do Thái gán toàn bộ lề luật cho Moisen để Luật được thêm giá trị (...)

Trong bộ ngũ thư có vô số điều được lặp lại rõ ràng không do Môisen, nhưng đúng hơn, do những người đã sưu tập các sách thánh, họ nối kết tổng hợp các bài học và giải thích các chữ giống nhau (...) Chúng tôi có thể liệt kê những điều lặp đi lặp lại khi tả trận Hồng Thủy (...) Sách Xuất Hành và Lêvi cũng có nhiều điều lặp lại như sách Sáng Thế (...) Rồi sự khác biệt về văn phong trong các sách của Môisen cũng là một bằng cớ chứng tỏ rằng cùng một văn sĩ không thể là tác giả của chúng được (...)
Richard SIMON, Histoire Critique du Vieux Testament,1678

XÃ HỘI VÔ THẦN CÓ THỂ CÓ NỀN LUÂN LÝ HOÀN HẢO

P.Bayle (1647-1706) thuộc phái Calvin, qua Công giáo vài năm, lại trở về với phái Calvin. Giáo sư triết và sử tại Sedam, rồi Rotterdam. Ông phê phán mọi nhóm tuyên tín kể cả Calvin và suốt đời nói về khoan dung

Một xã hội vô thần vẫn có các hoạt động dân sự và luân lý hoàn chỉnh khác, miễn là nó trừng trị nghiêm khắc các tội ác và trong một số việc, nó khen thưởng và khiển trách cho đúng. Bởi vì dù không biết Đấng Tạo Hóa và Điều lãnh thế giới, các thành viên xã hội này vẫn có thể nhạy cảm với vinh dự và khinh bỉ, với phần thưởng và hình phạt, với mọi dục vọng nơi người khác.

Sự vô tri đó không che phủ ánh sáng lý trí, người ta thấy trong họ, có những người tín nghĩa khi buôn bán, giúp người nghèo, chống bất công và trung tín với bạn hữu ...Với ai tự xác tín rằng một dân tộc không biết Chúa sẽ phải tạo ra những luật lệ danh dự đòi phải tinh tế lắm mới giữ nổi, chỉ cần kẻ ấy nhớ rằng, ngay giữa Kitô hữu cũng có thứ vinh dự thế gian hoàn toàn ngược với Phúc Âm (...)

Hãy so sánh một chút trong các quốc gia tuyên xưng đạo Chúa Kitô, tôi nói bạn so sánh đi, so sánh nước này với nước khác, bạn sẽ thấy điều được coi là bất chính ở vùng này, chưa hẳn là vậy tại nơi khác. Điều đó có nghĩa là những ý tưởng về lương thiện nơi Kitô hữu không xuất phát từ tôn giáo mà họ tuyên xưng.
(P.Bayle, Pensée sur la Comète, 1682)

KITÔ GIÁO TRÁI VỚI TỰ NHIÊN

* Luân lý tự nhiên và mạc khải không thể hợp nhau

Kẻ sùng đạo thì khô khan, không nhân từ, khó chịu, là người chồng tồi, công dân xấu ... Vì các bổn phận này quá phụ so với các bổn phận khác.

Một trong những hậu quả xấu nhất của các bổn phận tôn giáo là hạ giá các bổn phận tự nhiên, là đặt bậc thang bổn phận ảo tưởng đặt trên các bổn phận thực sự. Thử hỏi một linh mục xem tiểu vào một chén thánh và vu khống một phụ nữ lương thiện cái nào xấu hơn? Ông sẽ nói với bạn là "tội tiểu vào chén thánh, tội phạm thánh". Thế là tội vu khống không bị trừng phạt công khai. Tội phạm thánh thì có giàn lửa. Và như vậy cuối cùng đã đảo lộn sự phân biệt chính xác về tội ác trong xã hội (...)

Trong Phúc Âm, cuốn sách phải nại đến, có hai loại luân lý. Một luân lý chung cho mọi dân. Một luân lý đích thực của Kitô giáo. Còn thứ luân lý sau như tôi biết lại là thứ luân lý phản xã hội. Bạn chịu khó đọc lại Bài Giảng trên núi coi. Hãy đọc lại trọn bộ Tin Mừng và thu thập các mệnh lệnh riêng của Kitô giáo, rồi sau đó bạn nói cho tôi hay, dù bản chất của nó là gì đi nữa, có cái gì hơn chúng để hủy bỏ các tương quan nhân loại chăng ?
Diderot, theo DESNÉ, Paris 1964 p 105
Les matérialistes francais de 1750-1800.

* Thư gửi Voltaire 11.6.1749

Tôi tin Thiên Chúa, cho dù tôi chung sống với anh em vô thần ... Điều rất quan trọng là đừng coi cây độc cần như cây mùi tây, chứ không phải tin hoặc không tin Thiên Chúa.

ĐỂ BÀI GIẢNG TRÊN NÚI CHẤP NHẬN ĐƯỢC

Người ta thấy rằng nếu các tín hữu muốn giữ lệnh truyền này của Đức Giêsu Kitô, thì chẳng bao lâu xã hội sẽ bị đảo lộn; người tốt trở thành mồi bạo lực cho kẻ ác, người tin sẽ chết đói vì không chịu dành dụm lúc dư dật để có cái ăn cái mặc khi gặp nghịch cảnh : tắt một lời mọi người phải thú nhận rằng các mệnh lệnh của Chúa chúng ta không am hợp với những bảo đảm và an toàn chung : đó là diều buộc các nhà chú giải phải dựa vào những hạn chế, những thay đổi và những lời hiểu ngầm ; nhưng tất cả chẳng có gì cần thiết, và quá ư kiểu cách với chúng ta [...]

Điều đã khiến các nhà chú giải sai lầm, là vì họ tưởng các mệnh lệnh của Chúa trong ba chương này liên hệ đến tất cả mọi tín hữu, có nhiều điều dành riêng cho các tông đồ của Chúa thôi, nhằm giúp họ thi hành tác vụ được Chúa trao phó [...] Kể từ khi đưa ra ngyuên tắc là bài giảng trên núi nhắm đến các tông đồ, sẽ chẳng còn gì là khó khăn nữa cả.
(Encyclopédie, Xem "Sermon de Jésus Christ" của Jaucourt)

TÔN GIÁO CỦA ROUSSEAU

Đối lại thuyết duy lý của triết học Ánh Sáng, J.J.Rousseau phục hồi tình cảm tôn giáo không theo hướng chính thống, nó dọn đường cho tôn giáo lãng mạn thế kỷ XIX.

* Lời tuyên xưng đức tin của vị đại diện xứ Savoie

[...] Tôi cũng xin thú nhận với các bạn rằng sự uy nghi của Thánh Kinh làm tôi kinh ngạc, và sự thánh thiện của Phúc Âm lên tiếng trong thâm tâm tôi. Hãy xem các sách triết lý dù lộng lẫy khoa trương, cũng nhỏ bé biết bao so với Phúc Âm ! Lẽ nào Đấng được sách ấy nói tới lại chỉ là một con người thôi sao ? [...]

Socrate chết khi bình thản nói triết lý với các bạn hữu, là cái chết êm ái nhất người ta có thể ao ước. Đức Giêsu chết trong cực hình, chửi rủa, nhạo báng, bị cả một dân tộc chúc dữ, quả là một cái chết dữ dằn mà người ta phải kinh sợ. Socrate cầm chén độc dược, chúc lành cho kẻ trao chén và cho kẻ khóc ông; còn Đức Giêsu giữa hình khổ ghê sợ, cầu nguyện cho lý hình độc ác. Phải, nếu cuộc sống cái chết của Socrate là của bậc hiền triết, thì cuộc sống cái chết của Đức Giêsu là của một vị Thiên Chúa.

Ngoài ra, chính Phúc Âm này đầy dẫy những điều không thể tin nổi, những điều lý trí khinh ghét mà mọi người biết phải trái không thể nào chấp nhận hay nghĩ ra nổi. Vậy phải làm gì giữa toàn bộ những nghịch lý này ? Con ta ơi, hãy khiêm tốn và biết nhìn xa trông rộng; hãy kính trọng trong thinh lặng điều không thể loại bỏ lẫn không thể hiểu nổi. Hãy khiêm tốn hạ mình trước Đấng Cao Cả, chỉ có Ngài biết chân lý.
J.J Rousseau, Emile au de l'éducation

SỰ HOÀI NHỚ KHOA THẦN BÍ

Những đoản thi song cú của Scheffler, thuộc phái Luther, được phổ biến sau khi trở lại Công Giáo.

- Dù Đức Kitô giáng sinh ngàn lần tại Bêlem
mà không sinh ra nơi bạn,
Bạn vẫn đời đời hư mất.
- Than ôi, chúng ta những con người,
thật giống như những cánh chim nhỏ giữa rừng sâu
Chỉ khi ta đồng thanh cất tiếng hót,
mỗi thanh âm mang cung điệu mừng vui
- Bông hồng không hỏi tại sao,
nó nở hoa chỉ vì nó nở hoa.
Nó chẳng chú ý đến mình,
chẳng thắc mắc có ai nhìn ngắm.
- Nếu Thiên Đàng trước hết không có trong bạn
Hãy tin tôi, bạn sẽ chẳng vào đó bao giờ.
- Hỡi tinh thần thanh cao,
cất bỏ đi những mối ràng buộc,
đừng để mình bị giam hãm thế này.
Mi có thể gặp thấy Chúa huy hoàng
hơn tất cả các thánh nhân.
- Hãy nở hoa, này người Kitô hữu nguội lạnh,
vì tháng năm đã kề cận cửa nhà bạn.
Bạn sẽ chết đời đời nếu bây giờ và tại đây,
bạn không chịu nở hoa.
(Angelus Silésius, Pèlerin chérubinique).

PIÉTISME

Mục sư Spener muốn hội nhập cảm tình vào tôn giáo nhưng vẫn là Tin Lành.

Đạo Kitô không hệ tại nhận biết và phân tích tỉ mỉ các vấn đề vô ích như người ta quen làm cách thái quá hiện nay ; Đạo hệ tại việc học biết Chúa Cứu Thế, Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa thật như phải biết, nhờ vào Lời Ngài, học kính sợ Ngài trong lòng, học yêu mến và kêu cầu ngài, theo động lực đức tin trong chân thật, để vâng lời Ngài trên Thập Giá và trong cuộc sống, để yêu mến tha nhân tận đáy lòng và giúp đỡ họ với lòng xót thương.

Còn đối với chính chúng ta trong cuộc sống, trước hiểm nguy của sự chết, biết từ bỏ chính mình với lòng tín thác không lay chuyển vào ân sủng Đức Kitô ban cho chúng ta và mong đợi cuộc sống vĩnh cửu với Thiên Chúa.
(Philippe SPENER, Pia desideria)

ZINZENDORF (1700-60)

Luôn luôn hạnh phúc của tôi là cảm thấy Cứu Chúa thường xuyên ngự trong lòng tôi ... Tôi đã sống nhiều năm theo cung cách bé thơ, tôi chuyện vãn hàng giờ với Ngài như người bạn nói với bạn mình (...) Trong những lúc tâm sự với Chúa, tôi rất sung sướng thưa với Ngài lòng tri ân về muôn ơn lành Chúa thực hiện qua việc nhập thể (...)

Tôi làm những gì có thể để được hạnh phúc, cho đến một ngày tuyệt vời kia, hôm đó tôi xúc động mãnh liệt vì thấy Đấng Sáng Tạo nên tôi lại chịu đau khổ cho tôi, đến nỗi tôi đã đổ ra ngàn giọt nước mắt và tôi càng gắn bó với Ngài khắn khít hơn, tôi kết hiệp với Ngài cách trìu mến. Tôi tiếp tục trò chuyện với Chúa khi tôi ở một mình, và tôi tin trong lòng rằng Ngài sát cạnh bên tôi (...) Thế đó hơn 50 năm tôi sống với Cứu Chúa của tôi và càng ngày tôi càng thấy hạnh phúc hơn.
Zinzendorf, Discours aux Enfants
Xc Dictionnaire de Théologie Catholiques

JOHN WESLEY VÀ MÉTHODISME

20g45 tối 25-5-1738, trong buổi lễ tại Luân Đôn, Wesley nghe bài dẫn nhập thư Rôma của Luther và "hoán cải".

Tôi cảm thấy lòng mình rực nóng cách lạ lùng, và tôi hoàn toàn tín thác vào Chúa Kitô và chỉ nơi Đức Kitô thôi về ơn cứu độ của tôi. Rồi tôi được ơn bảo đảm an toàn rằng Ngài đã cất lấy tội của tôi, đúng vậy, của chính tôi, và Ngài đã cứu tôi khỏi lề luật của tội và sự chết.

* Khởi sự chuyến rao giảng khắp nước Anh

Thứ năm 26-4-1739, khi tôi giảng tại Newgate về những lời này : "Ai tin thì có sự sống đời đời". Thật bất ngờ không chuẩn bị trước, bỗng nhiên tôi tuyên xưng mãnh liệt và rõ rệt rằng Thiên Chúa muốn cứu độ hết thảy mọi người ; và tôi khẩn nài Chúa đừng chịu để cho "kẻ mù phải lạc lối, trái lại, nếu đúng như vậy, xin Ngài thương ban bằng chứng cho lời của Ngài". Tức thì hai thính giả rồi người thứ ba ngã quị xuống đất. Họ ngã gục như bị sét đánh. Một người trong đám kêu la lớn tiếng. Chúng tôi cầu nguyện cho người ấy, và ông ta thay đổi cơn mê sảng thành niềm vui. Đến người thứ hai cũng lâm cơn hấp hối như thế, chúng tôi cũng khẩn nài Thiên Chúa cho ông ta. Và Chúa đã ban lại cho ông bình an trong tâm hồn.
(Nhật ký của Wesley)

THÁNH TYKHON ZADONSK (1724-83)

Do Tchébotarev, bạn cùng đan viện

Dù đi bộ hay đi xe, không bao giờ ngài quên mang theo cuốn thánh vịnh ngài luôn để trong vạt áo dòng, vì cuốn sách đó nhỏ thôi. Nhưng cuối cùng ngài đã thuộc lòng cả cuốn. Ngài cầm sách đó chúc lành cho tôi. Trên đường đi, ngài lớn tiếng đọc sách thánh vịnh ; thỉnh thoảng lại cao giọng hát vài đoạn (...)

Mỗi ngày ngài đều dự Thánh Lễ và hát ở cung nguyện ; ít khi ngài hát mà lại không khóc. Tại tu viện, vào nửa đêm, ngài đi dạo quanh giáo đường, rồi quỳ trước từng cánh cửa cầu nguyện mắt nhỏ lệ sốt sắng. Điều này tôi xin làm chứng. Đôi khi tôi cố lắng tai và nghe ngài nói : "Vinh Danh Thiên Chúa vượt trên các tầng trời" và đọc các thánh vịnh. Trước cánh cửa phía Tây, ngài cầu nguyện hơn nửa giờ và nhanh chân trở về phòng. Tại đây ngài làm việc miệt mài, đôi khi ngài bỗ củi (...)

Ngài quen nhắc chúng tôi : "Ai ở không sẽ phạm tội hoài". Chính ngài chẳng bao giờ ở không. Buổi sáng, trước thánh lễ ngài viết sách giáo dục mà nay ta còn thấy và nhiều người vẫn đọc nếu muốn được cứu độ.

Ngài nuôi trẻ mồ côi và kẻ cơ cùng, và yêu thương mọi kẻ nghèo khổ. Ngài cho đi mọi thứ mình có ... Các quý tộc và phú thương tặng ngài nhiều khoản tiền lớn. Nhưng ngài phân phát hết cho người nghèo, ngài tặng cả quần áo riêng, chỉ giữ lại một bộ mặc trên người (...)
Trích Nicolas ARSENIEW, la piété Russe - Delachaux et Niestlé, 1963)


1451