Sidebar

Thứ Sáu
12.08.2022

Chương 18: Từ Cách Mạng Pháp Đến Vatican I_phần 1


Chương 18: TỪ CÁCH MẠNG PHÁP ĐẾN VATICAN I
(1789-1870)

I. THỜI CÁCH MẠNG VÀ ĐẾ CHẾ PHÁP (1789-1815)

1,1. Thời cách mạng Pháp (1789-1800)

a/ Các giáo sĩ thời đầu cách mạng

Nhằm giải quyết cuộc khủng hoảng tài chính và chính trị, vua Louis XVI (1774-93) cho triệu tập "Tam Dân Nghị Hội" gồm đại biểu ba đẳng cấp giáo sĩ, quí tộc và thứ dân (300 + 280 + 610 = 1190 thành viên). Robespierre và tất cả đại biểu đều tham gia rước kiệu Thánh Thể ngày khai mạc nghị hội (5-5-1789). Đa số đại biểu giáo sĩ là các cha xứ công khai liên kết với đại biểu thứ dân trong việc thành lập Quốc hội lập hiến (9-7).

Ngày 14-7-1789, dân chúng Paris chiếm ngục Bastille, kéo theo nhiều cuộc nổi dậy ở nông thôn và cướp phá tài sản của giới quí tộc. Ngày 4-8, giới giáo sĩ và quí tộc chấp nhận từ bỏ mọi đặc quyền. Ngày 26-8, quốc hội bỏ phiếu tuyên ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền, được gợi hứng từ triết học Ánh sáng và bản tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ (1776), khẳng định quyền Tự do, Bình đẳng và Tư hữu.

Đến tháng 11, theo đề nghị của giám mục Talleyrand, nhà nước trưng thu tài sản các giáo sĩ và nhận đảm trách việc cứu tế, giáo dục. Nhiều nhà thờ và đan viện bị giới tư sản triệt hạ, hoặc đem dùng vào việc khác. Tháng 2-1790 các tu sĩ bị cấm tuyên khấn.

Theo tinh thần thời Ánh Sáng và chủ trương Pháp giáo, ngày 12-7-1790, quốc hội phổ biến bản Dân hiến Giáo sĩ, tổ chức lại Giáo hội Pháp : từ nay chỉ có 85 địa phận theo ranh giới tỉnh mới (thay vì 135) ; chức giám mục và cha sở sẽ do hội đồng tuyển cử gồm cả người ngoại bầu lên; sau đó mới thông tin cho đức thánh cha. Ngày 24-8, vua Louis XVI bị cưỡng ép phê chuẩn bản Dân Hiến. Ngày 28-11, quốc hội buộc các giáo sĩ trong vòng tám ngày phải thề hứa tuân theo bản Dân Hiến. Chỉ có 7 trong số 160 giám mục tuyên thệ. Gần một nửa số linh mục đã tuyên thệ. Các giáo sĩ không tuyên thệ không được làm việc nữa, họ được thay thế dần bằng các giám mục và linh mục do dân bầu lên.

Ngày 10-3 và 13-4-1791, đức Pio VI ra hai đoản sắc kết án bản Dân Hiến, đòi những vị tuyên thệ phải rút lại lời thề và cấm các giám mục mới được bầu, không được thi hành sứ vụ. Thực ra không phải mọi vị tuyên thệ đều xấu, vì nhiều giáo sĩ tuyên thệ để có thể ở lại với bổn đạo. Tuy nhiên, việc bầu giáo sĩ mới cách vội vã, đưa đến nhiều chọn lựa đáng nghi ngờ. Các linh mục không tuyên thệ phải làm việc lén lút.

b/. Canvê của Giáo hội Pháp

Tháng tư 1792, Pháp thua liên quân Áo-Phổ nhiều trận. Quốc hội liền coi các giáo sĩ "cố chấp" là kẻ thù của quốc gia. Tháng 8, các giáo sĩ này bị lệnh trục xuất. Trên 30.000 linh mục đi tị nạn khắp Âu Châu, khoảng 10.000 linh mục cùng với 26 giám mục ở lại trong cảnh "hầm trú". Từ ngày 2 đến 8-9-1792 gần 300 giáo sĩ bị thảm sát tại trại giam. Các giáo sĩ dân hiến cũng mất hết ảnh hưởng, bởi vì quyền hộ tịch (chứng tử, khai sinh, hôn phối...) được chuyển cho tòa thị chính. Vua Louis XVI bị hành quyết ngày 21-1-1793, máy chém ở Paris hoạt động suốt ngày nâng số nạn nhân lên đến 3000... (191 Chân phước tử đạo thời này được suy tôn vào tháng 10-1926).

Ý muốn tiêu diệt Ki-tô giáo lên cao độ dưới thời khủng bố từ tháng 9-1793 đến 7-1794 : sử dụng lịch cộng hòa (mỗi tuần 10 ngày). Phá hủy cơ sở tôn giáo, mở lễ hội hóa trang tại nhà thờ, tôn thờ nữ thần lý trí, mở chiến dịch buộc linh mục hoàn tục, hành quyết nhiều giáo sĩ, nữ tu và tín hữu về tội phản quốc và cuổng tín. Giáo hội dân hiến cũng không được hoạt động nữa, cho đến khi Danton (5-4), Hébert (13-4) rồi Robespierre (22-7) bị lên máy chém, an bình mới trở lại.

Đầu năm 1795, Quốc Ước Nghị Hội nhìn nhận tự do phụng tự trong nhà thờ nhưng bãi bỏ mọi ngân sách dành cho phụng tự, khởi xướng việc "chính-giáo-phân-ly". Mùa chay năm đó, các nhà thờ lại đầy người như xưa. Tuy nhiên hai giáo hội vẫn chống đối nhau : Giáo hội dân hiến tổ chức hai công đồng toàn quốc 1797 và 1801, quyết định dùng tiếng Pháp trong phụng vụ và xuất bản các tập Niên san Tôn giáo; còn Giáo hội hầm trú cũng âm thầm tái tổ chức việc truyền giáo. Nổi tiếng có linh mục Linsolas ở Lyon, học hỏi kinh nghiệm Giáo hội Việt Nam, cha tổ chức các thày giảng và trùm họ để đảm bảo sinh hoạt địa phương, còn linh mục thì thi hành tác vụ lưu động (Xc Jean Comby, Pour lire L'Histoire de L'Eglise, Cerf 1986, II, tr.98). Từ tháng 9-1797, vì sợ phái Bảo Hoàng nổi dậy, Chấp Chính Viện trở lại biện pháp cứng rắn với tôn giáo, bắt bớ các linh mục rồi xử bắn hoặc trục xuất đi Guane.

c/. Mở rộng cuộc cách mạng

Quân đội cách mạng mở rộng bờ cõi nước Pháp, lập nên nhiều nước chư hầu, áp dụng chính sách tôn giáo khác nhau tùy theo khu vực :

Trên đất Bỉ đã sáp nhập, các tu viện bị triệt hạ, tài sản bị đem bán. Các tín hữu không thề "mãi mãi thù ghét chế độ vương quyền" đều bị trục xuất lưu đày. Đại học Louvain bị đóng cửa (tháng 10-1797), 600 linh mục bị trục xuất.

Trái lại, ở vùng liên tỉnh, sự hiện diện của Pháp ở nước Cộng hòa Batave giúp người công giáo trước được nhân nhượng nay được tự do. Các tín hữu đứng về phía cách mạng nên được hưởng trọn quyền công dân và hoàn toàn tự do phượng tự.

Tháng 2-1797, Bonaparte ép đức Pio VI ký hòa ước Tolentino nhường cho Pháp đất Avignon, Venaissain và ba vùng Bắc Ý để lập nước Cộng hòa Cisalpina. Năm sau, Berthier tiến quân vào giáo đô, trục xuất đức Pio VI và lập nước Cộng hòa Roma. Đức Pio VI đã 82 tuổi bị đưa đến Valence và tạ thế ngày 24-8-1799.

Trong tình hình nội chiến với phe bảo hoàng, Chấp Chính Viện mời Bonaparte đang hành quân bên Ai-cập về. Khoảng 100 dân biểu tuyên bố trao quyền cho ba vị tổng tài Bonaparte, Ducos và linh mục Sieyes. Đó là cuộc đảo chính 18 tháng Brumaire (9-11-1799). Các phe phái đều đã thấm mệt nên chấp thuận. Vài tuần sau chế độ Tổng Tài ra đời (19-2-1800).

1,2. Kỷ nguyên Napoléon I

a/. Bản Thỏa Ước 1801

Đức Pio VII, là người từng tuyên bố thể chế dân chủ có thể hợp với phúc âm đắc cử ngày 14-3-1800. Còn Bonaparte, đệ nhất tổng tài Pháp, thì nghĩ mình không thể cai trị nếu không giao hảo với tôn giáo của dân Pháp. Theo ông : "Tôn giáo đưa đến ý niệm bình đẳng trên trời cao. Điều đó ngăn cản để người giàu không bị kẻ nghèo tàn sát". Ông thương thuyết với đại diện Tòa Thánh là hổng y Consalvi và cùng với đức Pio VII ký bản Thỏa ước ngày 5-7-1801 (Concordat) tại Pháp. Theo thỏa ước, việc phụng tự được công khai, chính quyền sẽ trả lương cho giáo sĩ, những ai chiếm giữ tài sản Giáo hội khỏi lo bị vạ. Đệ nhất Tổng tài như các vua Pháp xưa (của thỏa ước Bologne 1516) có quyền chọn giám mục, sẽ được Giáo hoàng thừa nhận theo giáo luật. Trước mắt, đức Pio VII bãi nhiệm tất cả mọi Giám mục.

Khi Bonaparte đưa bản Concordat cho quốc hội bỏ phiếu, ông kèm thêm 77 khoản về tổ chức. Theo đó, mọi văn kiện Tòa Thánh, và các sứ thần Tòa Thánh phải được phép của chính phủ mới được Phổ biến hay hoạt động tại Pháp, bản văn cũng buộc dạy trong chủng viện tuyên ngôn Pháp Giáo 1682. Đức Pio VII có phản đối nhưng vô ích. Dầu sao, lễ phục sinh năm 1802, người ta đã mừng trọng thể việc tái lập lễ nghi Công giáo tại Vương Cung Thánh Đường Paris. Cũng tháng đó, Chateaubriand, xuất bản cuốn "Tinh hoa Ki-tô giáo" phục hổi sự hiểu biết và tình cảm với tôn giáo truyền thống.

Áp dụng thỏa ước, Giáo hội Pháp chỉ còn 60 tòa giám mục. Các giám mục dân hiến chấp nhận giải nhiệm. Khoảng 30 cựu giám mục không chịu từ nhiệm, đã xúi tín hữu chống lại Thỏa ước và lập "Giáo hội nhỏ" ở miền Tây và Lyon. Về các giám mục mới, Bonaparte chọn nhiều thành phần để dễ hòa giải : 16 giám mục trước cách mạng, 12 giám mục dân hiến và 36 linh mục. Tại các lãnh Thổ bị sáp nhập vào Pháp, Bonaparte cũng áp dụng chính sách tương tự : giảm bớt số địa phận áp dụng các khoản về tổ chức. Nước Đức là nơi chịu nhiều thay đỗi nhất : các hầu quốc của Giáo hội vĩnh viễn biến mất, tài sản, các tu viện nay thuộc về chính quyền. Dân Đức gọi đây là việc tục hóa.

b/. Thời trăng mật và thời xung đột

Cho đến 1806, Giáo hội Pháp trải qua thời "trăng mật". Thực tế Giáo hội phục hổi cách chậm chạp vì quá thiếu nhân sự : trong 10 năm qua, số tân linh mục quá ít, một phần đã hoàn tục, phần khác thì tạ thế. Phải mở lại chủng viện và trùng tu các thánh đường ... Cuộc canh tân sẽ thực sự sinh hoa kết quả trong thời Trùng Hưng (sau 1815). Ngày 2-12-1804, Đức Pio VII đặt vương miện cho tân hoàng đế tại nhà thờ Đức Bà Paris. Hoàng đế Napoléon đạt được trọn niềm tin của giới Công giáo. Đức Pio VII được tiếp đón long trọng tại khắp các miền đất Pháp. Hàng giáo phẩm Pháp không tiếc lời ca tụng Napoléon : Đấng Chúa xức dầu, Đavít mới, Constantin, Charlemagne... và dành một chỗ đặc biệt nói về bổn phận đối với hoàng đế trong sách giáo lý 1806.

Nhưng cũng năm 1806, giai đoạn căng thẳng giữa giáo hoàng - hoàng đế bắt đầu. Napoléon yêu cầu giáo hoàng ngưng buôn bán với Anh quốc, nhưng đức Pio VII từ chối. Thế là tháng 2-1808 quân Pháp chiếm đóng Roma; tháng 5-1809 Nước Tòa Thánh bị sáp nhập vào đế quốc Pháp. Đức Pio VII phản ứng bằng bản vạ tuyệt thông những kẻ xâm lăng... Tháng 7, ngài bị bắt đưa về quản chế ở Savonna (gần Gênes) cho đến năm 1812. Dù bị cản trở, bản vạ tuyệt thông vẫn được Phổ biến tại Pháp.

Ngoài ra, dù các giám mục Paris đã cho phép hoàng đế ly dị Joséphine (không có con trai) để cưới công chúa nước Áo Marie-Louise, đức Pio VII vẫn tuyên bố hôn nhân này không thành (1810). Thêm vào đó, tình hình căng thẳng hơn do việc giáo hoàng không thừa nhận các giám mục mới được Napoléon bỗ nhiệm. Để thoát khỏi ngõ bí, hoàng đế triệu tập Công đồng toàn quốc tại Paris năm 1811. Các giám mục Pháp xác định mình trung thành với Tòa Thánh, nhưng lại không muốn làm phật ý hoàng đế, nên chấp nhận đi thuyết phục đức Pio VII. Ngài vẫn không chịu nhượng bộ. Tháng 6-1812, Napoléon áp giải ngài về Fontainnebleau.

Sau 6 tháng hành quân trên đất Nga, Napoléon thất bại, một lần nữa ông bắt ép giáo hoàng ký nhận. Bị cô lập, đức Pio VII đã nhượng bộ ngày 25-1-1813, nhưng ngài vội ra một tông thư khác (23-3) hủy bỏ bản văn trên và tiếp tục chịu làm tù nhân. Năm sau, Napoléon bị thua liên minh các nước Âu Châu, đức Pio VII được tự do và trở về Roma trong khải hoàn ngày 24-5-1814.

c/. Di sản Cách Mạng

Sau thời Cách mạng và Đế chế, Giáo hội Âu châu đã biến chuyển sâu xa. Phần lớn các tài sản Giáo hội đã sang tay trần thế. Giáo hoàng chỉ còn quyền tạm thời với các ông hoàng trong nước Tòa Thánh. Luật pháp công nhận quyền tự do phượng tự. Mỗi người có quyền xác định mình theo đạo nào. Giáo hội mất quyền hộ tịch và mất quyền làm chủ trong ngành giáo dục. Nhiều quyết định cực đoan của cách mạng chưa đủ thời gian để tổn tại như việc "chính giáo phân ly", phong trào "bài giáo sĩ" ... , nhưng sẽ được lập lại trong tương lai, qui chiếu vào cuộc Cách mạng này.

Thế nhưng, đức tin tín hữu được thanh luyện qua thử thách và Giáo hội có dịp trở về với sứ vụ chính yếu của mình. Bản thỏa ước sẽ ảnh hưởng suốt thế kỷ XIX : tạo nên hàng giáo sĩ xứng đáng, có phẩm trật rõ rệt, phục vụ việc quản trị. Các giám mục có quyền tuyệt đối trong giáo phận, đặc biệt trong việc thuyên chuyển linh mục. Những bất hạnh của các giáo hoàng đã làm tín hữu xúc động, nên họ càng ngày càng gắn bó hơn với Đấng kế vị thánh Phêrô, quen gọi là phong trào "bên kia núi" (Ultramontanisme), thượng tôn Roma về các việc tôn giáo.

Số các tín hữu bị chia thành hai phe : các tín hữu bình dân, coi Cách mạng như công trình của Satan, họ mong trùng hưng xã hội và tôn giáo như thời Vương Quyền; trái lại phe tự do thì cố bảo vệ những thành quả của cách mạng về dân chủ, tự do và bình đẳng, họ nghĩ những nguyên tắc 1789 có thể hòa hợp với Tin Mừng.

II THỜI TRÙNG HƯNG VÀ CHỦ NGHĨA TỰ DO

2,1. Bối cảnh chung từ 1815-70

Sau khi đánh bại Napoléon I, các quốc gia Âu Châu họp hội nghị ở Vienne (1814-15) dự định trùng hưng lại Âu Châu như trước 1789, theo nguyên tắc vương quyền. Đức giáo hoàng được lại các nước của mình. Ngày 26-9-1815, ba ông vua thuộc ba lối tuyên tín là Chính Thống, Tin Lành và Công Giáo : nước Nga, nước Phổ và nước Áo đã ra tuyên ngôn thành lập "Liên minh Thánh" (Sainte Alliance), tự nguyện "nhân danh Chúa Ba Ngôi Chí Thánh, bất khả phân", để liên kết, hỗ trợ nhau tổ chức việc cai trị theo những nguyên tắc ki tô giáo. Nói chung, thời Trùng Hưng, ngai vàng được nối kết với đền thờ, các nguyên tắc cách mạng bị bài bác vì con người có bổn phận chứ không phải có quyền. Theo Joseph de Maistre : "Cần phải trở lại chế độ quân chủ theo luật Chúa và nhìn nhận Giáo Hoàng là người bảo vệ trật tự chung".

Tuy nhiên số người ngả theo các nguyên tắc 1789 ngày càng đông. Phong trào quốc gia độc lập, dân chủ ngày càng phát triển mạnh. Các quốc gia Mỹ Latinh đang được độc lập[( Ecuador (1809), Mehico, Colombia, Chili (1810), Venezuela (1811), Argentine (1816), Peru (1821) Brasil (1822)] .

2,2. Xuyên qua Âu châu :

* Tại Pháp

Thời Trùng Hưng, số địa phận Pháp tăng lên 80 (năm 1822), số linh mục thụ phong thời đế chế khoảng 500 vị mỗi năm, nay đạt mức kỷ lục 2357 vị năm 1829. Thế nhưng, khi vua Charles X bãi bỏ tự do báo chí, dân Paris liền lật đỗ ông, đưa Louis Philippe lên ngôi (cách mạng 1830). Nhiều Thánh đường, tu viện bị phá hoại, việc chống giáo sĩ được công khai hóa... Cũng giai đoạn này báo Avenir do Lamenais chủ trương cổ võ quyền tự do. Lập trường của báo bị tòa thánh kết án năm 1832 và 1834. Song song với những người tiên phong của chủ nghĩa xã hội, Lamenais và De Coux cũng mạnh bạo tố cáo việc bóc lột thợ thuyền và đề nghị tổ chức mới về kinh tế dựa trên nền dân chủ chính trị. Saint Simon, Fourrier, Buchez và ban biên tập báo Atelier, thì đòi hỏi công bằng xã hội, về "quyền thu hoạch điều công nhận đã gieo trổng qua lao động"...

Thành công của cách mạng tháng 2-1848, mở đầu nền Cộng hòa đệ nhị đã được đa số giáo sĩ hưởng ứng, và chúc phúc. Người ta nói đến "Đức Ki-tô, Vị cộng hòa của mọi thời, đã chịu chết trên cây tự do vì anh em". Tiếc rằng cuộc cách mạng tháng 6-1848 diễn ra khá phũ phàng qua việc bắn chết Tổng Giám mục Affre (Paris) khi ngài kêu gọi hòa giải. Quốc trưởng Bonaparte (1848-52) là cháu Napoléon, tái lập lại thời đế chế, trở thành hoàng đế Napoléon III (1852-70). Ông khôn khéo nhờ các giáo sĩ xoa dịu lòng dân và ban hành đạo luật Falloux (1850) về giáo dục, dành quyền rộng lớn cho Giáo hội.

* Tại bán đảo Ibérique

Vua Joseph, anh của Napoléon I, cai trị Tây Ban Nha từ 1808-13, đã ban hành hiến pháp Cadiz 1812, trong đó bãi bỏ Tòa Tra và nhiều tu viện. Chiến tranh dành độc lập đã đưa Fernando VII lên ngôi (1814-33) và Trùng Hưng Giáo hội Tây Ban Nha. Năm 1820 phong trào "Tự do" tổ chức đảo chính, đã giải tán nhiều tu viện, chiếm đoạt tài sản Giáo hội và ép các giáo sĩ tuyên thệ trung thành với hiến pháp mới ... Năm 1823, vua Pháp Louis XVIII đem quân đến và tái lập lại chế độ quân chủ. Kế vị Fernando là nữ hoàng Isabella II, lên ngôi mới có ba tuổi (1833-68). Nhưng các vua xứ Basque và Aragon lại ủng hộ Don Carlos em trai Fernando, gây ra cuộc nội chiến. Các tu viện bị giải tán gần hết, các giáo sĩ bị bắt bớ. Năm 1841 Tây Ban Nha chỉ còn sáu tòa giám mục. Thế nhưng 10 năm sau (1851) Tây Ban Nha ký thỏa ước với Tòa Thánh, vẫn nhận Công giáo là đạo chính thức trong nước.

Tình hình tại Bồ Đào Nha cũng tương tự : bị Pháp chiếm năm 1807. Khi vua Juan VI qua đời, Don Miguel lên ngôi (1826-34), Bồ Đào Nha xảy ra nội chiến do thái tử Don Pedro đang là vua Brasil muốn dành ngai vàng cho con gái mình. Vì các tín hữu ủng hộ Don Miguel, nên khi ông bị lật đỗ, nhiều tu viện bị đóng cửa, tài sản Giáo hội bị tịch thâu. Tình hình lắng dịu hơn một chút từ năm 1840.

* Tại Đức và Áo

Liên bang Rhénanie (1806-15) do Napoléon lập, bị hội nghị Vienne giải tán, thay thế bằng Liên bang Đức gồm 39 nước gồm cả Phổ và Áo. Nguyên tắc "miền nào đạo nấy" mất hiệu lực. Các tín hữu công giáo, Tin Lành nay sống chung với nhau. Các quốc gia Tin Lành Wurtemberg, Hesse, Nassau thì tuyên bố bản Dân Hiến Giáo sĩ. Tại Phổ, nỗ ra vấn đề hôn nhân khác đạo do đạo luật 1803 đã buộc trẻ nhỏ phải theo đạo của cha. Những giám mục phản đối đều bị bắt giam (từ 1825). Mãi đến năm 1848 Phổ mới có Hiến pháp tự do tôn giáo. Riêng miền Bavière, một hiệp ước được ký với Tòa Thánh (1817), vua Ludwig (1825-48) đã biến Munich thành một trung tâm Công giáo lớn của Đức. Joseph Gorres giáo sư sử tại Munich, đã qui tụ được nhiều nhà tư tưởng công giáo tại Đại học này như Dollinger-Trẻ. Johann Mohler, qua tác phẩm "Sự hiệp nhất trong Giáo hội", đã cố gắng vượt qua khỏi lối nhìn Giáo hội phẩm trật để nhấn mạnh sự hiệp nhất sâu xa bên trong của Chúa Thánh Thần.

Tại Vienne, Áo, linh mục dòng Chúa Cứu Thế Hofbauer (+1820) đã tổ chức hoạt động rộng rãi chấn hưng đời sống tôn giáo, qui tụ được nhiều nhà trí thức Áo như Clemens Bruno, nhà thần học G(nther, triết gia Schlegel, chính trị gia Muller. Suốt 39 năm cầm quyền, thủ tướng Metternich (1809-48) bảo vệ Giáo hội nhưng lại cấm liên hệ với Roma. Sau khi ông bị lật đổ, Hiến pháp 1849 nhìn nhận tự do tôn giáo.

* Tại Bỉ : Năm 1830 dân Bỉ nổi dậy, không chịu sáp nhập vào Hà Lan nữa. Giới Công Giáo liên minh với nhóm tự do (dù họ chủ trương bài giáo sĩ), để chống lại Vua Hà Lan, thành lập nước Bỉ độc lập dựa trên những nền tảng tự do : tách biệt đạo-đời, tự do phượng tự, giáo dục và xuất bản. Giới Công Giáo chiếm 2/3 dân số đã được ý niệm tự do hỗ trợ. Tổng Giám Mục Sterchx xin đức Gregorio XVI làm ngơ trước luật tách biệt nói trên.

* Tại Ý : Các nước thuộc Giáo hoàng cố gắng tẩy xóa những dấu vết hiện diện của Pháp, cấm cả việc chủng ngừa lẫn chiếu sáng đường phố. Các giáo sĩ vẫn giữ những chức vụ chính yếu, nhưng phong trào bài giáo sĩ do các hội kín (như Carbonari) thúc đẩy, ngày càng phát triển. Khắp nước Ý nổi lên phong trào mạnh mẽ đòi thống nhất nước Ý là điều các Giáo hoàng chưa chấp nhận.

Năm 1830, khi đức Pio VIII nằm xuống, các nước Tòa Thánh liền nổi dậy. Tân giáo hoàng Grêgorio XVI nhờ quân đội Áo đến tái lập trật tự (25-3-1831) nên bị coi là đối thủ của tự do.

Viện phụ Gioberti (+1852) cổ động cho dạng thức liên bang dưới quyền của giáo hoàng, ngài cổ động để hiến pháp tháng 3-1848 dự liệu hạ viện sẽ do dân bầu, còn thượng viện là hồng y đoàn. Đức Pio IX rất được lòng dân, nhưng vì Ngài từ chối tham gia thánh chiến của Ý chống lại Áo quốc nên dân Ý tỏ vẻ thất vọng. Tháng 11-1848, đúng ngày khai mạc viện Dân biểu, chủ tịch nội các Rossi bị ám sát. Dân chúng bao vây điện Quirinal khiến giáo hoàng phải chạy xuống Gaeta. Năm sau, quân đội Pháp của Napoléon III tái chiếm Roma, đưa đức Pio IX trở về và tái lập chế độ chuyên chế như xưa.

Được dân Ý ủng hộ Victor Emmanuel vua xứ Piémont cùng với thủ tướng De Cavour chinh phục và thống nhất "nước Ý Trẻ". Tháng 3-1861, Emmanuel tự công bố là vua nước Ý, chiếm khoảng 2/3 nước Tòa Thánh. Do dư luận công giáo Pháp, Napoléon III duy trì quân đội để bảo vệ Roma và các vùng phụ cận cho đức Pio IX. Đến khi có chiến tranh với Đức, quân Pháp rút về, Emmanuel chiếm luôn Roma làm thủ đô nước Ý vào tháng 6-1871. Từ 1861 đến 1929, vấn đề lãnh Thổ Roma luôn làm "ô nhiễm" sinh hoạt Giáo hội : các giáo hoàng bất bình với "tự do" được xem như nguổn gốc những bất hạnh cho Giáo hội.

* Tại Anh và Ái Nhĩ Lan

Giáo hội Công giáo tại Anh quốc dưới 100.000 người nên không có gì khởi sắc. Trái lại tại Ái Nhĩ Lan, Công giáo chiếm đa số. Đã từ lâu họ bị buộc phải tài trợ cho Anh giáo, nhất là khi vua Anh George III ban hành đạo luật Thống Nhất (1800), sáp nhập nước Ái Nhĩ Lan, họ hầu như không có quyền chính trị nào nữa. Luật sư O'Connell tổ chức nhiều cuộc đấu tranh, biểu tình... và dành lại được quyền bình đẳng cho giới Công giáo Ái vào năm 1829. Từ nay họ được quyền bầu cử và ứng cử vào các chức vụ.

Giữa thế kỷ XIX, nhờ số tín hữu Ái Nhĩ Lan di tản, số người Công giáo ở Anh tăng lên đến 700000. Thêm vào đó, Giáo hội Anh được phục hổi nhờ một số nhân vật uy tín. Khởi đầu là Giám mục Wiseman (+1865) tác giả của cuốn Fabiola. Ngài xuất thân từ đại học Oxford sau trở thành viện trưởng đại học và tỏ ra rất cởi mở với trào lưu trí thức đương thời. Ngài giúp người Công giáo Anh hiểu biết về Giáo hội tại lục địa và đem lại cho họ sự can đảm. Đức Pio IX đặt ngài làm Giám mục Westminster khi tái lập hàng giáo phẩm Anh quốc năm 1850 (cùng 12 địa phận khác).

Wiseman đã mở đường cho John Newman trở lại. Vốn là mục sư Anh giáo, Newman là một trong những người khởi xướng cho phong trào Oxford nhằm canh tân Anh giáo đang lệ thuộc vào chính quyền Anh, nghiên cứu các giáo phụ, Newman đặt lại vấn đề nền tảng Anh giáo và việc phát triển các tín điều. Năm 1845 ông gia nhập Công giáo, sau gia nhập dòng Diễn Giảng rồi trở thành hồng y (1879). Manning cũng trở lại Công giáo sau làm Tổng giám mục kế vị giám mục Wiseman rồi cũng được chọn lên chức hồng y (1875).

* Thế giới Tin Lành

Vua nước Phổ, Wilhelm III cưỡng bách hai Giáo hội Luther và Calvin sáp nhập thành Giáo hội Tin Lành Thống Nhất năm 1817. Nhiều nước thuộc Đức cũng theo gương này. Tuy nhiên số hệ phái Tin Lành ngày càng nhiều và dựa vào hai trào lưu chính là phong trào thức tỉnh và chủ trương tự do [Thừa kế Piétisme đề cao lòng đạo đức tình cảm và diễn tả ra bên ngoài. Cố trình bày Ki-tô giáo sao cho giới khoa học có thể chấp nhận được]. Tinh thần duy lý thấm nhập dần vào thần học Scheiermacher (+1834) được coi là ông tổ của trường phái này. Trong loạt diễn văn về tôn giáo, ông khởi đi từ lương tâm : "Tôn giáo không phải là suy tư hành động mà là chiêm niệm trực giác". Tôn giáo là cảm nghiệm sự lệ thuộc vào Đấng tuyệt đối, do đó tín điều chỉ là tương đối.

Một số người phản ứng lại việc lệ thuộc quyền dân sự, họ lập ra những Giáo hội tự do (libres). Đó là trường hợp Vinet ở Vaud và Adolphe ở Lyon. Tại Đan Mạch có hai nhân vật rất khác biệt nhau, làm rạng rỡ cho sự thức tỉnh tôn giáo. Nếu Grundtvig (+1872) rao giảng một Ki-tô giáo bình dân, dành vị trí quan trọng cho bí tích và thánh ca, thì triết gia Kierkegard (+1855) đòi hỏi một Ki-tô giáo đoạn giao với thế giới và loan báo những chủ trương hiện sinh của thế kỷ sau.

* Thế giới Chính Thống

Sang thế kỷ XIX, đế quốc Ottoman hoàn toàn suy thoái, nên các quốc gia bị đô hộ vùng lên đòi độc lập. Sau cuộc nổi dậy của Hy Lạp (1821) thượng phụ Grégoire thành Constantinople bị người Thổ treo cổ ngay tại cổng Tòa thượng phụ. Hy lạp dành được độc lập năm 1832 và Giáo hội Hy Lạp tuyên bố tự trị vào năm sau (năm 1850 được công nhận). Tại nước Nga, những người Raskolniki vẫn tiếp tục đối đầu với Giáo hội chính thức và họ chia thành nhiều hệ phái.

Nước Ba Lan lệ thuộc vào Nga hoàng cũng nổi dậy năm 1830 và tuyên bố độc lập. Quân Nga đã đàn áp dân Ba Lan và tái chiếm Varsovie năm 1832. Nhiều người Ba Lan phải bỏ quê hương sang Tây âu, và họ được đón tiếp cách nổng hậu. Dân Ba Lan xin Giáo hoàng can thiệp. Thế nhưng làm sao đức Gregorio XVI có thể ủng hộ cuộc nổi dậy ở Ba Lan đang khi chống lại các cuộc nổi dậy ở nước Tòa Thánh ? Ngài kêu gọi dân Ba Lan chịu khuất phục các hoàng đế. Điều này gây sững sờ cho toàn thể Châu Âu.

Tuy Giáo hội Nga chịu áp lực của Nga Hoàng, truyền thống tâm linh ở đây vẫn phát triển mạnh. P. Paisios (+1794), khi ở trọ tại Mont Athos đã nghiên cứu lại các giáo phụ. Ông khai sinh truyền thống các Startsy (linh phụ: Staret), như thánh Anton xưa; đám đông tuốn đến xin họ hướng dẫn đời sống tâm linh. Các nhà tư tưởng Nga cố phát triển ý thức tôn giáo trở về nguổn Chính Thống. Những người thân Slave (Slavophiles), thì chống lại những người chịu ảnh hưởng thuyết dân chủ Tây âu. Nhà văn Dostoievski (+1881) khám phá ra những vực sâu của điên cuổng và tội lỗi nếu không tin vào Thiên Chúa.

III. CÔNG ĐỒNG VATICAN I (1869-70)

3,1. Bối cảnh phát sinh

Đầu thế kỷ XIX giáo lý Kitô bị triết học và khoa học đặt lại vấn đề. Nhiều người công khai phi bác Thượng đế, chống lại quan điểm Kitô giáo về con người và thế giới. Triết học Kant xác quyết con người không thể hiểu thấu Thiên Chúa, thuyết Duy Nghiệm của Auguste Comte từ chối mọi thứ siêu nhiên ; thuyết tiến hóa của Lamack, Darwin chối bỏ sáng tạo ; Renan qua cuốn"Cuộc đời Giêsu" đã giản lược Ngài vào nhân tính. Những tiến bộ khoa học khiến nhiều người muốn làm "chúa" của chính mình. Các học thuyết xã hội lại quả quyết phải triệt hạ tôn giáo, thứ "thuốc phiện ru ngủ nhân dân".

Nếu giới Công giáo khá thống nhất trong việc bênh quyền lợi cho giáo hoàng đang bị chiếm đất, họ lại phân rẽ nhau về lập trường với chủ nghĩa tự do. Một số mong muốn giáo hội có tầm ảnh hưởng và quyền lợi như xưa, đòi loại bỏ những gì đe dọa Giáo hội như quyền xuất bản tùy ý ; một số khác chỉ yêu cầu chính quyền giữ trung lập và nghĩ người Công giáo nên bằng lòng với quyền tự do chung như mọi người. Họ nghĩ những nguyên tắc của 1789 nếu lọc lựa lại có thể có ý nghĩa Kitô giáo ...

Đang khi đó, nhân cách lôi cuốn của đức Pio IX và vấn đề lãnh Thổ Roma đã làm chủ trương thân Roma tiến triển. Giới Công giáo bực bội khi thấy lãnh Thổ giáo hoàng bị mất, vì họ nghĩ quyền trần thế ấy bảo đảm cho sự độc lập tinh thần của ngài. Rất nhiều người mong thấy quyền bất khả ngộ của giáo hoàng được định tín. Năm 1854, khi công bố tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm, đức Pio IX đã gián tiếp xác định quyền này. Thế nhưng lòng quí mến giáo hoàng đôi khi đi đến thái quá như việc gọi ngài là Ngôi Lời tiếp tục nhập thể.

Do áp lực của nhiều giám mục, đức Pio IX đã chọn một giải pháp không toàn diện : Qua hai văn kiện ngày 8-12-1864, ngài chống những sai lầm thời đại bằng cách kết án. Trong thông điệp "Quanta cura" ngài kết án chủ nghĩa duy lý, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tự do... kèm theo thông điệp là một danh mục "Syllabus" gồm 80 mệnh đề bị kết án. Mệnh đề cuối hàm ý chối từ mọi thỏa hiệp với xã hội tân tiến (Trong các mệnh đề kết án, số 80 viết : giáo chủ Roma phải hòa hợp và nhân nhượng với những tiến bộ, với chủ nghĩa tự do và nền văn minh tân tiến). Phe Công giáo bảo thủ thì mừng rỡ. Phe tự do thì cảm thấy sững sờ và lạc lõng ... Trong bối cảnh ấy đức Pio IX triệu tập công đồng Vatican I.

3,2. Diễn biến Công đồng

a/. Việc tổ chức

Công đồng khai mạc ngày 8-12-1869. Những mục tiêu đề ra khá mơ hổ. Nhưng đa số nghĩ vấn đề chính là tín quyền bất khả ngộ. 700 trên 1000 Giám mục tại chức đã dự Công đồng. Năm ủy ban chuẩn bị đã soạn thảo khá nhiều tài liệu, nhưng hoàn cảnh chính trị đã giới hạn Vatican I trong hai lãnh vực, với hai văn kiện :

Hiến chế Dei Filius (Con Thiên Chúa) được bỏ phiếu ngày 24-4-1870 là thành quả của nhiều cuộc tranh luận về tương quan giữa lý trí và đức tin. Đứng trước các sai lầm của các thuyết Duy Lý, Duy Tín và Phiếm Thần... Công đồng xác định sự hiện hữu của Thiên Chúa ngôi vị mà lý trí con người có thể hiểu được, đồng thời cũng xác quyết việc cần thiết của mạc khải. Do đó không có sự xung đột giữa lý trí và đức tin.

Bản dự thảo hiến chế về Hội Thánh có 15 chương, nhưng vì hoàn cảnh chiến tranh, các nghị phụ trách riêng chương XVI bàn về Giáo hoàng để thảo luận. Thế là ngày 18-7-1870 hiến chế Pastor Aeternus(Mục tử đời đời) được biểu quyết với 535 phiếu thuận, 2 chống, có 61 vị cho rằng chưa đến lúc xác định quyền vô ngộ, đã xin rời Roma trước vài ngày.

Đức Pio IX khẳng định tín điều bất khả ngộ không phải là tín điều mới mà chỉ là xác định một chân lý đã được Giáo hội toàn cầu biết và chấp nhận. Ngài nói : "Thưa chư huynh đáng kính, quyền tối cao của giáo hoàng không bóp chết nhưng tăng thêm, không tiêu diệt mà xây dựng và trong nhiều trường hợp còn củng cố trong chức vị, hiệp nhất trong đức ái, trợ lực và bảo vệ các quyền lợi của chư huynh, nghĩa là của hàng giám mục ..."

Mermet trong cuốn "Sống đức tin theo Vatican II" nhận định : "Người ta dự tính xây cả ngôi Nhà Thờ Chúa Kitô nhưng mới chỉ kịp xây cái tháp cao. Tháp tuy vững nhưng chơ vơ, còn phải xây dựng cung thánh, lòng nhà thờ, phòng ốc sinh hoạt ..."

b/. Lý do đình hoãn - Hậu Công đồng

Ngày 19-7-1870, Đức-Pháp tuyên chiến. Napoléon III rút quân đội bảo vệ giáo hoàng về nước, và bị sụp đỗ ngày 4-9. Đến ngày 20-9-1870, quân đội của Garibaldi chiếm được Roma, hoàn tất việc thống nhất nước Ý, lấy Roma làm thủ đô. Đức Pio IX ra một văn thư đình hoãn Công đồng "chờ tới khi hoàn cảnh thuận tiện sẽ tiếp tục". Từ 19-7-1870 các nghị phụ phải trở về nước mình.

Hầu hết các Giám mục vắng mặt ngày bỏ phiếu "Pastor Asternus" đều đệ thư bày tỏ sự chấp thuận. Chỉ trừ vài vị ở đại học Đức, qui tụ quanh D(llinger, là từ chối. Tháng 9-1871 họ hội nhau tại Munich tuyên bố lập Giáo hội "Cựu Công Giáo" (Số thành viên tối đa năm 1879 là 53.000). Họ bỏ xưng tội, bỏ độc thân giáo sĩ và phủ nhận tín điều Vô Nhiễm. Về sau họ liên kết với nhóm Jansénisme ở Utrecht.

c/. Nhận định

Vatican I để lại một cảm giác mất thăng bằng. Mới có 2 trên 51 dự án được biểu quyết. Vì thiếu thời gian, Công đồng đã nói về giáo hoàng nhưng chưa nói về giám mục, linh mục, tín hữu và thế giới mà Giáo hội được phái đến. Thế nhưng, nhiều tác giả hiện nay coi đó là điều may, vì chưa đến thời gian chín mùi để đạt được một giáo huấn đứng đắn cả về thần học lẫn khả năng tiếp nhận của quần chúng. Dầu sao, định tín bất khả ngộ vẫn ít hệ quả so với định tín quyền tối thượng. Thực tế ngày nay, đức Pio XII mới sử dụng có một lần ngày 01-11-1950 khi tuyên bố tín điều "Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời". Trái lại, khi Công đồng xác quyết "Đức Thánh Cha có quyền tài phán thường xuyên, trực tiếp và quyền Giám mục trên toàn giáo hội". Điều đó đã giúp gia tăng sự thống nhất về giáo triều Vatican, củng cố uy tín và quyền lực của người cha chung ngay khi ngài mất những quyền trần thế.

Hai mươi năm sau, Maurice Blondel đã kêu gọi một công đồng mới : "Để xác định quyền vô ngộ của Giáo hoàng không làm cho việc họp công đồng vô ích; để xác định hổn sống của Giáo hội là đức Kitô Trưởng Tử, là Đầu của Nhiệm Thể; và để hoàn tất những gì đã được tranh luận, khai sáng nhưng còn để dở dang..." đó là điều sẽ được Vatican II thực hiện.

TOÁT YẾU

Sau cách mạng 1789, đẳng cấp thứ dân và tư sản Pháp tìm cách loại bỏ dần ảnh hưởng của giới tăng lữ : họ quốc hữu hóa mọi tài sản của Giáo hội; cho ra đời bản Dân hiến giáo sĩ năm 1790 để tách giáo sĩ khỏi Roma. Đến khi thấy đa số giáo sĩ phản đối, họ nhờ giám mục Talleyrand tấn phong bất hợp pháp một số giám mục để lập hàng giáo sĩ dân hiến. Trong vòng 10 năm, giáo hội Pháp bị xáo trộn sâu xa. Hébert mạnh tay hơn muốn xóa sạch mọi tàn tích của Giáo hội : ông tổ chức tôn giáo mới thờ thần lý trí. Hàng ngàn linh mục và giám mục không tuyên thệ đã bị bắt, giam, trục xuất hoặc bị giết. Các giáo sĩ ở lại phải làm việc lén lút... Tình hình xảy ra cũng tương tự với các nước bị cách mạng Pháp chiếm đóng.

Napoléon I chọn chính sách khác : ông ký với Tòa thánh thỏa ước 1801, nhưng ông thêm 77 khoản về tổ chức để kiểm soát Giáo hội. Được đặt vương miện năm 1804, và được các tín hữu tin tưởng, hoàng đế đã xua quân chiếm Roma, sáp nhập nước Tòa Thánh và bắt giam đức Pio VII. Ông ép đức Pio VII chấp nhận các giám mục ông chọn và cho phép ông ly dị Josephine. Bị cô lập, đức Pio VII đã một lần ký nhận nhưng ngài nhanh chóng hủy bỏ văn bản đó. Chỉ khi Napoléon thua năm 1814, ngài mới về được Roma.

Từ 1815, Âu châu bước vào thời Trùng Hưng. Ngai vàng lại được tôn trọng và nhiều khi được nối kết với đền thờ. Thế nhưng phong trào đòi tự do, dân chủ ngày càng phát triển mạnh, nổi bật là các cuộc cách mạng 1830 (Pháp, Bỉ, Ý, Ba Lan) và 1848 (Pháp, Ý, Đức, Áo). Nếu các nước Công giáo chấm dứt những đặc quyền của Giáo hội, thì tình hình tín hữu tại những nước Tin Lành hay Chính Thống lại được tươi sáng hơn.

Trước phong trào bài bác Giáo hội của giới triết gia và khoa học thế kỷ XIX, Giáo hội bị phân rẽ thành hai phe bênh hoặc chống phong trào tự do. Đức Pio IX đã mạnh dạn lên án 80 mệnh đề của những học thuyết mới lạ. Giải pháp tạm thời này được bỗ sung bằng hiến chế Dei Filius của Vatican I, xác định khả năng dung hòa giữa lý trí và đức tin qua mạc khải.

3105